Trang 5 trong 6 Đầu tiênĐầu tiên 123456 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 81 tới 100 trên 114

Ðề tài: GÓP NHẶT!

  1. #81

    Mặc định

    Đã từ lâu tôi suy nghĩ rất nhiều về đám ma - thực trạng hiện tại một vòng luẩn quẩn mà từ lâu cứ tiếp diễn ở miền Bắc VN không biết bao giờ mới nhìn đúng và mọi người vẫn, đã và đang làm theo lối mòn.


    Ai rồi cũng phải tuân thủ theo quy luật sinh, lão, bệnh, tử. Có ai không sợ chết hay không?



    Câu chuyện mà tôi nhìn thấy, chứng kiến ngay trong gia đình bên nhà chồng tôi. Chả là có cháu bên chồng mới chết, khi người chết nằm xuống việc đầu tiên là đi xem thày, xem người chết vào giờ đẹp hay xấu (không hiểu đẹp cho người sống hay người chết), sau là đọc hoặc mua đài niệm Adida để 8-10 tiếng cho hết thời gian chết lâm sàng và mời thày khâm liệm, thày phán ngày nào, giờ nào đưa ma (thực chất để thời gian cho mọi người tới viếng), nếu nhà con cái cháu chắt đông, có điều kiện để qua 1 đêm, hôm sau đưa ra nghĩa trang. Khi đi đưa thủ tục kiểu gì cũng rắc tiền vàng, cắt giấy vàng mã nhỏ bằng 2 ngón tay để mục đích rắc làm dấu cho vong biết đường về nhà (một văn hoá của TQ được ngấm sâu vào người Việt cứ người trước làm là sau theo, không làm thì không yên tâm), khi chôn và cúng lễ trên mộ rồi đưa bát hương về nhà, để cúng cơm 3 ngày thực chất người chết được 2 ngày. Vậy tiện cho người sống nên Thày cúng cơm gọi là 3 ngày tại sao? Khi thày nói sao thì cứ tăm tắp nghe theo không có sự hiểu biết thì ỷ vào thày và đó là hậu quả tồi tệ nhất và gia chủ cứ hàng ngày thắp hương liên tục đến 49 ngày.



    Trong 49 ngày có gia đình làm thất thất lai tuần (7 ngày lại làm lễ tuần 1 và 7 lần đến 49 ngày). Ở một số nơi, có tuần thì lại được Thày mời lên chùa để cúng chuyển nghiệp hay giải nghiệp gì đó cho Vong...



    Nếu người chết được các Thầy cúng làm lễ để được phật Adi đà và Thánh chúng đến rước về Tây Phương cực Lạc, thì tại sai lại còn vong ở lại vất vưởng đâu đó? Vì các thầy đã làm lễ rồi thì chả nhẽ phật adi đà không rước được sao?



    Điều nghịch lý là tại sao khi ngày nào cũng cúng cơm cho vong nhưng 49 ngày lại phải lên mộ thắp hương mời vong về nhà làm 49 ngày?



    Vậy thực chất Vong ở nhà hay ở mộ, ở chùa hay ở trên cõi Tây Phương cực Lạc?



    Nếu Vong ở trên cõi Tây phương cực lạc thì có cần phải Thầy đến nhà và ra mộ hoặc lên chùa cúng không?



    Nếu thầy cúng để cho vong lên cõi Tây phương cực lạc và Vong không đi được thì tại sao Thầy lại nhận lời cúng lễ? Cũng giống như gia chủ thuê 1 ông thợ xây nhà, nếu không xây được thì ông thợ đó có dám nhận không?



    Tại sao lại vô lý cúng hàng ngày cho Vong ở nhà rồi đến ngày 49 lại lên mộ? Vậy sau 49 ngày vong tự đi từ nhà về mộ hay sao? Và 100 ngày hay giỗ đầu (năm đầu) cứ lên mộ mời vong về nhà? Vậy tóm lại Vong ở đâu, ở nhà, ở mộ, ở chùa hay ở cõi Tây phương cực lạc?



    Với quan điểm cá nhân tôi thấy học Phật pháp giải thích chết phải tái sinh theo nghiệp của mình (sống làm nhiều điều tốt thì tái sinh vào chỗ tốt và ngược lại tôn trọng quy luật nhân quả.



    Không ai có thể làm thay mình khi mình làm ác mà cúng để xin về Tây phương cực lạc là 1 điều phi lý. Một vòng luẩn quẩn ấy cứ tiếp diễn bao năm nên không rõ nguồn cơn khi chết đi về đâu?



    Các ông thày cúng hù doạ để kiếm tiền trên sự mê muội của mọi người, còn hàng năm giỗ cụ kỵ ông bà cha mẹ mục đích răn dạy con cháu uống nước nhớ nguồn, tri ân người sinh thành ra mình chứ không có ông bà cha mẹ nào ăn được, cũng không ông bà nào ở bát hương hay ở mộ đâu, họ đã tái sinh theo nghiệp rồi.



    Theo Đạo Phật nguyên thuỷ chết chưa phải là hết nên bài viết này tôi ko có ý định dạy ai, chỉ đưa vấn đề cho mọi người nhận thấy nghịch lý luẩn quẩn mà bao đời nay cứ tiếp diễn.



    Tôi tự đặt câu hỏi với các nước văn minh trên thế giới họ không cúng cơm, không làm 49 ngày , không cúng 100 ngày hay giỗ, không mua sắm vàng mã cho người chết thì gia tiên của họ không có tiền hay quần áo mặc hay sao?



    Không rắc tiền mã dọc đường thì vong họ không biết đường về nhà sao?



    Về nhà thì họ ở đâu khi không có bát hương nhỉ? Thời đại 4.0 rồi nhiều nơi thành phố cấm các đám ma rắc, rải vàng mã vừa mất mỹ quan đường phố đấy.



    Bài viết còn lủng củng có thể chưa sắp xếp logic nhưng với suy nghĩ thực trạng hiện nay mong mọi người chiếu cố (đừng ném đá tui nhé xin cảm ơn) (ảnh trên mạng)



    Bài copy của Hoàn Đoàn có bổ sung.

    (Nguồn: Fb Phạm Đoàn)


    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  2. #82

    Mặc định

    ... Bộ kinh nầy, toàn bộ nội dung là khen ngợi, xưng tán danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng. Và chỉ cần như vậy thôi sẽ “có được” tất cả sở cầu, sở nguyện như ý!

    Ta hãy cùng xem khen ngợi, xưng tán như thế nào?

    - Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa-Tạng Bồ-tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa-Tạng Bồ-tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo.

    - Trong đời sau, như có chúng-sanh không làm lành, mà làm ác, nhẫn đến kẻ chẳng tin luật nhơn quả, kẻ tà dâm, vọng ngữ, kẻ lưỡng thiệt, ác khẩu, kẻ hủy báng Đại Thừa. Những chúng-sanh có tội nghiệp như thế chắc phải bị đọa vào ác đạo. Nếu gặp được hàng Thiện-tri-thức khuyên bảo quy y với Ngài Địa-Tạng Bồ-tát chừng trong khoảng khảy móng tay, những chúng-sanh đó liền đặng thoát khỏi báo khổ nơi ba ác đạo.

    - Như có kẻ thiện nam hay người thiện nữ nào hoặc là họa vẽ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát rồi chừng một lần chiêm ngưỡng, một lần đảnh lễ, người đó sẽ được sanh lên cõi Trời Đao Lợi một trăm lần, không còn phải bị sa đọa vào ác đạo nữa.

    - Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bịnh tật, đến nơi trước tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ chừng trong khoảng một bữa ăn, người nữ đó trong nghìn vạn kiếp thọ sanh được thân hình tướng mạo xinh đẹp không có bịnh tật. Người nữ xấu xí đó nếu không nhàm thân gái, thời trăm nghìn muôn ức đời thường làm con gái nhà Vua cho đến làm Vương Phi, dòng dõi nhà quan lớn cùng con gái các vị đại Trưởng Giả, tướng mạo đoan trang xinh đẹp...

    - Như có người thiện nam, người thiện nữ nào có thể đối trước tượng của Địa-Tạng Bồ-tát mà trổi các thứ kỹ nhạc, ngâm ca khen ngợi, dùng hương hoa cúng dường, cho đến khuyến hóa được một người hay nhiều người. Những hạng người đó ở trong đời hiện tại cùng thuở vị lai sau, thường được trăm nghìn vị Quỉ Thần ngày đêm theo hộ vệ còn không cho những việc hung dữ đến tai người đó, huống là để cho người đó phải chịu các tai vạ bất ngờ!

    - Giả sử như thần thức của người bịnh đã phân tán đến hơi thở đã dứt, thời hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch và lớn tiếng tụng kinh nầy. Sau khi người bịnh đó mạng chung thời dầu cho từ trước có tội vạ nặng, nhẫn đến năm tội vô gián, cũng được thoát khỏi hẳn, thọ sanh vào đâu cũng thường nhớ biết việc đời trước. Huống nữa là người thiện nam, người thiện nữ nào tự mình biên chép Kinh nầy, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Bồ-tát, cho đến bảo người khác vẽ đắp, người đó khi thọ quả báo chắc đặng nhiều lợi lớn.

    - Như đời sau nầy có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái nhẫn đến những kẻ không được quyền tự do, rõ biết là do tội nghiệp đời trước gây ra cần phải sám hối đó, thời nên chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát. Rồi trong bảy ngày niệm danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát đủ một muôn biến. Những người trên đó sau khi mãn báo thân hạ tiện ở hiện đời, trong nghìn muôn đời về sau thường sanh vào bực tôn quí, trọn không bao giờ còn phải sa đọa vào ba đường ác khổ nữa.

    - Vì thế [nên, nếu ông thấy có người nào đọc] tụng Kinh nầy, cho đến chỉ trong một niệm ngợi khen Kinh nầy, hoặc là có lòng cung kính đối với Kinh, thời ông cần phải dùng trăm nghìn phương chước khuyến hóa người đó, phát lòng siêng năng chớ đừng thối thất, thời có thể được trăm nghìn muôn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai.

    - Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của đức Phật đây mà tạm thời sanh lòng cung kính, liền đặng siêu việt tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp hình tượng cúng dường tán thán! Người nầy được vô lượng vô biên phước lợi.

    - Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của đức Phật đây, phát tâm quy y với Phật trong khoảng khảy móng tay, người nầy trọn hẳn không còn thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh giác.

    - Trong đời sau, như kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp Kinh điển đại thừa hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu Kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được quả báo lớn vô lượng vô biên. Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới chúng-sanh thời phước lợi nầy không thể ví dụ thế nào cho được.

    - Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và Kinh điển đại thừa, nếu là Kinh tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen chắp tay cung kính. Nếu gặp Kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng đồng phát tâm. Những người đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. Còn vị đàn-việt chánh đó thường làm vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ.

    - Trong đời sau, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đã gieo trồng trong Phật Pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang Kinh điển, cho đến chừng bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hột cát, một giọt nước. Những sự lành như thế không luận là nhiều ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng-sanh, thời công đức của người đó trong trăm nghìn đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu. Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự mình được lợi ích thôi, như thế thời sẽ hưởng quả vui trong ba đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn.

    Đấy là “khen”, còn “chê” thì chết:

    - Trong đời sau, như có người ác và ác thần, ác quỉ nào thấy kẻ thiện nam, người thiện nữ quy y cung kính, cúng dường ngợi khen chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát, mà vọng sanh khinh chê là không có công đức cùng không có sự lợi ích, hoặc nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng hay chê trước mặt, hoặc khuyên bảo người khác cùng chê, hoặc khuyên bảo một người cùng chê hay nhiều người cùng chê, cho đến sanh lòng chê bai trong chừng một niệm. Thời những kẻ như thế đến sau khi một nghìn đức Phật trong hiện kiếp nhập diệt cả, bị tội báo khinh chê nên còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu tội khổ rất nặng.

    Nói về lâm chung và 49 ngày:

    - Chúng-sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề nầy có nhơn duyên lớn với ngài Địa-Tạng Đại-sĩ. Những chúng-sanh đó hoặc được nghe danh hiệu của Địa-Tạng Bồ-tát, hoặc được thấy hình tượng của Địa-Tạng Bồ-tát, cho đến nghe chừng ba chữ hay năm chữ trong Kinh nầy, hoặc một bài kệ hay một câu, thời những người đó hưởng sự an vui lạ thường trong đời hiện tại, trăm nghìn muôn đời về vị lai thường được thác sanh vào nhà tôn quí, thân hình xinh đẹp. Như sau khi người đã chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi Trời hoặc trong loài người hưởng lấy nhiều sự rất vui sướng, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích.

    - Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đã chứng đặng phần Thánh quả, sẽ sanh vào cõi Trời, cõi người, nhưng bị vì lúc lâm chung, hàng thân thuộc gây tạo những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành. Nầy ông Trưởng Giả! Những chúng-sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ-tát hay danh hiệu của một vị Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả.

    - Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho. Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Người chết đó nếu là kẻ có tội, thời trải qua trong trăm nghìn năm không có ngày nào được thoát khỏi.

    - Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ-tát, tu tạo nhơn duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết.

    - Tất cả chúng-sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một Bồ-tát, hoặc một câu, một bài kệ Kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô-gián cùng tội sát hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát khỏi cả.

    - Vì thế nên những chúng-sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn người mất đều đặng lợi ích cả.

    - Trong cõi Diêm-Phù-Đề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng còn có trăm nghìn quỉ thần ác đạo hoặc biến ra hình cha mẹ, nhẫn đến hóa làm người thân quyến dắt dẫn thần hồn người chết đi cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống chi là những kẻ lúc sanh tiền đã sẵn tạo nghiệp ác.

    - Trong các thế-giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, những hàng chúng-sanh trong sáu đường, như có kẻ sắp mạng chung mà đặng nghe một tiếng danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát thoáng qua lỗ tai, thời kẻ mạng chung đó không còn bị đọa vào chốn khổ ba ác đạo. Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến đem của cải nhà cửa, vật báu, y phục vân vân ... của người sắp mạng chung đó mà làm của chi phí để tô đắp hay họa vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ-tát. Rồi làm cho người bịnh lúc chưa chết, hoặc mắt thấy tai nghe biết rằng hàng thân quyến đem nhà cửa vật báu vân vân ... vì mình mà tô vẽ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát. Người bịnh đó nếu có nghiệp báo phải mang lấy bịnh nặng, thời nhờ công đức này liền được lành mạnh, tuổi thọ thêm lâu. Còn nếu người bịnh đó có nghiệp báo số mạng đã hết, lại có đủ tất cả tội chướng, nghiệp chướng, đáng lẽ phải bị đọa vào chốn ác đạo, song vì nhờ công đức này nên sau khi mạng chung, liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng quả vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng thảy đều tiêu sạch.

    Lược dẫn như vậy thiết nghĩ là quá đủ rồi. Bậc trí có thể tin một loại được gọi là kinh như thế hay chăng? Tôi có thể khẳng định, và “sẵn sàng đi địa ngục Vô gián” để nói rằng, kinh này không những là “hậu tác” mà còn là “nguỵ tác”, đã rất thâm độc, đã đưa một đạo Phật trí tuệ đoạn lìa tham sân phiền não xuống ngang hàng với những loại tín ngưỡng dân gian đầy mê tín, tối tăm và ngu muội. Chỉ cần khen ngợi, chỉ cần một câu một chữ kinh này, chẳng cần tu tập gì cả, kẻ ác cũng được vô lượng công đức, phước báu hay sao???

    (HT Giới Đức)
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  3. #83

    Mặc định



    hihihihi

    Đúng là Trường Chuyên có khác .

    sách giáo khoa của trường không chuyên là :
    hậu tác hay ngụy tác sao ta ???

    tội nghiệp cho cái bị gọi là Kinh.
    ( vật không thể nói )

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
    cát tường.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  4. #84

    Mặc định

    TRAU DỒI TỨ VÔ LƯỢNG TÂM


    "Trước đây chúng tôi đã giảng về Tứ Vô Lượng Tâm, nhưng chưa có nêu pháp hành rõ rệt. Bây giờ chúng tôi sẽ trình bày những pháp hành cụ thể, cũng giống như sau khi có được địa danh, bây giờ ta lấy địa chỉ rõ ràng để đi đến nơi đến chốn.




    Tâm ta vốn dĩ đầy ắp tham, sân, si, không phải hàng ngày cứ nói diệt tham, sân, si mà nó hết đâu. Phật nói dùng tâm từ để diệt tâm sân, nhưng tâm chưa có từ thì làm sao diệt được sân? Vậy làm thế nào để trau dồi tâm từ? Phải trau dồi, tập sống với tâm như tâm Phật (rộng lớn vô bờ bến), phải tập dứt ác và thể hiện tình thương rộng lớn. Thí dụ khi người chửi ta, liệu ta có thương họ mà tha thứ cho họ được không? Hầu hết chúng ta đều nhớ lời Phật dạy lấy tâm từ để diệt lòng sân hận, nhưng có mấy ai làm được? Và làm thế nào để thể hiện tâm từ vô biên?


    Tu là phải thực tập, rèn luyện từng chút mới có được từ, bi, hỷ, xả. Nếu Thầy nói mà các con nghe chơi, và chẳng thực tập gì cả thì thật là uổng công, mệt sức, mất thì giờ vô ích. Khi vào đạo Phật trước tiên chúng ta nhớ là phải thông hiểu. Sau khi thông hiểu thì ta phải trau dồi (nhìn vào địa chỉ để mà đi).


    Thế nào là Tứ Vô Lượng Tâm?


    Tứ là bốn, Vô lượng Tâm là tâm rộng lớn mênh mông, phủ trùm tất cả chúng sanh, không thể nào suy lường, tính toán được. Tâm này thoát ra khỏi sự ràng buộc dây mơ rể má của mọi tình cảm, thương ghét, giận hờn, tỵ hiềm, kiêu căng, nghi ngờ, ngã mạn của phàm phu, phá vỡ mọi tà kiến, thân kiến, chấp kiến. Càng trau dồi tâm thì nó càng rộng lớn và sự hiểu biết của ta càng phát triển. Từ đó ta mới thực hiện tâm vô ngã. Nếu không có bốn tâm từ, bi, hỉ, xả thì ta khó thực hiện được tâm vô ngã. Vô lượng tâm còn có nghĩa là đẳng tâm, là tâm bình đẳng (xem người và vật như nhau). Tâm này tự nhiên, không so đo, cao thấp, hơn kém, mà phổ biến, ban rải khắp mọi nơi, mọi chỗ, không giới hạn. Do trau dồi tâm bình đẳng này mà làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh thoát khổ. Tâm này có công năng mang lại cho chúng sanh vô lượng phước báo, nghĩa là không bao giờ làm phiền lòng ai. Biết rằng ở đời ai cũng có cái khổ, cái khó khăn, nên ta cần phải thường xuyên áp dụng tâm bi. Thí dụ khi có một người tức giận ta, ta hiểu là người ấy đang khổ (bởi vì tâm bình thường đâu có đau khổ). Khi thực hiện tâm bi là thực hiện ở chỗ đau khổ, tai nạn của người. Nếu thực hiện được tâm từ thì ta có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh trong nước và các nước khác, ta sẽ sống an vui, không có chiến tranh, đau khổ.


    Vô lượng phải hiểu qua năm trường hợp sau đây:


    1/ Vô lượng nhân lành: đem lại nhân lành cho mọi người. Thí dụ khi người ta chửi mình thì mình không giận mà còn năn nỉ để họ mát dạ, không chửi nữa. Đó là ta thông cảm và giúp đỡ họ.


    2/ Vô lượng quả đẹp: luôn luôn đem đến sự tốt đẹp, không phiền toái, khiến cho chúng sanh nào cũng được an lành.


    3/ Vô lượng chúng sanh: mang lại lợi ích cho rất nhiều chúng sanh. Thí dụ trong y áo của chúng ta có đầy kiến. Học tập tâm từ thì ta không nên đập giủ mạnh khiến cho chúng có thể bị thương tích và chết mất. Vì mưa gió cho nên chúng mới chạy vào nhà tìm nơi trú ẩn. Nếu ta không muốn cho chúng vào thì phải ngăn chận từđầu. Bây giờ nó vô đầy trong nhà mà ta quét đổ hết ra ngoài mưa, hoặc đem đốt đi thì tội vô cùng.


    4/ Vô lượng thế giới: cả thế giới trùng trùng, điệp điệp (không gian).


    5/ Vô lượng đời kiếp: đời đời kiếp kiếp được an lành (thời gian)."



    (Sưu tầm)












    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  5. #85

    Mặc định

    Đến đi thong dong


    Gió vẫn còn bay con biết không
    Khi mưa xa tiếp áng mây gần
    Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
    Cho lòng đất thấy bầu trời trong
    Ta vẫn còn, đến đi thong dong
    Có không, còn mất, chẳng băn khoăn
    Bước chân con, hãy về thanh thản
    Không tròn, không khuyết, một vầng trăng


    Gió vẫn còn bay con biết không
    Khi mưa xa tiếp áng mây gần
    Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
    Cho lòng đất thấy bầu trời trong
    Ta vẫn còn, đến đi thong dong
    Có không, còn mất, chẳng băn khoăn
    Bước chân con, hãy về thanh thản
    Không tròn, không khuyết, một vầng trăng


    (Thầy Thích Nhất Hạnh)
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  6. #86

    Mặc định

    Phật Giáo Hữu Ích Hay Vô Ích

    Phật tử tại gia lâu nay có quan niệm sai lầm, khi nói đến Phật sự là đinh ninh cúng chùa, cất chùa, trai nguyện, công quả v..v.... lãng quên yếu tố căn bản "làm sống dậy lời Phật dạy". Giả sử có người phê bình:Phật giáo chỉ lý thuyết suông không ích lợi gì cho quần chúng. Phật tử chúng ta chấp nhận lời phê bình này không? Hẳn là không. Nhưng muốn cải chính, chúng ta căn cứ vào đâu để chứng minh sự hữu ích của Phật giáo đối với quần chúng. Căn cứ vào sự cầu nguyện quốc thới dân an làm bằng chứng được chăng? Huyền diệu quá, quần chúng không tin nổi. Căn cứ vào sự cúng chùa đời sau được phước chăng? Xa xôi quá, quần chúng không thể nhận tới. Còn bao nhiêu chứng cứ nữa thảy đều cao siêu khó thấy. Quần chúng đòi hỏi có sự lợi ích thiết thực, chính mắt họ trông thấy mới chịu tin.

    Vì thế, Phật tử tại gia phải cố gắng thực hiện, lấy gia đình mình làm cứ điểm lợi ích thiết thực của Phật giáo để trả lời mọi nghi ngờ và phê bình của quần chúng. Hơn nữa, một vị Tăng đứng lên giảng hạnh từ bi, nhẫn nhục v..v... quần chúng cho đó là một mớ lý thuyết khô khan không thể thực hiện được. Nếu vị Tăng ấy chính bản thân thực hiện hạnh từ bi, nhẫn nhục, quần chúng lại bảo dĩ nhiên ông ấy phải làm được. Vì ông không có gia đình, không lo sinh kế, còn chúng tôi phải bao bọc gia đình, phải lo sinh kế, làm sao bì mấy ông ấy được. Chỉ có người Phật tử tại gia vẫn sống trong hoàn cảnh như họ mà thực hành được đạo đức mới là việc đáng cho họ chú ý.

    Phật giáo hữu ích hay vô ích chính do sự thực hiện hay không của hàng Phật tử tại gia vậy.



    (Hoà Thượng Thanh Từ)
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  7. #87

    Mặc định



    hihihihi
    Cái Chân để đá,(đi ??? )
    Ngón tay để chỉ,
    Bàn tay để vổ (không phải đập )
    Cái đầu lắc lắc
    cái bụng kêu kêu .

    Góp nhặt sao ta ???

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập
    cát tường.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  8. #88

    Mặc định

    BÀI HỌC CỦA BỆNH TẬT


    * Bệnh dạy cho chúng ta về vô thường:


    Già, bệnh, rồi đến cuối chặng đường của một kiếp người là chết. Tất cả những hiện tượng tự nhiên này diễn ra không ngừng trong con người và mọi loài mọi vật. Các giai đoạn (ta tạm gọi như thế, chứ thật ra không có ranh giới nào) sinh ra, trưởng thành, già cỗi và hư hoại đan xen nhau trải dài trên một chiếc trục gọi là ‘cuộc sống’ mà một cực là sự sanh ra trên cuộc đời và cực kia là cái chết. Ở mức độ vi tế hơn, chúng ta cần hiểu rằng trong mỗi tích tắc, bao nhiêu tế bào trong cơ thể chết đi và bao nhiêu tế bào mới được sinh ra. Thế nhưng, để ‘thấy’ được sự thay đổi thì cần phải có những biến chuyển cụ thể, rõ ràng và lớn hơn. Một khi bệnh, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang ‘chuyển giai đoạn’.


    Ý thức được vô thường giúp chúng ta ý thức hơn về cách sử dụng và quản lý thời gian của bản thân cũng như điều chỉnh các mối quan hệ với những người xung quanh để có một cuộc sống ý nghĩa hơn. Chỉ có những người trải qua cơn bạo bệnh mới hiểu được trọn vẹn sức khỏe tốt là một thứ tài sản vô giá, để rồi sau đó, họ không phung phí tài sản ấy.


    * Bệnh làm cho chúng ta tăng trưởng tâm từ bi, lòng bác ái:


    Khi ta bệnh, ta thấu hiểu nỗi đau của người khác nhiều hơn, nhất là những người mắc bệnh giống mình hoặc bệnh nặng hơn mình. Người xưa nói ‘đồng bệnh tương lân’ quả không sai. Trong đau đớn, chúng ta cảm thấy mình không đơn độc chống chọi với căn bệnh này. Nghĩ đến những người cùng chịu nỗi đau giống mình hoặc hơn mình nữa, chúng ta có thể dễ dàng trải lòng thương yêu đến cả những người không quen.


    Tâm đồng cảm, thấu cảm và chia sẻ với những người cùng bệnh rất lớn. Nếu chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng tâm lành này, tức là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ có những động thái tích cực và thiết thực góp phần giúp người bệnh vơi nhẹ nỗi đau bằng kinh nghiệm bản thân. Thực tế, khi chứng kiến bệnh tật, thân nhân người bệnh cũng mở rộng tấm lòng và sự đồng cảm đối với những người bệnh.


    * Bệnh giúp chúng ta nuôi dưỡng tâm khiêm tốn và biết đủ:


    Khi bệnh, chúng ta mới sực nhớ ra rằng cuộc đời mình không phải là không có giới hạn. Giới hạn của con người là lẽ thường xưa nay, nhưng bình thường chúng ta không ý thức đầy đủ về những giới hạn của mình. Nếu thấy người khác bệnh, chúng ta cứ tưởng bệnh chỉ đến với người đó mà không đến với mình. Cho đến khi chính bản thân mình hay người thân bị bệnh như bao người khác, chúng ta mới kịp nhận ra, ai cũng chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên: đau, già, bệnh và chết.


    Ý thức rằng mình không hơn gì người khác, ít nhất là trong quy luật tự nhiên này, giúp chúng ta bớt đi lòng kiêu hãnh và trở nên khiêm tốn hơn trong cuộc sống. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể bớt đi lòng tham cầu một cách đáng kể. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể biết cách tổ chức cuộc sống mình hiệu quả hơn và tốt hơn.


    (St)
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  9. #89

    Mặc định

    Từ khi còn là một Thái tử cho đến khi thành tựu đạo Vô Thượng Bồ đề, đức Phật đã trải qua đủ mọi lạc thú ở thế gian, kể cả những lạc thú cao cấp trong Thiền định như Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng tất cả những lạc thú đó cuối cùng để lại cho Ngài một ưu tư lớn về tính chất vô thường, và không thể nào tìm thấy hạnh phúc chân thật trong các lạc thú đó. Và thật sự có một hạnh phúc chân thật không bị quy luật vô thường chi phối được Ngài tìm thấy ngay sau khi giác ngộ, đó là giải thoát bất động. Nhờ kinh nghiệm tự thân và kinh nghiệm chứng ngộ này, đức Phật đã trình bày năm hạng người điển hình đang tìm cầu hạnh phúc qua "Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây".


    *


    Qua bài kinh này, người học Phật có thể nhận thức được đâu là chân giá trị hạnh phúc và đâu là hạnh phúc vô thường tạm bợ. Nếu không có được nhận thức như thế thì chúng ta khó có thể đạt đến mục đích mong muốn, khó có thể đạt được hạnh phúc chân thật của sự giải thoát và giác ngộ. Năm hạng người được đức Phật trình bày trong bài kinh này đều có cùng ước muốn là đi tìm cầu hạnh phúc, họ sống phạm hạnh để mong giải thoát mọi khổ đau ở cuộc đời: "Ở đây, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt".




    Tuy nhiên, việc thành đạt mục đích giải thoát mọi khổ đau hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức của chính mỗi người qua các giai đoạn thành đạt trong việc tu tập của người ấy. Thông thường, các giai đoạn thành đạt ấy đem lại sự hỷ lạc cho vị hành giả và nếu say mê, tham đắm, tự mãn đối với sự thành đạt này thì vị ấy sẽ bị dừng lại ở đó, khó có thể đạt đến mục đích cứu cánh giải thoát. Các hỷ lạc trong lộ trình tu tập của vị hành giả được đức Phật phân ra như là năm hạng người, và cũng chính là năm trạng thái hạnh phúc, từ phàm tục cho đến giải thoát hoàn toàn:


    1. Có người được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được tôn kính như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Do vậy, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.


    2. Có người không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng nên thành tựu Giới đức. Do thành tựu Giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: "Ta là người trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác pháp". Do thành tựu Giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.


    3. Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không tự mãn với Giới đức nên thành tựu Thiền định. Do thành tựu thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: "Ta có thiền định nhất tâm, các Tỷ-kheo khác không có thiền định, tâm bị phân tán". Do vậy, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.


    4. Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không tự mãn với Giới đức, không tự mãn với Thiền định nên thành tựu tri kiến. Vì tri kiến này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn và khen mình, chê người: "Ta sống, thấy và biết; các Tỷ-kheo khác sống, không thấy và không biết". Vị ấy do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.


    5. Có người do không tự mãn với lợi dưỡng, danh vọng, không tự mãn với Giới đức, không tự mãn với Thiền định, không tự mãn với tri kiến nên thành tựu thời và phi thời giải thoát, và vị ấy có thể từ bỏ thời và phi thời giải thoát. Như vậy, phạm hạnh không phải vì lợi ích lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu Giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích thành tựu tri kiến, mà tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh


    Như vậy, Tâm giải thoát bất động là mục đích của phạm hạnh, là lõi cây, là hạnh phúc chân thật không hề có sự khổ đau; còn lợi dưỡng, danh vọng, giới đức, thiền định, tri kiến đều không phải mục đích của phạm hạnh được không phải lõi cây, là hạnh phúc tạm thời của thế giới vật chất vô thường.

    (HT Minh Châu, còn tiếp)
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  10. #90

    Mặc định

    (Tiếp) Thế nhưng, lòng tham muốn khiến con người chỉ tìm kiếm và chấp nhận chút hạnh phúc tạm bợ mong manh mà không biết thú vui đó là nguyên nhân của khổ. Hạnh phúc ấy luôn luôn bị phụ thuộc vào sự đối đãi của tầng số tăng giảm về lạc thú. Hôm nay, ta ăn cơm với xì dầu sướng hơn ngày hôm trước, không có xì dầu mà ăn; nhưng xì dầu lại là sự chán bỏ đối với những món ăn khác ngon hơn. Phương tiện xe đạp là thú vui so với đi bộ, nhưng lại là sự chán bỏ đối với xe máy; và xe máy này là sự chán bỏ đối với xe gắn máy đời mới hơn vv...

    Vì thế, đức Phật dạy hạnh phúc mà con người thường thọ hưởng không ngoài sự tham muốn và tưởng nhớ các dục. Kinh Xà Dụ (Trung Bộ, số 22) ghi: "Người ta thọ dụng các dục không ngoài các dục, không ngoài các dục tưởng, không ngoài các dục tầm". Thọ dụng các dục nghĩa là thọ hưởng hạnh phúc do thoả mãn lòng tham muốn khi các giác quan tiếp xúc với các trần cảnh; thọ dụng các dục tưởng là thọ hưởng hạnh phúc do tưởng nhớ những cảm thọ trong quá khứ; thọ dụng các dục tầm là thọ hưởng các hạnh phúc do ước mong về tương lai. "Quá khứ đã đoạn tận, còn tương lai thì chưa đến", nên hạnh phúc của dục tưởng và dục tầm là hạnh phúc do vọng tưởng tạo lên, không thật có. Còn hạnh phúc do các giác quan đưa đến thì lại vô cùng phức tạp. Hạnh phúc này hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích riêng của mỗi người, nó không tùy thuộc vào thế giới vật chất. Cái này là thú vui thích của người này nhưng đồng thời lại là cái khiến người kia bực bội, chán ghét. Một ly cà phê, anh thích còn tôi thì ghét. Thích là hạnh phúc, ghét là đau khổ. Phải chăng một ly cà phê vô tri ấy mà lại chứa đựng cả hạnh phúc lẫn đau khổ?


    Thật ra, hạnh phúc hay khổ đau là chính thái độ con người đối với đối tượng nhận thức, chứ không phải là đối tượng nhận thức. Vả lại, đối tượng nhận thức thuộc thế giới khách quan, luôn luôn vận hành theo quy luật duyên sinh, vô thường, vô ngã; trong khi đó, thú vui (hạnh phúc) mà con người thọ dụng thì thuộc chủ quan tự ngã. Sự mâu thuẫn giữa thế giới khách quan và tâm ý chủ quan này đã tạo ra biết bao khổ đau trên cuộc đời. Thế nhưng, do ý chí muốn sống (hay kiết sanh thức) đã khiến cho loài hữu tình bất chấp mọi khổ đau để tìm kiếm chút hạnh phúc tạm bợ trong cuộc sống này. Vô minh là thế.


    Do vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn về bản chất và giá trị của hạnh phúc là vấn đề rất quan trọng. Đại kinh Ví Dụ Lõi Cây cho chúng ta thấy rõ giá trị hạnh phúc qua năm phần của một cây Đại thọ, gồm lõi cây, giác cây, vỏ trong, vỏ ngoài và cành lá.


    - Hạnh phúc cành lá là lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng;
    - Hạnh phúc vỏ ngoài là thành tựu Giới đức;
    - Hạnh phúc vỏ trong là thành tựu Thiền định;
    - Hạnh phúc giác cây là thành tựu Tri kiến; và
    - Hạnh phúc lõi cây là Giải thoát bất động.


    Đối chiếu năm phần của một cây đại thọ như thế, chúng ta có thể dễ dàng thấy được giá trị hạnh phúc của lợi dưỡng tôn kính, danh vọng; thấy được giá trị hạnh phúc của Giới đức, của Thiền định, của Tri kiến và của Giải thoát bất động. Qua đó chúng ta có thể biết được chúng ta đang sống và cảm thọ ở mức hạnh phúc nào, đồng thời biết định hướng cho mình một hướng đi đúng đắn.
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  11. #91

    Mặc định



    hihihihi
    Thấy lỏi cây là cây đã chết ... góp nhặt để ... xây nhà
    (nghề thợ mộc ,điêu khắc, trang trí nội ngoại thất ...)

    Lỏi hay lổi ???
    Đức Phật dạy cái chết ???

    chỉ vì Ích (lợi ) để được chăng ???
    ( rừng già không còn,bảo lụt khắp nơi )

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
    cát tường.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  12. #92

    Mặc định

    (Tiếp) Trong bài kinh này, đức Phật hướng dẫn cho chúng ta thấy rằng mục đích cuối cùng của phạm hạnh phải là Giải thoát bất động. Tuy nhiên, trên chặng đường đi đến mục đích ấy, chúng ta không thể không trải qua bốn giai đoạn trước. Điều quan trọng ở đây là chúng ta không nên cho lạc thú của các giai đoạn đó chi phối bước tiến của mình, không nên dừng lại và chấp thủ tự mãn những gì mình đã đạt được.

    Lời dạy của đức Phật trong Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây thật là cao siêu. Những gì đức Phật dạy từ bỏ thì những thứ đó con người đang ngưỡng vọng và hướng đến. Thật vậy, chỉ cần thành tựu Giới đức thôi thì đã đạt đến Biệt giải thoát rồi, huống nữa là thành tựu Thiền định và thành tựu Tri kiến. Do đó con người đi đến đích ở đây thật là dài, và lạc thú ở trong đó cũng không phải là ít, không khéo thì chúng ta khó có thể đạt được mục đích mà đức Phật mong muốn. Lợi dưỡng, Tôn kính, Danh vọng, Giới đức, Thiền định, Tri kiến rất cần thiết cho những ai chưa đạt đến, nhưng lại là mối nguy hiểm cho những ai tự mãn, say mê, tham đắm và dừng lại ở đó.


    Giáo lý đức Phật muốn trình bày trong kinh này không phải là một pháp môn tu tập cụ thể, mà ở đây, Ngài mở ra cho chúng ta một Chánh Tri Kiến, một cách nhìn đúng đắn về lộ trình tu tập đưa đến giải thoát giác ngộ. Tuy được hướng dẫn cho người xuất gia tu phạm hạnh, bài kinh này vẫn có giá trị thiết thực cho bất cứ ai muốn tìm cầu hạnh phúc chân thật mà không sợ bị sai đường lạc lối, không sợ bị rơi vào tà kiến khổ đau. Giải thoát bất động là ngọn hải đăng soi sáng cho những con thuyền lênh đênh đi tìm bờ cập bến, đang đi tìm kiếm hạnh phúc chân thật. Có ngọn đèn, có con đường, đoàn lữ hành lướt sóng vượt qua mà không bị phong ba làm chướng ngại, không bị dòng tục lụy cuốn trôi.


    Hành giả tin chắc phía ngọn đèn là bờ, thấy được rằng vượt qua những hạnh phúc tầm thường không thật thì sẽ đạt đến hạnh phúc chân thật thanh cao; vượt qua được cành lá, vỏ cây, giác cây thì sẽ đạt đến lõi cây. Hãy tin rằng chỉ có lõi cây, chỉ có Giải thoát bất động mới là hạnh phúc vững bền và chắc thực, bởi "Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ tồn tại lâu dài" (Yo sàro so thassati ).

    (HT Minh Châu)


    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  13. #93

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi


    hihihihi
    Thấy lỏi cây là cây đã chết ... góp nhặt để ... xây nhà
    (nghề thợ mộc ,điêu khắc, trang trí nội ngoại thất ...)

    Lỏi hay lổi ???
    Đức Phật dạy cái chết ???

    chỉ vì Ích (lợi ) để được chăng ???
    ( rừng già không còn,bảo lụt khắp nơi )

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
    cát tường.

    Tôi thấy trong các chủ đề của huynh Bkav thường đăng những đoạn kinh hay những bài pháp được trích từ nguồn gốc có thẩm quyền, rất gần với lời dạy của Đức Thế Tôn và rất hữu ích cho người có thực tâm muốn học Phật. Nhưng không hiểu sao vẫn có nhưng kẻ ngô nghê buông những lời xàm xí như ông Mục đồng vậy? Nếu không phải ông là kẻ có vấn đề về trí tuệ hay tri kiến mà là bậc đại trí thì mong ông dùng những lời lẽ đơn giản thông thường để cho những kẻ có trí tuệ kém cỏi như chúng tôi có thể hiểu được ông muốn nói gì, muốn dạy gì. Hãy biết tự trọng!

  14. #94
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Tuanfodacon Xem Bài Gởi
    Tôi thấy trong các chủ đề của huynh Bkav thường đăng những đoạn kinh hay những bài pháp được trích từ nguồn gốc có thẩm quyền, rất gần với lời dạy của Đức Thế Tôn và rất hữu ích cho người có thực tâm muốn học Phật. Nhưng không hiểu sao vẫn có nhưng kẻ ngô nghê buông những lời xàm xí như ông Mục đồng vậy? Nếu không phải ông là kẻ có vấn đề về trí tuệ hay tri kiến mà là bậc đại trí thì mong ông dùng những lời lẽ đơn giản thông thường để cho những kẻ có trí tuệ kém cỏi như chúng tôi có thể hiểu được ông muốn nói gì, muốn dạy gì. Hãy biết tự trọng!
    - Ổng có đọc nổi được trọn vẹn một đoạn kinh nào mà chủ topic đăng đâu mà không "đi-xa-quá"!

  15. #95

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi smc Xem Bài Gởi
    - Ổng có đọc nổi được trọn vẹn một đoạn kinh nào mà chủ topic đăng đâu mà không "đi-xa-quá"!
    mình thấy không chỉ ở Topic này mà hầu hết các Topic khác cũng thế. Luôn là những lời nói lấp lửng ra vẻ cao siêu không đầu không cuối. Bậc đại trí hay kẻ ngớ ngẩn không biết nữa.

  16. #96

    Mặc định

    QUÁN THÂN BẤT TỊNH

    Gần đây, tôi thực tập pháp quán thân bất tịnh, dựa theo ý tưởng trong một bài pháp ngắn nhưng thực tế của ngài Ajahn Brahm nhiều năm trước. Mỗi buổi sáng, sau khi đi vào phòng vệ sinh giải quyết nhu cầu mỗi ngày, thay vì gấp rút dội rửa rồi đi ra, tôi dừng lại vài ba giây đồng hồ, nhìn xuống những gì mình mới vừa cho ra. Cảm thấy thế nào? Hôi thối? Ghê tởm? Tại sao? Nó là một phần trong thân thể mình cả ngày qua, tại sao mình không thấy gớm ghiếc?

    Cơ thể của bất cứ người nào cũng đều chứa những thứ tanh hôi như thế, cho dù là giai nhân tài tử, hay chính khách, thiền sư, đạo sư. Tại sao lại chạy theo những ảo tưởng hào nhoáng quyến rũ bên ngoài? Tại sao tìm cách che đậy qua những bộ y phục đắt tiền, những loại nước hoa, son phấn, qua những thủ thuật photoshop biến đổi màu sắc, hình dạng?

    Còn các loại thức ăn cao lương mỹ vị nữa. Nhìn ngắm đẹp mắt, hương vị hấp dẫn, kích thích, nhưng khi cho vào bụng rồi thì đều kết thúc như nhau, cũng là một đống bầy nhầy nhớp nhúa. Nghĩ như thế rồi thì không còn bị ám ảnh, chạy theo hình ảnh, mùi vị ảo tưởng nữa – hay ít ra, cũng giảm bớt phần nào sự ám ảnh, cám dỗ đó.

    *

    (Nguồn: Fb Binh Anson)
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

  17. #97
    Nhị Đẳng Avatar của smc
    Gia nhập
    May 2012
    Nơi cư ngụ
    Tân Phú - Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gởi
    2,229

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Tuanfodacon Xem Bài Gởi
    mình thấy không chỉ ở Topic này mà hầu hết các Topic khác cũng thế. Luôn là những lời nói lấp lửng ra vẻ cao siêu không đầu không cuối. Bậc đại trí hay kẻ ngớ ngẩn không biết nữa.
    - Không có bậc Đại-trí nào có cái sở hành như thế hết. Đó là cái quái thai mang âm hưởng Phật-giáo nhào nặn ra từ Lão-giáo Đông-thổ Đại-Đường Bắc-Kinh Tông.

    Thực ra các Tổ-sư Trung Quốc chẳng phải là xấu. Những vị có tác phẩm để đời đều là học rộng tài cao cả Nguyên Thủy và Phát Triển, giới hạnh trong sạch, thông bác kinh luận, lại thêm sở chứng ngộ, vì từ bi thương người học đỡ phải cực nhọc bôn ba trong biển pháp, chấp ngôn từ, tăng thêm tri thức, mà phải lập luận, ghi lại ngữ lục, cũng là bất đắc dĩ. Không ngờ thuốc hay xài mãi trở thành nhạt nhẽo. Người đời sau học lại chấp vào đó mà sanh tri giải, cho là đầy đủ. Trong khi giới hạnh chưa trong sạch, chánh kiến chưa đầy đủ, lòng cầu đạo chưa tha thiết chỉ luận trên lưỡi. Nên đâu nghe Phật nói trong đại luật "Trước không học tiểu-thừa mà học đại-thừa là người cuồng". Các Tổ TQ gần đây như ngài Hư Vân, Ấn Quang, Quảng Khâm, Tuyên Hóa đều dạy đệ tử rất kỹ ,thứ lớp rõ ràng, đâu có phang ngang hỗn ẩu như một số vị trên đây. Mình có đọc qua nên xin đính chính điều này.

    Tứ-Thánh-Đế quả thật các vị ấy giảng rất kỹ lưỡng. Chẳng qua là ngôn từ, câu văn có khác song ý nghĩa vẫn vậy. Tuy nhiên, hàng hậu học "sọt dưa", nghe đâu được vài ba bài pháp trên Du-Tu-Be "vô tình" phù hợp với tâm người nghe, nên cho đó là tất cả. Rồi càng ngày càng "đi xa quá", xây lầu mà không xây nền móng. Tu riết thành ra "người không ra người, ma không phải ma"... Còn người tu đúng hướng, thì ngày càng trở nên Phạm-hạnh, sở hành đứng đắn.

    Nói ra lời thật thì mất lòng, (như ông @congiolamientay cũng vậy), dường như sự học tập chữ nghĩa rất thấp (văn hóa) nên nhìn cách họ phân tích chữ nghĩa thấy nó không ăn nhập gì đến việc đang nói cả. Giống như cái ví dụ về "lõi cây" bên trên cũng thế, tự nhiên cái nói "Phật dạy cái chết"??? - một người bình thường cũng không thể nào tư duy ra được cái kiểu như vậy. => thì chỉ có 1 là họ không đọc (kinh) nên không hiểu người ta muốn nói gì; 2 là họ không biết mình đang nói cái gì.

    Vậy nên thôi, cứ lấy đức Phật và Tăng-đoàn làm kim chỉ nam. Những ai, những điều nào KHÔNG TƯƠNG ỨNG với kinh, KHÔNG PHÙ HỢP với luật thì không nên thọ trì, gần gũi, học tập, lóng nghe.

    Kính tưởng đức Thế-tôn Gotama.

  18. #98

    Mặc định



    các huynh tỉ cỏn trẻ nên thận trọng ,đừng để tính hồ đồ che lấp lý trí.
    bởi tính hồ đồ mà mất đi sự học hỏi từ các huynh trưởng rời bỏ diển đàn .

    cái chết ???
    1.Những cách gọi tên về "sự chết"
    Như là một đặc trưng của tiếng Việt, ngôn từ chuyên chở cả thái độ, tình cảm của người nói, nên để nói về cái chết,, Nhà nghiên cứu Bằng Giang đã khẳng định thống kê được hơn 1.001 cách diễn đạt về từ chết.[6] dưới đây chỉ liệt kê một số:

    Kính trọng: từ trần, tạ thế, khuất núi, quy tiên, yên nghỉ muôn đời, qua đời, mất, đi xa, ra đi, ra đi vĩnh viễn, ra đi mãi mãi, yên nghỉ, từ giã cõi đời, trút hơi thở cuối cùng, "thôi đã thôi rồi", thác, quyên sinh, băng hà (dùng cho vua chúa), hi sinh, ngã xuống, nằm xuống, nằm lại, tử trận, tuẫn tiết, vị quốc vong thân (vì nước mà chết), thịt nát xương tan, rơi đầu (trong chiến đấu), không còn nữa, về với tổ tiên, về cùng cha ông, về nơi an nghỉ cuối cùng, về nơi cửu huyền, về nơi chín suối, chết đứng (còn hơn sống quỳ), tôi ra đi lần cuối, làm ma nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc, viên tịch (đối với các nhà sư),...

    Kiêng kị: vĩnh biệt, trăm tuổi già, đi (ra đi), sang bên kia thế giới, tim của... đã ngừng đập, giấc ngủ vĩnh viễn, đi vào giấc ngủ ngàn thu, an giấc ngàn thu, trở thành người thiên cổ, ngày không còn..., đi vào dĩ vãng,...
    Tín ngưỡng, tôn giáo: viên tịch (Tăng sĩ Phật giáo), vãng sanh Cực Lạc, về An Dưỡng quốc (cõi Cực Lạc), cao đăng Phật quốc, vãng sanh Tịnh Độ, về gặp Phật được Phật Thọ ký (xoa đỉnh đầu), từ giã Ta-bà sinh lên Tịnh Độ, về với Chúa, về nhà Cha (về nước Chúa), Chúa gọi về, được Chúa truyền ra khỏi đời này về với Chúa, hẹn gặp lại trong Nước Trời, quy tiên, về trời, thăng thiên, hồn lìa khỏi xác, hóa kiếp, mãn phần, xuống suối vàng, trở về với cát bụi, chết không nhắm mắt, từ đất mà ra sẽ về với đất, về với đất mẹ,...

    Trung lập: chết, qua đời, tử vong, thiệt mạng, tử (Hán-Việt), tắt thở (chết lâm sàng), chết tốt, bị giết, bị diệt, bất đắc kỳ tử, đột tử, chết ngay, chết non, chết yểu, chết trẻ, chết già (theo độ tuổi), chết đuối, chết chìm, chết cháy, chết ngột, chết ngạt, chết đói, chết bệnh, chết bất đắc kỳ tử (theo nguyên nhân), chết chùm, chết oan, chết ngay tại chỗ...

    Thân phận: lìa đời, về với đất, chầu ông bà (vải), chầu trời, chầu tổ tiên, chầu Diêm vương (Diêm chúa), tuyệt mệnh (mạng), tới số, hết số, gan óc lầy đất, da ngựa bọc thây, đầu lìa khỏi cổ, nhắm mắt xuôi tay, xuống lỗ, xanh cỏ, đi gặp cụ Các Mác và cụ Lê-nin, (thà) làm ma nước Nam, (nguyện) làm ma họ (...), lên bàn thờ ăn xôi...

    Không tôn trọng: lụm, rồi đời, xong đời, ngoẻo, ngủm, ngủm củ tỏi, ngủm cù đèo, tiêu, tiêu đời, toi đời, tiêu tán đường, toi mạng, lên đường, ăn đất, đi đứt, đi toi, đứt bóng, vào hòm, vào xăng, vào 6 tấm váng, xuống mồ, đi đời, đi đời nhà ma, đi tong, rũ xương, đền tội, đền mạng (có ân oán), tan xương nát thịt, vong mạng, bỏ mạng, bỏ xác (trong chiến đấu), chết tươi, chết toi, chết bằm, chết trôi, lên bàn thờ, lên bàn thờ ngồi chơi, đi buôn muối, chết không toàn thây, chết không kịp ngáp (tình trạng chết), "đai" (tiếng lóng của từ die), ngồi lên bàn thờ ngắm gà khỏa thân, "RIP" (Rest In Peace) (không có sự tôn trọng khi dùng để đùa giỡn, nhưng ý nghĩa thực sự của R.I.P là sự tôn trọng đối với cái chết), đi Văn Điển, vô Bình Hưng Hòa, hít khói trên bàn thờ, đi bán muối, đi đắp chiếu, hẻo, hẹo...

    nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chết .

    2. Trong Kinh Tạng
    Trung Bộ Kinh
    9. Kinh Chánh tri kiến

    Như vầy tôi nghe.
    Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo: ......
    ...........
    (Già và chết)
    —Lành thay, Hiền giả … (như trên) … Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử … (như trên) … thành tựu diệu pháp này?

    —Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, … (như trên) … và thành tựu diệu pháp này.

    Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già. Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết. Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến … (như trên) … Chánh Ðịnh.

    Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết như vậy, tuệ tri tập khởi của già chết như vậy, tuệ tri đoạn diệt của già chết như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên … (như trên)…, và thành tựu diệu pháp này.

    ............
    nguồn : https://suttacentral.net/mn9/vi/minh...ighlight=false

    3. Được Tỳ Khưu Chánh Minh Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến :

    1. LUẬN GIẢI KINH CHÁNH TRI KIẾN – MỤC LỤC VÀ LỜI NÓI ĐẦU
    2. PHẦN I – DUYÊN KHỞI
    3. PHẦN I – DUYÊN KHỞI (TIẾP THEO)
    4. PHẦN II – MƯỜI SÁU TIÊU ĐỀ – TIÊU ĐỀ 1
    5. PHẦN II – MƯỜI SÁU TIÊU ĐỀ – TIÊU ĐỀ 1 (TIẾP THEO)
    6. TIÊU ĐỀ 2 – TRÍ BIẾT RÕ VỀ BỐN LOẠI VẬT THỰC
    7. TIÊU ĐỀ 3 – TRÍ HIỂU RÕ TỨ ĐẾ
    8. TIÊU ĐỀ 4 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ GIÀ – CHẾT
    9. TIÊU ĐỀ 5 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ SANH (JĀTI)
    10. TIÊU ĐỀ 6 – TRÍ BIẾT RÕ VỀ HỮU (BHAVA)
    11. TIÊU ĐỀ 7 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ THỦ (UPĀDĀNA)
    12. TIÊU ĐỀ 8 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ ÁI
    13. TIÊU ĐỀ 9 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ THỌ
    14. TIÊU ĐỀ 10 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ XÚC
    15. TIÊU ĐỀ 11 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ SÁU XỨ (SAḶĀYATANA)
    16. TIÊU ĐỀ 12 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ DANH SẮC (NĀMARŪPA)
    17. TIÊU ĐỀ 13 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ THỨC (VIÑÑĀṆA)
    18. TIÊU ĐỀ 14 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ HÀNH (SAṄKHĀRA)
    19. TIÊU ĐỀ 15 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ VÔ MINH (AVIJJĀ)
    20. TIÊU ĐỀ 16 – TRÍ HIỂU RÕ VỀ PHÁP NGÂM TẨM (ĀSAVA)

    ..........
    B – Chết.

    1- Ý nghĩa từ ngữ.

    – Chết (cuti).

    Bộ Phân tích (Vibhaṅga) trong tạng Thắng pháp có định nghĩa về “chết (cuti)” như sau:

    Tattha katamaṃ maranaṃ?

    Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maranaṃ kālakiriyā khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo. Idaṃ vuccati “maranaṃ”.

    Ở đây, chết là thế nào?

    “Đối với mỗi mỗi chúng sinh, từ thân hữu tình ấy có sự chuyển biến, đổi dời hư hoại, tiêu mất, chết, tán vong, quá vãng, tan rã ngũ uẩn, bỏ xác, dứt mạng quyền. Đây gọi là chết” [57].

    – Chuyển đổi (cavanatā).

    Một chúng sinh thay đổi từ thể trạng này sang thể trạng khác, xem như chúng sinh ấy đã chết, một chúng sinh khác sinh lên.

    Thật ra, hai chúng sinh ấy không phải một cũng không phải hai, nương sự chết của chúng sinh trước, chúng sinh sau hình thành.

    Đức Nāgasena (Na tiên) có giải đáp cho vua Milinda như sau:

    Ví như sữa tươi biến thành sữa chua, sữa chua biến thành sữa đặc. Tất cả gọi là sữa, nhưng sữa tươi không phải là sữa chua, sữa chua không phải là sữa đặc ([58].

    Chính ý nghĩa này được Đức Thế Tôn nói đến, khi Ngài dạy Trưởng lão Aṅgulimāla kệ ngôn như sau:

    “Yatohaṃ bhagini ariyāya jātiyā jāto nābhijānāmi sañcicca pānaṃ jīnitā vosopetā. Tena saccana sotthite hotu sotthi gabbhassa”.

    “Hỡi này hiền tỷ, từ khi ta sinh vào dòng thánh rồi, ta không hề cố ý sát hại sinh mạng ai nữa. Do nhờ chân ngôn này, mong hiền tỷ được an lành và thai nhi cũng được an lành”.[59]

    Rõ ràng tướng cướp Aṅgulimāla đã chết, vị Thánh Aṅgulimāla sinh ra.

    Mọi chúng sinh đều có sự chuyển đổi từ thể trạng này sang thể trạng khác, cho dù đó là sắc vi tế của những vị chư thiên hay Phạm thiên, sắc vi tế cũng sinh diệt, diệt sinh diễn ra liên tục.

    Công tử Soreyya từ thân nam tử chuyển thảnh nữ giới. Sau khi sám hối Ngài Mahā Kaccāyana, thì từ thân nữ giới chuyển thành nam [60].

    Đây cũng là hình thức sự chết theo ý nghĩa “chuyển đổi”.

    Sự chuyển đổi xảy ra rõ ràng nhất sau khi chết, người có thể chuyển thành thú, ngạ quỷ, chư thiên hay Phạm thiên hoặc thành người khác… Phạm thiên có thể chuyển thành người, chư thiên hay vị Phạm thiên Sắc giới khác.

    Chư Phạm thiên không hề rơi trực tiếp xuống 4 khổ cảnh, trái lại chư thiên Dục giới có thể rơi thẳng xuống địa ngục, như ác ma Dūsī, trong kinh Hàng ma ở Trung bộ Kinh I, bài kinh số 50.

    – Biến mất (antaradhānaṃ).

    Ám chỉ các uẩn biến mất ở cảnh giới hiện hữu, để rồi tái hiện khởi ở cảnh giới (bhava) mới.

    – Chết rồi chết (maccumaraṇa).

    Cả hai từ maccu và maraṇa đều có ý nghĩa là “chết”, nên maccumaraṇa có thể hiểu “chết dẫn theo chết”, nghĩa là: “chết, sinh lên rồi lại chết”.

    Bản Sớ giải có giải thích: “Đức Xálợiphất dùng từ maccumaraṇa, là ám chỉ chết còn tái sinh”, tức là Ngài không đề cập đến “cái chết dứt tuyệt (samucchedamaraṇa)” của bậc Alahán.

    – Thời các uẫn hoại diệt (kālakiriyā khandhānaṃ bhedo).

    Kālakiriyā là thời thực hiện, Ngài Xálợiphất dùng từ này ám chỉ cái chết nhân loại và súc sanh, vì còn để lại thi hài (sắc uẩn).

    Còn khandhānaṃ bhedo (các uẩn hoại diệt) ám chỉ cái chết của chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ (peta), Atula (asurā), Chư thiên, Phạm thiên hữu sắc, Phạm thiên Vô tưởng và Phạm thiên Vô sắc, vì không lưu lại sắc uẩn.

    Lại nữa, kālakiriyā ám chỉ cái chết theo nghĩa chế định, vì còn nhận ra sự chết đã hiện bày, còn khandhānaṃ bhedo là nói đến cái chết theo ý nghĩa chân đế.

    Theo chân đế, khi các uẩn đang diệt xem như đang chết, nhưng các uẩn đang diệt khó nhận biết, chỉ nhận biết khi các uẩn đã diệt, nên không thể định được thời tử.

    Có câu hỏi rằng: Vì sao người và súc sanh khi chết còn lưu lại sắc uẩn, các chúng sinh khác thì không?

    Đáp rằng: Vì rằng cõi nhân loại hay súc sinh có thân là sắc thô, những chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ, Atula (asura), Chư thiên, Phạm thiên hữu sắc có thân là sắc tế (sukhumarūpa), nên khi mệnh chung thì sắc uẩn không còn.

    Sắc thô là loại sắc có sức nóng của lửa kém hơn lửa sắc tế, nên không thể hủy sắc pháp nhanh chóng như lửa sắc tế.

    Trong Sớ giải Trường bộ, bài kinh Phạm võng có ghi: “Thiên nhân bỏ ăn một bữa sẽ chết, vì sức lửa đốt cháy thân xác”.

    Đoạn kinh văn trên, Đức XálợiPhất nêu lên tuần tự như sau: Chết (cuti), diễn tiến của chết (chuyển đổi, biến mất), chết còn tục sinh (maccumaraṇa), rồi Ngài nêu lên “chết theo chế định (kālakiriyā)”, chết theo thực tính pháp (khandhānaṃ bhedo).

    2- Phân tích.

    Sự chết có hai loại:

    a- Chết theo chế định (sammuttimaraṇā).

    Là chết theo thông thường như tắt thở, lìa trần, hay sự tiêu hoại vật chất thế gian.

    b- Chết theo chân đế (khaṇikamaraṇā – sátna tử).

    Là sự diệt của danh sắc trong từng sátna, ám chỉ sátna diệt của danh sắc.

    3- Bốn khía cạnh của chết là:

    – Trạng thái: Chuyển đổi (cutilakkhaṇa).

    – Phận sự: Ngăn cách, chia lìa những gì trong hiện tại (viyogarasa).

    – Thành tựu: Vắng mặt ở cảnh giới cũ (gativippavāsapaccupaṭṭhānaṃ).

    – Nhân cần thiết: Danh sắc đang biến hoại (paribhijjamānanānarūpa padaṭṭhānaṃ).

    Trong kinh văn, Đức XálợiPhất chỉ trạng thái chết, Ngài dùng từ “sự chuyển đổi” (cavanatā).

    Chỉ cho thành tựu của chết, Ngài dùng các từ: Rời ra (bhedo, xuất phát từ ngữ căn bhid là phá hủy)[61], hư hoại (antaradhānaṃ), “chết rồi chết” (maccumaraṇa).

    4- Thời tử.

    Về thời tử theo chế định có hai loại là: Chết phi thời (akāla maraṇa) và chết hợp thời (kālamaraṇa).

    a- Chết không hợp thời.

    Là chưa hết tuổi thọ, nhưng do một nguyên nhân phát sinh, khiến người này mệnh chung.

    Đức Nāgasena (Na Tiên) có nêu ra 7 nguyên nhân chết không hợp thời như sau:

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị đói mà chết.

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị khát mà chết.

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị rắn độc cắn mà chết.

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị thuốc độc mà chết (tự sát hay bị bức bách).

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị lửa đốt mà chết.

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị rớt xuống nước mà chết.

    – Người chưa hết tuổi thọ, nhưng bị khí giới đâm (chém) mà chết.[62]

    – Chết hợp thời.

    Là chết do bịnh, bịnh phát sinh do 8 nguyên nhân:

    – Do mật, do đàm, do gió, do thời tiết, do hoạt động không thích ứng (hành động không thích ứng là chướng ngại của những bịnh)[63], do vật thực, do nghiệp, do phi nhân nhập.

    Lại nữa, chết xuất hiện do một trong bốn nguyên nhân (hetu maraṇa).

    Chết do hết tuổi thọ (āyukkhayamaraṇa).
    Như những vị thiên nhân có tuổi thọ nhất định, khi hết tuổi thọ dù còn phước cũng phải mệnh chung.

    Chết do hết nghiệp (kammakkhayamaraṇa).
    Nghiệp ở đây chỉ cho nghiệp tục sinh, là loại nghiệp tạo ra tâm quả làm phận sự tục sinh khởi đầu kiếp sống mới, khi nghiệp này chấm dứt thì chúng sinh ấy mệnh chung.

    Chết do hết tuổi thọ đồng thời cũng hết nghiệp (ubhayamaraṇa).
    4- Chết do nguyên nhân bất kỳ khác. (upakkamaraṇa).

    Bốn nguyên nhân phát sinh sự chết được ví như sự tắt của cây đèn dầu, cây đèn dầu tắt là do:

    – Hết tim đèn (ví như hết tuổi thọ).

    – Hết dầu (ví như hết nghiệp).

    – Hết cả tim lẫn dầu.

    – Tắt do gió mạnh, do mưa hay do một nguyên nhân nào khác.

    Chết do hết tuổi thọ, do hết nghiệp được gọi là chết hợp thời, ngoài ra là chết không hợp thời.

    Chết không hợp thời là do nghiệp đoạn tận sinh khởi (upaghātakakamma), cắt đứt mạng sống.

    Ví như mũi tên được bắn ra, thông thường phải đi đến tận cùng của lực bắn, tuy nhiên có một lực mạnh hơn chận đứng sự lao vút của mũi tên và làm cho mũi tên rớt xuống.

    Lực bắn mũi tên ví như sức mạnh của nghiệp tái sinh, thời gian mũi tên lao đi ví như tuổi thọ chúng sinh, sức mạnh chận đứng mũi tên ví như lực của nghiệp đoạn tận, mũi tên rớt xuống ví như tuổi thọ chấm dứt (không hợp thời).

    Cái chết bất ngờ, là cái chết do bị bức bách, ví như trái cây chưa đến thời chín, nhưng vì một nguyên nhân nào đó khiến trái cây lìa cành. Cũng vậy, do bị bức bách nên “cái chết” phải hiện bày sớm hơn, các Ngài gọi là upakkamamaraṇa (chữ upakkama nghĩa là “tấn công, bức bách”).

    Chết do bức bách xuất hiện do nhiều nguyên nhân như:

    – Tự tử vì chán nãn cuộc sống, như các Tỳkhưu tự sát vì hiểu lầm lời dạy của Đức Thế Tôn[64] hay như Ngài Godhika không chịu đựng nỗi cơn bịnh.

    – Do kẻ khác gây ra.

    – Do tạo oan trái trong quá khứ, như trường hợp nữ Dạ xoa hóa thành con bò húc chết Ngài Bāhiya, Ngài Pukkusati…

    – Do một ác nghiệp trổ quả đoạn tuyệt mạng sống như trường hợp cận sự nam Mahā Kāla, trong quá khứ vu oan cho người khác trộm ngọc để chiếm đoạt vợ người ấy, kiếp này tuy sống đạo đức nhưng bị dân chúng ngờ oan là kẻ trộm và đánh chết.

    – Do tai nạn bất ngờ…

    Có hai loại chết nữa là:

    a- Chết không còn tái sinh (samucchedamaraṇa).

    Đây là sự viên tịch (parinibbāna) của vị Thánh Alahán.

    b- Chết còn tái sinh (jātikkhayamaraṇa).

    Là cái chết từ bậc Anahàm trở xuống.

    Ngoài ra, theo cái nhìn thực tính về sự chết, thì danh sắc sinh rồi diệt, diệt rồi sinh liên tục, các Ngài gọi là “chết không gián đoạn (santatimaraṇa)”.

    .......
    nguồn : https://theravada.vn/tieu-de-4-tri-hieu-ro-ve-gia-chet/

    4. Trong Luật Tạng ???

    mucdong chưa xuất gia nên không biết.

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
    cát tường .

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  19. #99

    Mặc định

    Hi hi chịu mở miệng rồi nha hi hi

  20. #100

    Mặc định

    Trung Bộ Kinh

    19. Kinh Song tầm

    Tôi nghe như vầy:

    Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”.:” Thưa vâng”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau


    —Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.


    Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại”, dục tầm được biến mất, Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm.


    Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên … (như trên) … hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri: “Hại tầm này khởi lên nơi Ta, và hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Hại tầm này đưa đến tự hại” … “Hại tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, hại tầm biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.


    Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân tầm … (như trên) … về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về hại tầm thời tâm vị ấy có khuynh hướng về hại tầm.


    Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp.


    Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri như vầy: “Ly dục tầm này khởi lên nơi Ta và ly dục tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.


    Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi vô sân tầm khởi lên … (như trên) … vô hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri như vậy: “Vô hại tầm này khởi lên nơi Ta và vô hại tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm … không phải từ nhân duyên ấy, mà Ta thấy sợ hãi. Và nếu Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động, khi tâm bị dao động, tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.


    Chư Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vấn đề gì thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về ly dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly dục tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vô sân tầm … (như trên) … nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về bất hại tầm, vị ấy từ bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về bất hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về bất hại tầm.


    Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả lúa gạo đã cất vào kho thóc, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể nghĩ đến có việc cần phải làm, và người ấy nghĩ: “Ðây là những con bò”. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc cần phải làm, và Ta nghĩ: “Ðây là những pháp”.


    Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm.


    Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.


    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.


    Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.


    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.


    Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.


    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.


    Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.


    Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.

    Chư Tỷ-kheo, giống như trong khu rừng rậm rạp có một hồ nước lớn thâm sâu, và một đoàn nai lớn sống gần một bên. Có một người đến, không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa đến hoan hỷ, người ấy sẽ chận đóng con đường này lại, sẽ mở con đường nguy hiểm, sẽ đặt con mồi đực, sẽ đặt con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy, sau một thời gian đoàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần. Chư Tỷ-kheo, có một người đến, muốn đoàn nai ấy được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con đường nguy hiểm lại, sẽ đem con mồi đực đi, sẽ hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy đoàn nai lớn ấy sau một thời gian sẽ được tăng trưởng, hưng thịnh, thành mãn.

    Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ ấy để giải thích ý nghĩa như sau: Chư Tỷ-kheo, hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục. Chư Tỷ-kheo, đoàn nai lớn chỉ cho các loài hữu tình. Chư Tỷ-kheo, con người không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho ác ma. Chư Tỷ-kheo, con đường nguy hiểm chỉ cho con đường tà đạo có tám ngành, tức là tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Chư Tỷ-kheo, con mồi đực chỉ cho hỷ và tham. Chư Tỷ-kheo, con mồi cái chỉ cho vô minh. Chư Tỷ-kheo, còn người muốn chúng được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ chỉ cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.


    Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta mở con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ, Ta đóng con đường nguy hiểm, Ta mang đi con mồi đực, Ta hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, những gì vị Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng họ, những điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Người. Chư Tỷ-kheo, đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta.

    Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
    —----------------

    Trong đoạn kinh trên, theo ý kiến cá nhân, Đức Phật trong quá trình tu Ngài có SUY TƯ = tư duy suy nghĩ, như vậy Đức Phật có tư duy suy nghĩ chứ không phải Đức Phật tu pháp môn VÔ NIỆM; và Ngài có phân chia hai loại niệm: Dục tầm, Sân tầm, Hại tầm, và Ly dục tầm, Vô sân tầm, Vô hại tầm, như vậy khi tu Đức Phật CÓ PHÂN BIỆT chứ không phải VÔ PHÂN BIỆT.

    Last edited by Bkav; 30-07-2022 at 09:20 AM.
    "Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh."

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •