Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 36

Ðề tài: Mật Tông Nội - Mật Tông Ngoại

  1. #1

    Mặc định Mật Tông Nội - Mật Tông Ngoại

    Các bạn thân mến !
    Đọc các bài viết của mọi người KhanhLe nhận thấy là dường như mọi người hơi phân biệt Mật tông VN với Mật tông các nước khác , cụ thể là hơi đề cao Mật Tông Tây Tạng và cho rằng chỉ có Tây Tạng mới đúng còn lại đều sai , có bạn còn quy kết vào tội trộm pháp nữa .

    Lật lại lịch sử chúng ta thấy rằng Phật Giáo du nhập vào Tây tạng từ thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên , tức là sau Phật giáo VN . Giáo lý của Phật giáo Tây tạng luôn tin vào sự tái sinh của các Chân sư vậy thì không lý do gì họ cứ phải tái sinh về lại Tây Tạng mà không tái sinh về các nước khác trong đó có VN . Các bạn có khi nào hỏi vì nhân duyên nào mà Tây tạng bị mất nước vào tay Trung quốc không , ấy là vì họ mang tội giấu pháp , họ được truyền thừa những pháp môn tối thượng và giữ rịt lấy , không chịu truyền ra ngoài . Càng về sau họ lại càng chế thêm nhiều pháp tướng , nhiều nghi thức làm cho Mật tông ngày càng rối rắm khó hiểu . Vì nhân duyên đó mà đất nước họ phải chịu biến cố lớn để các bậc Chân sư phải tứ tán khắp nơi trên thế giới , để pháp Phật được trao truyền khắp thế giới , để tồi phá tâm chấp pháp cho xứ Tây Tạng .

    VN chúng ta không thiếu Thầy giỏi , và có cả những vị Chân sư tái sinh về và đang thi hành sứ mạng truyền pháp tại VN , tin hay không tùy nhận thức của các bạn , nhưng KhanhLe chỉ muốn nói rằng các bạn hãy tự hào rằng chúng ta không hề thua kém bất cứ nơi nào trên thế giới này .
    Hãy tự tin chứ không kiêu ngạo , hãy khiêm tốn chứ đừng tự ti , chắc chắn Mật Tông VN sẽ phát triển rực rỡ trong thời gian sắp tới .

    KhanhLe .

  2. #2

    Mặc định

    Huynh KHANHLE VIẾT NHƯ VẬY CHẮC LÀ CÓ BIẾT NHIỀU ĐIỀU SÂU XA - XIN HUYNH NÓI RÕ HƠN CHO ANH EM NHỜ. THANKS

  3. #3

    Mặc định

    oh yeah . nói hay lắm . huynh KHANHLE nói típ đi
    http://vn.360plus.yahoo.com/nicholas_chan17/

  4. #4

    Mặc định

    Các bạn có khi nào hỏi vì nhân duyên nào mà Tây tạng bị mất nước vào tay Trung quốc không , ấy là vì họ mang tội giấu pháp , họ được truyền thừa những pháp môn tối thượng và giữ rịt lấy , không chịu truyền ra ngoài .
    Đây là lời mê lầm do không hiểu biết đúng về Mật Tông Tây Tạng.

    Giáo Pháp Mật Tông vi diệu thâm mật không thể tự tiện truyền thừa cho nên không thể nói rằng các vị Đạo Sư Tây Tạng giấu pháp.

    Trong Kinh Phật dạy gặp người có căn tánh Thanh Văn chỉ muốn cầu Pháp Thanh Văn Thừa mà đem Pháp Duyên Giác Thừa dạy là có lỗi, gặp người có căn tánh Duyên Giác chỉ muốn cầu Pháp Duyên Giác Thừa mà đem Pháp Bồ Tát dạy là có lỗi.

    Chư Đạo Sư Tây Tạng đều là Hóa Thân của Chư Phật cho nên các Ngài tuỳ nhân duyên của chúng sanh mà giáo hóa

    Người mù không thấy mặt trời chẳng có thể trách mặt trời không sáng.

    Người không có duyên thọ học Mật Pháp Tối Thượng là do nghiệp của mình chứ không thể trách các Bậc Đạo Sư.

    Nếu nói các vị Đạo Sư Tây Tạng giấu pháp thì đó là phỉ báng Đức Phật Tỳ Lô Giá Na và Chư Phật rồi vì chính trong các Kinh Điển Mật Tông Đức Phật Tỳ Lô Gia Na dạy không thể truyền Mật Pháp cho người không tín tâm và không có Tâm Bồ Đề.

    Pháp Mật Tông Tối Thượng chỉ là có thể do các vị Đạo Sư Thật Chứng đến cảnh giới mới có thể truyền dạy cũng như là người nhận phải có Tâm Bồ Đề Kiên Cố và Tín Tâm và Tâm Thấy Đạo Sư Là Phật.

    Phật Tử tu Theo Mật Tông mà không có Tâm Thấy Đạo Sư Là Phật thì làm sao mà có thể nhận giữ Mật Pháp Tối Thượng.

    Càng về sau họ lại càng chế thêm nhiều pháp tướng , nhiều nghi thức làm cho Mật tông ngày càng rối rắm khó hiểu .
    Bạn KHANHLE hiểu biết Mật Tông Tây Tạng được bao nhiêu đọc biết được bao nhiêu Kinh Điển Mật Tông mà lại dám Đại Vọng Ngữ hủy báng Tam Bảo.

    Bạn KHANHLE đã thông suốt hết tất cả Pháp Tướng của Mật Tông như là mạn đà la, đàn pháp, chú ấn, nghi quỹ, thuốc v.v... hay sao mà biết rằng các Đạo Sư Tây Tạng chế ra các Pháp Tướng?

    Các Pháp tướng trong Mật Tông đều là từ Chư Phật truyền dạy chứ không có ai có thể tự mình đặt ra cả.

    Điều mình chưa hiểu biết mà lại tự ỷ thông minh hủy báng mà mắc tội Đại Vọng Ngữ hủy báng Tam Bảo.

    Về việc Tây Tạng mất nước đó là cộng nghiệp của dân Tây Tạng vốn chẳng phải do lỗi của các vị Đạo Sư.

    Dòng họ Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly giết thì chẳng lẽ là do lỗi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay sao?

    Các vị Đạo Sư Tây Tạng đều là Hóa Thân của Chư Phật thị hiện trong thể gian mà truyền dạy Mật Pháp.

    Nói các vị Đạo Sư Tây Tạng có lỗi tức là nói 10 phương 3 đời Chư Phật có lỗi.

    Ấn Độ là nơi Đức Phật đản sanh và có bao nhiêu các Bậc Đại Bồ Tát, A La Hán thị hiện mà Phật Giáo lại không hưng thịnh.

    Như vậy chẳng lẽ là lỗi của Chư Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền hay sao?
    Last edited by kimcang; 23-03-2008 at 11:02 AM.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  5. #5

    Mặc định

    DÒNG ĐẠT-LAI LẠT-MA

    Vị Đạt-lai thứ năm chính là người cho xây dựng điện Potala, công trình này kéo dài từ 1644 đến 1692. Trong cuối đời, Đạt-lai thứ năm dành hết thì giờ cho việc hành trì thiền định và để hết quyền bính cho người phụ chính. Đạt-lai thứ năm mất đi khi công trình xây dựng Potala còn dang dở và bên giường bệnh, vị phụ chính nhận lệnh của ông sẽ không thông báo việc ông mất cho đến khi Potala hoàn thành. Vị phụ chính giữ lời, cho người giả dạng Đạt-lai thứ năm trong các cuộc tiếp kiến, mãi 13 năm sau mới công bố cái chết, đồng thời giới thiệu luôn vị thứ sáu.

    Những điều bí mật này chỉ làm cho phái Cách-lỗ mất uy tín và sau đó vị Đạt-lai thứ sáu cũng không thọ được lâu, ông bị mưu sát năm 23 tuổi. Trước đó thì tại Trung Quốc, bộ tộc Mãn Châu diệt nhà Minh, giành thắng lợi và lập nên nhà Thanh. Tuy nhà Thanh trọng đãi Tây Tạng nhưng có lẽ cũng chính vì quyền lợi thế tục đó mà các vị Đạt-lai gặp vô số âm mưu sau những vách tường đồ sộ của Potala. Lịch sử Tây Tạng cũng rối ren và đẫm máu như các triều đình khác ở châu Á. Ta cần biết rằng phái Cách-lỗ mũ vàng cũng tiến hành các cuộc truy bức chống lại phái Hồng mạo mũ đỏ và dòng Kamarpa trong nội bộ Tây Tạng, chống lại chính những người con Phật. Các phe phái của Tây Tạng cũng dựa vào lực lượng nước ngoài như Mông Cổ và Trung Quốc để làm cảnh nồi da xáo thịt. Đọc lại tiểu sử các vị Đạt-lai, ta thấy đó là một chuỗi lịch sử đầy bí ẩn với âm mưu tranh giành quyền lực của những người phụ chính, trong và ngoài nước. Vị Đạt-lai thứ sáu chết lúc 23 tuổi. Vị thứ bảy bị lưu đày. Vị thứ tám không có thực quyền. Vị thứ chín chết năm lên chín, còn là một đứa trẻ. Vị thứ 10 chết năm 21 tuổi. Vị thứ 11 chết năm 17 tuổi. Vị thứ 12 chết năm 19 tuổi. Người ta ngờ rằng, từ vị thứ chín đến đến vị Đạt-lai thứ 12, ai cũng bị chết vì mưu sát cả . Vị thứ 13 ra đời năm 1876, là người xuất sắc nhất chỉ đứng sau vị thứ năm, lập lại kỷ cương của Lhasa. Trong thời kỳ của ông, các nước châu Âu như Anh, Nga bắt đầu dòm ngó Tây Tạng, đồng thời Trung Quốc biến động dữ dội. Sau khi nhà Thanh mất năm 1911, quân đội Trung Quốc rút khỏi Tây Tạng. Đạt-lai thứ 13 từ Ấn Độ trở về năm 1913, tuyên bố Tây Tạng độc lập. Trong năm đó có một hội nghị tại Simla Ấn Độ thảo luận và chấp nhận chủ quyền Tây Tạng, nhưng Trung Quốc không thừa nhận. Năm 1933 vị Đạt-lai thứ 13 mất, bảy năm sau vị thứ 14 lên ngôi, đó là vị Đạt-lai còn sống đến ngày nay.

    Năm 1949 nước Cộng Hòa nhân dân Trung Quốc được thành lập, năm sau họ đem quân chiếm đóng Tây Tạng. Năm 1959, vị Đạt-lai thứ 14 bí mật di tản qua Ấn Độ và ngày hôm nay Tây Tạng là một phần đất của Trung Quốc, được gọi văn vẻ là "khu tự trị"

    Như thế là dòng Đạt-lai lạt-ma, thuộc phái Cách-lỗ, là người lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng hơn 400 năm qua, kéo dài được 14 đời. Trong thời gian đó, kể từ thế kỷ thứ 17 đến nay, điện Potala là kiến trúc thiêng liêng nhất Tây Tạng, nơi đặt bảo tháp chứa di cốt của các vị Đạt-lai và cũng là dinh thự lãnh đạo chính trị.


    ĐIỆN POTALA


    Thật ra Potala đã được xây dựng từ thời Tùng-tán Cương-bố, vị Đạt-lai thứ năm chỉ là người xây dựng lên qui mô ngày nay. Vị vua Tùng-tán Cương bố được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm, ông đã chọn miếng đất thiêng liêng này, nó được xem là hiện thân của trời Đâu-suất trên trái đất. Vì thế mà nếu Phổ Đà là trú xứ của Quán Thế Âm ngoài đông hải thì Potala là cung điện của Ngài trên nóc nhà của thế giới.
    ………

    Điện Potala là ngôi đền lớn nhất Tây Tạng. Tuy vượt xa các tòa kiến trúc khác nhưng nó dựa lưng một ngọn núi mang tên là Marpori (hồng sơn) nên tuy ngôi điện hết sức uy nghi nhưng nó hài hòa với khung cảnh xung quanh. Trước ngôi điện là một quãng trường rất lớn để từ rất xa người ta có thể nhìn ngắm, cảnh quan thật là xứng đáng với tầm cỡ của điện. Ngôi điện có bề ngang khoảng 360m, được lợp bằng mái mạ vàng, với 13 tầng cao khoảng 120m so với mặt đường. Tổng diện tích của điện lên tới khoảng 360.000 mét vuông. Ngôi điện màu đỏ mà người Trung Quốc gọi là "hồng cung" nằm trên cao, ngôi màu trắng màu trắng ở dưới. Ngôi màu đỏ là khu vực trung tâm của Potala, là nơi thờ tự thiêng liêng nhất của điện.

    Trong Potala các kinh điển quí báu đó đều được bọc bằng lụa đỏ hay vàng, chứa trong các khung gỗ đặt cao, du khách không rờ tới được. Hệ thống kinh điển của Tây Tạng thật đáng ngạc nhiên cho một nước có khoảng 5-6 triệu dân, đó là một tập hợp đồ sộ của nhiều tạng kinh mà chữ Hán cũng chưa chắc có. Vài ngày sau, trong một tu viện khác tôi có dịp thấy hai người đang in kinh, cách làm thủ công. Một trong hai người đó là một cậu bé khoảng 12 tuổi, khuôn mặt sáng rực, tay in kinh, miệng đọc thần chú. Cậu là tái sinh của ai ?


    Potala phải là một pháo đài kiên cố, đường đi quanh co không ai nhớ nổi. Tôi bỗng đứng trước các tượng của 13 vị Đạt-lai lạt-ma. Trong 13 vị đó, như ta đã biết, vị thứ năm là vĩ đại nhất, "le cinquième", có một người Pháp cất tiếng nói. Tượng của ông cũng to lớn hơn các tượng khác, công của ông rực rỡ hơn công các vị khác.

    Trong ánh sáng của đèn mỡ trâu chúng tôi đứng trước tám ngôi tháp đựng di cốt của các vị Đạt-lai. Tháp được mạ vàng và mang nhiều ngọc quí. Tháp của vị thứ năm cao khoảng 15m và được bọc bởi 3700kg vàng. Vàng bạc châu báu quả là không thiếu tại Potala, đó là một kho tàng của nghệ thuật tôn giáo và là nơi cất chứa không biết bao nhiêu tượng vàng. Đến trước một tượng của Di-lặc với cặp mắt xanh biếc, tôi nhớ lại Ung Hoà Cung tại Bắc Kinh và những gì Ngài nói về tự tính của "các pháp". Ôi, tất cả "đều không có gì thành tựu cả", đó là cách nói về Tính Không của Ngài, nhưng đó là nhận thức của Ngài, còn nhận thức của người thường là khác. Một nơi tập hợp châu báu và quyền lực như Potala phải đánh thức lòng tham của nhiều người, xưa cũng như nay. Và lòng tham phải gây đổ máu, tôi tự nhủ khi nhớ tới lịch sử của Potala vài trăm năm trước và mấy chục năm gần đây. Những chuyện đó vẫn đè nặng nơi tôi, lẽ ra tôi không nên có khi đi vào chốn ẩn mật này.
    Hỡi Liên Hoa Sinh, ngày xưa Ngài đã hàng phục âm binh sao ngày nay không ra tay với các loại ma quái tân thời. Tôi hỏi thế khi đứng trước tượng Liên Hoa Sinh, bức tượng mà ai cũng nhận ra với cặp mắt trợn tròn, môi có râu. Người Tây Tạng ai cũng tin Ngài chưa hề đi xa, vẫn còn đó để ra tay khi đúng thời đúng lúc. Đạt-lai thứ 14 cho rằng trong đời này của ông, ông sẽ còn về lại đất Tây Tạng. Năm nay ông cũng đã 65 tuổi, liệu ông có lý ? (ghi chú: Đạt-lai thứ 14 sinh năm 1935, tính đến năm nay 2008 ông đã 73 tuổi, bài này tác giả viết năm 2000)
    .....................

    Tôi nhớ đến ông, nhớ lúc gặp ông tại Bonn. Tôi có cảm tưởng rằng ông thấu hiểu tất cả tệ hại của một hệ thống tăng lữ dính líu tới quyền lực của dòng Đạt-lai của mình, ông đã thấy nghiệp lực nặng nề của tổ tiên mình để lại. Song song ông cũng nhìn thấy hết tham vọng của chính quyền Trung Quốc đối với Tây Tạng, thể hiện trong những thế kỷ qua cũng như trong thời đại này. Ông biết rằng tình hình đen tối của ngày hôm nay tại Tây Tạng là kết quả của một chuỗi lịch sử mà những người lãnh đạo ham quyền lực của Trung Quốc lẫn Tây Tạng đã gây ra. Có nhiều lần ông nói, "tôi chỉ là một tu sĩ Phật Giáo thông thường". Qua câu nói đó tôi cảm nhận rằng đó không phải chỉ là sự khiêm cung cần có của một tăng sĩ mà sự đoạn tuyệt với quá khứ của chế độ tăng lữ sa lầy trong quyền lực thế gian.

    http://www.thuvienhoasen.org/muihuongtram-04-2.htm
    Nguyễn Tường Bách
    (Ký Sự Du Hành Tại Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng)

    ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI ĐÃ NÓI: '' TIN TA MÀ KHÔNG HIỂU TA LÀ PHỈ BÁNG TA ''
    Last edited by NHDV; 22-03-2008 at 11:58 PM.

  6. #6
    Đai Đen Avatar của laduykhanh
    Gia nhập
    Feb 2008
    Nơi cư ngụ
    Tu viện Drikung Kagyupa
    Bài gởi
    540

    Mặc định

    Nguyễn Tường Bách < có phải chân sư chăng hay ông chỉ nhìn mọi việc với sự bàng quan của người đời . Nhìn vỏ mà không thấy cốt ???
    Bạn trích dẫn ra đây cũng chỉ là Ký sự Hành Hương ....
    \

    ấy là vì họ mang tội giấu pháp , họ được truyền thừa những pháp môn tối thượng và giữ rịt lấy , không chịu truyền ra ngoài .
    Ôi! Pháp môn tối thượng mà gặp ai cũng truyền bậy bạ . Thử hỏi có gì mà quý, có gì mà tối thượng ?
    Chư Vị kim cang pháp sư không truyền là tại vì chúng sanh khác chưa đủ căn cơ . CÓ biết bao người đã có quán đảnh Tối Thương Du dà . Nếu nói rằng các vị giữ rịt thì hàm oan cho các ngài quá .Chẳng qua chúng sanh chưa đủ duyên thôi .
    Last edited by laduykhanh; 23-03-2008 at 02:16 AM.
    Lama Drikung Konchog Tinley
    :yb663:Namo Gurube:yb663:

    Thiền quán mà chẳng học Pháp thì như leo núi mà chẳng có chân.
    Học Pháp mà chẳng thực hành thì là bơ bị chua đáng bỏ.

    Y!: laduykhanh

  7. #7

    Mặc định


    NHDV tôi chỉ post ra đây thôi chứ không bàn đúng sai. Đạo Phật là đạo NHƯ THỊ, NHƯ THẬT. Nếu SAI SỰ THẬT thì không còn là đạo Phật nữa mà gọi là đạo Phật giả danh mà thôi. Chân lý luôn là ở đây và bây giờ, hoặc là không bao giờ. Với tôi, không có cái chân lý của ngày mai. Chúng ta mong chờ có ngày mai vì không nhận ra chân lý ở đây và bây giờ, nó luôn luôn hiện hữu, cái ngày mai ấy không bao giờ tới vì mãi mãi là ngày hôm nay. Hôm nay, ở đây và bây giờ nhận ra là thấy luôn, không có ngày mai nào cả, đấy gọi là NHƯ THỊ, là PHẬT ĐẠO vậy.

    Với tôi không lấy cái mê này đổi lấy cái mê khác. Thấy như thế nào thì post như thế. Nguyễn Tường Bách là tiến sĩ Vật lý ở Đức hơn 40 năm, tác giả trong nhóm soạn từ điển Phật Học và hiện có một số Viện Phật Giáo tại VN mời giảng dạy về Phật giáo.

    Mời các bạn đọc thêm bài mới của Nguyễn Tường Bách: ''Thế giới ta đang sống chính là pháp giới ''
    http://www.phattuvietnam.net/index.p...ticle&sid=3102


    Không ai có thể bắt ai tin hay không tin cái gì cả. Đó là SỰ THẬT. Vì thế Đức Phật đã nói:
    ''Nếu ai yêu tự ngã
    Hãy yêu tự ngã người''

    Các bạn hãy theo đuổi và nuôi dưỡng lòng tin ở trong các bạn. Đức Phật cũng nói: '' Tín là cha mẹ của công đức ''. Tôi rất trân trọng niềm tin đó. Còn việc cá nhân tôi hiểu rồi mới tin lại là vấn đề của tôi, nghiệp lực của tôi, hạnh nguyện của tôi.
    Last edited by NHDV; 23-03-2008 at 02:55 AM.

  8. #8
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    " Mật Tông Việt Nam là Mật Tông được truyền thừa từ Trung Hoa."
    Cái này còn phải bàn lại .
    " Sau khi đức Thế Tôn thành đạo dưới gốc cây Bồ-đề vào năm 533 tdl, tư trào tư tưởng Phật giáo hình thành và phát triển từ Ấn Độ lan dần ra các nước xung quanh và cả thế giới. Trong quá trình phát triển và lan dần này, Phật giáo đã đến nước ta, và tạo nên Phật giáo Việt Nam. Thế thì, Phật giáo đã truyền vào nước ta từ lúc nào?

    Đây là một câu hỏi, không phải đợi đến thời chúng ta mới đặt ra, mà đã xuất hiện từ hàng ngàn năm trước. Tối thiểu vào năm 1096, Hoàng thái hậu Ỷ Lan đã nêu lên và được Thông Biện Quốc sư trả lời như sau, dẫn lời của Đàm Thiên, trong Thiền uyển tập anh tờ 20b7-21a7:

    [Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu ni danh, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó. Nay lại có Pháp Hiển thượng sĩ, đắc pháp với Tì-ni-đa-lưu-chi, truyền tông phái của tam tố, là người trong làng Bồ-Tát, đang ở chùa Chúng Thiện dạy dỗ học trò. Trong lớp học đó không dưới 300 người, cùng với Trung Quốc không khác. Bệ hạ là cha lành của thiên hạ, muốn bố thí một cách bình đẳng, thì chỉ riêng khiến sứ đưa Xá lợi đến, vì nơi ấy đã có người, không cần đến dạy dỗ.

    Lại bài tựa truyện pháp của tướng quốc Quyền Đức Dư_1 đời Đường, nói: "Sau khi Tào Khê_2 mất đi, thiền sư_3 dùng tâm ấn của Mã Tổ hành hóa ở Ngô, Việt, Vô Ngôn Thông đại sĩ, đem tôn chỉ của Bách Trượng khai ngộ tại Giao Châu". Đó là những chứng cứ vậy
    ].

    Cứ câu trả lời này, thì trước khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, Việt Nam đã có một nền Phật giáo tương đối hoàn chỉnh, tức bao gồm chùa chiền, một đoàn thể Tăng sĩ và kinh sách đầy đủ. Theo Thông Biện, thì ở nước ta lúc bấy giờ "có chùa hơn 20 ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển". Điều đáng tiếc là Thông Biện không cho ta nền Phật giáo hoàn chỉnh này, với số chùa chiền kinh sách và Tăng sĩ như vậy, xuất hiện vào lúc nào. Ông chỉ bằng lòng lập lại lời của Đàm Thiên_1, bảo rằng đó là vào lúc "Giang Đông chưa có" Phật giáo. Giang Đông chưa có Phật giáo, thì ngay bản tiểu sử của Khương Tăng Hội (?-280) trong sách Xuất Tam Tạng Ký Tập tập 13, Đại Tạng Kinh 2145, tờ 96a-97a17 và trong Cao Tăng Truyện quyển I, Đại Tạng Kinh 2059 tờ 325a13-326b13, cũng bảo "bấy giờ Tôn Quyền" xưng đế Giang Tả (năm 222) sdl) mà Phật Giáo chưa lưu hành". Thế cũng có nghĩa ngay vào những năm 220sdl, Phật giáo chưa có mặt ở Giang Đông. Vậy phải chăng nền Phật giáo hoàn chỉnh vừa chỉ tồn tại vào thế kỷ thứ II-thứ III sdl? " ( LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM - Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế - Tiến sĩ Lê Mạnh Thát )

    Phật giáo ở Việt nam được truyền từ Ấn độ trước Trung Quốc khá xa . Hiện này , một số chùa trong hệ thống Tứ Pháp của miền Bắc , còn có những cột kinh ( Chuyển Pháp luân ) , ghi những câu chú Mật Tông .
    Có một dòng Cổ Mật vẫn đang âm thầm chảy trong các miền quê miền Bắc . Nếu có thời gian , dienbatn sẽ viết về vấn đề này rõ hơn . Thân ái .
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  9. #9

    Mặc định

    Kính các sư huynh gần xa ! các Sư huynh không cần phải tranh luận gay gắt đến thế . Đệ có ý kiến nhỏ nhoi này nhé ! Các sư huynh khi tu luyện pháp phật, trước tiên phải trì chú bài thỉnh tổ được truyền trong giáo phái Mật tông. vậy trong bài thỉnh tổ chúng ta thỉnh những vị tổ nào từ đó chúng ta suy luận nguồn gốc của các vị tổ đó, khi đó chúng ta sẽ nắm được nguồn gốc thật sự của mật tông !
    Vài dòng kính cùng các sư huynh ! nếu có gì sai sót đệ xin các sư huynh bỏ qua cho !

  10. #10

    Mặc định

    Mật Tông Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Nepal, Mông Cổ đều có Tổ Khai sáng và có sự truyền thừa liên tục không gián đoạn cho đến ngày nay.

    KC xin hỏi những bạn Tu theo Mật Tông Việt Nam thì có ai có thể nêu tên các vị Tổ Mật Tông Việt Nam cũng như là Chư Tổ truyền thừa hay chăng?
    Last edited by kimcang; 23-03-2008 at 11:03 AM.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  11. #11
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của dienbatn
    Gia nhập
    Oct 2007
    Bài gởi
    1,043

    Mặc định

    " Mật Tông Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Nepal, Mông Cổ đều có Tổ Khai sáng và có sự truyền thừa liên tục không gián đoạn cho đến ngày nay.

    KC xin hỏi những bạn Tu theo Mật Tông Việt Nam thì có ai có thể nêu tên các vị Tổ Mật Tông Việt Nam cũng như là Chư Tổ truyền thừa hay chăng? "

    Thế bạn tưởng rằng Việt Nam không có " các vị Tổ Mật Tông Việt Nam cũng như là Chư Tổ truyền thừa " hay sao . Xin bạn đọc kỹ những đoạn dưới đây và nhớ rằng Mật tông là một Pháp tu nằm trong Phật Giáo .
    " Về nhà sư Phật Quang

    Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam Trích Quái kể lại việc Chữ Đồng Tử học được đạo Phật như sau:

    "Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán kính thờ Tiên Dung (và) Đồng Tử làm chúa. Có một khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: "Quí nhân hãy bỏ ra một dật vàng năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí, đến sang năm được lãi mười dật". Tiên Dung vui mừng bảo Đồng Tử: "Vợ chồng ta là bởi Trời mà nên. Nhưng cái ăn cái mặc là do người làm lấy. Nay nên đem một dật vàng cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quí để sinh sống". Đồng Tử bèn cùng thương nhân đi buôn án lênh đênh ra khắp nước ngoài. Có núi Quỳnh Viên trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Đồng Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang truyền pháp cho Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe pháp, đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng. Đến lúc thương nhân trở về lại tới am đó chở Đồng Tử trở về nhà. Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: "Các việc linh thông đều ở đó rồi!. Đồng Tử trở về, đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn để cùng Đồng Tử du phương tìm thấy học đạo".
    Việc Chữ Đồng Tử và Tiên Dung, những người Việt Nam đầu tiên mà ta biết tên tiếp thu đạo Phật là như thế. Có hai đặc điểm mà ta cần lưu ý. Thứ nhất, việc tiếp thu này đã xảy ra tại núi Quỳnh Viên. Núi Quỳnh Viên từ thời Lê Thánh Tôn ta đã biết là nằm tại cửa Nam Giới, hay cửa Sót. Ngày nay, tại bờ nam của cửa Sót, còn có một hòn núi gọi là Nam Giới sơn. Phải chăng đây là địa điểm cần tìm hiểu khảo cổ học để khai quật xem có vết tích gì của Chữ Đồng Tử và Phật Quang chăng? Trước mắt, ít nhất ta đã xác định được là Quỳnh Viên không phải là một ngọn núi thần thoại, mà thật sự là một hòn núi có tên tuổi tại cửa Sót. Do những dấu vết của Chiêm Thành còn tồn tại đến ngày nay, ta cũng hiểu thêm từ cửa Sót về nam là miền đất thuộc vương quốc Chiêm Thành. Như thế, đất nước Việt Nam thời Hùng Vương phải chăng đã lấy cửa Sót làm một địa điểm ở miền nam của tổ quốc ta?

    Cần lưu ý, từ vùng cửa Sót, trở ra miền Bắc, ta không tìm thấy có bất cứ di chỉ nào liên hệ với nền văn hóa của Chiêm Thành. Ngược lại, từ cửa Sót trở về nam, cụ thể là các vùng phía nam tỉnh Nghệ An, tức từ Vinh trở về Nam và các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Tĩnh, Quảng Trị và Thừa Thiên, cho đến ngày nay, vẫn còn những vết tích của nền văn hóa Chiêm Thành. Nói thế, tức là muốn nói Phật giáo truyền vào nước ta căn cứ vào Lĩnh Nam Trích Quái là từ phía Nam, qua trung gian nhà sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên, tại Nam Giới hay cửa Sót, giáp giới với Chiêm Thành. Nhà sư này chắc hẳn không phải là ngưòi Việt, vì rằng truyện Chữ Đồng Tử nói: "Đồng Tử linh đinh ra khắp nước ngoài (phù du xuất hải ngoại)". Vùng núi Quỳnh Viên này có khả năng vào thời Chữ Đồng Tử chưa thuộc vào bản đồ của nước ta. Nhà sư Phật Quang này có thể là một người Chiêm Thành, hoặc là người Ấn Độ, đang tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Và Chữ Đồng Tử là ngưòi Việt Nam đầu tiên đã đến tiếp xúc với ông, để rồi sau đó, trở thành người Phật Sư Việt Nam đầu tiên có tên tuổi. Truyện Chữ Đồng Tử này sau đó được Thiên Nam Vân Lục của một tác giả vô danh chép lại.

    Thế thì Chữ Đồng Tử đã tiếp thu đạo Phật như thế nào? Đây là đặc điểm thứ hai mà ta cần lưu ý. Truyện Chữ Đồng Tử chỉ nói khi Đồng Tử trở về quê "Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: mọi việc linh thông đều đã ở đấy cả". Nói vậy, Lĩnh Nam Trích Quái báo cho ta biết là truyền thống Phật Giáo mà Chữ Đồng Tử tiếp thu là một truyền thống Phật giáo quyền năng, đề cập đến những vấn đề linh dị và thần thông (linh thông). Truyền thống Phật giáo này, như ta sẽ thấy, xuất hiện trong Mâu Tử cũng như trong Khương Tăng Hội, và tồn tại cho đến thời một truyền thống Phật giáo mới ra đời, đó là truyền thống Phật giáo Thiền của Pháp Vân. Cần nhấn mạnh truyền thống Phật giáo quyền năng này cho đến thế kỷ thứ VI được bổ sung bởi truyền hưởng cơ bản của nó. Nó vẫn tồn tại như một lớp truyền thống Phật giáo mới, bổ sung cho nó qua lịch sử phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Nhận thức điều này, ta sẽ dễ dàng hiểu được những hiện tượng đặc thù của những truyền thống khác nhau của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử. Ta sẽ đi sâu vào vấn đề này dưới đây.

    Chữ Đồng Tử, người Phật tử Việt Nam đầu tiên

    Trước mắt, nếu Chữ Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên, thì vấn đề người Phật tử đầu tiên này đã sống vào lúc nào? Truyện Nhất Dạ Trạch chỉ viết một câu hết sức mơ hồ, là: "Vua Hùng truyền đến cháu đời thứ 3" (Hùng Vương truyền chí tam thế tôn). Ta biết lịch sử nước ta, tên hiệu Hùng Vương được dùng để gọi cho nhiều đời vua thời cổ đại. Đại Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ I, tờ 2b9-5b, ghi nhận Hùng Vương là triều đại đầu tiên của họ Hồng Bàng, và bảo: "Họ Hồng Bàng từ Kinh Dương Vương năm Nhâm Tuất thụ phong cùng với Đế Nghi cùng thời, truyền đến đời Hùng Vương cuối cùng gặp năm 257 tdl của Noãn Vương nhà Chu, là năm Quí Mão thì chấm dứt, gồm 2622 năm". Nhưng trong phần phàm lệ, tờ 2a1-2, Ngô Sĩ Liên đã nhận xét: "Hoặc có người nói (Hùng Vương) có 18 đời, sợ chưa phải là thế".

    Đi sâu vào vấn đề này, ta biết hiện có 3 bản ngọc phả khác nhau liên hệ đến triều đại Hùng Vương. Bản thứ nhất là một bản chép của thời Lê Hồng Đức bắt đầu từ năm 1470, rồi được chép lại vào thời Lê Kính Tôn (ở ngôi 1600-1618), niên đại Hoằng Định. Bản thứ hai là bản chép tay đời Khải Định được bảo là chép lại từ một bản thuộc niên đại Thiên Phúc (980-988) của Lê Đại Hành (ở ngôi 980-1005). Cả hai bản này hiện tàng trữ tại đền Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ. Bản thứ ba hiện tàng trữ tại chùa Tây Thiên trên núi Tam Đảo, không có ghi ngày tháng. Vấn đề văn bản học của các ngọc phả này ta chưa cần đề cập tới ở đây. Chỉ cứ vào chúng, ta biết tối thiểu mỗi triều đại Hùng Vương có thể có nhiều người cùng mang một tên hiệu. Chẳng hạn, đời Hùng Vương cuối cùng là Hùng Duệ Vương thì ta có Duệ Vương thứ nhất, thứ hai, thứ ba v.v... Vì thế, mười tám đời Hùng Vương trải dài trên hai ngàn năm là có thể hiểu được. Riêng đối với vấn đề quan tâm cuả chúng ta ở đây là cháu đời thứ ba của Hùng Vương là cháu của đời Hùng Vương nào?

    Nếu Phật giáo xuất hiện vào năm 528 (hoặc 529?) tdl ở Ấn Độ và bắt đầu truyền bá qua các nước xung quanh vào những năm 247-232tdl vào thời của vua A Dục khi vua này lịnh cho các phái đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái đoàn của Sona đi về vùng Đất vàng (Suvanabhumi). Vùng Đất vàng này có phải là vùng Đông Nam Á hay không, có phải là vùng Đông Dương hay không? Đây là một vấn đề đang còn tranh cãi. Tuy nhiên cứ vào những sử liệu cổ sơ của Trung Quốc, cụ thể là Sử Ký và Tiền Hán thư cùng Hậu Hán thư cũng như các di liệu khảo cổ học, như di liệu khảo cổ học Óc Eo, thì vào những thế kỷ đầu dl, vùng biển phía Nam nước ta đã rộn rịp những thương thuyền không những của các quốc gia thuộc nền văn minh Ấn Độ, mà cả những quốc gia xa xôi của nền văn minh La-mã. Cho nên, truyền bá Phật giáo vào những vùng đất này là một sự kiện chắc chắn đã xảy ra.

    Hơn nữa, vùng đất miền nam nước ta từ phía nam cửa Sót trở vào đã mang nặng những vết tích của nền văn hóa Ấn Độ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm thấy tại làng Võ Cảnh ở Nha Trang, thường được các nhà nghiên cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ II sdl viết bằng Phạn văn. Để cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được khắc trên đá vào thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Độ vào thời điểm ấy chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá tại vùng đất này qua một thời gian tương đối dài, tối thiểu cũng phải mất một vài ba trăm năm. Nói thẳng ra, văn minh Ấn Độ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những thế kỷ trước và sau Dương lịch. Cho nên, vị Hùng Vương của thời Chữ Đồng Tử ta cũng có thể xác định vào những thế kỷ tđl, có khả năng là Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III tđl.

    Đoán định này của ta về niên đại của việc Chữ Đồng Tử tiếp thu Phật giáo là hoàn toàn phù hợp với quan điểm của thiền sư Chân Nguyên (1647-1728) trong Thiên Nam Ngữ Lục_1. Sau khi kể chuyện Lữ Gia bị quân của Hán Vũ đế đánh bại, Chân Nguyên viết:

    "Gia bỏ cửa mốc nhà rêu
    Hang thần trật lối, hồn phiêu đường nào
    Nước nên thấy những đồng dao
    Cõi bờ tất đất vào chầu Hán gia
    Non Sài tuyệt chẳng vào ra
    Thấy còn một dấu vườn là Trúc Viên
    Đìu hiu ngoài cảnh thiền thiên
    Thuở trưa quyên khóc, thuở đêm hạc sầu"

    Viết thế, Chân Nguyên muốn nói rằng ngôi chùa Trúc Viên đã có từ thời Lữ Gia, tức khoảng năm 110 tới tại núi Thầy (Sài Sơn), ở Sơn Tây. Điều này cũng có nghĩa Phật giáo đã tồn tại ở nước ta vào thế kỷ thứ II tdl. Đây là một điểm khá lôi cuốn. Bởi vì nó cho thấy đã từ lâu lưu hành quan điểm cho rằng Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm. Đến thời An Thiền viết Đạo Giáo Nguyên Lưu_1 vào năm 1845, ở quyển thượng, tờ 9a11-b5 dưới mục Đại Nam thiền học sơ khởi, ông đã để lại truyện tích Chữ Đồng Tử như đã ghi lại trong Lĩnh Nam Trích Quái:

    "Thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vi, có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có nhà sư tên Phật Quang. Đó là người Thiền Trúc, tuổi hơn 40, truyền pháp cho Đồng Tử một cái nón và một cây gậy, nói rằng: "Linh dị và thần thông ở đây cả". Đồng Tử đem đạo Phật truyền cho Tiên Dung. Vợ chồng Tiên Dung bèn học đạo. Đến buổi chiều ngày trở về, giữa đường cần làm nơi tá túc, bèn dựng gậy che nón, đến canh ba thì thành quách lâu đài, màn gấm màn the, kim đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ đầy cả sân chầu..."An Thiền cũng đề ra mục Hùng Vương Phạn Tăng, tức các nhà sư Ấn Độ thời Hùng Vương, ở tờ 9b6-9, và kể tên nhà sư Khâu Đà La đến thành Luy Lâu của Sĩ Nhiếp vào thời cuối Hán Linh Đế (168-189 sdl). Xác định Khâu Đà La vào thời Hán Linh đế dĩ nhiên không thể xếp Khâu Đà La vào loại các nhà sư vào thời Hùng Vương được.

    Ngoài ra, trong các loại thần tích cuả các xã ta biết trong số các tướng tá của Hai Bà Trưng, sau khi bị Mã Viện đánh bại, một số đã mai danh ẩn tích trong các giáo đoàn Phật giáo. Một trong những vị này được biết tên là Bát Nàn phu nhơn đã xuất gia. Như sẽ thấy, chính những vị này cùng người kế nghiệp họ đã tập hợp những văn bản kinh điển Phật giáo lưu hành lúc ấy, những bộ kinh đầu tiên hiện còn và được biết mà sau này Khương Tăng Hội đã dịch thành Hán văn dưới nhan đề Lục độ tập kinh và Cựu Tạp Thí Dụ Kinh. " ( LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM - Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế
    Tiến sĩ Lê Mạnh Thát )

    Còn về vấn đề truyền thừa : nếu bạn đã lên chùa Thày , đã lên Yên Tử thì bạn sẽ rõ Mật Tông Việt Nam được truyền thừa như thế nào . Có điều mật Tông Việt Nam giản dị và dễ hiểu hơn nhiều những gì mà bạn đã học ở mật Tông Tây tạng . Trong chuyến về nguồn vừa qua , dienbatn đã chứng minh cho Sư Huynh Hùng Sơn thấy rất rõ về vấn đề này . Sư Huynh Hùng Sơn là người đã chịu lễ quán đảnh trực tiếp của một vài vị Lạt ma , đã nhận rõ trong chuyến về nguồn kỳ này . Hy vọng có thời gian dienbatn sẽ chứng minh cho bạn biết điều đó . Thân ái . dienbatn .
    CỬA SÓT - NƠI NHÀ SƯ PHẬT QUANG ĐÃ TRUYỀN TÂM PHÁP CHO CHỬ ĐỒNG TỬ



    NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG .




    Last edited by dienbatn; 23-03-2008 at 12:27 PM.
    LIÊN HOA VIÊN QUANG - GIA ĐÌNH VÔ HÌNH

  12. #12

    Mặc định

    xin di cac vi ai tu nay biet ai an nay no con minh nghi ko biet thi dua cot ma nghe phat bieu linh tinh giong nhu dem vung nuoc trau so voi cai bien vay

  13. #13

    Mặc định

    Tuoitre00 thân mến !Đây là một đề tài rất phong phú và bổ ích,mang lại sự hiểu biết cho chúng ta về cả hai góc độ.
    -Về Đạo Phật:Chúng ta có thể tìm,hiểu về nguồn gốc của Đạo Phật nói chung và Mật Tông Việt Nam nói riêng.
    -Về giá trị lich sử:Bác HỒ đã từng nói:"DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA".
    Dieu hy mong bạn Tuoitre00 đừng nên có những lời như thế.
    Vài lời góp nhỏ xin bạn bỏ qua nhé !

    Thân ái ! Lien hoa dieu hy !
    GIA ĐÌNH VÔ HÌNH:listen:

  14. #14

    Mặc định

    Trích :"...Các bạn có khi nào hỏi vì nhân duyên nào mà Tây tạng bị mất nước vào tay Trung quốc không , ấy là vì họ mang tội giấu pháp , họ được truyền thừa những pháp môn tối thượng và giữ rịt lấy , không chịu truyền ra ngoài . Càng về sau họ lại càng chế thêm nhiều pháp tướng , nhiều nghi thức làm cho Mật tông ngày càng rối rắm khó hiểu . Vì nhân duyên đó mà đất nước họ phải chịu biến cố lớn để các bậc Chân sư phải tứ tán khắp nơi trên thế giới , để pháp Phật được trao truyền khắp thế giới , để tồi phá tâm chấp pháp cho xứ Tây Tạng .

    SỞ TRI CHƯỚNG

  15. #15

    Mặc định

    Sự truyền thừa phải có ghi nhận rõ ràng không thể chi y theo một câu chuyện cổ tích được.

    Cứ cho là chuyện nhà Ngài Phật Quang truyền Mật Pháp cho Chử Đồng Tử nhưng sau đó thì sự truyền thừa thế nào?

    Nếu Mật Tông có tại Việt Nam từ lâu thì tại sau Ngài Từ Đạo Hạnh thời Lý lại không ở Việt Nam cầu tu học Mật Tông mà phải đi tìm đường sang Thiên Trúc.

    Tại Tây Tạng thì bất cứ dòng phái nào đều có đầy đủ tên của lịch đại Tổ Sư từ lúc khai đạo liên tục cho đến ngày nay.

    Mật Giáo Việt Nam có như vậy hay không?
    Last edited by kimcang; 23-03-2008 at 09:16 PM.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  16. #16

    Mặc định

    Nói đến truyền thừa thì phải nói đến 2 khía cạnh: có sự ghi chép của con người thế tục (lịch sử) và không có sự ghi chép của con người thế tục (truyền thuyết, tín ngưỡng,….)

    Đất Tây Tạng không bị hộ lâu dài hàng nghìn năm như VN và lại thuần khiết là đạo Bon và Đạo Phật nên rất dễ giữ gìn và ghi chép. Lịch sử Tây Tạng gắn liền với lịch sử Phật Giáo Tây Tạng nên việc ghi chép truyền thừa rõ ràng là dễ hiểu.

    Đất VN thì bị TQ đô hộ hàng nghìn năm, không ít kinh sách đã bị tiêu huỷ khi không đuợc chính sách đô hộ ủng hộ. Phật giáo VN vì thế cũng ảnh hưởng ít nhiều bởi Phật giáo TQ. Bản thân Phật giáo TQ cũng trải qua nhiều nạn diệt pháp Phật nên Phật giáo VN cũng bị nạn chung trong thời kỳ bị đô hộ. Việc ghi chép lịch sử VN còn gặp nhiều khó khăn huống chi là lịch sử Phật giáo nói chung và Mật Giáo VN nói riêng. Đó là nói về việc ghi chép trong lịch sử.

    Còn về truyền thuyết thì ngài Long Thọ (Tổ sáng lập Mật Tông) cũng nói rằng do được Pháp thân Phật Tỳ Nô Giá Na (Vairocana) thuyết pháp Mật Tông. Mà Pháp Thân Phật Tỳ Nô Giá Na không phải là nhân vật lịch sử. Vậy thì việc truyền thừa hay không truyền thừa của Mật Tông có khác gì nhau đâu khi đều bắt nguồn từ nhân vật không có trong lịch sử (không có cha me, tên tuổi, nơi sinh) là Pháp Thân Phật Tỳ Nô Giá Na.

    Việc chứng minh Mật Giáo có truyền thừa hay không truyền thừa chỉ là ham ngọn bỏ gốc.

    Sau 600 năm khi Phật nhập diệt, đạo Phật bước vào giai đoạn suy tàn ở Ấn Độ, ngài Long Thọ ra đời và đã thuyết kinh Mật Tông đầu tiên bằng sự ra đời Pháp thân Phật Tỳ Nô Giá Na (vairocana), và từ đó khái niệm Báo thân của các Bồ tát (bodhisiva) cũng ra đời và Phật Thích Ca Mâu Ni trở thành Ứng thân hay Hoá thân (dưới dạng thân người bình thường). Chính vì có sự thay đổi lớn này trong Phật giáo mà các nhà nghiên cứu tôn giáo và lịch sử đều cho rằng ngài Long Thọ là Đức Phật thứ 2 (nhân vật lịch sử).

    Như vậy thì Mật Tông Tây Tạng và Mật Tông Việt Nam hay Mật Tông toàn thế giới đều có 1 Tổ chung là ngài Long Thọ. Còn việc phân nhánh các giáo phái Mật Tông thì cũng chỉ là các nhánh cây trên cùng một thân cây chứ có khác gì. Bên Thiền Tông đến đời Lục Tổ cũng không còn truyền tâm ấn, nhưng cách nhánh thiền thì cứ toả ra rộng khắp, mỗi nơi mỗi cách tu đâu có phân biệt gì.

    Về quán tưởng Mật Tông VN thường quán chữ và an bố chữ trên thân hành giả. Chữ quán thường là các chủng tự của chư Phật và Bồ tát
    Về trì chú thì trước đây thường trì chú tiếng Hán, sau này đổi dần sang tiếng Phạn tương đương
    Về bắt ấn thì Mật Tông VN cũng bắt ấn giống như Mật Tông Tây Tạng trong các phép tu Adidà, Quán Thế Âm, ...

    * Ở đây sự khác biệt rõ ràng nhất của Mật Tông VN là quán tưởng chữ chứ không quán tưởng chuyển hoá thân thành bổn tôn (yidam) như Mật Tông Tây Tậng. Đây cũng là sự từ bi của các vị tổ Mật Tông VN ẩn mình hiểu được cơ sự của đất nước để người trì tụng, quán tưởng đạt tới thành tựu tu tập không có truyền thừa mà không bị gặp chướng ngại nên thay vì quán thân thành bổn tôn thì quán chữ chủng tự bổn tôn.

    * Mật Tông VN không có cúng dường Mạn-đà-la như Mật Tông Tây Tạng. Do ảnh hưởng của Khổng Giáo, nên các mạn-đà-la của của Mật Tông VN thường là các câu thần chú hay chủng tự bổn tôn được viết lên giấy vàng chữ đỏ, và khi viết được viết bằng sự quán tưởng trong thiền định khi hành lễ hay cầu khẩn chư Phật, hộ pháp.

    * Mật Tông VN không có nhũng bức tranh Thang-ka như Mật Tông Tây Tạng. Do đặc điểm các tổ sư Mật Giáo trông bên ngoài thường tu Hiển Giáo như Tịnh Độ hay Thiền Tông nên các ngài không bày hay không thờ các thang-ka (vẽ các hình Yidam - là Báo thân Phật)

    Còn về phần kinh sách Mật Tông VN đã có sự chắt lọc và loại bổ cho phù hợp với xứ sở người Việt, nhà Phật gọi là đồng nghiệp (cùng chung dòng máu Việt, nghiệp lực là người Việt, cảnh giới là người Việt, tập quán là người Việt). Ví dụ như kinh Bí Mật Tập Hội của Mật Tông Ấn Độ du nhập vào Tây Tạng nhưng không thể nào tồn tại ở đất Việt Nam. Xin trích đoạn dưới đây:

    '' Trong các bộ kinh sách Kim Cương Thừa như Bí Mật Tập Hội (Sri-samaja còn gọi là Guhya-samaja), Nghi Quỹ (Sadhana)...chúng ta thấy có sự khuyến khích việc vi phạm chính năm giới nền tảng của Giới luật Phật giáo. Chẳng hạn, trong Bí Mật Tập Hội thì khuyên việc sát nhân, lừa dối, trộm cắp và ngoại tình. Có thể nào tưởng tượng Đức Phật lại cho phép làm những việc như thế.''

    '' Trong tất cả các xu hướng của Phật giáo thì giáo lý Mật tông cho đến ngày nay vẫn bị xem thường và ngộ nhận. Các phép tu luyện của Mật Tông bị nhiều người kết tội, bắt nguồn chủ yếu chủ yếu từ những truyền thống Ấn Độ giáo suy đồi và những việc làm bất chính mà các truyền thống này gây ra trong đám người ngu dốt. Thành kiến chống lại Mật Tông như thế mạnh mẽ đến nỗi ngay cả các học giả cũng từ bỏ không muốn dính dáng đến nó. Kết quả là mọi sự nghieê cứu vô tư về giáo phái này bị gác bỏ suốt một thời gian dài.''


    Trích từ 2500 Phật giáo (2500 years of Buddhism) của Bộ Thông Tin và Truyền Thông Ấn Độ (tái bản lần thứ 6 - 1997) do 28 tiến sĩ, giáo sư và tu sĩ ở các viện đại học và tu viện lớn ở Ấn Độ.

    Đến đây tôi xin hỏi các bạn: Trước khi Phật thành đạo ngồi ở gốc cây bồ đề, Phật tụng kinh gì ? trì chú gì, bắt ấn gì ? quán tưởng gì ? để thành Phật !

  17. #17

    Mặc định

    Pháp môn tu chứng rất nhiều, tùy thời để học, tùy nơi để hành, nhưng mục đích vẫn là một: Làm thế nào để người tu hành đi vào cõi viên mãn, cho nên chỗ "trở về" chỉ là nhất thừa (Phật Thừa). Hiển Giáo Mật Tông gồm thâu cả tánh và tướng. Nghĩa lý Mật Tông chia ra làm 5 thời, gọi chung là Tô Đạt Lãm (Kinh). Mật bộ bao gồm ba tạng, gọi chung là Đà Ra Ni (tức Thần Chú). Người học Mật Tông cho rằng: Những vấn đề Không, Hữu, Thiền, Luật trái nghịch với nhau, cho nên một số người đã không xem xét tận đến viên lý,đến cứu cánh. Thông thường, những tu sĩ Mật Tông thuờng lấy 4 loại: Đàn, Ấn, Chư, Tiếng làm phép tắc tu trì, nhưng rồi vẫn chưa đạt đến chỗ bí áo của Mật Giáo. Lạt Ma Choegyam Trungpa khi đề cập đến vấn đề nầy đã cho rằng: "Nhiều người đã không thông hiểu thấu đáo Mật Tông cho rằng trong giáo lý có nhiều điều mâu thuẫn lẫn nhau, "Tánh Tông" và "Tướng Tông" không ăn khớp nhau. Do đó, đã gây ngộ nhận, thường lên tiếng bài xích. Nguyên nhân là họ chỉ nhìn một vài khía cạnh của Mật Tông, mờ mịt về tánh Viên Thông.

    Con đường đi đến với Mật Tông phải qua từng giai đoạn, không tắt ngang, nếu không phải là bậc Chánh Trí, hiểu biết về Tiểu Thừa và Đại Thừa, thì khó đi vào Kim Cang Thừa (Mật Tông)". Những điểm chính về con đường tu học đó như sau: - Về Tiểu Thừa: Phải thấu đáo lý thuyết: vạn pháp do nhân duyênsanh, thấu đáo chân lý chân không, tu hành tự lợi, chứng quả Tiểu thừa. - Về Đại Thừa: Phải hiểu những điều căn bản về Pháp Tướng Tôn, Vô Tướng Tôn và Nhất Thừa Chung Giáo. Hiểu được những khó khăn nầy, cho nên, từ nhiều thế kỷ trước KimCang Thừa chỉ được truyền bằng miệng trong một số tu sĩ hạn chế.
    Thành tâm kính lậy Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh
    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực

  18. #18

    Mặc định

    Đến đây tôi xin hỏi các bạn: Trước khi Phật thành đạo ngồi ở gốc cây bồ đề, Phật tụng kinh gì ? trì chú gì, bắt ấn gì ? quán tưởng gì ? để thành Phật
    Kinh Mật Tông nói không một Đức Phật nào không do tu Mật Pháp mà thành đạo Bồ Đề cả.

    Trong các Kinh Đại Thừa có nói rằng lúc Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ sắp thành Phật thì đều hiện tại Sắc Cứu Cánh Thiên được Chư Phật ban Pháp Quán Đảnh đầy đủ tất cả Phật Pháp rồi hiện Thân Thành Phật.

    Việc thị hiện Thành Phật nơi cõi Ta Bà chỉ là Hóa Phật.

    Kinh Mật Tông Tây Tạng không có Kinh nào dạy phá 5 giới cấm cả.

    Chỉ là người không thông nên mới hiểu lầm.
    Last edited by kimcang; 24-03-2008 at 06:20 AM.
    Lobsang Nyma

    Om Mani Padme Hum

  19. #19

    Mặc định

    thật lành!thật Lành thay ! vẩn rất rất nhiều vị cao minh tri kiến đạo như tri kiến phật vậy.
    đạo hạnh đạo hạnh rỏ từ đây,hạnh duyên rỏ suốt những ngày tiêu dao.

  20. #20

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi kimcang Xem Bài Gởi
    Kinh Mật Tông nói không một Đức Phật nào không do tu Mật Pháp mà thành đạo Bồ Đề cả.
    Chẳng riêng gì Kinh Mật Tông mà các Kinh Hiển Tông cũng nói không một Đức Phật nào không tu tập Hiển hay Mật mà thành đạo Bồ Đề cả.

    Trích dẫn Nguyên văn bởi kimcang Xem Bài Gởi
    Kinh Mật Tông Tây Tạng không có Kinh nào dạy phá 5 giới cấm cả.
    Không ai có thể đọc hết Kinh Phật cả. Với Kinh Mật Tông Tây Tạng lại còn hơn thế nữa. Hiện tại tôi có hàng trăm bộ kinh tiếng Tây Tạng chưa chuyển Anh ngữ thì tôi cũng bó tay. Tôi không học tiếng Tạng. Không kể đến hàng nghìn bộ Kinh Mật Tông Tây Tạng đang được chôn cất bí mật, chưa thể tiếp xúc được.

    Ở Tây Tạng có 4 phái tu Mật Giáo thì cũng đã xuất hiện kinh sách Mật Tông theo môn phái khác nhau. Bạn KC chỉ tu theo dòng Gelupa (phái Cách Lỗ mũa vàng của Dalai Lama) thì không thể thấu hiểu được nhưng phép tu về Sáu Du Già Na Ro pa của dòng Kagyupa do Tilopa làm Sơ tổ. Còn nếu có biết chút ít thì cũng chỉ là vay mượn cóp nhặt chứ không phải thấu hiểu như người tu theo dòng phái này. Vì thế chẳng nên nói mình đã đọc hết Kinh Mật Tông Tây Tạng (gồm cả 4 phái) mà kết luận bừa.

    Riêng kinh Bí Mật Tập Hội có dạy cách phá năm giới của Phật giáo. Tuy nhiên có ẩn nghĩa đằng sau việc này nên gọi là ''Mật''. Cũng giống như phép tu Yah-Yum trong tư thế giao hợp của 1 Phật nam và 1 Phật nữ có nhiều ần nghĩa nhưng mới xem quá đã bị tẩy chay ngay vì phần lớn người bình thường thì có nhận xét bình thưòng chứ không hiểu ''Mật' 'nghĩa được. Vì thế đa phần các kinh Mật Tông bị tai tiếng và bị tẩy chay và xem thường ngay từ đầu khi du nhập vào nên văn hóa Việt Nam cổ xưa.

    Trích dẫn Nguyên văn bởi kimcang Xem Bài Gởi
    Chỉ là người không thông nên mới hiểu lầm.
    Với tôi, ai cho rằng mình đã ''thông'' thì họ đã tự giới bản thân như ví bầu trời bằng cái giếng. Âu cũng là NGHIỆP phải mang.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •