Trang 2 trong 2 Đầu tiênĐầu tiên 12
kết quả từ 21 tới 29 trên 29

Ðề tài: Khóa Hư Lục

  1. #21
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    SÁM HỐI TỘI CĂN THÂN


    Chí tâm sám hối,
    Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
    Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
    Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm
    Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

    NGHIỆP CĂN THÂN LÀ:


    Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình;
    Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
    Chấp cho là thật, quên mất Pháp thân;
    Sanh dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp.

    NGHIỆP SÁT SANH LÀ:

    Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ;
    Giết hại bốn loài, đâu biết một thể.
    Lầm hại cố giết, tự làm dạy người;
    Hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối.
    Hoặc làm thuốc độc, để hại sanh linh;
    Chỉ cốt hại người, không hề thương vật.
    Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối;
    Buông chài bủa lưới, xuýt chó thả chim.
    Thấy nghe tùy hỉ, niệm dấy tưởng làm;
    Cử động vận hành, đều là tội lỗi.

    NGHIỆP TRỘM CẮP LÀ:


    Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà;
    Phá khóa cạy then, sờ bao mò túi.
    Thấy của Thường trụ, lòng dấy khởi tham;
    Trộm của nhà chùa, không sợ thần giận.
    Không những vàng ngọc, mới mắc tội to;
    Ngọn cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.

    NGHIỆP TÀ DÂM LÀ:

    Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son;
    Chẳng đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.
    Hoặc nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng;
    Cư sĩ gái trai đụng chạm đùa giỡn.
    Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai;
    Khoét ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.
    Những tội như thế, vô lượng vô biên;
    Đến lúc mạng chung, đều vào địa ngục.
    Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng;
    Muôn kiếp tái sanh, lại chịu tội báo.
    Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ;
    Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH


    Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật,
    Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
    Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
    Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM TÙY HỈ


    Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
    Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
    Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
    Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG


    Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
    Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
    Nguyện đem công đức đến quần sanh,
    Nương thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

    Một nguyện mạng căn chóng thành tuệ,
    Hai nguyện thể tướng biến thành chân,
    Ba nguyện gieo mình cầu đại pháp,
    Bốn nguyện vào lửa ngộ thâm nhân.
    Năm nguyện đốt thân đền Phật đức,
    Sáu nguyện chẻ tủy đáp ơn thầy,
    Bảy nguyện xin đầu trọn chẳng tiếc,
    Tám nguyện móc mắt cũng là thân.
    Chín nguyện thoa hương không ưa thích,
    Mười nguyện cắt thịt chẳng sanh sân,
    Mười một nguyện đời đời không đắm trước,
    Mười hai nguyện kiếp kiếp lìa tục trần.

    KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY


    Muôn tiếng vừa im bặt,
    Canh ba trống điểm hồi.
    Chim cuốc kêu thảm thiết,
    Giấc mộng mải mê say.
    Cam trong hòe làm kiến,
    Trở thành cá trên ao.
    Không thể xem trăng mọc,
    Chỉ luyến ái trong hoa.
    Quên mất nhà muôn dặm,
    Còn tham giấc ngủ thừa.
    Chẳng biết thân là huyễn,
    Mê muội đến bao giờ.

    DÂNG HƯƠNG CUỐI ĐÊM


    Cúi mong, sao Bắc Đẩu chuyển về phương Bắc, dải Ngân hà nghiêng hẳn về Tây. Bên gối giấc mộng còn say, trên lầu tiếng sừng vừa dứt. Chúng Tỳ-kheo họp nơi chiếu phạm, trước đức Phật dâng nén hương tin. Hương này giống từ cung nguyệt đem về, trong non rễ quấn chằng chịt. Dáng hình khác tục, thể chất phi phàm. Vượt xa Tước Đầu ở nước Ngô, cao hơn Qui Giáp ở Quế Lâm. Nơi đốt không dung lửa sân, khói bay bèn nhờ gió từ. Nào phải hương phàm hạ phẩm, hẳn là vị lạ thượng phương. Mỏng mỏng tơ bay kết thành điềm tốt, ngạt ngào khí lạ tụ hội duyên lành. Nghi ngút trước ngôi tòa báu, phảng phất ngoài bức rèm châu. Quay đầu tìm biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh. Thấy mặt ngửi huân, tịch diệt do đây chứng được. Nay lúc cuối đêm, đốt hương cúng dường.

    KỆ DÂNG HƯƠNG

    Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức,
    Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng,
    Đao giới vót thành hình non thẳm,
    Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

    KỆ DÂNG HOA

    Tâm địa mở ra, hoa nở rộn,
    Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm.
    Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
    Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

    HIẾN DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH

    Nguyện mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh văn và tất cả Thánh Hiền, vừa rời đài Quang minh, qua cõi nước vô biên, trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.

    Cúng dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng Tam Bảo.
    (một lạy)


    TÂU BẠCH

    (Lại niêm hương quì bạch)


    Kính bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư; rót cam lồ cứu đàn đói khát, cầm thần châu gieo chỗ tối tăm. Trộm nghĩ: Trùng thúc năm dạo, gà giục ba hồi. Bóng đuốc tiệc hoa vừa tàn lụi, dải sao Ngân hà sắp lặn chìm. Giấc bướm lại quay về thế mộng, chuông chùa phá vỡ chốn âm u. Đầu non biếc ngậm nửa trăng mờ, mặt biển xanh vầng hồng chưa hiện. Vách cũ dế kêu từng chập, đường quan vó ngựa nhịp đều. Đầu thành làn khói nhạt bao quanh, ngoài trời màn sương sớm che phủ. Chính là lúc đạo sĩ luyện tu, cũng là thời chư Tăng hành đạo. Đường đời mờ mịt, quần sanh rối bời. Tuy sợ đang đêm ôm gối ngủ, chưa tỉnh trọn đời mở mắt mê.

    Chư Phật tử! Nếu mặc suốt đêm theo dục lạc, bèn khiến trọn ngày chịu tâm mê. Đến nỗi trói buộc một đời, đều bởi tán hôn hai chữ. Vì ngươi mở thẳng một con đường, để lại mai sau tác gia ngắm. Nên biết, mạng người khó thường, chớ để thời này qua rỗng. Nhìn lấy Tịnh độ trước mắt, nhận ra trong tâm Di-đà. Nếu hay ưa vui gánh vác, liền được trong ấy hiện ra. Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ cuối đêm.

    Tâu bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng Tam Bảo.
    (một lạy)
    Last edited by mynhan; 10-02-2016 at 07:51 PM.

  2. #22
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    SÁM HỐI TỘI CĂN Ý


    Chí tâm sám hối,
    Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
    Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
    Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
    Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

    NGHIỆP CĂN Ý LÀ:

    Nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng;
    Mắc mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
    Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền;
    Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
    Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh;
    Não loạn tâm thần, đều do ba độc.

    TỘI KEO THAM LÀ:

    Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ;
    Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
    Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy;
    Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.
    Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;
    Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
    Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
    Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
    Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;
    Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
    Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;
    Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.

    TỘI NÓNG GIẬN LÀ:


    Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu;
    Quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
    Không riêng người tục, cả đến thầy tu;
    Kinh, Luận tranh giành, cùng nhau công kích.
    Chê cả Sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha;
    Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
    Buông lời hại vật, cất tiếng hại người;
    Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
    Bàn thiền tợ thánh, trước cảnh như ngu;
    Dầu ở cửa không, chưa thành vô ngã.
    Như cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây.
    Những tội trên đây, đều do nghiệp giận.

    TỘI NGU SI LÀ:

    Căn tánh đần độn, ý thức tối tăm;
    Chẳng hiểu tôn ti, không phân thiện ác.
    Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay;
    Mắng Phật chuốc ương, phun trời ướt mặt.
    Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân;
    Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
    Những tội như thế, rất nặng rất sâu;
    Đến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
    Trải ngàn muôn kiếp, mới được thọ sanh;
    Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
    Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ;
    Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH

    Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật
    Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
    Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
    Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM TÙY HỈ

    Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
    Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
    Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
    Bồ-đề Chân tâm không lui sụt.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG


    Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
    Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
    Nguyện đem công đức đến quần sanh,
    Nương thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)


    CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

    Một nguyện nguồn linh thường trong lặng,
    Hai nguyện tạng thức dứt lăng xăng,
    Ba nguyện khối nghi đều tan nát,
    Bốn nguyện trăng định mãi tròn đầy.
    Năm nguyện pháp trần không khởi diệt,
    Sáu nguyện lưới ái lìa buộc ràng,
    Bảy nguyện suy nghĩ hành Thập địa,
    Tám nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.
    Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót,
    Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên,
    Mười một nguyện mở lòng nghe Phật dạy,
    Mười hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.

    KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY


    Tiếng pháp khua tan mộng thế trần,
    Chuông chùa phá vỡ điếc ngu mông,
    Còn ưa gối đầu trong tối ngủ,
    Chẳng quản trời đông đã rạng ngời.
    Mù mịt đêm dài thì có sáng,
    Mờ mờ đường tối lại khó thông.
    Ngày nay nếu chẳng siêng hành đạo,
    Khi khác làm sao gặp Thế Tôn.

  3. #23
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định


    Tựa

    BÌNH ĐẲNG SÁM HỐI


    Dịch


    Pháp tánh như như, không có niệm lự chừng mảy tóc. Chân nguyên trong lặng, xưa nay bặt cả bụi nhơ. Bởi chợt khởi vọng duyên, hiện thành thân huyễn. Chạy theo nghiệp thức, quên mất hạt minh châu, tan hết gia tài, sáu căn ham mê tham dục. Nếu có thu nhận tịnh pháp, ắt hay tẩy sạch vọng trần. Phát tâm bình đẳng nhất chân, lễ Thể pháp thân vô tướng. Tiến vào trong ấy thì tự thọ dụng và tha thọ dụng lẫn nhau. Nhằm bên kia cầu thì diện mục mập mờ liền tự hiện.

    Tuy nhiên như thế, kiếm chưa rút ra khỏi hộp ngọc thì chỗ loạn khó yên; thuốc ra khỏi bình vàng thì gốc bệnh mới lành. Trẫm khi muôn việc rảnh rỗi, xem thấu chỗ sâu xa của ba tạng, gặp được pháp môn này, chỉ thẳng trong người có khả năng thành Phật. Dù là người mắt sáng, ngại gì trên gấm thêm hoa. Nếu là tri âm, hãy nên tiến bước.

  4. #24
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    Tựa

    Kinh KIM CANG TAM-MUỘI


    Dịch


    Trẫm nghe bản tánh lắng mầu, chân tâm trong lặng, tròn khuyết đều dứt, chẳng phải tánh trí hay tìm được mối manh; tan hợp trọn quên, tai mắt đâu thể dự vào vang bóng; có không chung lại, đạo tục san bằng; sừng sững riêng còn, siêu nhiên không gì ngoài. Đây là trọng yếu tánh Kim cang vậy.

    Bởi chúng sanh đã lâu, huân nhiễm nghiệp tập khắn chặt, tuy có thần thức mà bị sóng gió tri kiến lay động, kẻ buông lung hạnh nhớp, che đậy chẳng phải không; người xoay tuệ quang soi sáng rất ít. Bèn khiến bốn phương đổi chỗ, mơ màng hướng về; lối tẽ đã sai, đường chánh thành nhiều ngõ. Bản giác thủy giác đâu rành, chân tâm vọng tâm khó phân biệt. Vàng ròng lẫn trong chất quặng, trăng sáng cùng bụi mù hiện chung. Cố hương, lầm về chốn nào? Diện mục, quên mất bản lai. Trên đường Niết-bàn rất khó tiến lên, hang ổ sanh tử chui vào có lúc. Cho nên thầy ta bậc Năng Nhân chỉ “vô sanh từ nhẫn”; vì thương các khổ đắm chìm nên ôm ấp “tứ hoằng thệ nguyện”; nhọc nhằn da diết “tam tư”. Pháp thân lắng lặng, Báo thân hiện ra, điềm lành hiện rõ ở triều Chu. Chánh pháp đi, Tượng pháp lại, nơi điện Hán mộng thấy người vàng. Ngài Ca-diếp Ma-đằng, Trúc Pháp Lan chở kinh vào, Tây Trúc (Ấn Độ) Chấn Đán (Trung Hoa) mới thông. Kinh chữ Phạn dịch ra văn Trung Hoa sáng tỏ, đổi lá bối viết vào giấy lụa. Biển giáo phô bày mọi trân bảo, nghĩa trời hiện rực các vì sao. Hoặc muốn tăng thêm nơi chưa ổn, hoặc mong bổ túc chỗ còn sót, nối gót theo lối Y Ngô, tiến chân trên đường Lưu Sa. Vượt biển không xa, quyết chí về Trung Quốc. Từ đời Hán bắt đầu, đến nay mở rộng. Nào là: Thiên, Viên, Bán, Mãn không thiếu ở hòm châu. Nào là: Đốn, Tiệm, Thật, Quyền dẫy đầy trong rương báu.

    Kinh “Kim Cang Tam-muội”, há chẳng phải là loại viên mãn đốn thật hay sao? Nếu chẳng vậy, sao dùng pháp yếu “vô sanh”, dùng thần thông làm phương tiện. Đại sĩ (Bồ-tát) hỏi nhân xuất thế. Tôn giả (Phật) gieo quả cứu kính. Muốn dẹp trừ có trụ có diệt, trước nên vô tướng vô sanh. Thấy sanh niệm nơi vọng niệm là mờ, khởi thủy giác nơi bản giác là lợi. Chuyển các tình thức vào thức Am-ma-la. Quên đầu không đoái thân mình, duỗi tay dắt về nơi thật tế. Nếu chấp ngoại trần duyên hợp là có, liền bàn Chân tánh vốn không và tam tướng không quan hệ, Tứ thiền làm gì có? Hòa các vị thành vô thượng vị, đùa các dòng thành dòng sông bất nhị. Xoay chuyển vọng tâm biến kế, tiếp nhập thức Như Lai tàng, bao gồm hiển bày một tâm. Người nhân chấp mà mê, như Man, Thục giữ nhau. Người tùy sai mà ngộ, như Lỗ, Tề một lần đổi.

    Trẫm xét đức làm chủ cả nước, chăn dắt muôn dân, mỗi khi nghĩ đến gian nan, quên mất sớm tối. Việc tuy hằng vạn, trộm lúc rảnh rang, chăm việc tiếc giờ, học càng tăng tiến. Chữ nghĩa còn ngại chưa rành, đêm đến canh khuya mà vẫn còn chăm học. Đã đọc sách Khổng Tử, lại xem kinh nhà Phật. Kinh này một phen xem, trăm thứ cảm hứng nảy sanh, tìm tòi chỗ thâm áo, ba nhẩm chín suy. Gặm nhấm nghĩa vị, thu thập văn hoa, muốn rõ lời Phật, để giúp ích phần nào cho kẻ hậu học. Lạm đem cái thấy biết cạn hẹp, hầu mở mang cho đàn vượn ngốc. Do đó, diễn tả lòng mình, tự làm chú giải. Tìm áo nghĩa nơi Long cung, dò lời mầu nơi Thứu lãnh, nhỏ từng giọt nước trong nguồn Chánh giác, bồi từng hạt bụi trên đường Chân như. Phát huy u chỉ, mở sáng chân tông, khiến người vừa mở xem, liền thấy nghĩa rõ ràng. Phá giậu phên cố chấp của bọn tà, làm thầy nhóm nghĩa đồ nghi thức. Vọng kiến mênh mang, dần biết hướng chầu phương Bắc, đường mê chi chít, tạm biết lối chánh về Nam. Để làm chỗ nương cho học giả, mới thấy lòng Trẫm không keo sẻn. Cho nên làm lời tựa.


  5. #25
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    NÓI RỘNG MỘT ĐƯỜNG
    HƯỚNG THƯỢNG


    Dịch

    Bàn Sơn để lời rằng: “Một con đường hướng thượng ngàn Thánh chẳng truyền, học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng.” Khiến người học các nơi thảy nhằm trên đầu đường này mà tham lấy ý thiền. Thử hỏi các ông, ý thiền làm sao tham? Nếu là tham được việc ấy, lại như kẻ ngu trên đầu thêm đầu, dưới đuôi thêm đuôi, trong mắt thêm bụi, trên thịt thêm bướu. Nói đến thì môi méo miệng lệch, nhìn đến thì tròng mắt rơi rớt. Đức Phật liếc mắt làm ngơ, Tổ Đạt-ma châu mày bỏ mặc, Mã Tổ treo phất tử, Thủ Sơn giấu trúc bề, Triệu Châu xé rách áo vải, Vân Môn dẹp bỏ bánh hồ, Đức Sơn ném phắt cây gậy, Lâm Tế im hơi. Phật Phật Tổ Tổ đều ẩn dấu, người người đều tan mật. Dùi không thể vào, kim không thể dung, đầu đồng cũng không thể tiến được, trán sắt vọt cũng chẳng thủng. Lửa nháng còn không đuổi kịp, điện xẹt cũng còn sau đuôi. Tịnh ngộ thì chìm trong làng say, động mê thì đi trên đường sanh tử. Giả sử được phó chúc trên hội Linh Sơn trọn là một trường bày vẽ, Thiếu Thất truyền riêng cũng là hang dây bò. Mặc dù ông có cơ dường điện chớp, tiếng hét liền ngộ, nói thao thao như dòng nước chảy; câu thoại đầu liền tiến được, tham qua tham lại, lâu ngày chầy tháng, trên miệng tạm có chút ít lưu loát, đâu khỏi thân vẫn ở trong hang ổ.

    Này các người! Đến trong đây cũng chẳng được bỏ qua một bước, nếu không người học phóng mắt nhìn bờ thẳm rất khó bề tiến bước. Hôm nay tôi vì tất cả các người, chẳng khỏi vuốt râu trên miệng cọp, bước khỏi đầu sào. Chỗ nói gió khua tùng vang, chỗ nín trăng rọi đầm trong. Khi đi thì mây bay nước chảy, lúc đứng thì non yên núi vững. Lời lời là kế sống đức Thích-ca, câu câu vốn gia phong Tổ Đạt-ma. Buông đó thì chữ bát mở toang, nắm đó thì một cửa không kẽ hở. Tại trong hang quỉ làm lầu các Di-lặc, ở dưới hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền. Chốn chốn là Đại quang minh tạng, cơ cơ đều bất nhị pháp môn. Mặc cho tối đi sáng lại, ngại gì mây che trăng khuất. Minh châu trong tay, xanh thì rọi xanh, vàng thì rọi vàng, gương sáng trên đài Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Đâu quan hệ gì thân huyễn, trọn là Pháp thân. Chẳng nhọc trên đảnh phóng quang, vốn đủ sáu thông thần dụng. Hất nhào cung điện Ma vương, lột trần tâm can ngoại đạo. Biến đại địa thành thế giới hoàng kim, khuấy trường hà làm tô lạc cho người trời. Trong lỗ mũi pháp luân thường chuyển, dưới chân mày chùa báu hiện tiền. Trên sóng gái đá múa điệu bà-sa, người gỗ thổi sáo ca khoản đãi. Hoặc gặp trường thì đùa cợt, hoặc được chỗ thì mở rộng lòng. Hoặc duỗi tay dìu dắt, hoặc quay về núi rừng. Khi lười biếng thì ngủ mây gối đá, khi hứng thú thì vịnh gió ngâm trăng. Dạo chơi nơi quán rượu phòng trà, cười đùa nơi bờ hoa rặng liễu. Hoa vàng rợp rợp đều là tâm Bát-nhã, trúc biếc xanh xanh vốn thật lý Chân như. Vạch cỏ hiện Bản lai diện mục, đào đất dứt đường hiểm tử sanh. Xoay đầu ngựa sắt đánh lôi về, xỏ mũi trâu đất dẫn đi hành cước. Chẳng cùng muôn pháp làm bạn, ai bảo một vật vẫn còn? Phật cũng phi, tâm cũng phi; chân cũng vào, giả cũng vào. Ngoài cửa tam yếu mặc tình hét hai làm ba, chữ thập đầu đường tha hồ gọi chín làm mười. Sáo không lỗ thổi bản vô sanh, đàn không dây khảy bài khoái hoạt (vui sống). Kia nơi nơi chẳng phải tri âm, đây chốn chốn đâu cho nghe lỏm.

    Chỉ một con đường hướng thượng xưa nay làm sao nói? Hét! Lửa này chưa từng đốt miệng. Lắng nghe! Lắng nghe! Nếu nghe được lời này thì tai điếc ba ngày, nếu nghe chẳng được chạy qua nhanh. Lại trao cho chăng?

    Chốn chốn dương xanh nên cột ngựa,
    Nhà nhà có lối thẳng Trường An.
    Trở về dưới nguyệt người ít đến,
    Một ánh trăng soi lạnh mọi miền.

  6. #26
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    NGỮ LỤC VẤN ĐÁP

    Dịch


    Một hôm Vua (Trần Thái Tông) đến thăm chùa Chân Giáo. Có vị Tăng tên Đức Thành người nhà Tống hỏi:

    Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng sanh vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong. Là ý nghĩa thế nào?

    Vua đáp:

    Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện,
    Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

    Tăng hỏi:

    Chưa rời cung, chưa ra đời đã được chỉ dạy.
    Đã rời cung, đã ra đời việc thế nào?

    Vua đáp:

    Mây sanh đảnh núi toàn màu trắng,
    Nước đến Tiêu Tương một dáng trong.

    Tăng hỏi:

    Mưa tạnh sắc núi sáng,
    Mây đi trong động ngời.

    Vì sao ẩn hiển như một?
    Vua đáp:

    Trừ người quả thật con ta đó,
    Ai kẻ bạo chân vào đường này.

    Tăng hỏi:

    Xưa nay không lối khác,
    Người đạt cùng chung đường.

    Bệ hạ có nhận chỉ Thế Tôn đắc đạo chăng?

    Vua đáp:

    Mưa xuân không cao thấp,
    Cành hoa có ngắn dài.
    Tăng hỏi:

    Người người vốn tự người người đủ,
    Mỗi mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.

    Vì sao Thế Tôn vào núi tu hành?

    Vua đáp:

    Kiếm vì bất bình mở hộp báu,
    Thuốc do trị bệnh ra khỏi bình.

    Tăng hỏi:

    Trong mắt thôi để bụi,
    Trên thịt chớ khoét thương.

    Trên phần người học có tu chứng không?

    Vua đáp:

    Nước chảy xuống non đâu có ý,
    Mây bay qua núi vốn không tâm.

    Tăng im lặng.

    Vua nói:

    Chớ bảo không tâm đây là đạo,
    Không tâm còn cách một lớp rào.

    Tăng thưa:

    Nơi tâm đã không, nói gì là một lớp rào?

    Vua đáp:

    Nước chảy xuống non đâu có ý,
    Mây bay qua núi vốn không tâm.
    Tăng không đáp được.

  7. #27
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    NIỆM TỤNG KỆ

    Dịch


    1.- Cử: Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra thai mẹ độ người đã xong.

    Niêm: Gươm báu chưa vung, tướng quân đã lộ.

    Tụng: Đứa bé không hình chửa rời quê,
    Sớm tối đưa người qua bến mê.
    Cất bước ngao du không xen cách,
    Chẳng cần thuyền gỗ với phao bè.

    2.- Cử: Thế Tôn mới sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất nói: Trên trời dưới đất chỉ ta tôn quí.

    Niêm: Một áng mây trắng che cửa động,
    Đàn chim về tổ thảy quên đường.

    Tụng: Đạt-đa mới giáng Tịnh Vương cung,
    Muốn hóa quần sanh tự hiển tung.
    Bảy bước đi quanh chỉ trời đất,
    Bao người con Phật mất gia phong.

    3.- Cử: Thế Tôn đưa cành hoa, Ca-diếp mặt rạng rỡ mỉm cười.

    Niêm: Vén đứng lông mày để mắt xem,
    Tiến lên suy nghĩ cách ngàn non.

    Tụng: Thế Tôn nắm dựng một cành hoa,
    Ca-diếp sáng nay được đến nhà.
    Nếu bảo đây là truyền pháp yếu,
    Về Nam xe Bắc lối càng xa.

    4.- Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời?

    Niêm: Trừ người quả thật con ta đó,
    Ai kẻ bạo chân vào đường này.

    Tụng: Lao quan khó buộc có ai tri,
    Ngôn ngữ đều quên không chỗ y.
    Chẳng phải trong đời con ngựa giỏi,
    Do đâu bất chợt được tiện nghi.

    5.- Cử: Thế Tôn lên pháp tòa, Văn-thù bạch chúng rằng: Quán kỹ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế.

    Niêm: Khảy khúc Dương Xuân đàn không dây,
    Muôn năm ngàn thuở tiếng nào dứt.

    Tụng: Tuy nói câu câu chẳng vết tỳ,
    Giấu sừng, đuôi vẫn hiện như ri.
    Nào như một ống sáo không lỗ,
    Vì anh thổi khúc Thái bình thi.

    6.- Cử: Vua nước Kế-tân cầm kiếm, bảo Tổ thứ hai mươi bốn (Sư Tử) rằng: Thầy được năm uẩn không chăng? Tổ đáp: Đã được. Vua hỏi: Lìa sanh tử chăng? Tổ đáp: Đã lìa. Vua hỏi: Có thể thí cái đầu cho tôi được không? Tổ đáp: Thân còn không phải của ta, huống nữa là đầu! Vua liền chém. Sữa trắng vọt ra, tay Vua tự rơi.

    Niêm: Đem đầu kề gươm bén,
    Dường như chém gió xuân.

    Tụng: Đao bén chém nước, lửa thổi (ánh) sáng,
    Việc này nên biết nào ngại gì.
    Báo tin sáng ấy xa khói sóng,
    Ai biết riêng có nghĩ suy lành.

    7.- Cử: Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Lạc Dương, chín năm ngồi xây mặt vào vách.

    Niêm: Để mắt xem, thôi ngủ gật.

    Tụng: Chim bằng vỗ cánh đến Nam Minh (Nam Hải),
    Nối gót luống công muôn dặm trình.
    Đêm trước chỉ tham vui yến tiệc,
    Sáng nay bất giác say men nồng.

    8.- Cử: Nhị Tổ xin Sơ Tổ pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho ông. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm không thể được. Sơ Tổ bảo: Ta an tâm cho ông rồi.

    Niêm: Em bé lên ba ôm trống giấy,
    Ông già tám chục mặc áo cầu.

    Tụng: Tâm đã không tâm nói với ai,
    Người câm thức mộng mắt tròn xoe.
    Lão tăng dối bảo an tâm đấy,
    Cười ngất bàng quan chẳng tự hay.

    9.- Cử: Ngài Văn-thù thấy cô gái nhập định gần Phật, Ngài đến xuất định không được. Phật sai Bồ-tát Võng Minh đến xuất định được.

    Niêm: Đứa con oan gia, mất gia phong ta.

    Tụng: Đều cùng xuất định có sơ thân,
    Định ấy nên là chửa chánh chân.
    Nếu thật Hóa công không hậu bạc,
    Xoay vần xuân đến khắp mọi phần.

    10.- Cử: Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối.

    Niêm: Dù cho chẳng phạm mảy may,
    Vẫn là cầm bánh dính tay.

    Tụng: Trước kia làm bạn khách rượu trà,
    Quán rượu thường nằm bên cạnh nhà.
    Giả thử khoe khoang người lanh lợi,
    Giữa đường mất áo chịu thôi mà.

    11.- Cử: Bá Trượng tái tham Mã Tổ, Mã Tổ hét một tiếng. Bá Trượng đại ngộ.

    Niêm: Ngàn mũi nhọn, không bằng một nhát mai cùn.

    Tụng: Ngày trước thiên hạ chẳng chung đồng,
    Bốn bên dấy loạn tợ đàn ong.
    Mã Tổ một phen vung kiếm bén,
    Từ đây đường nẻo tin tức thông.

    12.- Cử: Một hôm Quốc sư gọi Thị giả ba lần. Thị giả ba lần dạ. Quốc sư nói: Ngỡ là ta phụ ngươi, ngược lại ngươi phụ ta.

    Niêm: Như người uống nước, lạnh nóng tự biết.

    Tụng: Dưới trên xướng họa xứng cùng hai,
    Ý ấy so đâu biết ngắn dài.
    Nhằm trước phơi bày gan ruột sạch,
    Trong đây chỉ hứa tự mình hay.

    13.- Cử: Đại Qui nói: Câu có câu không như bìm leo cây. Sơ Sơn hỏi: Cây ngã bìm khô câu về chỗ nào? Đại Qui cười to ha hả!

    Niêm: Nước chảy ắt về biển, trăng lặn chẳng rời trời.

    Tụng: Sóng lặng yên rồi, trận gió thâu,
    Uổng công hướng ngoại khổ tìm cầu.
    Cười nát khối nghi thành trăm mảnh,
    Từ đó mới phân đá với châu.

    14.- Cử: Bá Trượng bảo: Thế nào là pháp không vì người nói? Nam Tuyền đáp: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.

    Niêm: Ngàn Thánh tìm dấu y chẳng được, toàn thân ẩn tại đại hư không.

    Tụng: Trước đây công án không lệch nghiêng,
    Đối diện nhìn xem hội được chăng?
    Trong ngôi Phật pháp mời chẳng ở,
    Đêm về như trước ngủ bờ lau.

    15.- Cử: Nam Tuyền nói: Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo.

    Niêm: Uống cạn huyền vi lý, đường về dưới trăng đi.

    Tụng: Muôn tiếng lặng yên sao Đẩu dời,
    Bầu trời trong suốt chẳng gợn mây.
    Nương tựa gậy lê lên gác ngắm,
    Yên yên lặng lặng thật thảnh thơi.

    16.- Cử: Sau khi Lâm Tế khai hóa chỉ dùng gậy hét dạy đồ chúng. Vừa thấy Tăng vào cửa liền hét.

    Niêm: Mùng năm tháng năm giờ ngọ viết,
    Miệng đỏ lưỡi độc tận tiêu trừ.

    Tụng: Vào nhà liền hét muốn làm chi?
    Dẫn được cháu con tỉnh giấc mê.
    Chẳng phải sấm xuân vang một tiếng,
    Làm sao vỏ hạt được nảy mầm.

    17.- Cử: Nam Tuyền nói: Tâm bình thường là đạo.

    Niêm: Lạnh nói là lạnh, nóng nói là nóng.

    Tụng: Rìu búa không cần, ngọc trắng tinh,
    Đâu do mài giũa để cầu tân.
    Đường về chẳng bước nhà vẫn tới,
    Trao kẻ đầu non buông thõng tay.

    18.- Cử: Triệu Châu nói: Mọi người bị mười hai thời sai khiến, Lão tăng sai khiến được mười hai thời.

    Niêm: Cậy thế dối người, không nơi căn cứ.

    Tụng: Lão này hay khiển mười hai thời,
    Rồng dữ cọp hung thảy được thuần.
    Cần phương chỉ sắt thành vàng thật,
    Chẳng để cho người có việc nghe.

    19.- Cử: Tăng hỏi Lâm Tế: Thế nào là vô vị chân nhân?

    Lâm Tế đáp: Cục cứt khô.

    Niêm: Bắn sẻ mất châu, ném chuột nhơ đồ.

    Tụng: Vô vị chân nhân, cục cứt khô,
    Do người Thích tử mất gia phong.
    Nhìn xuống xem xem, biết chẳng biết,
    Con trâu vào biển dấu vết không.

  8. #28
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    20.- Cử: Triệu Châu nói: Khám phá bà già ở Ngũ Đài Sơn xong.

    Niêm: Ngũ nghịch nghe sấm, chẳng cho bịt tai.

    Tụng: Khảy móng Đài Sơn hết nói ngoa,
    Chẳng phiền bước tới được về nhà.
    Can qua chẳng động lòng người phục,
    Gươm bén đâu cần ra hộp ngà.

    21.- Cử: Triệu Châu nói: Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi trong nhà.

    Niêm: Núi là núi nước là nước, Phật ở chỗ nào?

    Tụng: Trên đồ Võng Xuyên xếp thành hình,
    Ngày trước Vương Duy được nổi danh.
    Uổng phí mực son nơi khó vẽ,
    Trong không trăng sáng cùng gió lành.

    22.- Cử: Triệu Châu nói: Tôi ở Thanh Châu may một chiếc áo vải nặng bảy cân.

    Niêm: Trấn Châu củ cải còn thể được,
    Thanh Châu áo vải lại phiền người.

    Tụng: Một manh áo vải thật lạ thường,
    Tùng Thẩm không màng chẳng cất rương.
    Trong đây nghĩ nghị chia cân lượng,
    Cười ngất nhà đông, Mạnh Bát Lang.

    23.- Cử: Vị Tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không?

    Triệu Châu đáp: Không. Tăng lại hỏi, Triệu Châu đáp: Có.

    Niêm: Lấy hai so một.

    Tụng: Hỏi ngay ở trước, đáp có không.
    Cho dù ngay đó dứt nhóm ngông.
    Một đời tự phụ người tài giỏi,
    Thế ấy vẫn là chẳng trượng phu.

    24.- Cử: Triệu Châu nói: Chỗ có Phật chẳng trụ, chỗ không Phật chạy qua gấp.

    Niêm: Nước đến thành ao, roi quất nổi lằn.

    Tụng: Chỗ Phật có không cả hai quên,
    Lời này xem lại chưa được toàn.
    Sau rốt cầm hoa nhằm chỉ lại,
    Chẳng rời tấc bước đến Tây thiên.

    25.- Cử: Thủ Sơn đưa trúc bề nói: Bảo là trúc bề tức chạm, chẳng gọi trúc bề tức trái, hãy gọi là cái gì?

    Niêm: Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

    Tụng: Trúc bề chạm, trái thật khó phân,
    Ngay đó rõ ràng nhắc với người.
    Tuy vốn đường bằng bụi không dấy,
    Một trường bày hiện gai góc đầy.

    26.- Cử: Tăng hỏi Động Sơn (Thủ Sơ): Thế nào là Phật? Sơn đáp: Trên vách ba cân gai.

    Niêm: Gọi một vật lại chẳng trúng.

    Tụng: Hỏi Phật thế nào, nói đáp anh,
    Động Sơn trên vách gai mấy cân.
    Tuy nhiên không có phong trần dính,
    Cũng vẫn còn đem cảnh chỉ người.

    27.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Hiện Tử: Thế nào là ý Tây sang? Hiện Tử đáp: Mâm rượu trước bàn thần.

    Niêm: Nếu chẳng phải sư tử con, đâu khỏi chạy theo khối đất lăn.

    Tụng: Chặt đứt cội nguồn không chỗ nương,
    Ở đây nhắc lại để anh tường.
    Nếu bảo trước thần là ý Tổ,
    Khác nào kẻ gọi khố là quần.

    28.- Cử: Quốc sư Vô Nghiệp nói: Nếu niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông chưa hết, chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Hòa thượng Bạch Vân Đoan nói: Giả sử niệm phàm thánh bằng đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa.

    Niêm: Đốt non cần cọp chạy, đập cỏ cốt rắn kinh.

    Tụng: Lời này xét lại chí khí khinh,
    Đập cỏ cốt là bọn rắn kinh.
    Nếu người rành lối Trường An ấy,
    Buông thõng tay đi khỏi hỏi trình.

    29.- Cử: Huyền Sa dạy chúng nói: Các bậc Lão túc khắp nơi đều bảo: “Tiếp vật lợi sanh.” Chợt gặp ba hạng người bệnh lại, làm sao tiếp? Người bệnh mù, giơ chùy dựng phất họ chẳng thấy. Người bệnh điếc, nói năng tam-muội họ không nghe. Người bệnh câm, dạy họ nói, nói không được.

    Niêm: Khát uống đói ăn, lạnh mặc nóng quạt.

    Tụng: Buồn thì ủ rũ vui tươi cười,
    Mũi dọc mày ngang chẳng khác người.
    Đói khát lạnh nồng tùy chỗ được,
    Đâu nên bất chợt lại sanh nghi.

    30.- Cử: Thụy Nham thường gọi: Ông chủ nhân, tỉnh tỉnh đi, về sau chớ bị người lừa gạt.

    Niêm: Khóc đến máu tuôn không chỗ dụng,
    Chi bằng ngậm miệng qua xuân tàn.

    Tụng: Thụy Nham thường gọi chủ nhân ông,
    Lược giỏi cơ sâu cũng chẳng hùng.
    Nếu quả thế gian tướng vô địch,
    Đợi gì gươm giáo mới là hưng.

    31.- Cử: Tam Thánh nói: Tôi gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người. Hưng Hóa nói: Tôi gặp người thì chẳng ra, ra thì vì người.

    Niêm: Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què.

    Tụng: Gặp khát tức thì uống nước ngay,
    Nói ăn bụng đói trọn cả ngày.
    Hai bên gươm bén thôi niêm kín,
    Khi khác trẻ con miệng họa này.

    32.- Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong đến, chỉ tịnh bình nói: Tịnh bình là cảnh, ông không được động đến cảnh.

    Niêm: Nói có, nhằm chỗ nào để.

    Tụng: Trong gương không nhớp luống tự chùi,
    Dụng hết công phu uổng phí thôi.
    Lặng lặng im im tùy chỗ thích,
    Cơm xong liền đó uống chung trà.

    33.- Cử: Thạch Đầu nói: Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được.

    Niêm: Các hạnh vô thường, tất cả đều khổ.

    Tụng: Câu nói hay khéo đem đến ông,
    Tạm làm mây trắng che cửa động.
    Dù cho toàn được mười phần đúng,
    Vẫn ở giữa đường muôn dặm trông.

    34.- Cử: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Giáp Sơn? Sơn đáp: Vượn ẵm con về sau núi biếc, chim tha hoa đậu trước non xanh.

    Niêm: Cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

    Tụng: Giáp Sơn cảnh vắng không người đến,
    Ngay đó phải nên làm những gì?
    Nếu người thật được đôi mắt sáng,
    Giờ ngọ mặc tình trống canh ba.

    35.- Cử: Tăng hỏi Mục Châu: Một hơi thở tụng hết một tạng kinh không? Châu đáp: Có bao nhiêu bánh đem hết lại đây.

    Niêm: Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước.

    Tụng: Một hơi tự khéo tụng tạng kinh,
    Chẳng nhọc vạch lá với tìm cành.
    Vô biên huyền nghĩa đều hiện rõ,
    Hỏi đến Sơn tăng thảy chẳng rành.

    36.- Cử: Trong hội Lâm Tế, hai vị Thủ tọa nhà Đông nhà Tây gặp nhau đồng thời hét. Tăng hỏi: Lại có chủ khách hay không? Lâm Tế đáp: Chủ khách rõ ràng.

    Niêm: Cũng là vượn trắng nói lăng xăng.

    Tụng: Thánh chúa ngày nay cổ hóa phong,
    Bản đồ văn phạm trọn tương đồng.
    Vẫn còn xa gần chia bờ cõi,
    An dân tế thế đâu (được) kể công.

    37.- Cử: Huyền Sa nói: Nếu luận việc này, ví như người chủ một thửa ruộng, đến phần ranh giới đã bán cho các ông rồi, chỉ còn cái cây ở trung tâm vẫn thuộc về Lão tăng.

    Niêm: Biển cả chẳng nạp tử thi.

    Tụng: Dù người liễu ngộ ngời ngời tỏ,
    Muôn lự đầu tâm hết lăng xăng;
    Trong đây còn có tơ hào dấy,
    Vào mắt mạt vàng lại xốn xang.

    38.- Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Tư (Hành Tư) về đại ý Phật pháp.

    Hòa thượng Tư đáp: Ở Lô Lăng giá gạo bao nhiêu?

    Niêm: Bóng trúc quét thềm trần chẳng dấy,
    Vầng trăng xuyên biển nước không tỳ.

    Tụng: Lời này quả thật bậc anh linh,
    Gồm hết căn cơ tiếp hữu tình.
    Một hỏi, Lô Lăng gạo giá mấy,
    Hoàn toàn trọn chẳng dính đồ trình.

    39.- Cử: Tăng hỏi Thiền sư Văn-thù: Muôn pháp về một, một về chỗ nào? Văn-thù đáp: Sông Hoàng Hà chín khúc.

    Niêm: Nhân khi có trăng đẹp, bất thần qua Thương Châu.

    Tụng: Hoàng Hà chín khúc vì nêu ra,
    Chẳng dính đồ trình tự đến nhà.
    Nhiều kẻ ban ngày mở mắt ngóng,
    Đâu hay chim trĩ đến Tân La.

    40.- Cử: Nam Tuyền hỏi Triệu Châu: Ngươi là Sa-di có chủ hay Sa-di không chủ? Triệu Châu đáp: Có chủ. Nam Tuyền hỏi: Thế nào là chủ? Triệu Châu khoanh tay thưa: Hôm nay kính chúc Hòa thượng luôn được muôn phước.

    Niêm: Co tay chuyển chùy chẳng đổi gươm,
    Người khéo sử dụng đều được tiện.

    Tụng: Khoanh tay Tùng Thẩm chỉ cho người,
    Chẳng kẹt hai bên chủ tự phân.
    Đâu phải Hoa Lam Hàn lệnh thuật,
    Nào hay khéo nấu rượu Tuân tuần.

    41.- Cử: Tăng hỏi Mộc Am: Thế nào là việc của Nạp y (tăng sĩ). Mộc Am đáp: Dùi châm chẳng vào.

    Niêm: Ngồi yên dứt mảy trần, hư không chẳng lối thông.

    Tụng: Cầm thì mịn mượt, ấn thì mềm,
    Trán sắt đầu đồng đụng chẳng xuyên.
    Vốn thật hư không, không gián cách,
    Đêm về như cũ hoa quế thu.

    42.- Cử: Bàng cư sĩ nói: Đây là trường thi Phật, tâm không được đậu về.

    Niêm: Tháp nhạn đề tên, không dung giấy trắng.

    Tụng: Áo may trăm mảnh giày cỏ xuyên,
    Thi Phật trong trường đã có tên.
    Nếu bảo tâm không đến ứng cử,
    Chẳng ăn roi vọt cũng ăn thoi.

    43.- Cử: Từ Minh hỏi Chân Điểm Hung về đại ý Phật pháp. Chân đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Minh hét, nói: Đầu bạc răng vàng vẫn khởi kiến giải này. Chân rơi lệ, giây lâu nói: Không biết thế nào là đại ý Phật pháp? Minh đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Chân đại ngộ.

    Niêm: Người nhân thấy thì gọi là nhân, người trí thấy thì gọi là trí.

    Tụng: Kia đây đồng khảy một cung đàn,
    Cần phải trao cho bạn tri âm.
    Không mây, trăng có tuy đồng đấy,
    Nào khác núi cao cùng nước sâu.
    Chao! Trọn ngày theo hồng trần,
    Chẳng biết báu nhà mình.
    Ôi! Buông tay không tựa toàn thể hiện,
    Lão chài thuyền nhỏ đậu hoa lau.

  9. #29
    Moderator
    Gia nhập
    May 2008
    Nơi cư ngụ
    Vong Ưu Cốc
    Bài gởi
    1,823

    Mặc định

    LỜI BẠT CỦA NGƯỜI SAU


    Phàm nói nín động tịnh đều là Phật pháp, ăn uống ngủ thức đều là Phật pháp. Có quyền có thật, có chiếu có dụng, thảy đều là phương tiện độ người. Chư Tổ đời Lý, Trần bàn nói đâu không phải là cổ Phật tái lai, đâu không phải là Tông chỉ Phật Thích-ca. Cho nên nói: Lễ Phật là kính đức của Phật, niệm Phật là cảm ân của Phật, giữ giới là hành cái hạnh của Phật, xem kinh để rõ cái lý của Phật, tọa thiền để đạt cái cảnh của Phật, tham thiền để hợp cái tâm của Phật, thuyết pháp để tròn cái nguyện của Phật.

    Đức Phật Thế Tôn của chúng ta vì muốn khiến tất cả chúng sanh khai thị ngộ nhập Tri kiến Phật, chóng thành Chánh giác, song chúng sanh mê muội bản tâm, chấp chặt sắc thân năm uẩn của chính mình bỏ gốc theo ngọn, không giác không biết, mê muội chánh nhân, lên xuống trong lục đạo, như con kiến bò quanh miệng chén, biết bao giờ ra khỏi. Vì thế, các ngài lập bày phương tiện dẫn dạy nhiều môn, nhân đó lưu lại pháp yếu để mớm cho con cháu sau này. Cổ đức nói: “Vì chuột thường để cơm, thương bướm không thắp đèn.” Lại nói: “Mê đó là mối đầu sanh tử, ngộ đó thì dứt luân hồi.”


    HẾT

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •