kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Ðề tài: Thức dậy sớm, mở mắt tuệ giác

  1. #1

    Smile Thức dậy sớm, mở mắt tuệ giác

    Thích Nhật Từ

    Tảo giác thức dậy sớm, thức lúc hừng đông. Trong bối cảnh tu học ở các tự viện tại Việt Nam, “thức sớm” được hiểu là thức lúc 03:30 đến 04:00, chuẩn bị cho thời khóa công phu khuya
    Thùy miên Ngủ nghỉ, ngủ vùi. Tâm thức còn mê muội là “thùy”. Ý thức mờ mịt là “miên”. Không thấy được Phật pháp, con người ngủ vùi trong vô minh và bất hạnh. Người ngủ nhiều ngoài bị bệnh béo phì, dễ phát sinh tâm tham dục. Cần đánh thức tâm dậy, để khỏi bị u mê
    Nguyện Chí nguyện, cầu nguyện, thệ nguyện, mong cho, cầu mong, ước nguyện. Nếu đối tượng của cầu nguyện là lợi ích cho chúng sinh thì nguyện đó là nguyện vị tha, nuôi lớn lòng từ bi. Nếu mục đích của nguyện là đạt được giác ngộ thì nguyện đó là chí nguyện ba-la-mật
    Nguyện có hai loại.a) Tổng nguyện chỉ cho bốn thệ nguyện lớn của các Bồ-tát và những người tu theo hạnh Bồ-tát
    b) Biệt nguyện là nguyện riêng của vị Phật hoặc Bồ-tát nào đó, vốn khác với các vị còn lại. Chẳng hạn, Phật A-di-đà có 48 nguyện, Phật Dược Sư có 12 nguyện, Bồ-tát Quan Âm có 12 nguyện
    Đương nguyện chúng sinh Nguyện Cầu cho tất cả mọi loài có tình thức, bao gồm con người và loài vật. Đây là thực tập mở lòng đại bi, thể hiện sự quan tâm, cam kết mà người xuất gia cần nhập thế để cứu độ muôn loài.

    Nhiết thức trí giác Còn gọi là “nhất thiết trí. Đây là trí tuệ có khả năng soi thấu mọi sự việc hiện tượng như chúng đang là. Theo Luận Đại trí độ, “nhất thiết trí” là một trong ba loại trí tuệ, thuộc trí tuệ của thánh Thanh Văn và thánh Duyên Giác. Hai loại trí tuệ còn lại là “Đạo chủng trí”, trí tuệ của Bồ-tát, và “nhất thiết chủng trí” trí tuệ của Phật
    Chu cố Soi thấu, nhìn thấu suốt, nhìn thấy tất cả. Cái nhìn trọn vẹn. Nhờ có “nhất thiết trí” nên người tu có thể nhìn thấu suốt sự vật khắp mười phương
    Thập phương Gồm đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, thượng và hạ.

    Giải thích gợi ý

    Mỗi buổi sáng, sau khoảng 6 tiếng ngủ ban đêm, với sự trợ giúp của dụng cụ báo thức hay tự nhẩm bằng chính niệm trước khi đi ngủ, chúng ta sẽ mở to mắt, tỉnh dậy và bắt đầu ngày mới vào buổi khuya.

    Giờ khuya trong đạo Phật thường được tính từ 3:30 đến 5 giờ sáng. Đó là thời điểm mà các mộng đẹp về cuộc đời và các ác mộng xuất hiện trong bộ não của ta. Do vậy, đánh thức mình bằng nỗ lực chính niệm sẽ làm ta vượt qua khỏi ảo giác. Bằng sự chính niệm và tinh tấn, ta sẽ có giá trị tích cực trong ngày mới.

    “Giác” là mở mắt, một động từ rất sâu sắc, kết thúc giấc ngủ của một đêm dài. Theo tâm lý học, trung bình chúng ta có khoảng vài chục các giấc mơ nhỏ, lớn, với độ dài trung bình hay dài trong một đêm ngủ. Vì khả năng ký ức của con người có giới hạn nên ta thường chỉ nhớ những giấc mơ cuối cùng vào đầu hôm hay buổi sớm khuya. Những giấc mơ đó có hai tác dụng, hoặc tạo ra ấn tượng hân hoan, phấn chấn hoặc để lại nỗi ám ảnh, lo sợ. Dù ác mộng hay thiện mộng đều làm ta đánh mất chính niệm ở hiện tại. Chỉ cần “mở mắt” thì nội dung của giấc mộng trong suốt đêm được kết thúc. Giống như cái công tắc, nếu bật vào nó, ánh sáng sẽ tỏa chiếu ra và không cần nỗ lực tiêu diệt, bóng tối cũng đến hồi kết thúc.

    Thực tập chính niệm của các hành giả đạo Phật không tạo ra cưỡng lực hay ức chế trong hành vi, không đè nén và gắng gượng, vì làm như vậy, sau một thời gian ta cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi, đừ đẫn, dẫn đến cảm giác chán nản.

    Khi mở mắt tỉnh thức, ta thưởng thức không khí trong lành của ngày mới, tâm ta trở nên khoan khoái. Nhân đó, hãy quyết tâm “đánh thức” đức Phật bị ngủ quên trong tâm chúng ta. Việc đánh thức đó đòi hỏi đến những kỹ năng thực tập, bắt đầu bằng việc tin mình có năng lực tuệ giác. Khi ta sở hữu được tuệ giác, an lạc hạnh phúc sẽ có mặt khắp nơi. Nhân động tác mở mắt vào đầu một ngày mới, ta cam kết chuyển hóa tất cả mộng tưởng trong một đêm, đồng thời, ta cầu cho tất cả chúng sinh có được tầm nhìn tuệ giác, thấu soi khắp cả mười phương.

    “Tầm nhìn tuệ giác” ngược lại với tâm vô minh, vốn là bản năng mê mờ, tồn tại qua các kiếp sống sinh tử, luân hồi. Tâm vô minh này làm ta rơi vào mê tín dị đoan, tin vào Thượng đế là đấng sáng tạo, tin các thần linh chưởng quản các chức nghiệp và ngành nghề, tin số phận của mình được an bày, tin mọi thứ diễn ra trên cuộc đời là định mệnh. Do vô minh, nhiều người lầm tin rằng ta có nỗ lực cách mấy cũng không qua được “phận Trời đã định”. Tất cả những niềm tin đó được gọi là mê tín, trái hoàn toàn với niềm tin tuệ giác.

    Khi mong cầu tất cả chúng sinh, trong đó có mình, mở mắt được tuệ giác, ta sẽ nhìn thế giới và con người bằng học thuyết tương tác, tức là duyên khởi. Tương tác trong vũ trụ diễn ra theo cách thức: “Cái này có tạo điều kiện cho cái khác có. Cái này sinh dẫn đến tình trạng sinh của cái khác. Cái này không dẫn đến cái không của cái kia. Cái này tiêu diệt dẫn đến tình trạng bị tiêu diệt của những cái liên hệ”.

    Khi hiểu được bản chất tương tác đa chiều trong mọi sự vật, ta sống có tự tin, tin vào nhân quả, tin đạo đức, tin phước quả, tin kiếp sau, tin chuyển nghiệp và tin rằng nỗ lực chân chính sẽ dẫn đến an vui, hạnh phúc trong cuộc đời. Tất cả những niềm tin đó sẽ giúp ta đạt được tri kiến chân chính (chính tri kiến), bước đầu của đời sống tuệ giác.

    Khái niệm “con mắt tuệ giác” được hiểu trong đạo Phật là tầm nhìn không bị chi phối bởi tham, sân, si, phiền não, nghiệp chướng, trần ô, nhờ đó, ta sống hân hoan, an lạc, hạnh phúc. Có được tầm nhìn tuệ giác như mắt Phật, ta nhìn đâu cũng thấy rõ quy luật nhân quả và duyên khởi, nhờ đó, tìm ra được các giải pháp thích hợp cho các vấn nạn mình đang gặp phải. Khi có được con mắt tuệ giác, ta không lo gì cuộc đời này không có được hòa bình, an vui, hạnh phúc, phát triển bền vững. Con mắt tuệ giác giúp ta sống với nhau bằng tinh thần hòa hợp, đoàn kết, thương yêu và giúp đỡ nhau khi gặp các hoạn nạn trọng đời. Chỗ nào có tầm nhìn tuệ giác, chỗ đó có niềm an vui và hạnh phúc. Thực tập “tỉnh thức” trong đầu ngày mới giúp ta nêu quyết tâm để có được tuệ giác trong mọi hành vi và lối sống
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  2. #2

    Mặc định

    Đối với mình thì 6h sáng là sớm rồi. Dậy lúc 3h làm gì trời. Mà nghe nói người thành đạt ai cũng có thói quen dậy sớm.

  3. #3

    Smile

    Chú thích từ ngữ
    Minh Đóng chuông, đánh chuông. Động tác đóng chày vào chuông để tạo ra tiếng chuông ngân vang
    Chung Chuông chùa, gồm chuông lớn (hồng chung) và chuông nhỏ (chuông gia trì). Trong ngữ cảnh của thi kệ này, chuông ở đây là “hồng chung”, thường được treo trên giá chuông. Mỗi khi đánh, tiếng chuông được ngân vang, có khả năng thức tỉnh người say ngủ và người sầu muộn
    Thinh Âm thanh, tiếng tạo âm vang
    Siêu Siêu thấu, thấu đến; không gì ngăn ngại được; vượt lên trên. Siêu pháp giới là siêu thấu đến pháp giới
    Pháp giới Cảnh giới (realm hoặc sphere) của sự vật (thập bát giới ) Sáu căn, sáu trần, sáu thức); cảnh giới hữu tình, cảnh giới vô tình; cảnh giới phàm (Thiên, nhân, A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh); cảnh giới thánh (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát, Phật). Trong ngữ cảnh của bài thi kệ này, “pháp giới” ở đây được hiểu là “các cảnh giới phàm”.

    Thiết Vi Gọi đủ là “Thiết Vi sơn”, núi Thiết Vi , dãi núi được bao bọc bởi sắt, còn gọi là “luân sơn”. Theo vũ trụ luận Phật giáo, trong núi Thiết Vi có địa ngục sắt, vô cùng u tối, nơi chúng sinh tội lỗi bị giam hãm, chịu nhiều quả khổ đau không dứt
    U ám Tối tăm, tối đen, tối như mực, do ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, đuốc, nến, đèn … không chiếu soi đến được. U ám thường được ví với tâm vô minh, do thiếu trí tuệ chiếu soi. Không gặp Phật pháp, không có trí tuệ, con người sẽ sống trong u ám. Nơi nào có vô minh làm cho u ám, nơi đó có bất hạnh và khổ đau lâu dài.
    Trần Trong ngữ cảnh của bài thi kệ, gọi đủ là thinh trần , bao gồm các loại âm thanh của con người, con vật và sự vật vô tri. Các đối tượng giác quan, nếu không được làm chủ, sẽ làm cho các giác quan bị nhơ bẫn, nên được gọi là bụi dơ. Phiền não khổ đau được gọi chung là trần cấu của tâm, cần được giải phóng để được an vui.

    Văn trần Lắng nghe thinh trần, lắng nghe trần cấu, lắng nghe các phiền não. Dùng trí tuệ để lắng nghe thinh trần, hành giả không còn sự phân biệt về các loại thinh trần, cảm nhận âm thanh chỉ đơn thuần là âm thanh, không có chủ thể phân biệt, khách thể được phân biệt. Đó là cách nghe bằng tánh giác, không phân biệt, không còn vọng niệm, mộng tưởng, điên đảo. Nghe trần như thế là đang nghe tự tính thanh tịnh, như cái nghe của Bồ-tát Quan Thế Âm trong kinh Thủ Lăng Nghiêm.

    Thanh tịnh Trong sạch, lắng trong, không bị vẫn đục. Tâm thanh tịnh là tâm thoát khỏi mười trói buộc của tâm (sa’myojanāni, kiết sử) bao gồm 5 hạ phần kiết sử(1) Quan niệm sai lầm về nhân tính , thân kiến), (2) nghi hoặc, (3) chấp các giáo điều và nghi thức như là phương tiện giải thoát , giới cấm thủ), (4) khao khát khoái lạc giác quan , tham dục), (5) hiềm hận và 5 thượng phần kiết sử,(6) tham ái cảnh hiện hữu vật chất (rūpa-rāga, sắc ái), (7) tham ái cảnh hiện hữu phi vật chất, vô sắc ái), (8) cống cao, tự phụ, (9) không an định và (10) vô minh. Năm trói buộc đầu được gọi là “các trói buộc thấp” (hạ phần kiết sử. Nhờ thanh tịnh tâm khỏi các trói buộc, hành giả trở thành thánh A-la-hán.

    Viên thông Tròn đầy, dung thông, không ngăn ngại, không trở ngại. Dung thông vô ngại. “Chứng viên thông” là chứng đạt sự dung thông vô ngại, do làm chủ cái nghe về thinh trần, theo đó, tâm trở nên thanh tịnh, không còn vọng niệm, phân biệt. Kinh Thủ Lăng Nghiêm đề cập 25 pháp tu viên thông của các vị thánh đệ tử, bao gồm viên thông sáu trần, sáu căn, sáu thức và bảy đại

    Chính giác Còn gọi là Chính đẳng giác, Chính đẳng chính giác, Tối chính giác, Vô thượng chính đẳng chính giác ,giác ngộ chân chính, giác ngộ toàn mãn, toàn giác, giác ngộ tuyệt đối, giác ngộ siêu tuyệt. Hán Việt phiên âm là “tam-miệu tam-bồ-đề”. Danh hiệu của đức Phật Gotāma, người khai sáng đạo Phật và tất cả các đức Phật quá khứ, hiện tại hoặc vị lai

    Giải thích gợi ý

    Thời xưa, không có đồng hồ báo thức, tiếng chuông tỉnh thức thường phát xuất từ tâm. Người có quyết tâm thức dậy vào buổi sáng chẳng hạn 3:30 hay 4 giờ kém 15, chỉ cần tập trung “ám thị” con số giờ đó khoảng 10-30 phút trước khi đi ngủ thì vào cái giờ cần thức giấc, tự động ta sẽ có một dấu hiệu báo thức. Mỗi người có những dấu hiệu báo thức khác nhau. Ai sống với niềm tin Phật pháp mạnh thì dấu hiệu báo thức đó có thể là vị Hộ pháp hay Thiện thần cho ta biết giờ thức giấc đã đến.

    Nếu ta có một người thầy hiểu biết, nâng đỡ và dắt dìu thì biểu tượng báo thức đó chính là người thầy khều đầu hay lắc vai, dù đang say giấc nồng cũng thức dậy thật dễ.

    Sau khi tự thức hoặc nhờ người khác báo thức, nghe tiếng hồng chung ngân vang, ta phải quán tưởng rằng sóng âm của chuông không giới hạn trong phạm vi ngôi chùa. Trong vũ trụ bao la, có hàng triệu các đài radio, phát thanh liên tục. Thực tế, các sóng âm đó không hề bị mất đi. Vì không có các máy tiếp sóng thích hợp, nên hầu như ta không nghe được sự phát sóng của chúng. Khi mở công tắc tivi hoặc radio ta sẽ thấy và nghe. Nói cách khác, khi ta không thấy, không nghe do không có các phương tiện tiếp sóng… không có nghĩa là sóng âm không hiện hữu trong vũ trụ bao la này.

    Thấy được sự lan tỏa của sóng âm là bất tận, khi nghe tiếng hồng chung vào buổi sáng, ta quán tưởng sóng âm từ đại hồng chung ngân vang trên chính điện đang được lan tỏa, tác động đến con người và các chúng sinh trên hành tinh.

    Tiếng chuông được hiểu là “tiếng tỉnh thức”, giúp người đang say giấc nồng kết thúc cơn mộng mị trong một đêm. Nghe chuông tỉnh thức là cách đánh thức ta trở về với chính niệm, nhờ đó, được bình an.

    Khi gặp ác mộng, ta chỉ cần tập trung niệm danh hiệu của đức Phật Thích-ca, Phật A-di-đà, Bồ-tát Quan Âm, hoặc người mình tôn kính hay người nâng đỡ ta. Khi môi bập bẹ vài âm tiết danh hiệu hay tên người đó, lập tức, ta thoát khỏi cơn ác mộng. Khi đã mở mắt, ta không nên tiếp tục sợ hãi vì dữ liệu của cơn ác mộng vốn không có thật. Khi lắng nghe tiếng chuông, ta thấy độ ngân vang của chuông có thể lan tỏa đến núi Thiết Vi (cảnh giới của các chúng sinh bị đau khổ do chưa buông xả được trong tiến trình tái sinh), dù bao bọc bởi các lớp sắt (thường cản sóng âm). Không gì ngăn cản được làn sóng tâm của ta. Sóng tâm tỉnh thức soi sáng cuộc sống các chúng sinh trên hành tinh.

    Để thực tập chính niệm khi nghe chuông, bản thân của người dộng chuông và người nghe chuông phải thực tập sự viên thông giữa lỗ tai nghe và âm thanh được tiếp nhận, nhờ đó, làm chủ được lỗ tai.

    “Văn trần” là nghe âm thanh. “Thanh tịnh” có nghĩa là không tạo ra các phản ứng về cảm xúc ẫn đến tham ái, hoặc sân hận. Hai phản ứng tham ái và si mê là bà con của si mê. Người nghe âm thanh thị phi dễ bị phiền não tác động, làm dằn vặt lương tâm. Nếu không chuyển hóa, nỗi đau từ thị phi do nghe được lây lan, tác động, chi phối, ảnh hưởng người nghe. Khi nghe cuộc đời, ta nêu quyết tâm không để cho lời thị phi tác động đến mình. Không nên bận tâm, để lòng hay để ý đến lời thị phi, phê bình, chỉ trích thiếu thiện chí. Thực tập nghe chuông giúp cho lỗ tai ta được thanh tịnh. Tương tự, khi nghe những lời khen tặng, ta cũng không vì thế mà nở lỗ mũi hay mừng vui quá đáng, vì ta dễ chìm vào trong cái tôi khi được dua nịnh. Khi nghe lời tán dương chân thành, đúng những gì ta đã đóng góp, Đức Phật vẫn dạy trong các kinh là ta không vì thế mà chạy theo sự dễ duôi của lỗ tai.

    Lúc nghe các loại âm thanh than vãn, nguyền rủa, chì chiết, phá đám, ác ý, gây trở ngại, hoặc nghe những nỗi khổ, niềm đau, ta nên làm chủ lỗ tai, không tạo ra các phản ứng bức xúc. Làm chủ lỗ tai trong khi nghe tiếng trần thì được gọi là viên thông giữa căn (lỗ tai) và trần (âm thanh), nhờ đó, ta có được sự thanh tịnh tâm.

    Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Bồ-tát Quan Thế Âm đã dạy kinh nghiệm giác ngộ của Ngài bằng sự quán chiếu âm thanh như sau: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn, dục thủ Tam-ma-đề, tất tùng văn trung nhập”. Tạm dịch là: “Chính pháp (chân giáo thể) ở tại Ta-bà được tiếp nhận và thanh tịnh hóa bằng lỗ tai. Muốn đạt được chính định, hãy thực tập việc làm chủ được lỗ tai”.

    Lỗ tai có quan hệ rất mật thiết với mắt. Phương tiện nghe nhìn là phước báu thời hiện đại nhưng cũng trở thành mối đe dọa và nghịch cảnh cho việc tu tập của các nhà tâm linh. Khi các phương tiện truyền thông đại chúng, công nghệ hiện đại, phát triển nhiều chừng nào, người chứng đắc giác ngộ, giải thoát ở hiện đời càng ít. Mỗi ngày, ta buộc phải nghe, thấy, ngửi, biết những thứ hầu như ta không hề muốn, cũng không thể trốn tránh. Nếu không tự làm chủ tâm trong lúc nghe nhìn, ta đang bị sắc trần và thinh trần làm trở ngại. Tiếng ồn nói riêng và âm thanh đời nói chung là một chướng ngại của lỗi tai và sự nghe.

    Ở những vùng thôn quê Việt Nam, từ 5 - 7 giờ sáng, Ủy ban Nhân dân xã thường truyền thanh những thông tin và kiến thức phổ thông để góp phần xóa nạn mù chữ. Nghe thông tin có nhiều kiến thức hay là một điều tốt. Thi thoảng, người nông thôn bị bất đắc dĩ nghe những thông tin không cần phải nghe. Nghe những thông tin không có ích thì tâm bị phiền não lắm. Khi buông lời thị phi thì người nói đã trút đổ những nỗi khổ niềm đau, giận tức ra khỏi tâm nên cảm thấy được xả hơi, còn người nghe không khéo giống như cái sọt rác, chứa đựng rác rến khổ đau. Nếu không làm chủ lỗ tai và không chuyển hóa như Bồ-tát Quan Thế Âm, người nghe thiếu chính niệm sẽ trở thành nạn nhân của âm thanh đời. Mỗi khi có nỗi khổ niềm đau, đừng đi lan truyền nó cho những nhà kế xóm, vì họ không có năng lực giúp ta vượt qua bất hạnh. Trong nhiều trường hợp, đổ dầu vào lửa thì khổ đau lại càng tăng thêm. Khi ta trút được khổ đau ra khỏi tâm bằng buông lời thị phi thì đến lúc người nghe sẽ bị lãnh đủ. Tốt nhất là tìm người có kinh nghiệm tư vấn và giải quyết các nỗi khổ niềm đau để tâm sự và nhờ hiến kế. Trút bầu tâm sự sai đối tượng, chẳng những không giúp được gì cho bản thân mà còn làm cho người khác bị liên lụy khổ đau, vốn là điều không nên.

    Khi nghe tiếng chuông tỉnh thức, ta nên nguyện cầu cho chúng sinh được dứt hết mê lầm, tâm được tỏ ngộ, trí được khai thông, nhờ đó, khép lại khổ đau.

    Tại nhiều thiền viện thuộc Làng Mai ở phương Tây, Thiền sư Nhất Hạnh sử dụng tiếng chuông để gây tạo ý thức chính niệm trong các thực tập hàng ngày. Nghe tiếng chuông đã trở thành phương tiện tỉnh thức. Chỗ đang có những tiếng ồn, nghe tiếng chuông tỉnh thức giúp ta dừng công việc, trở về chính niệm, tập trung vào hơi thở, buông xả mọi chấp dính. Nhờ chú tâm vào tiếng chuông ngân vang, ta trở về với thực tại, không còn tình trạng đánh mất chính mình. Thực tập nghe chuông nên áp dụng rộng rãi trong chốn thiền môn.

    Sự hết mê và tỏ ngộ nhờ lắng nghe tiếng chuông tỉnh thức là cách giúp ta làm chủ trọn vẹn lỗ tai, sự nghe và phản ứng từ sự nghe. Rất nhiều người nghe tiếng chuông, nếu không thực tập tỉnh thức cũng không có kết quả an lạc nào. Do đó, nghe âm thinh trong tỉnh thức giúp ta buông bỏ được mọi muộn phiền trong cuộc sống
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  4. #4
    Đai Đen Avatar của spirit82
    Gia nhập
    Oct 2012
    Nơi cư ngụ
    Linh thứu cung
    Bài gởi
    693

    Mặc định

    Những gì thầy rõ biết, thầy giảng giải phân tích, những điều ấy spirit cũng rõ biết, cũng có thể nói đc, cũng có thể phân tích , hùng biện đc.

    Đó là việc các thầy đang làm, khi các thầy làm thế, quần chúng sẽ nghĩ các thầy cũng ko hơn gì chúng tôi. Điều mà các thầy cần làm đc và quan trọng nhất, quả bố thí pháp lớn rộng nhất bây giờ, đó là phải chứng đc các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, để quần chúng tin tưởng đối với tam bảo, và để họ noi theo.

    Kinh luật luận nhiều quá rồi, sao các thầy còn giảng gì mà nhiều quá vậy, cả 1 rừng 1 biển trời kinh sách, phật tử hoang mang biết đâu mà an nữa.

  5. #5

    Mặc định

    Điều này mà quần chúng điều biết thì thì quá lợi lạc cho đạo pháp.còn việc thầy có thành đạt hay không,nhưng pq biết một chuyện về thầy,các bạn biết đó thầy bị thói quá đốt sống cổ tức là người thường sẻ khó làm được như thầy,mà thầy vẩn làm việt bình thường và an nhiên trong cuộc sống thực tại
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  6. #6

    Smile

    Chú thích từ ngữ

    Văn, Nghe, sự nghe. Khi có một âm thanh vang lên, thính giác nhận biết thì gọi là nghe. Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, nghe có hai loại, nghe có âm thanh và nghe không có âm thanh; tánh nghe vốn không mất và chưa từng gián đoạn
    Phiền não Các trạng thái tâm lý tiêu cực, làm khổ não và nhiễu loạn tâm trí con người, gây chướng ngại cho sự giác ngộ và giải thoát. Có hai nhóm phiền não, a) Phiền não căn bản gồm 3 loại và 6 loại, b) Phiền não tùy thuộc gồm 20 loại. Ba phiền não căn bản còn gọi là ba độc tố của tâm là tham ái , sân hận, si mê. Sáu phiền não gồm tham , sân , si , mạn, nghi và ác kiến
    Trí tuệ Còn gọi là tuệ giác, minh giác, trí giác. Là năng lực quan trọng nhất trong năm năng lực , là yếu tố cuối cùng của ba học thánh và sáu toàn thiện . Đây là năng lực tuệ minh giúp con người giải phóng toàn bộ nỗi khổ, niềm đau, trải nghiệm an lạc, hạnh phúc. Trong công thức bát chính đạo, để có được trí tuệ, hành giả phải thực tập hoàn thiện đạo đức tối và thiền định, từ đó, thực chứng niết bàn , trở thành thánh nhân trong kiếp sống hiện tại, bây giờ và tại đây. Người có trí tuệ, nhờ sống vô ngã nên trong tiến trình vô thường đối với bản thân, người thân và sự vật yêu quý, không bị khổ đau
    Có 3 lại trí tuệ mà người học Phật nỗ lực đạt được, gồm: a) Văn tuệ tức trí tuệ do học rộng, nghe nhiều chân lý, chính pháp, b) Tư tuệ, trí tuệ do tư duy, thẩm sát về chân lý và chính pháp, và c) Tu tuệ, trí tuệ do phát triển tâm, tức hoàn thiện đạo đức và thiền định.

    Theo Phật giáo Bắc truyền, có hai loại trí tuệ là: a) Căn bản trí, tức tính Phật sẵn có trong mỗi con người và chúng sinh có tình thức, và b) Hậu đắc trí, tức trí tuệ do tu tập trọn vẹn đạo đức và thiền định.
    Bồ-đề Phiên âm Hán Việt của tiếng Pali và, có nghĩa là giác hay trí tuệ. Người đạt bồ-đề là người đã chấm dứt phiền não và không còn chướng ngại về sự hiểu biết
    Ly Xa lìa, xa lánh. Thoát ra khỏi. Không còn dính dáng đến. Lìa khổ thì đắc lạc. Lìa ngụy thì được chân. Lìa tham thì không bị câu thúc. Lìa sân thì được hoan hỷ. Lìa si thì được trí tuệ. Lìa phàm thì được thánh. Lìa địa ngục thì được an vui.

    Địa ngục Còn gọi là đường địa ngục (địa ngục đạo), cõi địa ngục (địa ngục thú ), hiện hữu địa ngục (địa ngục hữu ) hay thế giới địa ngục (địa ngục giới ). Trong Hán Việt thường được phiên âm là nại-lạc-ca, na-lặc-ca , nại-lạc, ni-lợi-da hay ni-lợi). Thường được dịch là không hạnh phúc, đáng chán , công cụ khổ đau (khổ cụ hay khổ khí. Địa ngục là nơi bị câu thúc và không được tự do, tự tại.
    Địa ngục là cảnh giới thấp nhất và là nơi khổ nhất của lục phàm (năm cảnh giới còn lại thiên, a-tu-la, nhân, ngạ quỷ và súc sanh). Địa ngục được chia làm ba loại chính. Loại một là địa ngục căn bản gồm 16 địa ngục, tức tám địa ngục nóng và tám địa ngục lạnh. Loại hai là địa ngục cận biên gồm có 136 ngục (xung quanh mỗi địa ngục nóng lại có 16 địa ngục gần bên). Loại ba là địa ngục cô độc. Quả báo khổ đau và thọ mạng chịu khổ ở các địa ngục là khác nhau.
    Trong ngữ cảnh của Tỳ-ni nhật dụng, địa ngục được hiểu là địa ngục nóng, gồm có tám địa ngục nóng còn gọi là tám địa ngục lớn bao gồm: a) địa ngục đẳng hoạt, b) địa ngục hắc manh, c) địa ngục chúng hợp , d) địa ngục khiếu hoán , e) địa ngục đại khiếu) địa ngục hỏa nhiệt , g) địa ngục cực nhiệt và địa ngục a-tỳ hay vô gián
    Tám địa ngục lạnh gồm đại ngục a) an-bộ-đà, b) ni-lặc-bộ-đà , c) an-lặt-tra , d) A-ba-ba, e) hổ-hổ-bà , f) ôn-bát-la g) bát-đặc-ma và h) ma-ha bát-đặc-ma

    Trong các địa ngục được mô tả, địa ngục vô gián là nặng nhất với năm hình thức trừng phạt: Quả ở cõi khổ vô gián , chịu khổ không dứt , thời gian khổ không dứt , mạng sống khổ không dứt , thân hình khổ vô gián
    Nếu địa ngục được hiểu là trạng thái không hạnh phúc, do hậu quả của các hành động bất thiện, thì học thuyết địa ngục là sự răn dạy về đạo đức, theo tinh thần sợ sự trừng phạt khốc liệt, quay đầu hướng thiện. Bất cứ nơi nào chỉ toàn là cảm giác khổ đau , không có hỷ lạc đều được xem như địa ngục. Theo nghĩa này, địa ngục là tù ngục của khổ đau bất tận.

    Hỏa khanh Hầm lửa nóng. Tên gọi khác của địa ngục nóng. Trạng thái căng thẳng, bức bách, hận thù… làm cho con người sống trong hầm lửa bất hạnh.

    Nguyện thành Phật Mong được giác ngộ toàn mãn, mong thành bậc chính đẳng giác. Đây là thệ nguyện cao nhất trong các phát nguyện, mà một người thực hành đạo Bồ-tát cần thực hiện. Đức Phật Thích-ca đã phát nguyện dưới cội Bồ-đề tại Bồ-đề đạo tràng: “Thà thịt nát, xương tan, nếu không thành chính đẳng chính giác, ta quyết không rời khỏi cội cây này”.
    Độ Cứu độ, cứu vớt, cứu giúp. Chữ độ có bộ thủy là vượt qua sông, bơi qua sông. Sinh tử là bờ bên này. Độ đắc hay độ giả trong Phật học có nghĩa là người xuất gia. Niết-bàn là bờ bên kia. Sáu ba-la-mật là cách giúp ta đến được bờ bên kia của Niết-bàn. Trong ngữ cảnh của thi kệ này, độ ở đây có nghĩa là cứu độ tha nhân hay cứu độ cuộc đời, cứu độ chúng sinh

    IV. Giải thích gợi ý

    Thực tập nghe chuông là nghệ thuật làm chủ “thinh trần”, dẫn đến sự tỏ ngộ, vứt hết tất cả những cái mê của sinh tử luân hồi. Trong bài kệ nghe chuông, ta tập trung lắng nghe tiếng chuông ngân nga, du dương, trầm bổng, sâu lắng, thư thái, đi thẳng vào trong đời sống nội tại, nhờ đó, làm chủ cảm xúc của ta. Khi sử dụng tiếng chuông như nhạc liệu pháp, thì năng lực trị liệu của nghe chuông sẽ làm cho tâm ta được thư thái và bình an
    Ngày nay, người Trung Quốc đã phối hợp các nhạc cụ với ngũ hành tương sinh, chọn ra các loại sóng âm thích hợp. Nghe các loại sóng âm thích hợp, người ta tin rằng việc trị liệu các nỗi khổ niềm đau về cảm xúc sẽ có kết quả. Người nào mạng mộc nghe những loại nhạc cụ và sóng âm thuộc về hỏa, do mộc sinh ra hỏa; hoặc người mạng mộc có thể nghe âm thanh có đặc tính là thủy, vì thủy sẽ làm cho cây được trưởng thành. Việc tạo ra và tìm kiếm những loại sóng âm thích hợp sẽ làm cho sự nghe một cảm giác thoải mái
    Trong đời sống thực tế, có tình huống nghe giọng nói của người A, B, C dù mới lần đầu, ta có thiện cảm liền vì giọng nói này có chất liệu từ tốn, hiền đức, cao thượng, đáng tin cậy, khác hoàn toàn với người sử dụng giọng nói như nghệ thuật giao tế để đắc nhân tâm mà thực tế tấm lòng của họ không được như thế. Quán chiếu sâu sắc ngữ điệu của âm thanh, ta dễ dàng nhận được sự khác biệt giữa hai loại âm thanh vừa nêu. Đây là sự tinh tế trong việc cảm nhận âm thanh của lỗ tai

    Mục đích chính của việc nghe tiếng chuông là giúp ta lắng được các phiền não khi đang có cơn tức giận hay thất niệm đang trỗi dậy trong tâm. Thỉnh tiếng chuông lên, tâm tập trung vào tiếng chuông với độ ngân vang của nó, ta không có cơ hội để nghĩ tưởng tới người tạo ra cho mình nỗi buồn, bao gồm người thù hằn, gây hấn, chọt gậy bánh xe, phá đám, kẻ ganh tỵ, hờn ghen v.v… Nghe chuông trong chính niệm thực chất là thực tập thay thế đối tượng nghe của lỗ tai, có khả năng giúp ta chuyển hóa dòng cảm xúc phiền não ra khỏi nội tâm, nhờ đó, ta được thoải mái và bình an
    Cần hiểu rõ mục đích của sự nghe tiếng chuông trong chính niệm là tạo ra sự tỉnh thức. Điều này cũng giống như mình cài điện thoại di động hay điện thoại bàn hoặc chiếc đồng hồ một giờ báo thức với một loại âm thanh báo thức nhất định. Đến giờ phút cần được báo thức, âm thanh hiệu lệnh báo thức sẽ bật lên. Thực ra, báo thức chỉ có chức năng đánh thức hay báo giờ là hết. Trong trường hợp nghe tiếng chuông, nội dung được lỗ tai tiếp nhận thì sâu sắc hơn: “Trí tuệ lớn, bồ đề tăng”. Bồ đề là bodhi, phiên âm từ tiếng Pali Sankrit, có nghĩa là trí tuệ, sự giác ngộ.Mục đích của trị liệu pháp tiếng chuông là giúp ta có được sự tỉnh thức, giác ngộ và mở mang tâm trí để ta sống một cách sáng suốt hơn, hạnh phúc hơn, bình an hơn

    Áp dụng phương thức nghe trong chính niệm, ta có thể nghe các loại âm thanh của con người và cuộc đời với nhiều sắc thái, cảm xúc khác nhau, mà tâm vẫn không bị phiền não làm loạn động. Nếu nghe bằng tâm phê bình, chỉ trích, ta sẽ có thói quen bới móc lỗi của người khác, thậm chí họ không có lỗi ta cũng dựng chuyện để tạo thành lỗi. Khi nghe với tâm thông cảm và sự thấu hiểu, thì ta không còn thấy con người là kẻ thù của con người nữa. Những nỗi khổ niềm đau do tham, sân, si tạo ra, chính là kẻ thù chung của nhân loại, chứ không phải con người.Thay vì đấu tranh để thắng người A, vượt qua người B, khống chế người C, Đức Phật dạy chúng ta “hãy chiến thắng chính mình”, bằng cách vượt qua được tham, sân, si. Việc thực tập vượt qua nguyên nhân của khổ đau sẽ làm tăng trưởng trí tuệ và bồ đề tâm.
    Kết quả tất yếu của sinh trưởng bồ đề trong đời sống sẽ giúp ta thoát khỏi mọi ngục tù. Chúng tôi không dùng từ “địa ngục”, vì đây là khái niệm mang tính triết lý, dựa vào quan niệm dân gian “có ngục tù dưới âm phủ”. Những kẻ xấu, ác, bất thiện, phạm pháp, phi đạo đức sẽ bị trừng phạt từ đời này sang kiếp nọ. Do sợ các hình phạt nặng nề của địa ngục mà nhiều người không dám làm ác và quay đầu hướng thiện.

    Từ “tù ngục” có ý nghĩa hình dung và biểu tượng cho khổ đau bất tận. Trong cuộc sống giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em, bạn bè và xã hội, nếu không hiểu nhau, lấn lướt nhau, tranh đoạt quyền lợi của nhau, không tôn trọng nhau, gây đau khổ cho nhau, được hiểu là chúng ta đang tạo ra ngục tù cho nhau. Các tù ngục từ “va chạm cái tôi” có thể thiết lập nên các vạn lý trường thành, những bức tường Berlin, những dãy Trường Sơn và khoảng cách giữa ta và người khác trở thành nỗi ám ảnh khó hàn gắn.
    Những tù ngục như thế mang lại nỗi khổ niềm đau rất lớn. Sống trong không gian cái tôi, ranh giới giữa ta và người, lửa của không hoan hỷ, lửa của bất hạnh, lửa của đau khổ trong tâm đốt cháy chúng ta hàng ngày, hàng giờ.
    Ai từng sống trong bối cảnh xã hội phương Tây cảm nhận điều này rất dễ. Một căn nhà trung bình vài trăm mét vuông, có nơi sang trọng rộng đến cả ngàn mét vuông, có sân trước vườn sau, trong nhà có tầng trệt, có lầu. Mỗi tầng có vài phòng: Chồng phòng riêng, vợ phòng riêng, con phòng riêng. Thế mà khi đến tuổi 18, con cái đã muốn tự lập, không muốn lệ thuộc vào cha mẹ nữa dù căn nhà đó có thể chứa được chục người.

    Cái tôi khi được đề cao quá mức, con người cảm thấy bị xung đột, xúc phạm và thương tổn. Bức tường thành “cái tôi” đó làm cho ta khó có thể sống với người khác trong hạnh phúc. Ở xã hội phương Tây, vợ chồng nào sống hạnh phúc với nhau thì hạnh phúc đó tăng gấp bội, nên khi không hiểu được nhau thì khổ đau cũng tăng gấp bội, thậm chí dẫn đến trầm cảm hoặc tự tử. Ở Hoa Kỳ, cứ mỗi ngày trôi qua, có vài chục người tự tử; các nước phương Tây trung bình có 25 – 30 người tự tử do bế tắc hoặc trầm cảm. Người ta cảm thấy thế giới cái tôi như những tù ngục và lửa hầm xuất hiện trong quan hệ không hiểu biết nhau, không cảm nhận được nhau, không cảm thông nhau, không rộng lượng tha thứ cho nhau, làm cho họ có thể tấn công nhau bằng chiến tranh lạnh hoặc khi mở miệng là trở thành vũ khí miệng lưỡi. Những cái đanh đá với nhau đã làm cả hai mất hạnh phúc.
    Mong sao các tù ngục đó, các lửa hầm như thế sớm được vượt qua, nhờ nghe tiếng chuông tỉnh thức. Khi nghe tiếng chuông, ta cầu mong cho mình và những người khác được thành Phật để giúp cuộc đời và con người bớt đi những nỗi khổ và niềm đau.
    Trong xã hội phương Tây, tiếng ồn được xem là một loại ô nhiễm. Khu dân cư ở phương Tây được xây dựng biệt lập với khu công nghiệp và khu chợ. Chợ ở trong khu vực buôn bán. Kết thúc giờ hành chánh, người buôn bán không được quyền ở lại công sở và khu buôn bán, phải trở về nhà. Sự yên tĩnh tại nhà làm cho nhiều người cảm thấy hạnh phúc.

    Người ta thiết kế dọc theo các con đường những bức tường bằng gạch, bằng kính hoặc bằng ván để ngăn chận tiếng ồn, không tác động đến khu cư dân. Xã hội phương Tây rất quan trọng về hạnh phúc “không tiếng ồn”. Đức Phật nói trong kinh: “Tiếng ồn là cây gai của thiền định”. Tiếng ồn tác động đến lỗ tai thường xuyên, có thể tạo ra căng thẳng, ký ức giảm và gia tăng phiền não.
    Thực tập thỉnh chuông và nghe chuông trong xã hội phương Tây, ta phải hiểu văn hóa của họ. Tiếng chuông, tiếng mõ được xem như âm hưởng tỉnh thức với người tu và người Phật tử. Với những người Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo thì tiếng chuông được xem là phiền não. Ta phải cẩn trọng khi sử dụng các pháp khí, Phật cụ khi làm đạo ở phương Tây. Không khéo khi nghe tiếng chuông mõ nhiều, họ sẽ bị phiền não, phát sinh tâm lý thưa kiện, dẫn đến tình trạng chùa bị đóng cửa. Một số ngôi chùa ở Mỹ, Úc và Canada trong giai đoạn đầu bị đóng cửa chỉ vì không hiểu rõ bản sắc văn hóa của quốc gia mà mình đang sinh sống. Thực tập thích ứng văn hoá âm thanh và văn hóa nghe là cách giúp ta không tạo phiền não cho nhau
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  7. #7

    Smile Năng lực thần chú Lăng Nghiêm

    Đức Phật dạy Anan,thầy hỏi cách nhiếp trì tâm niệm thì tôi đã nói rằng.Người muốn vào tam ma đề,tu học pháp môn nhiệm mầu,cầu đạo Bồ tát,trước nhất cần giữ bốn thứ luật nghi đó trong sáng như giá,như sương,tự không thể sinh ra được tất cả nhành lá ba ý nghiệp,bốn khẩu nghiệp ác chắc chắn không còn có nhân mà sinh được.A nan nếu giữ bốn việc như vậy không thiếu xót,thì tâm còn không duyên với sắc,hương,vị,xúc,tất cả ma sự làm sao mà phát sanh được.Nếu có tập khí cũ không thể diệt trừ,thầy dạy người đó nhất tâm tụng thần chú vô thượng.Phật Đỉnh Quang Minh Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra của tôi,đó là cái tâm chú do vô vi tâm Phật của vô kiến đỉnh tướng Như lai,từ nơi đỉnh hiện ra,ngồi trên hoa sen báu mà nói

    Vả lại,thầy cùng nàng Ma đăng già do nhân duyên nhiều kiếp trước thành tập khí ái ân,không phải một đời hay một kiếp song một phen tôi tuyên dương thần chú,nàng Ma đăng già thoát hẳn khỏi lòng yêu,thành quả A la hán.Nàng kia còn là dâm nữ,không có tâm tu hành do sức thần chú giúp,cũng mau chứng quả vô học thế thì các thầy,những hàng Thanh Văn trong hội này,cầu tối thượng thừa thì quyết định sẽ thành Phật,cũng ví như bụi bay gặp gió thuận,có khó khăn gì
    Ðốn ngộ tuy bằng Phật
    Nhiều đời tập khí vây
    Gió dừng, còn sóng dữ
    Lý hiện, niệm còn đầy

    Hiệu lực của thần chú Thủ Lăng Nghiêm rất lớn
    Thần chú Thủ Lăng Nghiêm còn gọi là Phật Đỉnh Quang Minh Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra hay.Bạch Tán Cái tức chỉ cho cái thể dụng rộng lớn của bản lai tự tánh.Bạch là trí tuệ.Tán cái là lòng từ bao la rộng lớn.Như vậy chú Lăng Nghiêm là biểu hiện toàn thể toàn dụng của tự tâm nên gọi là tâm chú.Tâm chú này có khả năng và hiệu quả rất lớn,có khả năng tiêu trừ tập khí sát,đạo,dâm,vọng,đặc biệt là tập khí của lòng ái dục.Chính thần chú này đã cứu A nan và nàng Ma đăng già ra khỏi đám mây ái dục.Và khi người trì tụng phát tâm cân xứng với thần chú này nghĩa là cân xứng với bản lai tự tánh.Thần chú này thuộc mật giáo.Có năm đệ phần chia ra 427 câu và không giải nghĩa được.Còn các phần khác trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đều thuộc hiển giáo vì Đức Phật có giải thích từng phần,từng câu rõ ràng.Thần chú này tùy mỗi nước phiên âm có sai khác đôi chút, nhưng nếu có lòng tin bất động đúng đắn, nhiếp tâm thọ trì miên mật thì sẽ có hiệu nghiệm

    Trong chốn thiền môn thời Lăng Nghiêm được gọi là thời công phu khuya tức công phu tu tập mới sớm tinh mơ khoảng 5 giờ hay 6 giờ sáng,tùy từng chùa.Ngoài năm đệ Lăng Nghiêm còn kèm theo chú Đại bi và thập chú như chú Như ý bảo luân vương,Tiêu tai kiết tường,Công đức bảo sơn,Phật mẫu chuẩn đề,Thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương,Dược sư quán đảnh,Quán âm linh cảm,Thất Phật diệt tội,Vãng sanh tịnh độ và Thiện thiên nữ chú
    Đây là thời công phu rất thanh tịnh vì sau một đêm nghỉ ngơi,ngủ dậy,tâm trí rất trong sáng,nhẹ nhàng,những công việc hàng ngày nặng nhọc,bận rộn đã lắng xuống,nên thần chú dễ thấm nhuần thân tâm.Thêm vào đó,buổi sáng tinh mơ không khí yên tĩnh,trong lành,thần kinh êm dịu,việc tụng kinh trì chú dễ dàng tăng thêm nhiều năng lượng tâm linh cảm ứng
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  8. #8

    Smile

    Chúng ta muốn tu hành được tinh tấn và thành tựu thì phải tránh những chuyện thị phi,vì thị phi mất rất nhiều thời gian một cách vô ích,mà lại gây tạo rất nhiều nghiệp khẩu,oan trái.Nghiệp là hành động tạo tác nhiều lần có chủ ý,cùa Thân.Miệng và Ý,nguyên nhân đưa tới quả báo,cả hai nghiệp và quả báo tạo thành luật nhân quả,tuần hoàn không dứt,đưa con người luân hồi khắp sáu cõi.Nếu gieo nghiệp thiện thì sẽ sanh ở cõi Trời.Người.Atula,còn nếu tạo nghiệp ác thì sẽ bị đọa vào Địa ngục,Ngạ quỷ,Súc sanh.Trong đó phần Miệng là gieo tạo nghiệp nhiều nhất. Nhưng đối với đạo Phật Tu là chuyển được nghiệp
    Cố kinh vân phù sĩ xử thế,phủ tại khẩu trung sở dĩ trạm thân,do kỳ ác ngôn.nghĩa là,xét người ở đời,búa để trong miệng,sở dĩ giết người,do lời nói ác.Cổ nhân cũng có dạy.Bệnh tùng khẩu nhập,hoạ tùng khẩu xuất nghĩa là bệnh từ cái miệng do ăn uống mà đem vào,họa cũng từ cái miệng do nói chuyện thị phi mà tạo ra.Phật dạy trong mười cái nghiệp của con người thì trong đó cái miệng đã chiếm bốn gần một nửa

    chuyện không nói có,chuyện có nói không,nói lời hung ác,nói lưởi đôi chiều,nói lời thêu dệt.Nhưng trong cuộc sống hằng ngày ngoài bốn điều trên,cái miệng còn tạo thêm nhiều nghiệp nữa như ăn uống cầu kỳ,phê bình,khen chê,rêu rao lỗi của mọi người,tứ chúng toàn là những điều tổn phước và tội phải đoạ vào địa ngục,cũng như làm mích lòng,gây mâu thuẩn,hận thù giết hại lẫn nhau mà thôi.Do vậy kinh cũng dạy trong sinh hoạt hằng ngày có 4 hạng người chúng ta nên tránh.Hay nói lỗi kẻ khác,hay nói chuyện mê tín tà kiến,miệng tốt,bụng xấu khẩu Phật,tâm xà,làm ít kể nhiều.Từ cái miệng mà ta có thể biết tâm ý và đánh giá được người khác để có cách ứng xữ thích nghi.Của cải dù to lớn như núi,nhưng cái miệng ăn lâu ngày cũng hết.Phước đức dù cực khổ gieo tạo nhiều đời,nhưng do cái miệng tạo nghiệp,phê bình chỉ trích,nói lời ác thì trong giây phút cũng có thể tiêu tan.Làm ơn hay bị măc oán,cũng do cái miệng nầy hay kể công,mắng nhiếc,nói sỉ nhục người.Thần khẩu nó hại xác phàm.Người nào nói quá họa làm khổ thân.Lỡ chân gượng được đỡ lên.Lỡ miệng gây họa phải đền trả thôi.Cái miệng nầy rất tai hại,ăn uống thì cầu kỳ muốn nuốt vào những món ngon vật lạ cho khóai khẩu,vừa hao tốn tiền của vừa đem bệnh vào thân,vì động thực vật bây giờ sản xuất chạy theo lợi nhuận nên xử dụng hóa chất rất nhiều,nếu không biết kiêng cữ thì bệnh nan y mang vào thân,để tự làm khổ mình và làm khổ bao người,phải lo chạy chữa là chuyện đương nhiên

    Người xưa cũng có dạy.Khẩu khai thần khí tán.Thiệt động thị phi sanh tức là mở miệng nhiều lời sẽ hao tỗn thần khí,lưỡi động thường nói chuyện phải trái,hơn thua đẹp xấu, khen chê để rồi phải tranh đấu,mạ lị lẫn nhau khiến sanh ra lắm chuyện thương tâm.Đấy là chỉ nói sơ qua những điều tai hại thường xảy ra hằng ngày của cái miệng,còn lại suốt trong một đời người do thoả thích cho cái miệng mà chúng ta đã tạo không biết bao tội lỗi.Do vậy mà Tây phương cũng có dạy trước khi nói phải uống lưỡi bảy lần” là vậy.Cái miệng cũng có nhiều cái lợi dùng để ăn uống tốt,nuôi dưỡng cơ thể,dùng để nói năng giao tiếp trong hằng ngày,tạo mối thâm tình,giao hảo hài hòa,thông hiểu lẫn nhau,dùng để thuyết giảng tụng niệm,dạy học truyền kiến thức và những điều lợi ích đến được nhiều người.Đọc câu chuyện trong quốc văn giáo khoa thư sau đây sẽ thấy được sự lợi hại về cái miệng,lưỡi.Một hôm ông phú hộ ra lệnh cho người làm giết heo và chọn phần quí nhất của con heo làm cho ông một món ăn.Người làm vâng lời và sau đó dâng cho ông một món ăn mà phần quí nhất là cái lưỡi heo.Ông phú hộ hỏi tại sao thì người làm trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất,vì nhờ cái lưỡi mà con người có thể diễn đạt những tình cảm chân thành,những ý tưởng cao siêu,ích nước lợi dân và có ích cho nhân loại.Ít lâu sau ông phú hộ lại ra lệnh cho người làm giết heo và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn.Người làm vâng lời và sau đó dâng cho ông phú hộ một dĩa đồ ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi heo.Ông phú hộ hỏi tại sao người làm bèn trả lời rằng vì cái lưỡi có thể nói lên những lời nói xấu xa nhất tàn ác nhất làm tan nát gia đình xã hội và có thể khuynh đảo nước nhà ngay cả làm hại cho nhân loại.Ông phú hộ vô cùng ngợi khen sự thông minh của người làm.Thật là cái lưỡi không xương nhiều đường lắc léo.Người xưa cũng có nói “nhứt ngôn khả dĩ hưng bang,nhứt ngôn khả dĩ tán bang nghĩa là một lời nói có thể xây dựng nước nhà,mà cũng có thể làm tan nát nước nhà

    Lược sơ qua những điều lợi hại,thì chúng ta đã thầy cái miệng,lưỡi của người thế gian điều hại sẽ nhiều hơn điều lợi rồi,Tạo hóa sinh ra con người có hai lỗ tai,nhưng chỉ có một cái miệng, cho nên phải nghe nhiều hơn nói,mới đúng với tự nhiên được thân người là khó,có đầy đủ lục căn và miệng lưỡi trọn vẹn là phước đức quá rồi,hãy nhân vốn phước báu nầy mà gieo trồng thêm phước đức ra nữa,thì mới là người khôn bởi vậy phải lo Tu cái miệng là điều cần thiết nhất và xem như Tu hơn nửa đời người rồi
    Bồ Tát Giác Minh Diệu Hạnh có dạy.Ít nói một câu chuyện niệm nhiều một câu Phật,dánh chết được vọng niệm,pháp thân ta hiện tiền.Trong kinh Pháp cú Phật có dạy.Dầu nói ngàn ngàn lời.Nhưng không gì lợi ích,tốt hơn một câu nghĩa nghe xong được tịnh lạc.Không phải vì nói nhiều,mới xứng danh bậc trí,an ổn không oán sợ,thật đáng gọi bậc trí.không phải vì nói nhiều,là thọ trì chánh pháp,người nghe ít diệu pháp,nhưng trực nhận viên dung,chánh pháp không buông lung,là thọ trì Phật Pháp.Phật cũng có dạy.Làm thinh như chánh pháp,nói năng như chánh pháp là như vậy.Là Phật tử,một lời nói ra phải giúp cho nhiều người thông hiểu an lạc,lợi ích thì chúng ta không tiếc lời,phước đức cũng rất vô biên,nhưng rất phải cẫn ngôn,cẫn ngữ khi phải nói ra những lời khiến người khác phải khổ đau thiệt hại,thì chúng ta sẽ phải gặt hái những điều tương ưng.Tạo Phước đức cả một đời,nhưng chỉ cần một lời ác khẩu nói ra là tiêu tan trong giây phút.Lời nói không mất tiền mua,lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.Nhất là chúng ta muốn tu hành được tinh tấn và thành tựu thì phải tránh những chuyện thị phi vì thị phi mất rất nhiều thời gian một cách vô ích,mà lại gây tạo rất nhiều nghiệp khẩu oan trái

    Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường đối đãi với nhau,cái miệng phải luôn mĩm cười,nhạy lời xin lỗi và trọng lời cảm ơn.Phải tương kính dùng ái ngữ,không tiếc lời khen,tán dương,ca tụng truyền rao những người tốt,việc tốt những điều hay,lẽ phải để nhân những điển hình tốt đẹp ra thêm làm tô thắm cuộc đời,nhưng rất dè dặt tiếng chê,nên ăn chay để bảo vệ môi trường và cứu tinh cầu,không nói dối mà phải nói những lời chân thật,không dối gạt ta sẽ nhận được nhiều uy thế,tiếng tăm.Không nói lời thêu dệt,mà nói những lời trung thực,sẽ được nhiều người kính mến.Không nói lời đâm thọc,mà nói lời hoà hợp sẽ được nhiều người ủng hộ.Không nói lời thô ác,mà nói toàn những lời hòa nhã,thương yêu sẽ có cuộc sống cao sang.Đấy là những pháp tu cho cái miệng rất hay,rất bổ ích,chúng ta cần thực hiện theo,để gặt hái được nhiều phước đức,lúc đó cuộc đời gia đình và xã hội,trong hiện tại được thanh bình,an đẹp và tương lai sẽ sanh vào nơi an lạc,thật hạnh phúc nào bằng
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •