Trang 2 trong 2 Đầu tiênĐầu tiên 12
kết quả từ 21 tới 23 trên 23

Ðề tài: Tìm Nghỉ Ngơi Trong Thiền Định

  1. #21

    Mặc định

    34. Để tăng cường trạng thái hoàn hảo
    Của hỷ lạc, sáng tỏ và vô niệm,
    Tốt nhất bạn nên hướng tâm trí mình
    Vào bất cứ đối tượng nào phù hợp
    Do đó, hãy bắt đầu bằng cách tập trung vào một đối tượng,
    Rồi sau đó thiền định sẽ tự động thoát khỏi mọi tham chiếu.
    Điểm trọng yếu này là thâm sâu nhất.
    Nó là tối cao và cần được những người may mắn áp dụng nghiêm túc.
    Từ chối phương pháp này, bỏ qua nó,
    Vì cậy có những thiên tư đặc biệt,
    Thực sự là đi theo con đường của những kẻ ngu ngốc.
    Hãy tránh xa con đường tệ hại này của những người thiếu kinh nghiệm.


    Hỗ trợ cho việc tập trung vào hỷ lạc tính không là sự bùng cháy và nhỏ giọt của giọt tinh hoa. Hỗ trợ cho việc tập trung vào quang minh tính không là những luồng khí đa sắc.55 Hỗ trợ cho việc tập trung vào trạng thái vô niệm là bầu trời quang đãng (tức là không mây). Khi hành giả ngày càng ít bị xao lãng, khi tập trung vào những hỗ trợ này, mọi ý nghĩ đều lắng xuống. Sau đó, thậm chí không cần phải chú ý đến chúng, hành giả sẽ tự nhiên và tự ý an trú trong các trạng thái khác nhau của hỷ lạc, sáng chói và vô niệm, tất cả đều là kết quả của phần chỉ dạy sâu sắc này. Như đã nói trong kinh Alamkara:

    Tập trung tâm trí của bạn
    Trên bấy kỳ đối tượng phù hợp
    Sau đó hãy thiền rằng không có gì.
    Sau đó, hãy từ bỏ cả thứ này.


    Một số người nói rằng không có ích gì khi gắn kết với thực hành khái niệm được phú cho những đặc tính. Điều này là không đúng. Hành giả nên hiểu rằng những người đó không có chút kinh nghiệm nào về thực hành và không đáng tin cậy.

    Giải thích cụ thể bao gồm ba phần. Phần đầu giải thích cách nâng cao tập trung của thiền sinh vào hỷ lạc.

    35. Đặc biệt, cách tốt nhất để tăng cường
    Sự tập trung vào hỷ lạc
    Là bằng cách kéo rút luồng khí ở dưới thấp,
    Để kéo các giọt tinh hoa lên từ trung tâm bí mật của bạn
    Và để chúng tan chảy, hòa tan trong đỉnh đầu của bạn.
    Sau đó, trầm lặng trong trạng thái không tham chiếu.
    Sau đó, hội hợp các luồng khí ở dưới và ở trên lại với nhau
    Giữ hơi thở bình
    Tập trung tâm trí của bạn vào tim.
    Ở lại trong bản tính không sinh.
    Bạn nghỉ ngơi trong trạng thái hỷ lạc và sáng chói,
    Thoát khỏi sự sinh sôi của tâm trí.


    Khi một hành giả có thượng căn hợp nhất với một karmamudra hay phối ngẫu thật, và khi một hành giả trung căn nhận được hỗ trợ từ một phối ngẫu trí tuệ quán tưởng, những giọt tinh chất sẽ giáng xuống trung tâm bí mật. Vào lúc đó, bằng cách mạnh mẽ kéo khí lên, những giọt tinh hoa này được tập hợp lại như thể ở trên một sợi tơ, rồi chúng hòa tan vào âm tiết HANG trên đỉnh đầu. Sau đó, yogi nghỉ ngơi trong trạng thái thoát khỏi mọi tham chiếu, và rồi tiếp theo khi giữ hơi thở bình, anh ta thư giãn trong trạng thái thoát khỏi mọi hoạt động tinh thần. Anh ta vẫn ở trong trạng thái không thể tưởng tượng của trí tuệ bản nguyên lạc và không. Về phối ngẫu quán tưởng, Samputa nói:

    Nếu các yogi sống
    Trong một xã hội cộc cằn, thô lỗ,
    Tiết lộ thực hành này,
    Sẽ bị chửi rủa.
    Vì sợ điều này, họ sẽ tự giam mình
    Để thực hành với một phối ngẫu tinh thần.


    Phần này có thể được giải thích chi tiết hơn một chút. Quán tưởng bản thân trong hình dạng của thần bản tôn yidam hợp nhất với một phối ngẫu, hành giả nên quán trước mặt mình một cô gái rất đẹp, và nên nhìn cô ấy với lòng khao khát trong một thời gian dài. Vì cô ấy được hình dung là Vajrayogini, không gian bí mật của cô ấy được gia trì, và khi hành giả quán tưởng phối kết với cô ấy trong sự hợp nhất, hành giả lưu ý rằng, khi ngọn lửa bùng cháy từ chữ A ở rốn anh ta, chữ HANG trên đỉnh đầu tan chảy và những giọt tinh chất chảy xuống từ đó. Hành động hợp nhất (quán tưởng) này nên được thực hiện nhiều lần. Kéo luồng khí phía dưới lên trên, hành giả nên tạo ra trạng thái căng thẳng về thể chất, mở và đóng đùi của mình nhiều lần. Những giọt tinh chất sau đó dần dần đi xuống cổ họng, tim, rốn, gốc của chày kim cương, đến đỉnh của chày vajra, rồi từ đó đến nhụy hoa sen của người phối ngẫu, nơi chúng xuất hiện màu trắng đậm. Khi quá trình này diễn ra từng bước, hành giả nhận thức được hỷ, tối thượng hỷ, không hỷ và đồng phát hỷ. Nếu cảm thấy các giọt tinh túy của mình sắp bị mất, hoặc nếu muốn ngăn chặn sự xuất tiết của chúng, hành giả nên giữ luồng khí bên dưới ở đúng vị trí của nó rồi ép mạnh luồng khí bên trên xuống. Thốt ra âm PHAT, người phối ngẫu tưởng tượng, nữ bản tôn, bị đẩy trở lại các giọt tinh chất, trong khi bản thân vẫn được quán tưởng trong hình dạng của vị bản tôn nam, nên kéo chúng lên bằng cách thốt ra âm tiết HUNG. Khi thốt ra âm PHAT, hành giả nên, chỉ bằng một động tác nhanh gọn, thu rút các giọt tinh chất qua lỗ mở của kim cương, còn với các âm PHAT và HUNG, hành giả kéo chúng lên, đưa chúng vào trong đỉnh đầu của mình. Cuối cùng, ngay cả người phối ngẫu tưởng tượng cũng tan chảy vào bản tính hỷ lạc và cũng được kéo lên rồi hòa tan vào chữ HANG. Sau đó, ngay cả chữ HANG cũng biến mất, hành giả nên duy trì trạng thái này. Sau đó, hành giả nên thực hành kéo các giọt tinh chất lên, trải rộng chúng, vân vân, theo cách sau.

    Bây giờ là hướng dẫn ngắn gọn về các điểm chính của thân thể, việc quán tưởng cần thực hiện trong quá trình giáng xuống, kéo rút lên, trải rộng, vân vân, của giọt tinh chất.

    36. Thỉnh thoảng thực hiện
    “Rung lắc mạnh của sư tử”
    Kéo xuống, đảo ngược, kéo lên, lan tỏa các giọt tinh hoa.
    Và tự tin an định trong bản tính của tâm.
    Thực hiện các khía cạnh trọng yếu
    Của bài tập yoga này
    Như bạn đã thấy chúng được trình bày
    Theo dòng truyền của bạn.


    Một giải thích chi tiết như sau.

    37. Để kéo các giọt tinh hoa xuống
    Thực hiện mudra ôm ấp
    Và, ngồi thẳng, tạo ra
    Một áp lực xuống phần dưới của bạn.
    Quán tưởng rằng giọt bồ đề tâm
    Được tạo ra để chảy xuống từ HANG.
    Và khi nó rơi vào trung tâm bí mật của bạn,
    Tập trung vào hỷ lạc từ đó.


    Về yoga “rung lắc dữ dội của sư tử”, hành giả nên áp dụng tư thế mà tứ chi của mình chạm đất rồi rung lắc bản thân. Với cổ cong lên, hành giả nên kéo rút khí từ dưới lên, với môi ở vị trí mỉm cười, hành giả nên nói HA nhẹ nhàng. Hướng dẫn này thường có lợi cho toàn bộ quy trình: việc thu rút xuống, đảo ngược và lan tỏa các giọt tinh chất. Đặc biệt, khi hành giả khiến các giọt rơi xuống, anh ta nên ngồi khoanh chân và quán trước mặt mình là vị phối ngẫu tưởng tượng. Thực hiện mudra ôm ấp, hành giả ngồi thẳng với thân thể thẳng đứng, nhờ đó một áp lực nhẹ sẽ đè lên phần dưới anh ta. Tùy vào tỷ lệ giọt bồ đề tâm giáng từ HANG xuống trung tâm bí mật, kinh nghiệm về hỷ lạc sẽ gia tăng tương ứng và hành giả tập trung chú ý của mình vào đó. Nhờ thực hành này, các giọt tinh chất sẽ chảy xuống tất cả các vị trí quan trọng trong các kinh mạch.

    38. Sau đó đảo ngược dòng chảy và kéo nó lên trên.
    Giữ hai nắm tay ngang với thận của bạn
    Và “nối liền đại dương và tảng đá”.
    Kéo luồng khí ở dưới lên trên
    Và chạm đầu lưỡi vào vòm miệng của bạn
    Cuộn mắt lên, đẩy xuống và lắc đầu.
    Quán tưởng các giọt tinh hoa
    Như thể được xâu trên một sợi tơ
    Tan chảy mỗi giọt vào giọt tiếp theo
    Cho tới khi chạm đến đỉnh đầu.


    Những giọt tinh chất giáng xuống đi vào trong trung tâm bí mật giờ đây phải được đảo ngược lên trên. Ngồi thẳng, hành giả ấn nắm tay của hai bàn tay vào hai bên ngang thận, hóp bụng lại về phía cột sống. Hành giả kéo luồng khí bên dưới lên trên mạnh mẽ, và đặt đầu lưỡi lên vòm miệng. Cuộn hai mắt lên, hành giả nín thở, đẩy cổ xuống, lắc đầu như một lá cờ. Hành giả quán tưởng các giọt tinh chất như thể được xâu trên một sợi dây lụa và mỗi giọt hòa tan vào giọt kế tiếp nó, bắt đầu từ trung tâm bí mật rồi cứ thế lên đến đỉnh đầu và cuối cùng tan chảy thành chữ HANG. Đây là cách hành giả cần để kéo rút các giọt tinh chất lên trên.

    Sau đó các giọt tinh chất sẽ được lan tỏa khắp toàn thân.

    39. Để các giọt tinh hoa lan tỏa,
    Hãy làm như bạn đang kéo một cây cung
    Và khuấy động mạnh mẽ tay chân bạn
    Sau đó, đặt đầu lưỡi của bạn vào răng
    Phát ra âm Si , rít lên qua hơi thở của bạn.


    Đầu tiên, hành giả nên làm một cử chỉ bằng cánh tay như thể đang kéo cây cung. Sau đó, thực hiện yoga “sự rung lắc mạnh mẽ của sư tử”. Sau đó, ngồi xuống xếp bằng rồi chạm vào sống răng bằng đầu lưỡi, thở ra, tạo ra âm thanh rít gió SI. Các giọt tinh chất sẽ dần dần lan tỏa, thậm chí chạm đến các lỗ chân lông của làn da hành giả. Thấy rằng các giọt tinh hoa lan tỏa khắp mọi nơi trong hệ thống các kinh mạch, hành giả nên nghỉ ngơi một lúc trong trạng thái trống rỗng không có suy nghĩ lan man.

    40. Bây giờ hãy nghỉ ngơi với niềm tin vào bản tính của tâm trí.
    Nằm ngửa, hít thở nhẹ nhàng, tâm trí thoải mái.
    Đừng nghĩ về bất cứ điều gì, đừng nắm bắt bất kỳ thứ gì.
    Nghỉ ngơi trong bản tính thoát khỏi mọi chuyển động tinh thần.
    Bằng phương tiện này, đại lạc, giác ngộ
    Sẽ được thành tựu mà không gặp trở ngại.


    Khi giọt tinh chất lan tỏa, hành giả nên nằm ngửa và thư giãn sâu từ bên trong, an trú mà không có bất cứ suy nghĩ nào như thể vô thức, bình thản và thoải mái trong trạng thái tự nhiên của tâm trí. Điều này được gọi là “tự tại an trụ trong tính thanh tịnh bản nguyên của lạc và không”. Không có chướng ngại nào đối với cõi giới chỉ có một và đơn nhất (của pháp thân). Người ta nắm bắt được tính quảng đại của thực tại tối hậu, tìm thấy, như được nói, “ngồi nhà thực sự của mình”. Sau đó, ngồi thẳng, thiền kiên định về chính trạng thái này. Nếu, vì không biết về thực hành này, người ta chỉ tiếp tục tu luyện trong ba giai đoạn, tức là sự giáng xuống của các giọt tinh chất, sự đảo ngược của chúng và lan tỏa, thì người ta sẽ trở thành cái được gọi là “một hành giả nhiệt thành dừng lại kiệt sức giữa chừng trên con đường”. Một người như vậy không có được độ xác tín về bản tính nền tảng chân thực của tâm trí, không chỉ trong kiếp sống hiện tại mà còn trong các kiếp tương lai. Chỉ dẫn quan trọng này được cho là phương pháp vĩ đại nhất của Đại Toàn Thiện Tự Nhiên.

    Phần thứ hai của giải thích cụ thể liên quan đến cách thức mà sự tập trung của hành giả vào tính sáng có thể được nâng cao.

    41. Cách tốt nhất để tăng cường
    Sự tập trung của bạn vào tính sáng
    Là thông qua hơi thở.
    Những cách nhẹ nhàng và mạnh mẽ
    Mà hơi thở được giữ lại
    Tăng cường lẫn nhau.
    Đặc biệt, quan trọng là phải kết hợp xen kẽ
    Giữ hơi thở chậm và nhẹ nhàng
    Cả bên ngoài và bên trong.
    Như được dạy rằng người ta nên thực hành theo nhiều cách khác nhau
    Liên quan đến số lượng, màu sắc, sờ chạm, vân vân
    Nhưng ở đây, thông qua hướng dẫn độc đáo
    Tất cả sẽ được thành tựu
    Tu tập này quả thực là phương pháp cao nhất.


    Nếu, sau khi luyện cách giữ hơi thở nhẹ nhàng, hành giả giữ nó mạnh mẽ, các phẩm chất ưu tú sẽ biểu hiện tươi mới. Ngược lại, cách nín thở mạnh mẽ sẽ tăng cường cách nín thở nhẹ nhàng. Điểm quan trọng là nín thở bên trong rồi sau đó nín thở bên ngoài. Một lần nữa, sau khi nón thở bên ngoài, hành giả nên nín thở một lúc ngắn bên trong. Ngoài ra, nhiều cách khác được dạy thông qua đó kinh nghiệm về tính sáng được nâng cao: ví dụ, tập trung không phân tâm vào số lần thở của mình, tập trung vào màu sắc của các luồng khí liên quan năm nguyên tố, tập trung vào mối liên hệ ấm hay lạnh của chúng, hoặc tập trung vào các hình dạng (quán tưởng) khác nhau của khí.57 Tuy nhiên, tất cả những điều này chẳng gì hơn là các kỹ thuật tập trung và tự chúng không thể đưa người ta trực tiếp chạm tới thực tại tối hậu.

    Trong bối cảnh này, một phương pháp được dạy theo đó, thông qua một chỉ dẫn quan trọng duy nhất, các luồng khí được phong bế trong trung mạch, với kết quả là thực tại tối hậu biểu lộ mà không cần bất kỳ hỗ trợ hay tham chiếu nào.

    42. Áp dụng tất cả những điểm chính của thân thể
    Như đã giải thích trước đây
    Đặc biệt là một cái nhìn chăm chú bất động,
    Hít thở đều và rất chậm
    Qua miệng và cả hai lỗ mũi.
    Thư giãn hoàn toàn trong trạng thái “bình thường”,
    Tức là trạng thái tự nhiên, rộng mở và tự do.
    Điểm then chốt của tâm trí không phải là tập trung’vào bất cứ điều gì, mà là để mặc mọi thứ tự nhiên như vậy.
    Nằm ngửa và duỗi tay chân
    Sau đó hét lên HA , tập trung tâm trí của bạn vào bầu trời.
    Nghỉ ngơi bình thản, không bị xao lãng,
    Thoát khỏi sự sinh sôi và tan biến của các suy nghĩ.
    Khí – tâm sau đó nghỉ ngơi trong trạng thái an lạc
    Của sự mở rộng tự nhiên và tự do.
    Đây là cánh cửa mà qua đó phát sinh
    Mọi phẩm tính hoàn hảo, vô số và vô ngại.


    Ngồi với thân thể trong tư thế bảy điểm, hành giả thở đều và rất chậm qua miệng và mũi, thư giãn tâm trí trong một khoảnh khắc ở trạng thái không có suy nghĩ. Sau đó, hành giả đếm hơi thở mình. Vì, tại thời điểm đó, các luồng khí bị phong tỏa trong trung mạch, kết quả là khi hành giả không nghĩ về bất cứ điều gì, thần khí sẽ lắng đọng trong tính thanh tịnh nguyên thủy. Sau đó, với cánh tay và chân duỗi ra, hành giả nên nằm ngửa. Tập trung mắt vào bầu trời rồi thốt lên mạnh mẽ âm Ha ba lần, hành giả nín thở bên ngoài. Khi để tâm trí mình trong trạng thái tự nhiên, trí tuệ nguyên thủy không có chủ thể nhận thức, nói cách khác, trạng thái cạn kiệt của các hiện tượng trong thực tại tối hậu, sẽ ngay lập tức biểu lộ. Điều này được gọi là “Đại Toàn Thiện, hiện diện tự nhiên như mandala của kim cương giới, không gian bất hoại”. Pháp thân, trạng thái của Phổ Hiền, đã được đạt tới.

    Thiền định như vậy lâu dài sẽ mang lại những phẩm chất tuyệt diệu.

    43. Sau đó cơ thể cở thể cảm thấy nhẹ nhõm
    Không có hơi thở được cảm nhận.
    Mọi vận động tâm trí đều dừng lại.
    Tâm trí sáng tỏ và minh mẫn
    Và ở đó trí thiên nhãn xuất hiện.
    Thần túc đạt được
    Làn da của bạn sẽ lấp lánh và tỏa sáng;
    Và sự tập trung sẽ xuất hiện.
    Những dấu hiệu sẽ chỉ ra
    Rằng khí tâm giờ đã đi vào kinh mạch trung tâm
    Đây là một chỉ dẫn tối cao.
    Nó cực kỳ bí mật, sâu xa nhất.


    Thân thể sẽ cảm thấy nhẹ như bông. Không có chuyển động nào của hơi thở được cảm nhận, và moi sự tạo dựng ý niệm sẽ lắng xuống. Tâm trí sẽ vẫn sáng ngời và trong trẻo, thần nhãn vi tế hoặc tri thức siêu nhiên sẽ biểu hiện. Thần túc thông, nhanh như ngựa, sẽ đạt được. Da hành giả sẽ trở nên bóng và sáng, một loại tập trung mới sẽ xuất hiện. Ngoài ra, hành giả sẽ nhìn thấy khói và phần còn lại của mười dấu hiệu thanh tịnh.

    Phần thứ ba của lời giải thích cụ thể liên quan đến cách mà hành giả tập trung của hành giả vào trạng thái vô niệm được nâng cao.

    44. Để tăng cường tập trung của bạn
    Vào trạng thái vô niệm như không gian,
    Hãy để tâm trí và thân thể nghỉ ngơi thật sâu
    Và tập trung nhất tâm vào một đối tượng
    Khi bạn cố định mạnh mẽ vào đối tượng àny
    Không bị xao lãng
    Mọi suy nghĩ khác đều lắng xuống
    Trong trải nghiệm duy nhất về đối tượng này
    Khi đó ngay cả ý niệm về đối tượng này cũng biến mất hoàn toàn.
    Hình tướng của sự vật vẫn còn,
    Nhưng không có sự nắm bắt nào vào nó.
    Nó phát sinh nhưng lại trống rỗng.


    Một lần nữa, hành giả ngồi ở tư thế bảy điểm, ngoại trừ việc anh ta phải nhìn chăm chú vào một vật gì đó, ví dụ như hình ảnh một vị thần. Vào lúc đó, tất cả các suy nghĩ sẽ lắng xuống trong kinh nghiệm đơn giản về vị thần, sau đó, chính suy nghĩ về vị thần sẽ tự nhiên lắng xuống và trí tuệ nguyên sơ phi khái niệm, xuất hiện nhưng trống không, sẽ hiển lộ.

  2. #22

    Mặc định

    34. Để tăng cường trạng thái hoàn hảo
    Của hỷ lạc, sáng tỏ và vô niệm,
    Tốt nhất bạn nên hướng tâm trí mình
    Vào bất cứ đối tượng nào phù hợp
    Do đó, hãy bắt đầu bằng cách tập trung vào một đối tượng,
    Rồi sau đó thiền định sẽ tự động thoát khỏi mọi tham chiếu.
    Điểm trọng yếu này là thâm sâu nhất.
    Nó là tối cao và cần được những người may mắn áp dụng nghiêm túc.
    Từ chối phương pháp này, bỏ qua nó,
    Vì cậy có những thiên tư đặc biệt,
    Thực sự là đi theo con đường của những kẻ ngu ngốc.
    Hãy tránh xa con đường tệ hại này của những người thiếu kinh nghiệm.


    Hỗ trợ cho việc tập trung vào hỷ lạc tính không là sự bùng cháy và nhỏ giọt của giọt tinh hoa. Hỗ trợ cho việc tập trung vào quang minh tính không là những luồng khí đa sắc.55 Hỗ trợ cho việc tập trung vào trạng thái vô niệm là bầu trời quang đãng (tức là không mây). Khi hành giả ngày càng ít bị xao lãng, khi tập trung vào những hỗ trợ này, mọi ý nghĩ đều lắng xuống. Sau đó, thậm chí không cần phải chú ý đến chúng, hành giả sẽ tự nhiên và tự ý an trú trong các trạng thái khác nhau của hỷ lạc, sáng chói và vô niệm, tất cả đều là kết quả của phần chỉ dạy sâu sắc này. Như đã nói trong kinh Alamkara:

    Tập trung tâm trí của bạn
    Trên bấy kỳ đối tượng nào phù hợp
    Sau đó hãy thiền rằng không có gì.
    Sau đó, hãy từ bỏ cả thứ này.


    Một số người nói rằng không có ích gì khi gắn kết với những thực hành mang tính khái niệm có các đặc trưng. Điều này là không đúng. Hành giả nên hiểu rằng những người đó không có chút kinh nghiệm nào về thực hành và không đáng tin cậy.

    Giải thích cụ thể bao gồm ba phần. Phần đầu giải thích cách nâng cao tập trung của thiền sinh vào hỷ lạc.

    35. Đặc biệt, cách tốt nhất để tăng cường
    Sự tập trung vào hỷ lạc
    Là bằng cách kéo rút luồng khí ở dưới thấp,
    Để kéo các giọt tinh hoa lên từ trung tâm bí mật của bạn
    Và để chúng tan chảy, hòa tan trong đỉnh đầu của bạn.
    Sau đó, trầm lặng trong trạng thái không tham chiếu.
    Sau đó, hội hợp các luồng khí ở dưới và ở trên lại với nhau
    Giữ hơi thở bình
    Tập trung tâm trí của bạn vào tim.
    Ở lại trong bản tính không sinh.
    Bạn nghỉ ngơi trong trạng thái hỷ lạc và sáng chói,
    Thoát khỏi sự sinh sôi của tâm trí.


    Khi một hành giả có thượng căn hợp nhất với một karmamudra hay phối ngẫu thật, và khi một hành giả trung căn nhận được hỗ trợ từ một phối ngẫu trí tuệ quán tưởng, những giọt tinh chất sẽ giáng xuống trung tâm bí mật. Vào lúc đó, bằng cách mạnh mẽ kéo khí lên, những giọt tinh hoa này được tập hợp lại như thể ở trên một sợi tơ, rồi chúng hòa tan vào âm tiết HANG trên đỉnh đầu. Sau đó, yogi nghỉ ngơi trong trạng thái thoát khỏi mọi tham chiếu, và rồi tiếp theo khi giữ hơi thở bình, anh ta thư giãn trong trạng thái thoát khỏi mọi hoạt động tinh thần. Anh ta vẫn ở trong trạng thái không thể tưởng tượng của trí tuệ bản nguyên lạc và không. Về phối ngẫu quán tưởng, Samputa nói:

    Nếu các yogi sống
    Trong một xã hội cộc cằn, thô lỗ,
    Tiết lộ thực hành này,
    Sẽ bị chửi rủa.
    Vì sợ điều này, họ sẽ tự giam mình
    Để thực hành với một phối ngẫu tinh thần.


    Phần này có thể được giải thích chi tiết hơn một chút. Quán tưởng bản thân trong hình dạng của thần bản tôn yidam hợp nhất với một phối ngẫu, hành giả nên quán trước mặt mình một cô gái rất đẹp, và nên nhìn cô ấy với lòng khao khát trong một thời gian dài. Vì cô ấy được hình dung là Vajrayogini, không gian bí mật của cô ấy được gia trì, và khi hành giả quán tưởng phối kết với cô ấy trong sự hợp nhất, hành giả lưu ý rằng, khi ngọn lửa bùng cháy từ chữ A ở rốn anh ta, chữ HANG trên đỉnh đầu tan chảy và những giọt tinh chất chảy xuống từ đó. Hành động hợp nhất (quán tưởng) này nên được thực hiện nhiều lần. Kéo luồng khí phía dưới lên trên, hành giả nên tạo ra trạng thái căng thẳng về thể chất, mở và đóng đùi của mình nhiều lần. Những giọt tinh chất sau đó dần dần đi xuống cổ họng, tim, rốn, gốc của chày kim cương, đến đỉnh của chày vajra, rồi từ đó đến nhụy hoa sen của người phối ngẫu, nơi chúng xuất hiện màu trắng đậm. Khi quá trình này diễn ra từng bước, hành giả nhận thức được hỷ, tối thượng hỷ, không hỷ và đồng phát hỷ. Nếu cảm thấy các giọt tinh túy của mình sắp bị mất, hoặc nếu muốn ngăn chặn sự xuất tiết của chúng, hành giả nên giữ luồng khí bên dưới ở đúng vị trí của nó rồi ép mạnh luồng khí bên trên xuống. Thốt ra âm PHAT, người phối ngẫu tưởng tượng, nữ bản tôn, bị đẩy trở lại các giọt tinh chất, trong khi bản thân vẫn được quán tưởng trong hình dạng của vị bản tôn nam, nên kéo chúng lên bằng cách thốt ra âm tiết HUNG. Khi thốt ra âm PHAT, hành giả nên, chỉ bằng một động tác nhanh gọn, thu rút các giọt tinh chất qua lỗ mở của kim cương, còn với các âm PHAT và HUNG, hành giả kéo chúng lên, đưa chúng vào trong đỉnh đầu của mình. Cuối cùng, ngay cả người phối ngẫu tưởng tượng cũng tan chảy vào bản tính hỷ lạc và cũng được kéo lên rồi hòa tan vào chữ HANG. Sau đó, ngay cả chữ HANG cũng biến mất, hành giả nên duy trì trạng thái này. Sau đó, hành giả nên thực hành kéo các giọt tinh chất lên, trải rộng chúng, vân vân, theo cách sau.

    Bây giờ là hướng dẫn ngắn gọn về các điểm chính của thân thể, việc quán tưởng cần thực hiện trong quá trình giáng xuống, kéo rút lên, trải rộng, vân vân, của giọt tinh chất.

    36. Thỉnh thoảng thực hiện
    “Rung lắc mạnh của sư tử”
    Kéo xuống, đảo ngược, kéo lên, lan tỏa các giọt tinh hoa.
    Và tự tin an định trong bản tính của tâm.
    Thực hiện các khía cạnh trọng yếu
    Của bài tập yoga này
    Như bạn đã thấy chúng được trình bày
    Theo dòng truyền của bạn.


    Một giải thích chi tiết như sau.

    37. Để kéo các giọt tinh hoa xuống
    Thực hiện mudra ôm ấp
    Và, ngồi thẳng, tạo ra
    Một áp lực xuống phần dưới của bạn.
    Quán tưởng rằng giọt bồ đề tâm
    Được tạo ra để chảy xuống từ HANG.
    Và khi nó rơi vào trung tâm bí mật của bạn,
    Tập trung vào hỷ lạc từ đó.


    Về yoga “rung lắc dữ dội của sư tử”, hành giả nên áp dụng tư thế mà tứ chi của mình chạm đất rồi rung lắc bản thân. Với cổ cong lên, hành giả nên kéo rút khí từ dưới lên, với môi ở vị trí mỉm cười, hành giả nên nói HA nhẹ nhàng. Hướng dẫn này thường có lợi cho toàn bộ quy trình: việc thu rút xuống, đảo ngược và lan tỏa các giọt tinh chất. Đặc biệt, khi hành giả khiến các giọt rơi xuống, anh ta nên ngồi khoanh chân và quán trước mặt mình là vị phối ngẫu tưởng tượng. Thực hiện mudra ôm ấp, hành giả ngồi thẳng với thân thể thẳng đứng, nhờ đó một áp lực nhẹ sẽ đè lên phần dưới anh ta. Tùy vào tỷ lệ giọt bồ đề tâm giáng từ HANG xuống trung tâm bí mật, kinh nghiệm về hỷ lạc sẽ gia tăng tương ứng và hành giả tập trung chú ý của mình vào đó. Nhờ thực hành này, các giọt tinh chất sẽ chảy xuống tất cả các vị trí quan trọng trong các kinh mạch.

    38. Sau đó đảo ngược dòng chảy và kéo nó lên trên.
    Giữ hai nắm tay ngang với thận của bạn
    Và “nối liền đại dương và tảng đá”.
    Kéo luồng khí ở dưới lên trên
    Và chạm đầu lưỡi vào vòm miệng của bạn
    Cuộn mắt lên, đẩy xuống và lắc đầu.
    Quán tưởng các giọt tinh hoa
    Như thể được xâu trên một sợi tơ
    Tan chảy mỗi giọt vào giọt tiếp theo
    Cho tới khi chạm đến đỉnh đầu.


    Những giọt tinh chất giáng xuống đi vào trong trung tâm bí mật giờ đây phải được đảo ngược lên trên. Ngồi thẳng, hành giả ấn nắm tay của hai bàn tay vào hai bên ngang thận, hóp bụng lại về phía cột sống. Hành giả kéo luồng khí bên dưới lên trên mạnh mẽ, và đặt đầu lưỡi lên vòm miệng. Cuộn hai mắt lên, hành giả nín thở, đẩy cổ xuống, lắc đầu như một lá cờ. Hành giả quán tưởng các giọt tinh chất như thể được xâu trên một sợi dây lụa và mỗi giọt hòa tan vào giọt kế tiếp nó, bắt đầu từ trung tâm bí mật rồi cứ thế lên đến đỉnh đầu và cuối cùng tan chảy thành chữ HANG. Đây là cách hành giả cần để kéo rút các giọt tinh chất lên trên.

    Sau đó các giọt tinh chất sẽ được lan tỏa khắp toàn thân.

    39. Để các giọt tinh hoa lan tỏa,
    Hãy làm như bạn đang kéo một cây cung
    Và khuấy động mạnh mẽ tay chân bạn
    Sau đó, đặt đầu lưỡi của bạn vào răng
    Phát ra âm Si , rít lên qua hơi thở của bạn.


    Đầu tiên, hành giả nên làm một cử chỉ bằng cánh tay như thể đang kéo cây cung. Sau đó, thực hiện yoga “sự rung lắc mạnh mẽ của sư tử”. Sau đó, ngồi xuống xếp bằng rồi chạm vào sống răng bằng đầu lưỡi, thở ra, tạo ra âm thanh rít gió SI. Các giọt tinh chất sẽ dần dần lan tỏa, thậm chí chạm đến lỗ chân lông của làn da hành giả. Thấy rằng các giọt tinh hoa lan tỏa khắp mọi nơi trong hệ thống các kinh mạch, hành giả nên nghỉ ngơi một lúc trong trạng thái trống rỗng không có suy nghĩ lan man.

    40. Bây giờ hãy nghỉ ngơi với niềm tin vào bản tính của tâm trí.
    Nằm ngửa, hít thở nhẹ nhàng, tâm trí thoải mái.
    Đừng nghĩ về bất cứ điều gì, đừng nắm bắt bất kỳ thứ gì.
    Nghỉ ngơi trong bản tính thoát khỏi mọi chuyển động tinh thần.
    Bằng phương tiện này, đại lạc, giác ngộ
    Sẽ được thành tựu mà không gặp trở ngại.


    Khi giọt tinh chất lan tỏa, hành giả nên nằm ngửa và thư giãn sâu từ bên trong, an trú mà không có bất cứ suy nghĩ nào như thể vô thức, bình thản và thoải mái trong trạng thái tự nhiên của tâm trí. Điều này được gọi là “tự tại an trụ trong tính thanh tịnh bản nguyên của lạc và không”. Không có chướng ngại nào đối với cõi giới chỉ có một và đơn nhất (của pháp thân). Người ta nắm bắt được tính quảng đại của thực tại tối hậu, tìm thấy, như được nói, “ngồi nhà thực sự của mình”. Sau đó, ngồi thẳng, thiền kiên định về chính trạng thái này. Nếu, vì không biết về thực hành này, người ta chỉ tiếp tục tu luyện trong ba giai đoạn, tức là sự giáng xuống của các giọt tinh chất, sự đảo ngược của chúng và lan tỏa, thì người ta sẽ trở thành cái được gọi là “một hành giả nhiệt thành dừng lại kiệt sức giữa chừng trên con đường”. Một người như vậy không có được độ xác tín về bản tính nền tảng chân thực của tâm trí, không chỉ trong kiếp sống hiện tại mà còn trong các kiếp tương lai. Chỉ dẫn quan trọng này được cho là phương pháp vĩ đại nhất của Đại Toàn Thiện Tự Nhiên.

    Phần thứ hai của giải thích cụ thể liên quan đến cách thức mà sự tập trung của hành giả vào tính sáng có thể được nâng cao.

    41. Cách tốt nhất để tăng cường
    Sự tập trung của bạn vào tính sáng
    Là thông qua hơi thở.
    Những cách nhẹ nhàng và mạnh mẽ
    Mà hơi thở được giữ lại
    Tăng cường lẫn nhau.
    Đặc biệt, quan trọng là phải kết hợp xen kẽ
    Giữ hơi thở chậm và nhẹ nhàng
    Cả bên ngoài và bên trong.
    Như được dạy rằng người ta nên thực hành theo nhiều cách khác nhau
    Liên quan đến số lượng, màu sắc, sờ chạm, vân vân
    Nhưng ở đây, thông qua hướng dẫn độc đáo
    Tất cả sẽ được thành tựu
    Tu tập này quả thực là phương pháp cao nhất.


    Nếu, sau khi luyện cách giữ hơi thở nhẹ nhàng, hành giả giữ nó mạnh mẽ, các phẩm chất ưu tú sẽ biểu hiện tươi mới. Ngược lại, cách nín thở mạnh mẽ sẽ tăng cường cách nín thở nhẹ nhàng. Điểm quan trọng là nín thở bên trong rồi sau đó nín thở bên ngoài. Một lần nữa, sau khi nón thở bên ngoài, hành giả nên nín thở một lúc ngắn bên trong. Ngoài ra, nhiều cách khác được dạy thông qua đó kinh nghiệm về tính sáng được nâng cao: ví dụ, tập trung không phân tâm vào số lần thở của mình, tập trung vào màu sắc của các luồng khí liên quan năm nguyên tố, tập trung vào mối liên hệ ấm hay lạnh của chúng, hoặc tập trung vào các hình dạng (quán tưởng) khác nhau của khí.57 Tuy nhiên, tất cả những điều này chẳng gì hơn là các kỹ thuật tập trung và tự chúng không thể đưa người ta trực tiếp chạm tới thực tại tối hậu.

    Trong bối cảnh này, một phương pháp được dạy theo đó, thông qua một chỉ dẫn quan trọng duy nhất, các luồng khí được phong bế trong trung mạch, với kết quả là thực tại tối hậu biểu lộ mà không cần bất kỳ hỗ trợ hay tham chiếu nào.

    42. Áp dụng tất cả những điểm chính của thân thể
    Như đã giải thích trước đây
    Đặc biệt là một cái nhìn chăm chú bất động,
    Hít thở đều và rất chậm
    Qua miệng và cả hai lỗ mũi.
    Thư giãn hoàn toàn trong trạng thái “bình thường”,
    Tức là trạng thái tự nhiên, rộng mở và tự do.
    Điểm then chốt của tâm trí không phải là tập trung’vào bất cứ điều gì, mà là để mặc mọi thứ tự nhiên như vậy.
    Nằm ngửa và duỗi tay chân
    Sau đó hét lên HA , tập trung tâm trí của bạn vào bầu trời.
    Nghỉ ngơi bình thản, không bị xao lãng,
    Thoát khỏi sự sinh sôi và tan biến của các suy nghĩ.
    Khí – tâm sau đó nghỉ ngơi trong trạng thái an lạc
    Của sự mở rộng tự nhiên và tự do.
    Đây là cánh cửa mà qua đó phát sinh
    Mọi phẩm tính hoàn hảo, vô số và vô ngại.


    Ngồi với thân thể trong tư thế bảy điểm, hành giả thở đều và rất chậm qua miệng và mũi, thư giãn tâm trí trong một khoảnh khắc ở trạng thái không có suy nghĩ. Sau đó, hành giả đếm hơi thở mình. Vì, tại thời điểm đó, các luồng khí bị phong tỏa trong trung mạch, kết quả là khi hành giả không nghĩ về bất cứ điều gì, thần khí sẽ lắng đọng trong tính thanh tịnh nguyên thủy. Sau đó, với cánh tay và chân duỗi ra, hành giả nên nằm ngửa. Tập trung mắt vào bầu trời rồi thốt lên mạnh mẽ âm Ha ba lần, hành giả nín thở bên ngoài. Khi để tâm trí mình trong trạng thái tự nhiên, trí tuệ nguyên thủy không có chủ thể nhận thức, nói cách khác, trạng thái cạn kiệt của các hiện tượng trong thực tại tối hậu, sẽ ngay lập tức biểu lộ. Điều này được gọi là “Đại Toàn Thiện, hiện diện tự nhiên như mandala của kim cương giới, không gian bất hoại”. Pháp thân, trạng thái của Phổ Hiền, đã được đạt tới.

    Thiền định như vậy lâu dài sẽ mang lại những phẩm chất tuyệt diệu.

    43. Sau đó cơ thể cở thể cảm thấy nhẹ nhõm
    Không có hơi thở được cảm nhận.
    Mọi vận động tâm trí đều dừng lại.
    Tâm trí sáng tỏ và minh mẫn
    Và ở đó trí thiên nhãn xuất hiện.
    Thần túc đạt được
    Làn da của bạn sẽ lấp lánh và tỏa sáng;
    Và sự tập trung sẽ xuất hiện.
    Những dấu hiệu sẽ chỉ ra
    Rằng khí tâm giờ đã đi vào kinh mạch trung tâm
    Đây là một chỉ dẫn tối cao.
    Nó cực kỳ bí mật, sâu xa nhất.


    Thân thể sẽ cảm thấy nhẹ như bông. Không có chuyển động nào của hơi thở được cảm nhận, và moi sự tạo dựng ý niệm sẽ lắng xuống. Tâm trí sẽ vẫn sáng ngời và trong trẻo, thần nhãn vi tế hoặc tri thức siêu nhiên sẽ biểu hiện. Thần túc thông, nhanh như ngựa, sẽ đạt được. Da hành giả sẽ trở nên bóng và sáng, một loại tập trung mới sẽ xuất hiện. Ngoài ra, hành giả sẽ nhìn thấy khói và phần còn lại của mười dấu hiệu thanh tịnh.

    Phần thứ ba của lời giải thích cụ thể liên quan đến cách mà hành giả tập trung của hành giả vào trạng thái vô niệm được nâng cao.

    44. Để tăng cường tập trung của bạn
    Vào trạng thái vô niệm như không gian,
    Hãy để tâm trí và thân thể nghỉ ngơi thật sâu
    Và tập trung nhất tâm vào một đối tượng
    Khi bạn cố định mạnh mẽ vào đối tượng àny
    Không bị xao lãng
    Mọi suy nghĩ khác đều lắng xuống
    Trong trải nghiệm duy nhất về đối tượng này
    Khi đó ngay cả ý niệm về đối tượng này cũng biến mất hoàn toàn.
    Hình tướng của sự vật vẫn còn,
    Nhưng không có sự nắm bắt nào vào nó.
    Nó phát sinh nhưng lại trống rỗng.


    Một lần nữa, hành giả ngồi ở tư thế bảy điểm, ngoại trừ việc anh ta phải nhìn chăm chú vào một vật gì đó, ví dụ như hình ảnh một vị thần. Vào lúc đó, tất cả các suy nghĩ sẽ lắng xuống trong kinh nghiệm đơn giản về vị thần, sau đó, chính suy nghĩ về vị thần sẽ tự nhiên lắng xuống và trí tuệ nguyên sơ phi khái niệm, xuất hiện nhưng trống không, sẽ hiển lộ.

    Những điểm quan trọng khác sau đây liên quan đến việc nâng cao tập trung vào trạng thái vô niệm.

    45. Đây là điểm trọng yếu, và ngoài ra
    Bạn nên tu luyện như sau
    Thỉnh thoảng tập trung vào một vật thể bên ngoài nào đó.
    Thở ra và ngưng thở càng lâu càng tốt.
    Trạng thái vô niệm sẽ xuất hiện.
    Đôi lúc giữ hơi thở bên trong
    Giữ nguyên không dao động và không xao lãng
    Tập trung vào một đối tượng trong cơ thể bạn
    Dù là phần trên hay phần dưới.
    Đôi khi hãy để mặc tâm trí bạn
    Như nó đang là, không hỗ trợ.
    Duy trì trạng thái mà
    Tuy mọi thứ xuất hiện, nhưng bạn không dính mắc vào chúng.
    Trên cơ sở lời giải thích trọng yếu này,
    Trí tuệ của pháp thân, thoát khỏi các suy nghĩ,
    Sẽ, tự nảy sinh, từ bên trong.


    Đôi khi hơi thở được giữ bên ngoài, khi nhìn chăm chú vào một hòn đá, một ngọn núi, một tảng đá lớn, hoặc thứ gì đó tương tự, trạng thái vô niệm sẽ xảy ra. Đôi khí, hơi thở được giữ bên trong, và khi hành giả tập trung vào bốn luân xa, vào các âm tiết trong các kinh mạch, vào ánh sáng, hoặc trên thân thể các vị thần, trạng thái vô niệm cũng sẽ đạt được. Đôi khi, thông qua việc ổn định tâm trí mà không có bất cứ hỗ trợ nào, trong trạng thái quảng đại và trống rỗng mà chẳng có gì được nắm bắt, trí tuệ ban sơ liên tục của tính bình đẳng sẽ biểu lộ.

    Bài giảng về cách tăng cường tập trung vào hỷ lạc, tính sáng và vô niệm đã kết thúc.

    46. Cách chung để nâng cao tập trung
    Vào hỷ lạc, sáng tỏ và vô niệm
    Nghỉ ngơi trong sự tích lũy cả trí tuệ và công đức,
    Thanh tẩy mọi che chướng
    Thực hành các giai đoạn phát sinh và thành tựu.
    Và con đường sâu xa được ca ngợi nhiều nhất là guru yoga.
    Lời chỉ dẫn này là tối thượng và tối hậu.
    Những người may mắn ước muốn giải thoát
    Nên tha thiết đón nhận nó.
    Chính nhờ hành động thiện hạnh mà người ta hiểu được bất thiện, do đó, việc tích lũy thiện hạnh và tịnh hóa ô nhiễm là những cách sâu sắc để tiến bộ trên con đường. Như kinh Nhiều hành động của đức Phật nói: “Bằng cách tích lũy thiện hạnh, người ta hoàn thành mong muốn của mình”.


    Chủ đề thứ ba của bài giảng kết thúc liên quan đến sự chứng ngộ đạt được từ việc đi theo con đường không sai lầm của thực tại nền tảng.

    47. Những chứng ngộ phát sinh thông quan thiền định như vậy
    Đều có chung hương vị
    Chúng không đa thù, chúng chẳng dị biệt.
    Giống như nhữung người đến từ ba hướng
    Rồi gặp nhau tại một nơi duy nhất,
    Và giống như những dòng suối khác nhau chảy qua,
    Hợp lại thành một trong một biển cả duy nhất.
    Hỷ lạc, sáng suốt, vô niệm
    Bất cứ phương pháp nào trong số này mà người ta có thể thực hành
    Khi chuyển động tinh thần đạt đến trạng thái nghỉ ngơi hoàn toàn
    Và trong bản tính của tâm trí, không gian bất sinh, tan biến.
    Tâm trí giác ngộ, không có mọi khái niệm
    (Dù là tồn tại hay không tồn tại).
    Mặt trời của bản tính nền tảng, bừng sáng và trống trải,
    Sẽ mọc lên từ bên trong
    Trong sự chứng ngộ này, bất biến và bất động
    Không có gì để thêm vào, chẳng có gì để bớt đi.
    Đó là bản tính của nó như lại tạng
    Tương xứng với chính không gian.


    Giống như mọi người đến từ nhiều hướng khác nhau đều đến và tụ họp tại một nơi, mặc dù hành giả thiền định riêng rẽ về ba phương pháp là hỷ lạc, sáng tỏ và vô niệm, nhưng sự chứng ngộ mà chúng sản sinh ra, mục tiêu đã định của chúng thì hoàn toàn giống nhau: trạng thái trần trụi, là tỉnh giác, trống rỗng. Bản tính của nó là một tính giác bao trùm toàn thể không tồn tại như bất cứ vật gì. Nó là tính sáng suốt thanh tịnh không ngừng. Nó là tính giác tự nhận thức. Nó không có những che chướng thô cùng những tấm màn tinh tế, và nó tự chiếu sáng. Mặc dù tính giác hiện diện trong mọi người, nhưng chỉ những ai nhận được gia trì từ thầy mới có thể kinh nghiệm nó. Nhờ bản tính của nó, nó là sự tự chiếu sáng không có đối tượng.58 Sự sáng suốt sâu sắc nội tại này không phụ thuộc vào các điều kiện. Nó là sự sáng chói nguyên thủy và không phát sinh ngẫu nhiên. Đây thực sự được gọi là trí tuệ bản nguyên của quang minh. Kinh Bát Nhã trong 8000 Câu nói: “Về tâm trí, tâm trí không tồn tại. Bản tính của tâm là tính sáng chói”.59

    Tính sáng là thế nào?

    48. Vào lúc đó, trong biển samadhi
    An trú và nội quán,
    Nhất tâm, minh bạch, thuần tịnh
    Các hiện tượng giống như ảnh phản chiếu
    Không có bản thể nội tại
    Được phản chiếu mà không có sự thiên vị hay bám chấp.
    Bản tính của chúng được nhận ra như là
    Hình sắc và tính không trong sự hợp nhất.
    Các hình tướng là trống rỗng;
    Chúng giống như những huyễn ảnh ảo thuật.
    Chúng không thể được ghim chặt.
    Sự mở rộng bao la của chứng ngộ này
    Của sự hợp nhất không thể chia cắt này
    Sự sáng chói phát sinh bên trong
    Được đưa ra thông qua lời chỉ dẫn cốt lõi này.


    Những thứ phản chiếu trên (bề mặt của) đại dương trong suốt chỉ là nước, không gì khác. Những hình ảnh phản chiếu và nước không phải là một, cũng chẳng phải là nhiều. Những ảnh phản chiếu xuất hiện trong nước, nhưng chúng không thể được nắm bắt. Tương tự, nhiều hình dạng xuất hiện trong bản tính trong suốt của tâm trí. Tuy nhiên sự xuất hiện của các đối tượng giác quan không làm vấy bẩn tâm, và tâm không nắm bắt chúng. Các đối tượng giác quan xuất hiện với các thức giác quan, nhưng không bị vấy bẩn bởi sự nắm bắt (của tâm), chúng biểu hiện theo cách ảo ảnh huyễn thuật. Vì khi an trú tĩnh lặng, nhất tâm, mang một bản tính duy nhất với tuệ giác sâu sắc, chân thực và sáng suốt, các đối tượng xuất hiện được nhận thức nhưng trống rỗng, vì tâm không nắm bắt chúng. Trạng thái này được gọi là “sự sáng chói xuất hiện mà không có bản thể nội tại”.

    Như đã nói trong Xác minh Kiến Thức Hợp Lệ,60

    Mọi thứ được tập hợp trong tâm trí.
    Ngay cả khi tâm trí không còn chuyển động,
    Tâm trí, với sự trợ giúp của đôi mắt, nhìn thấy hình dạng
    Là ý thức giác quan của việc nhìn.
    Tính sáng chói được biểu hiện thông qua sức mạnh của ai?


    49. Nhờ sự ban phúc của thầy mà bạn thấy được
    Trí tuệ nguyên thủy tự sinh, không thể diễn tả,
    Vượt ngoài cả ngôn ngữ và tư tưởng.
    Và trong khoảnh khắc nhìn thấy,
    Phi thời gian là ba thời,
    Không có sự khác biệt nào chia tách tương lai với quá khứ.
    Đây là Trí Tuệ Vượt Qua, Trung Đạo;
    Sự Tĩnh Lặng (của mọi ý nghĩ và nỗi khổ), Đại Ấn;
    Đại Toàn Thiện của thực tại tối hậu tinh túy,
    Đó là trạng thái bản tính nền tảng
    Nơi, ngay từ đầu,
    Các hiện tượng đều cạn kiệt.
    Đó là sự sáng suốt của tâm trí
    Trí tuệ nguyên thủy tự sinh,
    Được gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng tất cả đều có một ý nghĩa:
    Thực tại tối hậu, vượt ngoài mọi phạm vi
    Về lời nói, tư tưởng, diễn giải:
    Tâm giác ngộ,
    Bản tính như không gian, nơi luân hồi và niết bàn vốn không hai.


    Nhờ ân phúc của thầy mà bản tính sáng tỏ của tâm trí được thấy. Như đã nói ở một trong những Đạo Ca:

    Khi lời chỉ dẫn của đạo sự đi vào trái tim họ,
    Họ coi nó như một báu vật trong tay mình.


    Khi nhìn thấy bản tính giống như không gian này, không thể nói, không thể nghĩ, vượt ngoài khả năng giải thích, hành giả hiểu rằng giữa quá khứ và tương lai không có sự khác biệt, rằng không có gì có thể bị lấy đi khỏi bản tính này và chẳng có gì có thể được thêm vào nó. Khi nhìn thấy điều này, hành giả được giải thoát khỏi mọi xiềng xích.

    Như đã nói trong Abhisamayalamkara:

    Chẳng có gì bị lấy đi từ nó,
    Không có gì nhỏ nhất để thêm vào.
    Tính thanh tịnh hoàn hảo được nhìn thấy một cách hoàn hảo.
    Khi được thấy một cách hoàn hảo, chính là tự do tuyệt đối.


    Mặc dù cái thấy về bản tính nền tảng của tâm trí này được gọi bằng nhiều tên, Prajnaparamita (Sự hoàn hảo của trí tuệ), Madhyamaka (trung đạo), Quân bình hay Tĩnh lặng, Mahamudra (đại ấn), Mahasandhi (đại hoàn hảo), vân vân, nhưng ý nghĩa luôn giống nhau: tính giác, tâm giác ngộ sáng tạo toàn thể, giống như không gian. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Đối với bản tính đơn nhất của chính tôi, đấng sáng tạo toàn thể,
    Nhiều cái tên được đặt ra trong những tuyên bố của đoan tùy tùng tôi.
    Một số người gọi tôi là tâm giác ngộ,
    Số khác là bản tính như không gian.
    Một số gọi tôi là trí tuệ nguyên thủy tự phát sinh.
    Một số gọi là pháp thân.
    Một số gọi là báu thân.
    Một số gọi là ứng thân.
    Một số coi tôi là đấng toàn năng,
    Số khác coi là tri thức trên mọi phương diện,
    Số khác coi là ba hay bốn trí tuệ nguyên thủy,
    Số khác quả thực là năm trí .
    Đối với một vài người, tôi là trí tuệ nguyên thủy và là tính bao la tột cùng.
    Nhưng tất cả danh xưng này đều chỉ
    Tâm trí giác ngộ, đơn nhất, tự phát sinh.
    Đây là điều mà những người thấy tôi, tự phát sinh, sẽ nói.


    Bây giờ đến phần kết luận của chủ đề thứ ba: sự chứng ngộ này là một trạng thái vượt ngoài tâm trí bình thường.

    50. Vô hạn, vượt ngoài mọi thiên lệch,
    Chẳng bị ràng buộc trong cạm bẫy của các giáo điều,
    Thoát khỏi tâm trí lan man,
    Bất nhị, hoàn hảo, đại bình đẳng,
    Trí tuệ của các Đấng Chiến Thắng,
    Không gian bao la vượt trên mọi cực đoan.
    Đây là điều mà các hành giả cần nhận thức đầy đủ.


    Cái thấy về bản tính nền tảng không đạt được thông qua lý luận xuất phát từ các thừa khác nhau và các hệ thống giáo lý khác nhau. vì nó vượt ngoài phạm vi của ngôn từ và chân lý tương đối. Nó vượt trên các hình ảnh tinh thần được sử dụng trong các thực hành truyền cảm hứng,61 vì nó vượt ngoài tâm trí, phi nhị nguyên và giống như không gian. Nó vượt ngoài mọi suy nghĩ và giải thích. Vậy thì làm sao nó được biết đến? Như đã nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Nếu bản tính nền tảng
    Bạn thực sự muốn nhận ra,
    Hãy xem xét một phép so sánh:
    Thực tế là nó giống như không gian
    Khi bạn nhận ra, thì, bản tính không sinh của thực tại,
    Bạn nghỉ ngơi trong bản tính vô ngại của tâm trí.
    Thực tại tối hậu như không gian
    Quả thực được chỉ ra bằng phép loại suy.
    Vì nó giống như không gian.


    Khi hành giả tu luyện pháp này bằng cách tập trung vào những điểm than chốt, điều quan trọng là không can thiệp vào hoặc cố gắng thay đổi tâm trí mình. Vì trong trạng thái như vậy, mọi hy vọng và sợ hãi, mọi nỗ lực và phấn đấu đều tan biến, người đó sẽ an trú trong trạng thái trần trụi, hoàn toàn trần trụi của tính giác tự giác ngộ. Như Vua Sáng Tạo Toàn Thể nói một lần nữa:

    Hỡi Mahasattva,
    Nếu bạn muốn nhận ra bản tính của tâm trí mình,
    Vì điều này được thực hiện bằng cách không muốn nó,
    Đừng trì hoãn trong tính bình đẳng vô niệm.
    An trú tự nhiên trong một cảnh giới không chấp nhận hay bác bỏ.
    An trú tự nhiên trong trạng thái bất động.
    Vì bản tính của tâm trí vốn như thực.
    Trong tính như thực, mọi thứ được thiết lập.
    Vì vậy, đừng thay đổi trạng thái như thực này.
    Đừng thiền về thứ gì khác
    Ngoài trạng thái tối hậu của vạn sự.
    (Đó chính là bạn, vậy đừng nhìn đi nơi khác)62
    Chư Phật không tìm thấy gì,
    Dù họ tìm kiếm.
    Mọi việc đã làm xong, không cần phải làm lúc này!
    Mọi thứ đã đạt được, nên bây giờ không còn gì để đạt tới!
    Đừng nghĩ rằng bạn khôgn được nghĩ đến bất cứ thứ gì.
    Chỉ cần đặt tâm bạn vào trạng thái bình đẳng tính.
    Kye! Hãy nghe, Mahasattva!
    Toàn thể chư Phật trong quá khứ
    Chẳng tìm thấy gì ngoài tâm trí mình.
    Họ không sửa đổi tính như thực;
    Họ không thiền định khái niệm.
    Tâm trí của họ, tự do khỏi các ý niệm,
    Đã thành tựu hoàn hảo.
    Chư Phật hiện tại và sau này
    Sẽ đạt được thành tựu
    Trong trạng thái vô niệm, bình đẳng.


    Chủ đề thứ tư của bài giảng kết thúc là trình bày kết quả.

    51. Các kết quả khác nhau của những mức độ tập trung này
    Khi đã hoàn toàn thuần thục, thì như sau:
    Ngay lập tức, thông qua sự hợp nhất
    Của hỷ lạc, sáng suốt, vô niệm,
    Vô số phẩm tính, thiên nhãn trí,
    Quyền năng của các linh ảnh, tất cả đều đạt được.
    Và ở cấp độ cuối cùng,
    Những phẩm chất giác ngộ, viên mãn
    Của ba thân được thành tựu.
    Mục đích kép cho bản thân và người khác
    Đạt được tự nhiên.


    Bằng cách thiền định đúng đắn và tuần tự trên con đường, thông qua việc làm chủ sự chú tâm vào hỷ lạc, sáng tỏ, vô niệm, người thực hành sẽ, trong thời gian ngắn, đạt được các quyền năng linh ảnh, kiến thức siêu nhiên, vân vân. Cuối cùng, người đó sẽ đạt được giác ngộ hoàn hảo của phật quả. Được ban cho ba thần và trí tuệ nguyên thủy, người đó sẽ làm việc vì lợi ích của chúng sinh cho đến chừng nào luân hồi còn tồn tại. Theo đó, từ bên trong không gian của pháp than, tương tự như bầu trời, người đó sẽ xuất hiện trong sắc thân, các thân của hình tướng, giống như mặt trời và mặt trăng, người đó sẽ làm việc vì lợi ích của người khác, như kinh Alamkara nói:

    Biết rằng các thân Phật
    Đều được bao gồm trong ba thân
    Ba thân được cho là
    Hoàn thành các mục tiêu của mình và mọi người.63
    Và Uttaratantra nói rằng:
    Đấng Biết Thế Gian với lòng đại từ
    Nhìn chăm chú mọi chúng sinh thế giới
    Và, trong khi không bao giờ dao động khỏi pháp thân,
    Ngài xuất hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau,
    Ngại sinh ra ở Đâu Suất,
    Rồi từ cõi đó đi xuống.
    Ngài đi vào tử cung của mẹ và được sinh ra.
    Ngài phát triển kỹ năng trong mọi nghệ thuật.
    Thích thú trước sự hiện diện của các nữ hoàng.
    Sau đó, ngài từ bỏ tất cả và thực hành khổ hạnh.
    Sau đó, ngài đi đến nơi giác ngộ của mình,
    Chiến thắng ma vương và đạt quả vị phật hoàn hảo
    Ngài quay bánh xe pháp
    Rồi đến trạng thái vượt mọi đau khổ
    Đây là những hành động mà đức phật đã biểu lộ
    Nơi những vùng đất bất tịnh, cho đến khi nào luân hồi còn tồn tại.
    Và Abhisamayalankara nói:
    Đến khi nào luân hồi này còn tồn tại
    Đến khi ngài làm việc vì lợi ích chúng sinh
    Hóa thân của bậc thánh chẳng hề gián đoạn
    Và chừng nào luân hồi còn kéo dài
    Thì hoạt động của ngài không ngừng nghỉ.
    Do đó, kết luận.
    Tôi nguyện đi theo con đường này
    Thứ dẫn đến chính bản chất giác ngộ
    Vô nhiễm, thoát khỏi mọi ô trược
    Con đường này là nguồn của bình an hoàn hảo
    Của lợ ích và niềm vui
    Con đường này quá khứ đã mang lại phẩm hạnh hoàn hảo
    Trở thành ngọc quý trang hoàng thế giới.
    Nơi có nước thanh tịnh
    Nơi có hoa và tiếng vo ve ngọt ngào của những chú ong,
    Nơi chim công nhảy múa,
    Nơi hoa sen tỏa sáng,
    Một nơi trở nên đẹp đẽ và vinh quang
    Nhờ sự khổ hạnh của người thông thái
    Ở một nơi như vậy, trong cô tịch
    Cầu cho bầu trời thanh bình làm mái nhà của tôi
    Từ tồn tại trong luân hồi
    Hào lửa thấm đẫm nỗi đau
    Nguyện cho tôi được hòa mình vào dòng nước mát của sự chú tâm Vững chắc của mình
    Dẫn dắt mọi chúng sinh tới
    Nơi an bình, hạnh phúc, tự do,
    Và an lạc không khiếm khuyết.


    Đây là phần trình bày về các giai đoạn chú tâm mà hành giả nên thiền định, điểm kim cương thứ ba của Thừa Thanh Tịnh Siêu Việt, một bản bình luận về Tìm Nghỉ Ngơi trong Thiền Định, giáo lý của Đại Toàn Thiện.

    KẾT LUẬN

    Giờ đây chuyên luận này đã hoàn tất, sau đây là phần kết luận chung cho toàn bộ cuốn sách, bắt đầu bằng lời hồi hướng công đức.

    1. Nhờ công đức giải thích
    Giáo lý tính túy này
    Sâu và rộng,
    Một pháp thực hành sẽ dẫn đến thanh thản,
    Nguyện cho mọi chúng sinh đạt tới giác ngộ
    Được trang hoàng bằng hai tích lũy cao cả
    Tận hưởng sự tráng lệ vô tận của những hành vi giác ngộ
    Nhờ đó thỏa mãn mọi mong ước.
    Nhờ công đức có được từ việc đưa ra hệ thống giáo lý và thực hành kỳ diệu này, nguyện toàn thể chúng sinh đạt được giác ngộ hoàn hảo, trạng thái được tô điểm bằng vẻ tráng lệ vô cùng của trí tuệ và phẩm hạnh.


    Nơi chốn, biên soạn, và tác giả của chuyên luận này giờ đây được mô tả.

    2. Là sự chưng cất tinh túy
    Từ những điểm trọng yếu trong thực hành của ông
    Drime Ozer, con của Đấng Chiến Thắng
    Vì lợi ích của những người sẽ đến,
    Đã ghi lại lời diễn giải tường minh này
    Trên sườn núi Grangri Thokar.


    Được phú cho hào quang trí tuệ vô nhiễm và uyên bác vĩ đại, (Drime Ozer), người thừa kế tinh thần của Liên Hoa Vương vinh quang, Padma Gyalpo xứ Oddiyana, đã biên soạn văn bản này trên sườn núi, Gangri Thokar, vua của các ngọn núi. Ông đã làm vậy vì lợi ích của các thế hệ tương lai, cô đọng trên cơ sở kinh nghiệm của chính mình về các điểm trọng yếu của những chỉ dẫn cốt lõi về Đại Toàn Thiện Tự Nhiên.

    Người đọc văn bản này được khuyến khích làm việc vì lợi ích của người khác.

    3. Những ai mong muốn giải thoát,
    Hãy siêng năng áp dụng lời tôi.
    Vì như vậy bạn sẽ hoàn thiện hai mục tiêu
    Cho nhu cầu trước mắt và tối hậu.
    Và nhanh chóng được hài lòng
    Trên hòn đảo đại lạc.


    Những người trong các thế hệ tương lai thực hành để đạt được giải thoát nên nỗ lực thiền định theo những chỉ dẫn của chuyên luận này. Thực hành ngày đêm, họ sẽ nhanh chóng đạt được giác ngộ, hoàn thiện mục tiêu kép vì lới ích của chính họ và những người khác, nhờ đó đạt được hạnh phúc tráng lệ cao cả của đại lạc từ giác ngộ vô thượng. Như đã nói trong Ratnakuta:

    Giác ngộ này là nơi trú ngụ của những người tinh tấn
    Đây không phải là nơi của những người không cố gắng
    Đến đây hoàn tất giải thích kết thúc chuyên luận.
    Nguyện bầu trời là tâm trí chúng sinh
    Được lấp đầy bởi những đám mây công đức tích tập
    Từ việc biên soạn bản chú giải được trình bày hoàn thiện này
    Và ban xuống những cơn mưa hạnh phúc và lợi ích:
    Sự xuất sắc của mục tiêu kép.
    Nguyện cho mọi chúng sinh được dồi dào
    Với sự phong phú của giác ngộ hiển lộ.
    Hoàn toàn từ bỏ các con đường sai lầm
    Và đi vào Thừa Thanh Tịnh Siêu Việt này
    Giáo lý cao cả về bản tính kim cương, sâu xa và rộng lớn.
    Nguyện cho mọi chúng sinh được đến thành trì giải thoát
    Lời dạy này là ngôi sao ban ngày của ngàn ánh sáng,
    Một mandala tuyệt diệu của văn bản, lý luận và hướng dẫn cốt lõi,
    Giúp xua tan bóng tối tâm trí
    Và làm nở hoa sen giác ngộ.
    Lặp đi lặp lại trong những kiếp trước
    Tôi đã rửa sạch tâm nhãn tôi trong đó
    Và trong kiếp này tôi đã làm chủ một lần nữa
    Tinh hoa của các kinh điển, mật điển, các chỉ dẫn cốt lõi
    Và trở thành chuyên gia về ý nghĩa sâu sắc đó.
    Khi trên bầu trời trong xanh của giới luật vô lậu,
    Trí tuệ với ngàn vạn hào quang phát sinh
    Bông sen đa sắc của không gian quảng đại nở rộ,
    Và ánh sáng giải thoát bao trùm toàn thể
    Xuất hiện khắp mười phương.64
    Tiếp nối truyền thống từ các chúng sinh vĩ đại trong quá khứ,
    Theo dấu chân của những chúa tể vĩ đại trong loài người tôi đã bước,
    Và với những quán đỉnh ban phúc của đức Liên Hoa tự sinh,
    Trên sườn núi Gangri Thokar, tôi đã biên soạn văn bản này.
    Thừa Thanh Tịnh Siêu Việt.
    Thuộc truyền thống vô thượng yoga, đỉnh kim cương.
    Được trang hoàn bằng nhiều từ ngữ và ý nghĩa tuyệt diệu.
    Đó là cỗ xe tối cao trên con đường tới tự do.
    Mong mọi người may mắn đều được hưởng niềm vui trong đó.


    Thừa Thanh Tịnh Siêu Việt, một bản chú giải cho Tìm Nghỉ Ngơi Trong Thiền Định, một giáo lý về Đại Toàn Thiện, được biên soạn bởi Longchen Rabjam, một yogi được đào tạo bài bản về các chủ đề sâu sắc và rộng lớn, viết ra, giờ đây đã hoàn tất.

    Thiện hạnh! Thiện hạnh! Thiệnh hạnh!
    Last edited by Ẩn Tiên; 25-06-2025 at 09:17 AM.

  3. #23

    Mặc định

    PHỤC LỤC

    Đại cương cấu trúc của Điểm Kim Cương Thứ Ba

    Giáo lý sơ bộ

    Các pháp sơ bộ bên ngoài và riêng biệt
    Các pháp sơ bộ cao cấp
    Lợi ích của các pháp sơ bộ

    Giáo lý chính

    Một trình bày ngắn gọn
    Trình bày chi tiết
    Tập trung vào hỷ lạc
    Tập trung vào tính sáng
    Tập trung vào vô niệm

    Kế thúc giáo lý: hướng dẫn hỗ trợ tiến hành các thực hành chính.

    Những kinh nghiệm sai lệch về hỷ lạc, sáng tỏ, vô niệm
    Tăng cường hỷ lạc, sáng tỏ, vô niệm
    Sửa chữa các kinh nghiệm sai lệch

    Bởi những hành giả thượng căn

    Bởi những hành giả trung căn

    Phương pháp chung
    Phương pháp đặc biệt
    Sửa chữa hỷ lạc sai lệch
    Sửa chữa tính sáng sai lệch
    Sửa chữa vô niệm sai lệch

    Kết luận


    Bởi hành giả hạ căn

    Tư thế thân thể và cách nhìn chăm chú
    Yếu tố vật chất
    Kết nối tốt lành
    Sự tăng cường của hỷ lạc, sáng tỏ và vô niệm
    Hướng dẫn chung
    Hướng dẫn cụ thể
    Tăng cường hỷ lạc
    Tăng cường sáng tỏ
    Tăng cường vô niệm
    Đạt được chứng ngộ

    Kết luận

    GHI CHÚ

    Các chữ viết tắt

    GP (General Presentaiton): Longchen Rabjam, Đại Dương Chú Giải Tao Nhã, một bản trình bày chung, trong Ngal gso skor gsum.
    TPQ (Treasury of Preciuos Quality), quyển 1: Jigme Lingpa và Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche, Kho Tàng Những Phẩm Tính Quý Giá, do nhóm Padmakara dịch (Boston Shambhala Publication, 2010).
    TPQ (Treasury of Preciuos Quality), quyển 2: Jigme Lingpa và Longchen Yeshe Dorje, Kangyur Rinpoche, Kho Tàng Những Phẩm Tính Quý Giá, do nhóm Padmakara dịch (Boston Shambhala Publication, 2013).
    WB (Way of Boddhisattva): Shantideva, Con đường Bồ Tát, bản dịch của Boddhicharyavatara, dịch bởi nhóm Padmakara, bản chỉnh sửa (Boston Shambhala Publication, 2006).
    ----------------
    1. bSam gtan ngal gso.
    2. Sems nyid ngal gso.
    3. Ngal gso skor gsum.
    4. Respectively, shing rta, phreng ba, and don khrid.
    5. sPyi don legs bshad rgya mtsho.
    6. Shing rta chen po.
    7. Shing rta rnam par dag pa.
    8. sGyu ma ngal gso. Thừa Thanh Tịnh Siêu Việt, trong lời bình cho khổ thơ 23 ám chỉ rõ ràng đến Thừa Xuất Chúng (Shing rta bzang po).
    9. ’Jig rten pa’i bsam gtan rtog med rang gsal gyi ting nge ’dzin khams gsum pa’i sems kyi spyod yul can. GP, p. 97.
    10. ’Jig rten las ’das pa’i bsam gtan gyi ngal stegs shes rab dang ting nge ’dzin zung ’brel khyad par can gyi zhi lhag sgom pa. Ibid.
    11. Dus bzhi rnal ’byor gyi sgrub pa zab mo.
    12. Man ngag lta ba’i rdzong phreng. Chúng tôi không thể tìm thấy văn bản này, rõ ràng là hơi khác so với văn bản tôn vinh nổi tiếng hơn của đạo sư Liên Hoa Sinh có tựa đề Tràng Hoa của Cái Thấy (Man ngag lta ba’i phreng ba).
    13. Để có cái nhìn đầy đủ về chủ đề phức tạp này, xem TPQ q1, trang 284-316.
    14. rang bzhin rdzogs pa chen po: trong cách diễn đạt này, thuật ngữ “tự nhiên” (rang bzhin) ám chỉ thực tế là “khuôn mặt” hay “sự giống nhau” (bzhin) của thực tại tối hậu được thể hiện chính xác như nó vốn có mà không có bất cứ sự chỉnh sửa hay chế định nào.
    15. Ở tầm mức tối thượng, Prajanaparamita và Đại Toàn Thiện là như nhau. Tuy nhiên, có một khác biệt đáng kể trong cách chúng xác lập nền tảng, cũng như trong các thực hành thiền định liên quan. Xem TPQ, q2, trang 436-454.
    16. Đây là những gì người Tây Tạng thực sự nói. Thực tế nó có vẻ mâu thuẫn với mô tả trước đó cho thấy một lỗi của người ghi chép.
    17. Xem ghi chú 12.
    18. Diễn tả này không có nghĩa là vô hạn thực sự. Nó biểu thị một khoảng thời gian trôi qua, được Vasubhandu định nghĩa trong Abhidarmakosa của ông là 1058 kiếp. Một kiếp là một khoảng thời gian bao gồm sự hình thành, tồn tại và hoại diệt của một hệ thống vũ trụ cùng với một khoảng thời gian trống rỗng trước khi hình thành một vũ trụ tiếp theo.
    19. dag mnyam dkyil ’khor gcig: ám chỉ hai chân lý tối hậu của mật tông. Theo chân lý rốt ráo tương đối, mọi hiện tượng đều thanh tịnh khi là sự biểu hiện của các thân và các trí. Theo chân lý rốt ráo tuyệt đối, bản tính tột cùng của các hiện tượng là “bảy sự tráng lệ của chư như lai”. Xem TPQ, q2, trang 341.
    20. Về mô tả năm con đường Đại Thừa, xem TPQ, q1, trang 391-92.
    21. Người Tây Tạng nói về sáu nguyên tắc này như sau: (1) rang ldog ma ’dres, (2) dgag dgos yongs rdzogs, (3) ngo bo gnas ’gyur, (4) yon tan yar ldan, (5) gnad kyis mi ’gal, và (6) dus skabs kyi gtso bor ’gyur bya ba.
    22. Mỗi một trong ba giới nguyện đều giữ lại các đặc điểm riêng của mình ở chỗ thẩm quyền từ người mà hành giả thọ giới, thái độ mà hành giả thọ giới và các nghi lễ được sử dụng đều khác nhau.
    23. Tất cả đều có cùng mục đích, đó là giải thoát tâm trí. Xem TPQ, q1, trang 297.
    24. Văn bản đọc là thams cad log la mkhar rtsigs, có lẽ là lỗi của người chép. Khenchen Pema Sherab đã sửa lại thành thams cad long la mkhar rtsigs.
    25. dngos po.
    26. Có hai loại thực hành trong truyền thống mật tông. Thứ nhất, có thiền định theo con đường giải thoát (grol lam), thứ hai, có thiền định theo con đường phương tiện thiện xảo (thabs lam). Ngắn gọn, con đường giải thoát nhấn mạnh đến ba loại trí tuệ (xuất phát từ việc lắng nghe, suy ngẫm và thiền về giáo lý). Nhờ phương tiện này mà đạt được tính chắc chắn trong quan điểm mật tông, và áp dụng vào việc thực hành giai đoạn phát sinh. Mặt khác, con đường của phương tiện thiện xảo nhấn mạnh phương pháp và bao gồm các thực hành liên quan đến, trong số những thứ khác, các kinh mạch, năng lượng khí, và giọt tinh túy, nhờ đó trí tuệ nguyên thủy nộ tại nhanh chóng phát sinh.
    27. Như được kể rằng sau thời kỳ đàn áp giáo lý Phật bởi vua Lãng đạt ma, một vị thầy được gọi là Hồng Sư và một vị khác có tên là Thanh Bào Học Giả đã từ Ấn Độ đến Tây Tạng tuyền bá các hoạt động liên quan đến những cuộc truy hoan công cộng và giết chóc. Nhiều người Tây Tạng đã bị dẫn đi lạc lối.
    28. Ba trong bốn yếu tố đen còn lại là khiến cho mọi người hối hận về những điều không nên hối hận, nói năng với các bậc thánh bằng những lời gắt gỏng, khó nghe, và đối xử với chúng sinh bằng tính xảo quyệt, lừa dối.
    29. Nghĩa là bản tự bình luận cho Tìm Nghỉ Ngơi trong Bản Tính của Tâm Trí.
    30. Xem lời đức Liên Hoa Sinh được trích dẫn trong TPQ, q2, trang 208.

    Đại Vương, trong giáo lý mật tông của tôi, cái thấy được điều hướng tới pháp thân, nhưng hành vi thì hòa hợp với con đường của Bồ Tát. Đừng để hành vi của ngài bị lạc trong cái thấy. Nếu vậy, ngài sẽ không hiểu được thiện hạnh hay tội lỗi, và ngài sẽ không thể sửa chữa những tiêu cực của mình sau này. Mặt khác, nếu cái thấy của ngài đi theo và đồng hành với hành vi của mình, ngài sẽ bị trói buộc bởi sự vật và các thuộc tính của chúng, và sự giải thoát sẽ tránh xa ngài. Giáo lý mật tông của tôi chủ yếu tập trung vào tâm trí; cái thấy là điều quan trọng nhất. Trong tương lai, nhiều người sẽ có sự xác thực về lời nói nhưng sẽ không có sự chắc chắn về cái thấy, và họ sẽ đi đến các cõi thấp hơn.


    31. Xem WB, chương 5, câu 23.
    32. như trên, chương 9, câu 151, 152, và 154.
    33. như trên, chương 8, câu 22.
    34. như trên, chương 4, câu 17.
    35. như trên, chương 2, câu 57.
    36. như trên, chương 7, câu 14.
    37. như trên, chương 1, câu 4–6.
    38. Xem TPQ, q 1, trang 391.
    39. Giải thích về các mạch, khí và giọt, xem TPQ, q2, trang 155-164.
    40. Giải thích về ý nghĩa từ nguyên của tâm giác ngộ hay bồ đề tâm, xem TPQ, q2, trang 236.
    41. Hoan Hỷ Địa là cấp đầu tiên của Bồ Tát, hay địa.
    42. Văn bản nên đọc ở đây: lha yi rnam pa’i gzugs kyis ni/ /bzhin lag kha dog gnas pa ni/ /skyes pa tsam gyis rnam par gnas/ /’on kyang bag chags phal pas so/ /
    43. WB, chương 5, câu 16.
    44. Thân cây này có đường kính bằng một đồng xu nhỏ.
    45. Đây là đường thẳng đứng của chữ A trong tiếng Tây Tạng, nhọn ở phần dưới và mở rộng về phía trên. Trong bối cảnh hiện tại, nó được hình dung theo hướng ngược lại, tức là phần nhọn ở trên cùng.
    46. khams dangs ma: Đây là từ đồng nghĩa của “giọt tinh hoa” (thig le)
    47. Để biết thông tin chi tiết về những phẩm chất giác ngộ này, xem TPQ, q1, trang 387-89.
    48. Không rõ thứ tự đọc âm tiết HA và quán tưởng về sự soi chiếu của quả cầu ánh sáng (hay chữ A) diễn ra như thế nào. Trong cả bản gốc và chú giải, chúng tôi đã dịch chính xác những gì Longchenpa nói.
    49. gnyen po las gyur pa lnga: theo Khenchen Pema Sherab, “pháp đối trị” (gnyen po) ở đây nên được hiểu là một phẩm chất tốt (hỷ lạc) bị làm hỏng bởi năm thái độ này.
    50. sgyu ma: thuật ngữ Tây Tạng này luôn được hiểu theo nghĩa là “ảo ảnh huyễn thuật”, tức là một hình dạng giả tạo do ảo thuật tạo ra trên cơ sở các chất liệu không liên quan đến hình dạng giả ảo (ví dụ trên cơ sở một hòn đá và một cành cây, nhà ảo thuật tạo ra hình dạng một con voi). Nó được phân biệt với loại hình dạng giả tạo phát sinh thông qua nhận thức sai lầm trên cơ sở các vật thể có một vài điểm giống với đối tượng ảo tưởng. Ví dụ, từ một góc độ nhất định và dưới một ánh sáng nhất định, một khối đá có thể trông giống như một người đàn ông.
    51. rang bzhin gyu ma: như đã giải thích trong Thừa Xuất Chúng, bản tự bình luận cho Tìm Nghỉ Ngơi trong Tính Huyễn Ảo, cách diễn đạt này ám chỉ bản tính sáng ngời của tâm trí, phật tính, là nền tảng của tính thanh tịnh.
    52. Xem chú thích 45.
    53. Theo Dilgo Khyentse Rinpoche, khí trung tính tương ứng với khí đi kèm lửa, khí bao trùm toàn thể và khí hỗ trợ sự sống, tất cả đều được tập hợp lại và giữ trong hơi thở bình. Ngược lại, khi di cuhyeern lên trên có đặc tính nam, khí hướng xuống có đặc tính nữ. Xem TPQ, q2, trang 161, 431 và 288.
    54. Tức là mỡ người.
    55. Xem TPQ, q2, trang 162.
    56. Chúng tôi không thể tìm thấy văn bản này trong phiên bản hiện tại của Sutralamkara.
    57. Xem TPQ, q2, trang 162.
    58. Điều này có nghĩa tính giác thoát khỏi tính nhị nguyên của sự phân biệt chủ thể và đối tượng. Cái nhìn và cái được nhìn thấy là cùng một trí tuệ nguyên thủy, hay tính giác.
    59. Trích dẫn này theo truyền thống được hiểu là ám chỉ đến ba lần quay bánh xe Pháp. Trong lần quay đầu tiên (các giáo lý, ví dụ, bốn sự thật cao cả, chuỗi mười hai sự phát sinh tương thuộc, vân vân) các hiện tượng (ở đây là tâm trí) được khẳng định. Trong lần quay thứ hai (giáo lý về Bát nhã ba la mật, tức là tính không), sự tồn tại chân thực của các hiện tượng bị phủ nhận (tâm trí không tồn tại). Trong lần quay thứ ba (giáo lý về Phật tính), bản tính sáng ngời của tâm thức được khẳng định.
    60. Pramanaviniscaya (Tshad ma rnam par nges pa): Lương Quyết Định Luận. Đây là một trong bảy tác phẩm vĩ đại của Pháp Xứng về kiến thức xác thực. (tshad ma sde bdun).
    61. Hai hình thứ thiền mở ra cho hành giả: thiền khát vọng (mos sgom) và thiền “thực sự hoàn hảo” (lam nges rdzogs). Trong trường hợp đầu tiên, khi hành giả không quen với việc thực hành quán tưởng bản thân như một vị thần, và anh ta nghĩ rằng: “Mình là vị thần” hoặc “vị thần giống như thế này hoặc thế kia”, thì cùng một vị thần này xuất hiện trong tâm trí người đó theo cách khái niệm, giống như bất cứ ý tưởng trừu tượng nào khác. Điều này được gọi là sự biểu lộ của vị thần dưới dạng một đối tượng hoặc hình ảnh trong tâm trí.
    62. rang nyid yin gyis gzhan du ma tshol cig: dòng này có trong văn bản của Vua Sáng Tạo Toàn Thể, bị bỏ sót trong trích dẫn của Longchenpa. Nó được khôi phục lại ở đây để làm sáng tỏ ý nghĩa.
    63. Longchenpa chỉ trích dẫn dòng đầu tiên và dòng thứ tư của khổ thở này. Toàn bộ khổ thơ (Sutralamkara, x, 65) được cung cấp trong bản dịch để làm rõ nghĩa.
    64. Một số tên của Longchenpa được đưa vào trong cách diễn đạt của khổ thơ này: tshul khrims blo gros (trí tuệ của kỷ luật), dri med’ od zer (các tia sáng vô nhiễm), klong chen rab ‘byams (không gian bao trùm toàn thể).

    (Hết Sách)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Nghệ thuật Múa Răng trong Tuồng cổ Trung Quốc vai nhân vật Quỷ
    By Bin571 in forum Nét Văn hóa, Văn Minh của các nước khác
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 10-01-2024, 03:15 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 05-01-2008, 06:57 AM
  3. Trạng thái đạt đến trong Thiền định
    By do anh tuan in forum Thiền Tông
    Trả lời: 10
    Bài mới gởi: 12-11-2007, 07:17 PM
  4. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 01-11-2007, 12:24 PM
  5. 'Ma thường xuất hiện trong ngày nghỉ'
    By HellBoy in forum Chuyện Ma, Quỉ
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 16-10-2007, 06:28 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •