Trang 88 trong 97 Đầu tiênĐầu tiên ... 387882838485868788899091929394 ... Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1,741 tới 1,760 trên 1939

Ðề tài: Xin mời mọi người chia sẻ và tìm hiểu về những khái niệm Phật Pháp

  1. #1741

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Thuongdan Xem Bài Gởi
    do ngày xưa, các sư thật tu, hiểu đạo nên cái tôi rất nhỏ.
    Còn ngày nay thì ngược lại nên cái tôi các sư rất lớn.
    Rất cám ơn Huynh Thuongdan nhiều đả có góp ý.
    " cái tôi " chỉ là triết lý tây phương , khi nghiên cứu thường hay rơi vào duy vật biện chứng
    khác xa với cái học của phật môn.
    Các huynh tỉ nên thận trọng,đừng đồng hóa với cái Ngả ( Nam Truyền ) hay Cái Ngộ ( Bắc Truyền ).

    Ví như Lục Tổ có nói ( người viết lại ):
    Phiền nảo là Bồ Đề. ( nhưng Bồ Đề chẳng phải Phiền nảo )

    chúc Huynh và các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  2. #1742

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi batdac Xem Bài Gởi
    hi hi trước kia thường gọi: Sư Ông
    ngày nay sau lưng thường gọi: Ông Sư hi hi
    Sông Ư ??? Dạ hỏng dám đâu ,vì sợ chết hụt do không biết bơi ( lội ),đệ vẩn còn yêu đời .

    Theo lý Tướng mà nói : quây đầu cái thân bất động gọi là Quý tướng và có cái tên
    Long Cốt chi Thân . hihihihi
    Nhưng Đồng Tử đi đêm ai gọi sau lưng ,thi ba chân bốn cẳng vắt giò lên cổ ..... chạy thấy bà cố ....


    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  3. #1743

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Richardhieu05 Xem Bài Gởi
    Mucdong chưa đổi nick, tới nay vẫn được gọi là mucdong !!! Hiiiii
    Hên quá vì không bỏ dấu .
    vì bỏ dấu bị gọi Đục mông là thằng Ông Mê .

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  4. #1744

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi
    Hên quá vì không bỏ dấu .
    vì bỏ dấu bị gọi Đục mông là thằng Ông Mê .

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Hi, cám ơn mucdong chia sẻ. Chúc huynh mucdong tịnh tấn tinh tấn trong tu tập. Qúy huynh!
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  5. #1745

    Mặc định

    Phật gia có 5 khái niệm
    1.Phương Đẳng
    2.Tông Môn
    3. Hệ quả còn gọi là Nhân Quả
    4. Duyên
    5. Niết Bàn (trong là trang thái ,ngoài là Hạnh phúc )

    Cái trình thì sao ?
    Đợi các huynh tỉ cho vài lời .


    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  6. #1746

    Mặc định



    Bỏ cà ri là món cà ri.
    Bỏ ngủ vị hương là món ru ti.
    Ăn ngủ tân là người tham dục.
    Người việt nam thế nào lại được xếp vào đệ tam hay đệ tứ thê giới ?

    ca dao
    Má ơi đừng "gả" con xa,
    Mèo kêu vượn hú biết nhà Má đâu !

    Chém được con mèo thì sống ,không được thì chết.

    heheheheh

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  7. #1747

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi
    Phật gia có 5 khái niệm
    1.Phương Đẳng
    2.Tông Môn
    3. Hệ quả còn gọi là Nhân Quả
    4. Duyên
    5. Niết Bàn (trong là trang thái ,ngoài là Hạnh phúc )

    Cái trình thì sao ?
    Đợi các huynh tỉ cho vài lời .


    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Chắc phải đợi dài cổ qúa .....


    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập .

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  8. #1748

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi
    Phật gia có 5 khái niệm
    1.Phương Đẳng
    2.Tông Môn
    3. Hệ quả còn gọi là Nhân Quả
    4. Duyên
    5. Niết Bàn (trong là trang thái ,ngoài là Hạnh phúc )

    Từ 5 khái niệm này dẩn đến 5 khái niệm khác .
    Đó là :
    1. Ý lực
    2. Trí lực
    3. Tâm lực
    4. Thần lực ( thượng Thần hạ Thân )
    5. Phật lực

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  9. #1749

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi
    Chắc phải đợi dài cổ qúa .....


    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập .

    Hi, nhiều khi rh05 không hiểu mucdong nói gì, rh05 còn phải học dài dài.
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  10. #1750

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mucdong Xem Bài Gởi
    Từ 5 khái niệm này dẩn đến 5 khái niệm khác .
    Đó là :
    1. Ý lực
    2. Trí lực
    3. Tâm lực
    4. Thần lực ( thượng Thần hạ Thân )
    5. Phật lực

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    cái này rh05 cũng không hiểu sao lại dẫn đến như thế
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  11. #1751

    Mặc định

    hihihihihihi
    mucdong vốn chỉ là người sống ở nơi thôn giả nên lời nói mộc mạc khó hiểu chăng ?
    Trong nghề nông có cái gọi là :Nghệ thuật trồng lúa (ngày nay là kỷ thuật )
    Có 2 lần cắt trong cái " Trình " trồng lúa

    1. Cắt mạ bỏ ngon lấy Thân ,người xưa gọi là " Lập Thân"
    2. Cắt lúc lúa chín (mùa gặt) bỏ góc lấy hạt ,người xưa gọi là " Lập Mệnh "

    Khi cắt bỏ hay dẩn chứng củng nên thận trọng .
    với câu nói như thế này dể dẩn đến cái tính chê bai
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Richardhieu05 Xem Bài Gởi
    Hi, nhiều khi rh05 không hiểu mucdong nói gì, rh05 còn phải học dài dài.
    khi có được cái Trình mới học dài dài ,
    chứ không có cái Trình ,học cái chi chi !!!

    chúc các huynh tỉ tinh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  12. #1752

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Richardhieu05 Xem Bài Gởi
    cái này rh05 cũng không hiểu sao lại dẫn đến như thế
    ví như mucdong đi thành phố sử dụng xe gắn máy ,tiếc là không có động cơ.
    vậy mucdong có đi tới được thành phố hông ta ?

    sẳn tiện giới thiệu 5 phương tiện giao thông:
    1. đi bộ
    2. xe đạp > xe gắn máy
    3. xe hơi
    4. máy bay
    5. phi thuyền
    (thuyền và tàu hỏa không liệt vào vì nhất bộ di hành )

    chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.

    Nhất Tự kiến NHƯ LAI,
    Nhất VÔ qui vị ĐẠO.

  13. #1753

    Mặc định

    hi, mới rồi cảnh sát Dubai bắt đầu học đi mô tô bay, thú vị ghê!!!
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  14. #1754

    Mặc định

    Dầu cho bản tánh của tâm con là Phật, hãy luôn luôn tôn thờ Bổn Tôn hay Thầy con. Dầu cho con đã chứng ngộ bản tánh của Đại Toàn Thiện, chớ bỏ hóa thần Bổn Tôn. Những người nào, thay vì làm như thế, lại nói những lời khoa trương một cách dại dột chỉ là làm hại cho Tam Bảo và sẽ không tìm được dầu một khoảnh khắc hạnh phúc.

    (Trích Những lời khai thị từ Đức Liên Hoa Sinh về con đường đại toàn thiện)
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  15. #1755

    Mặc định

    Đạo Sư Padma lại nói: Tsogyal, điều quan trọng nhất là nỗ lực trong tu hành khi con còn trẻ. Khi con đã già con có thể muốn nghe giáo pháp nhưng lỗ tai con lại không muốn nghe. Con có thể muốn học hỏi nhưng sự chú tâm của con thì nặng đục và trí nhớ con thất thoát. Con có thể muốn đến với Pháp, nhưng thân con không thể đi hay ngồi. Con có thể muốn thực hành, nhưng sức mạnh của các đại đã tàn và con không thể tập trung. Con có thể muốn cho đi tài sản vật chất của con nhưng chúng đã bị người khác kiểm soát và con không còn đảm đương chúng. Con có thể muốn chịu khó nhọc nhưng hệ thống của con không chịu nổi sức ép. Làm cho Thầy con và các bạn Pháp không vui, khi tuổi già đến, con có thể muốn thực hành nhưng không thể. Con sẽ ước ao: “Phải chi tôi đã có ý chí và nguyện vọng khi tôi còn trẻ,” nhưng điều đó sẽ không giúp gì nữa cả. Đã quá trễ để hối tiếc là không thực hành Pháp gì khi con còn có thể.

    (Trích Những lời khai thị từ Đức Liên Hoa Sinh về con đường đại toàn thiện)
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  16. #1756

    Mặc định

    EINSTEIN và TAGORE: Đối thoại về tính khách quan của chân lý (Phạm Trần Lê - Tia Sáng - 09:15' CH - Thứ tư, 23/08/2017)

    Ngày 14/7/1930, Albert Einstein tiếp đón tại nhà ông ở ngoại ô Berlin một triết gia, nhà thơ, người từng đoạt giải Nobel, Rabindranath Tagore. Hai người đã có một trong những cuộc trò chuyện trí tuệ và lý thú nhất trong lịch sử về bản chất của khoa học, mà tâm điểm là câu hỏi gai góc: liệu tính khách quan của Chân lý/khoa học có thực sự tồn tại? Tuy nhiên, ở tầng ý nghĩa sâu hơn, cuộc trò chuyện của họ vượt ra ngoài khuôn khổ đối thoại khoa học, thay vào đó phản ánh bản chất niềm tin mang tính lý tưởng về thứ Đạo mà bản thân họ theo đuổi, và chính điều đó đã khiến nó trở nên hết sức quan trọng, đáng để suy nghiệm đối với tất cả chúng ta. Dưới đây là bản dịch bài tường thuật cuộc trò chuyện đăng trên Brainpickingi1, cùng lời bình của dịch giả...


    Einstein và Tagore.
    .
    EINSTEIN: Ông có tin vào một đấng linh thiêng tồn tại biệt lập khỏi thế giới?

    TAGORE: Không biệt lập. Tính người vô tận đủ để thấu hiểu cả Vũ trụ. Chẳng có gì nằm ngoài khả năng lĩnh hội của con người, như vậy Chân lý của Vũ trụ cũng là một Chân lý thuộc về con người.

    Tôi lấy một số thực tế khoa học để làm rõ thêm điều này – Vật chất cấu tạo nên từ các proton, electron và khoảng rỗng giữa chúng; nhưng vật chất bề ngoài lại có vẻ cứng rắn. Tương tự như vậy, nhân loại cấu thành từ những cá nhân, nhưng các mối quan hệ kết nối người và người khiến thế giới nhân loại là một thể thống nhất sống động. Toàn bộ vũ trụ cũng kết nối với chúng ta theo cách tương tự, và đó là một vũ trụ của con người. Tôi đã theo đuổi suy nghĩ này qua nghệ thuật, văn học, và nhận thức tôn giáo của loài người.

    EINSTEIN: Có hai nhận thức khác nhau về bản chất vũ trụ: (1) Thế giới là một chỉnh thể phụ thuộc vào [nhận thức chủ quan của] con người. (2) Thế giới là một hiện thực tồn tại độc lập với yếu tố con người.

    TAGORE: Khi vũ trụ hài hòa với Con người, cái vĩnh hằng, ta nhận ra đó là Chân lý, ta cảm thấy đó là cái đẹp.

    EINSTEIN: Đó thuần túy chỉ là nhận thức [chủ quan] của con người về vũ trụ.

    TAGORE: Chẳng thể có nhận thức nào khác. Thế giới này là thế giới [theo nhận thức] của con người – cái nhìn mang tính khoa học về nó cũng là cái nhìn của con người khoa học. Có những tiêu chuẩn về lý tính và xúc cảm để nó trở thành Chân lý, là tiêu chuẩn của Con người Vĩnh hằng, trải nghiệm của Con người Vĩnh hằng chính là thông qua trải nghiệm của chúng ta.

    EINSTEIN: Đó là nhận thức của thực thể con người.

    TAGORE: Phải, một thực thể vĩnh hằng. Chúng ta nhận ra nó qua những xúc cảm và hoạt động của mình. Ta nhận ra Con người Tối cao vượt lên những giới hạn cá nhân trong chúng ta. Đối tượng tìm kiếm của khoa học là cái không giới hạn vào một cá nhân riêng lẻ nào; đó là một thế giới phi cá nhân thuộc về Chân lý. Tôn giáo nhận ra Chân lý này và kết nối chúng với nhu cầu sâu hơn trong chúng ta; nhận thức cá nhân của chúng ta về Chân lý nhờ đó đạt tới tầm mức phổ quát. Tôn giáo đưa các giá trị vào Chân lý, và ta nhận ra Chân lý này là tốt đẹp qua sự hòa hợp của mình với nó.

    EINSTEIN: Như vậy Chân lý, hoặc là cái Đẹp, đều không tồn tại độc lập với Con người?

    TAGORE: Không.

    EINSTEIN: Nếu không một con người nào còn tồn tại, thì bức tượng Apollo của Belvedere sẽ không còn đẹp nữa2.

    TAGORE: Đúng.

    EINSTEIN: Tôi đồng ý với điều này ở phạm trù cái Đẹp, nhưng với phạm trù Chân lý thì không.

    TAGORE: Sao lại không? Chân lý vốn được nhận thức bởi con người.

    EINSTEIN: Tôi không thể chứng minh rằng nhận thức của mình là đúng, nhưng đó là [điều tôi tin tưởng như] tín ngưỡng (religion) của tôi.

    TAGORE: Cái Đẹp là điều lý tưởng của sự hài hòa hoàn hảo trong cái Toàn thể (Universal Being); còn Chân lý là sự thấu hiểu hoàn hảo của Trí tuệ Phổ quát (Universal Mind). Các cá nhân chúng ta tiếp cận nó thông qua những sai lầm, những kinh nghiệm tích lũy được, và qua nhận thức được soi sáng – làm sao ta có thể biết được Chân lý theo cách nào khác?

    EINSTEIN: Tôi không thể chứng minh một cách khoa học rằng Chân lý phải được nhận thức như một Chân lý tồn tại độc lập với nhân loại; nhưng tôi tin vào điều đó một cách chắc chắn. Tôi tin tưởng, đơn cử như định lý Pythagore trong hình học khẳng định một điều gần như hoàn toàn đúng, và điều ấy độc lập với sự tồn tại của con người. Dù sao thì, nếu đã tồn tại một hiện thực nào đó độc lập với con người thì đồng thời cũng có một Chân lý tương đối về hiện thực ấy; và cũng theo logic đó, phủ định điều thứ nhất dẫn tới phủ định tồn tại điều thứ hai.

    TAGORE: Chân lý, vốn là một với cái Toàn thể, nhất thiết phải mang tính người, nếu không bất cứ điều gì mà các cá nhân chúng ta nhận thức là đúng đều không thể coi là đúng – ít nhất đối với Chân lý được mô tả theo khoa học, thứ chỉ có thể tiếp cận qua quá trình logic, hay nói cách khác, bởi một hệ thống tư duy, chính là của con người.

    Theo Triết học Ấn Độ, tồn tại Brahman, Chân lý tuyệt đối, cái không thể nhận thức một cách riêng biệt bởi trí tuệ cá nhân hay mô tả bằng ngôn ngữ, mà chỉ có thể nhận thức bởi sự tổng hòa tất cả mọi cá thể trong sự vô tận của chúng. Nhưng một Chân lý như vậy không thể thuộc về khoa học. Bản chất của thứ Chân lý mà chúng ta đang thảo luận chỉ là vẻ bề ngoài của nó – nghĩa là, cái có vẻ đúng trong tâm trí con người, bởi vậy thuộc về con người, và có thể gọi là maya, một ảo giác.

    EINSTEIN: Như vậy, theo nhận thức của ngài, hay cũng có thể là theo nhận thức Ấn Độ, đó (tức cái có vẻ ngoài là Chân lý đang được thảo luận) không phải là một ảo giác của cá nhân, mà của toàn thể nhân loại.

    TAGORE: Các loài đều thuộc về một chỉnh thể, trong nhân loại. Như vậy trí tuệ của tất cả nhân loại nhận thức được Chân lý; trí tuệ Ấn Độ hay trí tuệ Châu Âu có thể gặp nhau trong cùng một nhận thức.

    EINSTEIN: Khái niệm loài dùng trong tiếng Đức được dành cho tất cả mọi người, thậm chí loài vượn hay ếch cũng thuộc trong đó.

    TAGORE: Trong khoa học chúng ta trải qua quá trình loại trừ những giới hạn riêng trong các trí tuệ cá thể để đạt tới sự thấu hiểu Chân lý, vốn có trong trí tuệ của Con người Toàn thể.

    EINSTEIN: Vấn đề bắt đầu ở chỗ Chân lý liệu có tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta.

    TAGORE: Cái mà ta gọi là chân lý nằm trong sự hài hòa lý tính giữa cái chủ quan và khách quan của hiện thực, cả hai cái đó đều thuộc về con người siêu ngã (super-personal man).

    EINSTEIN: Ngay trong đời sống thường ngày, chúng ta cảm thấy phải quy cho các đối tượng khác một thực tại độc lập với con người. Chúng ta làm vậy để kết nối các trải nghiệm qua giác quan của mình một cách hợp lý. Ví dụ, ngay cả khi không có ai trong nhà thì chiếc bàn vẫn hiện hữu ở nơi nó đang đứng.

    TAGORE: Đúng, nó có thể nằm ngoài tâm trí cá nhân, nhưng không nằm ngoài trí tuệ toàn thể. Chiếc bàn mà ta nhận biết đó vốn dĩ có thể nhận biết được bởi ý thức của ta.

    EINSTEIN: Nếu không ai ở trong nhà thì chiếc bàn vẫn hiện hữu như vậy thôi – nhưng điều đó vốn đã không phù hợp với quan điểm của ngài – bởi vì chúng ta không thể lý giải theo cách nào đấy độc lập với [tư duy và ngôn ngữ của] chúng ta, rằng chiếc bàn hiện hữu ở đó có nghĩa là gì.

    Quan điểm tự nhiên của chúng ta về chân lý tồn tại một cách độc lập với nhân loại là điều không thể lý giải hoặc chứng minh, nhưng đó là niềm tin mà không ai có thể thiếu – thậm chí cả với những sinh vật sơ đẳng. Chúng ta quy cho Chân lý thuộc tính khách quan siêu nhân tính; điều đó là không thể thiếu với chúng ta, một hiện thực độc lập với sự tồn tại cũng như trải nghiệm và trí tuệ của chúng ta – mặc dù chúng ta không thể nói điều đó có nghĩa là gì.

    TAGORE: Khoa học đã chứng minh rằng chiếc bàn là một vật rắn, đó chỉ là một vẻ bề ngoài, và như vậy cái mà tâm trí con người nhận thức là chiếc bàn sẽ không tồn tại nếu tâm trí đó không tồn tại. Đồng thời, cần phải thừa nhận rằng thực tại, hay hiện thực vật chất tối cao, cũng chẳng là gì khác ngoài vô số những trường điện lực độc lập xoay tròn (separate revolving centres of electric force), cái cũng thuộc về tâm trí con người.

    Trong sự lĩnh hội Chân lý luôn có một xung đột vô tận giữa trí tuệ con người vũ trụ và trí tuệ cá thể. Quá trình hòa giải vô tận được thực hiện trong khoa học, triết học, và trong đạo đức của chúng ta. Trong mọi trường hợp, nếu có một Chân lý nào đó hoàn toàn không liên quan tới con người, thì đối với chúng ta nó tuyệt đối không tồn tại.

    Không khó để hình dung một trí tuệ mà đối với nó chuỗi các đối tượng không tồn tại trong không gian, chỉ có trong thời gian, ví dụ như một chuỗi nốt nhạc. Với một trí tuệ như vậy thì nhận thức về hiện thực sẽ chỉ gần gũi với hiện thực âm nhạc, ở đó định lý Pythagore chẳng thể có ý nghĩa gì. Hiện thực về những tờ giấy, tuyệt đối sẽ khác với hiện thực văn học. Trong trí tuệ của con mọt ăn giấy, văn học tuyệt đối không tồn tại, nhưng trong trí tuệ Con người, văn học có giá trị Chân lý lớn hơn giá trị tự thân của giấy. Tương tự như vậy, nếu có một Chân lý không có mối liên quan về tình cảm hoặc lý trí với trí tuệ con người, thì nó sẽ vĩnh viễn chẳng là gì, chừng nào chúng ta vẫn là con người.

    EINSTEIN: Nếu vậy thì tôi là người sùng đạo hơn ngài!

    TAGORE: Đạo của tôi ở trong sự hòa hợp giữa Con người Siêu ngã, tinh thần con người toàn thể, và trong bản thể cá nhân tôi.

    Phạm Trần Lê dịch

    LỜI BÌNH:

    Trên bề mặt nội dung, về cơ bản cuộc trò chuyện giữa Einstein và Tagore là một màn tranh luận về tính khách quan của Chân lý/khoa học, trong đó phần đầu tưởng chừng ưu thế thuộc về Einstein với những lý lẽ ngắn gọn khúc chiết, trong khi luận điểm của Tagore có vẻ khá rườm rà và hỗn tạp, chủ yếu dựa trên triết học siêu hình của Ấn Độ giáo thuần túy mang tính giả thuyết. Tuy nhiên, cuộc tranh luận càng về sau càng gay cấn, cuối cùng Einstein buộc phải thừa nhận tính khách quan của khoa học là điều không thể chứng minh, chỉ có thể coi như một niềm tin mang tính “tín ngưỡng”; trong khi Tagore biện luận đầy sắc sảo, chỉ ra rằng cái tính khách quan ấy vốn dĩ chỉ là một ảo ảnh, thực ra chẳng hề có ý nghĩa gì với ngài cũng như tất thảy nhân loại.

    Không khó để thấy rằng việc bảo vệ cho tính khách quan của chân lý/khoa học dựa trên các lập luận logic là điều không tưởng, một con đường dẫn tới ngõ cụt, bởi tính khách quan ở đây được hiểu là sự độc lập với yếu tố con người, trong khi mọi nền tảng tư duy của chân lý/khoa học đều do con người xây dựng nên.

    Einstein hiển nhiên thấu hiểu điều này, tuy nhiên ông vẫn khơi mào và theo đuổi cuộc tranh luận với niềm tin rằng tồn tại một thứ chân lý khách quan không gắn với yếu tố con người (“siêu nhân tính”). Tagore không trực tiếp bác bỏ điều đó, nhưng ông khẳng định thứ chân lý không có mối liên quan về tình cảm hoặc lý trí với trí tuệ con người sẽ không có ý nghĩa gì với con người, hay nói cách khác, đó không phải là thứ chân lý con người cần/muốn quan tâm. Với biện luận đó, cũng có thể nói Tagore đã ngầm chỉ ra sự phi logic của người đối thoại, rằng khi Einstein quan tâm tới thứ chân lý nằm ngoài con người, thì chính mối quan tâm đó đã biến thứ chân lý ấy trở thành không còn độc lập với con người nữa. Nói cách khác, Einstein đang tin vào điều tuyệt đối tự mâu thuẫn.

    Chính ở đây, chúng ta mới thấy lộ ra sự bất đồng quan điểm sâu sắc vẫn chưa thực sự được giải quyết giữa hai thiên tài của nhân loại. Điều tưởng như nghịch lý là Einstein, con người của khoa học và lý tính, bảo vệ cho niềm tin vào một thứ chân lý siêu việt độc lập với con người, thứ niềm tin mà ông thừa biết không thể chứng minh được, chỉ có thể coi như một “tín ngưỡng”. Ở chiều ngược lại, Tagore, con người của thi ca, lại bảo vệ cho sự “thực dụng”, bởi nó đương nhiên đúng: nhận thức của con người luôn bị giới hạn bởi các mối quan tâm của nó, dẫu có muốn thoát ra ngoài cũng không thể được, bởi vậy đừng quá băn khoăn với những gì siêu việt phi con người.

    Để hiểu điều tưởng như nghịch lý trên đây, chúng ta cần đi sâu hơn vào bản chất con người và đặt câu hỏi: động lực nào dẫn dắt cho niềm tin vô căn cứ của Einstein? Đương nhiên, niềm tin của Einstein về tồn tại một hiện thực khách quan là hoàn toàn phù hợp với cảm nhận trực quan của số đông, nhưng đối với một bậc thiên tài, tác giả của các Thuyết tương đối, những công trình hầu như phi trực quan, chúng ta không thể dùng sự thông thường để đánh giá về ông.

    Trong một vài bài viết3 của mình, tôi đã đề cập đến bản năng chinh phục vị thế trong không gian của con người. Đối với các bậc vĩ nhân như Einstein, ham muốn tột cùng của họ là chinh phục một thứ không gian tối hậu, vượt lên trên yếu tố con người4 mà họ cho là còn hạn hẹp, bấp bênh, đầy tính chủ quan, thậm chí tự mâu thuẫn. Đó là lý do các nhà khoa học lớn vẫn thường trăn trở về tính khách quan của khoa học. Họ mong muốn khoa học phải khách quan tuyệt đối, bởi chỉ có như thế nó mới đủ sự vững chắc, là điểm tựa cho họ trong thế giới rộng lớn vô tận, là chuẩn mực và mục tiêu xứng đáng để họ theo đuổi.

    Nếu phải thừa nhận rằng khoa học luôn bị giới hạn trong thế giới chủ quan của con người, những bậc vĩ nhân như Einstein hẳn không chỉ cảm thấy mất phương hướng, mà còn có cảm giác phản bội lại niềm tin và lý tưởng mà họ hằng theo đuổi. Đây cũng là lý do khiến Einstein phàn nàn rằng khoa học lượng tử quá khác thường. Đơn giản là ông khó chấp nhận một thứ khoa học thừa nhận rằng hiện thực phụ thuộc vào yếu tố con người.

    Không phải ngẫu nhiên mà sự bối rối đầy vướng bận của Einstein cũng trùng hợp với thời điểm nền triết học phương Tây đang chùn bước, và đến nay sau cả thế kỷ nó hầu như vẫn đang chững lại. Một mặt, nền khoa học phương Tây vẫn tiến bước đều đặn bởi ngay cả khi không đảm bảo tính khách quan tuyệt đối thì nó vẫn làm tốt các phận sự khác của mình. Nhưng đối với cả một nền tư tưởng phương Tây thì việc chung sống với tính phi khách quan quả là điều không mấy suôn sẻ. Có lẽ đó là lý do Einstein bổ sung vào niềm tin tín ngưỡng của mình khái niệm Đạo Vũ trụ (Cosmic Religion), một cứu cánh cho phép con người vượt qua sự hữu hạn của bản thân để chạm tới thứ chân lý khách quan siêu việt.

    Thiên hướng đó khiến Einstein tiến về gần với triết học phương Đông hơn. Điều thú vị là khi bộc bạch với Tagore rằng “chúng ta quy cho Chân lý thuộc tính khách quan siêu nhân tính; điều đó là không thể thiếu với chúng ta, một hiện thực độc lập với sự tồn tại cũng như trải nghiệm và trí tuệ của chúng ta – mặc dù chúng ta không thể nói điều đó có nghĩa là gì”, Einstein một mặt biện minh cho sự chính danh của nền khoa học/triết học phương Tây, nhưng mặt khác ông gần như đã trích dẫn lại Lão Tử trong lời mở đầu Đạo đức kinh, rằng thứ Đạo có thể tiếp cận bằng lý luận thông thường của con người thì đó chưa thực sự là Đạo. Tuy nhiên, có thể nói rằng Einstein mới chỉ chớm chạm vào cánh cửa của Đạo mà chưa thể bước vào, khi ông vẫn bế tắc trong tư duy: Đạo phải tồn tại độc lập với con người.

    Đây cũng chính là tầng nội dung sâu hơn của cuộc đối thoại giữa Tagore và Einstein, cuộc đối thoại về vai trò và bản chất của con người trong mối tương quan với Chân lý: liệu con người có đủ phẩm tính để được đem làm thước đo tiếp cận với Chân lý? Nhà thơ – nhà hiền triết Ấn Độ hết sức tinh tế, cũng có thể ông đã linh cảm trước định hướng nội dung câu chuyện sẽ đi tới, vì vậy ngay từ đầu ông nói: “Tính người vô tận đủ để thấu hiểu cả Vũ trụ. Chẳng có gì nằm ngoài khả năng lĩnh hội của con người, như vậy Chân lý của Vũ trụ cũng là một Chân lý thuộc về con người.”

    Câu nói của Tagore đặt niềm tin vào tính người, rằng con người hoàn toàn đủ phẩm tính để tiếp cận Chân lý. So sánh với niềm tin của Einstein rằng Chân lý độc lập với con người, chúng ta thấy rằng cả hai đều chỉ là các giả thuyết, hoàn toàn không có cơ sở để chứng minh, tuy nhiên niềm tin của Einstein có nhược điểm tự mâu thuẫn như đã đề cập, và quan trọng hơn nó không đáp ứng bản tính tự nhiên của con người một cách trọn vẹn như niềm tin của Tagore.

    Bản tính tự nhiên của con người là chinh phục không gian. Niềm tin của Einstein về thứ Chân lý khách quan tuyệt đối có thể thổi bùng lên một khát vọng chinh phục, nhưng cái đích phi con người khiến nó trở nên xa lạ, ngoài tầm với của chúng ta.

    Trong khi đó, bằng vài lời dẫn nhập đơn giản Tagore đã vạch ra một hành trình có tính khả thi tiến tới thứ Chân lý tối thượng. Tuy nó cũng vượt quá sức vóc một cá nhân, nhưng chúng ta vẫn có thể tiếp cận được qua sự tổng hòa của nhiều cá thể trên những ngả đường triết học, khoa học, nghệ thuật… Quan trọng hơn, con người không cần phải tìm thứ chân lý vu vơ bên ngoài cõi người, bởi Chân lý vốn gắn với tính người. Bất chấp sự hữu hạn, méo mó, chủ quan trong hiện thực mà mỗi cá nhân luôn phải đối diện, mỗi khi tìm thấy một dấu vết của Chân lý tự bản thân ta hoàn toàn có thể cảm ứng được nó: “Ta nhận ra đó là Chân lý, ta cảm thấy đó là cái đẹp”.

    Cảm giác về cái đẹp của Chân lý là điều có thật mà chúng ta vẫn thường có thể tìm thấy trong thực tiễn. Một khi điều ấy xảy ra thì chắc chắn không phải do ta nhận ra điều gì đó siêu phàm xa lạ, mà hẳn phải do cái sẵn có bên trong ta được đánh thức. Khác với Đạo của Einstein, một vương quốc tự thân tồn tại độc lập với con người, nơi hoàn hảo tuyệt đích nhưng cô tịch, lạnh lẽo, Đạo của Tagore là một vương quốc mang tính người và do con người. Nó không khách quan tới mức tuyệt đối, chỉ có thể đảm bảo khách quan tới mức tương đối. Và với Tagore, con người có đủ phẩm tính để tiếp cận Chân lý và do đó đủ tư cách để làm chứng cho tính khách quan ấy.


    Phạm Trần Lê

    1https://www.brainpickings.org/2012/04/27/when-einstein-met-tagore/
    2 Một bức tượng nổi tiếng tại tòa thánh Vatican.
    3http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Vi-the-va-khong-gian-I-Luan-ve-coi-nguon-nghe-thuat—4530
    http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Vi-th...-khoa-hoc-4536
    4http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Tam-luong-rong-lon-10798
    Nguồn:Tia Sáng
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  17. #1757

    Mặc định

    Cuộc đối thoại thật hấp dẫn.

    Và từ thời điểm đó (1930) tới nay, các phát kiến của Vật Lý đã chứng minh niềm tin của Tagore.

    TAGORE: Tôn giáo của tôi là trong sự hài hòa của ĐẠI NGÃ, LINH HỒN NHÂN LOẠI PHỔ QUÁT, trong chính cá nhân tôi.

    (TAGORE: My religion is in the reconciliation of the Super-personal Man, the universal human spirit, in my own individual being.) Đấy chính là tư tưởng của Ấn Độ Giáo.
    Không có không gian còn lo chi lớn, nhỏ.
    Chẳng có thời gian nên khỏi ngại trước, sau.

  18. #1758

    Mặc định

    TRI THỨC LUẬN & LOGIC HỌC (I)
    Các tiêu chuẩn xác định chân lý
    William S. Sahakan& Mabel. Sahakan- Thanh Chân dịch
    Tư tưởng các triết gia vĩ đại - Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
    08:50' SA - Thứ ba, 04/08/2009

    Tri thức luận (Epistemology) là nhánh triết học khảo cứu phạm vi là giới hạn của tri thức. Nó tìm kiếm cách giải quyết các vấn đề cơ bản như: Bản chất của tri thức là gì? khả năng và mức độ tiếp thu kiến thức của con người? Đâu là giới hạn của tri thức, về mặt lý thuyết cũng như về mặt thực tiễn ? (Thuật ngữ "epistemology" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu tri thức. )

    Luận lý học (Logic) có thể được xem là một bộ phận của tri thức luận. Công việc chủ yếu của nó là khảo sát bản chất của lối tư duy chính xác và lý luận hiệu quả, bao gồm các phương pháp tư duy hợp lý.

    Tìm hiểu toàn bộ phạm vi của bộ môn tri thức luận và luận lý học đòi hỏi công phu nghiên cứu và cả một đời học hỏi. Tuy nhiên, bạn đọc sẽ tìm thấy trong phần này những đoạn tóm lược rất hữu ích về các vấn đề trọng tâm và hàng loạt giải pháp dành cho các vấn đề ấy. Quá trình thảo luận ở phần này bao gồm:
    1. Các tiêu chuẩn (criteria) được sử dụng để phân biệt lẽ đúng sai.
    2. Phân tích những lỗi nguỵ biện chủ yếu trong tiến trình lập luận (the fallacies of reasoning).
    3. Gút mắc trọng tâm về bản chất của chân lý (nature of truth), bao gồm cả vấn đề liệu rằng chân lý có nằm trong tầm nắm bắt của con người hay không.
    Sau đây, xin mời các bạn bước vào phần thảo luận: Các tiêu chuẩn xác định chân lý

    Một trong những lãnh vực quan trọng mà luận lý học quan tâm đến là xác định các khả năng kiểm chứng chân lý, các tiêu chuẩn phân biệt lẽ đúng sai. Tiêu chuẩn xác định chân lý là thước đo chuẩn mực được dùng để đánh giá sự chân xác của các ý tưởng và nhận định. Vì lẽ đó, nó cũng được xem là một công cụ kiểm chứng sự thật.

    Để có được một cái nhìn rõ ràng và đúng đắn về bất kỳ bộ môn triết học nào, chúng ta phải thấu triệt các tiêu chuẩn chân lý của nó. Đó là điều kiện quan trọng đặc biệt, bởi lẽ các hệ thống triết lý khác nhau thường đưa ra những ý tưởng bất đồng với nhau. Bản thân các quy tắc luận lý không thể vạch ra các sự kiện về giới nhân sinh hay giới tự nhiên. Để khám phá những sự kiện ấy, hay để đánh giá mức độ đáng tin cậy của một lập luận nào đó, mỗi cá nhân phải dựa vào các tiêu chuẩn xác định chân lý để tự mình phân định đúng sai.

    Không phải tất cả những gì được gọi là "tiêu chuẩn chân lý" đều có giá trị và hiệu lực như nhau. Một số thì thoả đáng, số khác thì đáng được nghi vấn. Các tiêu chuẩn đề cập bên dưới đây, không phải được chọn theo cơ sở giá trị và hiệu lực, đúng hơn là theo quan niệm đại chúng. Tuy nhiên, theo cách đánh giá của giới học giả, chúng được xem là thông dụng và gần gũi nhất.

    1. Tập quán (Custom)

    Hữu ý hay vô thức, nhiều người có khuynh hướng xem tập quán như một tiêu chuẩn chân lý, cho rằng tuân thủ theo thói thường sẽ tránh cho họ khỏi những hành vi thái quá. Lời khuyên: "Nhập giang tuỳ khúc, nhập gia tuỳ tục" cổ xuý cho khuynh hướng ấy, đặc biệt trong những vấn đề có liên quan đến cung cách ứng xử thể hiện tính đúng đắn về mặt đạo đức. Thông thường, những người trung thành với chuẩn mực tập quán luôn hành động theo xu hướng của số đông, sử dụng ngôn từ đang thịnh hành và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức phổ biến đương thời - nói cách khác, hành động thuận theo thói thường.

    Cân nhắc một cách nghiêm chỉnh, tập quán khó lòng được xem là một tiêu chuẩn chân lý thoả đáng. Rõ ràng, trong quá trình thu thập chứng cứ thực tế hoặc khảo cứu một nguyên lý nào đó, các khoa học gia không bao giờ nhìn nhận các tập quán, của đa số cũng như thiểu số, như là một phương tiện kiểm chứng sự thật. Nói cho cùng, một cuộc thăm dò dư luận công chúng không thể nào là phương cách thoả đáng nhất để nhận định các chân lý khoa học.

    2. Truyền thống (Tradition)

    Tương tự như tập quán, truyền thống cũng được xem là một tiêu chuẩn kiểm chứng chân lý. Những người chấp nhận tiêu chuẩn này quan niệm rằng: những gì đã tồn tại suốt nhiều thế hệ phải có giá trị và hiệu quả nhất định, xứng đáng được xem là một chuẩn mực đáng tin cậy.

    Những lập luận phản bác tiêu chuẩn tập quán cũng có thể được sử dụng để chống lại tiêu chuẩn truyền thống. Hơn nữa, có rất nhiều tập tục truyền thống chỉ đơn thuần lặp lại những định kiến sai lầm hoặc cổ hủ (thí dụ như những hủ tục mê tín dị đoan của các bộ lạc sơ khai ). Bên cạnh đó, thực tế cho thấy các truyền thống khác nhau thường tương phản nhau. Rõ ràng, giới khoa học không bao giờ chấp nhận yếu tố truyền thống như là một phương tiện kiểm chứng trong quá trình khám phá chân lý.

    3. Thời gian (Time)

    Hẳn là các bạn đã từng chứng kiến một số người viện dẫn thời gian như thế là yếu tố kiểm chứng chân lý trong quá trình lập luận. Thí dụ: “niềm tin của tôi đã đã đứng vững qua thử thách của thời gian”, hoặc là “giáo lý thiên chúa thực sự là một chân lý”, bởi vì nó đã được kiểm chứng qua thời gian.

    Cơ sở của dạng lập luận như thế căn cứ theo tiền đề cho rằng: Nếu như một niềm tin thực sự sai lầm, chẳng sớm thì muộn, sai lầm ấy sẽ hiển lộ ra. Nếu như niềm tin ấy thực sự đúng đắn, dòng chảy của thời gian không thể nào xói mòn được chân giá trị của nó.

    Tuy vậy, thời gian không phải là một tiêu chuẩn hoàn hảo để kiểm chứng chân lý. Nó có mối quan hệ hết sức gần gũi với tập quán và truyền thống - nói đúng hơn, hai yếu tố ấy chính là hai trong nhiều khía cạnh của thời gian. Thực tế, lịch sử nhân loại ghi nhận rất nhiều giá trị sai lầm tồn tại suốt một thời gian rất dài trước khi bị phát hiện ra - những niềm tin mê muội có thể bám theo con người suốt nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ, thậm chí cả thiên niên kỷ. Mặt khác, nếu như thời gian là một tiêu chuẩn thực sự hoàn hảo, hẳn là những tín đồ của các tôn giáo vĩ đại, như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa, nên buông bỏ niềm tin và cải đạo theo các hệ thống tôn giáo khác có lịch sử tồn tại lâu đời hơn hàng trăm, hàng ngàn năm so với tôn giáo của họ

    4. Cảm tính (hay Xúc Cảm)

    Khi đối mặt với tình huống bắt buộc phải đưa ra một quyết định dứt khoát, nhiều người đã cho phép cảm xúc làm chủ bản thân, không cố gắng tìm kiếm và đánh giá các sự kiện có liên quan, thậm chí đi ngược lại con đường mà chứng cớ thực tế vạch ra cho họ. Rõ ràng, những người như thế chấp nhận cảm tính như là tiêu chuẩn chân lý. Rất nhiều người trong số họ dựa vào cảm giác chủ quan để ứng xử trong các tình huống khác nhau, từ những gút mắc nảy sinh trong cuộc sống đời thường đến các vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một cộng đồng.

    Tuy nhiên, ngày nay hầu hết mọi người đều thừa nhận rằng họ không thể đặt nặng tình cảm khi giải quyết các vấn đề quan trọng trong cuộc sống. Các doanh nhân có kinh nghiệm thường gạt bỏ xúc cảm cá nhân, tìm kiếm các sự kiện và dữ liệu khách quan trước khi tiến hành một dự án đầu tư. Tương tự, các khoa học gia, y sĩ, sử gia và học giả thuộc mọi lĩnh vực cũng học cách "phớt lờ" các phản ứng xuất phát từ cảm tính chủ quan như thế.

    5. Bản năng (Instinct)

    Từ lâu, sự tồn tại của các dạng bản năng riêng biệt là đề tài của nhiều cuộc tranh luận. Cách ứng xử theo bản năng có thể được xem là có quan hệ với cảm tính, hoặc là một dạng cảm giác có tính phổ quát (a universal mode of feeling). Xét từ quan điểm ấy, chính cảm giác khát thôi thúc chúng ta uống, cảm giác đói thôi thúc chúng ta ăn, v.v.... Một số người có tiến xa hơn khi lập luận rằng ngay cả sự tồn tại của Thượng Đế cũng có thể xem xét như là một nhu cầu của bản năng, rằng mọi bản năng đều có đối tượng tương ứng trong thế giới thực tại. Theo ý nghĩ đó, đối tướng tương ứng của khát là một chất lỏng nào đó có thể uống được, của đói là thức ăn, của bản năng sinh lý là bạn tình, v.v....Hệ quả của các lập luận này là: đối với các tín đồ, tôn giáo cũng là một nhu cầu của bản năng và từ đó, Thượng Đế có lý do tồn tại.

    Bản năng không thể được nhìn nhận như là một yếu tố kiểm chứng đáng tin cậy. Đa số các bản năng có tính mơ hồ, khó xác định, nhiều mức độ biến thể và chỉ giới hạn trong một số hình thái hoạt động cụ thể. Ngay cả khi chúng ta chập nhận hiệu quả kiểm chứng của bản nănh, tầm ứng dụng của chúng cũng quá hạn hẹp, không thể giúp chúng ta thu nhập được nhiều bằng chứng đáng tin cậy. Nói cho cùng, liệu rằng bản năng có thể giúp được điều gì cho một nhà khoa học đang tìm hiểu thành phần cấu tạo của các chất hoá học?

    6. Linh cảm (Hunch)

    Linh cảm là một cảm giác đột phát, có lẽ được dựa trên một ý niệm mơ hồ, bất định. Thật khó lòng xem xét nó như là một tiêu chuẩn chân lý thoả đáng, tuy rằng nhiều người thường cho phép linh cảm ảnh hưởng đến quyết định của mình. Các linh cảm có mối quan hệ khăng khít với cảm tính và trực giác, tiêu chuẩn được bàn đến bên dưới đây.

    7. Trực giác (Intuition)

    Tiêu chuẩn này bao hàm sự phán xét không cần đến quá trình suy luận các sự kiện thực tế; nó là một dạng chân lý được giả định là xuất phát từ một nguồn trí tuệ chưa rõ hay chưa được khai phá. Nhiều người đạt được năng lực trực giác, về sau được xác nhận là đúng với sự thật. Một vài khoa học gia, không vận dụng tiến trình suy lý theo nhận thức khách quan, bất chợt phát hiện ra một giả thuyết hay bằng chứng hữu dụng cho công việc nghiên cứu. Sự kiện này có thể diễn ra trong thời gian họ đang thư giãn mơ màng, hoặc khi dang thực hiện những công việc không có liên quan gì đến mục tiêu họ đang tìm kiếm.

    Có hai ý kiến phản bác tiêu chuẩn trực giác:

    1. Trực giác không phải là một phương diện sẵn có để sử dụng khi cần thiết. Khác với phương pháp suy lý, trực giác không thể được vận dụng một cách chủ động trong những trường hợp cụ thể.
    2. Với giá trị hoàn hảo nhất, trực giác cũng chỉ là nguồn chân lý tiềm tàng, không phải là một yếu tố kiểm chứng. Khi trực giác lên tiếng, chúng ta nên lập tức tìm cách kiểm tra mức độ xác thực của nó.

    8. Thiên khải (Revelation)

    Trong khi nguồn gốc của trực giác vẫn chưa được xác định rõ, nguồn gốc của thiên khải được quy về Thượng đế - đó là điểm khác biệt chủ yếu. Thiên khải có thể được định nghĩa là một hình thức hiển lộ chân lý, xuất phát từ Thượng đế. Rất nhiều tôn giáo đặt trọn niềm tin vào giá trị của thiên khải như là một tiêu chuẩn chân lý tuyệt đối.

    Các ý kiến phản bác tiêu chuẩn trực giác kể trên cũng có thể áp dụng cho tiêu chuẩn thiên khải. Khi ai đó tuyên bố rằng mình đã đón nhận kinh nghiệm thiên khải, chính người ấy chịu trách nhiệm tìm cách chứng minh kinh nghiệm đó và vì thế, cần đến một tiêu chuẩn kiểm chứng khác. Người ta có thể chấp nhận thiên khải như một nguồn chân lý, nhưng không thể sử dụng kinh nghiệm cá nhân ấy như một phương tiện truyền đạt giá trị của niềm tin nơi mình.



    9. Luật đa số (Majority rule)

    Lấy tiêu chuẩn số đông dựa trên nền tảng thống kê để quyết định những đề xuất cần được lựa chọn hay xác nhận. Trong các quốc gia và tổ chức dân chủ, luật đa số đầu phiếu được mọi thành viên nhìn nhận như một phương cách hiệu quả hướng đến những quyết định chung. Điều này đặc biệt đúng trong tiến trình ban hành hay thông qua những luật định có liên quan hệ đạo đức cá nhân hay cung cách ứng xử xã hội. Nói cho cùng, một cộng đồng dân chủ, được cấu thành từ nhiều bộ phận đối lập với nhau, thường buộc phải hài lòng với những quyết định theo nguyên tắc đa số.

    Mặc dù đa số đầu phiếu là một biện pháp dân chủ và khá hiệu quả, nó không thể được xem là một phương pháp thoả đáng nhất để xác minh chân lý. Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu một khoa học gia dựa vào luật phổ thông đầu phiếu để rút ra kết luận cho các công trình nghiên cứu của mình? Hoặc giả, một nhà thiên văn tuân thủ "nghị quyết" của công chúng về vấn đề nên ghi nhận hay loại bỏ một ngôi sao nào đó ra khỏi bản đồ thiên hà?

    10. Tri thức nhân loại (Concensus Gentium)

    Có một số người tin rằng những ý kiến thuộc về tri thức chung của nhân loại bao hàm một tiêu chuẩn chân lý thoả đáng. Tri thức nhân loại, những tư tưởng và nhận thức chung của loài người, được xem là có giá trị hơn hẳn nghị quyết đa số. Theo tiêu chuẩn này, sự kiện cả nhân loại có chung một niềm tin đủ chứng minh rằng niềm tin ấy tất đúng.

    Mặc dù tri thức của nhân loại đã được xây dựng trên nền tảng khá vững chãi, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học; tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi nó chỉ là sự nhất trí chung đơn thuần, giá trị của nó cần được đặt thành nghi vấn. Nói cho cùng, sự nhất trí chung không chứng minh được chân lý. Thực tế, đã có một thời hầu như toàn bộ nhân loại đều tin rằng trái đất phẳng và mặt trời xoay quanh nó.

    11. Chủ nghĩa duy thực thuần phác

    Theo chủ nghĩa duy thực thuần phác (Naive Realism), sự vật chỉ thực hữu khi các cảm giác thể hiện và diễn tả chúng. Các giác quan của con người khẳng định sự chân xác hay sai lầm của các đối tượng sự vật và mọi kết luận, chỉ có những đối tượng được cảm nhận trực tiếp bằng giác quan mới là chứng cứ có giá trị. “Trừ phi nhìn tận mắt, bắt tận tay”, “tôi không tin vào bất kỳ điều gì”. Lời khẳng định này là thí dụ minh hoạ cụ thể cho tiêu chuẩn duy thực như thế.

    Tuy nhiên, tiêu chuẩn duy thực thuần phác không phải là yếu tố kiểm chứng chân lý thoả đáng. Thực tế, các chân lý khoa học thường nằm ngoài phạm vi cảm nhận của các giác quan. Sóng ánh sáng, tia X, các phản ứng hóa học, v.v..., cũng như một số hiện tượng tự nhiên khác, vốn không cảm nhận được bằng giác quan, mặc dù chúng được kiểm chứng qua các cuộc thử nghiệm. Mặt khác, sóng âm thanh với tần số trên 20.000 chu kỳ/giây vượt ra khỏi khả năng nghe của con người, vẫn có thể được phát hiện một cách gián tiếp qua các thiết bị dò tìm.

    Hơn nữa, kinh nghiệm cảm giác của con người cũng có thể bị đánh lừa và tạo nên ảo tưởng. Thí dụ: Tiêu chuẩn duy thực thuần phác sẽ dẫn chúng ta đến kết luận rằng chiếc đũa thẳng sẽ hoá cong khi đặt vào trong ly nước, bởi lẽ nó thực sự bị uốn cong dưới cái nhìn của chúng ta. Hay cho sáu đầu bút chì chạm đồng thời vào một khu vực nhỏ trên lưng người sẽ tạo ra ảo giác rằng chỉ có một đầu bút chì chạm vào mà thôi. Trong trường hợp ấy, quan niệm duy thực thuần phác sẽ dẫn chúng ta đến 1 kết luận sai lầm.

    12. Sự tương hợp

    Tiêu chuẩn này cho rằng một ý tưởng tương thích với đối tượng của nó thì tất đúng. Qua đó, “Nhà Trắng toạ lạc tại thủ đô Washington, D.C của Hoa Kỳ” là lời nhận định đúng nếu đối tượng được nói đến (Nhà Trắng) có vị trí thực tế phù hợp với ý kiến mà nhận định ấy nêu ra.

    Có vẻ như sự tương hợp (correspondence) là tiêu chuẩn thoả đáng nhất so với các tiêu chuẩn liệt kê ở trên - nhiều triết gia nhìn nhận nó là yếu tố kiểm chứng chân lý hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phản bác. Đành rằng một ý tưởng tương thích với đối tượng của nó là chân xác, nhưng làm thế nào có thể xác định được một ý tưởng thực sự tương thích với đối tượng bởi thực tại, chúng ta vẫn cần phải đến một yếu tố kiểm chứng khác, yếu tố ấy phải có khả năng phát hiện ra mức độ chính xác của sự tương hợp ấy ở những tình huống cụ thể.

    13. Thẩm quyền (Authority)

    Thông thường, ý kiến của các chuyên gia, những người có học vị cao, hoặc đạt được một mức độ thành công nhất định trong một số lãnh vực chuyên môn, được nhìn nhận như dạng bằng chứng xác thực. Các chuyên gia ấy, hay giới có thẩm quyền (the authority), với khả năng nắm bắt và sự hiểu biết uyên thâm về một số vấn đề cụ thể, là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy. Họ được xem là những người có đủ năng lực lý giải chính xác những vấn đề thuộc lãnh vực chuyên môn của mình. Vì thế, ý kiến đề xuất của họ nhận được sự tôn trọng, những nhận định của họ được chấp nhận như yếu tố kiểm chứng chân lý. Tuy nhiên, thực ra không ai (kể cả họ) có thể đưa ra một lời phán quyết, chính xác và tối hậu, theo cung cách “chính tôi khẳng định như thế”. Xét cho cùng, mọi nhận định đều cần được đánh giá đúng mức.

    Mặc dù yếu tố thẩm quyền thường được công nhận là tiêu chuẩn kiểm chứng có giá trị và hiệu lực sử dụng khá rộng (thí dụ chân lý tối hậu). Trong nhiều trường hợp, các nguồn thông tin có thẩm quyền và đáng tin cậy đưa ra nhiều chứng cứ cũng như nhận định mâu thuẫn với nhau.

    14. Tiêu chuẩn thực dụng (The Pragmatic Criterion of Truth)

    Đối với những người có chủ trương thực dụng, một ý tưởng hiệu dụng phải được nhìn nhận là ý tưởng đúng. Nói cách khác, hiệu quả thực hiện của một ý tưởng quyết định sự đúng đắn của nó. Ý tưởng phải gắn liền với thực t ế và cho ra kết quả thực tế, từ đó quá trình kiểm tra kết quả sẽ xác nhận hoặc phủ nhận chính ý tưởng ấy. Giá trị trọn vẹn của một ý tưởng có thể được phát hiện thông qua chuỗi hiệu quả phát sinh từ quá trình ứng dụng ý tưởng ấy trong thực tế.

    Thí dụ: Đối với lời nhận định về tầm quan trọng và hiệu lực của chất kháng sinh penicillin trong dược liệu pháp, các kết quả ứng dụng chất kháng sinh ấy trong quá trình chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn chính là bằng chứng hiệu quả và có giá trị nhất.

    Mặc dù chủ nghĩa thực dụng đưa ra được một tiêu chuẩn chân lý có giá trị nhất, tiêu chuẩn này cũng cần được xem xét và vận dụng với thái độ dè dặt đúng mức. Không phải mọi ý tưởng có vẻ hiệu dụng bề ngoài đều đúng cả.

    Thí dụ: Một y sĩ chữa khỏi cho bệnh nhân mắc chứng rối loạn thần kinh chức năng (neurosis) bằng cách sử dụng một phương thuốc đặc trị. Về sau, ông ta khám phá ra rằng việc sử dụng một loại thuốc trấn yên cũng mang đến kết quả tương tự. Có lẽ vị y sĩ ấy buộc lòng phải thừa nhận rằng phương thuốc đặc trị lúc trước không phải là tác nhân chủ yếu chữa lành bệnh, rằng kết quả chẩn đoán và quyết định ban đầu của mình là thiếu chính xác. (Cũng có thể do lòng tin hay một dạng ảnh hưởng nào đó về mặt tâm lý đã giúp bệnh nhân của ông ta hồi phục).

    Những trường hợp như thế cho thấy rằng đôi khi ý tưởng sai lầm cũng có thể xuất hiện như một tác nhân mang đến hiệu quả thực tế.

    Tuy nhiên, tiêu chuẩn thực dụng vẫn có hiệu lực và giá trị nhất định; chí ít là dạng hiệu lực đã được William Ernest Hocking giới thiệu với cái tên “Nguyên lý thực dụng tiêu cực” (Negative Pragmatism). Đại thể, nguyên lý ấy nhấn mạnh một ý tưởng vô hiệu chẳng thể nào là chân lý, bởi lẽ chân lý thì luôn hiệu dụng (mặc dù đôi khi những gì có vẻ hiệu dụng vô sản thể không phải chân lý)

    15. Nhất quán cục bộ (Loose Consistency)

    Chính xác, nhưng không nhất thiết phải có liên quan với nhau, những nhận định được gọi là nhất quán cục bộ nếu chúng không mâu thuẫn với nhau. (Tương tự, một người có tính nhất quán thì không tự mâu thuẫn với chính mình). Theo lý lẽ trên, những nhận định dưới đây được xem là nhất quán cục bộ, bởi vì chúng không đối kháng nhau:

    - “Tuyết trắng.”
    - “Chì là kim loại nặng.”
    - “Hôm qua, nhiệt độ hạ xuống mức 200C.”
    - “George Washington* là vị tổng thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”

    Sự bất xứng của tiêu chuẩn nhất quán cục bộ được thể hiện qua thí dụ trên. Những lời nhận định như thế không thể không liên quan gì với nhau, thiếu mạch lạc và không cấu thành một tổng thể. Xét cho cùng, giá trị của chứng cứ phải thể hiện ở các mối quan hệ có khả năng nối kết các dữ kiện riêng lẻ thành một khối thống nhất

    16. Nhất quán tổng thể (hay Nhất quán nghiêm ngặt - Rigorous Consistency)

    Tiêu chuẩn này phản ánh mối liên kết giữa các nhận định, trong đó những dữ kiện được đưa ra kết thành một chuỗi mắt xích gắn bó mật thiết với nhau. Phương pháp luận toán học và cơ sở luận lý học thể hiện rõ tiêu chuẩn này. Thí dụ:

    • Nếu mọi thành viên trong ban giám hiệu nhà trường được xem là giáo viên, và nếu thầy Hưng là một thành viên trong ban giám hiệu nhà trường, chắc chắn thầy Hưng cũng phải được xem là một giáo viên.
    • Nếu mọi cá thể A đều thuộc nhóm B và mọi nhóm B đều thuộc tập hợp C, dứt khoát mọi cá thể A phải thuộc tập hợp C.

    Giá trị của tiêu chuẩn nhất quán tổng thể là không thể bàn cãi. Tuy nhiên, khả năng áp dụng tiêu chuẩn này bị giới hạn ở một số lãnh vực nhất định. Thực tế, những tiền đề của nó vốn có sẵn. Điều đó có nghĩa là để phân định sự chính xác của chúng, ta cần sử dụng đến một hay nhiều tiêu chuẩn kiểm chứng chân lý khác. Hơn nữa, một ý kiến phản bác khác còn nhấn mạnh rằng một tập hợp kết luận mang tính triết học, mặc dù thoả mãn tính nhất quán tổng thể, vẫn có thể bộc lộ sự thiếu chặt chẽ. Đôi khi, một hệ thống triết học chỉ có thể duy trì tính nhất quán tổng thể trong khuôn khổ những sự kiện được đưa ra để cân nhắc. Trong khi đó, một tiêu chuẩn hoàn hoả phải thoả mãn mọi sự kiện đề ra, kể cả các sự kiện mới phát sinh có tác động bất lợi đối với tính nhất quán tổng thể vốn có của nó.

    17. Kết cấu chặt chẽ

    Xét trên phương diện của một tiêu chuẩn chân lý, kết cấu chặt chẽ nói đến sự lý giả nhất quán và có tính hệ thống đối với toàn bộ sự kiện thuộc về kinh nghiệm và tri thức. Để đảm bảo tiêu chuẩn này, người ta phải sắp xếp tất cả các sự kiện vào đúng vị trí, sao cho chúng thể hiện được mối tương quan với nhau một cách nhất quán và chặt chẽ như những bộ phận hữu cơ của một tổng thể thống nhất. Bất kỳ sự kiện nào được đề cập đến phải được lý giải thoả đáng, được đặt vừa khớp trong hệ thống tổng thể ấy. Chỉ những cách lý giải nào thoả mãn tối đa các yêu cầu của kết cấu tổng thể mới có thể được xem là thoả đáng.

    Trong số các tiêu chuẩn được đề cập đến ở trên, kết cấu chặt chẽ là yếu tố thoả mãn các yêu cầu kiểm chứng chân lý một cách đầy đủ nhất. Nó bao hàm các đặc tính cần thiết: lý lẽ, hệ thống, tổng thể, tương quan và nhất quán. Rõ ràng, giới hạn của tiêu chuẩn này, không thuộc về khiếm khuyết của nó, chính là giới hạn của con người (hay nói cách khác, sự bất lực của con người) trong việc thu thập toàn bộ kinh nghiệm về thế giới thực tại. Chỉ có trí tuệ “thông suốt mọi sự” mới sở hữu được khối tri thức khổng lồ ấy.

    Do vậy, con người phải tự bằng lòng với vốn tri thức sẵn có ở thời điểm hiện tại, với những gì được chứng minh là chân xác theo chuẩn mực “có khả năng gắn kết chặt chẽ nhất” đối với kinh nghiệm tri thức trong điều kiện hiện tại.

    Những ai muốn phản bác tiêu chuẩn này sẽ tự đặt mình vào tình thế bất lợi về mặt lý luận. Rõ ràng, phản bác trực tiếp bằng cách biện minh cho cái gì đó phi kết cấu hay thiếu chặt chẽ thì thật bất hợp lý. Hơn nữa, để đề xuất một tiêu chuẩn thoả đáng hơn, người ta không thể tránh được việc vận dụng tiến trình suy lý một cách có hệ thống (biện minh cho sự phi lý là một điều vô nghĩa), chính điều này buộc người lý giải phải vận dụng yếu tố “gắn kết chặt chẽ các sự kiện” - nói cách khác, thừa nhận yếu tố ấy như một tiêu chuẩn chân lý.

    Cuối cùng, vấn đề còn nằm trong vòng bàn cãi là liệu có khả năng nhiều hệ thống kết cấu, bao gồm toàn bộ kinh nghiệm tri thức của con người, tồn tại song song với nhau?


    Nguồn:Tư tưởng các triết gia vĩ đại - Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  19. #1759

    Mặc định

    Là một thiền giả không chỉ có nghĩa là sống một cách chân chất, mà có nghĩa là hòa tâm mình với bản tánh của Pháp tánh.

    (trích khai thị miệng của đạo sư Liên hoa sinh)
    (Richardhieu05@gmail.com; MB: 0978871313)

  20. #1760

    Mặc định

    Chao huynh richard, de chuc huynh luon vui va an lac a

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Mật tông vấn đáp
    By ductri16580 in forum Mật Tông
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 05-09-2014, 11:53 AM
  2. Kinh Vô Lượng Thọ Phật !
    By kinhdich in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 31-05-2012, 04:26 PM
  3. Xin hỏi về phương thức trợ niệm
    By ngocbich.ploy in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 30-10-2011, 11:46 PM
  4. Dành cho người hữu duyên
    By nguoi_mu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 101
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 07:54 PM
  5. NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG -PHÁP MÔN THIỀN-TỊNH
    By linh_tinh_85 in forum Đạo Phật
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 22-02-2011, 08:47 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •