kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Ðề tài: Luận bàn về tạo ác nghiệp qua khẩu ngôn rất nặng nề.

  1. #1

    Mặc định Luận bàn về tạo ác nghiệp qua khẩu ngôn rất nặng nề.

    Tới cuối năm Đinh Dậu người viết nhìn lại bản thân lại thấy bản thân còn rất nhiều sai sót, tham dục cần chấn chỉnh, chúng ta phải và sẽ thành thực với bản thân, cũng chính là không tự dối, tự soi xét liên tục những việc tu tập, cũng là những ngày chuẩn bị tới một xuân mới, gửi một bài viết mong các đồng đạo hoan hì. Nguyện cho tất cả chúng sanh đều sớm đắc tự tại.


    Các người như Lư Thắng Ngạn, Thích Trí Siêu tới thậm chí các lạt ma cũng không phân biệt chay và mặn. Chúng ta không cổ hủ nhưng có tri kiến. Trong khi ăn chay vẫn có thể sống, thì khi xuất hiện ý nghĩ ăn mặn ta khởi một tàng niệm tham rất vi tế. Niệm này có thể được tâm thức chấp nhận bởi ý nghĩ phá Chấp trước vào vạn pháp. Không cách chính là giải thoát khỏi trói buộc của dục tham, khổ đau. Nhưng khi bất rõ thực và lý cũng chính Không cách mà Giới, Định bị phá hoại. Ta thường nghe tới việc nói và làm luôn khác nhau. Lý thuyết và thực hành rất xa rời nhau, theo lý thuyết thì lý thuyết rất gần với thực tiễn, tuy nhiên theo thực tiễn rất xa lý thuyết. Phá Chấp là con dao hai lưỡi, có thể khiến những kẻ tà niệm được thỏa ý đưa ra các quan điểm để cởi trói cho dục của chính mình. Dần theo thời gian sinh ra chấp niệm dẫn tới một thế hệ truyền thống, điều đó dẫn tới sự suy tàn. Tâm thức của con người là cởi trói buộc, khi ta có cảm giác bị gồng xích, trói buộc bởi Giới thì sau thời gian sẽ hình thành các tư tưởng xoay quanh vấn đề này và dần dần tâm thức biến đổi rất vi tế dần chấp nhận để phá cái trói buộc ấy.



    Một lý tưởng có mục đích rất tốt đẹp với thế giới, nhân loại chính là cái lý thuyết, tuy nhiên thực tiễn lại là hành vi sai lầm. Một nhà nước Campuchia với Khơ Me Đỏ với lý tưởng chủ nghĩa xã hội công bằng, hướng tới sự bình đẳng, bác ái nên được sự đồng thuận của quần chúng. Tuy nhiên khi thực hiện biến tư tưởng đó thành giết chóc các tầng lớp đặc biệt tri thức để hướng tới cái " Không giai cấp, bình đẳng". Một lý tưởng của hồi giáo cực đoan như IS là nhìn xã hội ở dưới con mắt bất công, thực hiện thánh chiến đòi lại công bằng, là cách hi sinh đóng góp tử vì đạo. Người thường nhìn vào thấy cuồng loạn nhưng một bộ phận quần chúng rất lớn tôn thờ và tuân theo lý tưởng này. Như việc xét trên tư tưởng quan điểm của Đề Bà Đạt Đa, người ngoài cuộc hay mỗi người chúng ta nhìn thấy sai lầm của ông ta, nhưng ông ta trước khi chết vẫn thấy đúng. Sau này lại có quan điểm xem Đề Bà Đạt Đa là một vị Phật tái thế, tạo ra chướng ngại cho Pháp và cũng được nhiều đồng thuận, đừng vội tin hay bài bác, thứ không rõ thì bản thân tốt hơn không nên quan tâm, vì nếu không lưu tâm cũng không ảnh hưởng tới việc tu tập. Thà tự nhận bản thân sai còn hơn tự lừa dối bản thân để làm việc bại hoại. Một việc làm sai luôn có trăm ngàn lý do phản biện, sự sụp đổ của Phật Giáo ở một địa phương hay quốc gia do không có hộ trì của Chánh pháp. Bản thân có thể gặp những bậc thầy về ngộ đạo, đắc quả vị tìm cách phá Chấp như lời dẫn thường gặp. Tuy nhiên nếu bậc cao tăng đó đưa quan điểm ra ngoài phổ biến cho quần chúng thì ắt không được lợi cho toàn thể quần chúng với căn cơ chứng ngộ khác nhau. Việc này gây ra một kết quả với một bộ phận quần chúng giống việc cho kẻ háo sắc thấy được mỹ nhân và bản thân chỉ nói rằng mỹ nhân kia là cái tham ái nên bỏ nó đi mà không giải thích.



    Việc cưới vợ do quan điểm một số thiền sư đa phần mỗi người phật tử đều nhìn thấy ở đó là sự sai lầm của tri kiến. Tuy nhiên cái nhỏ hơn như ăn trứng là chay hay mặn và ăn thịt tam tịnh nhục là phạm giới hay không sẽ được các quan điểm trái chiều khởi niệm tranh luận. Một kẻ nghiện ngập ắt không cưỡng lại được thu hút của ma túy dù bao nhiêu lời khuyên can hay rõ ràng tác hại tàn phá tác dụng của loại chất này. Dục cũng vậy, ở dục tham nặng nề hơn rất nhiều, lại nằm chìm trong vi tế tàng thức ấm, hành ấm cả ngàn vạn kiếp trước, tập khí dày đặc nên chỉ một sát na buông lung sẽ bị chế ngự. Không nhầm lần giữa việc dần chấp nhận các tư tưởng sai lầm ở một thời điểm sai lầm. Tâm thức con người không hoàn hảo là điều đúng đắn, ta có rất nhiều tư tưởng sai và sau thời gian dài nghĩ lại thấy thật nực cười. Ta nhầm lẫn rất nhiều, sai nhiều và lại sửa sai, nên cần rõ những điều không phải là Phật dạy, đừng nghi ngờ rằng thời xưa khác thời nay quá nhiều, hay việc chấp hay không chấp trước. Vì nhằm tới chữ Chấp tức Không lý nếu không đắc thực sẽ phá vỡ mọi Giới. Đức Phật thường nhắc tới hình tượng nhận lầm giặc làm con. Đây chính là điều nguy hại đặc biệt cho giáo pháp. Điều đúng đắn nhất có thể chiêm nghiệm là phật pháp sắp diệt, không phải từ ngoài xâm lấn mà từ bên trong, nội cách gặp loạn. Bên trong nội bộ xuất hiện nhiều quan điểm, chống phá từ bên trong là sự chống phá rất mạnh. Cũng do truyền miệng khiến nhiều bộ Kinh Điển bị coi là giả tạo, ngụy tạo. Phàm những việc tạo phản từ bên trong thì tai họa rất lớn. Bệnh ung thư cũng như vậy, chính tế bào của chúng ta phản bội lại chúng ta. Phật giáo là một tổ chức, khi nhập thế gian, là do đại tư tưởng hợp thành trong một cộng đồng, cũng là tâm tính của người trừ các bậc thượng sư. Cái ta thấy ở một tổ chức là lý tưởng, khi lý tưởng dần bị nhiều quan điểm mâu thuẫn thì dẫn tới biến đổi và diệt vong. Vạn vật sinh, trụ, dị, diệt là chân lý vô thường. Tranh cãi việc chay mặn, tranh cãi việc lấy vợ sinh con, tranh cãi việc tham thần thông là xấu hay tốt khi chứng nghiệm, tranh cãi về tiểu thừa, đại thừa, mật thừa, tranh cãi về tiêu chuẩn đạo đức, là Giới trong thời hiện tại việc sử dụng ma túy có phải là phạm Giới, là sự phát sinh không ngoại lệ, quan trọng hơn là tranh cãi về tính truyền miệng trong kinh điển, về thực giả của các kinh điển còn lại báo hiệu một tai kiếp sắp tới. Lại hàng loạt các quan điểm mới, được trà trộn từ tôn giáo địa phương qua quan điểm người truyền giáo, người giảng kinh điển. Các đạo mới ra đời lấy tên của Phật Giáo. Một khi quan điểm khác nhau trở nên lớn mạnh và quan điểm tới cả kinh điển thì khi đó sự suy tàn đã xuất hiện. Vạn vật tự diệt khi loạn ở nội bộ tức bên trong.



    Chúng ta thường bị những hành động đúng ở trước đây và sự tín nhiệm của quần chúng đánh lừa về nhận thức. Một thiện tri thức luôn có quan điểm đúng trước đây không có nghĩa sau này tất cả quan điểm của họ vẫn đúng, vì sự không toàn diện của nhận thức. Điều quan trọng hơn là lời đồn thổi, quần chúng ngưỡng mộ tôn theo tín nhiệm sẽ khiến mất cảnh giác trong tâm thức của người sau, ngay tính bầy đàn sẽ giết hại một đàn thiêu thân. Nói gần hơn là sự suy tàn Phật Giáo do chánh pháp diệt, trước tới bởi phá Giới, tà Kiến, như việc bởi phối ngẫu trong dòng Kim Cương Thừa của Ấn Độ hay Tây Tạng, viện lý do tính không Chấp trước của pháp. Nếu không chấp trước khi tại sao sau khi để quần chúng rõ việc làm khác thường như một bài học này lại thành một truyền thống. Như việc một kẻ muốn phá chấp trước nên ăn mặn, tại sao sau lần đó vẫn theo ăn mặn mà không ăn chay. Nếu người theo Phật Giáo nước ta đặc biệt tu thiền định và tịnh độ đánh giá được sự sai trái của nhiều tư tưởng này.



    Tuy nhiên ở Ấn Độ và Tây Tạng trong thời gian dài dần chấp nhận và coi đó như sự bình thường hóa trong giáo pháp hay hạnh mật. Một điều luôn đúng là bát chánh đạo. Lời nói trước khi nhập Niết Bàn sẽ là lời lưu lại sâu nhất trong tâm của đại chúng hay các bậc thánh chúng. Một điều luôn đúng là đức Phật giao phó lấy Giới làm thầy tất cả kinh điển đều chung một nghĩa. Giới chính là phạm vi, có tính ép buộc lại nên chắc chắn người thọ sẽ cảm thấy khó khăn, đau khổ. Cũng do nhận thức của con người bất toàn hảo nên cần tới Giới để định tâm thì sinh ra Định. Bậc chân tu lấy Giới làm trọng, nếu bất kỳ pháp môn nào dụng tới Giới, dù là phá Chấp. Tới ngay các vị cao tăng thực chứng, các A hán thánh tăng hay Phật đều tự nhiên không phạm tới Giới. Cớ sao nhiều kẻ vừa muốn tu hành vừa muốn vi phạm, tự nhiên mình là bậc thánh, hoạt phật, cũng có chúng đồ rất đông khác nào việc đưa chúng sinh vào chỗ hầm lửa. Lý tưởng là thứ quan trọng như mạng sống. Nếu cuộc đời vô định hướng, lý tưởng chẳng khác đã chết. Nay khuyên người phật tử rõ lý lẽ của chân lý mà tránh đưa ra quan điểm chưa xác định hay khuyên răn sai lầm mà tạo nghiệp lớn. Thập thiện là quả lành, nếu không thể khuyến cáo họ tu tập đúng đường thì hãy khuyến cáo họ làm việc lành, tín Phật phát bồ đề tâm mà được quả lành khi chết, tạo duyên với Phật Pháp, nếu hơn thì chỉ họ cách Trì Giới, bát chánh đạo, đừng chỉ những việc ta còn chưa rõ, trì chú, mật tông nên cẩn trọng, đó là hạnh nguyện của bồ tát và việc làm được chư phật và bồ tát hoan hỉ ắt chẳng ai có quan điểm trái ngược. Người nào hoàn hảo về Giới, trì Giới tự nhiên không lỗi, giảng về Giới, khuyên khích thực hạnh thọ trì Giới chính là bậc thầy. Vì Giới là nghịch của của Tham, Sân, Si. Điều này rất đơn giản, không huyền bí màu nhiệm như Mật Tông, các bài thần chú, không được lợi ích về tham ái như một số quan điểm về ăn, uống, nữ sắc. Thực hiện và nghe khó khăn và nhàm chán, gò bó không dễ thực hiện. Các bậc thánh khi tự nhiên luôn nằm trong Giới không lỗi lầm.
    Lạ thay, Tỳ Kheo Ma lại được tôn sùng như Phật. Theo Tịnh độ, Mật tông, được bỏ giới?. Ăn thịt là độ hóa, dâm dục là niết bàn. Kinh cốt tủy là giả, kinh giả là thật. Tùy Phương tiện?

  2. #2

    Mặc định



    Khi trở thành một người Phật Tử chúng ta thường đầu tiên sẽ được thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Nhưng thường thì trải qua thời gian, chúng ta thường lại quên mất cái cốt tủy quan trọng nhất trong việc tu hành đầu tiên là Giới. Giữ Giới Luật thì mới có Định Lực, khi có Định Lực rồi thì mới sanh ra Trí Tuệ. Vì vậy bước đầu tu hành điều quan trọng nhất là phải đoạn trừ: Sát Sanh, Trộm Cắp, Tà Dâm, Vọng Ngữ (nói láo).

    Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Quyển Thứ 6, Đức Phật dạy như sau:

    A Nan ở trong chúng sửa áo chỉnh tề, chắp tay đảnh lễ, nơi tâm sáng tỏ, lòng bi hoan hỷ. Vì muốn lợi ích cho chúng sanh vị lai, cúi đầu bạch Phật:

    - Bạch Thế Tôn! Nay con đã ngộ pháp môn thành Phật, theo đó tu hành, chẳng còn nghi hoặc. Con thường nghe Như Lai nói: tự mình chưa ngộ mà độ người khác trước, ấy là chỗ phát tâm của Bồ Tát; Tự Giác đã trọn, hay giác ngộ người khác, ấy là sự độ thế của Như Lai. Con dù chưa được ngộ, nhưng nguyện độ tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp. Thế Tôn, những chúng sanh này cách Phật ngày càng xa, bọn tà sư thuyết pháp như hằng sa, muốn nhiếp tâm họ nhập Tam Ma Địa, thì nên khiến họ dựng lập đạo tràng như thế nào để xa lìa các ma sự, được chẳng lui sụt nơi tâm Bồ Đề.

    Bấy giờ, Thế Tôn ở trong chúng khen ngợi A Nan:

    - Lành thay! Lành thay! Như ngươi hỏi về sự an lập đạo tràng, cứu giúp chúng sanh chìm đắm trong đời mạt pháp, ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà nói.

    A Nan và đại chúng kính vâng lời dạy của Phật.

    Phật bảo A nan:

    - Ngươi thường nghe ta khai giảng ba nghĩa quyết định của sự tu hành trong Luật Tạng, ấy là: Nhiếp tâm thành giới, từ giới sanh định, từ định phát huệ, gọi là ba vô lậu học.

    - A Nan! Làm sao nhiếp tâm gọi là Giới?

    - Nếu chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm chẳng dâm dục, thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.

    - Người tu chánh định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi, dẫu cho có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu chẳng đoạn dâm, ắt phải lạc vào ma đạo, hạng trên thành ma vương, hạng giữa thành ma dân, hạng dưới thành ma nữ. Bọn ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng, sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp, bọn ma dân này sôi nổi trên thế gian, thịnh hành tham dâm, tự xưng là Thiện tri thức, khiến chúng sanh sa vào hầm ái kiến, lạc mất đạo Bồ Đề.

    - Ngươi dạy người đời tu Tam Ma Địa, trước nhất phải dứt dâm dục, ấy là lời dạy bảo rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ nhất của chư Phật.

    - A Nan! Nếu chẳng dứt dâm dục mà tu thiền định, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua trăm ngàn kiếp, cũng chỉ là cát nóng. Tại sao? Vì cát vốn chẳng phải là cơm vậy. Nếu lấy thân dâm mà cầu diệu quả của Phật, dẫu được khai ngộ cũng chỉ là gốc dâm; cội gốc đã thành dâm thì phải trôi lăn trong tam ác đạo, chẳng thể thoát khỏi, vậy làm sao có thể tu chứng đạo Niết Bàn! Ắt phải khiến thân tâm đều dứt hết sự dâm, cả cái dứt cũng chẳng có, thì mới có thể hy vọng chứng quả Bồ Đề.


    - Như lời ta thuyết gọi là Phật thuyết, chẳng thuyết như thế là tà ma thuyết.

    - A Nan! Lại chúng sanh lục đạo trong thế giới, nếu tâm chẳng sát hại thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.

    - Người tu chánh định, cốt để ra khỏi trần lao, nếu tâm sát hại chẳng trừ, thì chẳng thể ra khỏi, dẫu có nhiều trí thiền định hiện tiền, mà chẳng dứt sát hại, ắt phải lạc vào đạo quỷ thần. Hạng trên thành đại lực quỷ, hạng giữa thành phi hành dạ xoa và các loại quỷ soái, hạng dưới thành địa hành la sát. Các loài quỷ thần kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng, sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp, loại quỷ thần này sôi nổi trên thế gian, tự nói ăn thịt cũng được đạo Bồ Đề.

    - A Nan! Sở dĩ ta tạm cho hàng Tỳ Kheo ăn Ngũ Tịnh Nhục, việc này đều do thần lực của ta hóa thành, vốn chẳng có sinh mạng. Vì xứ Bà La Môn đất đai phần nhiều ẩm ướt, lại thêm cát đá, rau cỏ chẳng sanh, nên ta dùng sức đại bi tạm thời hóa ra, giả danh là thịt, cho các ngươi được ăn. Nhưng tiếc thay, sau khi Như Lai diệt độ, người mang tên Phật tử lại ăn thịt chúng sanh!

    - Các ngươi nên biết, những người ăn thịt, dù được khai ngộ tựa như Tam Ma Địa, nhưng đều là giống La Sát, khi hết phước báu, ắt phải chìm đắm trong biển khổ, chẳng phải đệ tử Phật. Những người như thế, giết nhau nuốt nhau, ăn nhau không thôi, làm sao được ra khỏi luân hồi!

    - Ngươi dạy người đời tu Tam Ma Địa, phải dứt trừ sát sanh, ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ hai của chư Phật!

    - A Nan! Nếu chẳng dứt sát hại mà tu thiền định, cũng như có người tự bịt lỗ tai, lớn tiếng kêu to mà mong người khác chẳng nghe, bọn này gọi là muốn giấu mà càng lộ. Hàng Tỳ Kheo trong sạch và chư Bồ Tát, đi trong đường tẻ còn chẳng dẫm trên cỏ, huống là nhổ cỏ. Làm sao người có lòng đại bi lại ăn thịt chúng sanh?


    - Nếu Tỳ Kheo chẳng mặc tơ lụa, chẳng mang giày dép da cừu, chẳng ăn những tô lạc đề hồ... thuộc bộ phận thân thể của chúng sanh, thì Tỳ Kheo này nơi thế gian gọi là chơn giải thoát, khi nợ xưa trả sạch thì chẳng sanh vào tam giới. Tại sao? Vì dùng những bộ phận thân thể của chúng sanh để ăn mặc, thì phải trả nợ chúng sanh. Như người ăn lúa thóc từ đất mọc thì chân chẳng lìa đất. Cũng vậy, người mà đối với thân thể của chúng sanh đều chẳng ăn chẳng mặc, ta nói người này là chơn giải thoát.

    - Như lời ta thuyết, gọi là Phật thuyết chẳng thuyết như thế tức là ma thuyết.

    - A Nan! Lại như chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm chẳng trộm cắp thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục.

    - Người tu chánh định, cốt ra khỏi trần lao, nếu tâm trộm cắp chẳng trừ thì chẳng thể ra khỏi, dẫu có nhiều trí thiền định hiện tiền, mà chẳng dứt tâm trộm cắp, ắt phải lạc vào tà đạo. Hạng trên thành tinh linh, hạng giữa thành yêu mị, hạng dưới thành kẻ tà. Bọn tà đạo kia cũng có đồ chúng mỗi mỗi tự xưng đã thành đạo vô thượng. Sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp, bọn tà ma kia sôi nổi trong thế gian, che giấu sự gian dối, tự xưng là thiện tri thức, đã được pháp Thượng Nhân, lừa gạt kẻ không biết, khiến lạc mất bản tâm. Hễ họ đến chỗ nào thì người chỗ đó gia tài bị tiêu tan.

    - Ta dạy các Tỳ Kheo tùy nghi khất thực, xả bỏ lòng tham, mới thành đạo Bồ Đề. Các Tỳ Kheo chẳng tự nấu ăn, huyễn thân tạm gởi nơi tam giới, thị hiện một đời sanh tử, đi rồi chẳng về (giải thoát sanh tử thì ra khỏi luân hồi, chẳng về tam giới). Tại sao bọn giặc mặc áo đạo Phật, giả mạo Tỳ Kheo buôn bán Như Lai, tạo đủ thứ nghiệp đều nói là Phật pháp! Kỳ thật, họ chẳng phải người chánh thức xuất gia, có thọ giới Tỳ Kheo của đạo Tiểu Thừa. Do vậy, khiến vô số chúng sanh mắc phải nghi lầm, đọa địa ngục A Tỳ. Sau khi ta diệt độ, nếu có Tỳ Kheo phát tâm quyết định tu Tam Ma Địa, ở trước hình tượng Phật đốt một lóng tay hay đốt một liều trên thân, ta nói người ấy, những nợ xưa từ vô thỉ đều sẽ được dần dần trả hết, từ giã thế gian, thoát hẳn phiền não, dù chưa được ngộ đạo vô thượng, nhưng đối với Phật pháp đã có lòng tin quyết định. Nếu chẳng làm cái nhân xả thân nhỏ mọn này, thì dẫu thành vô vi, ắt phải còn sanh cõi người, trả các nợ xưa, như quả báo Mã Mạch của ta chẳng có sai khác (Mã Mạch: lúa mì để cho ngựa ăn).


    *****

    LƯỢC GIẢI

    Kinh Hưng Khởi Hành nói:

    Vua nước Tùy La Nhiên thỉnh Phật và 500 vị Tỳ Kheo về nước kiết hạ, vua đích thân cúng dường vừa được sáu ngày thì bị thiên ma mê hoặc, khiến trở về cung vua chìm đắm ngũ dục, quên sự cúng dường. Các Tỳ Kheo phải đi khất thực, mà liên tiếp ba ngày đều chẳng khất được món ăn nào cả.

    Lúc đó, có người nuôi ngựa nói với các Tỳ Kheo rằng: "Nay con có mã mạch, quí Thầy ăn được chăng? Nếu ăn được thì con sẽ cúng dường". Từ đó ăn mã mạch cho đến mãn hạ.

    Phật bảo: "Trong quá khứ đời Phật Tỳ Bà Diếp, ta làm Bà La Môn, thông đạt Tứ Vệ Đà Kinh, có dạy 500 đồng tử trên núi Phạn Chí. Khi ấy, vua thiết hội cúng dường Phật Tỳ Bà Diếp, có một Tỳ Kheo mắc bệnh chẳng đi được. Phật và đại chúng ăn xong, rồi thỉnh thực cho Tỳ Kheo mắc bệnh. Khi đi ngang núi Phạn Chí, Bà La Môn ấy ngửi được mùi cơm rất thơm, nói rằng: "Bọn Sa Môn trọc đầu nên ăn mã mạch, chẳng nên ăn cơm này".

    Các đồng tử cũng nói: "Bọn thầy trò này phải ăn mã mạch mới đúng"!

    Bà La Môn thuở đó tức là ta, 500 đồng tử tức 500 Tỳ Kheo theo ta kiết hạ đây; Tỳ Kheo mắc bệnh tức là Di Lặc. Do nhân duyên này, vào địa ngục trải qua vô số kiếp, nay dù đã đắc đạo, vẫn còn phải chịu quả báo, ăn mã mạch ba tháng.

    Theo nhân quả kể trên, Phật đã từng xả máu thịt cho diều hâu ăn, xả thân mạng cho cọp ăn, mà còn phải chịu quả báo mã mạch. Vậy đâu thể do đốt tay và đốt liều trên thân mà trả hết nợ xưa từ vô thỉ được!

    Sự đốt tay, đốt liều là để tăng cường lòng chánh tín, quên thân vì đạo. Cần phải quên thân hành đạo, cuối cùng mới tự nhiên trả hết nợ xưa, trọn thành Phật đạo.

    *****


    - Ngươi dạy người đời tu Tam Ma Địa, phải dứt tâm trộm cắp, ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ ba của chư Phật.

    - A Nan! Nếu chẳng dứt tâm trộm cắp, mà tu Thiền định, cũng như người lấy nước rót vào bình chảy, mong cho đầy bình, dù trải qua vô số kiếp, cũng không thể đầy.


    - Nếu hàng Tỳ Kheo ngoài y bát ra, mảy may không tích trữ, xin ăn có dư, bố thí cho kẻ đói, giữa nơi nhóm họp, chắp tay đảnh lễ chúng, có người đánh mắng, đồng như khen ngợi, quyết định xả bỏ thân tâm, với tất cả chúng sanh cộng chung một da thịt xương máu. Chẳng lấy thuyết bất liễu nghĩa của Như Lai làm chỗ hiểu của mình, rồi dạy lầm mà hại cho kẻ sơ học, thì Phật ấn chứng người ấy được chơn tam muội.

    - Như lời ta thuyết gọi là Phật thuyết, chẳng thuyết như thế tức tà ma thuyết.

    - A Nan! Chúng sanh lục đạo trên thế giới, dù nơi thân tâm chẳng còn Sát, Đạo, Dâm, nếu mắc phải đại vọng ngữ, thì với Tam Ma Địa chẳng được trong sạch, thành giống ma ái kiến, lạc mất giống Phật. Chưa đắc quả nói đã đắc, chưa chứng ngộ nói đã chứng; như bảo người khác rằng: "Nay tôi đã được quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, cho đến Bồ Tát Thập Địa; hoặc vì cầu sự thù thắng bậc nhất nơi thế gian, hoặc vì tham sự cúng dường, bảo họ lễ sám. Bọn Nhất Xiển Đề này tiêu diệt giống Phật, như người lấy dao chặt cây Đa La (cây này hễ gãy thì chẳng sống được nữa), Phật thọ ký người ấy mất hẳn thiện căn, chẳng có Chánh kiến, chìm đắm trong tam ác đạo, chẳng thể thành tựu chánh định.

    - Ta phó chúc các Bồ Tát và A La Hán, sau khi ta diệt độ, nên ứng thân trong thời mạt pháp, hiện đủ thứ hình tướng, cứu độ chúng sanh bị luân chuyển. Hoặc làm Sa Môn, Bạch Y Cư Sĩ, vua, chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ, như thế cho đến người dâm nữ, quả phụ, kẻ gian dối, trộm cắp, đồ tể v.v... cộng sự với họ, khen ngợi Phật thừa, khiến thân tâm họ được vào Tam Ma Địa. Trọn chẳng tự nói ta là Chơn Bồ Tát, chơn A La Hán, tiết lộ mật nhân của Phật để khinh kẻ hậu học, chỉ trừ đến khi lâm chung càng có sự phó chúc cho người nối pháp làm sao người ấy lại mê hoặc chúng sanh, tự tạo tội, thành đại vọng ngữ, để vào ngục A Tỳ!

    - Ngươi dạy người đời tu Tam Ma Địa, sau cùng phải dứt trừ đại vọng ngữ, ấy là lời dạy rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ tư của chư Phật.

    - A Nan! Nếu chẳng dứt đại vọng ngữ, cũng như lấy phẩn người khắc hình cây Chiên Đàn, muốn được mùi thơm thì chẳng có chỗ đúng.


    - Ta dạy Tỳ Kheo Trực Tâm là đạo tràng, tất cả hạnh nơi tứ oai nghi còn chẳng giả dối, làm sao lại tự xưng đã được pháp Thượng Nhân, ví như người nghèo vọng xưng là vua chỉ tự cầu tội chém, huống là trộm cắp danh hiệu của Pháp Vương!

    - Cần phải biết, nhân địa chẳng chơn thì chiêu quả quanh co, nếu như thế mà cầu đạo Bồ Đề, cũng như người muốn tự cắn rốn mình, đâu thể thành tựu!

    - Nếu các Tỳ Kheo, tâm ngay thẳng như dây đàn, tất cả chơn thật, vào Tam Ma Địa, hẳn không kẹt ma sự, ta ấn chứng người ấy thành tựu Bồ Tát vô thượng tri giác.

    - Như lời ta thuyết gọi là Phật thuyết, chẳng thuyết như thế tức tà ma thuyết.
    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    HT Tuyên Hóa dạy "Nơi nào có Kinh Hoa Nghiêm thì nơi đó có đức Phật."

  3. #3

    Mặc định

    Cảm ơn đạo hữu đã có lòng chia sẻ kinh điển. Bản thân đồng đạo mong muốn trong đạo của như lai thật rõ cho chúng sanh đời sau được lợi ích lâu dài.


    Phật giáo truyền cả ngàn năm qua truyền miệng thuở đầu sau đó được lưu lại qua kinh sách. Với truyền miệng do lưu truyền trong dân chúng nên có thể không tránh khỏi việc sai lệch một số phần. Tuy nhiên, không xét tới những điều chưa rõ, chưa chứng nghiệm đúng sai, điều sự thực không có ý kiến quan điểm khác là việc xuất hiện phá hoại của thiên ma Ba Tuần khi đức như lai thành đạo, Thiên Ma yêu cầu phật nhập niết bàn. Đây là điều tất cả các chúng đều xác thực là sự thực tới nay. Thứ tới là việc tôn giả Anan đắc sơ quả nhưng bị Thiên Ma che mắt mà không thỉnh cầu đức phật trụ thế dù ngài đã nhắc lại ba lần. Sự việc lịch sử kế tiếp cũng thiên ma yêu cầu đức Phật khi hoàn thành giáo hóa nhập niết bàn, ngài nói rằng ba tháng nữa sẽ nhập biết bàn. Cũng khi ngài xuất thế gặp Đề Bà Đạt Đa không thể giáo hóa. Cũng ngoại đạo gần đó chấp sâu dày nhiều kẻ phỉ báng chẳng tin pháp của như lai. Đức như lai có thần thông bậc nhất, trí tuệ bậc nhất lưu giữ sự nhân quả như vậy để đời sau thấy. Người phật tử có chánh tín, chánh tư duy, chúng ta tuy buồn lòng nhưng vẫn phải xác nhận rằng. Khi truyền miệng qua nhiều đời sự việc sẽ có thể sai lệch, không bàn luận tới đúng sai, ta nhìn vào những sự việc mà tất cả mọi người đều rõ, đều lưu truyền vì rất quan trọng, sự phá hoại bên trong và bên ngoài không thể lệch thông tin này. Những cái ác, cái sai lầm làm gương, thường sẽ lưu lại trong tâm rất rõ nét . Người phật tử dù mới tu hay tu lâu, dù nhớ tốt hay không nhớ tốt, đều hay biết về câu chuyện của Thiên Ma Ba Tuần, câu chuyện về Đề Bà Đạt Đa. Người đời sau qua hơn 2000 năm không phải là thời gian ngắn, tính đồng nhất về câu chuyện và nội dung vẫn không thay đổi. Tà ma và đặc biệt ngoại đạo rất gian ác với đạo ta vì chúng cũng có lý tưởng tôn thờ, có sự tri kiến thiên lệch của chúng, chúng coi Phật Giáo như một ngoại đạo. Đề Bà Đạt Đa trong giáo pháp của Như Lai, được hay biết rõ về sự siêu việt của Pháp huống còn như vậy, Thiên Ma Ba Tuần với thần thông và tri kiến huống còn như vậy. Cái ta cũng thấy rõ là sự suy hoại của Phật Pháp, tăng giới thể, sư tăng hành dâm dục, ưa ăn thịt uống rượu, tham đắm bậc nhất, trước chẳng phổ biến rộng, nay chẳng rõ ràng trên báo, cần phải nhìn rõ, biết rõ, hiểu rõ. Lại sử ghi lại việc nhiều kẻ trốn lính dịch mà trà trộn làm tỳ kheo, tỳ kheo ni chẳng phải chuyện nói vui. Lại sự suy tàn của giáo pháp đức như lai do người đời đã không còn nhìn thấy sự màu nhiệm, vị của giải thoát, sự rối loạn trong nội bộ, xâm nhập của đạo khác vào do kiến giải của những vị sư chưa đắc quả. Không chỉ có một Đề Bà Đạt Đa, không chỉ một ngoại đạo muốn phá hoại giáo pháp. Nhưng chúng ta thường tâm chân thật, tâm từ bi, tâm hỉ xả không đề phòng, lại lấy tính từ bi, chân thật nhìn chúng sanh mà không rõ lòng dạ của vô minh sinh ra ác pháp. Kinh điển xuất hiện kinh giả người viết không tin hẳn, cũng không bài bác vội. Vì không bài bác nên suy nghĩ khúc mắc cũng không vội nói ra, vì không rõ sự thật, vì biết tâm là bất toàn hảo, vì có lòng kính trọng pháp, quy mạng pháp nên chẳng dám luận sai, vì sợ ảnh hưởng tới chúng sanh. Do vậy nên chẳng nói ra thắc mắc. Vì trong giáo pháp luôn có sự bất mãn bên trong như Bạt Nan Đà khi thời chánh pháp các a la hán còn tại thế. Lại tôn giả A nan lúc đó là bậc thánh nhưng lại không thỉnh đức như lai ở lại giáo độ chúng sanh, làm thế gian mất đi con mắt của trời người. Điều bản thân biết, rõ, chứng nghiệm, nhìn thấu suốt là việc giới cấm hiện nay đã bị phai một. Là sự suy đồi đạo đức không phải xét trong giới phật mà ngay đạo đức của xã hội ngoài đã không thể so bằng. Không phải việc ăn thịt, hay dâm dục là nặng nhất. Chính là giới vọng ngữ, nói điều không chắc chắn, không được tự chứng kiến, nói theo kiến giải bản thân, lại vì một suy nghĩ cho rằng cao cả, muốn giúp đời, giáo hóa với trí vô minh, loạn động thì thành sự ác khẩu. Trong các nghiệp thì khẩu ngôn rất khó giữ. Có lẽ sẽ gặp người luận do phương tiện mà nói, Bản thân cũng không dùng tới các kinh điển ở đây, chỉ những sự kiện quan trọng lịch sử do đông người nghe ở mỗi lần kết tập hay khi đức phật nhập niết bàn nên khó có thể truyền sai. Bất kỳ người học kinh điển thuộc hay không thuộc, rõ hay không rõ, uyên thâm hay không dù già lão trí nhớ khó giữ nhưng đều nhớ tới đoạn nhắc về Thiên Ma Ba Tuần, Đề Ba Đạt Đa mà đều đồng chung quan điểm. Thứ tới điển tích về việc hại Phật bằng cách đẩy hòn đá trên núi làm chảy máu thân Phật và để đàn voi để sát hại Phật đều không có sai biệt ở các kinh sách lưu lại. Sau khi ngài nhập diệt. Có những quan điểm rõ ràng đã sai lầm, ở hội nghị kết tập thứ hai đã rõ sự rối loạn nội bộ. Sự mâu thuẫn về Giới luật và sự không toàn hảo của một vị A la hán điều được bàn luận ở tại lần này. Điều mà đức như lai đã dặn dò trước khi nhập niết bàn, tức là sự tùy chỉnh các giới nhỏ, thứ tới là lấy Giới làm thầy. Điều đầu tiên con người dễ phạm phải là phá bỏ trói buộc, tức Giới. Điều này là điều hiển nhiên vì ngay chúng ta hay bản thân người viết cũng thấy khó khăn với việc trì giới. Thứ tới là mâu thuẫn vì tính toàn hảo của một vị A La Hán. Hai điều là này mâu thuẫn quan trọng, thứ nhất A La Hán là người có tứ thần túc, là hạnh quả, là người rõ lý nhân quả, không lỗi lầm nhưng lại sinh nghi về sự thấy biết trước của các ngài. Kỳ kết tập thứ ba nguyên do là tư tưởng ngoại đạo đã ảnh hưởng tới sự giảng giáo pháp, tăng đoàn có phần rạn nứt. Ba kỳ kết tập này sẽ không thể ngụy tạo, vì có nguyên do, là sự kiện rất quan trọng lưu nhớ nên khó có thể sai lầm về nội dung chính, duyên khởi.

    Hiện nay, Phật giáo của nước ta do ảnh hưởng từ Mật Tông. Chúng ta như người viết đã bàn vì một lý do nào đó mà phạm giới, bên ngoài xã hội là phạm tội. Hiện nay, thật buồn lòng khi bản thân trước cũng giết những chúng sanh, vì ăn, vì sợ bị kẻ khác chê cười là bệnh hoạn khi muốn thả những loài ấy. Rồi duyên tới tìm hiểu được mật tông, tịnh độ cho rằng vạn vật sau khi chết nếu tụng một câu chú, một câu niệm phật sẽ giúp được siêu thoát. Không bàn tới tinh thần hay tính xác thực vì chúng ta không tin tất cả. Nhưng điều này dẫn tới việc nhiều người lý do là vì tình cảm giết xong vật, ăn vật biết giết vì mình sau đó miệng tụng chú siêu độ. Điều này cũng không khác việc nếu bản thân ta là kẻ bị giết, một kẻ sát nhân cuồng tín, không rõ thực hư của pháp sau cho rằng sống là khổ, vì từ bi nên giết ta để bản thân thoát khổ. Mê lầm là do một lý lẽ chính đáng mà thực hiện điều sai lầm. Giới cấm Sát sinh dần bị phá hoại, tới việc trở thành việc kẻ khuynh hướng tùy sát suy tưởng uống nước giết cả vạn vi trùng đó có phải là tội hay không. Hay việc kẻ không thực chứng giết xong đọc tụng để siêu thăng. Bản thân không rõ nhưng làm việc đó cho chúng sanh, lừa dối người lừa dối cả bản thân. Cũng như trường hợp đói khát tới tận cùng, thấy một con vật sanh tâm giết để bảo toàn thực mạng, có thể làm lợi ích đời sau còn gây nên nghiệp xấu, phạm quả báo xấu. Huống chi đầy đủ lương thực nhưng lại có ý định ăn thịt. Giới đức phật có dặn dò có thể tùy nghi bỏ giới nhỏ. Với giới Sát Sanh, Trộm Cắp, Dâm Dục, Vọng Ngữ đều là giới rất nặng. Vì bất cứ lý do, như ăn trộm cơm để giúp người đói khát pháp luật nếu công khai vẫn có tội hình pháp, do sợ sẽ tạo lý do của những kẻ khác. Giới của Phật chặt chẽ hơn, vì từ bi nhưng vẫn phải luôn tự rõ bản thân phạm lỗi. Phật truyền lại toàn bộ y bát cho trưởng lão Ma Ha Ca Diếp. Trưởng lão là đệ nhất về Giới. Trưởng lão đã kết tập kinh lần thứ nhất và phạt thầy Anan.


    Không hỏi Phật những giới luật nào là nhỏ nhặt để có thể thay đổi.

    Lý do: Sợ làm phiền Phật vì ngài sắp nhập Niết bàn


    Khi vá y Tăng già lê cho Phật đã dùng chân đạp lên y.

    Lý do: Không có ai cầm y trong khi trời có gió nên phải dùng chân để giữ lại


    Xin Phật cho nữ giới xuất gia

    Lý do: bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề Cù Ðàm Di từng nuôi dưỡng Thế Tôn đến trưởng thành, rồi Ngài đi xuất gia mà thành Chánh giác, do vậy không thể quên công ơn của bà.


    Không cung thỉnh Phật tại thế lâu dài hơn mặc dù biết rằng Phật có khả năng kéo dài đời sống ở thế gian.


    Lý do: Không phải vì không muốn thỉnh Phật tại thế lâu dài mà vì ác ma Ba Tuần che mờ tâm trí.


    Không lấy nước cho Phật dù rằng Phật đã 3 lần yêu cầu.

    Lý do: Có 500 chiếc xe qua sông làm cho nước rất bẩn, không thể uống được


    Ma-ha-ca-diếp là người chấp hành giới luật rất nghiêm cẩn. Về vấn đề trưởng lão không muốn cho phụ nữ gia nhập tăng đoàn thì chính Phật cũng đã từng từ chối vì e Tăng đoàn sẽ khó tiến tu, phải đến lần thứ ba A-nan cầu Phật, Ngài mới đồng ý.


    Giới đứng đầu của Phật Pháp Tăng, một a la hán là không lỗi lầm, thế nhưng chỉ sau đó ít lâu đã có nhiều quan điểm xét tới tính toàn vẹn của một a la hán. Có thể những người này chưa đắc quả vị, kể tới sơ quả cũng không rõ về hạnh của A La Hán. Người viết không bàn tới Mật Tông, Kim Cương Thừa, Đại Thừa, Tiểu Thừa. Chỉ rõ cho việc sai phạm đều có lý do, lại ngài A Nan đắc sơ quả thì ắt lý do là thiện, toàn vẹn nhưng vẫn phạm Giới. Chúng ta cầu phật quả, chẳng dám tự nhận mình mắc lỗi, nhìn trực diện vào tâm. Nếu không thể kham thọ, hãy tự trách bản thân, nếu tự biện minh chẳng bằng rời bỏ pháp chứ không tạo nghiệp. Người viết cũng phạm sai lầm khi không rõ nhiều việc nhưng vẫn dẫn chứng kinh điển ra, mặc dù chưa tự chứng. Hãy nhìn tố thời cuối Kim Cương ở Ấn Độ hay Tây Tạng. Sự tịnh hóa ư?. Các a la hán chẳng ăn thịt, chẳng giết rồi tịnh hóa. Là ma, ma dục vọng. Phải xét được và mất. Cái lợi là gì?. Cái lợi là làm chủ sanh già bệnh chết . Cái lợi là làm chủ sanh già bệnh chết, được tự do với các pháp, tự do với nghiệp quả. Do đó chúng tuân theo mà hoan hỉ tột độ, vui mừng tột độ, xả bỏ mọi vật, tôn kính tột độ, coi như báu vật. Chính sự làm chủ sanh, già, bệnh, tử, không phụ thuộc vào nhân quả, là vua của các pháp nên ham muốn cầu pháp vô lượng, rời bỏ tất cả các thánh tri của kinh điển Vệ Đà. Vì lợi ích nào?. Đó chính là lợi ích mà không người thường có thể được, từ người giàu có nhất, người quyền lực nhất, người hạnh phúc nhất, người có tất cả dục lạc có được, người được nhiều ham muốn, được nhiều tín mộ, là làm chủ sanh, già, bệnh, tử, đắc được tự tại với các pháp. Vì lý do như vậy nên vượt xa hẳn các pháp tứ thiền với tứ thần túc siêu việt, cũng chẳng nhầm vào Vô, Không nhị biên. Do đó chẳng dễ mà được, nếu không tất cả đều được. Lại ắt ma nói về thời nay không thể thiền định, như vậy chẳng tự chặt đứt đường giải thoát, tư tưởng này lại rất phổ biến. Trước khi tuyên truyền lấy dẫn cho kẻ khác cần phải suy nghĩ rất lớn, vì không biết mà nói gây tai họa thì phật giáo ắt diệt. Người viết cũng mới biết về thầy Thích Thông Lạc. Không xét nhưng việc không rõ. Tư tưởng về tịnh hóa thức ăn, tụng biến chú thì nghiệp diệt ngàn kiếp, không may giết vật tụng chú liền siêu độ. Cái ta không thấy sao dám chắc, cũng không bài bác. Hầu hết người tụng chú tâm chưa định, đều đa phần làm việc như thế gian. Nếu tu thiền định đúng thì thường chỉ muốn yên ổn tu vì khi tâm định sáng suốt thì hỉ sinh. Cái người viết nhìn thấy, trông thấy, rõ thấy. Cái lý tưởng trong kinh chú tốt đẹp, tuy nhiều người viết không dám đụng tới vì chưa rõ, chúng sanh được tụng có siêu thăng. Hay như bên Tây Tạng, ta bên ngoài nhìn rõ họ thật chẳng khác ngoại đạo, phật mẫu hai bên giao hợp để tịnh hóa, ăn thịt do muốn phá chấp cho chúng sanh. Chẳng khác nào kẻ giết người nói ta muốn giải thoát cho kẻ kia khỏi khổ não do thân người. Đến A La Hán cũng chẳng rõ cảnh giới ắt, bồ tát cũng vậy. Suy tàn là phải lắm. Nếu đạo hữu rõ thông cảm cho, hãy xây dựng đạo của như lai là sự kính trọng của xã hội trước tiên về tư cách, về sự thoát khổ, ly trói buộc thật sự. Hiện nay tư cách người theo Phật Giáo nhiều kẻ còn chẳng được như ngoại đạo, huống gì đòi đạo vô thượng. Ở kỳ kết tập nếu như chúng ta rõ thì ắt hẳn rất nhiều bồ tát, a la hán đại chúng còn sinh lòng nghi về A La Hán. Huống gì tất cả các tổ đều không thể sai lầm, rồi truyền sai ở tư tưởng tới quần chúng. Con người là bất toàn hảo. Chánh kiến, sự thực tuy khó nghe, nhưng bình tĩnh lại thì thực sự chúng ta sắp đi theo bước xe đổ khiến phật pháp diệt của Ấn Độ. Tư tưởng Phật Mẫu đã dần xâm chiếm Mật Tông, do sự chấp nhận dần vi tế của tâm. Người viết nói có thể khó hiểu về ý nhưng là thâm tâm chẳng vì một lợi ích, cũng thẳng thắn thừa nhận chính bản thân đã sai lầm, phạm tội vọng ngữ trước đây. Chúng ta chỉ cần lưu nhớ sự kiện quan trọng nhất của Phật Giáo. Nguyên do đức phật nhập niết bàn do Thiên Ma đã 2 lần yêu cầu, sơ quả ngài A Nan cũng gặp cản trở về tuệ. Sự phá hoại bên trong của Đề Bà Đạt Đa. Sự sai lầm về tri kiến ngay của tì kheo Nan Bạt Đà. Sự muốn giết phật của ngoại đạo hay Đề Bà Đạt Đa. Trước khi niết bàn thời quan trọng ngài dặn lấy Giới làm thầy. Truyền y bát tới Ma Ha Ca Diếp. Một số người sẽ nói đây là phương tiện của đức phật. Đây chính là điều đức như lai muốn chúng ta rõ. Hãy nhìn vào người đắc Giới. Nếu không thì chỉ phạm Giới nhỏ. Hãy thật dũng mạnh nhìn ra sự chân thật, không tự dối mình. Đặc biệt lưu ý khi lan truyền kinh điển. Nếu sai phạm không thể bỏ, hãy ra khỏi Phật pháp, tu thập thiện, cầu mong một ngày phước đủ sẽ được thành tựu trong giáo phái của như lai. Cái sợ là nói hay nhưng đa phần chẳng kẻ nào làm được. Tụng trì chú Đại Bi nếu kẻ thực tướng tâm của chú thì làm thực, lấy tiền của nhiều không tiếc để cứu chúng sanh là trì, toàn chỉ thấy trước khi ăn hay thấy chúng sanh bị giết đọc suông như thế thì thực buồn. Nếu thầy của chúng ta tức Giới được tăng trưởng, được thành tựu, đắc Giới tự nhiên không mảy tâm trói buộc. Cái gương soi được trong suốt. Giới là thực hành không phải nói suông. Là thứ để soi xét ma chướng. Ma chướng tới kết quả cuối cùng là Phá Giới. Nói điều không rõ, nói điều không chắc, nói điều trích dẫn không chắc, nói dối để phương tiện còn chẳng đúng với Giới, nói theo kiến giải bản thân nhưng chưa rõ. Như vậy tội tạo ra rất lớn, vì gây tranh luận trong nội bộ, vì lưu truyền sâu rộng. Với lý không, lý chấp, phương tiện là thứ quý, nhưng cũng là con dao hai lưỡi để Giới bị hủy hoại.
    Last edited by hanhdaoxuatgia; 15-02-2018 at 01:44 PM.
    Lạ thay, Tỳ Kheo Ma lại được tôn sùng như Phật. Theo Tịnh độ, Mật tông, được bỏ giới?. Ăn thịt là độ hóa, dâm dục là niết bàn. Kinh cốt tủy là giả, kinh giả là thật. Tùy Phương tiện?

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 03-04-2012, 11:54 AM
  2. Kinh nghiệm cận tử: 30 năm nghiên cứu
    By Bin571 in forum Tâm linh – Tín ngưỡng – Siêu hình học – Ngoại cảm
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 02-01-2012, 05:59 PM
  3. Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 08-12-2011, 01:50 AM
  4. Trả lời: 10
    Bài mới gởi: 30-07-2011, 11:21 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •