kết quả từ 1 tới 18 trên 18

Ðề tài: Phật Quốc Ký Sự

  1. #1

    Mặc định Phật Quốc Ký Sự

    LỜI NGỎ

    Nhân loại có hai nguồn văn minh lớn đó là văn minh phương Đông và văn minh phương Tây. Các thể loại văn hoá, nghệ thuật, triết học, thiên văn học… hầu hết các nguồn văn minh này được khởi nguồn từ thời cổ đại ở các quốc gia như Hy Lạp và La Mã thuộc phương Tây - Trung Quốc và Ấn Độ thuộc phương Đông. Khi nói đến tiến bộ văn hoá phương Đông, Ấn Độ cũng như Trung Quốc, đạo đức tâm linh và tôn giáo đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt nhất khi đề cập đến văn minh Ấn Độ, chúng ta phải thừa nhận rằng, Ấn Độ là cái nôi của văn hoá lễ hội và là xứ sở tôn giáo đa phức. Gần như xuyên suốt quá trình phát triển văn hoá Ấn Độ, lễ hội và tôn giáo luôn gắn liền với mọi sinh hoạt truyền thống của người dân Ấn, và nét đặc trưng này không chỉ tồn tại trong thời sơ khai, thậm chí bây giờ nó vẫn còn phản ánh trong đời sống thường nhật của họ.

    Phật giáo được xem là một trong những tôn giáo có mặt sớm nhất trong thời văn minh Ấn Độ cổ đại, vào thế kỷ thứ VI trước kỷ nguyên Tây lịch. Một điều đặc biệt là, Phật giáo không mang tính tôn giáo đơn thuần chỉ phục vụ cho tín ngưỡng lễ hội, mà ngoài tính triết lý siêu thế đạo Phật còn là một phương pháp sống hết sức thiết thực nhằm xoá đi nỗi đau khổ và giúp con người trong mỗi thời đại tìm được hạnh phúc an lạc cho chính bản thân mình ngay tại cõi đời này. Vì vậy, ngày nay đạo Phật càng được nhiều người biết đến; sự quan tâm của các ngành khoa học, giới học giả và những nhà nghiên cứu xem những lời dạy của đức Phật là một đề tài lớn, cần được tìm hiểu và thảo luận một cách kỹ càng để lấy những tinh hoa Phật giáo xây dựng nền tảng hạnh phúc cho nhân loại. Do đó, những gì liên quan đến phật giáo, cho dù chỉ là những di tích cũ mục còn sót lại, cũng cần được giới thiệu để mọi người biết đến như những chứng tích hùng hồn về sự thật lịch sử của một tôn giáo với bề dày gần 3000 năm.

    Vào năm 2006, khi được du học tại Ấn Độ, nhiều lần dự định đi chiêm bái và thực hiện phim tư liệu về các thánh tích Phật giáo, nhưng do nhiều mặt còn hạn chế lại thêm thời gian không cho phép nên đành kéo dài đến giao thời 2007 - 2008, chúng tôi mới đủ duyên lành đảnh lễ các thánh tích, đồng thời ghi một số hình ảnh làm bộ phim tư liệu về đất Phật.

    Có hai động cơ chính để chúng tôi phải cố gắng hoàn thành công việc khiêm tốn này:

    Thứ nhất, sau chuyến hành hương đất Phật do công ty du lịch Biển Đông (East Sea) tổ chức vào tháng 11 năm 2005, chúng tôi đã quay phim ghi hình tóm tắt toàn bộ chuyến đi từ thánh tích Phật giáo cho đến những gì liên quan trên suốt đoạn đường để làm kỷ niệm. Mặc dù đó chỉ là hình ảnh được ghi lại theo tinh thần “kiến văn tiểu lục” để kỷ niệm cho chuyến hành hương mang tính cá nhân nhưng mọi người vẫn xem một cách say mê, đôi khi còn tỏ vẻ tiếc nuối bởi những chỗ đứt ngang, không phải vì thích bộ phim tôi quay, mà chỉ vì muốn thấy được hình ảnh thực trên quê hương Phật giáo, là xứ sở thường được nhắc đến trong kinh điển.

    Thứ hai, mỗi khi xem các phóng sự về văn hoá đặc biệt nhất là văn hoá Ấn Độ, tôi bỗng liên tưởng ngay đến Phật giáo, một nơi được gọi là thánh địa thiêng liêng, nhiều chứng tích lịch sử quan trọng, lại thêm tư liệu dồi dào, tại sao chúng ta chưa có bộ phim nào nói đến toàn bộ thánh tích Phật giáo cho tương xứng với tầm vóc bề dày lịch sử của một tôn giáo lớn trên thế giới!

    Từ hai động cơ trên, tôi quyết tâm thực hiện bộ phim này với những phương tiện khiêm tốn, thô sơ của một tăng sinh du học có được. Gần ba năm nuôi ước nguyện, khi hội đủ duyên lành, tôi cùng với một vài người bạn thân âm thầm thực hiện bộ phim này với ước mong làm một gạch nối, gợi ý đến những ai có thiện chí và khả năng chuyên môn hầu thực hiện hoàn hảo bộ phim về các thánh tích Phật giáo.

    Trong khi viết lời bình cho bộ phim với tựa đề Phật Quốc Ký Sự, chúng tôi nhận thấy nhiều thông tin quan trọng, cần giới thiệu đến các Phật tử và những người muốn tìm hiểu về đất Phật. Và đó là khởi điểm cho tập sách nhỏ này được ra đời cùng một chủ đề. Trong tập sách này, chúng tôi chú trọng chủ yếu đến tứ động tâm, là bốn sự kiện trọng đại liên hệ đến cuộc đời đức Phật: Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân và Nhập Niết Bàn. Bên cạnh đó chúng tôi cũng liên hệ đến những thánh tích cần thiết, mong được chia sẽ cùng quý bạn đọc về những điều đã chứng kiến và bao tâm sự vui buồn được cảm nhận trong chuyến hành hương vào dịp xuân Mậu Tý - 2008.

    Nội dung tập sách này không phải là tư liệu về sử học hay khảo cổ học, nhưng đã được tham khảo nhiều tác phẩm và những bài viết liên quan đến các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ, chúng tôi mô tả lại những chi tiết cần thiết dưới dạng ký sự, phản ảnh lại một vài sự kiện lịch sử nổi bật trong quá khứ và hiện tại ở các khu thánh địa từng trải qua thời hoàng kim Phật giáo, nhất là giai đoạn đức Phật còn tại thế. Một Lâm Tỳ Ni (Lumbini) thiên nhiên thơ mộng, nơi Bồ Tát Hộ Minh giáng trần từ cõi trời Đâu Xuất; Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) đồ sộ nguy nga, khởi nguồn cho một đạo Phật từ sự giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác của nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta dưới cội Bồ Đề; Một Lộc Uyển (Sarnath), vườn nai thanh bình trong xứ Ba La Nại, nơi Phật chuyển bánh xe pháp đầu tiên; Câu Thi Na (Kusinagar) cô tịch trầm buồn cho lần ra đi cuối cùng của Phật tại rừng Ta La song thọ… và còn biết bao điều chưa được biết đến đối với người con Phật chúng ta!

    Để dễ dàng trong việc tìm hiểu, chúng tôi sắp xếp nội dung theo trình tự diễn tiến cuộc đời đức Phật, vì vậy các địa điểm bị sai khác với lịch trình đi của chúng tôi nên có những đoạn chuyển ý không được liên kết với nhau. Hơn nữa, từ sự cảm nhận thực tế trong một vài cảnh tượng trùng hợp gây nên cảm xúc của riêng mình, đôi khi cũng có những ý kiến đánh giá chủ quan; vả lại, lực bất tòng tâm, thiện ý mong chia sẻ với mọi người về những điều hay mà mình có dịp tường tận chứng kiến, nhưng khả năng còn nhiều mặt hạn chế, diễn đạt câu văn chưa tròn, xin qúy độc giả đạt ý quên lời, lượng thứ bỏ qua những điều còn khiếm khuyết, người viết xin ghi nhận sự góp ý chân tình từ quý bạn đọc, để bổ khuyết cho lần tái bản được hoàn hảo hơn.

    New Delhi, 15/3/2008
    Thích Phước Tiến

  2. #2

    Mặc định Chương 1: Thành Ca Tỳ La Vệ

    THÀNH CA TỲ LA VỆ
    (Kapilavatthu)


    1. Khái lược kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) xưa và nay



    Quanh cảnh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) ở Nepal (Ảnh: Tâm Bửu)

    Vượt qua biên giới Nepal khoảng 70 km, chúng tôi đến vùng Tilaurakot nơi còn sót lại phế tích của kinh thành cổ xưa, Ca Tỳ La Vệ. Nhóm năm người chúng tôi tiến vào bên trong phía Tây cổng thành, tìm một bóng râm nơi khu vườn hoang sơ, có vài lối mòn nho nhỏ, dùng bữa cơm đạm bạc giữa đám quạ bay lượn qua lại kêu inh ỏi và những con chó hoang lạc loài ốm đói tìm kiếm thức ăn. Sau bữa ăn trưa, nhu cầu cần thiết nhất trong ngày, nhóm chúng tôi bắt đầu đi vòng quanh để tham quan và ghi lại một vài hình ảnh làm kỷ niệm.

    Một nơi quen thuộc trong trí tưởng tượng của người con Phật mà khi nghĩ đến chúng ta cảm thấy bồi hồi xúc động, nôn nao khó tả, đó chính là kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), một kinh thành trù phú, xa hoa tráng lệ, nơi mà đông cung thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhāttha) sinh ra và lớn lên trong nhung gấm lụa là, trong tình yêu thương tuyệt đối của hoàng thân quốc thích, tràn ngập niềm hạnh phúc với vợ đẹp con xinh, sự kính trọng nể vì của toàn bộ tộc Thích Ca (Sakyā), sự hy vọng và ngưỡng mộ của toàn dân kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Để rồi, từ những thái cực của cuộc đời, nghèo giàu, khổ đau và hạnh phúc, sự sống mong manh, cái chết vô thường.... đã dẫn đến cuộc ra đi vĩ đại, cuộc ra đi vô tiền khoáng hậu, cuộc ra đi làm nên trang sử vàng, chính là sự có mặt của một đạo Phật cứu khổ ban vui, vì lợi ích cho vạn loại hữu tình trên hành tinh này.

    Một kinh thành chứa đầy kỷ niệm, một kinh thành không thể tách rời Phật giáo, một kinh thành không chỉ là quê hương đức Phật mà còn là quê hương của người con Phật, quê hương của tất cả chúng ta. Càng hình dung trong trí tưởng tượng cho sự huy hoàng tráng lệ của một kinh thành cổ xưa thì chúng ta càng xót xa, buồn thảm và thất vọng, khi một lần dừng chân nơi ấy! Giờ đây, trước mắt chúng ta chỉ là một phế tích, nơi mà trải qua hàng bao thế kỷ đi vào quên lãng: những bức tường dài ngang dọc đổ nát rêu phong, những bụi cây hoang dại mọc um tùm, bao hầm hố gò nổng trên một lối đi mà không một bàn tay chăm sóc.... Ôi! thật ảm đạm buồn tênh trên quê hương Phật giáo, một nơi lịch sử huy hoàng, có sức ảnh hưởng khắp đông tây tưởng chừng như một huyền thoại, đã sản sinh ra một học thuyết vững vàng và có giá trị thực tiễn trong mỗi thời đại, lại suy tàn gần như là mất gốc. Phía Tây chỉ còn sót lại nền gạch cũ cùng với tấm bản xác định vị trí của các nhà khảo cổ. Đối mặt sau của cổng thành phía Tây khoảng hơn một cây số là cửa thành Đông, nơi mà nửa đêm rạng ngày mùng 8 tháng 2 âl, thái tử Sĩ Đạt Ta đã âm thầm rời bỏ kinh thành đi tìm đạo giải thoát. Bên ngoài cổng thành Đông là cánh đồng phì nhiêu, mọi người cùng với trâu bò làm việc trong nắng ấm thanh bình của mùa xuân. Xa xa cách cổng thành Đông khoảng 200 m, có một cái tháp nhỏ, được tương truyền rằng, nơi đó chính là chỗ mà con tuấn mã Kiền Trắc đã đứng và chết tại đó sau khi từ giã thái tử trở về lại kinh thành.


    Cổng thành phía Đông (Ảnh: Tâm Bửu)

    Ngài Pháp Hiển đến chiêm bái thành Ca Tỳ La Vệ vào năm 403 sau Tây lịch, đã nhìn thấy toàn vùng này là một rừng hoang cỏ dại, dân cư thưa thớt, và những di tích phế tàn. Một vài tu sĩ khổ hạnh tu tập tại đây và độ 30 gia đình dân chúng đang sinh sống. Ngài đến hỏi thăm các vị tu sĩ về thánh tích này, các vị ấy cho biết toàn vùng này chính là thành Ca Tỳ La Vệ thời xưa, và họ cố ở lại đây để giữ gìn Thánh tích này, nhưng không đủ phương tiện phục hưng, đành phải chịu thua, ngắm nhìn nó dưới sự tàn phá của thời gian.

    Vào năm 636, Ngài Huyền Trang cũng đến thăm viếng ngôi thành cổ này và diễn tả một cách chi tiết. Ngài viết: "Thành Ca Tỳ La Vệ kiến trúc theo lối cổ kính, xây dựng toàn bằng gạch đá quí, bức tường thành vẫn còn, và kiến tạo rất kiên cố. Hiện tại chỉ còn 634 phố, nhà lơ thơ và một ít dân chúng đang sống ở đó. Chung quanh có độ 100 tịnh xá bị hư hỏng. Gần chỗ này có một ngôi tịnh xá vĩ đại, 30 tu sĩ tiểu thừa và hai ngôi đền của Ba La Môn giáo".

    Hiện nay, chúng ta không thấy những gì giống như sự mô tả của quí Ngài, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, chính kinh thành này là quê hương của Phật, là nơi mà Phật giáo ngự trị một cách tuyệt đối, thì sự có mặt của những tu viện cũng như tu sĩ thường lui tới tu hành là lẽ đương nhiên.

    Căn cứ vào tài liệu khảo cổ, Ca Tỳ La Vệ có hai thành cũ và mới. Hiện nay thành cũ thuộc thị trấn Tilaurakot ở Nepal, cách Lâm Tỳ Ni (Lumbinī) khoảng 30 km đường vòng tráng nhựa, khoảng 15 – 20 km đường chim bay. Thành mới thuộc Ấn Độ cách Lâm Tỳ Ni khoảng 30 km, nơi được xây dựng sau khi vua Tỳ Lưu Ly (ViDūDabha) tàn phá Ca Tỳ La Vệ ở Nepal và giết hại dân chúng bộ tộc Thích Ca.

    Giờ đây, chúng ta cùng tham quan thêm một số phế tích còn sót lại trong khuôn viên Ca Tỳ La Vệ được xem là tối quan trọng đối với Phật giáo như: ngôi mộ của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da; vườn Nigrodha thuộc làng Kudan; Sagarhava, nơi mà dòng tộc Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly sát hại....

    2. Ngôi mộ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā)


    Hai ngôi mộ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā) (Ảnh: Tâm Bửu)

    Từ cửa thành Đông, lần theo lối mòn hướng về phương Bắc khoảng 2 cây số chúng ta thấy có hai nền gạch một lớn một nhỏ nằm trong khu đất trũng dưới mặt đường khoảng 3m. Chúng ta không thể ngờ rằng, hai ngôi mộ được cho là của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyā) vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay, mặc dù điều này vẫn đang được nghiên cứu chứng minh về sự thật. Người dân cho biết rằng, ngôi mộ lớn là của Vua Tịnh Phạn và ngôi mộ nhỏ là của hoàng hậu Ma Da.

    3. Làng Kudan

    Cách Tilaurakot khoảng 1 km về hướng Tây Nam là vườn cây Nigrodha thuộc làng Kudan, nơi vua Tịnh Phạn hội ngộ với Đức Phật sau 13 năm trời xa cách với biết bao thương nhớ và hy vọng mà phụ hoàng đã dành cho thái tử. Vì vậy, đức vua đã yêu cầu Phật, sau này bất cứ ai muốn trở thành sa môn thì phải được sự chấp thuận của cha mẹ, nếu họ còn sống. Đức Phật chấp nhận lời đề nghị của vua cha. Tại nơi đây, vua Tịnh Phạn đã sắc lệnh cho xây dựng ngôi tịnh xá tên là Nigrodhamma, làm nơi tu hành của đức Phật và cháu đích tôn Ra Hầu La (Rāhula) khi trở về thăm bổn quốc . Tại ngôi tịnh xá này, Đức Phật đã trải qua mùa an cư thứ 15 và thuyết một số bài kinh tiêu biểu như: Tiểu Kinh Khổ Uẩn (số 14), kinh Mật Hoàn (số 18) … thuộc Trung Bộ kinh.

    4. Sagarhavā, nơi dòng họ Thích Ca bị thảm sát

    Cuộc thảm sát đẫm máu bạo tàn dòng họ Thích Ca (Sakyā) bởi lòng hiềm thù mê muội của vua Tỳ Lưu Ly (Vidūdabha), được ghi lại một cách chi tiết trong kinh Tăng Nhất A Hàm. Từ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) đi về hướng Tây Bắc 10 km chúng ta sẽ đến một khu làng dân cư thưa thớt, nằm giữa khu làng là một cái bể hình chữ nhật dài 500m tên Lambu Sagar. Nơi này đã được ghi nhận là nơi xảy ra cuộc thảm sát do vua Tỳ Lưu Ly, người kế thừa vương vị của vua Ba Tư Nặc (Pasenadi), nước Kiều Tát La (Kosala), đã tàn sát dòng họ Thích Ca. Nơi đây người ta tìm thấy 17 ngọn tháp cổ và một vài di tích cổ còn sót lại. Những tảng đá mang hình hoa sen nở và các vũ khí thời xưa. Trong một ngôi tháp người ta phát hiện một cái rương bằng đất nung đựng xương xá lợi, vàng bạc, đá quý và nhiều đồ trang sức.

    Nguyên nhân của cuộc thảm sát này, bắt nguồn từ dòng họ Thích Ca những người đã miệt thị thái tử Tỳ Lưu Ly, con của vua Ba Tư Nặc. Khi vua Ba Tư Nặc gởi một sứ thần sang Ca Tỳ La Vệ để tìm bang giao với dòng họ Thích qua một cuộc hôn nhân, dòng họ Thích cho rằng nhà vua không phải thuộc người trong tộc nên đã gả cho nhà vua một đứa con gái tên là Vasabha Khattiya con của người thị nữ lai huyết thống của hai giai cấp giữa Sát Đế Lợi và Chiên Đà La đồng thời kèm theo của hồi môn rộng rãi. Vua Ba Tư Nặc đã phong bà làm hoàng hậu và phong con bà Tỳ Lưu Ly làm thái tử. Năm lên bảy tuổi, có một lần Tỳ Lưu Ly bị mặc cảm vì không được nhận quà từ bà ngoại trong khi các công tử khác đều có. Năm 16 tuổi hoàng tử thiếu niên Tỳ Lưu Ly về lại Ca Tỳ La Vệ thăm cậu để học hỏi với các hoàng tử họ Thích. Khi đến phía Nam của hoàng thành, chàng thấy một giảng đường rất mới, nên cho xe dừng lại để ngắm nhìn. Những người dòng họ Thích biết thế nên đã đuổi chàng bằng những lời đầy khinh thị: “Vô lễ kẻ hạ tiện kia! dám choáng chỗ của người dòng họ Thích, nơi để đón rước Đức Phật”. Vì bị sỉ nhục và biết rằng cha mình bị dòng họ Thích Ca lường gạt nên Tỳ Lưu Ly nuôi mối hận này và quyết lòng san bằng kinh thành Ca Tỳ La Vệ để rửa hận. Vì vậy, khi nhiếp chính thay vua Ba Tư Nặc, Tỳ Lưu Ly mang đoàn quân thiện chiến sát phạt toàn bộ dòng tộc Thích Ca.

    Hồ này là di chứng của một dòng sông đẫm máu của bộ tộc Thích Ca thời xa xưa, nó đã chứa đựng biết bao vong hồn oan nghiệt, những tiếng kêu thảm thiết của những người vô tội. Và trong kinh chép lại rằng, cũng ngay trong đêm ấy, đoàn quân thiện chiến của vua Tỳ Lưu Ly cũng bị nước lũ cuốn trôi. Thật đúng câu “ác giả ác báo”. Nói đến đây tôi bỗng dưng nhớ đến câu nói của Hoà thượng Huyền Diệu, có biệt danh Người Làm Vườn, được khắc tại Việt Nam Phật Quốc Tự ở Lâm Tỳ Ni: “Nếu anh thật sự là một con người, không làm được điều gì lợi ích cho chúng sanh, thì anh cũng đừng làm đau khổ chúng sanh”.

    5. Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) ở Ấn Độ


    Thành Ca Tỳ La Vệ mới - Ấn Độ (Ảnh: Tâm Bửu)

    Cách Lâm Tỳ Ni (Lumbinī) 25 km về phía Ấn Độ, địa phận Piprahwa, có một kinh thành của dòng họ Thích Ca. Người ta cho rằng, Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) này được xây dựng là do nhóm người Thích Ca sống sót di dời đến nơi này và lập nên một kinh thành Ca Tỳ La Vệ mới. Thành Ca Tỳ La Vệ tại Ấn Độ thuộc bang Uttar Pradesh cũng hoang tàn đổ nát không khác chi thành Ca Tỳ La Vệ ở Nepal.

    Vào 8 giờ sáng chúng tôi đã đến nơi được xác định là thành Ca Tỳ La Vệ mới, nằm cách mặt lộ chính khoảng 100 m và cách biên giới khoảng hơn 30 km. Vì trời còn sớm nên sương mù vẫn còn lãng đãng bay và đọng đầy trên các ngọn cỏ. Cư dân quanh vùng thưa thớt, vài xóm nhà nghèo lác đác hai bên đường. Đây cũng chính là nét đặc trưng phản ảnh cuộc sống thôn quê hầu hết trên đất Ấn.

    Đối diện với cổng chính khoảng 100 m, là nền tháp chính, chu vi khoảng 80 mét vuông, cũng chỉ là những nền gạch cũ rêu phong, vẫn còn ướt đẫm sương buổi sớm. Trong tháp chính này, người ta đã khai quật được xương xá lợi của Phật và chư tăng dòng họ Thích Ca. Dọc theo lối vào, phía bên tay phải, có một bờ tường chạy dài từ cổng chính đến nền tháp cao khoảng 2,5 m là khu tự viện được xây dựng bao bọc quanh tháp chính. Phía sau tháp chính khoảng 150 m hướng về phía Tây, gần khu vườn xoài của người dân, cũng có một nền gạch tu viện cũ, hình vuông, tường thành rất dày và có những nấc thang đi vào bên trong. Cảnh trí nơi Ca Tỳ La Vệ mới này cũng được chăm sóc khá chu đáo. Cỏ thảm được trồng gần như khắp khuôn viên, một vài khóm hoa đang nở vào dịp xuân, khí trời còn se sắt lạnh. Trong khuôn viên có ao nước khá to được người ta trồng hoa súng, trông ngây thơ và hiền lành giữa một bầu thiên nhiên êm ả mà thỉnh thoảng mới có bước chân người lui tới.

    Sau một giờ tham quan và quay phim ghi hình lưu niệm, đoàn chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình vượt biên giới Ấn Độ đến thánh địa Lâm Tỳ Ni thuộc địa phận Nepal.

    Thích Phước Tiến

  3. #3

    Mặc định Chương 2: Lâm Tỳ Ni

    LÂM TỲ NI
    (Lumbini)


    1. Chùa Việt Nam, nơi hội ngộ loài chim quý


    Chim Hạc (Ảnh: Tâm Bửu)

    Khoảng 9 giờ sáng, trên đường đến vườn Lâm Tỳ Ni, đoàn chúng tôi có viếng thăm Việt Nam Phật Quốc Tự, ngôi chùa Việt Nam, chùa quốc tế đầu tiên trên đất Phật thuộc Nepal, do hòa thượng Huyền Diệu sáng lập. Hòa thượng là một tu sĩ Việt Nam đầu tiên kêu gọi Phật giáo các nước khôi phục lại thánh tích Phật giáo ở Nepal và Ấn Độ trong thời cận đại. May mắn thay, tại ngôi chùa này, lần đầu tiên tôi gặp được vài con chim hồng hạc đang đi trong khuôn viên chùa. Trước kia tôi chỉ biết được loài chim này qua tác phẩm Khi Hồng Hạc Bay Về, tác giả Người Làm Vườn, tức bút danh của hòa thượng Huyền Diệu.

    Sau đó, vào năm 2005 tôi có dịp chiêm bái đất Phật một lần, kính viếng hòa thượng nhưng cũng không có cơ hội gặp loài chim quý hiếm này. Hôm nay, tại khuôn viên chùa chúng tôi nhận thấy có khoảng ba con hồng hạc đang đi lang thang trong ao nước cạn. Không thể bỏ qua cơ hội, chúng tôi ghi một vài hình ảnh thực về loài chim này. Chúng cao khoảng 1,6m, chân khẳng khiu như cò, nhưng lớn gấp trăm lần cò, cổ cũng vậy. Đặc biệt là vùng cổ có viền đỏ, vì vậy mọi người gọi chim này là chim hồng hạc (chim hạc cổ đỏ). Chúng rất dạn dĩ, hiền lành, không thấy sợ người, chắc quen ở chùa có nhiều khách hành hương thăm viếng và ngắm nhìn chúng. Nó cũng có những vũ điệu đặc trưng như loài chim công hay những loại chim khác. Khi chúng tôi đến thấy chúng dạo những vũ khúc rất tự nhiên, rất sinh động. Chúng thích đời sống ẩm ướt, cho nên trong khuôn viên chùa có vũng nước to, cạn để dành riêng cho chúng sinh hoạt hàng ngày. Sau khi quan sát và ghi hình lưu niệm, đoàn chúng tôi vào bên trong lễ Phật, tham quan quanh khu vực chùa và tiếp tục lên đường đến vườn Lâm Tỳ Ni, cách chùa khoảng 3km.

    2. Vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni (Lumbini), nơi Phật đản sanh


    Quang cảnh vườn Lâm Tỳ Ni (Ảnh: Sưu tầm)

    Lâm Tỳ Ni là một trong bốn thánh tích được xem như quan trọng nhất của Phật giáo, gọi là tứ động tâm. Tứ động tâm gồm: Lâm Tỳ Ni thuộc Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) thuộc Ma Kiệt Đà (Magadha), Lộc Uyển nơi chuyển pháp luân xứ Ba La Nại (Benares), và Câu Thi Na (Kushinagar) thuộc cộng hòa Malla (bang Bihar ngày nay), nơi đức Phật nhập Vô Dư Niết Bàn. Bốn thánh tích trọng đại này được cô đọng trong bốn câu rất dễ nhớ:

    Đản sanh Ca Tỳ La
    Thành đạo Ma Kiệt Đà
    Thuyết pháp Ba La Nại
    Niết Bàn Câu Thi Na.

    Lâm Tỳ Ni, phạn ngữ là Lumbini, xưa kia là khu vườn xinh đẹp của kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Hiện nay vị trí khu vườn này nằm trên phần đất của Nepal, tiếp giáp biên giới, chỉ cách Ấn Độ khoảng 30 Km. Lâm Tỳ Ni , nơi đản sinh một Đức Phật, nằm dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn, các sách thường ghi cách thành Ca Tỳ La Vệ cũ khoảng 15 km, rất có thể là đường chim bay, trên thực tế phải đi vòng bằng đường lộ nhựa khoảng 40km.

    Theo phong tục Ấn Độ, người con gái sắp đến ngày sinh nở phải trở về quê mẹ, hoàng hậu Ma Da cũng không ngoại lệ. Trên đoạn đường về quê, khi ngang qua khu vườn Lâm Tỳ Ni, bà cảm thấy tâm trạng thư thái nhẹ nhàng, niềm vui lâng lâng khó tả giữa những tiếng chim đủ loại reo hót trên các cành cây như đón chào bà, một thánh mẫu đang mang thánh thai. Ánh bình minh tỏ rạng, những tia nắng hồng ban mai xuyên qua các cành cây cổ thụ để lại những vệt sáng dài trên cỏ, làm long lanh những giọt sương dường như còn đang say ngủ trong buổi sáng êm ả đẹp trời. Trong lúc đang say sưa ngắm nhìn cảnh vật quanh khu vườn, giữa bao kì hoa dị thảo, bỗng nhiên bà cảm thấy nhiệm vụ thiêng liêng của người mẹ bắt đầu xảy ra và phải xảy ra tại nơi này. Bà liền với tay nắm cành cây vô ưu để vững vàng trong giây phút chuyển dạ đột ngột. Bà liền cho thị nữ căng màng, trải một nơi nằm tạm thời cho giờ phút thiêng liêng, sự chờ đợi nức lòng của cả chư thiên và loài người, hay đúng hơn chính là sự mong mỏi của vua Tịnh Phạn và toàn dân kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Bà hạ sinh một hoàng nam khôi ngô tuấn tú, một đấng trượng phu xuất cách được biểu hiện ngay từ lúc sơ sinh. Tương truyền rằng, khi sinh thái tử, lúc đó trái đất rung chuyển bảy lần, nhạc trời rềnh vang cả hư không, muôn chim bay lượn khắp trời, cây cối trong vườn xinh tươi hẳn lên và đức Bồ Tát hạ sinh từ hông phải của mẹ, bước đi bảy bước, mỗi bước đều có hoa sen đỡ chân. Ngài dõng dạt tuyên ngôn: “Thiên Thượng Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn, Vô Lượng Sinh Tử, Ư Kim Tận Hỷ” - Trên trời dưới trời, sự giác ngộ là trên hết. Mọi trói cột của sanh tử, đời này đoạn diệt hết.

    Sau đó, đoàn tùy tùng đưa bà hồi kinh, trước sự đón rước mừng vui, reo hò của thần dân trong kinh thành. Và người vui mừng tột độ không ai khác hơn là vua Tịnh Phạn, một người đã ngày đêm khẩn cầu để có được hoàng nam xứng đáng kế thừa vương vị. Lúc ấy vào ngày trăng tròn tháng Vesak Ấn Độ, tương đương rằm tháng tư âm lịch, năm 623 (hoặc 624) trước kỷ nguyên Tây lịch.

    Hiện nay, tại vườn Lâm Tỳ Ni vị trí quan trọng nhất đang được xây kín lại để chống xói mòn và hư hoại. Bên trong là những nền gạch cũ mục, một vài chỗ phải được chống đỡ để khỏi bị sụp đổ. Những vết tích cổ xưa như dấu chân vẫn còn in trên đá, được xác định là vị trí lúc Đức Phật đản sinh. Trên bờ tường gạch kề bên dấu chân Phật, cách mặt đất khoảng 3m có một bức phù điêu rất xinh đẹp khắc hình hoàng hậu Ma Da trong tư thế đứng đang đưa tay vịnh cành cây vô ưu, phía trước có hình thái tử đản sinh và xung quanh có những thị nữ đang đứng hầu.

    Quang cảnh xung quanh Lâm Tỳ Ni ít nhiều cũng có bàn tay chăm sóc của con người. Bên cạnh nền gạch cũ còn sót lại, một vài cây xanh vươn mình che bóng mát khiêm tốn trong khoảng trống giới hạn; vài khóm hoa cùng đua sắc màu trong bầu trời xuân tươi đẹp. Bao nhiêu đó cũng làm cho khu thánh địa Lâm Tỳ Ni gợi lên được sức sống tiềm ẩn, cố chờ đợi sự huy hoàng sẽ được lập lại tại khu thánh địa này, nơi đánh dấu sự ra đời của bậc vĩ nhân.

    3. Trụ đá Vua A Dục (Asoka)


    Thạch trụ vua A Dục (Ảnh: Tâm Bửu)

    Lâm Tỳ Ni, vườn ngự uyển với bao kì hoa dị thảo, đẹp đẽ lạ thường hôm nào không còn nữa, giờ đây chỉ còn lại một vài cây cỏ lác đác quanh khu vực và một vài phế tích được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ. May mắn thay cho người con Phật chúng ta, cho những người muốn tìm hiểu về sự thật Phật giáo, một thánh tích dù không còn nguyên vẹn, nhưng nó đã chứng thật với lịch sử, vẫn hiên ngang với trời đất, vẫn tự hào với tất cả mọi tôn giáo được tô vẽ bằng huyền thoại. Đặc biệt nhất là trụ đá của vua Asoka, một vị vua Phật tử đã làm rạng danh Phật pháp trong suốt triều đại của ông, khoảng thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên Tây lịch. Nhờ những thạch trụ và các dòng chữ còn ghi lại trên bia ký, mà mọi người còn biết được vị trí chính xác của các thánh tích Phật giáo, đồng thời cũng là những bằng chứng xác thực cho Phật giáo ngày nay và mãi đến ngàn sau. Nội dung của bia ký được khắc trên trụ đá này bằng chữ Brahmi, đại khái như sau: “Vào năm thứ 20 kể từ khi vua Piyadassi (vua A Dục) đăng quang, chính ông thân hành đến đây để chiêm bái, cúng dường. Bởi đức Phật Thích Ca, thánh nhân của dòng Sakyā được sinh ra nơi này. Ông cho dựng trụ đá để đánh dấu nơi đản sinh của Phật. Dân làng tại Lâm Tỳ Ni được giảm thuế, chỉ đóng một phần tám sản phẩm thu hoạch”.

    Đoàn chúng tôi làm lễ trước thạch trụ, tưởng niệm đến sự kiện đản sinh của đức từ phụ Thích Ca hơn 2500 năm về trước, nguyện cầu cho thế giới hòa bình, chúng sinh an cư lạc nghiệp và nguyện Phật pháp sẽ được trùng hưng nơi Ấn Độ, cái nôi của Phật giáo khắp cả năm châu.

    4. Hồ nước và cội Bồ Đề

    Cách trụ đá khoảng 50 m có một cái hồ nước vuông, bên cạnh hồ nước có một cây Bồ Đề rất lớn. Được tương truyền rằng, tại đây hoàng hậu Ma Da đã tắm trong hồ nước này sau khi lâm bồn. Chúng tôi thiết nghĩ, hồ nước này xưa kia chỉ là hồ đất, nhưng nay được xây dựng lại bằng xi măng và có các cấp bậc đi xuống đáy hồ một cách dễ dàng. Nước hồ trong xanh và mặt hồ yên tĩnh nên luôn phản chiếu các cảnh vật xung quanh, dù cách xa như ngôi nhà bao bọc khu khai quật phế tích hay những cành lá Bồ Đề vươn dài trên bờ hồ đều phản chiếu một màu xanh biếc dưới bầu trời trong yên ả. Ngồi dưới tàng cây Bồ Đề râm mát bên bờ hồ, chúng ta cảm thấy thật dễ chịu và nên thơ làm sao! Rất tiếc, chúng tôi không phải nhà thơ nên không thể xuất vài vần thơ làm kỷ niệm. Và rồi thời gian không cho phép nán lại lâu hơn nữa, đoàn chúng tôi tiếp tục lên đường đến Câu Thi Na (Kusinagar), nơi đức Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.

    Thích Phước Tiến

  4. #4

    Mặc định Chương 3: Bồ Đề Đạo Tràng

    BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG
    (Bodhgaya)


    1. Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) khởi nguyên đạo Phật


    Quang cảnh xung quanh tháp Đại Giác (Ảnh: Tâm Bửu)

    Bồ đề đạo tràng được xem là khu thánh địa thiêng liêng bậc nhất trong các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ và được sự quan tâm với lòng kính trọng đặc biệt đối với Phật tử và các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới. Bồ Đề Đạo Tràng nằm ở phía Nam thành Gaya, nước Ma Kiệt Đà (Magadha) thời Ấn Độ cổ đại, nay là vùng ngoại ô BodhGaya, cách thành phố Gaya khoảng 7 km về phía Nam bang Bihar, cạnh dòng sông Ni Liên Thiền (Niranjara).

    Vào thế kỷ thứ VI trước kỷ nguyên tây lịch, chính nơi đây đã xảy ra sự kiện trọng đại và chỉ xảy ra một lần duy nhất trong Hiền Kiếp đó là sự giác ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Bồ Tát Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhāttha) dòng họ Thích Ca (Sakyā), dưới cội cây Pippala, hay còn được gọi là cây Bồ Đề. Và từ một sự kiện trọng đại nhất mà trải qua nhiều đại kiếp mới xuất hiện trên thế gian, quý giá gấp trăm ngàn lần so với loài hoa linh thoại ngàn năm trổ hoa một lần, đó là người con Phật chúng ta có được diễm phúc tôn thờ đấng đại giác Thích Ca Mâu Ni nói riêng hay nhân loại thừa hưởng được một chân lý tuyệt vời, một niềm phúc lạc vô biên ngay tại cõi đời này nói chung.

    Giá trị nhất trong khu thánh địa này chính là ngôi Đại Tháp và cội cây Bồ Đề thiêng, nơi đức Phật thành đạo vẫn còn tồn tại mãi theo dòng chảy thời gian. Cho dù cuộc đời có đổi thay bao lần, sự cố tình tàn phá của những kẻ đối nghịch, sự biến thiên thăng trầm trong vũ trụ, thì những gì liên quan đến cuộc đời đức Phật vẫn còn lý do để tồn tại, để được biết đến như một báu vật trong tiến trình phát triển văn minh và văn hoá nhân loại. Vì lẽ đó, vào ngày 27 - 6 - 2003, UNESCO, một tổ chức văn hoá, xã hội, giáo dục của liên hiệp quốc chính thức công nhận Bồ Đề Đạo Tràng trong danh sách di tích văn hoá thế giới. Mặc dù đó cũng là niềm vinh dự lớn lao nhưng không là vấn đề quan trọng mà quan trọng nhất là chân giá trị Phật giáo, đạo Phật đã đóng góp được gì cho thế giới cho nền văn minh nhân loại, cho hạnh phúc của con người thì sự công nhận muộn màng đó có nghĩa lý gì đối với bề dày lịch sử của Phật giáo chúng ta!

    Hiện nay, khu Bồ Đề Đạo Tràng có diện tích khoảng 3 hecta đất, bao gồm nhiều thánh tích quan trọng như tháp Đại Giác, cội Bồ Đề, Bảo Toà Kim Cang, bảy nơi đức Phật ngự sau khi thành đạo, quần thể tháp cổ..... Và dường như Bồ Đề Đạo Tràng khu là thánh tích còn nguyên vẹn nhất so với tất cả những thánh tích khác liên quan đến Phật giáo.

    2. Tháp Đại Giác


    Mặt chính tháp Đại Giác (Ảnh: Tâm Bửu)

    Đại Tháp hay còn gọi là Tháp Đại Giác (Mahabodhi) nằm giữa khu đất trũng thấp hơn so với mặt đường khoảng 10m. Tuy vậy, từ xa chúng ta vẫn thấy ngọn tháp cao sừng sững, vươn lên khỏi các ngọn cây cổ thụ. Cho nên nếu nền tháp ngang bằng mặt đường thì chiều cao của tháp còn cao hơn nhiều so với chiều cao hiện tại. Với sự trũng xuống tại ngọn Tháp Chính (Main Stupa) người ta mới nói lên được ý nghĩa giác ngộ của Phật tại cõi đời này như hoa sen trong bùn hôi tanh mà vẫn ngoi lên khỏi mặt nước những đoá sen tinh khiết, thơm tho làm đẹp cuộc đời cả hương và sắc.Theo các nguồn tài liệu sử học, Bảo Tháp được vua A Dục xây dựng vào khoảng hơn 2 thế kỷ sau khi Phật nhập Niết Bàn, tức khoảng thế kỷ thứ III trước Tây Lịch để tưởng niệm nơi Thành Đạo của Phật Thích Ca. Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về lịch sử của ngôi Bảo Tháp này. Theo lịch sử Phật giáo thì khoảng 218 năm sau ngày đức Phật nhập diệt, vua A Dục đã đến đây chiêm bái và đảnh lễ. Sau đó Ông đã cho xây tháp để tưởng niệm nơi Đức Thế Tôn thành đạo.

    Căn cứ theo niên đại của những đồng tiền vàng trong số những di vật được chôn trước Kim Cang Tòa, chúng ta được biết ngôi đại tháp ngày này được xây dựng lại vào thế kỷ thứ II sau Tây Lịch, được tái tạo ngay trên nền tháp cũ do vua A Dục xây dựng và đặc biệt là ngôi tháp lẫn Kim Cang Tòa và cây Bồ Đề vẫn giữ nguyên vị trí cũ không thay đổi. Tháp này được quốc vương Bengal cho trùng tu vào thế kỷ VII, nhưng đến thế kỷ XII lại bị quân Hồi giáo phá hủy. Mãi đến thế kỷ XIV, các vương triều của xứ Miến Điện cho trùng tu lại, nhưng sau đó thì thiên tai, lũ lụt đã nhận chìm và kể từ đó khu thánh tích này bị chìm vào quên lãng. Vào năm 1861 ngôi đại tháp được nhà khảo cổ người Anh tên Alexander Cunningham phát hiện và đã tu sửa một lần. Đến năm 1875 vua Mindoon Min đã chịu toàn bộ kinh phí tiếp tục cho việc trùng tu đại tháp này. Hiện nay ngôi đại tháp có kiến trúc tương tợ hình kim tự tháp, vuông bốn cạnh và nhọn dần lên đỉnh, mỗi cạnh tại chân tháp có độ dài khoảng 15m, chiều cao là 52m. Bốn gốc đại tháp có bốn ngọn tháp nhỏ, kiểu dáng thu gọn từ đại tháp. Xung quanh thân tháp có nhiều hoa văn và mỗi hốc tường từ chân tháp lên đỉnh đều có tôn trí tượng đức Bổn Sư và chư vị Bồ Tát, đặc biệt là hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm theo truyền thống Kim Cang Thừa Tây Tạng.

    Tháp có nhiều tầng, riêng tầng trệt chu vi khoảng 5 mét vuông, phía trước chỉ có duy nhất một cửa ra vào, xung quanh không có cửa sổ hay lỗ thoát khí, tường thành rất dày gần một mét. Bên trong có tượng Bổn Sư ngồi kiết già trang nghiêm với tư thế xúc địa ấn, mặt quay về phía cửa ra vào. Hàng ngày có hàng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới trở về thăm viếng, đảnh lễ và cúng dường. Ngoài sự cúng dường tài vật hoa quả, những người Phật tử thuần tín còn cúng dường những bộ kim y để đắp lên tượng Phật. Vì nội điện chật hẹp lại có quá nhiều người chờ đợi nên ít khi nào chúng ta được ngồi lâu làm lễ tưởng niệm và ngắm nhìn chân dung của Phật. Từ bên trong cho đến bên ngoài khu đại tháp lúc nào cũng có những đoàn thể hoặc cá nhân tham quan, tụng kinh, lễ bái, tọa thiền hoặc đi kinh hành xung quanh đại tháp và cây Bồ Đề trong không khí trầm ấm, thanh tịnh, thiêng liêng với lời kinh nguyện cầu, tiếng lâm râm tụng chú ... mà không bị loãng bởi bất cứ một tạp âm nào. Một điều kỳ diệu đối với bất cứ ai được một lần dừng chân nơi đây, hoặc lễ bái, hoặc tụng kinh hoặc kinh hành, hoặc khởi lòng chánh tín đối với đức Phật chúng ta đều có chung một cảm giác an lành, một niềm hoan hỷ trào dâng, đó chính là sự gia trì của đức Phật cho hàng đệ tử của Ngài hay bất cứ những ai có một chút nghĩ tưởng đến ân đức của Phật.

    Vì vậy trong kinh Pháp Hoa đức Phật đã thọ ký cho mọi người có duyên với Ngài sẽ thành Phật cho dù đó là đứa trẻ ngịch cát hay những người lòng tán loạn cũng biết nghĩ tưởng đến Ngài: “ Nhược nhơn tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng nam mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo. Du chí đồng tử hí, tụ sa vi Phật Tháp, giai dĩ thành Phật đạo”. Nghĩa là: Nếu người lòng tán loạn, vào trong tháp miếu thờ Phật, chỉ cần xướng lên một câu niệm Phật, (họ) đều đã (có nhân tố) thành Phật. Cho đến trẻ con đùa giỡn, gom cát xây tháp Phật, đều đã (có nhân tố) thành Phật.

    Một dịp may hiếm có đối với chúng tôi chính là đến Bồ Đề Đạo Tràng vào dịp chư tăng ở các nước Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan.... trở về đây tụng đọc tam tạng thánh điển trong mười ngày, kể từ ngày 12/02 – 23/02/2008. Chính vì điều này nên Bồ Đề Đạo Tràng đã đẹp lại càng thêm rực rỡ bởi đèn trang trí khắp nơi, hoa kiểng được trưng bày thật trang nhã từ góc tường cho đến những nơi thờ cúng trong thánh tích, trông thật tuyệt vời và hoành tráng. Nhất là về đêm nơi Bồ Đề Đạo Tràng càng thêm lộng lẫy, thiền vị gây cho con người một niềm say mê, yêu thích, trút được bao nỗi niềm sầu muộn, khổ đau, dứt tất cả ưu tư và hoài nghi khi một lần được đảnh lễ hay ngắm nhìn kim thân của đấng cha lành, một trong những đấng cứu thế có mặt sớm nhất trong lịch sử tôn giáo thế giới.

    3. Linh thọ Bồ Đề


    Linh Thọ Bồ Đề phía sau tháp Đại Giác (Ảnh: Tâm Bửu)

    Chúng ta được biết đức Phật thành đạo dưới cội cây Pippala, loại cây linh thiêng trong tín ngưỡng truyền thống Ấn Độ bởi họ tin tưởng rằng loài cây này có nhiều thần linh trú ngụ. Vì đức Phật giác ngộ dưới cội cây Pippala nên chúng ta lấy sự kiện đó đặt tên cho loài cây này là Bồ Đề, nghĩa là cây giác ngộ. Chính tại dưới gốc cây này, đức Phật đã phát lời thệ nguyện: “Nếu không đạt thành chánh giác, dù cho thịt nát xương tan, ta quyết không đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi này”.

    Hình dáng của loại cây này rất dễ nhận diện nhờ vào chiếc lá hình quả tim. Loài cây này rất phổ biến, chúng ta đi khắp nơi trên đất Ấn chỗ nào cũng thấy bóng dáng của nó. Ngày nay loại cây này không còn lạ gì trong mắt người Việt Nam, nhất là người Phật tử, cây Bồ Đề luôn ẩn hiện trong lòng một cảm giác thiêng liêng, không phải bị ảnh hưởng bởi tín ngưỡng Ấn Độ mà vì nó liên quan đến từ ngữ đặc trưng trong Phật giáo: Bồ Đề - Giác Ngộ. Mặc dù vậy nhưng không có một cây Bồ Đề nào trên đất Ấn hay trên mọi miền thế giới có giá trị từ tâm linh đến lịch sử như linh thọ Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, vì nó chính là hậu thân nhiều đời từ cây thủy tổ, cây đã từng che mưa đỡ nắng trong suốt bốn mươi chín ngày đêm trước khi đức Phật giác ngộ.

    Cội cây Bồ Đề này cũng chịu đựng biết bao sóng gió để tồn tại, như chính con người chúng ta cũng phải chống chọi với biết bao gian khổ để tìm sự sống cho mình. Dù là một loài cây nhưng phải hội đủ những yếu tố cần thiết mà trong đó không thể thiếu được tình cảm của con người dành cho nó. Nếu không có bàn tay yêu thương chăm sóc của con người thì làm gì có cây Bồ Đề hôm nay để có một giá trị tín ngưỡng thiêng liêng và sức lôi cuốn mãnh liệt đối với người con Phật hay hàng triệu người từ khắp nơi trên thế giới đổ xô về Bồ Đề Đạo Tràng để chiêm ngưỡng cội cây đặc biệt này.

    Để thấy được tầm quan trọng của cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về lịch sử cây Bồ Đề này.

    Cội Bồ Đề cách nay hơn 2500 năm che mưa nắng cho đức Thế Tôn ngày nào không còn nữa. Giờ đây chỉ là cây kế thừa ít nhất là 5 đời được tính từ cây thủy tổ theo tài liệu của tiến sĩ Schumann và khoảng 7 - 11 đời theo một số tài liệu nghiên cứu khác. Do đó có nhiều giả thuyết khác nhau về lịch sử cây Bồ Đề, nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều là cội cây này vẫn là cháu chắt nhiều đời từ thủy tổ của nó. Cây Bồ Đề nguyên thủy vẫn còn sống đến thời của vua A Dục (Asoka) và được nhà vua xây rào bảo vệ. Bên cạnh đó Ông đã nhân rộng cây quý này bằng cách chiếc nhánh của nó gửi tặng cho vua Tích Lan (Devanampiya Tissa), trồng tại thành phố cổ Anuradhapura vào năm 242 trước kỷ nguyên Tây lịch.

    Vua A Dục chăm sóc cây Bồ Đề này rất cẩn thận. Hàng ngày vua đến thăm cây Bồ Đề với cả lòng ưu ái và kính trọng xem như một báu vật quốc gia vì quá sùng kính đức Thế Tôn. Do lòng ghen tỵ, quý phi diễm lệ của A Dục tên là Tisyaraksita, đã hạ lệnh lén chặt cây Bồ Đề và thiêu hủy nó, bởi bà tưởng rằng trong cây ấy có loại tiên nữ nào đã làm mê muội nhà vua mà Ông phải dành nhiều thời giờ quan tâm đến cây ấy hơn bà.

    Vua A Dục đã trồng lại cây Bồ Đề từ nhánh cây được chiết ở Tích Lan đem về. Lần này nhà vua chăm sóc cây rất cẩn thận, Ông cho xây bức tường thành cao 3m để bảo vệ.

    Việc phá hủy cây Bồ Đề lần hai do vua Sasanka xứ Ganda (Bengal), trị vì khoảng năm 600 – 620, vì lý do tôn giáo. Vua Sasanka theo ngoại đạo nên không thích Phật giáo. Ông đã truyền lệnh đốn cây thiêng này đồng thời đem đốt toàn bộ gốc rễ làm cho tuyệt giống cây này.

    Đến cuối thế kỷ VIII vua Purnaverma của Maghada, người nối dõi cuối cùng dòng vua Asoka, Ông đã trồng lại cội Bồ Đề. Vua thành khẩn cầu nguyện và chăm sóc cây Bồ Đề cẩn thận, mong nó được tốt tươi và phát triển nhanh. Ngoài ra, Ông còn cho xây bức tường cao khoảng 7,5m để bảo vệ, tránh đi sự phá hủy của kẻ xấu.

    Sự phát triển và tươi tốt của cội cây thiêng này đến khi quân đội Hồi giáo xâm chiếm Ấn Độ vào năm 1201 thì bị phá huỷ. Chính vì chiến tranh tôn giáo của kẻ cuồng tín và cực đoan trong nhận thức, nên họ đã phá hủy toàn bộ thánh tích Phật giáo, trong đó ngôi Đại Tháp và cây Bồ Đề cũng chịu chung số phận hoại diệt dưới tay của kẻ xâm lăng bạo tàn. Mặc dù vậy, chân lý vô thường sinh diệt của đạo Phật đã được minh chứng qua sự kiện hồi sinh của cây Bồ Đề. Ngay nơi gốc cây đã bị tàn phá, một chồi non đã nhú lên và phát triển nhanh chóng, cành lá sum suê, như báo hiệu một niềm hạnh phúc đã trở về trên quê hương Phật giáo. Nạn kiếp trôi qua, vạn vật cũng như con người trở lại sống trong chuỗi ngày thanh bình, như chính thuở nào họ đã thừa hưởng được cuộc sống hạnh phúc, an lành trong ánh đạo từ bi của Phật giáo.

    Đến năm 1875, cây Bồ Đề bị khô chết và trong một cơn bão sau đó, cội Bồ Đề đã bị cuốn phăng đi, kết thúc một giai đoạn cho sự tồn tại và phát triển của cây này. Về sau cũng chính nơi đó chồi non lại tiếp tục nảy nở và phát triển, sự sống vẫn được liên tục kế thừa từ mạch sống của cây Bồ Đề tổ tiên. Cội Bồ Đề này đã lớn lên và phát triển đến ngày nay, được tính trên 130 tuổi, cách tháp chính khoảng 5m. Mặc dù trải qua nhiều lần sinh diệt, nhưng vị trí ngày hôm nay so với gốc cây ban đầu vẫn không có sự thay đổi chuyển dịch, vẫn định vị như gốc cây nguyên thủy mà hơn 2500 năm về trước nơi mà nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta đã giác ngộ thành Phật.

    Theo định nghĩa thực vật học, cây Bồ Đề là "ficus religiosa" nghĩa là biểu tượng cho trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật, nên gọi là "cây giác ngộ," hoặc thường được gọi là "cây Bồ Đề." Thực ra, các nhà thực vật học xác tính tuổi thọ của loại cây này chỉ trên dưới 300 năm. Do đó, nếu không có sự hủy hoại của những thế lực ngoại đạo hay lòng hiềm thù cá nhân của một ai đó thì tự thân của loại cây này cũng phải tự diệt tự sinh theo một quy luật của nó mà thôi. Cần biết thêm một điều, cây Bồ Đề là cây có khả năng ký sinh, nghĩa là có thể sống và phát triển trên một hốc cây mục nào đó, hoặc ngay nơi thân cũ của nó. Hầu như quá trình kéo dài hàng ngàn năm cho sự tồn tại và phát triển, thì các chồi non của chính nó, sẽ lấy dưỡng chất từ thân cây mẹ nuôi dưỡng cây mới và cây cũ sẽ chết trong một hình thái bị bao bọc và che kín dần của cây mới tức cây con của nó. Đó là quy trình sống của loài cây đặc biệt này, loài cây có khả năng sống mãnh liệt và dễ thích nghi dù bất cứ môi trường khắc nghiệt nào. Nơi nào có sự sống thì nơi đó cây Bồ Đề có khả năng tồn tại, cũng giống như nơi nào có chúng sanh nơi đó có mặt đạo Phật, nơi đó cần được cứu khổ.

    4. Bảo Tòa Kim Cang (Vajrasana)

    Bảo tòa Kim Cang là vị trí đức Phật ngồi nhập định 49 ngày đêm dưới cội cây Bồ Đề, khoảng cách nằm giữa Đại Tháp và cội Bồ Đề. Theo lịch sử Phật giáo thì tòa này được vua A Dục xây vào khoảng thế kỷ thứ III trước Tây Lịch. Ngày nay tòa Kim Cang được bảo vệ trong một hàng rào xi măng có lối kiến trúc cổ và thêm một hàng rào có trụ bằng kim loại mạ vàng do Tích Lan xây dựng bao quanh rất trang nghiêm.

    Thật ra, ngày xưa đức Phật không phải ngồi tịnh tu trên một bảo tòa sang trọng và uy nghiêm như chúng ta được nhìn thấy từ các bức tượng mà Ngài ngồi trên một bó cỏ khô được trải trên đất. Vị trí này đã làm sáng ngời lên một chân lý từ một con người khổ hạnh vĩ đại trở thành một vị Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sākyamuni), giống như lời huyền ký của quá khứ Phật Tỳ Bà Thi từ 91 kiếp về trước. Bằng sự nỗ lực thiền định trong 49 ngày đêm, vào đêm cuối, khoảng canh đầu, tuệ giác được sáng ngời lên trong tâm trí từ sự quán chiếu về lý duyên khởi, Ngài chứng được Túc Mạng Minh, thấy rõ luân hồi tái sanh của chính mình và chúng sinh từ vô lượng kiếp về trước đã từng sanh đi tử lại như thế nào, đã từng làm loại chúng sanh nào trong quá khứ... Sang canh giữa, Ngài chứng được Thiên Nhãn Minh, thấy rõ con đường tái sanh của chính mình và tất cả chúng sanh trong tương lai nên còn gọi là sanh tử minh. Đến canh cuối Ngài chứng được lậu tận minh, đoạn tận vô minh, chấm dứt mọi nhân tố tái sinh, thấy rõ khổ nguyên nhân đưa đến đau khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau. Khi sao mai vừa ló dạng, Ngài thấu triệt toàn thể vũ trụ, giác ngộ hoàn toàn, chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức thành Phật, đã khởi nguồn cho một đạo Phật xuất hiện trên thế gian. Bài kệ xướng lễ tóm tắt trọn vẹn sự kiện đặc biệt này trong bốn câu: “Bồ đề thọ hạ, hàng phục ma quân, nhất đổ minh tinh, đạo thành chánh giác”. Nghĩa là: dưới cội Bồ Đề, nhiếp phục ma quân, thấy ánh sao mai, giác ngộ thành Phật. Lúc đó vào ngày rằm tháng 12 âl, Ngài vừa tròn 30 tuổi theo Bắc Truyền và Nam Truyền vào ngày trăng tròn Vesak, tức khoảng rằm tháng tư âl, Ngài được 35 tuổi.

    5. Bảy nơi đức Phật ngự sau khi thành đạo


    Nơi Phật thiền hành vào tuần thứ ba sau khi giác ngộ

    Xung quanh khu đại tháp có những tấm bảng xác định vị trí bảy nơi mà đức Phật đã ngồi để suy tưởng chánh pháp và chuẩn bị cho con đường hoằng pháp của mình.

    Tuần đầu tiên sau khi giác ngộ, Ngài vẫn ngồi yên tịnh tại vị trí cũ để thọ hưởng sự tịch tịnh giải thoát mà Ngài đã khổ công tìm kiếm, chút nữa là phải bỏ mình để trả giá cho cuộc tìm cầu chân lý vĩ đại này.

    Tuần thứ hai Ngài rời khỏi cội Bồ Đề di chuyển đến hướng Đông Bắc cách cội Bồ Đề không xa để ngắm nhìn lại nó suốt cả tuần không hề chớp mắt nhằm tỏ lòng tri ân cội cây này đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian qua.

    Tuần thứ ba, Ngài thiền hành tại dãy Chankramenar, dọc theo hành lang phía Bắc của đại tháp. Trên hành lang này có khối đá dài khắc biểu tượng hoa sen, chính là những đóa hoa kỳ diệu hiện ra đỡ chân đức Phật khi Ngài kinh hành lui tới trong phạm vi này.

    Tuần thứ tư, tại đền Ratnagraha, đức Phật đã ngồi thiền để suy tưởng về những pháp cao thượng. Lúc đó toàn thân Ngài phóng ra những luồn hào quang năm màu rực rỡ: xanh, vàng, đỏ, trắng, cam. Từ sự kiện đặc biệt này, ông Henry Steel Olcott đã lấy năm màu này phối hợp cho lá cờ Phật giáo, trở thành màu đặc trưng tiêu biểu cho lá cờ Phật giáo quốc tế.

    Tuần thứ năm, sau đó đức Phật đã đến ngồi dưới tàng cây Nigrodha. Ngày nay vị trí này đối diện với đại tháp gần cổng ra vào. Trong lúc đang ngồi thiền định có một vị Bà La Môn đến hỏi Phật: “Này tôn giả Cồ Đàm, làm thế nào để trở thành một Phạm thiên và những điều kiện nào để trở thành Phạm Thiên?”. Đức Phật đáp: “Này Bà La Môn, người nào đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, không còn ngã mạn, đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu thúc lục căn, thông suốt các pháp học, sống đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là Phạm Thiên. Đối với người ấy không còn có sự bồng bột, dầu vẫn đang ở bất cứ nơi nào trên thế gian”.

    Tuần thứ sáu đức Phật ngồi thiền tại bờ hồ Mucalinda thuộc hướng Nam của đại tháp. Lúc ấy mưa to sấm chớp nổi lên, rồng chúa Mucalinda hiện ra lấy thân quấn xung quanh thân Phật và dùng đầu làm tàng lọng che cho Phật khỏi bị mưa gió làm ướt.

    Tuần thứ bảy, đức Phật ngồi thiền định dưới cội cây Rajayatana. Lúc đó có hai vị thương gia Tapussa và Bhallika người Miến Điện đi ngang qua thấy đức tướng trang nghiêm của Phật, hai vị này khởi tâm cung kính nên dâng bánh bột gạo và mật cúng dường Ngài. Đức Phật đã ban tặng cho hai vị thí chủ này những lời cầu chúc an lành cùng với một nhúm tóc của Ngài để làm kỷ niệm. Hai vị này được xem là hai vị cư sĩ đầu tiên cúng dường đức Phật sau ngày thành đạo.

    Sau tuần thất thứ bảy này đức Thế Tôn tư duy về pháp mà Ngài vừa chứng ngộ, đồng thời quan sát căn tánh chúng sinh để chuẩn bị cho cuộc chuyển bánh xe chánh pháp, vì lợi lạc cho chư thiên và loài người.

    Thích Phước Tiến

  5. #5

    Mặc định Chương 3: Bồ Đề Đạo Tràng (tt)

    6. Sông Ni Liên Thiền (Niranjara)


    Lòng sông Ni Liên Thiền (Niranjara) (Ảnh: Tâm Bửu)

    Cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 200 m về hướng Đông có một con sông cạn chạy dài dọc theo hướng Đông Bắc - Tây Nam hiện nay được người dân địa phương gọi là sông Lilajan, tức là sông Ni Liên Thiền (Niranjara), nơi mà có vài sự kiện trọng đại liên quan đến cuộc đời của đức Thế Tôn được diễn ra trước khi đắc đạo. Trải qua sáu năm khổ hạnh tại rừng Uruvela, thân thể đã kiệt quệ chỉ còn da bọc xương nhưng Ngài vẫn chưa nhận ra được đạo giải thoát. Đức Phật đã diễn tả lại cảm giác của mình và cả sự thất vọng cũng như nghi ngờ trong đường lối tu khổ hạnh được nhắc đến trong kinh Trung Bộ: “Bất cứ Sa Môn, Bà La Môn nào từng có những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, khủng khiếp cũng không thể vượt qua khổ thọ này của ta. Tuy thế, với khổ hạnh vô cùng khắc nghiệt này, ta vẫn không đạt được tối thượng cứu cánh của nỗ lực trượng phu, đó là tri kiến thù thắng, trí tuệ của bậc thánh. Vậy có thể có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ hay chăng!?”

    Sau khi sức cùng lực kiệt, không còn có thể đứng vững hay dời bước chân của mình được nữa, Ngài được nàng Su Dà Ta dâng cúng bát cháo sữa rất kịp lúc. Sau khi dùng bát cháo sữa xong, cảm thấy cơ thể khỏe mạnh trở lại, Ngài đã nhận ra đạo lộ của bậc thánh chính là con đường trung đạo và Ngài đến bờ sông Ni Liên Thiền ném bát sữa xống dòng nước với lời khấn nguyện rằng: “Nếu ta sẽ đạt được giác ngộ rốt ráo thì cái bát này hãy trôi ngược dòng sông”. Quả nhiên, khi cái bát vừa chạm mặt nước thì nó liền trôi ngược dòng. Lúc ấy Ngài khẳng định rằng con đường mình chọn là đúng đắn và quyết chắc rằng sẽ thành Phật. Ngài bước xuống dòng sông này tắm rửa sạch sẽ và vượt qua bên kia bờ tìm chỗ hạ thủ công phu theo con đường mà mình vừa nhận ra. Trên đường đến nơi quyết định chọn làm chỗ công phu bằng cả bầu nhiệt huyết cuối cùng, Ngài có nhận bó cỏ Kusa do chàng thanh niên chăn bò dâng cúng để làm tòa ngồi tu dưới cội cây Tất Bát La (Pippala), tức linh thọ tại Bồ Đề Đạo Tràng hôm nay. Cũng từ việc nhận bát cháo sữa của nàng Sujāta và tắm rửa, đức Phật đã bị năm người bạn đồng tu khổ hạnh xem thường và họ đã bỏ đi đến vườn Lộc Uyển xứ Ba La Nại tiếp tục con đường khổ hạnh, cách Khổ Hạnh Lâm (Uruvela) khoảng 200 km.

    Trước mắt chúng ta dòng sông Ni Liên Thiền không có nhiều nước, lòng sông bằng phẳng, rất nhiều cát và độ sâu khoảng 5 tấc nước từ đáy sông. Vào những mùa khô dòng sông này có những đoạn không còn một chút nước nào. Và chúng ta có thể đoán chắc rằng, lòng sông này cạn không phải qua thời gian bị đất cát lắp bồi mà từ mấy nghìn năm về trước nó vẫn như thế, bởi vì đức Phật đã vượt bộ ngang con sông này để đến Bồ Đề Đạo Tràng.

    Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ bắt ngang sông này một cây cầu, nên chúng ta rất dễ dàng qua lại các khu thánh địa xung quanh vùng Bồ Đề Đạo Tràng. Từ trên cầu chúng ta có thể nhìn thấy được một số thánh tích như, chót tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng, núi tượng đầu nơi đức Phật từng tu khổ hạnh.... và cuộc sống cũng như nếp sinh hoạt của toàn thể cư dân quanh vùng, đâu đó cũng phản ánh được thực tại của đời sống người dân nông thôn trên toàn lãnh thổ Ấn Độ.

    7. Nơi kỷ niệm nàng Su Già Ta (Sujāta)


    Nơi kỷ niệm mục nữ Su Già Ta (Sujāta) (Ảnh: Tâm Bửu)



    Đoàn chúng tôi có ghé thăm một ngôi làng tên là Su Già Ta (Sujāta), cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 5km. Tại nơi này có một ngôi trường làng dành cho học sinh nghèo cũng tên là Su Già Ta thuộc đạo Hindu. Bên cạnh trường học có một ngôi mộ cổ bằng gạch nung rất lớn, đường kính khoảng 20m, cao khoảng 10m, được rào bảo vệ xung quanh, hình dáng giống như tháp Trà Tỳ của Phật, được các nhà khảo cổ khai quật vào năm 2002. Người ta cho rằng, ngôi mộ này là tháp tưởng niệm nàng Su Già Ta, do vua A Dục xây dựng trên ngôi nhà cũ của nàng. Từ địa điểm này, đi bộ ngang qua một cánh đồng nhỏ khoảng 1, 5 km, chúng tôi đến một ngôi đền nhỏ thờ nàng Su Già Ta, người thôn nữ năm xưa đã dâng bát sữa cúng dường đức Thế Tôn trước ngày thành đạo, một trong hai bữa ăn được đức Phật cho là công đức lớn nhất trong suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài. Ngôi đền này do Phật giáo Miến Điện xây dựng để tưởng niệm người thôn nữ ấy vào năm 1983. Bên trong, trên bệ thờ chỉ có hình tượng đức Phật và tượng người con gái đang quỳ dâng sữa cho đức Thế Tôn, đây là hình ảnh mà chúng ta được biết qua các tranh ảnh nghệ thuật Phật giáo ở Việt Nam. Chuyện được kể rằng: Tại ngôi làng nhỏ sát cạnh khu rừng có gia đình một anh chăn bò, cô vợ tên Tu Già Ta (Sujāta). Nàng rất sung sướng vừa mới sinh được cháu trai đầu lòng. Cô dùng sữa thơm ngon nhất vắt từ những con bò của anh chồng chuẩn bị nấu một bữa ăn thịnh soạn để mang vào rừng dâng cúng đền ơn cho những vị thần đã giúp cho cô sinh được một đứa con khỏe mạnh.

    Khi vào trong rừng, cô thấy sa môn Tất Ðạt Ða đang ngồi ở đó. Thân hình của đạo sĩ trông ốm gầy và yếu đuối, nhưng nét mặt của Ngài vẫn trong sáng và dung nghi toát lên vẻ phi thường. Nàng Su Già Ta nhìn sa môn với sự ngạc nhiên, cô thầm bảo: “Xưa nay ta chưa bao giờ thấy nhân vật nào phước tướng như thế, có thể Ngài chính là vua của các thần cây ở đây!” Và nàng mang thức ăn đặc biệt ấy đến dâng cúng cho Người. Từ sự kiện này người ta tạc hình tượng một người thôn nữ đang quỳ dâng sữa cúng dường đức Thế Tôn.

    Hướng ngược lại sau lưng ngôi đền này, cũng có bệ thờ hình một người con gái dáng vẻ quý phái với một người hầu gái dang quỳ dâng sữa cho đức Phật. Hình ảnh thứ hai này được giải thích như sau: Nàng là con gái của một điền chủ tại làng Senānī, gần Uruvelā. Nàng vốn từng cầu nguyện với một vị thần cây rằng nếu sinh được con trai nàng sẽ dâng cúng cháo sữa cho vị thần ấy. Khi nguyện ước được thành tựu nàng bèn sai một tỳ nữ có tên là Punna sửa soạn nơi dâng cúng. Người hầu gái của nàng Su Già Ta ngang qua khu rừng, nhìn thấy dung nghi lạ thường của nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta, nghĩ rằng đó là vị trời hay các bậc thánh, nên chạy về nhà báo cho chủ hay để chuẩn bị bữa ăn cúng dường. Vì thế sau khi chuẩn bị xong nàng Su Già Ta cùng với người hầu của mình đến tận nơi để dâng cúng đức Phật. Dựa vào sự ghi chép này nghệ nhân đã tạc tượng hai người con gái quỳ dâng sữa cúng dường đức Phật.

    Dù sao, sự kiện người thôn nữ tên Su Già Ta dâng cháo sữa cúng dường nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta trước khi thành đạo là một sự thật lịch sử mà không ai có thể phủ nhận, là những điều mà chúng ta lấy làm tiền đề cho phước đức của phương pháp bố thí, là nền tảng cho lòng nhân ái và đại từ bi, được thể hiện cao đẹp trong đời sống nhân đức của người Phật tử, là phép tu đầu tiên trong lục độ vạn hạnh, Bố Thí Ba La Mật của chư Bồ Tát muốn phát đại thệ nguyện để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh trên cõi đời này.

    8. Núi Tượng Đầu và Khổ Hạnh Lâm


    Núi tượng đầu nhìn từ xa (Ảnh: Tâm Bửu)


    Khu khổ hạnh lâm (Ảnh: Tâm Bửu)

    Núi tượng đầu cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 8 km bằng lộ xe, nơi mà xưa kia đức Phật với nhóm năm anh em Kiều Trần Như (Kondañña) cùng tu khổ hạnh trong rừng Uruvela, nên khu rừng này còn có tên là khổ hạnh lâm, tức khu rừng của những người tu khổ hạnh. Từ xa quan sát, chúng ta thấy trên đỉnh núi này có những mô đá nối dài giống như hình hai con voi đang nằm đâu đầu với nhau, nên người ta gọi tên núi này là núi tượng đầu (núi đầu voi).

    Đức Phật đã trải qua sáu năm trường gian khổ tại khu rừng này. Sự tinh tấn miệt mài thực hiện con đường khổ hạnh được những người bạn đồng tu đương thời phải thán phục và thần tượng một hình ảnh vĩ đại đáng để noi gương. Ngài nghĩ có thể đạt đến sự giác ngộ bằng cách khổ luyện, chế ngự mọi cảm thọ, kìm hãm mọi nhu cầu của thân xác, với niềm hy vọng rằng một khi đã làm chủ được ham cầu của thân xác thì tâm sẽ được giải phóng khỏi sự thống trị của vật chất để đạt đến mức độ giải thoát cao siêu. Quá trình tu khổ hạnh đưa đến cho ngài một kết quả thật thê thảm, một thân xác tiều tụy, héo mòn gần như không còn chút sức lực để có thể duy trì được mạng sống lâu hơn nữa.

    Đức Phật đã mô tả lại điều này trong kinh Trung Bộ: “Vì ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể ta hết sức gầy yếu. Tay chân ta như các lóng tre khô đầy khúc khuỷu. Hai bàn tọa của ta trở thành giống như mống trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn ta lộ rõ như rui cột của một ngôi nhà đổ nát. Đồng tử của ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ đáy giếng sâu. Da đầu ta khô héo nhăn nheo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng khô héo. Nếu ta muốn sờ da bụng thì ta đụng nhằm xương sống vì hai thứ đã dính sát vào nhau. Nếu ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện thì ta ngã úp mặt xuống đất. Nếu ta chà xát tay chân thì đám lông hư mục rụng xuống trong tay ta”. Giờ đây chúng ta không thể hình dung được rằng xưa kia đức Thế Tôn vẫn duy trì mạng sống với một thân thể da bọc xương như thế. Khi đọc qua đoạn kinh trên, chúng ta cứ ngỡ rằng đó là một bộ xương khô biết di động mà thôi!


    Tượng Phật khổ hạnh thờ trong hóc đá, kỷ niệm nơi Ngài ngồi tu.
    Ảnh: Tâm Bửu

    Chúng tôi đến thạch động, nơi mà nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta đã ẩn cư sáu năm tu hành. Thạch động nằm lưng chừng núi, không cao lắm, cách mặt đất khoảng 120 mét. Bên ngoài thạch động có khoảng trống rộng, có thể dung chứa được vài chục người, mọi người có thể tập trung để hành lễ. Muốn vào bên trong chúng ta phải chui qua một cái cửa bằng đá khoảng 1,2 m chiều cao, ngang khoảng 7 tấc. Bên trong rất tối chu vi nhỏ hẹp, khoảng 3m chiều ngang, 5m chiều dài, cao khoảng 2m, trong đó có một bệ đá, trên bệ đá thờ tượng Phật khổ hạnh, thân xác ốm gầy chỉ còn da bọc xương. Nhìn hình ảnh này chúng ta rất cảm động khi nhớ lại những tháng ngày gian khổ của đức Thế Tôn, Người đã vì đạo, vì muốn tìm đường cứu khổ chúng sanh mà phải quên mình. Nhiều người òa khóc thành tiếng, hoặc trào lệ từng giọt lăn dài trên má, thì thầm trong miệng những lời xót xa hoặc chắt lưỡi, hít hà khi quỳ lạy trước tôn dung của Ngài. Thật là một hình ảnh đầy ấn tượng không chỉ đối với người con Phật mà đối với bất cứ những ai biết suy nghĩ yêu thương đồng loại, biết nghĩ đến nỗi buồn nhân thế.

    Ngày hôm nay cuộc sống mọi người nơi đây cũng phản ánh được phần nào đời sống khổ hạnh của Phật, bởi có quá nhiều người nghèo đói đang sinh sống, phần lớn họ nhờ vào những đồng tiền van xin nơi lòng thương hại của khách hành hương ban bố. Và có thể nói, chưa có nơi nào trên suốt đoạn đường đi tham quan có số lượng người nghèo khổ và ăn xin nhiều như khu Khổ Hạnh Lâm này. Chúng tôi có cảm giác mảnh đất lịch sử đầy kỷ niệm này, không chỉ làm nao lòng chúng ta bởi sáu năm trường khổ tu của Phật, mà cả một quãng thời gian dài hàng mấy nghìn năm sau đó chỉ để chứng kiến từng hơi thở mệt mỏi và giọt nước mắt khổ đau, những mảnh đời bất hạnh, làm cho ai cũng phải chạnh lòng buông tiếng thở dài khi tận mắt chứng kiến: thế kỷ XXI vẫn còn tồn tại một cuộc sống thiếu văn minh, thiếu vật chất, thiếu những điều kiện tối thiểu, và thiếu cả tình thương, sự quan tâm chia sẻ của mọi người. Chúng tôi thiết nghĩ bao giờ có trái tim từ bi như đức Phật mới thật sự dung chứa và san sẻ hết bi kịch này.

    Thích Phước Tiến

  6. #6

    Mặc định Chương 4: Lộc Uyển

    LỘC UYỂN
    (Sarnath, nơi chuyển bánh xe pháp đầu tiên)


    1. Khái quát ý nghĩa và xuất xứ của Lộc Uyển


    Vườn Nai ở Sarnath

    Lộc Uyển hay còn gọi là Lộc Dã Uyển (Migadāya), nghĩa là Vườn Nai, cách thành phố Ba La Nại (Benares) khoảng 12 km, nơi đức Thích Ca Mâu Ni chuyển bánh xe pháp đầu tiên, thuyết về bốn chân lý cho năm anh em Kiều Trần Như (Koddañña), nhóm đồng tu khổ hạnh trước khi Ngài giác ngộ dưới cội Bồ Đề. Chính nơi đây đã khởi đầu cho việc thành lập Tăng đoàn và từ Tam Bảo cũng xuất xứ từ di tích lịch sử trọng đại này. Ngoài danh xưng Migadāya kinh điển Pāli thường gọi nơi này la Isipatana nay thuộc Sarnath, nghĩa là chổ trú ẩn của các vị ẩn sĩ hay còn gọi là chư tiên đọa xứ, nơi hội ngộ của các vị tiên nhân hay nơi đánh dấu sự ra đời của các vị Độc Giác Phật, đồng thời cũng là khu vườn yên tĩnh dành cho các vị ẩn sĩ tu hành. Các loài thú hiền lành đặc biệt là loài nai sinh sống yên ổn, ngây thơ, thanh bình giữa thiên nhiên hoang dại. Đó chính là nhờ sự bảo hộ của vua xứ Ba La Nại, người đã cấm không được săn bắn, quấy rầy các loài cầm thú nơi này.

    Tên gọi Lộc Uyển xuất xứ từ một truyền thuyết được kể lại trong Bổn Sanh Kinh, nói về tiền thân của đức Phật và Đề Bà Đạt Đa là nai chúa của hai đàn nai sống trong khu vườn này. Vì để cứu mạng cho một con nai đang mang thai đến lượt phải dâng mạng cho bữa ăn của nhà vua, nên nai chúa của đàn kia, chính là tiền thân của đức Phật, chịu chết thay để cho hai mẹ con ấy được sống bình an. Vì cảm phục tấm lòng thương yêu bầy đàn, mà loài súc vật cũng có tình cảm lớn như thế, một trái tim yêu thương không khác loài người, nhà vua tha mạng cho tất cả loài nai được sống an toàn. Từ sự kiện đó, danh xưng Lộc Uyển thật xứng hợp với nơi cảnh trí thần tiên xứ Ba La Nại. Cho dến thời đức Phật, nơi này vẫn là chỗ trú thân an toàn của loài sinh vật hiền lành này. Thậm chí đến ngày hôm nay, khi đến tham quan khu Lộc Uyển, chúng ta vẫn thấy nhiều giống nai khác nhau, sống quây quần bên nhau một cách an lành.

    Lộc Uyển là khu vườn nằm trong xứ Ba La Nại, một thành phố cổ tọa lạc cạnh lưu vực sông Hằng, một thời đã đạt đến đỉnh cao về kiến trúc và kinh tế, đặc biệt là hàng tơ lụa kashi. Tại nơi này, bài pháp đầu tiên mở đầu cho công cuộc hoằng pháp của đức Phật chính là Tứ Diệu Đế, chân lý của Phật giáo cũng là một thông điệp cứu khổ cho mọi sinh linh đang lặn hụp trong biển đời sanh tử. Vì vậy, chúng ta không còn xa lạ gì khi thấy biểu tượng bánh xe chánh pháp nằm giữa hai con nai, đó là tóm tắt cho ý nghĩa việc sơ chuyển bánh xe pháp tại vườn nai.

    Khu thánh địa lịch sử trọng đại này, ngoài sự biến hoại theo không gian, thời gian, nó còn chịu sự hủy phá không thương tiếc của những đế chế không tin Phật giáo và những kẻ xâm lược bạo tàn. Mặc dù chúng ta không thấy được hết vẻ uy nghi tráng lệ từ lầu cát, tu viện cho đến cảnh trí của một thời vàng son Phật giáo, nhưng những dấu vết của nền móng cổ xưa, nhiều tượng Phật cổ, những di tích xưa … vẫn nằm im lìm chờ đợi sư hồi sinh trong một thời gian gần hoặc xa, được tìm thấy dưới lớp đất sâu, mà sau năm tháng gió bụi thời gian và bão cát lấp vùi.

    Không chỉ là thời Phật còn tại thế, vào thế kỷ V, vẻ uy nghiêm của các tu viện, sự đông đúc của các tăng sĩ Phật giáo và du sĩ Bà La Môn đã được nhà chiêm bái Pháp Hiển ghi lại như sau: “Thuở đó, Lộc Uyển có hai ngôi tự viện với nhiều tăng sĩ tu học và bốn tháp lớn”. Vào thế kỷ VII năm 629, trong Đại Đường Tây Vực Ký, Ngài Huyền Trang mô tả một cách chi tiết hơn : “Tại đây có khoảng 30 ngôi tự viện với trên 3.000 tăng sĩ tu học theo trường phái chánh lượng bộ. Bên cạnh những tăng sĩ Phật giáo cũng có khoảng 10.000 du sĩ Ấn giáo đang tu tập khổ hạnh quanh vùng”. Điều đó đủ chứng tỏ sức sống tâm linh mãnh liệt của người dân Ấn Độ nói chung hay cộng đồng Phật giáo nói riêng, đã phát triển mạnh mẽ trên vùng đất màu mỡ tín ngưỡng và khu thánh địa thiêng liêng này.

    Những gì còn sót lại trong vùng khảo cổ được tìm thấy như là: các bức tường gạch nằm ngang dọc của các tu viện; tháp Dhamek, được tương truyền là nơi đức Phật phó chúc cho Bồ Tát Di Lặc; trụ đá A Dục Vương, chứng tích hùng hồn khẳng định vị trí Phật giáo trong cách nhìn của các nhà học giả và tôn giáo học phương Tây; tịnh xá Kittoe, tên của một người đã đốc xuất công trình khai quật thánh địa Sarnath vào năm 1934; tháp Sri Dharmarajika, bên trong được tôn thờ xương cốt của Phật hay các vị thánh tăng; tháp Choukhanda hay Chaukhandi, nơi hội ngộ giữa đức Phật và những người bạn đồng tu, sau khi Ngài thành đạo….. Với sự giới hạn của việc chiêm bái thánh tích, chúng ta chỉ tìm hiểu một vài sự kiện trọng đại liên quan đến các di tích này mà thôi.

    2. Phế tích các tu viện thời xa xưa

    Trước hết, chúng ta tìm hiểu về những bức tường ngang dọc được xác định là vết tích của các tu viện thời đức Phật và sự phát triển không lâu sau này. Đoàn chúng tôi đi rảo quanh những bức tường, những nền gạch cũ nằm ngang dọc còn sót lại. Khi mới nhìn vào, chúng ta không thể hình dung được nó là cái gì, nếu không được sự hướng dẫn và nghiên cứu trước. Chính nơi này đã đánh dấu sự kiện lịch sử trọng đại, nơi mà đức Phật đã trải qua mùa an cư đầu tiên; những khu nhà cho tăng chúng lưu trú tu hành, khu pháp đường dành cho đức Phật thuyết pháp… bây giờ chỉ là những nền gạch ngang dọc, đổ nát rêu phong, đang được bảo vệ và duy trì của cộng đồng Phật giáo và các tổ chức bảo vệ di tích lịch sử thế giới.

    3. Tháp Dhamek


    Tháp Dhamek (Ảnh: Tâm Bửu)

    Từ ngoài cổng đi vào, trong khuôn viên Lộc Uyển, nhìn qua hướng tay phải cách khoảng 100 m, chúng ta thấy một ngôi tháp tròn cao lớn, được xem như là ngôi tháp còn nguyên vẹn tại thánh địa Sarnath này đó là tháp Dhamek. Theo quyển Đường Về Xứ Phật của Hòa thượng Minh Châu, Dhamek là chữ viết tắt của chữ Dhamma Mukha nghĩa là suy tưởng chánh pháp, được tương truyền là nơi đức Phật đã phó chúc cho Bồ Tát Di Lặc sẽ thành Phật đời sau. Tháp Dhamek cao khoảng 34m và đường kính khoảng 28m. Vào khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên, ngôi tháp này được vua A Dục xây dựng để đánh dấu vị trí xuất xứ của bài pháp đầu tiên, khởi nguồn cho bánh xe chánh pháp lăn chuyển. Nhiều hoa văn chữ vạn cũng như hoa sen hoặc hình bông mai được khắc chạm xung quanh tháp. Trên thân tháp, ngay ô trống có tôn trí tượng Phật kiểu dáng ngồi thuyết pháp thuộc thời đại Gupta. Tượng Phật này và khoảng 300 tượng khác quanh vùng đang được lưu giữ tại viện bảo tàng khảo cổ Sarnath. Nhóm năm người chúng tôi quỳ đảnh lễ tháp mà cứ ước mong sao mình như là hóa thân của năm vị tiền bối ngày xưa, được diễm phúc ngồi lắng nghe Phật thuyết pháp. Nhưng rất tiếc chúng tôi đều là hạng phàm phu đời Mạt, phước mỏng nghiệp dày, không đủ duyên lành để được nghe pháp từ kim khẩu của đức Thế Tôn.

    4. Trụ đá của vua A Dục (Asoka)


    Trụ đá của vua A Dục

    Đi sâu vào bên trong khoảng 2/3 diện tích khai quật, chúng ta thấy có một nhà nhỏ vuông vức khoảng 2,5m, đáy nằm sâu xuống lòng đất khoảng ba mét, có những trụ đá tròn và những đoạn bị vỡ, đó chính là trụ đá của vua A Dục được dựng lên để xác định nơi chuyển bánh xe pháp đầu tiên của Phật. A Dục Vương được xem là vị Vua Phật tử, đã có công rất lớn trong việc truyền bá chánh pháp trong nước cũng như ảnh hưởng đến các nước láng giềng xung quanh. Vào khoảng thế kỷ III trước kỷ nguyên tây lịch, đại đế của vương triều Khổng Tước (Maurya), vị vua Phật tử này đã tận tình trong việc bảo tồn và phát triển Phật giáo sau Phật nhập Niết Bàn khoảng 218 năm. Sự giác ngộ Phật giáo của vua bắt nguồn từ một cuộc chiến tiêu diệt bộ tộc Kalinga, sự giết chóc tang thương, xác người như rạ nằm lăn lóc trên những vũng máu oan nghiệt diễn ra trước mắt đã làm chấn động lương tâm của một vì vua hiếu chiến bạo tàn. Để chuộc lại lỗi lầm, Ông đã chọn Phật giáo, một tôn giáo giàu lòng từ bi, nhân ái, bất hại với muôn loài làm nơi quy hướng, tu tạo nhiều công đức lành để bù đắp tội lỗi xưa. Chính vì vậy mà đạo Phật có một giá trị lịch sử trên thế giới, phần lớn nhờ vào sự đóng góp nhiệt tình, vĩ đại của Ông, đặc biệt là các trụ đá và bia ký tồn tại nơi mỗi thánh địa quan trọng.

    Tại Sarnath, để đánh dấu nơi Sơ Chuyển Pháp Luân và thành lập tăng đoàn Phật giáo đầu tiên, vua A Dục đã thân hành đến chiêm bái và dựng lên trụ đá cao 15,5 m và đường kính 0,7m, có tượng hình sư tử bốn đầu ở trên đỉnh phân đều bốn hướng. Dưới chân trụ gồ ghề và đặt trên một nền đá lớn, phần thân trụ thon và thẳng, đường kính phía dưới là 0,7 m, đường kính phía trên là 0,56m, được mài bóng láng trước khi khắc chỉ dụ của Vua. Ngoài chỉ dụ của vua Asoka được viết băng chữ Brahmi, còn có hai đoản văn khác, một thuộc triều đại Kushana đề cập đến Ngài Mã Minh, một trong những vị đại tổ sư có công truyền bá Phật giáo Đại Thừa; và đoản văn thứ hai đề cập đến tên của vị tổ sư trường phái Chánh Lượng Bộ. Mặc dù các trụ đá phần lớn không còn nguyên vẹn, nhưng các phần gãy đổ cũng như bia ký vẫn còn được bảo tồn nơi viện bảo tàng khảo cổ Lộc Uyển.

    5. Tháp Sri Dharmarajika


    Tháp Sri Dharmarajika

    Nằm giữa khuôn viên khu khai quật là một mô đất tròn, nền cao với hồ xung quanh, được tương truyền rằng, trong ngôi tháp này có thờ xá lợi của Phật. Tháp này trước kia rất lớn, bằng tháp Dhamek, nhưng bị huỷ phá. Ngài Pháp Hiển vào thế kỷ V đến thăm tháp này và để lại ký sự chứng minh. Vào năm 1794, vì thiếu vật liệu xây dựng thành phố Jagatguni, ông Jagat Singh, Bộ trưởng của vua Chet Singh ở Ba La Nại, đã sai người đến phá hủy ngôi tháp để lấy gạch và đá. Trong khi đào đá và gạch, ông tìm thấy một cái tráp bằng đá trong đó có một hộp bằng cẩm thạch đựng "Tro" chắc chắn là Xá Lợi đức Phật hay một vài vị Thánh tăng. Không biết dùng Xá Lợi này làm gì, theo tục lệ Ấn giáo, ông đã làm lễ thả xuống sông Hằng. Như thế Phật tử chúng ta đã mất đi một báu vật quí giá. Biết bao nhiêu ngọn tháp cũng chung số phận tương tự trước khi Viện Bảo Tàng thành lập. Trong khuôn viên này có một hương thất gọi là Mulagandhakuti nghĩa là phòng thơm, chỉ phòng đức Phật ở. Không riêng gì thất này có tên ấy vì đó là nơi Ðức Phật an cư trong 3 tháng đầu tiên, sau khi Ngài thành đạo Bồ Đề, mà hầu như là mỹ từ chung cho tất cả nơi có thất dành riêng cho đức Phật lưu trú.

    6. Tháp Choukhanda hay Chaukhandi


    Tháp Chaukhandi

    Ngôi tháp này cách Lộc Uyển một đoạn đường khoảng 10 phút đi bộ. Vị trí ngôi tháp này đã đánh dấu cho cuộc hội ngộ đặc biệt giữa đức Phật và nhóm bạn đồng tu khổ hạnh trước kia. Trong lúc tu hành, vì bất mãn với bát cháo sữa đức Phật dùng do nàng Sujāta dâng cúng nên nhóm bạn đã rời bỏ đức Phật đi tìm chỗ tu riêng. Sau khi thành đạo, vì muốn giác ngộ cho những người bạn cũ, đức Thế Tôn đến vườn Lộc Uyển tìm lại năm anh em Kiều Trần Như. Khi thấy đức Phật xuất hiện từ xa, năm vị này bảo nhau đừng chào và đừng kính lễ vị Sa Môn đã quay về với đời sống dục lạc, cho dù là một bát cháo sữa. Nhưng khi đức Phật tiến lại gần vì kính mến phong độ siêu phàm, oai nghi đĩnh đạc, đức tướng trang nghiêm của một người thoát tục, không ai bảo ai, người thì soạn chỗ ngồi, người thì cầm bình bát, người thì tìm nước rửa chân cho Phật.

    Sau khi gặp lại nhau, đức Phật đưa cả năm vị đến nơi cách đó nửa dặm (chính là vị trí của tháp Dhamek hiện giờ) và thuyết pháp cho năm vị này bằng bài pháp Tứ Diệu Đế. Mở đầu bài pháp, Ngài đã đánh tan nhận thức sai lầm của các vị này bằng một lời chỉ dạy rất chân xác, rất dứt khoát: “Này các Tỳ kheo, có 2 điều thái quá (cực đoan), người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai? Một là mê đắm dục lạc, hạ liệt phàm phu không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Này các Tỳ kheo, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, đức Như Lai giác ngộ con đường trung đạo, con đường đem đến pháp nhân, trí huệ, đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết Bàn". Kinh Chuyển Pháp Luân – HT. Minh Châu dịch. Và sau bài pháp này năm anh em Kiều Trần Như (Koddañña) chứng được thánh quả A La Hán và trở thành năm vị đệ tử xuất gia đầu tiên của đức Phật.

    Mặc dù quá khứ nơi này là một trong những thánh địa có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại nhưng hiện tại Choukhanda chỉ là nền gạch cũ rêu phong, trên ấy là một vọng tháp hình bát giác cao khoảng 25 m, do Vua Humàyùn kiến tạo để kỷ niệm nơi ông đã từng lánh nạn vào khoảng thế kỷ XVI, vì vậy nét kiến trúc không mấy cổ xưa. Khi vào bên trong tháp bát giác, chúng tôi thấy có những viên đá tròn, cao khoảng 4 tấc, được cho là vật biểu trưng đức Phật và năm người bạn đồng tu hội ngộ. Trong số đó có một viên đá khác biệt được chỉ cho đức Phật, năm viên đá còn lại giống nhau để chỉ cho năm anh em Kiều Trần Như. Từ trên đỉnh tháp chúng ta có thể nhìn thấy quần thể chùa, tháp, các khóm hoa thược dược của người Nhật trồng làm cảnh và toàn thể khu vực Sanarth này. Theo dòng chảy thời gian trong khuôn viên của Lộc Uyển, ngôi tháp này vẫn đứng trơ vơ, thầm lặng, sừng sững trên nền gạch cũ vẫn còn được nhắc đến như một kỷ niệm vàng son của Phật giáo, cho dù đó chỉ là danh xưng còn nằm trong kinh điển.

    7. Tản mạn trên sông Hằng


    Buổi bình minh trên sông Hằng

    Khoảng 5 giờ sáng, mặc dù ngoài trời rất lạnh, đoàn chúng tôi đã rời khỏi khách sạn Sarnath để thưởng thức bình minh nơi sông Hằng. Bởi vì mọi người thường nói rằng, khi tham quan đất Phật mà không đến được sông Hằng để ngắm ánh mặt trời lúc bình minh thì chưa thể gọi là tham quan Ấn Độ. Sông Hằng là cái tên rất quen thuộc trong tôi. Thuở nhỏ, thường đêm sau mỗi thời kinh, tôi hay ngắm hình dòng sông Hằng được in trong quyển Kinh Nhật Tụng, do Hoà thượng Thiện Hoa biên soạn. Ấn tượng nhất từ bức ảnh này là dòng chữ được chú thích ở phía dưới: “sông Hằng nơi xứ Phật Ấn Độ”. Và trong các kinh đức Phật thường sánh ví thế giới nhiều như số cát sông Hằng (Hằng hà sa số thế giới). Thuở đó, mặc dù không biết Ấn Độ ở nơi nào, cũng không hình dung được tí gì liên quan đến nó, nhưng tôi cảm thấy một niềm yêu thích lâng lâng bởi tính chất thiêng liêng ẩn tàng từ hai chữ Sông Hằng. Tôi không dám mơ ước gì về việc chiêm bái đất Phật hay ngắm dòng sông linh thiêng này, nhưng tôi vẫn ngưỡng mộ và thần tượng về một đất Phật kì bí trong tâm khảm của cậu bé vừa lên tám.

    Ấn Độ có hai dòng sông lớn, đó là Ấn Hà và Hằng Hà. Sông Hằng (Gadgā river) là một con sông linh thiêng của người dân Ấn. Dòng sông này được bắt nguồn từ dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya), chảy qua Tây Tạng rồi đến Ấn Độ, với độ dài trên 5575 km. Bởi được bắt nguồn từ ngọn núi xem như là nóc nhà thế giới, là cái rốn của vũ trụ, là nơi hội tụ nhiều câu chuyện thần thoại ly kỳ, là nơi ẩn tu của các ẩn sĩ cũng như các vị thánh, nên mọi người dân Ấn tin tưởng tuyệt đối vào sự mầu nhiệm của dòng sông này. Họ cho rằng nước dòng sông có thể rửa sạch mọi tội lỗi và ban phước lành cho họ một cuộc sống bình an. Không phải từ thời đức Phật hay hàng mấy nghìn năm trước đó, thậm chí bây giờ, đối với người Ấn, niềm tin vào dòng sông này chẳng những không giảm mà còn tăng lên bởi bao sự kiện thần bí được các giáo chủ của họ thêu dệt, tô điểm thêm lên. Để chứng kiến điều này, chúng ta chỉ cần nhìn những phong tục tập quán được thể hiện trong đời sống hằng ngày của cư dân quanh vùng. Mỗi buổi sáng, vào khoảng 4 – 5 giờ, dù là trời lạnh giá, hàng mấy nghìn người từ khắp mọi nơi lũ lượt kéo về để tắm rửa và cầu nguyện, thậm chí còn uống nước ngay nơi mà họ tắm.

    Lúc thả thuyền du ngoạn để đợi ánh bình minh ló dạng trên sông Hằng, chúng ta thấy đây đó hai bên bờ sông lóm khóm những ánh lửa bập bùng sáng cả một vùng, đó chính là những giàn hoả tạm thời đang thiêu xác người vừa qua đời. Đây là một trong những cách mai táng phổ biến của người Ấn Độ. Họ có ba cách mai táng truyền thống: thuỷ táng, hoả táng và lâm táng. Thuỷ táng là thả xác người trôi lềnh bềnh trên sông; hoả táng là đốt thây chết trên một giàn thiêu tạm thời và tro được rải theo dòng sông như chúng ta vừa chứng kiến; và lâm táng nghĩa là ném thây người chết vào rừng cho các loài kên kên, diều quạ ăn thịt. Cho nên thỉnh thoảng chúng ta thấy trong kinh điển thường nhắc đến từ Thi Lâm (rừng thây) chính là một trong những cách chôn cất truyền thống Ấn Độ.

    Nhìn những phong tục này chúng ta cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ đến giá trị cuối cùng của đời người chỉ là nắm tro tàn trên sông, một cuộc hành trình viễn du của kiếp người bồng bềnh trên biển đời sanh tử. Vì vậy, thật tuyệt vời thay! Khi một ai đạt đến sự giác ngộ không còn tái sanh như lời tuyên ngôn của đức Phật: “Đây là kiếp cuối cùng, ta không còn tái sanh vào cõi đời này nữa”.

    Còn biết bao lễ hội kì dị, nhiều tôn giáo hủ tục và sự sinh hoạt lạc hậu trên dòng sông đen ngòm chứa đầy rác rưởi, thây chết và nhiều chất thải… đang thịnh hành một cách ngỡ ngàng trong ánh mắt của khách tham quan, nhưng ánh minh trên sông Hằng cũng mở màng cho một ngày mới, một tia hy vọng, một cảm giác thanh nhàn bởi những tia nắng hồng ban mai đã làm phôi pha bao cảm giác u hoài trong tâm khảm mà chúng ta vừa chứng kiến. Thật diễm phúc thay! Thiên nhiên đã bù đắp lại cho những người khốn khó và lạc hậu, nơi đất khô cằn sỏi đá này những tia nắng ấm ban mai êm ả, thanh bình dù là tháng hè oi bức hay trong những ngày trời đông lạnh giá, xoa dịu bớt phần nào cho một kiếp đời còn thiếu áo cơm và thiếu những tiện nghi tối thiểu mà không tìm thấy ở bất cứ một quốc gia tân tiến nào trên thế giới.

    Rời khỏi sông Hằng để đến thành Xá Vệ (Sāvatthī ), nhưng bao suy nghĩ miên man, bao niềm thương cảm u hoài cứ trào dâng trong tôi, trong trái tim của người con Phật bởi những hình ảnh khổ đau vừa diễn ra trước mắt. Ngay giờ phút đó, tôi cũng mong sao dòng sông Hằng hãy có một phép mầu như niềm kỳ vọng của họ để cuốn trôi tất cả những cặn bã bất hạnh đang bu bám vào những mảnh đời cơ cực và ban tặng cho họ một cuộc sống an lành như họ đã van xin mỗi ngày nơi dòng sông thần thánh này. Dù sao, chúng tôi cũng thành tâm cầu nguyện đức Phật gia hộ cho mọi người dân khổ cực nơi đây sớm giác ngộ lẽ thực cuộc đời, chuyển hoá khổ đau thành niềm an vui tự tại trong đời này và mãi mãi đến đời sau.

    Thích Phước Tiến

  7. #7

    Mặc định Chương 5: Thành Vương Xá

    THÀNH VƯƠNG XÁ
    (Rājagaha)


    1. Giới thiệu khái quát về cổ thành Vương Xá (Rājagaha)

    Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ, rất trù phú, nguy nga nhưng lại hiểm trở vì núi non bao quanh do vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) trị vì vào thời đức Phật còn tại thế. Nhờ nằm trong thung lũng được bao quanh bởi những rặng núi chạy dài nên thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên khoáng sản, quặng sắt cũng như mỏ đồng làm cho đất nước Ma Kiệt Đà càng thêm cường thịnh. Các nguồn văn hóa lớn được xuất xứ từ Ma Kiệt Đà, như ngôn ngữ Magadhi và lịch số...

    Ngày nay kinh thành này chỉ là một thị trấn nhỏ với tên gọi là Rajgir, cách thủ phủ Patna 70 km về phía Tây Nam. Xung quanh vùng có một vài bức tường thành bao bọc ở các rặng núi chính là những phế tích còn sót lại của một kinh thành cổ. Đời sống người dân nơi đây còn nhiều lạc hậu, phố xá nhà cửa đơn giản, lưa thưa, kinh tế không mấy gì khả quan so với nhiều vùng khác. Hơn 2500 năm về trước, tại nơi đây nhiều sự kiện trọng đại liên quan đến Phật giáo vẫn còn lưu dấu vết cho đến ngày nay. Chính tại kinh thành này, trên đường thái tử Sĩ Đạt Ta tầm đạo đã xảy ra cuộc gặp gỡ giữa Ngài và đại vương Tần Bà Sa La. Được biết tâm nguyện cao cả của vị thái tử bộ tộc Thích Ca (Sakyā) thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), nhà vua vô cùng thán phục, xin nhường lại nửa giang san cho Sĩ Đạt Ta cai trị nhưng thái tử đã một mực từ chối. Trước khi chia tay, nhà vua cầu chúc cho thái tử Sĩ Đạt Ta sớm thành tựu đạo quả và trở về thành Vương Xá để độ ông. Do đó, kinh đô Vương Xá trở thành một trong những trung tâm truyền bá Phật giáo đầu tiên có sức ảnh hưởng rất lớn vào thời đức Phật. Những thánh tích trọng đại liên quan đến Phật giáo vẫn còn lưu tiếng tăm cho đến ngày nay như: tinh xá Trúc Lâm, động Saptaparni (nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất), núi Linh Thứu (nơi Phật diễn pháp Hội tam thừa quy nhất).... Giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu thêm một số dấu tích còn sót lại liên hệ đến các danh xưng lịch sử này.

    2. Vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) và tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana Vihara)


    Khu tịnh xá Trúc Lâm

    Có thể nói vai trò của vua Tần Bà Sa La rất lớn đối với việc truyền bá chánh pháp, là chỗ dựa vững chắc để làm nền tảng phát triển Phật giáo, khi một đạo Phật còn quá non trẻ so với những tôn giáo truyền thống đương thời của Ấn Độ. Nhưng làm cách nào thực hiện được điều đó để có thể đứng vững và làm cho mọi người tin tưởng hướng về, đó là điều trăn trở mà một vị giáo chủ vừa mới ra đời như đức Phật phải suy nghĩ và lo ngại!? Vì thế đức Phật không vội đi truyền bá chánh pháp ngay sau khi giác ngộ mà Ngài đã lưu lại tư duy quán sát bảy tuần lễ xung quanh cội Bồ Đề. Mặc dù đức Phật không thể hiện rõ về đường lối hay phương hướng truyền giáo của mình như một chiến lược, nhưng mọi biểu hiện của Ngài đều được cân nhắc kỹ càng có tính logic hợp lý trong mọi tình huống và trong mọi nơi khi Ngài dừng chân. Vì lẽ đó, mặc dù nhớ rất rõ lời hẹn ước với vua Tần Bà Sa La nhưng đức Phật không vội trở về thành Vương Xá để độ Ông bởi vì Ngài thừa hiểu tâm lý của những người đương quyền không dễ gì bị thuyết phục bởi những lời nói suông mà không có một cái gì để minh chứng. Do đó, việc quyết lòng hóa độ ba anh em Ca Diếp (Kassapa) đạo thờ lửa xứ Ưu Lầu Tần Loa (Uruvela) là một suy nghĩ đúng đắn nhất, có cơ sở tin cậy nhất đối với việc tiếp kiến đại vương nước Ma Kiệt Đà, một cường quốc nhất nhì thời bấy giờ. Bởi vì ba anh Ca Diếp là những người có uy tín lớn, có ảnh hưởng quần chúng rộng rãi trong thành, mà cả vua Tần Ba Sa La cũng để lòng kính nể đến các vị này. Tất cả điều kiện trên đã hội đủ nên cuộc gặp gỡ theo lời hẹn ước đã đem lại lòng tin sâu sắc và sự kính trọng tột độ của nhà vua dành cho đức Thế Tôn. Một nhà khổ hạnh hôm nào, nay trở thành một vị Phật, đầy đủ uy nghiêm cốt cách của bậc thầy trời người, lại thêm tiếp độ một ngàn môn đệ bao gồm ba anh em Ca Diếp chỉ trong thời gian ngắn ngủi thì việc đó ngoài sức tưởng tượng của nhà vua.

    Sau khi thân hành ra tận ngọ môn tiếp đón, vấn an đức Phật và chúng tăng, vua Tần Bà Sa La thỉnh Phật ngày hôm sau vào hoàng cung thọ trai và chính ông đã phục vụ cho Phật và chúng tăng, một vinh dự mà nhà vua chỉ dành cho đức Phật. Ngay bữa ngọ trai hôm đó, vua tuyên bố cúng dường ngự hoa viên Trúc Lâm (Veluvana), một khu rừng trúc xinh đẹp thoáng mát cho đức Phật làm nơi lưu trú tu hành. Tại khu rừng trúc này, một ngôi tinh xá được xây dựng, và nó cũng là ngôi tinh xá đầu tiên khởi nguồn cho lịch sử tự viện Phật giáo phát triển mãi đến sau này. Được sử ghi chép rằng, ngôi tinh xá rất là khang trang, rộng lớn, trong đó bao gồm nhiều phòng ốc, giảng đường và các tiện nghi sinh hoạt khác khảm đủ cả chục ngàn người. Tại ngôi tinh xá này, đức Phật đã trải qua mùa an cư thứ hai và nhiều mùa an cư khác nữa, và Ngài đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng được ghi lại trong Trung Bộ kinh như: Kinh Vương Tử, Đại Kinh Vacchagotta, Kinh Thiện Sanh Ưu Đà Di ...

    Ngày nay, khi dừng chân nơi ấy, chúng ta không còn thấy khu vườn trúc sum suê và ngôi tinh xá đồ sộ thuở nào như kinh điển mô tả. Trước mắt chúng ta chỉ thấy cảnh vật hoang sơ, thầm lặng trong một thị tứ bé nhỏ. Trước cổng ra vào có dựng một tấm bảng xác định vị trí ngôi tinh xá năm xưa, xung quanh có rào chắn um tùm cây tạp và cỏ dại. Bên trong chỉ còn vài khóm trúc khá tốt và xinh đẹp nhưng chắc được người sau trồng lại để tưởng niệm một danh xưng thơ mộng và nổi tiếng bởi hai chữ Trúc Lâm (rừng trúc), nhưng không đủ sức để phản ánh hết uy thế của một ngôi tinh xá trang hoàng và khu thượng uyển thời vàng son Phật giáo. Đi hết khu vườn, ngoài những khóm hoa được trồng dọc theo lối đi chúng ta không còn thấy một vết tích nào, cho dù bờ tường đổ nát rêu phong để có thể hình dung được tí gì liên quan đến nó. Trong khuôn viên, cách cổng ra vào khoảng 100 mét chúng ta thấy có một cái hồ vuông, xung quanh cẩn gạch vén khéo, nước trong hồ trong vắt và sạch sẽ, mặt hồ phẳng lặng in bóng những hàng cây tàng rộng mọc xung quanh, vài đàn cá trê chập chờn bơi lội dưới nước, tìm ăn những miếng mồi ngon từ khách tham quan và cư dân dạo mát quanh vùng. Hồ này có tên là hồ Kalandaka, được tương truyền rằng, đức Phật và chúng tăng thường tắm trong hồ này khi lưu trú tại tinh xá Trúc Lâm. Bên bờ hồ có một tượng Phật Bổn Sư do người Nhật tôn trí trên một bệ thờ trong tư thế thiền định, Ngài đang ngồi lặng lẽ giữa tiếng bước chân qua lại chầm chậm lưa thưa, giữa bốn mùa yên ả trầm buồn, buồn cho số kiếp chúng sanh thời Mạt không đủ phước duyên để chứng kiến thời hoàng kim chánh pháp.

    Sau khoảng thời gian khiêm tốn ghi một vài hình ảnh kỷ niệm trong buổi chiều tà xế bóng, một vài hạt mưa muộn màng còn nhỏ giọt trên lối đi, hoàng hôn cũng dần dần buông màn khép lại cho một ngày tiếp tục trôi qua, một thao tác vạn kỷ, đoàn chúng tôi rời khỏi tinh xá Trúc Lâm, nơi đầy kỉ niệm trong trí tưởng tượng để trở về khách sạn nghỉ ngơi với bao niềm xao xuyến miên man.

    3. Linh Thứu sơn (Gijjhakuta) Pháp Hội Tam Thừa

    Linh Thứu Sơn tiếng Pāli là Gijjhakuta, nghĩa là ngọn núi kên kên (Vulture’s Peak), tức trên đỉnh núi có hình dạng của con Kên Kên là loài chim rất phổ biến ở Ấn Độ, gần thành Vương Xá (Rājagaha). Từ trên đỉnh núi này, chúng ta có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành Vương Xá: những rặng núi chạy dài bao bọc xung quanh, các đồng ruộng mênh mông bát ngát, các làng mạc và những phố xá nằm rải rác quanh vùng. Tại Linh Thứu sơn này, nhiều bài kinh quan trọng đã được đức Phật tuyên thuyết khi Ngài còn tại thế. Theo truyền thuyết của Đại Thừa, tại núi này, đức Phật đã thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika Sutta), là bộ kinh quan trọng của Đại Thừa Phật giáo, là kim chỉ nam của hành giả Pháp Hoa Tông. Cho nên vào đầu kinh chúng ta thấy câu xướng lễ: Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát, chính là nói đến pháp hội tam thừa quy nhất tại núi Linh Thứu, đức Phật khuyến hóa hàng thánh giả Tam Thừa (Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát), nên hướng về nhất thừa, tức là Phật thừa. Trong kinh này, đức Phật khẳng định Phật tính bình đẳng trong tất cả chúng sinh, không phân biệt nữ nam, quí tiện vì ai cũng có Phật tánh và sẽ thành Phật, qua lời tuyên ngôn của Phật: “Ta Là Phật Đã Thành, Chúng Sinh Là Phật Sẽ Thành”.

    Một điều đặc biệt không thể không nhắc đến, đó là hình thức chiếc y của các thầy tỳ kheo, là một bảo vật, là tấm bùa hộ mạng luôn mang bên mình không được xa rời dù chỉ một đêm. Sở dĩ y của các thầy tỳ kheo được gọi là áo ruộng phước (phước điền y) chính là lời dạy từ kim khẩu của đức Thế Tôn. Một hôm, đức Phật cùng với các môn đệ của mình đứng trên núi Linh Thứu ngắm nhìn cảnh sinh hoạt của nông dân và bao cánh đồng mênh mông dưới chân núi. Ngài thấy những thửa ruộng được chia thành từng luống cách ly với nhau, vừa để phân biệt quyền sở hữu của mỗi người đồng thời dễ canh tác, nhất là trong việc giữ nước. Từ hình ảnh này đức Phật liên tưởng đến các thầy tỳ kheo. Đức phật nghĩ rằng, các thầy tỳ kheo như những ruộng phước để chúng sanh gieo trồng hạt giống bồ đề; nếu các thầy tu tập giới đức thanh tịnh trang nghiêm, thì bản thân các thầy như mảnh ruộng tốt làm cho chúng sanh gieo giống được mùa. Bằng ngược lại, các thầy là mảnh đất cằn cỗi không đem lại nguồn sống tốt cho mọi người. Vì vậy, chiếc y các thầy tỳ kheo, dù là y bá nạp hay cắt may đều phải thành từng ô vuông nho nhỏ kết lại mà không được mặc vải liền. Ý nghĩa y phước điền được xuất xứ từ ngày ấy.


    Trên đỉnh Linh Thứu sơn

    Trước khi đến đỉnh núi Linh Thứu chúng ta đi qua những địa điểm được đánh dấu là vị trí quan trọng. Khoảng nửa đoạn đường lên đỉnh được xác nhận nơi Vua Tần Bà Sa La xuống kiệu để thân hành viếng thăm đức Phật. Qua đoạn đường dốc gần đến hương thất Phật ngự, chúng ta thấy hang động nhỏ, nằm bên tay phải lối đi, được cho là thạch thất của Ngài A Nan, vị thị giả suốt đời hầu cận trung thành bên đức Thế Tôn. Phía trước thạch thất này, có tảng đá lớn và nhiều mảnh vỡ được đánh dấu đó chính là tảng đá mà xưa kia Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), người anh em chú bác của Phật, lăn xuống để hại Phật, lúc Ngài đi ngang qua lối hẹp này. Nhờ oai thần của bậc đại giác, Đề Bà Đạt Đa đã không thực hiện thành công mưu đồ bất chính của mình. Phía trên thạch thất ngài A Nan khoảng 15 bậc thềm thang, gần hương thất của Phật là thạch thất của Ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta), vị tôn giả trí tuệ bậc nhất trong hàng môn đệ của Phật. Xung quanh khu vực này còn nhiều thạch thất khác của chư thánh đệ tử Phật như Ngài Ma Ha Ca Diếp, Mục Kiền Liên ....Trên cùng là hương thất của Phật, gần mõm đá được cho là giống cái đầu con chim kên kên, nơi đức Phật thường ngự khi Ngài dừng chân tại Linh Thứu. Đây là điểm cao nhất của ngọn núi này. Từ đây chúng ta có thể quan sát quanh khu vực này cho dù các cảnh vật rất xa. Hai chữ Hương thất là từ xưng tán công đức, giới hạnh của Phật tỏa ngát như hương thơm bay khắp bốn phương, làm cho mọi người phải ngưỡng mộ một cách say sưa. Trong kinh Pháp Cú phẩm Hoa đức Phật dạy: “Trong các loài hoa, dù là hoa Chiên Đàn, hoa Đa Dà La hay hoa Mạc Lợi, tuy thơm thật nhưng không thể bay ngược gió. Chỉ có mùi hương của người tu đức hạnh tuy ngược gió vẫn bay khắp muôn phương”.

    Hương thơm hoa quý thua xa
    Hương người đức hạnh chan hòa vượt trên
    Xông lên mãi tận chư Thiên
    Tỏa ra ngan ngát khắp miền trời cao”.
    (Tâm Minh)

    Ngày hôm nay, hương thất này không còn nữa, chỉ được người đời sau xây dựng một nền gạch tưởng niệm khoảng 3 mét vuông để đánh dấu vị trí chỗ thường ngự của Phật hơn 2500 năm về trước. Các đoàn hành hương thường làm lễ và cầu nguyện trong phạm vi hương thất này. Các bản kinh thường được dùng để tụng đó là kinh Phổ Môn, được trích từ kinh Pháp Hoa, phẩm Quan Thế Âm thứ 25.

    Trong khoảnh khắc dừng chân ở tận đỉnh cao nơi hương thất của Phật, bốn bề gió lộng mênh mông, cảnh vật im lìm trong khoảng không bất tận, cho dù có người qua kẻ lại, nhưng ai cũng giữ chánh niệm, im lặng để cảm niệm hồng ân của đức Thế Tôn, lòng chúng tôi cảm thấy được an ủi đôi phần. Mặc dù không đủ duyên lành được sinh ra trong thời Phật còn tại thế để được dự phần trong Pháp Hội Linh Sơn, nhưng cũng may mắn tận mắt chứng kiến, tưởng niệm và đảnh lễ những nơi đức Phật từng tu tập và giảng kinh thuyết pháp năm xưa, dù là trên đỉnh núi cao hay trong các hang động liên quan đến cuộc đời Ngài. Bốn mươi lăm năm hoằng hóa độ sanh với đôi chân trần bằng xương bằng thịt, đức Phật đã vân du khắp bốn phương trong xứ Ấn để hóa độ chúng sanh, cho dù là kẻ hạ tiện như Ni Đề, người làm nghề gánh phân, là công việc bẩn thỉu nhất hay những người kỹ nữ như Ambapali... đều được sự che chở, thương yêu bình đẳng như các thánh đệ tử của Ngài. Một tấm gương sáng chói, một đức hạnh cao vời, chỉ có một và chỉ một lần trong lịch sử xuất hiện đấng cứu thế trong hiền kiếp này. Bằng chút tấc lòng son, trọn đời chúng con quyết noi theo con đường của Phật, dẫu không đạt đạo cũng nguyện từ đời này đến vạn kiếp sau ghi khắc mãi trong tim những lời vàng ngọc của Người, không cô phụ một đời gian nan, khổ cực của đấng cha lành đã tìm ra ánh đạo quang minh, tìm ra con đường giải thoát khổ đau cho vạn loại hữu tình mà không có một con đường nào khác, một tôn giáo hay một học thuyết nào ngoài lời dạy của Phật có thể giải quyết tận gốc thảm kịch muôn đời của trần thế, tức giải thoát luân hồi tử sinh.

    Bên phải Linh Thứu sơn là núi Sonagiri, trên đỉnh có một cái tháp cao màu trắng được gọi là tháp Hòa Bình của Phật giáo Nhật Bản, do Hòa thượng Nichidatshu Fuji, thuộc tông Thiên Thai, xây dựng với ước nguyện cầu cho thế giới hòa bình, chúng sanh an cư lạc nghiệp. Đây là một trong rất nhiều công trình được hòa thượng xây dựng trên đất Phật, kể từ sau sự kiện hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố lớn trên xứ sở hoa anh đào của Ngài: Hiroshima và Nagashaki vào tháng 8 năm 1945. Kiến trúc tất cả các tháp đều có kiểu dáng giống nhau, đều cấu trúc hình tròn và chóp nhọn ở đỉnh. Bốn mặt phân đều theo bốn hướng tôn trí 4 tượng phật màu vàng, dựa trên bốn sự kiện trọng đại: Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân và nhập Niết Bàn.

    Các đoàn hành hương, thường hay nhầm lẫn giữa núi Linh Thứu và núi Sonagiri , nơi có tháp Hòa Bình Nhật Bản, nếu không được quí thầy cô thường dẫn đoàn hay những người hiểu biết về di tích hướng dẫn. Cũng là khu vực quanh núi Linh Thứu, nhưng đường lên Tháp Hòa Bình rất dễ vì đi bằng cáp điện treo (chairlift), còn đường lên núi Linh Thứu thì đi bằng bậc tam cấp. Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ càng hoặc tư vấn với những người đã từng đi một cách tường tận, chính xác để khỏi phải xảy ra những điều đáng tiếc như chúng tôi năm xưa hăm hở lên tận tháp Hòa Bình mà cho rằng mình đã đến đỉnh núi Linh Thứu, bởi vì mình chỉ biết trong kinh điển chớ không biết được địa điểm thực tế. Khi hiểu ra thì mọi việc đã trôi qua hơn hai năm rồi. Đúng là chuyện dở khóc dở cười!!!

    4. Ngục khám vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara)


    Nền nhà tù, nơi A Xà Thế nhốt vua cha Bình Sa Vương

    Trên quãng đường đi đến Linh Thứu sơn khoảng 2 km từ tinh xá Trúc Lâm có một bờ tường đá dày 2m, nằm bên trái cách con đường chính chừng 30 m, hình chữ nhật, dài khoảng 100m, rộng độ 70m, đó là nhà tù giam vua Tần Bà Sa La thuở xưa. Từ vị trí này, chúng ta nhìn thấy xa xa thấp thoáng tháp Hòa Bình trên đỉnh Sonagiri và chóp núi Linh Thứu, cách chừng 5 km bằng đường chim bay, khoảng 7 km đi đường lộ nhựa.

    Sử chép rằng: vì còn quá trẻ, tính tình bồng bột nông nổi nên bị sự xúi giục sai trái của Đề Bà Đạt Đa, người dốc lòng hại Phật, thái tử A Xà Thế (Ajatasattu) dùng mọi thủ đoạn để hãm hại vua cha, tức vua Tần Bà Sa La, bằng cách bắt giam vào đại lao và dùng nhiều cực hình bức tử Ngài. Những ngày cuối đời trong ngục thất, đức vua hướng về núi Linh Thứu cầu khẩn đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp tu tập để thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ này. Vì ham mê danh vọng, quyền thế hư ảo, vì chứa đầy tham sân si trong lòng mà con người gian trá lọc lừa, tìm cách hãm hại nhau để vun bồi cho dục vọng và ngã chấp, ngay cả như cha với con cũng không từ nan. Trần gian là bể thành sầu khổ. Sự có mặt của mọi con người trên cuộc đời chỉ nhằm giải quyết “ân oán giang hồ”, cứ thế mà trả vay, vay trả đến kiếp nào cho xong! Vì vậy, khi được đức Thế Tôn từ trên đỉnh Linh Thứu sơn phóng quang, xoa đầu và hiển hiện kim thân thuyết pháp, ông liền đắc quả A Na Hàm, rũ sạch mọi đau buồn và an nhiên đi vào cõi chết. Hoàng hậu Vi Đề Hi, vợ vua Tần Bà Sa La, cũng bị giam lỏng trong ngục thất này, nên bà cầu xin đức Phật chỉ dạy phương pháp tu thoát khỏi cõi ta bà ô trược. Cảm được lời cầu xin của Bà, đức Phật hiện thân thuyết pháp an ủi, giới thiệu thế giới Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà và phương pháp tu vãng sanh về cõi ấy. Điều này đã được ghi chép đầy đủ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, một trong những bài kinh căn bản của hành giả Tịnh Độ Tông.

    5. Hang Thất Diệp (Sattapanni), nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất


    Quang cảnh phía trước hang Thất Diệp (Ảnh: Tâm Bửu)

    Để được tham quan hang Thất Diệp (Sattapanni), mọi người trong đoàn phải nghỉ ngơi qua đêm chờ sáng hôm sau đủ sức đi bộ lên hàng mấy ngàn bậc tam cấp mới đến được hang Thất Diệp, một động đá trên đỉnh núi dung chứa chỗ ngồi cho 500 trăm vị A La Hán.

    Hang Thất Diệp hay còn gọi động Kỳ Xà Quật thuộc ngọn núi Vebhara hay Vaibhara, là nơi được chọn để tổ chức cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất. Hang Thất Diệp này thuộc thành Vương Xá chỉ cách Linh Thứu sơn khoảng 10 km. Cuộc kết tập kinh điển này được diễn ra sau ba tháng đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Trưởng lão Đại Ca Diếp (MahaKassapa) được cử làm chủ tọa hội nghị gồm 500 vị đại A La Hán, nên còn gọi là Ngũ Bách Kết Tập. Nội dung của cuộc kết tập kinh điển lần này nhằm ôn lại lời dạy của đức Thế Tôn, Ngài Ưu Ba Ly (Upāli) trùng tuyên luật tạng, Ngài A Nan Đa trùng tuyên kinh tạng, chưa có đề cập đến tạng luận. Mọi chi phí trong suốt quá trình kết tập được sự bảo trợ trọn vẹn của vua A Xà Thế, đại vương nước Ma Kiệt Đà.

    Tại hang Thất Diệp có khả năng chứa 500 vị thánh tăng hôm nào nay chỉ còn trong truyền thuyết, bởi vì qua thời gian hang động này đã bị lấp kín chỉ còn một lối đi vào sâu bên trong độ khoảng 10m. Bên ngoài hang động có khoảng không rộng rãi, thông gió, rất mát mẻ và thanh vắng. Từ nơi này, chúng ta có thể thấy vùng bình nguyên phía dưới cây cối bạt ngàn, nhà của phố xá và cả xe cộ qua lại trên con đường chính. Muốn vào bên trong chúng ta phải có đèn pin hoặc thắp nến mới có thể thấy đường lần theo lối mòn vì ngoài việc thiếu ánh sáng, lối đi rất là lởm chởm đá.

    Cách hang động chính không xa khoảng 10m có một động đá không sâu nhưng khảm đủ làm nơi trú thân lý tưởng cho các vị tu hành. Hang động này được đánh dấu chỗ mà Ngài A Nan hành thiền suốt đêm trước ngày diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần này. Sở dĩ A Nan không được vào bên trong vì Ngài chưa chứng đắc quả A La Hán, nên không đủ tư cách để tham dự hội nghị, cho dù được xem là vị đa văn đệ nhất, nhớ rõ toàn bộ lời dạy của đức Thế Tôn. Vì buồn cho mình mang tiếng đa văn nhưng lậu hoặc vẫn chưa dứt trừ, đồng thời không được có mặt trong kỳ kết tập này nếu chưa chứng quả A La Hán nên Ngài đã nỗ lực tu tập suốt một đêm cuối cùng trước khi trời sáng hội nghị bắt đầu khai mạc. Đêm lịch sử này cũng là đêm quyết định, tôn giả A Nan đã chứng đắc thánh quả, dứt trừ lậu hoặc và nghiễm nhiên trở thành một thành viên hợp lệ trong hội nghị và được đề cử vai trò quan trọng là người trùng tuyên toàn bộ kinh tạng, tức năm bộ Nikāya.

    6. Kê Túc sơn (Kukkutapadagiri), nơi nhập diệt của thánh Ca Diếp


    Núi Kê Túc nhìn từ xa (Ảnh: Tâm Bửu)

    Kê Túc sơn là điểm lịch sử rất quan trọng, nơi nhập diệt của Ngài Ma Ha Ca Diếp, người được phó chúc giữ kim y của đức Phật, đợi đến khi Ngài Di Lặc ra đời để truyền lại. Mặc dù nhiều người biết đến mốc lịch sử này nhưng rất ít ai đến tận nơi để tham quan hay chiêm bái bởi nhiều lý do: một là, đường quá xa lại thêm nhiều ổ gà nên đi rất lâu; hai, chỉ là con đường độc lập không có liên quan đến các thánh tích khác; ba, vì nơi này không phải là điểm du lịch tham quan, cũng không có phố xá, làng mạc hay cảnh thiên nhiên đẹp, lại thêm leo núi cao mà không có bậc tam cấp. Ngoài ngọn núi cheo leo, khô khan, hiểm trở nơi đây chỉ có nhiều loại cây cỏ dại trên một vùng đất bỏ hoang, không có gì hấp dẫn cả. Cho nên chỉ có những tu sĩ hay Phật tử nhiều thiện chí lắm mới tìm đến nơi này.

    Núi Kê Túc cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 75 km về hướng Đông Nam, đường đi rất khó khăn bởi nhiều ổ gà hay ổ voi thì đúng hơn vì nó rất to. Từ chân núi lên tới đỉnh chúng ta đi mất gần hai tiếng đồng hồ, do không có bậc tam cấp mà phải tìm lối mòn nơi các kẽ đá hay các rễ cây to bò dọc theo con đường. Nhờ Phật giáo Đài Loan đang xây dựng bảo tháp trên đỉnh Kê Túc tưởng niệm Ngài Ma Ha Ca Diếp, nên họ có tạo một đoạn tam cấp dang dở từ chân núi lên khoảng 100 mét. Được tương truyền rằng, trước khi nhập diệt, Ngài Ma Ha Ca Diếp cũng thường lui tới ngọn núi này để hành thiền định. Sau khi chu toàn lễ trà tỳ của Phật, lại thêm hoàn tất cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài Ma Ha Ca Diếp đi vào núi Kê Túc nhập diệt tận định. Đến nơi Ngài dùng thần thông chẻ núi thành đôi mở lối đi, Ngài bước vào bên trong lòng núi và hai mảng đá lớn của một quả núi lần lần khép kín lại.


    Núi Kê Túc chẻ đôi (Ảnh: Tâm Bửu)

    Sở dĩ núi này có tên là Kê Túc vì từ xa chúng ta nhìn lên ngọn núi này, những mõm đá được nhô lên trông giống một con gà mái đang ấp trứng nên mọi người đặt tên là Kê Túc sơn (núi con gà). Trước khi lên tới đỉnh, chúng ta phải đi ngang qua một lối đi hẹp chỉ vừa đủ một người, hai bên là vách núi thẳng đứng, được cho là kẽ đá chẻ đôi do thần lực của Ngài Ca Diếp còn lưu dấu đến ngày nay. Khi đến đỉnh núi, chúng ta thấy có một hốc đá, trong đó có ngôi tháp nhỏ thờ tượng vị thánh đệ nhất đầu đà Ca Diếp. Xung quanh được bao bởi lớp kiếng dày, dưới chân rào lại cẩn thận nhằm tránh sự quấy phá cũng như bụi bậm. Bên ngoài hốc đá, Phật giáo Đài Loan cũng đang xây dựng một cái tháp lớn trên đỉnh núi này. Từ xa chúng ta thấy dường như ngôi tháp này xây dựng trên lưng của con gà đá to lớn này. Sau phút giây tham quan cảnh trí thiên nhiên, tận hưởng những cơn gió mát dịu và thanh khí trên ngọn núi, chúng tôi trở lại bảo tháp trong hốc đá, đối diện trước tượng Ngài Ca Diếp đảnh lễ, nhằm tưởng nhớ đến gương hạnh người xưa, một con người khiêm tốn, sống khổ hạnh, suốt đời chỉ mặc y phấn tảo. Đó là một trong những tấm gương đức hạnh sáng ngời mà ngàn đời sau người xuất gia nên trân trọng noi theo. Xúc động trước bậc tổ đức thánh hạnh cao ngời, tôi cảm tác một bài thơ theo thiển ý của mình để dâng tấc lòng thành lên Ngài:

    Kê Túc nắng vàng vương áo con
    Một đời sống đạo khắc lòng son
    Kim y Phật tổ trao truyền mãi
    Di Lặc hạ sanh vẫn hằng còn.
    Dập đầu kính lạy Ngài Ca Diếp
    Phấn tảo xiêm y giữ trọn đời
    Phật sự vuông tròn hang Thất Diệp
    Lời vàng tổ đức trải muôn nơi.
    Ngàn năm trở lại đường xưa cũ
    Dốc núi cheo leo hiện dáng thiền
    Sông núi đổi dời tâm chẳng động
    Con nguyền lưu giữ mối đạo thiêng.

    Thích Phước Tiến

  8. #8

    Mặc định Chương 6: Thành Xá Vệ

    THÀNH XÁ VỆ
    (Sāvatthī)


    1. Thành Xá Vệ (Sāvatthī) và tinh xá Kỳ Viên (Jetavana)

    Một phần quang cảnh tinh xá Kỳ viên (Jetavana) (Ảnh: Tâm Bửu)


    Nền hương thất của Phật (Ảnh: Tâm Bửu)

    Khoảng 10 giờ, sau khi ngắm sông Hằng và mua sắm vài thứ cần dùng cho chuyến đi, chúng tôi đã rời khỏi Varanasi (Sarnath) đến Xá Vệ (Sāvatthī) đoạn đường đi bằng xe khoảng 6 tiếng đồng hồ, tương đối xa.

    Savatthi hay thành Xá Vệ là một thuật từ quen thuộc trong nhiều bản kinh Phật giáo đại thừa, như kinh A Di Đà, kinh Vu Lan Bồn….Bởi vì tại nơi đây, đức Phật đã thuyết nhiều bài pháp rất quan trọng.

    Khi đến nơi được cho là thành Xá Vệ, chúng ta không thấy được gì về dáng dấp của một kinh thành nguy nga, trù phú ngày xưa nữa, nếu không có những nền gạch cũ của các thánh tích Phật giáo còn sót lại. Nhờ nền gạch cũ của các tu viện Phật giáo nổi tiếng trong thành Xá Vệ từ thời đức Phật, chúng ta mới đoán chắc được vùng này từng là một kinh thành thời xa xưa.

    Sāvatthī là tiếng Pāli được phiên âm là Xá Vệ, là kinh đô của nước Kiều Tát La (Kosala), do vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) cai trị. Đất nước Kiều Tát La là một trong những quốc gia cường thịnh bậc nhất về chính trị, kinh tế lẫn quân sự vào thời đức Phật còn tại thế. Dân chúng trong thành đông đúc, hiền lương và rất là giàu có. Cũng trong kinh thành nguy nga tráng lệ này, nhiều sự kiện lịch sử trọng đại liên quan đến Phật giáo được diễn ra, mà khi mới nghe qua chúng ta ngỡ ngàng như một câu chuyện huyền thoại. Đặc biệt nhất chính là câu chuyện mua đất xây tinh xá cúng dường đức Phật của một phú gia tên là Cấp Cô Độc (Anāthapindika), khởi nguồn cho một đạo Phật thâm nhập vào trong xứ sở vốn nhiều giáo phái ngoại đạo đang ảnh hưởng lớn mạnh tại nơi này. Sau cuộc hội ngộ với đức Phật tại thành Vương Xá (Rājagaha) nước Ma Kiệt Đà (Magadha) và được đức Phật thuyết pháp giáo hoá, ông Cấp Cô Độc vui mừng khôn tả xiết xin được làm đệ tử của Ngài. Để tỏ lòng cung kính đức Phật, ông Cấp Cô Độc liền trở về thành Xá Vệ nước Kiều Tát La và muốn xây dựng ngôi tịnh xá để thỉnh Phật thuyết pháp. Mặc dù đã tìm kiếm khắp nơi trong thành Xá Vệ nhưng chưa có một khu đất nào vừa với nguyện vọng của ông. Cuối cùng, ông nhớ đến vườn cây của thái tử Kỳ Đà (Jeta), con vua Ba Tư Nặc, là nơi lý tưởng nhất, thích hợp nhất để thực hiện nguyện ước của mình. Nhưng điều quan trọng là làm thế nào để mua được mảnh đất này, vì ông thừa biết rằng, thái tử Kỳ Đà không cần bất cứ gì để đổi lấy khu ngự uyển đẹp đẽ là nơi thư giãn hàng ngày của ông. Bởi quá nôn nóng cho công việc của mình, lại thêm một lòng kính trọng đức Phật đã thúc đẩy trưởng giả Cấp Cô Độc đến tìm gặp thái tử Kỳ Đà để thương lượng.

    Thái tử Kỳ Đà rất ngạc nhiên và quái lạ cho sự việc buôn bán này. Nhưng vì nể uy đức của ông Cấp Cô Độc, người thường bố thí cho dân nghèo và ủng hộ đắc lực cho ngân khố quốc gia, nên thái tử trả lời đùa cho qua câu chuyện: “ Trong khu vườn này, nếu ông trải vàng đến đâu thì tôi bán cho ông đến đó”. Chỉ cần một lời hứa suông của thái tử Kỳ Đà, ông Cấp Cô Độc cho người về kho lấy đủ số vàng để trải khắp khu vườn này, chẳng những thế mà nơi mỗi gốc cây đều có một nhúm vàng tương đương với chu vi của nó. Thái tử Kỳ Đà vô cùng kinh ngạc, khi thấy ông trưởng giả thực hiện theo lời đề nghị của mình mà không một chút do dự, điều này đã kích thích lòng tò mò của thái tử. Qua lời giải bày của ông trưởng giả Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà vô cùng thán phục đức Phật, một con người giác ngộ, một bậc vĩ nhân xuất hiện trên cõi Diêm Phù Đề, chỉ vì lợi ích cho chư thiên và loài người. Do đó, thái tử Kỳ Đà muốn góp phần trong việc xây dựng tinh xá cúng dường đức Phật, bằng cách dâng toàn bộ số cây trong vườn cho đức Phật. Vì là vườn của ông Cấp Cô Độc nhưng cây là của thái tử Kỳ Đà, nên trong kinh điển thường ghi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, để nói lên việc cúng dường hy hữu này.

    Trong 45 năm hoằng hoá độ sanh, đức Phật đã trải qua 25 mùa mưa nơi thành Xá Vệ, riêng tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) đức Phật đã an cư đến 19 lần. Điều đó đủ cho chúng ta thấy được tầm quan trọng và uy thế của kinh thành Xá Vệ nói chung hay tịnh xá Kỳ Viên nói riêng đối với sự phát triển Phật giáo lớn lao biết dường nào!

    2. Vai trò vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) đối với Phật giáo

    Bên cạnh những đại thí chủ ủng hộ Phật pháp như Cấp Cô Độc thì vai trò của vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) trị vì vương quốc Kiều Tát La (Kosala) cũng không kém phần quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo. Được sự hướng dẫn khéo léo của hoàng hậu Phật tử Mạc Lị (Mallika), người rất tin và thâm hiểu Phật giáo, vua Ba Tư Nặc trở thành một vị minh quân, cai trị dân chúng theo con đường của Phật giáo, vì vậy đất nước càng trở nên thịnh trị, thái bình, dân chúng an cư lạc nghiệp.

    Nhờ sự bảo hộ của vua chúa, nên đạo Phật phát triển rất là mạnh mẽ, cơ sở Phật giáo được xây cất lên nhiều, từ vua quan cho đến thứ dân đều thấm nhuần giáo lý Phật đà. Những lời vàng ngọc của đức Phật dạy cho vua Ba Tư Nặc về cách trị dân được ghi lại tóm tắt như sau: “Những hành động thiện hay ác của chúng ta mãi theo chúng ta như bóng theo hình. Ðiều cần thiết mà chúng ta phải có là tình thương. Hãy xem thần dân như con ruột của mình, đừng áp bức họ, đừng tổn hại họ, trái lại hãy bảo vệ họ như gìn giữ tay chân của mình. Hãy sống với Chánh Pháp và đi mãi trên con đường lành. Ðừng nâng mình lên bằng cách đạp kẻ khác xuống. Hãy gần gũi và thương yêu những kẻ nghèo khổ.

    Ðừng nghĩ nhiều đến địa vị quốc vương và đừng nghe những lời nịnh hót. Không có một sự an lạc nào trong sự làm khổ mình bằng cách ép xác. Nên chú tâm vào Chánh pháp và áp dụng Chánh pháp trong cuộc sống. Chúng sanh đang bị bao quanh bởi những núi thành sầu khổ và chỉ có thể giải thoát bằng cách sống thật với chân lý. Tất cả những bậc trí giả đều ghê tởm những thú vui thấp hèn của xác thịt và trọn sống cho trí tuệ. Thử hỏi: làm sao chim chóc có thể đậu được trên một cây đang bốc cháy dữ dội? Chơn lý cũng vậy, không thể tìm thấy nó trong cuộc sống đầy dục vọng. Không nhận thức được như thế, dầu được xưng tụng là Thánh nhân cũng chỉ là kẻ dốt nát. Nhận thức được như thế là người thật có trí tuệ. Hãy dành nhiều thời giờ cho việc khai sáng tâm trí. Thiếu trí tuệ, cuộc đời trở nên vô nghĩa. Tất cả giáo nghĩa của các tôn giáo phải phụng sự cho trí tuệ loài người. Nếu không chúng không có lý do để tồn tại”.

    Đây chính là đạo đức căn bản của người có nhiệm vụ cai trị muôn dân mà suốt đời vua Ba Tư Nặc ứng dụng để đem lại sự phồn vinh và thịnh trị cho đất nước Kosala.

    3. Giảng đường Lộc Mẫu

    Cách tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) khoảng 5 km có một vườn xoài, và một bức tường đổ, được cho là khu giảng đường Lộc Mẫu, do nữ thí chủ Tỳ Xá Khư (Visakha) cúng dường. Nữ thí chủ Tỳ Xá Khư là một Phật tử giàu có đứng hàng thứ nhì ở thành Xá Vệ, chỉ sau Cấp Cô Độc. Bà rất tín mộ Phật và phát tâm làm một ngoại hộ thiện tri thức, cúng dường mọi nhu cầu cho tăng ni tu học tại kinh thành này. Có lần bà cầu xin Phật chấp thuận cho bà 8 điều nguyện ước. Nội dung của tám điều ấy đại khái như sau:

    1. Trọn đời cúng dường Y trong mùa mưa cho các thầy Tỳ Kheo (ngoài 3 bộ Y chính).
    2. Được cúng dường thực phẩm cho các thầy Tỳ Kheo mới đến.
    3. Được cúng dường thực phẩm cho các thầy Tỳ Kheo đi xa.
    4. Được cúng dường thực phẩm cho các thầy Tỳ Kheo bị bệnh.
    5. Cúng dường thực phẩm cho những người nuôi các thầy Tỳ Kheo bị bệnh.
    6. Được trọn đời cúng dường cháo sữa buổi mai cho chư tăng.
    7. Thuốc men cho các thầy Tỳ Kheo bị bệnh.
    8. Được cúng dường y tắm cho các Tỳ Kheo ni.

    Đức Phật đã hứa khả và nói lên lời tán thán công đức bà: Lành thay! lành thay! Tỳ Xá Khư! Ngươi đã khéo xin Như Lai 8 điều trên với những lý do rất xác đáng và lợi ích. Cúng dường đến những người đáng cúng dường như gieo giống trên đất tốt và sẽ được gặt hái nhiều quả tốt. Trái lại nếu cúng dường cho những kẻ thiếu đạo đức, còn mang nặng dục vọng thấp hèn thì chẳng khác gieo giống trên đất xấu. Nắng dục vọng của người thọ lãnh sẽ làm khô chết giống công đức của người cúng dường.

    Bà đã dành một khu vườn xoài lớn, thoáng mát và rộng rãi cho Phật và chúng tăng. Trong khuôn viên này, Bà xây dựng một ngôi đại giảng đường nằm ở phía Đông của khu vườn nên gọi là Đông Viên Tịnh Xá. Vì bà là người cư sĩ đức hạnh, mẫu mực, yêu thương giúp đỡ mọi người, nên được người dân trong thành tôn xưng là Lộc Mẫu (Migāramāta) nghĩa là tình thương yêu, chăm sóc dành cho mọi người hiền lành như nai mẹ thương con. Và đó là lý do vì sao ngôi đại giảng đường có tên là Lộc Mẫu.

    Tại ngôi giảng đường này đức Phật cũng thuyết nhiều bài kinh quan trọng như kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Tiểu Mãn Nguyệt ... và nhiều đoạn kinh có đề cập đến bà. Bà sống trên 120 tuổi, qua đời sau đức Phật Niết Bàn khoảng 60 năm.

    4. Cội Bồ Đề Ānanda


    Cội Bồ Đề A Nan Đa (Ảnh: Tâm Bửu)

    Từ cổng chính tinh xá Kỳ Viên (Jetavana) đi vào khoảng 30m, phía bên phải, chúng ta nhìn thấy một cây Bồ Đề thật to nằm sát bên lối đi, có hàng rào bao bọc để bảo vệ, đó chính là cây bồ đề của Ngài A Nan Đà (Ānanda) trồng.

    Chúng ta thường biết rất rõ về cây Bồ Đề linh thiêng tại thánh địa Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), cội cây mà đức Thế Tôn thiền định 49 ngày đêm và chứng vô thượng giác, nhưng ít người trong chúng ta biết đến cây Bồ Đề tại tinh xá Kỳ Viên, do Ngài A Nan chiết từ cây bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng. Tại sao lại là cây Bồ Đề từ chỗ Phật thành đạo mà không phải là cây Bồ Đề khác hay bất cứ loại cây gì để gây bóng mát? Việc này bắt đầu từ một lần nọ, trưởng giả Cấp Cô Độc đến tịnh xá Kỳ Viên thăm viếng đức Phật. Vào lúc đó, đức Phật đang đi du hoá nơi xa nên ông không gặp được đức Phật. Trong thời gian đức Phật không có mặt nơi tịnh xá Kỳ Viên, không riêng gì Cấp Cô Độc mà còn rất nhiều tín chủ đến chiêm bái và cúng dường vật thực đều thất vọng, buồn bã vì không đảnh lễ được đức Thế Tôn. Theo lời đề nghị của trưởng giả Cấp Cô Độc là làm sao đảnh lễ được đức Phật khi Ngài du hoá phương xa? Ngài A Nan đã thưa chuyện này lên đức Phật. Đức Phật dạy Ngài A Nan nên trồng một cây Bồ Đề lấy từ Bồ Đề Đạo Tràng. A Nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Xin Ngài hoan hỷ cho con đem giống Bồ Đề từ cây Bồ Đề nơi Thế Tôn đã thành đạo mang về đây trồng trước cửa tinh xá”. Đức Phật đồng ý: “Được lắm A Nan! Hãy trồng cây Bồ Đề tại đây và hãy nói với chư thiện nam tín nữ là ta luôn hiện diện dưới cội Bồ Đề này. Sau khi Ngài Mục Kiền Liên đem giống Bồ Đề về đến tinh xá, tôn giả A Nan mang nó trồng trước cổng Tinh Xá Kỳ Viên. Đức Phật toạ thiền dưới gốc cây này một đêm, để cây Bồ Đề được hấp thụ khí thiêng từ công đức của Phật. Từ đó cây Bồ Đề này được đặt tên là Ānanda.

    5. Nền tháp tôn giả Vô Não và nền nhà Cấp Cô Độc


    Nền tháp tôn giả Vô Não (Angulimala) (Ảnh: Tâm Bửu)


    Nền nhà trưởng giả Cấp Cô Độc (Annathapindika) (Ảnh: Tâm Bửu)

    Cách tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) không xa có hai nền tháp cũ gần nhau khoảng 100m, đó là nền nhà của ông Cấp Cô Độc (Anāthapindika) và nền tháp của tôn giả Vô Não (Angulimala). Riêng nền tháp của tôn giả Angulimala không còn nguyên vẹn như nền nhà của Cấp Cô Độc mà nó chỉ là một khối gạch cũ với nhiều đường hầm và lối đi lỏm chỏm đá gạch. Người quanh vùng thường gọi tháp này với tên địa phương là tháp Kacchi Kuti.

    Trước khi trở thành sa môn Phật giáo, Angulimala là một tên sát nhân hung bạo tại thành Xá Vệ. Vua Ba Tư Nặc rất khổ tâm về tên giết người quái lạ chỉ vì ngón tay này. Thật ra, ban đầu Angulimala là một chàng thanh niên hiền lành chất phác, không làm tổn hại ai nên có tên là Ahimsā nghĩa là Vô Não. Vì bị đầu độc bởi một tà sư ngoại đạo nên Angulimala trở thành kẻ giết người lấy ngón tay làm vòng hoa đeo cổ, hầu mong đạt đạo khi vòng hoa đủ số 1000 ngón tay của một ngàn người. Chỉ thiếu một ngón tay thôi là đủ số lượng nhưng ông ta tìm mãi không ra được một người nào ngang qua khu rừng vắng. Do quá nôn nóng cho việc đắc đạo mù quáng của mình nên Angulimala trở về nhà toan giết mẹ cho đủ số một 1000 ngón tay. Nhờ duyên lành nhiều kiếp trong quá khứ, đức Phật dùng thần lực nhiếp hóa để ông khỏi mang tội đại nghịch giết mẹ. Sau khi ăn năn tội lỗi của mình nhờ giác ngộ được lời Phật dạy, Angulimala xuất gia theo Phật, tu hành tinh tấn, chẳng bao lâu chứng được thánh quả A La Hán, nhưng phải chịu nhiều quả báo do nghiệp ác đã gieo. Toàn bộ nội dung, tình tiết câu chuyện này được ghi lại trong kinh Angulimala, số 86, thuộc Trung Bộ.

    Thích Phước Tiến

  9. #9

    Mặc định Chương 7: Thành Tỳ Xá Ly

    THÀNH TỲ XÁ LY
    (Vesāli)


    1. Khái quát thành Tỳ Xá Ly cổ xưa


    Khoảng 1 giờ chiều ngày mùng hai Tết Mậu Tý, đoàn chúng tôi đã đến chùa Kiều Đàm Di, ngôi chùa Việt Nam tại Vesāli, ni sư Khiết Minh trụ trì, xin nghỉ tạm một đêm, để thăm viếng các thánh tích tại đây. Sau khi được một bữa cơm đậm đà hương vị Việt Nam do chư ni trong chùa thết đãi, nhất là trong dịp tết, đoàn chúng tôi cảm thấy vui sướng và rất xúc động cho những nữ tu Việt Nam phát nguyện dấn thân công quả, chung góp bàn tay vun đắp nơi thánh địa này ngày càng sung thạnh, biến đất khô cằn sỏi đá thành những luống rau xanh tươi tốt, biến mảnh đất hoang vô dụng thành ngôi tự viện khang trang. Nhờ những hình ảnh thánh thiện, những con người hy sinh vì đạo lớn đã khích lệ đoàn chúng tôi càng quyết tâm hơn nữa, làm việc trong tinh thần trách nhiệm, hài hoà, mong hoàn thành tốt những tiêu chí đã đặt ra.

    Tỳ Xá Ly (Vesāli) là thủ đô của bộ tộc Licchavi, nước cộng hoà đầu tiên trên thế giới, nơi mà có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại liên quan đến Phật giáo. Chính nơi đây, là điểm dừng chân lần cuối của đức Phật để thuyết pháp và chúc phúc cho toàn dân thành Vesāli, vì Ngài thừa biết rằng mình không bao giờ trở lại nơi này thêm một lần nào nữa. Khi rời Tỳ Xá Ly, đức Phật đã ngoái đầu nhìn lại và tán thán: “Ôi xinh đẹp thay thành phố Tỳ Xá Ly! Ôi xinh đẹp thay những điện thờ và những khu lâm viên của Tỳ Xá Ly.” Thành phố Tỳ Xá Ly còn là quê hương của Ngài Duy Ma Cật, một vị cư sĩ Bồ Tát nổi tiếng mà đức Phật đã đề cập như một nhân vật giác ngộ chính trong Kinh Duy Ma Cật. Thành phố này còn là nơi nhận một phần tám xá lợi của đức Phật ngay sau lễ Trà Tỳ của Ngài. Những năm trước khi nhập diệt, đức Phật thường hay lưu trú tại thành Tỳ Xá Ly này.

    Lần thứ nhất Ngài từ Ma Kiệt Đà (Magadha) đến Tỳ Xá Ly do lời thỉnh cầu của toàn dân trong thành, mong nhờ oai đức của Phật để cứu bá tánh chúng sinh thoát khỏi nạn đói do hạn hán kéo dài, dân trong thành chết như rạ và dẫn đến nạn dịch nguy hiểm. Dân chúng Tỳ Xá Ly với nghi lễ trang nghiêm rực rỡ đến biên giới thỉnh Phật. Ðức Phật qua sông Hằng và lên bờ sang nội địa của Tỳ Xá Ly. Khi về đến thành Tỳ Xá Ly đức Phật thuyết kinh Châu Báu (Ratana sutta) hay còn gọi là kinh Cầu An, thuộc Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikāya). Sau đó đức Phật sai tôn giả A Nan cùng các vương tử Licchavi đi xung quanh kinh thành, vừa tụng kinh này, vừa rải nước được lấy từ bình bát của đức Phật. Thật là mầu nhiệm, tiếng tụng kinh vang đến chỗ nào thì nơi đó sấm sét nổi lên và mưa tuôn xuống, nhờ vậy mà dịch bệnh nơi đó biến mất. Sự kiện này đã làm cho dân chúng Tỳ Xá Ly càng kính tin đức Phật, hàng vạn người dân trong thành xin được quy y làm đệ tử tục gia của đức Thế Tôn. Dân chúng và Chính phủ hợp lực xây dựng tinh xá tên là Trùng Cát (Kutagara), trong rừng Đại Lâm (Mahavana) để thỉnh Phật và chư Tăng ở lại. Sau 7 ngày đức Phật trở về lại Ma Kiệt Đà với sự tiễn đưa rất là long trọng.

    2. Nơi thành lập Ni đoàn Phật giáo


    Trụ đá vua A Dục và tháp thờ Xá Lợi Phật, đánh dấu nơi thành lập Ni đoàn
    (Ảnh: Tâm Bửu)

    Ðức Phật trở lại Tỳ Xá Ly nhiều lần sau đó, thường ngự tại tinh xá Trùng Cát. Nhiều bộ kinh được thuyết tại nơi này như Mahali, Mahasihanadas, Cula Saccaka Mahasaccaka... Cũng chính tại khu rừng Đại Lâm xứ Tỳ Xá Ly này, Ni đoàn Phật giáo chính thức được thành lập, nghĩa là đức Phật chấp thuận cho nữ giới xuất gia, đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại, đó là nữ tu sĩ có vai trò trong đoàn thể Phật giáo, đề cao vai trò của nữ giới nơi Ấn Độ nói riêng hay tinh thần bình đẳng nam nữ trên khắp thế giới nói chung, là nét nhân văn cao đẹp, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo cũng như các trường phái tư tưởng được biết trước và ngay thời đức Phật. Bằng lời nói khẳng định của đức Từ Phụ: “Nếu phụ nữ tu hành tinh tấn cũng có thể chứng quả A La Hán”. Và cũng từ ý nghĩa quan trọng này, Đại Thừa đã phát triển lên đến đỉnh cao về mặt tư tưởng là Phật tánh bình đẳng hay tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và sẽ thành Phật. Đây là giáo nghĩa thâm thuý và viên đốn trong văn học tư tưởng Đại thừa. Luật tạng ghi chép rằng, sau khi vua Tịnh Phạn (Suddhodana) băng hà, di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahāpajāpati Gotamī) cùng 500 thể nữ dòng họ Thích Ca (Sakyā) tự cạo tóc, thân đắp cà sa, đi chân đất từ thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) đến Tỳ Xá Ly (Vesāli), nơi đức Phật đang giáo hóa xin được xuất gia. Nhờ sự nhẫn nại thưa thỉnh thống thiết của A Nan cùng với quyết tâm cao độ của di mẫu và các thể nữ dòng họ Thích, được biểu hiện bằng những hành động cụ thể, đức Phật đã chấp thuận cho nữ lưu gia nhập Tăng đoàn, nhưng họ phải tuân thủ tám điều (bát kỉnh pháp) từ ngày xuất gia cho đến trọn đời. Tám điều ấy là:

    1 Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ khi gặp thầy Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo.
    2- Một Tỳ kheo ni không được khiển trách hay nặng lời đối với một vị Tỳ kheo trong bất kỳ trường hợp nào.
    3- Tỳ kheo ni không được ngăn Tỳ kheo xét tội, thuyết giới, tự tứ hay nói lỗi của Tỳ kheo. Trái lại, Tỳ kheo được quyền cử tội Tỳ kheo ni.
    4- Muốn thọ trì Cụ túc giới phải thông qua hai bộ Tăng: Tỳ kheo ni và Tỳ kheo
    5- Nếu Tỳ kheo ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) thì phải đến trước hai bộ Tăng thực hành pháp Ý hỷ (Ma na đỏa) trong thời gian nửa tháng.
    6- Nửa tháng phải đến bên Tỳ kheo tăng cần cầu dạy bảo.
    7- Không được an cư kiết hạ ở địa phương nào không có Tỳ kheo ở.
    8- Khi an cư xong, phải đến Tỳ kheo tăng cầu ba sự tự tứ: thấy, nghe và nghi.

    Những điều lệ căn bản và thiết yếu này chính là cái nhìn tuệ giác của Phật, không phải vì ràng buộc mà nhằm bảo hộ cho ni đoàn sinh hoạt yên ổn và khiến nữ giới dễ diệt trừ bản ngã để đạt thánh vị mau chóng.

    Từ các nền móng của các ngôi tự viện cũ tại Tỳ Xá Ly, người ta cũng xác định được đâu là ngôi tịnh xá mà xưa kia chư ni đã từng lưu trú tu tập.

    3. Trụ đá vua A Dục (Asoka)


    Trụ đá vua A Dục (Ảnh: Tâm Bửu)

    Trong triều đại của vua A Dục (Asoka), vào năm thứ 20, Ông cũng thân hành đến nơi đây để chiêm bái và dựng thạch trụ, một trong nhiều thạch trụ ở Ấn Độ, để đánh dấu sự kiện trọng đại của Phật giáo tại thành Tỳ Xá Ly này. Hiện nay, hầu hết các trụ đá của vua A Dục được dựng lên trong tất cả các thánh tích, điều bị tàn phá, gãy đổ, do các đế chế đối nghịch Phật giáo và quân Hồi giáo bạo tàn. Chỉ duy nhất nơi đây thạch trụ sư tử một đầu vẫn còn nguyên vẹn và đứng vững vàng, hiên ngang giữa khu phế tích Phật giáo. Thạch trụ là một khối đá nguyên được đẽo gọt tròn láng, cao khoảng 11m và đường kính khoảng 1m. Trên thân trụ có nhiều hoa văn và những bia ký được khắc bằng kiểu chữ Brahmi, ở đỉnh có hình sư tử một đầu hướng về phương Bắc. Nhờ những chữ khắc trên thân trụ mà người ta được biết chính nơi đây đức Thế Tôn đã để lại những di ngôn cuối cùng trước khi giã từ dân chúng Tỳ Xá Ly đi về Câu Thi Na nhập Vô Dư Niết Bàn. Phía trước thạch trụ là nền gạch cũ chu vi khoảng 15 m vuông, cao khoảng 3m, đó là ngôi tháp do vua A Dục xây dựng để thờ Xá Lợi Ngài A Nan, người có công đầu trong việc xin cho nữ giới thành lập ni đoàn Phật giáo. Vào năm 1976, các nhà khảo cổ đã khai quật và tìm thấy một hộp bằng đá đựng xá lợi, vài lá vàng ròng và những viên đá quý rất nhỏ. Xung quanh ngôi tháp này cũng có nhiều bờ tường cũ mục, cũng có thể là di tích của những tu viện cũ hay những ngôi tháp nhỏ được xây dựng xung quanh đại tháp này. Phía sau thạch trụ khoảng 10m, có một cái hồ nước hình chữ nhật có tên là Ramakunda, nghĩa là Hồ Khỉ, nhằm lấy tên của một con khỉ chúa thường xuyên thỉnh bát của Phật, leo lên các cành cây hái trái và lấy mật để cúng dường đức Phật khi Ngài dừng chân tại khu Đại Lâm này.

    4. Tháp thờ Xá Lợi Phật của dòng họ Licchavi


    Tháp thờ Xá Lợi Phật của dòng họ Licchavi (Ảnh: Tâm Bửu)

    Cách trụ đá khoảng 3km về hướng Tây, có một nền tháp lớn thuộc dòng họ Licchavi xây dựng để tôn thờ Xá Lợi Phật. Người ta cho rằng, vua A Dục đã khai quật tháp này, đem xá lợi phân chia thành nhiều phần nhỏ và xây dựng tháp thờ trên khắp xứ Ấn Độ. Hiện nay, nơi này chỉ còn lại nền gạch cũ chạy vòng tròn, sâu trong lòng dất khoảng 4m. Phía trên dựng lều vòm tròn bằng vật liệu nhẹ và toon nhựa màu xanh, để che nắng mưa làm hạn chế sự xói mòn và phá hoại của môi trường tự nhiên.

    5. Ngôi nhà kỹ nữ Ambapālī


    Trước cổng nền nhà kỹ nữ Ambapālī (Ảnh: Tâm Bửu)

    Quanh vùng Tỳ Xá Ly (Vesāli) này, người dân thường tương truyền với nhau về câu chuyện của kỹ nữ Ambapālī còn có tên là cô gái vườn xoài, là một kỹ nữ tài hoa, nhan sắc tuyệt trần, dáng vẻ quí phái. Tiếng tăm của nàng không chỉ vang dội tại thành Tỳ Xá Ly mà còn lan xa đến các nước lân cận, làm cho nhiều vương tôn công tử bỏ nhiều công sức và tiền bạc cho nàng. Nhan sắc của nàng chinh phục cả đại quốc vương Tần Bà Sa La (Bimbisāra), là vua của nước Ma Kiệt Đà (Magadha) nên nàng đã có một con trai với vị vua này tên là Vimalakondanna, vị này sau trở thành Tỳ kheo trong giáo đoàn của Phật.

    Lần cuối cùng, đức Phật và tăng đoàn ngang qua thành Tỳ Xá Ly và dừng nghỉ tại khu vườn xoài của Bà. Bà vội đến thỉnh cầu đức Phật và chúng tăng nhận phần cúng dường ngọ trai ngày hôm sau. Đức Phật nhận lời bằng cách im lặng, đây là cử chỉ chấp nhận thường dùng trong Phật giáo. Khi hay tin đức Phật nhận bữa ngọ trai ngày hôm sau do Ambapālī cúng dường, nhiều phú gia cũng như các hàng công tử đến mặc cả nhường buổi cơm trưa cho vị thượng khách như đức Phật với giá rất cao nhưng Bà tuyệt đối từ chối (kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc Trường Bộ). Sau bữa ngọ trai thịnh soạn hôm đó, Bà phát tâm cúng dường cả vườn xoài cho Phật và chúng tăng để xây dựng tinh xá. Một phần nhờ những lời cảm hoá của con trai Bà, bây giờ là đại đức Vimalakondanna, một phần do Bà quán chiếu được sự vô thường tạm bợ của thân xác, sắc đẹp chóng tàn phai, mọi của cải vật chất không phải là cứu cánh của đời người, nên Bà phát tâm xuất gia, trở thành Tỳ kheo ni và dốc lòng tu tập, chẳng bao lâu chứng đắc quả vị A La Hán. Những lời giác ngộ của Bà được ghi chép đầy đủ trong Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā).

    Ngày nay, đến tận nơi khu vườn lịch sử này, chúng ta không còn thấy gì giống như sự mô tả trong kinh điển, mà chỉ là khu phố nhỏ nghèo nàn, buôn bán vài thứ hàng thôn quê và tạp nhạp khác. Khuôn viên có hàng rào bao quanh, phía trên cổng vào có hàng chữ được cho là nền nhà của Ambapālī, bên trong là ngôi trường làng nho nhỏ có hai phòng. Thật tế một điều, cư dân quanh vùng vẫn xác định đây chính là nơi ở của Bà ngày xưa và truyền nhau câu chuyện li kỳ, như một niềm tự hào về một danh nhân bản địa. Chúng tôi được biết là họ sẽ trồng lại khu vườn xoài trong một tương lai gần để kỷ niệm khu vườn xoài vang tiếng của mấy ngàn năm về trước.

    6. Nền nhà của Bồ Tát Duy Ma


    Khu được cho là nền nhà của Bồ Tát Duy Ma Cật (Ảnh: Tâm Bửu)

    Trên đoạn đường đi đến nhà Ambapālī, chúng tôi dừng lại khu vực được cho là nền nhà của cư sĩ Bồ Tát Duy Ma thuở xưa, nhân vật được xem như là lý tưởng nhất, là danh xưng của một bộ kinh đặc trưng trong văn học Phật Giáo Đại Thừa, đó là Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh. Nhờ tính đa văn, biện tài xuất chúng làm cho các vị thánh đệ tử của Phật thán phục trí tuệ của ông. Mặc dù là nơi có ngôi nhà tên tuổi trong thành Tỳ Xá Ly năm nào, hiện nay chỉ là vùng đất hoang sơ, cỏ mọc um tùm, bao quanh một hồ nước mênh mông, với một vài cây cổ thụ nghiêng mình trên mặt hồ trong xanh yên ả. Không có một dấu vết gì để chúng ta hình dung và liên tưởng đến sự huyền bí của ngôi tịnh thất một trượng sáu vuông chứa ba ngàn toà sư tử. Nhìn cảnh vật vắng vẻ, buồn tênh, lòng bỗng nao nao khó tả, khi nghĩ về cuộc đời vô thường sanh diệt, nay cồn mai biển, bãi bể nương dâu, biết bao kiếp làm người trên trần thế này cũng không thấu hết nỗi buồn nhân thế. Chỉ có tuệ giác như đức Phật, chỉ có chứng ngộ, chúng ta mới hiểu thấu mọi vấn đề mà ngôn ngữ trần gian không thể nào diễn tả hết mọi sự biến thiên của vũ trụ. Xe đã rời khỏi nơi kỷ niệm ngàn xưa của Ngài Duy Ma, nhưng hình ảnh hoang sơ, yên ả của buổi xế chiều vừa chứng kiến cứ hiện mãi trong lòng kẻ lữ hành đang tìm lại những gì còn sót lại trên quê hương Phật giáo, đã bị tàn phá bởi thiên nhiên và cả lòng hiềm thù, hẹp hòi ích kỷ của con người.

    7. Nơi kết tập kinh điển lần II


    Khu kết tập kinh điển lần thứ II (Ảnh: Tâm Bửu)

    Vừa qua đoạn đường đất gồ ghề trong một vùng quê hẻo lánh, nếu trời mưa thì không cách nào có thể đến nơi được, đó chính là địa điểm diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai, khoảng 100 năm sau Phật Niết Bàn. Nỗi buồn về ngôi nhà của Ngài Duy Ma Cật chưa hết niềm vương vấn, lại phải chứng kiến cảnh xâm chiếm bất hợp lệ của ngoại đạo đó là đền thờ Ấn giáo nằm giữa mô đất được cho là nơi lịch sử mà bảy trăm vị thánh tăng tập trung kết tập kinh điển còn gọi là Thất Bách Kết Tập. Và từ cuộc kết tập kinh điển này, Phật giáo chia thành hai bộ phái: Thượng Toạ Bộ (Theravāda) và Đại Chúng Bộ (Mahasanghika).

    Không riêng gì nơi này, hầu hết các thánh địa Phật giáo tại Ấn Độ, bất cứ nơi nào có thánh tích Phật giáo thì người Ấn giáo lại xâm canh ngay nơi phần đất quan trọng và dựng lên một ngôi đền, hoặc một loại thờ tự nào mà họ cho là linh thiêng. Khu kết tập kinh điển có khả năng dung chứa bảy trăm vị thánh tăng hôm nào, nay chỉ là mô đất nhỏ đủ để xây một cái “nhà chòi” bằng gạch của Ấn giáo. Phía trước có một cây Bồ Đề rất lớn, tàng phủ trùm cả một vùng chắc cũng hàng trăm tuổi thọ. Xung quanh là ruộng lúa và những đồng cỏ hoang vu cùng với những con đường mòn của người địa phương. Hoàng hôn bắt đầu phủ trùm trên lối đi, cảnh vật xung quanh dường như mờ dần, lại thêm nơi vắng vẻ, đoàn chúng tôi chỉ ghi một vài hình ảnh lưu niệm và bắt đầu lên đường trở về khách sạn từ bi (chùa Kiều Đàm Di) nghỉ ngơi. Chúng tôi thiết nghĩ, thôi hãy để mọi việc chìm vào quá khứ như vạn vật chìm vào bóng đêm. Đời là thế, mạnh được yếu thua, là một quy luật mà đức Thế Tôn đã nhìn thẩm thấu và bất mãn sau lần đầu tham dự lễ Hạ điền thuở thiếu thời. Và cũng từ cái nhìn thẩm thấu đó mà ngày hôm nay nhân loại mới có một đạo Phật nhân bản chỉ vì lợi ích của con người, một chân lý sống đầy tuệ giác, là quà tặng vô giá cho tất cả mọi người con Phật, cho cả những ai biết sống vì con người vì cuộc đời.

    Thích Phước Tiến

  10. #10

    Mặc định

    Cám ơn Love Tamlinh. Bài viết rất lý thú. Tôi sẽ thu xếp công việc để hành hương đến Đất Phật trong thời gian tới. Không biết huynh đi với công ty lữ hành nào vậy?

  11. #11

    Mặc định Chương 8: Câu Thi Na

    CÂU THI NA
    (Kusinagar, hành trình cuối cùng của Phật)


    1. Tháp Niết Bàn và tháp Xá Lợi


    Tháp Niết Bàn và tháp Xá Lợi (Ảnh: Tâm Bửu)

    Khoảng tám giờ tối, đoàn chúng tôi đến Câu Thi Na (Kusinagar) thuộc bang Bihar, nơi mà hơn 2500 năm về trước đức Thế Tôn từ giã cõi đời an trụ Vô Dư Niết Bàn, tìm chỗ nghỉ ngơi để chuẩn bị cho công việc ngày hôm sau. Đêm nay, chúng tôi ngủ tạm tại chùa Linh Sơn, ni sư Trí Thuận trụ trì, ngôi chùa Việt Nam gần tháp Phật Niết Bàn. Chùa có mở lớp dạy cho học sinh nghèo Ấn Độ khoảng 400 em. Trong khuôn viên chùa có xây dựng tứ động tâm thu nhỏ trông rất xinh, nhằm tưởng nhớ đến bốn sự kiện trọng đại trong cuộc đời đức Phật.

    Sau khi dùng cơm sáng, chúng tôi bắt đầu vào nơi tháp Niết Bàn để làm lễ và ghi hình lưu niệm. Vừa bước vào bên trong khuôn viên của tháp Niết Bàn, lòng chúng tôi bỗng chùn lại và cảm nhận một nỗi buồn man mác, khi hình dung lại chính nơi đây đức Phật đã xả báo thân cuối cùng và an tường thị tịch.

    Giai đoạn cuối cuộc đời ai cũng phải trải qua, nhưng sao nghĩ đến lòng cũng cảm thấy ngậm ngùi chua xót khi phải tiễn biệt người thân và lo lắng khi điều đó sắp xảy ra với chính bản thân mình. Đức Phật đã dạy, cái gì có sanh ắt có diệt, có hợp rồi tan, con người ai cũng một lần được sanh ra và một lần phải chào vĩnh biệt cõi đời. Đó là một qui luật, là một lẽ thật cho dù phủ phàng nhưng không ai có thể thay đổi được. Chỉ khác chăng mỗi người trong chúng ta có một cái chết bình an, có được tự tại như đức Phật hay các vị Thánh để an trụ Vô Dư Niết Bàn hay không, đó mới là điều quan trọng!

    Cuộc thế trăm năm nghĩ cũng dài,
    Nhưng rồi không quá một tầm tay,
    Trăm năm là những gì khoảnh khắc,
    Chợt mất chợt còn như gió bay”.


    Tượng phật Niết Bàn được tôn trí bên trong tháp Niết Bàn (Ảnh: Tâm Bửu)

    Chúng tôi dự định tiến vào bên trong làm lễ, nhưng vì nhiều đoàn đến viếng thăm, đang tụng kinh cầu nguyện và kinh hành nên chúng tôi tạm đứng bên ngoài chờ đợi khoảng nửa giờ. Sau đó đoàn chúng tôi (mặc dù chỉ có năm người) cũng được vào bên trong làm lễ theo truyền thống Phật giáo Việt Nam và đi nhiễu ba vòng quanh kim thân Phật Niết Bàn.

    Như chúng ta được biết, gần 200 km từ Tỳ Xá Ly (Vesāli) đến Câu Thi Na là đoạn đường cuối cùng trong đời mà đức Phật trải qua. Vào thời Phật, Câu Thi Na là kinh đô của cộng hoà Malla, một thị tứ nhỏ và nghèo nàn so với các nước hưng thịnh thời bấy giờ nhưng đức Phật lại chọn nơi này làm nơi đại diệt độ với lý do liên quan đến tiền thân Ngài. Khi đức Phật quyết định về Câu Thi Na nhập Niết Bàn, tôn giả A Nan cảm thấy không được tương xứng với oai danh của đức Thế Tôn nên Ngài liền bạch với đức Phật rằng, tại sao đức Thế Tôn không chọn các đô thị lớn mà đức Thế Tôn đã từng du hoá và có nhiều đệ tử phú gia cúng dường lễ hoả thiêu và thân xá lợi của Ngài như Chiêm Bà (Campā), Vương xá (Rājagaha), Xá Vệ (Sāvatthī), Ba La Nại (Varanasi) .... Đức Phật từ chối và trả lời rằng, thuở quá khứ Câu Thi Na là kinh đô của Chuyển Luân Thánh Vương tên là Thiện Kiến, một trong những tiền thân của Ngài trong quá khứ, là một kinh đô hưng thịnh phú cường. Và cũng chính nơi đây Ngài đã xả báo thân đến bảy lần. Vì vậy, sự chọn lựa của Phật hoàn toàn phù hợp với sự quán sát bằng tuệ giác của Ngài.

    Những lời huấn thị cuối cùng của đức Thế Tôn và bối cảnh diễn ra lúc đó được ghi lại đầy đủ trong kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc Trường Bộ Kinh, kinh Du Hành thuộc Trường A Hàm và những lời dạy trên được tóm tắt trong kinh Di Giáo. Những lời dạy của đức Phật thật từ bi, thương yêu, lo lắng, quan tâm đến tăng đoàn sau này như người cha đầy trí tuệ lo lắng cho các con thơ dại của mình.

    Vẫn là một xác thân tứ đại, đức Phật cũng phải chịu luật vô thường biến hoại như mọi pháp hữu vi có mặt trên cuộc đời. Chúng ta hãy nghe lời tâm tình giữa Phật và thị giả thân tín nhất của Ngài: “Này A Nan! Nay ta đã già cả, đã suy yếu, đã đến hạn kỳ cuối của cuộc đời, ta vừa tròn tám mươi tuổi. Này A Nan, giống như cỗ xe cũ kỹ được làm cho chạy nhờ đám dây da chằng chịt nâng đỡ; cũng vậy, thân Như Lai được duy trì và hoạt động nhờ nâng đỡ bằng dây đai”. Đức Phật dạy: “Này A Nan hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, hãy tự làm nơi an trú cho chính mình, không tìm nơi an trú khác. Lấy chánh pháp làm hòn đảo, lấy chánh pháp làm nơi an trú, không tìm nơi an trú nào khác”. Trường Bộ Kinh - Đại Bát Niết Bàn. Còn biết bao lời nhắn nhủ cuối cùng thắm thiết tình sư đồ như những gì đã từng diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Bởi một sự xúc động trào dâng nên chúng tôi muốn nhắc lại một vài lời dạy đầy thương cảm của đức Thế Tôn. Giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu những di tích kỷ niệm liên quan đến nơi Niết Bàn của Phật.


    Hai cây Sa La song thọ (Ảnh: Tâm Bửu)

    Trong kinh Di Giáo nói rằng: “Trong rừng Sa la, giữa hai cây song thọ, Ngài sắp Niết Bàn. Bấy giờ là lúc giữa đêm, hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động, Ngài đã vì các đệ tử mà nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh pháp” - “Ư Sa la song thọ gian, tương nhập Niết bàn, thị thời trung dạ tịch nhiên vô thanh, vị chư đệ tử lược thuyết pháp yếu”. Như vậy, đức Phật nhập diệt tại rừng Sa La song thọ. Sa La hay còn gọi là Ta La, đây là loại cây khá phổ biến tại các tu viện ở Việt Nam. Chúng có tàng rất đẹp từng đôi đối xứng. Hiện tại, trong khuôn viên tháp Niết Bàn của Phật ở Câu Thi Na, chúng ta không còn thấy được rừng Sa La như thời xưa nữa mà chỉ có hai cây Sa La trồng bên cạnh lối vào tháp, để kỷ niệm sự kiện lịch sử trọng đại này. Chỗ chính yếu của khu thánh địa này là tháp Niết Bàn và tháp thờ xá lợi của Phật. Tháp Niết Bàn có kiến trúc mái vòm hình lăng trụ, được chính phủ Ấn Độ xây dựng lại vào năm 1956 để kỷ niệm lần thứ 2500 đức Phật Niết Bàn, bởi đức Phật nhập Niết Bàn vào ngày rằm tháng 2 năm 544 trước kỷ nguyên Tây lịch. Bên trong ngôi tháp này diện tích mặt bằng hình chữ nhật, có tượng đức Phật nhập Niết Bàn bằng đá đen nhưng đã được thiếp vàng, dài khoảng 7m được tôn trí trên bệ thấp khoảng 5 tấc ngay giữa tháp. Mặt tượng hướng về phía Tây, đầu gối lên tay phải, tay trái để xuôi theo thân về hướng Nam trong tư thế nằm nghiêng.

    Đặc biệt nhất là dường như ít ai kiềm chế được cảm xúc khi ngắm nhìn bức tượng này. Lần đầu tiên vào năm 2005 theo đoàn du lịch chiêm bái các thánh tích Phật giáo, tôi bỗng rung động toàn thân và trào nước mắt khi vừa nhìn thấy kim thân Phật Niết Bàn, đó là những tình cảm chân thành và lòng kính trọng tuyệt đối mà chúng ta đã dành cho đức Phật, một con người bằng xương bằng thịt, một con người lịch sử trên trần gian này. Mặt trước bệ thờ có một vài bức phù điêu nho nhỏ như: hình ảnh vị sư đang bưng mặt khóc, đó là tôn giả A Nan rơi lệ dài trên má trước sự ra đi vĩnh viễn của đức Phật, bởi Ngài chưa đắc quả vị A La Hán, là quả thánh dứt trừ tất cả lậu hoặc, tâm không còn dao động trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đối xứng với hình ảnh này có một phụ nữ đang quỳ mọp khóc than là hình ảnh tượng trưng cho các thiện nam tín nữ khóc nức nở cho lần cuối cùng được ngắm nhìn kim thân Phật. Và hình ảnh vị sư đang thiền định, biểu trưng cho các hàng thánh giả và các Tỳ kheo đạt được sự thanh tịnh tuyệt đối trong tâm hồn.

    Nhìn từ phía mặt tiền của tháp Niết Bàn, chúng ta cứ ngỡ rằng tháp Niết Bàn và tháp Xá Lợi là một cái tháp lớn, có cấu trúc hình lăng trụ phía trước và hình tròn, đỉnh nhọn cao ở phía sau. Thật ra, hai tháp này tách biệt nhau trên một nền cách nhau khoảng 3m, tháp Niết Bàn thờ tượng Phật nhập Niết Bàn ở trước, và tháp xá lợi thờ Xá Lợi Phật nằm phía sau. Tháp thờ xá lợi là do dòng họ Malla kiến tạo và tôn thờ phần Xá Lợi Phật. Theo sách sử ghi lại, ban đầu bộ tộc Malla ở Câu Thi Na không nghĩ rằng xá lợi của Phật phải được phân chia tám nước, vì họ cho rằng đức Phật niết bàn tại địa phương họ thì họ trọn quyền thừa hưởng báu vật vô giá này. Cuối cùng, để tránh đi sự tranh chấp có thể xảy ra bất hoà giữa các nước, bộ tộc Malla nghe theo lời đề nghị của vị Bà La Môn Dona, người đảm trách lễ hoả tán, phân chia xá lợi đều cho tám nước:

    1- Đại vương A Xà Thế (Ajātasatu) thuộc nước Ma Kiệt Đà (Magadha) thành Vương Xá (Rājagaha).
    2- Bộ tộc Licchavi ở Tỳ Xá Ly (Vesāli).
    3- Bộ tộc Thích Ca (Sakyā) ở Tân Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu).
    4- Bộ tộc Buli ở Allakappa.
    5- Bộ tộc Koliya ở Ramagama.
    6- Một bà la môn ở Vethadipa.
    7- Bộ tộc Malla ở Pava.
    8- Bộ tộc Malla ở Câu Thi Na (Kusinagar).

    Như vậy, cộng hoà Malla giữ được hai phần ở hai trú xứ khác nhau, đó là Pava và Câu Thi Na.

    Tuy vậy, khi xá lợi đã được chia xong thì một sứ giả của bộ tộc Moriya ở Pipphalivana đến đòi chia phần. Cuối cùng vị ấy đành phải chịu nhận một ít tro ở giàn hoả. Còn Bà La Môn Dona giữ những gì còn sót lại trong bình đất đựng xá lợi sau khi hỏa thiêu và được dùng để chia phần. Như vậy, tổng cộng được tám bình xá lợi và hai bình tro được tôn trí trong mười ngôi tháp để thờ mười chỗ khác nhau.

    Theo nguồn sử liệu cho biết, đến nay hai bình trong số đó đã được khai quật. Chiếc bình nhỏ hình cầu với lời ghi chú trên nắp mà xưa kia bộ tộc Thích Ca làm lễ nhập tháp tại Ca Tỳ La Vệ mới (Piprahwa) được giữ lại trong bảo tàng quốc gia Ấn Độ ở Calcuta. Còn chiếc bình thứ hai của cộng hoà Licchavi được đào lên tại Tỳ Xá Ly (Vesāli) vào năm 1958. Bình này chứa phần di cốt tro và nhiều vật khác. Những bảo vật này đang thuộc quyền giám hộ của ban khảo cổ và bảo tàng chính phủ quốc gia Bihar ở Patna. Theo quyển Đức Phật Lịch Sử - Tiến sĩ H.W.Schumann.

    Giống như các tháp khác tại Ấn Độ, tháp Xá Lợi này có đỉnh rất cao khoảng 45m. Trong có mái hình vòm, nhọn ở đỉnh. Trên đỉnh tròn của tháp là một hình trụ cao khoảng 0,5 mét, có một hàng hoa văn và một tấm bia bằng đồng khắc kinh Nhân Duyên (Nidana) bằng tiếng Sanskrit và có những dòng chữ ghi lại lịch sử pho tượng Niết Bàn của Đức Phật. Trong tháp có nhiều tháp nhỏ chứng tỏ nó đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1927 tháp được khôi phục hoàn toàn nhờ sự cúng dường của hai Phật tử người Miến Điện là U Po Kyu và U Po Hlaing. Xung quanh tháp chính, có nhiều tháp nhỏ và các nền gạch cũ nằm đan xen chính là nền của các tu viện thời xưa.

    Những ngôi tháp khác bao gồm tháp của Tu Bạt Đà La, người đệ tử cuối cùng già nhất (120 tuổi), xuất gia với Đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn; tháp Ngài Phú Lâu Na, thánh đệ tử thuyết pháp đệ nhất .... Tuy nhiên, sau thời kỳ chiêm bái của Ngài Huyền Trang thì Phật giáo tại thành Câu Thi Na ngày càng mất dần ảnh hưởng. Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII, sử liệu Ấn Độ không hề đề cập gì đến nơi này nữa. Đến thế kỷ thứ XIII, sau cuộc xâm lăng của đạo quân Hồi giáo, loạn lạc khắp nơi, Câu Thi Na hoàn toàn đi vào quên lãng. Bên cạnh đó quân Hồi sẵn sàng đập phá bất cứ thánh tích Phật giáo nào được khám phá trên bước đường viễn chinh của họ. Như vậy, số phận thánh tích Câu Thi Na cũng như các thánh tích khác bị đập phá trong khoảng thế kỷ XII và XIII. Mãi đến thế kỷ thứ XIX, nhà khảo cổ người Anh tên Wilson (1854) tình cờ tìm thấy được dấu tích thành Câu Thi Na. Sau đó các nhà khảo cổ Cunningham và Carlleyle dựa vào tài liệu trong ký sự của Ngài Huyền Trang, tiến hành những cuộc khai quật chính thức và sau đó người ta mới khai quật được tháp Niết Bàn và tháp Xá Lợi trên cùng một nền gạch. Năm 1856 người ta hoàn thành việc tái thiết tháp Niết Bàn. Năm 1956 Phật giáo Nhật Bản lại hợp cùng các hội Phật giáo khác tài trợ trùng tu toàn bộ ngôi tháp Niết Bàn, và kiến trúc ấy vẫn được giữ cho đến ngày nay. Đến những năm đầu thế kỷ XX nhà khảo cổ Vogell đã tìm thêm được một số di tích khác tại làng Câu Thi Na. Ngày nay Câu Thi Na cũng chỉ là một thị trấn nhỏ, cách khu vực Kasia chừng 3 cây số về hướng Tây Nam và cách thành phố Gorakhpur chừng 50 cây số trong bang Uttar Pradesh, thuộc vùng Bắc Ấn Độ. Dân cư quanh vùng rất thưa thớt, nên cảnh trí vẫn còn chút gì đó phản ánh nơi thanh u, yên tĩnh như ngày nào đức Thế Tôn đã chọn nơi đây làm địa điểm đại tịch diệt của Ngài.

    2. Tháp Trà Tỳ (Angrachatya), nơi hoả thiêu nhục thân Phật


    Tháp Trà Tỳ (Ảnh: Tâm Bửu)

    Từ nơi tháp Niết Bàn hướng về phía Đông cách khoảng 2 km có một ngôi tháp gọi là tháp Trà Tỳ, tức là nơi đánh dấu vị trí hoả thiêu nhục thân của Phật. Tháp này trông rất lớn, nhưng không được cao lắm so với các tháp khác. Theo các nhà khảo cổ nghiên cứu, tháp vẫn còn cao khoảng vài mét nữa nhưng vì phần dưới chân bị lún sâu trong lòng đất nên chúng ta chỉ thấy từ mặt đất trở lên như dáng dấp hiện thời. Khi chúng tôi vào thăm viếng, ngôi tháp đang được mọi người chùi rửa và tu bổ. Dáng vẻ ngôi tháp giống như một con rùa, rộng phần chân và mô dần lên đỉnh hay nói thực tế hơn giống như những ngôi mộ làm bằng đất ở các vùng nông thôn Việt Nam. Đường kính đáy tháp khoảng 45 m, cao khoảng 15m. Vào năm 1956, ngôi tháp này cũng được khai quật và tìm thấy rất nhiều di chỉ cùng với niên đại và ký tự thời xưa, chứng tỏ nơi đây chính là chỗ hoả thiêu nhục thân của Phật.

    Căn cứ vào lịch sử Phật giáo, nhục thân của Phật phải hoãn lại bảy ngày sau đó mới hoả thiêu, vì còn phải đợi ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakassapa) cùng với các Tỳ kheo đang trên đường đến Câu Thi Na tham dự tang lễ của Phật. Truyền thuyết kể lại rằng, sau khi đến nơi, ngài Ma Ha Ca Diếp và các Tỳ kheo đi nhiễu quanh kim thân Phật ba vòng và quỳ đảnh lễ. Ngay lúc đó đôi chân của đức Phật đã duỗi ra khỏi kim quan. Ngài Ma Ha Ca Diếp ôm lấy bàn chân của Phật và cúi đầu thọ nhận mật chỉ cuối cùng của Phật. Cũng như xưa kia tại pháp hội Linh Sơn, Ngài đã một lần mỉm cười khi đức Phật đưa cành hoa sen, thầm nhận được yếu chỉ mật truyền từ đức Thế Tôn, trong khi đại chúng tỳ kheo trong pháp hội đều ngơ ngác nhìn. Đức Phật đã phó chúc cho Ngài Ma Ha Ca Diếp rằng: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp nầy, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến đời sau sẽ truyền cho A Nan”. Như vậy chúng ta thấy được tầm quan trọng và uy tín của ngài Ma Ha Ca Diếp đối với đại chúng thời Phật lớn lao như thế nào. Và sau đó Ngài Ma Ha Ca Diếp được đại chúng cung thỉnh châm lửa hoả thiêu nhục thân của Phật.

    Cạnh ngôi tháp này, hướng bên phải từ cổng chính đi vào, chúng ta thấy có nhiều tháp nhỏ lóm khóm còn nguyên vẹn, nằm dưới mặt đất của lối đi cách tháp khoảng 3m và khi đếm thì được tám cái. Những người hướng dẫn nói rằng tám cái tháp nhỏ biểu trưng cho tám vị quốc vương của tám nước được chia xá lợi Phật tại nơi Trà Tỳ.

    Rời khỏi nơi này chúng tôi cũng cảm thấy một chút gì đó ấm lòng khi nhìn thấy cảnh vật được mọi người chăm sóc, cỏ được trồng tỉa vén khéo, tốt tươi. Một tia hy vọng được thắp sáng trong tôi cho ngày mai Phật giáo sẽ trở lại thời vàng son, đem đến cho người dân Ấn một cuộc sống bình đẳng, ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc đầy đủ, ai cũng được hưởng trọn quyền làm người mà xưa kia cả cuộc đời đức Thế Tôn đã làm. Ngài trở thành nhà cải cách xã hội đầu tiên rất thành công trên thế giới.


    3. Nền nhà của cư sĩ Thuần Đà (Cunda)


    Nền nhà cư sĩ Thuần Đà (Cunda) (Ảnh: Tâm Bửu)

    Thuần Đà (Cunda) là tên một người thợ sắt tại làng Pava, người đã cúng dường bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết Bàn. Khi đức Phật và chúng Tỳ kheo ngang qua làng Pava và dừng nghỉ tại khu vườn xoài, thợ sắt Thuần Đà hay được tin đó liền đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ và ngồi xuống một bên để được nghe pháp yếu của Phật. Sau khi nghe pháp, thợ sắt Thuần Đà sanh tâm hoan hỷ muốn cúng dường bậc Đạo Sư và chúng Tỳ kheo vào ngày hôm sau. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Bữa ngọ trai hôm đó, đức Thế Tôn nhìn thức ăn, một loại nấm lạ với vẻ nghi ngờ. Nhưng với lòng tịnh tín, nhiệt tâm của người cúng dường nên đức Phật đã dùng trọn phần của mình và bảo Thuần Đà đem chôn phần thức ăn còn lại, vì Ngài biết rằng đó là một loại nấm độc. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn chép rằng: “Này Thuần Đà, món ăn mộc nhĩ còn lại, ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Thuần Đà , Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm Thiên giới, không một người nào trong chúng Sa Môn và chúng Bà La Môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai”. Sau bữa cơm đó, bữa cơm cuối cùng, đức Thế Tôn bị bệnh trầm trọng và Ngài quyết định đến Câu Thi Na.

    Chúng ta không nên nghi ngờ về hành động của Phật. Ngài thừa biết nhân duyên đại tịch diệt đã đến, lại thêm lòng từ bi muốn tạo phước đức cho kẻ cúng dường nên Ngài quyết định dùng bữa cơm này, cho dù không dùng bữa cơm ấy thì thời giờ Niết Bàn của Phật cũng được Ngài chọn sẵn như vậy. Để đánh tan nghi ngờ và niềm hối hận trong lòng của cư sĩ Thuần Đà vì nghĩ rằng chính thức ăn mà mình dâng cúng làm cho đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Đức Phật bảo Ngài A Nan hãy đến trấn an tinh thần Thuần Đà với lời rằng: “Đức Thế Tôn đã nói có hai bữa ăn trong cuộc đời đáng được ghi nhớ và phước báu hơn bất kỳ bữa ăn nào: một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác, hai là bữa ăn trước khi như lai diệt độ Niết Bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích lớn hơn các sự cúng dường ăn uống khác”. Kinh Đại Bát Niết Bàn.

    Đoàn chúng tôi đến tận làng Pava, nơi được cho là nền nhà của cư sĩ Thuần đà. Làng Pava hiện nay là một khu thị trấn nhỏ, dân cư quanh vùng đông đúc. Trước khi đến nền nhà của Thuần Đà phải qua một lối đi của nhà cư dân, hai bên đường nhà cửa chen chút. Vượt qua xóm nhà dân là khoảnh đất trống, phía trước có tấm bảng giới thiệu, khoảng giữa có mô đất trộn lẫn gạch cũ cao khoảng 6m. Trên cùng của mô đất có những ô gạch vuông cũ và các bức tường đổ ngang dọc. Cách nền gạch này khoảng 10 m có cây Bồ Đề rất lớn, cành lá sum suê. Người ta cho rằng đây là nền nhà của Thuần Đà. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ, ngôi nhà xưa không thể quá cao như vậy, rất có thể do một ai đó, có thể là vua A Dục xây mộ để tưởng niệm giống như mộ kỷ niệm của nàng Su Dà Ta, và đây chính là đóng gạch vụn của ngôi mộ được kiến tạo sau này?

    Thích Phước Tiến

  12. #12

    Mặc định Chương 9: Trường Đại Học Na Lan Đà

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NA LAN ĐÀ
    (Nālandā)


    1. Khái quát về Na Lan Đà


    Lối vào khu phế tích Na Lan Đà (Nālandā) (Ảnh: Tâm Bửu)

    Na Lan Đà (Nālandā) là một di tích quan trọng trong lịch sử phát triển Phật giáo tại Ấn Độ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung, vì đây là trường Đại học Phật giáo đầu tiên trên thế giới, nơi có một quy cách giáo dục gương mẫu, có tầm vóc rất lớn, tiếng tăm lừng lẫy, lưu danh cho đến ngày nay. Mặc dù trường đại học Na Lan Đà không phải là khu thánh địa tâm linh quan trọng như những thánh tích liên quan đến cuộc đời đức Phật, nhưng nơi đây cũng là khu đất thiêng đã sản sinh ra các bậc thánh tăng tiêu biểu từ thời đức Phật như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và các bậc cao tăng làu thông tam tạng truyền bá Phật giáo sau này như Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Trần Na, Giới Hiền.... và đặc biệt nhất là danh nhân Phật giáo mà ai cũng từng biết đến với lòng kính trọng và khâm phục một cách chân thành đó là đại học giả thông bát kinh luật tam tạng pháp sư Trần Huyền Trang, một bậc cao tăng Trung Quốc thời thịnh Đường. Với tầm vóc lớn lao và trung tâm giáo dục không chỉ dành cho Phật giáo mà còn là nơi đào tạo cả thế học như văn học, nghệ thuật, y dược, ngôn ngữ, tôn giáo, triết học.... trong một quy củ vô cùng nghiêm túc và đáng tin cậy nhất thời bấy giờ. Na Lan Đà xứng đáng là nơi ngưỡng mộ của hầu hết các học giả Đông Tây. Trong quyển Đường Về Xứ Phật, Hòa thượng Minh Châu có sánh ví Na Lan Đà bằng một lòng tôn trọng: Nếu Bồ Đề Ðạo tràng là nơi đức Phật viên thành Chánh pháp thì Na Lan Đà là đất thiêng đã truyền chiếu ánh sáng ấy đến với vô số người, ở khắp nơi trên thế giới.

    Nếu Lộc Uyển là thánh địa, bởi ở đó đức Phật đã Chuyển pháp luân lần đầu tiên thì Na Lan Đà là đất thiêng đã hoằng truyền chánh pháp, trong một thời gian dài hơn ngàn năm.

    Nếu Câu Thi Na là Thánh địa, bởi ở đó đức Phật đã nhập Niết Bàn thì Na Lan Đà là đất thiêng đã chứng kiến sự viên tịch của Tôn giả Xá Lợi Phất ...

    Giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu một vài sự kiện trọng đại liên quan đến Na Lan Đà, nơi được xem như là một trong những khu thánh tích quan trọng của Phật giáo.

    2. Trường đại học Na Lan Đà xưa và nay


    Một phần khu phế tích Na Lan Đà (Ảnh: Tâm Bửu)

    Hôm nay vì trời mưa nên đoàn chúng tôi không được thoải mái lắm trong lúc làm việc. Hình ảnh không được rõ so với trời nắng và màu sắc các bức tường gạch cũng biến đổi ít nhiều so với màu nguyên thuỷ. Tuy vậy lượng khách tham quan trong nước cũng như ngoài nước đến viếng rất đông. Lối vào khu Na Lan Đà (Nālandā) rất đẹp, dù trời có nắng thì khách tham quan vẫn cảm thấy mát mẻ bởi những hàng cây thẳng tắp, tàng dang rộng che phủ cả lối đi. Trước khi vào bên trong khu thánh tích giữa bùng binh lối đi, có tấm bảng bằng bê tông nằm ngang tương đối thấp, mặt trước ghi là: công trình khảo sát khảo cổ học Ấn Độ (Archaeological servey of India), mặt sau từ bên trong nhìn ra ghi là: hãy cùng nhau bảo vệ di sản văn hoá (Come forward to preserve heritage). Hoa kiểng xung quanh cũng được bàn tay con người chăm sóc khá chu đáo.

    Trường đại học Na Lan Đà cách Vương Xá, nay là Rajgir, khoảng 15 km, và cách thủ phủ Patna, hướng Đông Nam, khoảng 95 km, là một thị trấn thịnh vượng, cư dân đông đúc thuở xưa. Vì là trường đại học Phật giáo nên tên nguyên thuỷ của nó là Mahavihara Nālandā, nghĩa là Đại Tinh Xá Na Lan Đà, gọi tắt là Nālandā. Na Lan Đà được thành lập khoảng thế kỷ thứ II và phát triển mạnh khoảng từ thế kỷ thứ IV Tây lịch. Với quy mô đầu tiên cũng giống như các trường đại học khác nhưng dần dần được phát triển trở thành tầm vóc quốc tế, và quy củ rất đặc trưng mà khoảng thế kỷ thứ VII Ngài Huyền Trang đến tham học đã tán thán rằng: “Số Tăng sĩ đông đến vài ngàn đều là những bậc tài năng xuất chúng. Những bậc này phần nhiều là những vị kỳ tài, danh tiếng vang đến cả nước ngoài. Ðức hạnh của những vị này hoàn toàn thanh tịnh, không thể chê trách gì. Họ theo giới luật một cách chơn thành.

    Qui luật của tu viện rất nghiêm khắc và tất cả Tăng sĩ đều phải tuân theo. Cả nước Ấn Ðộ đều kính phục và tuân theo những lời chỉ dạy của những vị này”. Chư vị Viện trưởng tiền bối ngôi trường này là những bậc cao tăng lỗi lạc, tài đức vẹn toàn, là những bậc tên tuổi được biết đến ngày nay như: Long Thọ (Nagarjuna), vị Viện trưởng đầu tiên giải thích giáo lý Ðại thừa; Thánh Thiên Đề Bà (Arya Deva), Ngài Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu).... là những vị Viện trưởng kế tiếp lãnh đạo Na Lan Đà. Rồi đến Ngài Trần Na (Dinnaga), Ngài Pháp Hộ (Dharmapala) và Ngài Giới Hiền (Silabhadra), là vị Viện trưởng 120 tuổi, một vị đại học giả cũng là một bậc thạc đức vào thời Ngài Huyền Trang đang du học tại trường đại học này.


    Tường thành và cầu thang phế tích Na Lan Đà (Ảnh: Tâm Bửu)

    Theo các nguồn tài liệu, đương thời Na Lan Đà có khoảng 3000 giáo sư, trên dưới 10.000 sinh viên lưu trú tu học thường xuyên. Mặc dù số lượng đông như thế nhưng không phải ai cũng có thể được vào học tự nhiên mà phải trải qua chế độ tuyển sinh nơi đây cực kỳ khó khăn, phải được khảo hạch kinh luật một cách gắt gao, sinh viên ngoại quốc phải được gạn hỏi qua nhiều cuộc trắc nghiệm, biện luận trôi chảy và đặc biệt là phải chứng tỏ được biệt tài của mình, vì vậy số lượng trúng tuyển chỉ đạt một cách hạn chế khoảng 2/10. Do đó, Na Lan Đà trở thành niềm mơ ước của hầu hết các sinh viên trong cũng như ngoài nước. Vì đào tạo theo đường lối Phật giáo, nên những sinh viên trúng tuyển được học miễn phí mà không cần phải trả bất cứ một loại chi phí nào, nhờ có sự bảo hộ chính của các đời vua chúa sùng tín Phật giáo và sự phát tâm cúng dường của dân chúng trên 200 làng gần xa.

    Ngoài những danh tăng bản địa xuất thân từ trường này, còn có nhiều danh tăng ngoại quốc, tài ba xuất chúng phải được nhắc đến như: Ngài Huyền Trang, Nghĩa Tịnh, Thi Hộ, Pháp Thiên ...Và các bản kinh, luật, luận Trung Quốc mà chúng ta ảnh hưởng hiện nay, phần lớn là bản dịch do các vị cao tăng xuất thân từ trường này mang về.

    Kể từ sau những cuộc xâm lăng và tiêu diệt dị giáo của quân Hồi do tướng Mohammad Bin Bakhtiyar Khalji chỉ huy, trường đại học Na Lan Đà cùng chung một số phận. Số giáo sư và sinh viên tăng sĩ bị sát hại khoảng 10.000 người. Một số nhà sư sống sót còn lại phải chạy sang Nepal và Tây Tạng để lánh nạn. Thư viện Na Lan Đà là kho chứa kinh thư tập hợp trên 9 triệu bản kinh văn của các nền văn minh, triết học, văn hoá, tôn giáo cổ kim trên thế giới và cả các bản sớ giải của Phật giáo ....được xem như là Đại dương báu vật, đã bị bọn vô lại hiếu sát Hồi giáo thiêu trụi. Như vậy, nhân loại chúng ta vĩnh viễn mất đi cơ hội quý hiếm để đọc những tác phẩm vô giá được lưu giữ tại thư viện của trường đại học này. Sự điêu tàn và đổ máu của trường đại học cũng có phần trùng hợp với điềm báo trước như lời huyền ký được ghi trong Đại Đường Tây Vực Ký của Ngài Huyền Trang như sau: “Từ thành Vương Xá đi về phía Bắc độ 30 lý là Tăng già lam Na Lan Đà.

    Theo truyền thuyết thì về phía Nam của tu viện này là một cái hồ nước. Nơi đó có một con rồng tên Na Lan Đà. Người ta đã xây một ngôi chùa bên bờ hồ và lấy tên con rồng đặt cho tên cho tự viện. Chỗ này ngày xưa là vườn xoài do 500 vị thương gia đã mua đến mười triệu tiền vàng để cúng dường cho một vị Bồ Tát. Sau khi Bồ Tát nhập diệt, một vị vua thời xa xưa của nơi này tên là Sakraditya đã cho xây dựng một ngôi già lam. Tuy nhiên, trong khi khởi công Ông đã vô tình làm bị thương một con rắn chúa. Lúc đó một nhà tiên tri Ni Kiền Tử đã tiên đoán rằng khoảng 1.000 năm sau, nơi này sẽ là một địa điểm phát triển cùng cực. Những hàng Tăng sinh tại đây sẽ thành đạt vẻ vang, tuy nhiên, vì lời thề của con rắn chúa mà máu của nhiều người sẽ đổ ra tại đây”. Như vậy sự suy tàn của Na lan Đà đã được dự đoán trước của các nhà tiên tri, hay đó là một quy luật mà đức Phật dạy, mọi vật ở đời không có cái gì bền chắc mãi mãi, hết thạnh rồi suy, sanh trụ dị diệt, không có một bàn tay thần thánh nào có thể chống lại được với quy luật ấy.

    Mặc dù đã bị sự phá huỷ của đoàn quân Hồi giáo, và hằng bao thế kỷ bị vùi lấp trong sự lãng quên nhưng những bức tường gạch đổ nát ở Na Lan Đà vẫn còn toát lên được vẻ hùng tráng nguy nga của thời vàng son Phật giáo, vẫn thể hiện được tính bất hủ của chân lý không bị phai mờ theo năm tháng, dù hiện tại chỉ còn vang trong ký ức và sự nuối tiếc của hàng trí giả và những người có thiện chí đối với Phật giáo nói riêng và văn hoá nhân loại nói chung.

    Hiện trạng của Na Lan Đà là những bức tường thành nghiêng đổ liên kết nhau rất dầy trong một chu vi đã được khai quật khoảng 10 hecta đất. Chúng ta vào bên trong bằng một cổng tương đối rộng khoảng 4m và được xác định là cổng chính của trường đại học ngày xưa. Các tài liệu khảo cổ cho rằng, các dãy phòng tu viện trung bình khoảng 4 tầng, bởi bị vùi lấp sâu trong lòng đất và bị phá hủy nên chúng ta chỉ nhìn thấy khoảng 1 – 2 tầng, mỗi tầng đều có cống rãnh và lỗ thoát nước rất tốt nên không khi nào bị đọng nước cả. Tổng cộng khu đại học Na Lan Đà có 11 tu viện nối tiếp nhau và 5 chánh điện đủ để cho toàn thể sinh viên lưu trú và mọi thứ sinh hoạt lễ nghi khác...Mỗi tu viện có chiều dài khoảng 500 m, chiều ngang khoảng 250m, hầu hết có kiến trúc giống nhau: phòng dành cho giáo thọ sư, phòng thọ trai, khu nhà trù, giếng nước, phòng đôi cho tân sinh viên, phòng đơn dành cho cựu sinh viên, khu nhà vệ sinh, chính giữa là giảng đường.... Nhìn chung, mọi tiện nghi cho việc sinh hoạt tại khu Na Lan Đà rất tốt, chủ yếu nhằm đáp ứng cho một mục đích duy nhất là giáo dục mà thôi. Trong khuôn viên phế tích Na Lan Đà chúng ta thấy những cái hốc nhỏ thờ Phật đôi khi có những bức tượng chỉ còn bàn tọa, hoặc chỉ là dáng dấp đức Phật tọa thiền được kết nối từ những miếng gạch nung cũ mục in trên vách. Bên cạnh đó chúng ta còn thấy kiến trúc hoa văn bằng những hình tượng Phật nho nhỏ trông rất xinh xắn và dễ thương còn sót lại trên một vài bức tường hay đầu cột cũ. Có những bức tường đang bị xói mòn và sụt lở, ban bảo vệ cũng xây thêm những bức tường phụ để chống đỡ.

    Càng đi tham quan nhiều nơi trong khu phế tích này, chúng ta càng ngưỡng mộ và tiếc nuối cho một trường đại học quy mô từ cơ sở vật chất đến nội dung đào tạo, mà không dễ gì tìm thấy ở bất cứ một quốc gia nào trên thế giới trong thời trung cổ. Mặc dù đại học Na Lan Đà được chính phủ xây dựng lại vào tháng 11 năm 1951, do Ngài J. Kashyap đề xướng, cách khu phế tích Na Lan Đà khoảng 2 km, là viện nghiên cứu ngữ học Pāli và Phật học cho các sinh viên từ khắp nơi trên thế giới, nhưng nó chỉ là danh nghĩa, không phản ánh được uy thế và uy mô của Na Lan Đà ngày xưa. Tuy nhiên, chính nơi đây đã đào tạo ra một số danh Tăng Việt Nam thời cận đại như Hoà thượng Minh Châu, người được chính phủ Ấn Độ mời dạy về Pāli và đạo Phật, Hoà thượng Huyền Vi, Hoà thượng Thiện Châu ....

    3. Tháp tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta)



    Tháp tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) (Ảnh: Tâm Bửu)

    Từ cổng chính đi vào phía tay trái, chúng ta thấy có một nền tháp rất cao lớn đó là tháp của tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta), một vị thánh đệ tử trí tuệ đệ nhất trong mười đệ tử đặc trưng của Phật, được Unesco liệt vào di sản thế giới. Tương truyền rằng, tháp này xây dựng ngay trên nền nhà của Ngài, để kỷ niệm nơi Ngài đã sanh ra và từ giã cõi đời. Kiến trúc ngôi tháp này rất đặc biệt, hầu như không giống với bất cứ một kiến trúc nào trong các thánh tích Phật giáo. Xung quanh có nhiều ngôi tháp nhỏ tạo nên một quần thể tháp rất kỳ đặc trong khu Na Lan Đà (Nālandā). Tháp này được trùng tu ít nhất là bảy lần, bắt đầu từ thời vua A Dục (Asoka). Hiện nay chúng ta chỉ thấy nhiều đường ngang kẻ dọc, nhiều chỗ lồi lõm, thật khó xác định được kiểu dáng hình vuông hay tròn, một số vị nghiên cứu thì cho là hình tròn, trên thực tế thì chân nền tháp là nền gạch vuông. Xung quanh đại tháp có nhiều bức ảnh phù điêu mô tả các sự kiện trọng đại trong đời đức Phật. Dù thế nào chúng ta cũng còn có một chút kỷ niệm về bậc thánh giả, một bậc đại trí đã một thời lừng lẫy và uy nghiêm trong giáo đoàn 1250 vị A La Hán vẫn còn được nhắc đến với lòng kính trọng và ngưỡng mộ của người con Phật chúng ta và với những ai nghiên cứu Phật giáo.

    4. Huyền Trang kỷ niệm đường


    Cổng ngoài khu tưởng niệm Ngài Huyền Trang (Ảnh: Tâm Bửu)

    Trên đường đến Linh Thứu sơn thuộc thành Vương Xá, nay là Rajgir, cách trường đại học Na Lan Đà khoảng 1500 m, đoàn chúng tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm Ngài Huyền Trang (Huyền Trang Kỷ Niệm Đường) mặc dù ngoài trời mưa vẫn còn nặng hạt. Huyền Trang là tên của một vị cao tăng Trung Quốc: Trần Huyền Trang, thuộc triều đại nhà Đường. Với tài năng xuất chúng, thông minh đỉnh ngộ, vì không thỏa mãn sự nhận thức của mình trong kho tàng kinh sách nội quốc mà nhất là kiến thức Phật giáo nên Ngài quyết định sang Thiên Trúc tức Ấn Độ, để tham học kinh luật. Vào thế kỷ thứ VII, năm 629, Ngài Huyền Trang khởi hành qua Ấn Độ để tham học tam tạng kinh điển. Trải qua 16 năm du học trên xứ Ấn, Ngài đã từng tham học tại Na Lan Đà (Nālandā) và được mời giảng dạy khoảng 5 năm. Ngài được học Duy Thức với đại sư Giới Hiền (Silabhabra), hiệu trưởng trường này thời bấy giờ đã 120 tuổi. Chính vì niềm đam mê Duy Thức nên sau khi hồi hương Ngài đã thành lập Tông Pháp Tướng để xiển dương tinh thần “tùng tướng nhập tánh” của Duy Thức, và được xem như là sơ tổ tông Pháp Tướng tại Trung Hoa.

    Ngài đã để lại trong lòng vua chúa cũng như chư tăng Thiên Trúc một ấn tượng về một nhân cách đặc thù và trí tuệ siêu việt, một đức hạnh sáng ngời không chỉ đương thời mà còn lưu danh mãi cho đến ngàn sau. Do đó, chính phủ Ấn Độ đã chấp thuận xây dựng nhà tưởng niệm Ngài theo kiến trúc Trung Hoa. Mặc dù chỉ với danh xưng khiêm tốn Kỷ Niệm Đường nhưng thực tế được thiết kế hết sức trang nhã, hoành tráng, mới nghe qua chúng ta không thể nào hình dung được hết vẻ uy nghi của nó, cho nên chúng ta có thể gọi là Huyền Trang Kỷ Niệm Đền thì mới tương xứng với tầm vóc của nó. Sau khi qua cổng chính nhìn vào chu vi khoảng 2 hecta đất, chúng ta thấy một lối đi thẳng tắp, khoảng giữa lối đi có tạc tượng của một vị hành cước Trung Hoa trên vai mang hành lý, kinh thư, tay cầm phất trần, đầu đội nón rộng vành, chân di hài cỏ, phía dưới có tấm bia giới thiệu tóm tắt tiểu sử của Ngài Huyền Trang. Xung quanh hoa cỏ được chăm sóc, cắt tỉa đẹp đẽ. Bên tay phải cách 50 m có một tấm bia tưởng niệm Ngài Huyền Trang rất lớn bằng đá quý, tay trái đối xứng cũng có ngôi tháp tương xứng, giữa tháp có đặt một đại hồng chung rất to theo kiểu dáng Trung Hoa. Khi vừa bước vào bên trong cổng chính được nghe một tiếng chuông ngân dài do người trực ở đó đóng, làm chúng tôi có cảm giác như mình vừa đến một ngôi đại tự của Việt Nam hay Trung Hoa.

    Trước khi vào ngôi nhà chính tôn thờ Ngài Huyền Trang chúng ta phải đi qua một cái sân rộng. Ngôi nhà chính được kiến trúc theo mái cong nối dài nằm ngang hình chữ nhật, giống như các ngôi chùa cổ Việt Nam, có hoa văn uốn lượn theo chót mái và các chỗ cần thiết. Chính diện ngôi nhà có thờ tượng cốt của Ngài Huyền Trang. Phía trước có trang hoàng đủ phương tiện nghi lễ như: chuông, mõ, khánh và một quyển kinh Diệu Pháp Liên Hoa chữ Hán. Xung quanh tường có rất nhiều hoa văn và những bức phù điêu, đặc biệt hầu hết các bức phù điêu được khắc chạm mô tả về cuộc đời của Ngài Huyền Trang từ Trung Quốc đến Ấn Độ, diễn tả lại quá trình Ngài tu học với ai, từng làm gì và công đức đóng góp cho Phật giáo của Ngài ra sao...

    Quỳ trước dung nghi của bậc cao tăng chúng ta thấy mình quá nhỏ bé, còn nhiều dở tệ, mình chưa đóng góp được gì cho Phật pháp, lòng cảm thấy ngậm ngùi cho tâm trí của hạng phàm phu thời Mạt không thể bì với các bậc cao tăng thạc đức tiền bối. Đó cũng chính là động lực để khích lệ mình phải phấn đấu nhiều hơn nữa, phải phát tâm dõng mãnh, phải hết lòng vì đạo, vì chúng sanh thì mới sánh được công đức của quý ngài trong muôn một.

    Rời Huyền Trang Kỷ Niệm Đường, trong lòng vẫn thầm phục một bậc cao tăng siêu phàm thoát tục, một cái tên nghe sao mà thánh thoát, êm dịu, chan hoà trong tình đạo tình đời. Tôi mỉm cười vì trong cõi lòng bỗng vọng lên hai chữ Huyền Trang, Huyền Trang với bao niềm xúc động trào dâng!

    Thích Phước Tiến
    2008

  13. #13

    Mặc định Lời Kết

    LỜI KẾT

    Có thể nói, trong thời Mạt pháp chúng ta còn chút may mắn được chiêm bái các thánh tích Phật giáo, còn được tận mắt chứng kiến những bước đường mà hơn 2500 năm về trước đức Thế Tôn đã từng kinh qua. Và chỉ khi nào trải qua điều này chúng ta mới thật sự cảm nhận được lòng tôn kính Phật của mình, cảm nhận sự thật về một đức Phật lịch sử, con người vĩ đại trong tiến trình phát triển văn minh và văn hóa nhân loại, đặc biệt nhất là văn hóa tâm linh.

    Bốn mươi lăm năm bằng đôi chân trần, đức Thế Tôn đã vân du hoằng hóa độ sanh hầu hết các quốc gia có mặt trên xứ Ấn Độ cổ đại. Tất cả những đoạn đường tưởng chừng như mênh mông bất tận ấy, chúng ta chỉ mất khoảng 15 ngày là kết thúc cuộc tìm cầu lần theo dấu chân Phật tổ nhờ vào những phương tiện hiện đại của thời đại văn minh đạt đến đỉnh cao. Những đoạn đường đi giữa các thánh tích hôm nay phần lớn đã được tráng nhựa, khách tham quan có nhiều phương tiện để đi như xe hơi, tàu hỏa hoặc thậm chí đi bằng máy bay ở một vài nơi thuận tiện, bởi vì có những khoảng cách đức Phật phải đi bộ gần 300 km. Cũng từ đó chúng ta mới thấy được khoảng cách xa vời vợi giữa ta và đức Phật hay các thánh đệ tử của Ngài. Các đỉnh núi, nơi đức Phật từng ngự thuyết kinh hoặc những động đá cheo leo, nơi mà các vị thánh tăng từng tu tập hoặc kết tập kinh điển, nay đều được thiết kế những con đường đi bằng bậc tam cấp hay bằng cáp treo (chairlift), vậy mà chúng ta vẫn cảm thấy mệt mỏi, ngán ngẫm, than dài thở ngắn khi phải lên những đỉnh núi cao hay qua những đoạn đường gồ ghề!

    Phần lớn các thánh tích Phật giáo đều điêu tàn, chỉ còn trơ lại những nền gạch cũ mục, rêu phong bởi năm tháng thời gian, cát bụi lấp vùi và sự phá hủy không thương tiếc của những đế chế đối nghịch Phật giáo, nhưng đó cũng là một quy luật sanh diệt của mọi sự vật trên cuộc đời; vì theo tiến trình lịch sử hình thành trái đất và con người, chúng ta thấy có cái gì tồn tại mãi trên thế gian này đâu? Những thành phố cổ đại nằm yên trong lòng đất hay lòng biển hàng mấy nghìn năm đã được con người hôm nay khám phá; bao đế chế bạo tàn tên tuổi vang dội Đông Tây, nay cũng chỉ là nắm xương tàn mục nát được biết đến như một danh xưng im lìm trong những pho sách cổ... Chỉ có giá trị đạo đức, văn hóa tâm linh mới đem lại đời sống minh triết cho nhân loại, dù thời cuộc nào nó vẫn có lí do để tồn tại và được ứng dụng một cách hữu hiệu trong đời sống hàng ngày của con người. Phật giáo là sản phẩm của loại văn minh này. Những lời dạy của đức Phật là một chân lý, là bức thông điệp ban vui cứu khổ đem lại hạnh phúc, hòa bình cho con người trên khắp hành tinh. Vì vậy, không một ai trên cõi đời này có thể làm băng hoại đi một chân lý, không thể nào làm mất đi tất cả những gì liên quan đến đạo Phật dù là đôi tay của những kẻ bạo tàn. Chỉ khi nào lòng người quá ác, con người không còn phước duyên để thụ hưởng những chuỗi ngày bình yên, hạnh phúc nữa, lúc ấy sẽ không còn một đạo Phật trên thế gian.

    Tham quan các thánh tích Phật giáo là một cách thưởng thức văn hóa tâm linh lành mạnh, nhằm nâng cao hiểu biết về một đạo Phật giàu lòng từ bi, bác ái, cảm nhận sâu sắc về nhân cách và tâm hồn vị tha của một con người lịch sử như Đức Thích Ca Mâu Ni. Bất cứ ai đã có lần dừng chân nơi đất Phật ngắm nhìn hay đảnh lễ các thánh tích đều là những con người có nhân duyên thù thắng đối với Phật giáo, là quyến thuộc nhiều đời trong dòng họ Thích Ca.

    Hôm nay những thánh địa quan trọng này dù chỉ là những tảng đá trơ vơ hay những nền gạch cũ thì nó vẫn là những minh chứng hữu hiệu nhất về một đức Phật lịch sử, vẫn có giá trị gấp trăm ngàn lần so với những đền đài nguy nga tráng lệ, tôn thờ con người huyền thoại được dựng lên từ những chế độ độc tài, chinh phục thiên hạ bằng thanh gươm và vũ khí đạn dược. Một điều đáng mừng trên cuộc đời cái ác không thể nào thắng nổi cái thiện, cái thiện vẫn là điểm son đáng quý nơi mỗi con người, là tài sản cho mọi gia đình, là báu vật của mỗi quốc gia. Chính vì vậy các thánh tích Phật giáo đã và đang được phục hồi bởi người con Phật trên khắp năm châu, những người biết nhìn nhận sự thật, biết trân quí cái thiện và làm đẹp cuộc đời bằng lý tưởng thẩm mỹ của chính mình hay đó là cái Chân Thiện Mỹ của Phật giáo, là tiêu chuẩn đạo đức, là ánh sáng văn minh soi sáng lối về, đắp xây hạnh phúc chân thật cho nhân loại trong mọi thời đại hay thực tế hơn là xã hội loài người trong thế kỷ XXI này.

    Thích Phước Tiến

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi jasmine44 Xem Bài Gởi
    Cám ơn Love Tamlinh. Bài viết rất lý thú. Tôi sẽ thu xếp công việc để hành hương đến Đất Phật trong thời gian tới. Không biết huynh đi với công ty lữ hành nào vậy?
    Chào bạn jasmine44, hy vọng bạn sẽ toại nguyện một chuyến hành hương về Đất Phật như dự định. Trong bài viết, thích Phước Tiến đã đi theo tour của CTy Du lịch Biển Đông, TpHCM.

    LTL đã tìm được thêm thông tin trên trang web du lịch để bạn tham khảo sau đây:

    Tour hành hương lễ Phật hút khách

    Một số công ty lữ hành lớn mở rộng các tour hành hương tới Hàn Quốc, Thái Lan và về miền đất Phật tại Nepal, Ấn Độ... Theo đại diện của các công ty Viettravel, Saigontourist, đơn vị đang tổ chức tour "Hành hương chiêm bái Phật tích Ấn Độ" từ 12 đến 15 ngày. Du khách có dịp chiêm ngưỡng, bái Phật tại nhiều đền chùa, các phật tích, công trình kiến trúc cổ đại, huyền bí và thăm Viện đại học Phật giáo đầu tiên trên thế giới" được xây từ thế kỷ 12...
    ảnh

    Chi nhánh Công ty Du lịch Transviet tại Hà Nội cũng đẩy mạnh tour Ấn Độ - Nepal 10 ngày dành cho những du khách thực sự muốn hành hương trên đất Phật. "Đi hành hương khá vất vả nên đơn vị du lịch phải đảm bảo sức khỏe cho du khách qua chất lượng ăn, ở. Giá tour cũng vì thế khá cao, 1.690 USD/người", một cán bộ điều hành tour tại Transviet cho biết.

    http://www.vietnamopentour.com.vn/vn...hut-khach.html

  15. #15

    Mặc định

    1.690 đô-la (chưa tính các chi phí khác) cho một chuyến đi hành hương, đó không phải là một điều dễ cho người Phật Tử muốn về thăm đất Phật, nhưng tôi biết vẫn có nhiều người mơ ước được một lần trong đời chiêm ngưỡng các thánh tích của Phật Giáo nổi tiếng như ở các nơi Ấn Độ, Tây Tạng, Tích Lan, tôi cũng hằng mong ước được đến các nơi thiêng này, vàg tôi cũng cảm nhận được một ngày nào đó tôi sẽ được đi đến để chiêm ngưỡng để bái lễ tại các nơi mà năm xưa Đức Phật hành đạo, chắc chắn sẽ đi được nhưng chưa biết lúc nào. Xin cảm ơn tác giả Thích Phước Tiến và huynh lớn Love TamLinh .
    Thiên Đường Có Lối Không Ai Hỏi
    Địa Ngục Cửa Cài Lắm Khách Thăm

  16. #16

    Mặc định

    Theo như mình biết, thì giá tour đi hành hương Ấn Độ cũng tùy theo số lượng người tổ chức theo đoàn. Hôm trước có đoàn đi 30 người, chi phí giảm xuống còn khoảng 1500 đô cho một người.
    Chú thích nữa, là theo như mình biết, mùa đi Ấn Độ phù hợp chắc là dịp tháng 11- tháng 2 hàng năm, còn giữa mùa hè này đi thì nghe nói là khí hậu nóng khủng khiếp.

  17. #17

    Mặc định

    Đạ tạ huynh Love_Tam Linh. Không đủ điều kiện được hành hương về đất Phật, được xem tư liệu của huynh cũng thấy hoan hỷ lắm.
    VẠN PHÁP TÙY DUYÊN SANH.

  18. #18

    Mặc định

    HT Thích Giác HẠNH : Hay nhất khi hành hương về đất Phật , Mà người ta tưởng nhớ cái quá rét quá nóng Xứ ẤN mà ĐỨC PHẬT phải chịu đựng để thành đạo dẫn đường cho Phật tử về sau . Từ đó mà ta phát tâm thương Ngài thực lòng

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. 48 Pháp Niệm Phật
    By Bin571 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 31-01-2011, 08:35 AM
  2. Tụng Kinh Trì Chú Niệm Phật
    By Bin571 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 21-09-2010, 08:18 AM
  3. Niệm Phật Pháp Môn Giải Thoát
    By txuan in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 5
    Bài mới gởi: 02-09-2010, 03:48 AM
  4. Trả lời: 22
    Bài mới gởi: 17-08-2010, 04:40 PM
  5. Ý nghĩa câu: Nam-Mô A-Di-Đà Phật
    By Bin571 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 8
    Bài mới gởi: 11-06-2008, 04:27 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •