kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Biên cương nơi anh ngã xuống

  1. #1

    Mặc định Biên cương nơi anh ngã xuống

    Biên cương nơi anh ngã xuống
    06:00 - 28/07/2014 51

    (TNO) 35 năm đã qua, nhưng những ngọn núi, thân cây dọc biên cương một dải phía Bắc vẫn còn đó những dấu ấn về cuộc chiến bảo vệ đất nước trước quân xâm lược Trung Quốc. Từ Móng Cái đến Lai Châu, từ huyện đến thôn bản nào cũng gặp các nhà bia ghi tên những người lính đã ngã xuống trong những tháng năm khốc liệt ấy.
    Những ngày cuối tháng 7.2014, bên cạnh những nhà bia mái cong, nức nở mùi hương thơm gọi tên từng người ngã xuống.

    Kỳ 1: Bức điện cuối cùng của đồn Pha Long


    Bia trấn ải tại Pha Long

    Lịch sử ngành Thông tin cơ yếu Quân đội không thể quên những bức điện vĩnh biệt đồng đội, gửi đi trong thời khắc cuối cùng của lằn ranh sinh - tử. Đó là một bức điện từ nhà giàn DK1 và một từ Đồn Biên phòng Pha Long (Lào Cai), ngay trong những ngày đầu đánh trả quân Trung Quốc xâm lược.

    “Dù còn 1 người cũng chiến đấu”


    Đồn Biên phòng Pha Long đóng ở tận cùng mảnh đất Mường Khương, Lào Cai với cổng đồn uy nghiêm vững chãi, chốt giữ con đường dẫn ra cửa khẩu cùng tên. Bên trái cánh cổng, mới cứng tấm bia trấn ải mới được dựng hồi tháng 5.2013, chữ tô đỏ chót như máu: “Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non. Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định. Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng. Tuyệt tuyệt long phụng báo quốc an. Bình nhất hà Việt Nam Quốc thổ” (Tạm dịch nghĩa: Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non. Núi nam bốn cõi đã quy định trong sách trời. Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó). (Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy tổ quốc. Đất Việt Nam yên bình nhất là ở đây).

    Bên phải là đài tưởng niệm, ghi tên 37 người lính Biên phòng hy sinh tại Pha Long, đại đa số ngã xuống thời điểm tháng 2.1979, trong khi đánh trả quân Trung Quốc xâm lược.

    Trung tá Phan Đức Mạnh, Chính trị viên Đồn Biên phòng Pha Long, kể: sáng sớm 17.2.1979, phía Trung Quốc dùng 2 trung đoàn bộ binh bất ngờ tấn công sang Pha Long, nhằm triển khai ý đồ chiến thuật cắt rời mảnh đất hình tam giác này ra khỏi thế trận liên hoàn toàn tỉnh Hoàng Liên Sơn.


    Đài tưởng niệm các Liệt sĩ Đồn Biên phòng Pha Long

    Ngay từ 5 giờ sáng, Đồn Pha Long rơi vào thế cô lập, bị bao vây nhưng vẫn chiến đấu phòng ngự suốt 4 ngày đêm (17 - 20.2), chống trả số lính thiện chiến, có sự yểm trợ của pháo binh và đông gấp nhiều lần bên ta.

    Đến bây giờ, những người già ở Mường Khương vẫn thường nhắc đến những địa danh đẫm máu trong trận chiến khốc liệt 4 ngày đêm ấy. Đó là trạm Biên phòng Lồ Cố Chin, nằm cạnh mốc 21 cách Đồn 5 km; pháo đài Lê Đình Chinh, cách Đồn khoảng 200 m; chốt cửa khẩu và đặc biệt là Đồn bộ...

    Tính ra, trong 4 ngày đêm, lính Trung Quốc vây kín quanh Đồn, tổ chức 13 lần xung phong vượt cổng - vượt thành để chiếm Đồn thì 10 lần bị đánh trả quyết liệt phải tháo lui, yêu cầu pháo tầm xa và hỏa lực đi cùng bắn áp chế mục tiêu.


    Bức điện tín cuối cùng phát đi tại Đồn Pha Long:
    Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí!

    Thượng tá Trần Quốc Khải, nguyên Trưởng Đồn Biên phòng Pha Long, hồi tưởng: “Quân đội đối phương được huấn luyện rất kỹ về đánh bộc phá, chúng lại giàu bộc phá để đánh công kiên, nhưng suốt 4 ngày đêm tấn công, chúng không đặt được 1 quả bộc phá nào vào chân lô cốt chỉ vì không tiếp cận được mục tiêu!”.

    Đến giờ ông vẫn ngạc nhiên về tác phong chiến đấu lạ lùng của binh sĩ địch: chỉ sợ B40 và lựu đạn; thấy súng CKC bắn trả chỉ cười và tiến dồn đống trước hỏa lực đại liên, trung liên; đánh vào lô cốt ngầm thì không tìm góc chết; khi bị thương thì kêu la inh ỏi, túm tụm với nhau...

    Chính những điểm yếu này của địch đã tạo cơ hội cho chiến sĩ ta đánh tiêu diệt, gây thương vong rất nặng cho chúng (khoảng 800 tên).

    Thời điểm ấy, Đồn trưởng Pha Long đi công tác xa, việc chỉ huy do thượng úy Trần Ngọc, Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ Đồn. Mặc dù trước đó đã được tăng cường 3 Đại đội Cơ động của tỉnh, nhưng do bị vây đánh suốt mấy ngày liền, lương thực - đạn dược cạn dần, thương vong ngày càng cao... những người lính Pha Long đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

    Đến giờ, các nhân viên Thông tin - cơ yếu trong toàn quân lúc đó vẫn không quên nội dung 2 bức điện phát lên từ Pha Long: bức điện gửi trưa ngày 18.2 ghi: “Đồn Pha Long bị bao vây, địch đã chiếm hết các chốt của ta, lực lượng thương vong nhiều. Nhưng anh em chúng tôi còn lại kiên quyết không rời vị trí chiến đấu. Dù còn 1 người cũng chiến đấu” và bức điện lúc 11 giờ ngày 19.2: “Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí!”.


    Nghĩa trang Liệt sĩ xã Pha Long

    32 người nằm lại Pò Hèn


    Cũng làm nhiệm vụ Thông tin - cơ yếu như đồng đội ở Đồn Pha Long, nhưng chiến sĩ Đoàn Tiến Phúc (Đồn Pò Hèn, Quảng Ninh) không kịp gửi bức điện vĩnh biệt, bởi phút cuối cùng, đài vô tuyến của đồn bị hỏng.

    Khi nhận được mệnh lệnh cuối cùng, trước khi ngã xuống của Chính trị viên Nguyễn Xuân Tảo: “Thiêu hủy tài liệu mật”, chiến sĩ Phúc chưa kịp thực hiện thì trúng đạn bị thương nặng. Biết không thể sống được, Phúc để tài liệu dưới bụng, nằm đè lên. Anh hy sinh bên cạnh Chính trị viên Tảo.

    “Đâu rồi những chàng trai trẻ/Ùa xuống cổng đồn đón khách lên thăm/Chỉ còn bia mộ nghĩa trang?/Mắt rưng rưng, dò đọc từng dòng/Gặp điệp khúc tháng hai năm bảy chín/Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long”...
    (Trích bài thơ “Ghi ở Pha Long” của nhà thơ Vương Trọng)


    Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới tại Đồn Biên phòng Pò Hèn là một trong những trận đánh ác liệt nhất trong ngày 17.2.1979. Lúc 5 giờ 30 phút, chiến sĩ gác Phạm Văn Điều phát hiện lính Trung Quốc trước cổng Đồn, cũng là lúc chúng hoàn thành việc triển khai bao vây Đồn bằng 3 hướng bộ binh đã tràn sang trước đó.

    Cũng giống như ở Pha Long, Đồn trưởng Biên phòng Pò Hèn đi vắng, nên nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu dồn lên vai Đồn phó Đỗ Sĩ Họa và Chính trị viên Nguyễn Xuân Tảo. Cùng sát cánh chiến đấu với cán bộ chiến sĩ Đồn là Chủ tịch xã Pò Hèn đến chơi và chị Hoàng Thị Hồng Chiêm, nhân viên Thương nghiệp huyện Hải Ninh (Quảng Ninh) lên thăm người yêu là anh Bùi Văn Lượng, cán bộ đội Vận động quần chúng của Đồn.

    Cuộc chiến đấu không cân sức giữa những người lính Biên phòng, đánh trả từ chó chiến đấu Trung Quốc cho đến những tên lính bộ binh thiện chiến, kết thúc lúc 11 giờ 30 cùng ngày. Tất cả 32 cán bộ chiến sĩ Đồn Pò Hèn hy sinh.


    Bộ đội Biên phòng Pha Long dựng nhà cho gia đình liệt sĩ

    Ở Đồn Biên phòng Pha Long và Pò Hèn bây giờ, cứ gần đến ngày 27.7 là thêm nghi ngút khói hương và nằng nặng sắc hoa tươi bên Đài tưởng niệm. Những bông hoa, chủ yếu là màu trắng, bởi những người lính khi ngã xuống còn rất trẻ. Người già ở Pha Long, Pò Hèn bảo: hầu hết anh em đều mất thi hài bởi đạn pháo, nên linh hồn quất quýt quanh Đồn, cùng giữ biên cương... (Còn tiếp)

    Theo tổng kết, tại hướng Hoàng Liên Sơn, phía Trung Quốc đã huy động 3 quân đoàn (11, 13, 14). Một trung đoàn địch đánh vào khu vực Pha Long ở phía Đông để yểm trợ cho cánh quân Mường Khương. Tại hướng này, 3 Đồn Biên phòng cửa khẩu là Lào Cai, Mường Khương, Pha Long và 2 Đồn Nậm Chảy, Na Lốc đã chiến đấu quyết liệt.

    Ngay tại điểm chốt cầu Chui, 2 chiến sĩ Quách Văn Rạng và Lê Hồng Cầm (Đồn Biên phòng Cửa khẩu) đã bắn cháy 2 xe tăng - bọc thép của địch. Hết đạn, chiến sĩ Cầm bị thương, địch bao vây hòng bắt sống. Chiến sĩ Rạng băng bó, cõng Cầm giấu vào bụi cây, sau đó xách AK chạy ra hướng khác, bắn vào nhóm lính đang truy lùng, đánh lạc hướng. Địch dồn về phía Rạng, anh phá súng và tung quả lựu đạn cuối cùng. Hình ảnh cuối cùng mà Cầm nhìn thấy là Rạng tay không đánh địch và bị chúng bắt sống, nhưng cương quyết không khai. Điên khùng, chúng móc 2 mắt của người chiến sĩ biên phòng và tra tấn anh đến chết.


    Mai Thanh Hải

  2. #2

    Mặc định

    Kỳ 2: Nơi núi đá khắc tên

    (TNO) Cứ gần đến ngày 27.7 là đại tá Lưu Đức Hùng, Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Hà Giang lại chạy xe về Quản Bạ thắp hương lên bia tưởng niệm gần 20 cán bộ chiến sĩ của đồn Nghĩa Thuận hy sinh trước họng súng của quân Trung Quốc.


    Đồn Biên phòng Lũng Làn, Mèo Vạc, Hà Giang - Ảnh: M.T.H


    Mốc 504 (trước đây là mốc 138), nằm cạnh đường tiến quân của quân Trung Quốc tấn công sang Đồn Biên phòng Lũng Làn năm 1979 - Ảnh: M.T.H


    Bia ghi tên liệt sĩ Đồn Biên phòng Lũng Làn - Ảnh: M.T.H

    Đại tá Hùng thống kê chi tiết: Hà Giang có 169 cán bộ chiến sĩ BĐBP hy sinh, trong đó 159 liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và 90 thương binh... Mà đâu chỉ có Nghĩa Thuận, mà còn có Lũng Làn, Săm Bun, nơi những chiến sĩ đều chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

    Bất tử ở Lũng Làn

    Sáng sớm 17.2.1979, sau khi dồn dập nã pháo, 2 tiểu đoàn bộ binh Trung Quốc theo đường mòn mốc 138 và 140 đồng loạt tấn công vào Đồn Biên phòng Lũng Làn (Mèo Vạc, Hà Giang).

    Ngày 17.2.1979, thượng úy - đồn trưởng Lộc Viễn Tài (vốn là sĩ quan được đào tạo tại Trường Sĩ quan Biên phòng, lại có nhiều năm làm trợ lý huấn luyện) đã chỉ huy đơn vị vừa rút vừa cố thủ vừa phản công giữ đồn.



    Lực lượng tăng viện hành quân cả ngày mới tới đồn, nhưng đến nơi thì muộn quá rồi!
    Đại tá Hoàng Đình Xuất, Chỉ huy trưởng BĐBP Hà Giang

    Ngày 5.3.1979, quân xâm lược huy động quân số đông, quyết chiếm đồn Lũng Làn, thượng úy Lộc Viễn Tài cùng một số anh em tử thủ cho đến khi hết đạn và tất cả đều hy sinh.
    Đại tá Hoàng Đình Xuất, Chỉ huy trưởng BĐBP Hà Giang mắt đỏ hoe nhớ lại: “Lực lượng tăng viện hành quân cả ngày mới tới đồn, nhưng đến nơi thì muộn quá rồi!”. Đại tá Xuất trầm giọng: “Hồi ấy, không có quan tài, toàn lấy tôn lợp nhà, bó thi hài liệt sĩ và chôn tạm xuống chiến hào!”.

    Đến giờ, gần Đồn Biên phòng Lũng Làn vẫn còn nguyên bia ghi tên 16 cán bộ chiến sĩ của đồn hy sinh trong những năm bảo vệ biên giới, từ 1979 cho đến 1987, với người đứng số 1 là thượng úy - đồn trưởng, Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sĩ Lộc Viễn Tài (quê ở Bắc Quang, Hà Giang).

    Ở gần Lũng Làn là Săm Pun. Đại tá Hoàng Đình Xuất nhớ lại: sáng 17.2.1979, quả pháo đầu tiên bắn vào đồn Săm Pun khi anh em đang ăn sáng, làm hy sinh ngay tại chỗ khẩu đội trưởng cối 60 tên Tùng, chiến sĩ Nguyễn Thanh Bình bị thương nặng do mảnh đạn găm vào đầu.

    “Bình bị ảnh hưởng thần kinh, giờ toàn lơ ngơ đi ngoài phố. Tội lắm!” - đại tá Xuất thở dài và kể thêm: hồi ấy Bộ Tư lệnh Công an Vũ trang (nay là Bộ Tư lệnh BĐBP) xây dựng Lũng Làn là đồn mẫu về doanh trại, nên anh em xuống đồn mẫu ở, không đóng quân trên đồn Pháp cũ, như các đơn vị khác.

    Giọt máu Trùng Khánh - Quảng Hòa


    Những bức ảnh về đoàn văn công của cô Châm in trên báo Văn nghệ quân đội được lưu giữ cẩn thận trong khung ảnh - Ảnh: V.N.K

    Tháng 2.1975, Đỗ Thị Châm, người con gái đất cảng Hải Phòng mới 17 tuổi, cân nặng 40 kg nhưng vẫn khai cân tăng để được nhập ngũ.

    Sau khi huấn luyện, chị Châm được biên chế về Đội Tuyên văn (tuyên truyền - văn nghệ) của Trung đoàn 567, Sư đoàn 346 đóng ở Đồi Ngô, Lục Nam, Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Tháng 6.1976, chị và đồng đội chuyển lên Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ.

    Tháng 10.1978, trong khi đồng đội được xuất ngũ trở về địa phương thì chị được giao nhiệm vụ ở lại huấn luyện một đội văn công kế cận. Theo kế hoạch, chỉ còn mấy ngày nữa là chị ra quân thì chiến sự xảy ra ở biên giới Việt - Trung.



    "7 em đó xuất sắc lắm, hát hay, múa đẹp nhưng hy sinh hết. Một em gái tên là Ngân, là người Cao Bằng vừa mới vào đội được 2 ngày thì ra mặt trận và cũng đã hy sinh!"

    Cựu chiến binh Đỗ Thị Châm

    “Sáng sớm 17.2, khi tôi và cả đội đang tập thể dục thì nghe thấy tiếng nổ ran lên như sấm. Chúng tôi cứ bảo nhau sao mới tháng 2 mà đã có sấm. Khoảng 30 phút sau thì tôi biết tin có chiến tranh!” - chị Châm nhớ lại.

    Chị Châm nhận nhiệm vụ quản lý một đơn vị tân binh nữ, 7 chị em trong Đội Tuyên văn Trung đoàn dừng việc múa hát, ra mặt trận hỗ trợ cứu thương và lần lượt hy sinh bởi đạn và lưỡi lê của quân xâm lược.

    Nhớ lại những gương mặt đồng đội, chị Châm rớm nước mắt: “7 em đó xuất sắc lắm, hát hay, múa đẹp nhưng hy sinh hết. Một em gái tên là Ngân, là người Cao Bằng vừa mới vào đội được 2 ngày thì ra mặt trận và cũng đã hy sinh!”.

    Nhớ lại những ngày chiến tranh, cựu chiến binh Đinh Văn Bản (57 tuổi, chồng chị Châm, nguyên là chiến sĩ Trung đoàn 567) kể: cuối tháng 2.1979, sau khi bị thương trong chiến đấu, anh Bản cùng 34 thương binh khác được đưa vào điều trị trong hang Canh Giềng (Quảng Hòa, Cao Bằng). Mấy ngày sau, cấp trên di chuyển thương binh sang hang khác, nhưng khi anh Bản cùng 7 người ở ngoài cửa hang vừa xuống núi thì quân Trung Quốc bắn B40 vào trong hang, làm toàn bộ 26 thương binh và y tá Đinh Thị Tuyến hy sinh.

    Cắn răng, nuốt nước mắt nhìn đồng đội hy sinh, tốp thương binh lần mò tìm tới 1 hang núi ở Hạ Lang tránh trú và tìm cách liên lạc với quân ta. Đúng hôm cả tốp hết lương thực thì 1 dân quân gánh thịt lợn vào rừng cho vợ con, phát hiện thấy có người trong hang tưởng là quân Trung Quốc, định nổ súng nhưng may mắn phát hiện là... quân ta.

    Người dân quân này đã cấp thịt cho cả nhóm và chỉ đường về phía sau, thoát khỏi vòng vây quân xâm lược.

    Trở về tuyến sau, chị Châm trở về đơn vị tiếp tục công tác huấn luyện văn công, còn anh Bản được đưa đi điều trị. Ngày 27.7.1979, giữa núi rừng biên giới Cao Bằng, Trung đoàn 567 tổ chức văn nghệ kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ, người thương binh Đinh Văn Bản chống nạng đi cùng người yêu trong tiếng vỗ tay của đồng đội.

    Sau khi lấy nhau, sinh được 2 cô con gái, vợ chồng người cựu chiến binh đặt tên con là Khánh và Hòa, để không thể quên 2 địa danh là huyện Trùng Khánh và Quảng Hòa, nơi họ đã chiến đấu, đã ghi dấu một thời trai trẻ làm nên khúc bi tráng của dân tộc. (Còn nữa)


    Bức ảnh đăng trên báo Văn nghệ quân đội năm 1978 chụp cô Châm (đứng đầu hàng từ bên phải) cùng 4 nữ văn công khác biểu diễn phục vụ bộ đội ngoài mặt trận - Ảnh chụp lại tư liệu


    Cô Châm (thứ 2 từ trái sang) cùng đội văn công trong một lần biểu diễn ở Cao Bằng năm 1977 - Ảnh chụp lại tư liệu


    Đội văn công do cô Châm huấn luyện đang biểu diễn tiết mục Hát mừng đồn biên phòng anh hùng 193 vào cuối năm 1978 - Ảnh chụp lại tư liệu

    Mai Thanh Hải - Vũ Ngọc Khánh

  3. #3

    Mặc định

    Kỳ 3: Những kỹ sư cầm súng nơi Tĩnh Túc
    (TNO) Trận chiến chống quân Trung Quốc tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) đã qua hơn 35 năm, nhưng những người thân, đồng đội, mỗi lần nhắc đến nước mắt lại cứ trào ra…

    Bà Hoàng Thị Thể, vợ liệt sĩ Chu Văn Thoát xúc động bên ngôi mộ chồng

    Những đêm gần cuối tháng 7.2014, nghĩa trang mỏ thiếc Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) lung linh với hàng trăm ngọn nến, soi sáng cả một vùng rừng núi âm u.

    Đêm cầu siêu các anh linh liệt sĩ, mặc cho mưa bay, mặc cho gió thổi, một người đàn ông tuổi trạc ngũ tuần trầm ngâm ngồi bên những ngôi mộ tinh tươm mới xây. Tiếng ông khấn rì rầm lẫn vào tiếng gió. Thi thoảng ông đưa tay gạt những giọt nước mắt lăn trên má. Nước mắt nhớ thương những đồng đội hơn 35 năm không còn gặp lại.

    Ông là Hoàng Quốc Bình, người đồng đội duy nhất có mặt tại đây để mừng cho đồng đội về “nhà mới”. Và trận chiến ngày 20.2.1979 cứ hiện về trước mắt ông, cứ như mới hôm qua.

    Quyết chiến giữ mỏ


    Ngày ấy, các anh Nguyễn Văn Hoằng (quê Hà Nam Ninh), anh Dương Viết Lành (Quảng Bình), Nguyễn Văn Thành (Bắc Ninh), Phạm Văn Luân (Ninh Bình)… đều là những kỹ sư trẻ tuổi ngoài 20, vừa được đi đào tạo ở nước ngoài về. Theo tiếng gọi của của Tổ quốc, các anh xung phong lên công tác tại mỏ thiếc Tĩnh Túc.


    "7 giờ 30 phút sáng, quân địch tiến đánh điểm chốt của ta trên quốc lộ 34. Trung đội tự vệ đã chiến đấu kiên cường, tiêu diệt tại chỗ và làm bị thương 80 tên địch. Chúng tôi đã bảo vệ được cây cầu Tà Sa, chặn đứng không để quân Trung Quốc tiến vào huyện Nguyên Bình và mỏ thiếc Tĩnh Túc phá hoại. Nhưng cũng trong trận đánh ác liệt đó, tôi đã mất đi 15 đồng đội"
    Cựu chiến binh Hoàng Quốc Bình
    “Khi hay tin quân Trung Quốc tràn sang xâm chiếm đất nước, trong đó có tỉnh Cao Bằng, ngày 17.2.1979, chúng tôi là những thanh niên được đơn vị triệu tập vào trung đội tự vệ mỏ nhận nhiệm vụ chặn đánh địch.

    Chiều 18.2, cả đội được lệnh di chuyển xuống nhà máy thủy điện Tà Sa. Ghé qua huyện đội Nguyên Bình chúng tôi được trang bị thêm vũ khí. Thú thật, có người trong chúng tôi lúc đó chỉ quen lái máy xúc, máy ủi, chứ chưa bao giờ cầm súng, cầm lựu đạn”, ông Bình nhớ lại.

    Mờ sáng 19.2, cùng với hai đồng đội, ông Bình được cử đi trinh sát. Phát hiện một toán quân mặc quân phục xanh giống hệt bộ đội Việt Nam, chỉ khác ngôi sao 5 cánh trên mũ không có khuôn viền tròn ở ngoài, đoán là địch, đội trinh sát chạy về cấp báo.

    “Xét về tương quan lực lượng, mình yếu hơn địch rất nhiều. Để bảo toàn lực lượng, chúng tôi quyết chống trả đến cùng. 7 giờ 30 phút sáng, quân địch tiến đánh điểm chốt của ta trên quốc lộ 34. Trung đội tự vệ đã chiến đấu kiên cường, tiêu diệt tại chỗ và làm bị thương 80 tên địch. Chúng tôi đã bảo vệ được cây cầu Tà Sa, chặn đứng không để quân Trung Quốc tiến vào huyện Nguyên Bình và mỏ thiếc Tĩnh Túc phá hoại. Nhưng cũng trong trận đánh ác liệt đó, tôi đã mất đi 15 đồng đội”, ông Bình kể.

    Nỗi đau người ở lại

    Theo lời ông Bình, đa số anh em trong đội tự vệ từ dưới xuôi lên, chưa lập gia đình nên được phân công ở tập thể cùng nhau. Người đến từ Hà Bắc, Hà Nam Ninh, hay Hải Hưng… nhưng sống với nhau như anh em, chẳng so đo, so bì.

    Tuổi đôi mươi, tương lai của những anh kỹ sư, công nhân đang rạng ngời ở phía trước nhưng tất cả đều bị quân Trung Quốc xâm lược cướp mất, từ những ước mơ đến hạnh phúc nơi quê nhà.

    Dẫn chúng tôi đến từng ngôi mộ, ông Bình đau đớn kể: “Đây là anh Dương Viết Lành. Khi anh ra đi để lại người vợ trẻ đang mang thai. Vì quá đau buồn trước cái chết của chồng, sức khỏe suy sụp, sau khi sinh, chị cũng đi theo anh mãi mãi. Đứa con bé bỏng tội nghiệp của anh, sau đó được ông bà dưới quê đón về nuôi”.

    “Và còn nữa, anh Phạm Vũ Luân, người trong lao động sản xuất vô cùng tích cực. Trong tình cảm thì hết chê. Chính anh là người chỉ bảo chúng tôi cầm súng. Còn anh Nguyễn Văn Hoằng, chúng tôi hoàn toàn khâm phục anh. Nếu anh còn sống, có thể anh đã là lãnh đạo mỏ hoặc là kỹ sư giỏi đầu ngành”, ông Bình kể tiếp.


    Đây là anh Nguyễn Đức Hùng sinh năm 1956, quê Hà Bắc, cao to cao đẹp trai. Anh nằm trong số anh em vừa đi học nước ngoài về. Nếu không có cuộc chiến, một tháng sau anh sẽ tổ chức đám cưới. Tôi có chút hoa tay, được anh gửi gắm vẽ và viết thiệp mời. Vậy mà, thiệp cưới viết dang dở, chưa kịp gửi đi, anh đã hy sinh
    Cựu chiến binh Hoàng Quốc Bình rơm rớm nước mắt kể.

    Với những người đã có gia đình, sự thiếu vắng người chồng, người cha, thiếu đi trụ cột, cuộc sống vốn đã khó khăn, lại càng trở nên cơ cực.

    Bà Hoàng Thị Thể, vợ liệt sĩ Chu Văn Thoát, ngậm ngùi: “Ông ấy người Trùng Khánh, mồ côi cha mẹ từ bé. Cả hai đều là công nhân mỏ, gặp nhau nên duyên vợ chồng. Khi nhận được lệnh điều động, ông ấy vội vã ra đi, chưa kịp ăn sáng và nhắn nhủ vợ con điều gì. Còn 4 mẹ con gồng gánh đi sơ tán. Một tháng sau trở về, chỉ biết ôm nấm mồ mà khóc. Một mình nuôi 3 con nhỏ, đứa lớn 13, đứa nhỏ 7 tuổi, đồng lương công nhân còm cõi không đủ sống. Ngày ngày tôi trồng rau, nuôi lợn. Đứa lớn, sáng đi học, chiều chở giá đỗ đi bán. Vậy mà bữa đói, bữa no”.

    35 năm lùi xa, nhưng những nỗi đau vẫn dai dẳng ở lại. Vợ liệt sĩ Lý Văn Nhân, bà Đinh Thị Thóa, là một trong số đó.

    Chồng mất, gánh nặng dồn lên vai người phụ nữ, nên bà không thể cáng đáng nuôi nổi 4 đứa con ăn học đến nơi đến chốn. Đứa con trai duy nhất, bị mất trí, khi lên cơn hay đánh đập bà. Nó còn bán hết cả đồ đạc, giường tủ trong nhà. Còn cô út, năm 1997 bị lừa bán sang Trung Quốc, đến giờ vẫn bặt tin.

    Mặc dù tay bị liệt, đi phải chống gậy, bà Thóa vẫn một mực đòi anh Cao Văn Đang, con rể đưa đến nghĩa trang để thắp một nén nhang lên ngôi mộ mới được sửa sang của chồng. Anh Đang cho hay, do buồn chuyện chồng con, nên sức khỏe bà suy sụp như vậy.

    Ông Hoàng Quốc Bình cho biết: “Căn nhà xây từ những năm 1963 đến giờ, mưa nắng vẫn lo dột vào nhà. Chúng tôi cũng đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện nhưng gia đình bà Đinh Thị Thóa cũng chưa có một mái nhà thực sự êm ấm. Trách nhiệm của chúng tôi, trách nhiệm của địa phương và những người còn sống là để bà không còn chịu cảnh vất vả”.


    Bà Đinh Thị Thóa, chống gậy thắp hương cho chồng

    Tay bị liệt, nên bà Thóa rất khó khăn khi chắp tay vái chồng


    Bà Thóa nhất định đòi con rể (trái) dẫn đến đây để thắp nén nhang mừng "nhà mới" của người chồng liệt sĩ - Ảnh: T.Hằng


    Ông Hoàng Quốc Bình, lặng lẽ trò chuyện với những người đồng đội

    Thay mặt những người thân, đồng đội đã nằm xuống ở Tĩnh Túc, ông Bình cảm ơn Báo Thanh Niên, các nhà tài trợ đã giúp "nhà mới" cho các liệt sĩ chống Trung Quốc. Ông Bình bày tỏ: “Việc tu sửa, nâng cấp lại nghĩa trang là sự khởi đầu. Về phần mình, tôi hy vọng sẽ cùng với địa phương làm tốt công tác chính sách xã hội, nhất là đối với các gia đình liệt sĩ. Đây cũng là cách tri ân tốt nhất của những người còn sống với các liệt sĩ nằm xuống.
    Thu Hằng

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •