Trang 5 trong 6 Đầu tiênĐầu tiên 123456 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 81 tới 100 trên 115

Ðề tài: đạo Mẫu

  1. #81

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi huongtinh Xem Bài Gởi
    Thưa các quí vị.
    Tôi muốn các quí vị giải thích giùm một vấn đề như sau : Trên ban Công Đồng chúng ta đều thấy Tam Tòa Tánh Mẫu ngồi trên Ngũ Vị Tôn Ông. Tam Tòa Thánh Mẫu thì ai cũng hiểu đó là hóa thân của Mẫu Liễu Hạnh, còn Ngũ vị Tôn Ông đều là con Đức Vua Cha Bát Hải. Nói về lịch sử thì Mẫu Liễu Hạnh mới có 500 năm nay, còn Ngũ Vị Tôn Ông thì có 4000 năm nay. Vậy vấn đề này nên hiểu thế nào ?
    trả lời :
    trích : ''Tam Tòa Thánh Mẫu thì ai cũng hiểu đó là hóa thân của Mẫu Liễu Hạnh''
    cách hiểu này có thể đúng , có thể sai , kẻ phàm phu như tôi cũng không dám cố gắng diễn giải thật sâu mà tự cho rằng mình đúng .
    vì sao đúng ?
    - nếu xét về phạm trù tâm thức : với các tín đồ của đạo Mẫu thì tam tòa Thánh mẫu vốn là một - là một người mẹ - Thánh mẫu Liễu hạnh .
    đã là cha trời mẹ đất thì đâu còn cái ta nữa mà có sự sai khác .
    vì sao sai ?
    - nếu xét về mặt lịch sử : đạo Mẫu đã ra đời từ cách đây bao nhiêu lâu , phải chăng đạo đã tồn tại trước cả trời và đât ư ?
    còn hình tượng mẫu liễu mới được ra đời cách đây khoảng 500 năm là chính xác về mặt lịch sử . .
    và rồi cuối cùng có ai so sánh được sự to lớn của cha trời - mẹ đất với nhau không ?
    bởi đó ta thấy : trong cái logic tự nhiên đã xuất hiện cái phản logic rồi . trong cái đúng đã hàm chưa cái sai , trong cái sai lại ẩn hàm cái đúng .
    đó cũng chính sự huyền diệu của âm dương trời đất này vậy .
    vài dòng góp vui .
    Úm Lam, Úm xỉ Lâm. Úm mani pad me hum, Nam mô tát đa nẫm , tam miệu tam bồ đề, câu chi nẫm, đát điệt tha.Úm chiết lệ .Chủ lệ .Chuẩn đề .Ta bà ha.Bộ lâm

  2. #82

    Mặc định

    Đạo Mẫu có cùng Trời Đất.
    Mỗi thời các vị xuống thế để thực thi nhiệm vụ khác nhau và để lại cho trần thế cách tôn thờ cụ thể.
    Theo ngu ý của đệ thì:
    Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải là Ba Vị Mẫu trưởng quản các phần cốt yếu của con người. Tạm hiểu Phúc do Thiên - Mẫu Thượng Thiên chính quản, Lộc tài, vật thực - phần trên mặt nước do Mẫu Thượng Ngàn trưởng quản, phần sức khỏe, các vật phẩm dưới nước do Mẫu Thoải trưởng quản. Ba Mẫu lại do chính Mẫu Thượng Thiên quản chính vì Ngài ngồi ở giữa ( Thiên). Mẫu Thượng Thiên quyền Mẫu Hoàng Thiên giải quyết mọi việc của Tam Tòa Thánh Mẫu.

  3. #83

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi huongtinh Xem Bài Gởi
    Thưa các quí vị.
    Tôi muốn các quí vị giải thích giùm một vấn đề như sau : Trên ban Công Đồng chúng ta đều thấy Tam Tòa Tánh Mẫu ngồi trên Ngũ Vị Tôn Ông. Tam Tòa Thánh Mẫu thì ai cũng hiểu đó là hóa thân của Mẫu Liễu Hạnh, còn Ngũ vị Tôn Ông đều là con Đức Vua Cha Bát Hải. Nói về lịch sử thì Mẫu Liễu Hạnh mới có 500 năm nay, còn Ngũ Vị Tôn Ông thì có 4000 năm nay. Vậy vấn đề này nên hiểu thế nào ?
    Tôi hiểu như thế này bạn à!
    Trong Ngũ Vị Tôn Ông có 2 Ông là Con của Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vua Cha Bát Hải Động Đình khác và Cha Trần Triều lại khác nữa. Như vậy phải phân biệt rõ về 3 Vị Cha này.
    Hai Vị đó là: - Quan Đệ Nhất Thượng Thiên- Ngài chưa xuống trần lần nào. Hiện giờ nhiệm vụ chính của Ngài vẫn là trên Thiên Đình.
    - Vị thứ hai là Quan Đệ Tứ khâm sai; Quán Đệ Tứ cũng chưa từng xuống trần. Ngài làm Quan khâm sai ở cả 3 cõi giới.
    Mẫu Liễu Hạnh được Ngọc Hoàng giao nhiệm vụ làm giáo chủ Đạo Mẫu . Để thực hiện được nhiệm vụ đó Mẫu phải có ban bệ giúp việc cho mình.
    Việc của Ngọc Hoàng và các Quan trên Thiên Đình liên quan đến cả 3 cõi giới, không riêng gì cõi ta bà này. Đạo Mẫu chỉ là một phần công việc của các Quan liên quan nhiều đến người trần thế và liên quan đến các vong không chịu về đúng chỗ của mình.
    Như vậy, mặc dù xuống trần sau nhiều vị trí trong hệ thống thờ Mẫu nhưng Mẫu đương nhiên Ngự ở ngôi vị cao nhất và các Quan, các Chúa, các Chầu, các Hoàng, các Cô, Các Cậu...là những người giúp việc cho Mẫu.
    Ngay từ khi chưa hoàn chỉnh về cơ cấu, Đạo Mẫu đã có những bước hình thành từ rất sớm. Đó là tục thờ thần, thờ Mẫu < Mẹ>. Sau đó là tục thờ Tam Phủ gồm: Thiên phủ- Địa phủ- Thoải phủ. Từ tam phủ này cộng thêm Nhạc phủ hình thành Tứ phủ và giáo chủ là Mẫu Liễu Hạnh như ngày nay.
    Đạo Mẫu hình thành và phát triển cùng trời đất.
    Chào bạn!

  4. #84

    Post

    Trích dẫn Nguyên văn bởi lien hoa dieu hy Xem Bài Gởi
    NGÔI VỊ TRONG ĐỀN, ĐIỆN THỜ TỨ PHỦ:

    Đạo Mẫu được phân ngôi vị như trong một triều đình vua chúa của dân tộc Việt Nam tời xưa.

    -Hậu cung( cung cấm)thờ Tam Tòa Thánh Mẫu :
    + Mẫu Đệ nhất Tiên Thiên y phục màu đỏ.
    + Mẫu Đệ nhị Thượng Ngàn mặc y phục màu xanh.
    + Mẫu Đệ tam Thoải Phủ mặc y phục màu trắng.
    -Ngôi cao nhất thờ Đức Vua Cha Ngọc Hoàng,có Quan Nam Tào và Bắc Đẩu hai bên.
    -Ngũ vị Tôn Quan:
    +Quan đệ nhất mặc y phục màu đỏ
    +Quan đệ nhị mặc y phục màu xanh.
    +Quan đệ tam mặc y phục màu trắng
    +Quan đệ tứ mặc y phục màu vàng.
    +Quan đệ ngũ măc y phục màu lam.
    -Tứ phủ chầu bà:
    +Chầu đệ nhất thượng thiên
    +Chầu đệ nhị thượng ngàn
    +Chầu đệ tam thoải phủ
    +Chầu đệ tứ khâm sai
    +Chầu năm Suối Lân
    +Chầu sáu lục cung
    +Chầu bảy Tân La
    +Chầu tám Bát Nàn
    +Chầu chín Cửu Tỉnh
    +Chầu mười Đồng Mỏ
    +Chầu bé Bắc Lệ.
    -Tứ phủ Ông Hoàng
    -Tứ phủ thánh cô
    -Tứ phủ thánh cậu.
    Ngoài ra còn thờ quan Năm dinh(ngũ hổ),Thanh xà,bạch xà,quan Thủ Nhang,Chầu Thủ bản đền...
    Xin được mạn phép nói về đình thần bốn phủ (đạo mẫu): xây dựng theo kiểu triều đình hóa gia đình.
    +)cao nhất: chư phật
    +) Các vị vua cha: vua cha ngọc hoàng, vua cha bát hải(con 100 đức lạc long quân, cai quản biển đông), vua cha đế thích, thập điện diêm vương, vua cha nhạc phủ( đức thánh tản)
    các vị thánh trên thiên đình: giống đạo giáo trung hoa: Tây vương mẫu, thái lượng lão quân, nam tào, bắc đẩu,...
    +) Tứ vị vua bà cờn môn (nghệ an)
    +) Tam tòa thánh mẫu:
    Mẫu liều hạnh là thiên, địa, nhân, là tứ cửu trùng thiên, ngài là con vua cha ngọc hoàng và tây vương mẫu, thần chủ đình thần việt nam.
    Mẫu thượng ngàn: không phải là đức lệ mại đại vương.
    Mẫu thủy: vợ vua cha bát hải.
    +) Công đồng trần triều: đức thánh trần, con vua cha bát hải, thay quyền vua cha cai quản việt nam, các vị khác đã biết.
    +) Hội đồng thánh chúa: chúa bói, chúa chữa: Tam vị chúa mường, chúa thác bờ, năm phương ngũ bản, long giao, cà phê.
    +) Hội đồng các quan: ngũ vị vương quan đại diện
    +)Tứ phủ chầu bà: chầu nhất đến chầu 10 và chầu bé
    +) Tứ phủ quan hoàng:
    từ hoàng cả đến hoàng 10, ngoài ra ông hoàng bắc quốc, hoàng chín thượng ngàn khác hoàng chín cờn môn.
    +) Tứ phủ thánh cô: cô cả đến cô 10 và cô bé, ngoài ra còn cô đôi cam đường, cô bẩy tân an.
    +) Tứ vị thánh cậu: thường từ cậu cả đến cậu 5 và cậu bé.
    +) Ngũ hổ thần tướng, thanh xà , bạch xà.
    Trong đền thần bốn phủ gồm tất cả các chư tiên chư thánh chư thần cai quản việt nam, các bậc thánh nhân, thánh hiền, và trong đó có đức thánh Hồ Chí Minh (Bác Hồ kính yếu) là vị thanh uy danh trong đình thần, người được xếp vào hàng các quan trong đế đình.

  5. #85

    Mặc định

    xin chào bạn Hoctronhobe,

    thấy bạn giải thích về Tứ Phủ gồm : Thiên Phủ- Địa Phủ- Thoải phủ và Nhạc Phủ, theo sự hiểu biết nông cạn của mình thì
    - Thiên phủ : tức là phủ của trời, như vậy có phải là Thiên Đình không bạn??
    - Địa phủ : tức là Âm phủ, phải không??
    - Thoải phủ và Nhạc phủ là gì???

    xin bạn giải thích thêm để mình có sự hiểu rõ hơn về Tứ Phủ.

    xin cảm ơn

    Chim Lửa
    Last edited by Chim Lửa; 23-03-2014 at 11:08 AM.

  6. #86

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Chim Lửa Xem Bài Gởi
    xin chào bạn Hoctronhobe,

    thấy bạn giải thích về Tứ Phủ gồm : Thiên Phủ- Địa Phủ- Thoải phủ và Nhạc Phủ, theo sự hiểu biết nông cạn của mình thì
    - Thiên phủ : tức là phủ của trời, như vậy có phải là Thiên Đình không bạn??
    - Địa phủ : tức là Âm phủ, phải không??
    - Thoải phủ và Nhạc phủ là gì???

    xin bạn giải thích thêm để mình có sự hiểu rõ hơn về Tứ Phủ.

    xin cảm ơn

    Chim Lửa
    Thoải phủ là miền biển và sông nước, ao, hồ
    Nhạc phủ là miền rừng núi

  7. #87

    Mặc định

    cho em hỏi xí về vấn đề Phật giáo và đạo Mẫu
    Tại sao không thờ Phật mà lại thờ thêm các Mẫu, Ông??! Có sự khác nhau và tương quan giống nhau nào không ạ?

  8. #88
    Đai Nâu Avatar của kipsailam68
    Gia nhập
    May 2011
    Nơi cư ngụ
    chiều không gian thứ 5
    Bài gởi
    479

    Mặc định

    Mình có nghe người này người kia là con của Mẫu. Thế là sao vậy? Con của Mẫu phải chăng có số lượng không hạn chế?
    đợi ngày xuất thế

  9. #89

    Mặc định

    Ai cũng là con mẫu, ai cũng là con Phật hết cả. Vì các Ngài đều tư bi cứu độ chúng sanh xem chúng sanh như con. Con thì có đứa ngỗ nghịch đứa hiền lành, đứa xấu ác, đứa gian manh xảo quyệt. Do đó, cần có đạo Phật Đạo Mẫu mà dạy dỗ thành những đứa con ngon.
    Gặp bà đồng ông cậu nào mà sân si tự xưng ta là ông này bà nọ, đó toàn là tào lao mí lao lừa gạt chúng sanh mà thôi. Gặp ông đồng bà cốt nào mà sân si xưng chúng sanh là mầy tao con này thằng kia đó là đang bôi tro trét trấu vào đạo mẫu đó. Gặp ông đồng bà cốt nào mà nói làm lễ này mất bao nhiêu tiền thì đó chỉ toàn phường lừa gạt mà thôi chỉ nhận tiền tùy tâm.
    Đạo mẫu Nguyên Thủy không có chuyện như vậy. Nhưng dần dần nó bị những người thầy có tâm xấu ác tham lam làm biến chất đạo, đi ngược lại với tinh thần cứu khổ ban vui của đạo, giúp chúng sanh tu sửa tâm tánh.
    A di đà Phật!
    Lên hệ trao đổi phật pháp qua nick sky: hieubuikhuong hoặc facebook https://www.facebook.com/profile.php?id=100009987160842

  10. #90
    Đai Nâu Avatar của kipsailam68
    Gia nhập
    May 2011
    Nơi cư ngụ
    chiều không gian thứ 5
    Bài gởi
    479

    Mặc định

    Cám ơn! Dù vẫn đang chờ câu tl khác.
    đợi ngày xuất thế

  11. #91

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi kipsailam68 Xem Bài Gởi
    Cám ơn! Dù vẫn đang chờ câu tl khác.
    -Chữ "con" trong những tôn giáo nói chung và trong những người theo tín ngưỡng thờ cúng Thánh Mẫu nói riêng là một cách nói. Những người theo tín ngưỡng thờ cúng Thánh Mẫu thường tự gọi mình là "con công đệ tử". Ở đây, chữ "đệ tử" là từ Hán Việt, nghĩa của nó là "con em", còn "con công" thì là tiếng ta, nghĩa giống như "đệ tử". Hiện tượng dùng từ dạng này khá phổ biến trong tiếng Việt, như "bông hoa" thì "hoa" là từ Hán Việt, "bông" là tiếng ta, hoa nghĩa là bông. Cũng như gần đây, thấy có người dùng "các fan hâm mộ", fan=hâm mộ (hán việt)=yêu mến=tây (cổ).... Cũng như người theo đạo Phật nói mình là con Phật. Những người không theo thì không tự nhận mình là con.
    -Số lượng là hữu hạn, vì loài người là hữu hạn, vẫn đếm được tới thời điểm này.
    -Có một điều hay của những người "con" này là, hầu hết họ, đều cho rằng mình là đúng nhất, họ có trách nhiệm cao cả là mở mang đầu óc cho những người còn u tối. Và những người "con" của các "niềm tin" khác nhau rất hay tranh đấu để khẳng định mình hơn. Nhẹ thì đấu khẩu, xỉ vả nhau, hăng hơn thì đấu võ, như "thập tự chinh", "thánh chiến"....

  12. #92

    Mặc định

    Có một điều mình vẫn băn khoăn tự hỏi là: Tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ có ở Việt Nam, mà hẹp hơn thì chỉ có ở miền Bắc. Vậy thế con của các Mẫu (kể cả Mẫu Thượng Thiên) không có nhẽ lại chỉ có ở miền Bắc Việt Nam thôi sao? Còn dân chúng các nước khác thì thế nào? Nếu quả thực người dân Việt được Cha Trời-Mẹ Đất ưu ái thế thì vì cớ sao vẫn khốn khổ là vậy? Ai đó biết xin hoan hỷ chỉ giùm với ah! Xin cám ơn!

  13. #93
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn
    Gia nhập
    Jul 2008
    Bài gởi
    535

    Mặc định

    Đơn giản phụ mẫu này là hàng nhái
    Không tiếp nhận năng lượng xấu từ bất cứ ai, các bạn gửi thì nhận lại. Những ai lấy giá trị cộng đồng qua tổn thương tôi phải trả lại hết nhân danh pháp luật và vũ trụ!

  14. #94

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Tuanfodacon Xem Bài Gởi
    Có một điều mình vẫn băn khoăn tự hỏi là: Tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ có ở Việt Nam, mà hẹp hơn thì chỉ có ở miền Bắc. Vậy thế con của các Mẫu (kể cả Mẫu Thượng Thiên) không có nhẽ lại chỉ có ở miền Bắc Việt Nam thôi sao? Còn dân chúng các nước khác thì thế nào? Nếu quả thực người dân Việt được Cha Trời-Mẹ Đất ưu ái thế thì vì cớ sao vẫn khốn khổ là vậy? Ai đó biết xin hoan hỷ chỉ giùm với ah! Xin cám ơn!
    Thánh Mẫu là cách gọi chung của các Nữ Thần. Như Mẫu Thượng Ngàn là Thượng Ngàn Công Chúa Lê Mại Đại Vương, Mẫu Liễu Hạnh là Vân Cát Nữ Thần.... Tín ngưỡng thờ cúng Nữ Thần là phổ biến trên toàn thế giới, và các vùng trên thế giới người ta cũng hay gọi Nữ Thần là Mẹ, gọi theo từ Hán Việt là Mẫu. Đây là nói về tín ngưỡng dân gian.
    Các tôn giáo cũng có Nữ Thần của họ, cách gọi là khác, nhưng nếu theo nghĩa Thần Kỳ, thì cũng là một dạng Thần. Như các Phật Mẫu, Tiên Mẫu, Đức Mẹ... Và có một thứ khá phổ biến, Thần Đất, ở đây nói Đất với nghĩa là tất cả Trái Đất, thường được coi là Nữ tính, cho nên người ta vẫn thường nói là Mẹ Trái Đất. (còn các Thần Đất của khu vực thì lại thường là Nam tính)

  15. #95
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn
    Gia nhập
    Jul 2008
    Bài gởi
    535

    Mặc định

    Mẫu việt nam là mẫu rởm, tự cho mình là cao nhưng thực chất chỉ là linh quỷ ở dục giới.
    Không tiếp nhận năng lượng xấu từ bất cứ ai, các bạn gửi thì nhận lại. Những ai lấy giá trị cộng đồng qua tổn thương tôi phải trả lại hết nhân danh pháp luật và vũ trụ!

  16. #96
    Đai Nâu Avatar của kipsailam68
    Gia nhập
    May 2011
    Nơi cư ngụ
    chiều không gian thứ 5
    Bài gởi
    479

    Mặc định

    Chưa rõ đầu cua tai nheo thì đừng buông lời xúc xiểm, tội chết đó nha! Cứ đạo hay tôn giáo ji hướng con người tới cái tốt cái đẹp đều đáng được tôn trọng.
    đợi ngày xuất thế

  17. #97
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,246

    Mặc định

    ĐẠO MẪU, ĐIỆN THẦN VÀ THẦN TÍCH

    ( Nguồn: https://www.facebook.com/quantheambo...870499/?type=3 )



    .................................................. ..........




    Nếu như gạt bỏ những sai biệt có tính địa phương, chắt lọc lấy những cái chung thì chúng ta có thể đưa ra một hệ thống điện thần Đạo Mẫu như sau:
    - NGỌC HOÀNG
    - TAM TOÀ THÁNH MẪU (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Địa Tiên Thánh Mẫu)
    - NGŨ VỊ VƯƠNG QUAN (Từ Đệ Nhất đến Đệ Ngũ), thường thì người ta xếp Đức Thánh Trần vào hàng các Quan.
    - TỨ VỊ CHẦU BÀ hay tứ vị Thánh Bà là hóa thân trực tiếp của Tam Toà Thánh Mẫu.
    - NGŨ VỊ HOÀNG TỬ (gọi theo thứ tự từ Đệ Nhất tới Đệ Ngũ)
    - THẬP NHỊ VƯƠNG CÔ (gọi theo thứ tự từ l đến 12)
    - THẬP VỊ VƯƠNG CẬU (gọi theo thứ tự từ l đến 10)
    - NGŨ HỔ ( năm con hổ)
    - ÔNG LỐT (rắn)
    Các vị Thánh trong đạo Mẫu không chỉ phân thành các hàng mà còn phân thành các Phủ. Phủ trong đạo Mẫu mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trước nhất, Phủ trong Tam Phủ, Tứ Phủ mang nghĩa rộng và bao quát, tương ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền Trời), Địa phủ (miền đất), Thoải phủ (thuỷ phủ, miền sông biển), và Nhạc phủ (miền rừng núi). Đứng đầu mỗi Phủ như vậy là một vị Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ, Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu) cai quản Địa phủ, Mẫu Thoải cai quản Thoải phủ và Mẫu Thượng Ngàn cai quản Nhạc phủ. Giúp việc cho bốn vị Thánh Mẫu còn có nhiều vị thánh thuộc các hàng Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu cũng phân theo 4 phủ như các vị thánh Mẫu kể trên.

    Hiện nay trong điện thần Thờ Mẫu đều tồn tại quan niệm Tam Phủ và Tứ Phủ. Tứ Phủ là gồm ba phủ trong Tam Phủ (Thiên, Địa, Thoải) và có thêm phủ Thượng Ngàn (Nhạc Phủ). Hiện nay chưa ai có thể trả lời chắc chắn Tam Phủ và Tứ Phủ của đạo Mẫu có từ bao giờ. Tuy nhiên, có thể tin rằng Tam Phủ có trước Tứ Phủ và việc tồn tại phủ thứ tư là Nhạc Phủ là một nét đặc thù của Đạo giáo Việt Nam.
    Có thể quan niệm Tam Phủ và Tứ Phủ đều bắt nguồn từ quan niệm vũ trụ luận nguyên sơ là Âm và Dương, dần dần yếu tố Âm trong lưỡng cực Âm Dương phân hóa thành Địa Phủ, Thoải Phủ và Nhạc Phủ.
    Tứ Phủ ứng với bốn phương, bốn miền của vũ trụ, trong đạo Mẫu biểu hiện thành bốn màu cơ bản: Thiên Phủ ứng với màu đỏ, Thoải Phủ ứng với mầu trắng, Địa Phủ ứng với màu vàng và Nhạc Phủ ứng với mầu xanh. Đó cũng là màu sắc của trang phục các vị Thánh khi giáng đồng, là màu sắc của các đồ cúng lễ. Từ các màu sắc này chúng ta có thể dễ dàng phân biệt mỗi vị thánh thuộc vào phủ nào trong hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ.

    Trong đạo Mẫu, nơi thờ phụng chính Thánh Mẫu Liễu Hạnh, hóa thân của Mẫu Thượng Thiên, cũng được gọi là Phủ, như Phủ Giầy (Nam Định) và Phủ Tây Hồ (Hà Nội). Cách định danh này có thể xuất phát từ quan niệm vũ trụ luận về các Phủ trong Tứ Phủ và cách định danh đương thời - cung Vua, Phủ Chúa thời Trịnh - Nguyễn.


    NGỌC HOÀNG

    Là vị Thánh cao nhất trong đạo Mẫu, có ban thờ riêng trong các đền và phủ, tuy nhiên vai trò của Ngọc Hoàng trong nghi lễ và thờ cúng, trong tâm thức dân gian thì lại rất mờ nhạt. Như mọi người đều biết, Ngọc Hoàng là thần linh cao nhất trong đạo thờ Tiên của Đạo giáo Trung Hoa, đã được gá lắp khá muộn mằn vào đạo thờ Mẫu cũng như nhiều tôn giáo tín ngưỡng khác của người Việt.


    TAM TOÀ THÁNH MẪU

    Mẫu là quyền năng sáng tạo vũ trụ duy nhất, nhưng lại hóa thân thành Tam vị, Tứ vị Thánh Mẫu cai quản các miền khác nhau của vũ trụ: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn.
    Mẫu Thượng Thiên

    sáng tạo bầu trời và làm chủ quyền năng mây, mưa, sấm, chớp. Về phương diện vũ trụ quan, ta có thể thấy quan niệm về Mẫu nói chung và Mẫu Thiên nói riêng, trong quan niệm của dân gian về Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi, đó là bốn vị Nữ thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp, vốn liên quan tới Thần mưa của tín ngưỡng nông nghiệp. Thực ra những huyền thoại và thần tích của Mẫu Thượng Thiên đều trực tiếp liên quan tới Thánh Mẫu Liễu Hạnh, là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên, vị thần chủ cao nhất và được thờ cúng nhiều nhất trong Đạo Mẫu ở nước ta.

    Trong điện thần Tứ Phủ, Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện khá muộn, mà theo hiểu biết hiện nay sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỷ XVI, thời Hậu Lê, nhưng nhanh chóng trở thành vị Thần chủ của đạo Mẫu và được tôn vinh hơn tất cả các Thánh Mẫu khác.

    Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu còn có thể hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi, hay thành Địa Tiên Thánh Mẫu - Mẹ Đất, cai quản mọi đất đai và đời sống sinh vật. Vào tới Huế, Thánh Mẫu Vân Cát (tức Mẫu Liễu) được phối thờ cùng với thánh Mẫu Thiên Ya Na nguyên gốc Chăm, là vị thần chủ của điện Hòn Chén.
    Mẫu Thượng Ngàn
    Là hóa thân của Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rừng núi, địa bàn chính sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số. Các đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở hầu khắp mọi nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính, gắn bó với hai truyền thuyết ít nhiều có khác biệt, đó là Suối Mỡ (Hà Bắc) và Bắc Lệ (Lạng Sơn).

    Khác với Mẫu Thượng Thiên (mà Liễu Hạnh công chúa là hiện thân) là người Trời, người Tiên, Mẫu Thượng Ngàn xuất xứ là người trần, tuy có là con gái hay cháu Vua Hùng. Đó là những người gắn bó với núi rừng, yêu thiên nhiên, cây cỏ, muông thú, người có phép tiên có thể mang lại yên vui, ấm no cho dân lành. Họ hiển Thánh và trở thành vị thần bảo hộ cho rừng núi, bản làng.
    Ở Tây Nguyên, tục thờ Mẫu do người Việt mang vào lại đồng nhất Mẫu Thượng Ngàn với Mẹ Âu Cơ - Mẹ Tiên, sau khi từ biệt với Bố Rồng - Lạc Long, đã mang theo 50 người con lên núi, sinh sống, phát triển thành các dân tộc thiểu số ngày nay và Mẹ Âu Cơ trở thành vị Thánh Mẫu cai quản vùng rừng núi. Bởi thế, các động Sơn Trang ở các đền Tây Nguyên thường tái hiện sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ.

    Mẫu Thoải

    Huyền thoại và thần tích của Mẫu Thoải tuỳ theo từng nơi có khá nhiều khác biệt, tuy nhiên, cũng có những nét chung cơ bản. Đó là vị thần trị vì vùng sông nước, xuất thân từ dòng dõi Long Vương, liên quan trực tiếp với thủy tổ dân tộc Việt buổi đầu dựng nước.

    Như vậy, trong Tam Toà Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Thiên mà hoá thân là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vốn là con gái Ngọc Hoàng đã nhiều lần giáng sinh nơi trần thế. Còn lại Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải đều có nguồn gốc Sơn thần và Thuỷ thần, ít nhiều gắn bó với các nhân vật nửa lịch sử nửa huyền thoại của buổi đầu huyền sử dân tộc, như Tản Viên, Hùng Vương, Âu Cơ (Mẫu Thượng Ngàn) hay Lạc Long Vương, Kinh Dương Vương, Kinh Xuyên (Mẫu Thoải). Trong Tam Toà Thánh Mẫu ta còn thấy có sự kết hợp, đan quyện giữa tư duy mang tính vũ trụ luận (Trời, Đất, Nước), tư duy huyền thoại (Thiên Thần, Sơn Thần và Thuỷ Thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân - Âu Cơ, Hùng Vương). Đây cũng là một khía cạnh tâm lý mang đặc thù Việt Nam.


    NGŨ VỊ VƯƠNG QUAN

    Sau hàng Mẫu là Ngũ vị Quan lớn (hàng Quan), gọi tên từ Quan Đệ Nhất đến Quan Đệ Ngũ, tuy nhiên không phải là không có quan niệm về sự hiện diện của Thập vị Quan lớn thuộc hàng Quan. Thường thì 5 vị đầu hay giáng đồng hơn, có lai lịch hoặc là Thiên thần hoặc là Nhân thần, 5 vị còn lại thì ít giáng đồng, bởi vậy thần tích cũng không được rõ ràng. Ở đây một lần nữa ta lại gặp hiện tượng con số 5 và bội số 2 của con số này.

    Trong Ngũ vị Quan lớn thì Quan Đệ Nhất và Quan Đệ Nhị có nguồn gốc Thiên thần. Quan Đệ Nhất vâng mệnh Ngọc Hoàng xuống trần cứu giúp dân lành khỏi sự quấy phá của tà quan. Quan Đệ Nhị cũng là Thiên thần xuống trần gian trấn giữ Thượng Ngàn.

    Nổi bật nhất trong hàng Quan là Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ. Hai vị này có đền thờ riêng, có thần tích và huyền thoại, đặc biệt là hay giáng đồng, nên được các tín đồ thờ cúng và tôn kính. Theo các huyền thoại lưu truyền trong dân gian cũng như lai lịch các bản văn chầu thì Quan Tam phủ là con Vua Bát Hải Đại Vương, hóa thân thành một võ tướng của Hùng Vương. Đền thờ chính của ông ở Ninh Giang, tức Đền Lảnh, ngoài ra còn có nhiều nơi thờ vọng, từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi ngược lên vùng núi.

    Quan Đệ Ngũ còn gọi là Quan Tuần, Quan lớn Tuần Tranh. Tuỳ theo từng địa phương mà lưu truyền các huyền thoại khác nhau về quan Đệ Ngũ. Quan Tuần gốc tích là con rắn thần ở sông Đò Tranh (Hải Dương). Cũng có những nơi gắn Quan Đệ Ngũ với Cao Lỗ, một võ tướng của An Dương Vương hay chính là con trai của Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Tảng, hiện được thờ ở Cửa Ông (Quảng Ninh) và ở Lạng Sơn.

    Các quan lớn trong văn chầu hay khi giáng đồng thường có tính cách quý phái, hùng dũng, nhân từ, hay làm những việc phúc đức nhưng cũng đáng sợ với người trần.

    Các vị đều mặc võ quan, mang kiếm hay kích, mặc võ phục nhưng mầu sắc thì tuỳ thuộc các vị thần thuộc Thoải phủ (trắng), Thiên phủ (đỏ), Nhạc phủ (xanh) hay Địa phủ (vàng). Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ đều thuộc Thoải phủ, dòng Long Vương Bát Hải.


    TỨ VỊ THÁNH BÀ HAY TỨ VỊ CHẦU BÀ

    Tứ vị Thánh Bà hay Tứ vị Chầu Bà được coi như là hóa thân, phục vụ trực tiếp của Tứ vị Thánh Mẫu. Tuy gọi là tứ vị Chầu Bà đại diện cho Tứ Phủ, nhưng số lượng các vị Chầu Bà có thể tăng lên tới 12 (3x4), tuy nhiên trong số đó, các Chầu Bà từ Đệ Nhất tới Chầu Lục cùng Chầu Bé thường giáng đồng, được mọi người biết rõ thần tích, có nơi thờ phụng riêng, còn các vị khác thì ít giáng đồng và không mấy người biết tới.

    Chầu Đệ Nhất là hóa thân của Mẫu Thượng Thiên, Chầu Đệ Nhị là hóa thân của Mẫu Thượng Ngàn, vị Thánh thống soái trong các hàng Chầu, cai quản vùng núi non, sơn cước. Khi giáng Bà mặc sắc phục Mán, màu xanh, đặc trưng cho Nhạc phủ.

    Thuộc Nhạc phủ với Chầu Đệ Nhị còn có Chầu Lục và Chầu Bé. Chầu Lục gốc người Nùng ở Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chầu Bé được thờ thành đền riêng ở Bắc Lệ (Lạng sơn). Còn Chầu Mười gốc người Thổ, tương truyền đã có công giúp Lê Lợi đánh tan quân Liễu Thăng, trấn ải vùng Đông Bắc nước ta.

    Đền thờ chính của Chầu Mười tại Đồng Mỏ (Lạng Sơn), nhưng đền thờ vọng Bà thì có ở khắp nơi, từ Đồng Đăng, Kỳ Cùng, Thăng Long, Núi Ngự, Sài Gòn, Vũng Tàu... tới vùng thượng như Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Plâycu...

    Chầu Đệ Tam là hóa thân của Mẫu Thoải. Đó là vị Thánh có dáng vẻ u buồn, y phục và khăn trùm màu trắng. Chầu Đệ Tứ là vị Thánh giữ vai trò khâm sai Tứ Phủ. Tuy đứng đầu Địa phủ, cũng có khi Bà hóa thân dưới dạng Chầu Thoải phủ, mặc màu trắng, múa mái chèo; khi lại hóa thành Chầu Thiên phủ, mặc áo đỏ, múa quạt (Chầu Đệ Tứ khâm Sai Thượng Thiên).

    Chầu Đệ Ngũ ít khi giáng đồng, trần gian ít người biết tới. Tương truyền Bà là công chúa đời nhà Lý, đi tu ở miền thượng, đền thờ Bà ở Suối Lân, Lạng Sơn. Ngoài ra, người ta còn biết tới các vị Chầu khác, như Chầu Thất - Tiên La thờ ở Hưng Hà, Thái Bình, Chầu Bát Nàn ở Đồng Mỏ, Chầu Cửu ở Bỉm Sơn, Thanh Hóa (Cửu Thiên Huyền Nữ)...

    Nói chung các vị Thánh hàng Chầu phần lớn có nguồn gốc người dân tộc ở vùng núi, thuộc Nhạc phủ, dòng Tiên nữ, đối lập với các Quan thuộc dòng Long Vương Thuỷ phủ. Khi giáng đồng, các Chầu đều ăn mặc theo trang phục dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mường, nhạc chầu văn theo điệu Xá Thượng mang đặc trưng miền núi.

    Dưới hàng Chầu là hàng các ông Hoàng, được gọi tên theo thứ tự từ Ông Hoàng Đệ Nhất tới Ông Hoàng Mười, có hẳn một bản văn chầu 10 Ông Hoàng. Tương truyền, cũng như các Quan, các Ông Hoàng đều có gốc tích là con trai Long Thần Bát Hải Đại Vương ở hồ Động Đình, tuy nhiên, theo khuynh hướng địa phương hóa thì các ông Hoàng đều gắn với một nhân vật nào đó ở cõi nhân gian, những danh tướng có công dẹp giặc, những người khai sáng, mở mang cho đất nước.

    Trong số mười Ông Hoàng thì thường có sáu Ông giáng đồng, trong đó có ba Ông giáng rất thường xuyên, đó là Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bảy, và Ông Hoàng Mười. Khi giáng đồng, các Ông Hoàng có phong cách gần giống các Quan Lớn, tuy nhiên có phần hào hoa phong nhã, vui tươi và quan hệ với người trần vui vẻ hơn so với các Quan.

    Hàng Cô được gọi tên từ Cô Đệ Nhất (Cô Cả) đến cô thứ 12 (Cô Bé), đều là các thị nữ của Thánh Mẫu và các Chầu. Tuy nhiên, khi giáng đồng các Cô có thể hóa thân vào các vai trò khác nhau của Tứ Phủ. Có hẳn một bài văn chầu kể về 12 cô. Cô Đệ Nhất là thị nữ của Mẫu Thượng Thiên, ăn mặc rất đẹp, Cô Đôi là thị nữ của Mẫu Thượng Ngàn, giáng đồng với hai bông hoa cài trên mái tóc. Cô Bơ (Ba) thuộc Thuỷ phủ rất nổi tiếng, giáng đồng mặc y phục màu trắng, thắt lưng hồng, múa điệu chèo đò. Cô chữa bệnh cứu người bằng cách ban nước uống, nhưng cũng có thể gieo bệnh nếu kẻ nào dám làm trái những sở thích của Cô. Cô thứ tư là thị nữ của Chầu Đệ Tứ, cô thứ năm thuộc Chầu Đệ Ngũ, nhưng cũng có khi hóa thân với vai trò thị nữ của Mẫu Thượng Ngàn hay Thượng Thiên, cô thường xuất hiện trong các bữa tiệc, Cô thứ sáu thuộc phủ Thượng Ngàn, ăn mặc quần áo chàm, đeo túi hoa, tóc cài hoa rừng, lưng dắt con dao nhỏ, cô hay đi hái cây thuốc chữa bệnh cứu người. Cô thứ Chín là thị nữ của Mẫu Thượng Ngàn, khi giáng đồng Cô nói tiếng Mán, tiếng Mường, múa với bó hương cháy rừng rực trên tay, thêu hoa trên tấm vải. Người ta gắn cho cô trông coi Đền Sòng Sơn, một nơi rất linh thiêng. Cô Bé (Cô thứ mười hai) còn gọi là Cô Bé Bắc Lệ, Cô Bé Thượng Ngàn, có đền thờ riêng ở Bắc Lệ.

    Các Cô được gọi tên theo thứ tự như vậy, nhưng tuỳ theo địa phương, các Cô còn được gọi với các tên gắn với từng vùng, như Cô Bé Bắc Lệ, Cô Cam Đường, Cô Chín Giếng, Cô Đồng Mỏ...

    Các Cậu Quận là những người chết trẻ, từ l - 9 tuổi, hiển linh thành các bé Thánh. Người ta không biết rõ đầy đủ về 10 hay 12 vị thuộc hàng Cậu, họ là các phụ tá của các Ông Hoàng. Thường thì lần lên đồng nào cũng có giá Cậu Bơ (Ba) và Cậu Bé. Đó là những giá đồng với tính cách phóng túng, tinh nghịch, quần áo kỳ cục, lời nói ngọng ngịu của trẻ con, kèm theo các điệu múa lân hay múa hèo khá sôi nổi.
    Trong điện thần của đạo Mẫu còn có sự hiện diện của Hổ (Ngũ Hổ) và Rắn (Ông Lốt). Nơi thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía dưới điện thờ Công Đồng, còn hình tượng ông Lốt là đôi Bạch xà nằm vắt ngang phía trên điện thờ chính. Trong quan niệm dân gian, Hổ là vị chúa cai quản rừng núi, còn Rắn thần là ở nơi sông nước. Trong hầu đồng, tuy không thường xuyên, nhưng cũng có trường hợp các vị Ngũ Hổ hay Ông Lốt (rắn) giáng đồng.

    Ngũ Hổ cai quản bốn phương và trung tâm, là con vật quyền uy, là thần chiến trận, cứu giúp các chiến tướng trong trận mạc. Trong tín ngưỡng dân gian, Hổ là kẻ thù của ác thần, tà thần, chuyên hãm hại người sống cũng như người đã chết, là vị thần linh canh cửa các ngôi đền. Trong số các ông đồng và bà đồng, một số ít người có căn Quan Lớn Hổ, khi hầu đồng họ thường được các vị thần Hổ giáng. Mọi người có thể cầu xin vị thần Hổ này giúp trừ tà gây dịch bệnh, phòng ngừa trộm cắp... Khi hầu đồng thần Ngũ Hổ, các ông đồng, bà đồng thường làm các động tác như phun lửa, nhai bó hương cháy, làm các động tác Hổ ngồi, Hổ vồ mồi...

    Trong đạo Mẫu Tứ Phủ, đây đó người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều, một phủ thuần tuý mang tính chất nhân Thần. Bởi thế cần xem xét Đức Thánh Trần cùng với các thuộc hạ của Ông trong hệ thống điện thần Tứ Phủ cũng như trong thực hành tín ngưỡng.

    Về phương diện điện thần, Đức Thánh Trần được coi là một vị Thánh Tứ Phủ. Trong khá nhiều đền, điện của đạo này đều có ban thờ riêng Ông cùng với các thuộc hạ. Tuy nhiên về hàng bậc cũng như phủ của Ông trong Tứ Phủ lại không dễ xác định. Ông là một nam thần. Ông thường được quy về dòng Long Vương, Bát Hải Đại Vương, thậm chí còn được đặt riêng ra thành một phủ Nhân thần, phủ Trần Triều. Về hàng bậc, có lúc Ông được đổng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thần Mẹ, ngày giỗ và lễ hội kèm theo của Ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha ""tháng Tám giỗ Cha"" cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ Ông ở Kiếp Bạc, có ngọn núi xèo rộng ra ôm lấy thung lũng trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên Ông được coi như là Ngọc Hoàng, một loại Vua Cha cao hơn, bên trên cả Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không giống như Vua Cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải, các vị chỉ ngự trên điện thần chứ không giáng đồng, các Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứ không nhập đồng (hầu tráng mạn), còn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của Ông thì lại giáng đồng chuyên để trừ tà, cứu chữa con bệnh, tạo nên hẳn một dòng Thanh đồng phân khác với hình thức hầu đồng của dòng đồng cốt thờ Mẫu. Trong thứ tự giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường là sau khi Mẫu giáng, và trước các vị Thánh hàng Quan. Đấy là chưa kể hình thức lên đồng để trừ tà thường diễn ra trong dịp lễ tiết của Đức Thánh Trần ở những nơi thờ tự chính của Ông.

    Một vấn đề đặt ra là trong môi trường và điều kiện nào một quý tộc và danh tướng như Trần Quốc Tuấn đã từng lập nên những danh tích của triều đại nhà Trần sau đó lại trở thành Ông Thánh của Đạo giáo, với quyền pháp của một đạo sĩ và thày phù thủy chuyên trừ đuổi ma tà chữa bệnh cho phụ nữ và cũng dần hội nhập vào dòng tôn thờ Thánh Mẫu Tứ Phủ. Theo ý kiến của Giáo sư Trần Quốc Vượng, thời nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo khá thịnh hành, nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân cũng là những đạo sĩ, tín đồ đạo giáo, trong đó có Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên - Mông, được phong vương, Ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên thiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc Ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là sự lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế Ông là một thầy thuốc có tài chữa bệnh hậu sản, bệnh của phụ nữ. Với lại, trong dân gian, việc chữa bệnh bằng thuốc luôn đi liền với các hành động có tính ma thuật. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của Ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi về sau, cho tận tới ngày nay.

    Còn việc Ông trở thành một vị Thánh trong điện thần Tứ Phủ, thậm chí còn đồng nhất Ông với Vua Cha kề cận với Vua Cha trong đối sánh với Thánh Mẫu, thì cũng không có gì khó hiểu. Với tư cách là một vị tướng, một đạo sĩ của Đạo giáo, vốn gốc dòng họ gắn liền với miền sông nước vùng hạ lưu, lại lập những chiến công thuỷ chiến vang dội, Ông dễ được dân gian khoác thêm chiếc áo thần linh, quy về dòng thuỷ thần Long Vương, được thờ phụng cùng với Bát Hải đại vương, vị thần chuyên coi vùng sông nước và biển cả.

    Cũng cần phải phân biệt giữa thờ phụng Đức Thánh Trần với tư cách là một anh hùng dân tộc, một đạo sĩ của dòng Đạo giáo với một Đức Thánh Trần được coi như một Vua Cha trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ. Trong nhiều điện, đền thờ Mẫu Tứ Phủ có ban thờ Đức Thánh Trần, nhưng ngược lại, trong các đền thờ chính của ông ở Kiếp Bạc, Bảo Lộc, Cổ Trạch... thì hầu như không có Mẫu và điện thần thờ Mẫu. Như vậy rõ ràng việc tôn thờ Đức Thánh Trần với những đặc tính tiềm tàng của nó như đã trình bày trên, một phần đã được thu hút và hội nhập vào tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, nhất là ở những giai đoạn muộn của nó. Điều đó cũng góp phần giải thích vì sao sự hội nhập này không diễn ra đều khắp mọi nơi. Chỉ xin đơn cử ở Phủ Giầy, nơi trung tâm của đạo Mẫu, thì trong điện thần phối tự, vai trò của Đức Thánh Trần và kể cả Vua Cha Bát Hải đại vương đều khá mờ nhạt. Trong khi đó thì Lý Bôn với vai trò là Vua Cha, vị thuỷ thần, thì có tới hai đền, một ở Tiên Hương, một ở Vân Cát, đều gọi là Đền Vua nằm kề sát phủ trong quần thể các đền của Phủ Giầy. Tháng 8 hàng năm là kỳ giỗ kỵ ở Đền Vua, giống như vua Cha ở Đền Đồng Bằng (Thái Bình) và Kiếp Bạc (Hải Dương), nơi thờ Vua Cha Bát Hải và Đức Thánh Trần.

    Cùng với Đức Thánh Trần, con trai, hai vương cô và các vị tướng của Ông cũng có thể giáng đồng, tuy những trường hợp như vậy rất hãn hữu. Con trai của Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Tảng thờ ở đền Cửa Ông (Quảng Ninh), tướng Phạm Ngũ Lão thờ ở đền Phù Ủng (Bắc Ninh), đặc biệt là người con gái là Vương Cô Đệ Nhất và Vương Cô Đệ Nhị được nhập vào hàng Cô của đạo Tứ Phủ, luôn luôn hầu cận hai bên Thánh Cha .

    Ở phần trên, chúng tôi cố gắng hệ thống lại điện thần của Đạo Mẫu Tứ Phủ mang tính chung và ước lệ nhất. Tuy nhiên, với các địa phương thì trên cái khung chung đó, sự sai biệt mang sắc thái địa phương là một thực tế hiển nhiên. Nói chung, điện thần và phối tự trong các đền Mẫu ở Nam Bộ không có mấy sai biệt (ở đây chỉ nói đền thờ Mẫu Tứ Phủ, còn các đền thờ khác Mẫu khác như Bà Đen, Bà Chúa Xứ thì không thuộc hệ thống này) so với các đền thờ Mẫu ở Bắc Bộ. Có chăng trong điện thần ta thấy có thêm một số các vị Thánh địa phương, như Lê Văn Duyệt, được coi như là một vị Thánh hàng Quan, có vai trò trừ ma tà như Quan Tuần, Đức Thánh Trần ở ngoài Bắc. Bà Chúa Xứ cũng có lúc giáng đồng trong các đền thờ Mẫu Tứ Phủ, được coi như vị Thánh Mẫu hàng Chúa (Chầu)...

    Điện thần ở Điện Hòn Chén, trung tâm thờ Mẫu ở Huế cũng như một số ngôi đền khác, về cơ bản vẫn là Thờ Mẫu Tứ Phủ, tuy nhiên sắc thái địa phương thì thể hiện rõ rệt hơn. Trước nhất, nếu như trong điện thờ Tam vị Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Thiên hay Mẫu Liễu ngồi chính giữa, thì trong tất cả các đền ở Huế thay bằng Thánh Mẫu Thiên Ya Na, một nữ thần nguồn gốc Chăm (Mẹ Xứ Sở) đã bị Việt hóa. Hai bên tả và hữu của Mẫu Thiên Ya Na là Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn. Có một số ít ngôi đền, trong đó có Hòn Chén thì có ban thờ Thánh Mẫu Liễu cùng với Quế Hoa và Quỳnh Hoa được thờ thấp hơn phía trước Tam vị Thánh Mẫu đã kể trên. Hàng các vị Thánh Bà (hàng Chầu) được gọi theo tên Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ: Đệ Nhất Kim Tinh thần nữ, Đệ Nhị Mộc Tinh thần nữ, Đệ Tam Thuỷ Tinh thần nữ, Đệ Tứ Hoả Tinh thần nữ và Đệ Ngũ Thổ Tinh thần nữ. Trong hàng thất thánh (7 vị Thánh) tương đương như hàng quan thì ở Huế có thờ Vua Đồng Khánh, nguyên là tín đồ Đạo Mẫu, là vị vua đầu tiên thừa nhận tính chính thống của Đạo Mẫu, người bỏ tiền của ra để xây dựng và tôn tạo các điện Hòn Chén thờ Mẫu ở Huế. Trong khá nhiều ngôi đền, điện, bên cạnh tượng Ngọc hoàng như các đền ngoài Bắc, thì thường có thêm tượng Quan Thế Âm, ban thờ Quan Thánh, thậm chí có nơi còn thờ Bản Thổ Thành Hoàng...

    Như vậy là điện thần thờ Mẫu cao nhất ở Huế về cơ bản vẫn là Mẫu Tứ Phủ, nhưng vị Thánh Mẫu cao nhất, Thánh Mẫu Thiên Ya Na thì lại là kết quả của sự giao thoa văn hóa Việt - Chăm. Thực ra, ở người Việt, người Chăm, Khơme và nhiều dân tộc khác ở Việt Nam và Đông Á đều có nét văn hóa chung là tôn thờ nữ thần, tôn vinh vị thần cội nguồn của đất nước và dân tộc là Nữ thần, gọi là Thánh mẫu - Thần Mẹ. Nếu người Việt có Tam Toà Thánh Mẫu, Mẫu Liễu được tôn vinh là Mẫu Nghi Thiên Hạ, thì người Chăm có vị thần xứ sở Pô Inư Nưgar, Thiên Ya Na. Khi vượt sông Gianh vào đất trung và nam Trung Bộ, người Việt đã tiếp thu và Việt hóa nhiều yếu tố văn hóa Chăm, trong đó có Nữ thần Xứ sở, Bà Mẹ xứ sở của Chăm thành Mẫu của người Việt. Tục thờ Mẫu ở Hòn Chén và Tháp Bà (Nha Trang) chính là thể hiện quá trình hỗn hợp dung và giao lưu văn hóa đó.

    Ở miền Bắc cũng như trong Nam, bên cạnh các đền thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ phủ, mà điện thần của nó chúng tôi đã giới thiệu ở trên, thì còn tồn tại một hình thức tín ngưỡng thờ Mẫu thần nằm ngoài hệ thống Mẫu Tam Phủ, được gọi với những tên, như Bà Chúa (Bà chúa Xứ), Bà Đen hay Linh Sơn Thánh Mẫu, thờ Bà (Tháp Bà ở Nha Trang) Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Thủy, Bà Hoả, Bà Thiên Hậu, Tống Hậu, các đền thờ Vương Mẫu (Mẹ Thánh Gióng), Quốc Mẫu (đền thờ Mẹ Âu Cơ) và Thánh Mẫu khác (Ỷ Lan). Tuy với những tên gọi khác nhau, nhưng đều có nguồn cỗi chung từ tục thờ các Nữ thần. Tuy nhiên, không phải nữ thần nào cũng thành Bà, thành Chúa và đặc biệt là thành Mẫu. Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát một số đền thờ Mẫu cũng thuộc loại trên ở miền Bắc, như Đền thờ Vương Mẫu (Mẹ Thánh Gióng) ở Phù Đổng, đền thờ Ỷ Lan Thánh Mẫu ờ Dương Xá, Gia Lâm, đền thờ Tống Hậu Quốc Mẫu ở Hải Hậu (Nam Định)... Trên cơ sở những khảo sát như vậy, bước đầu có nhận xét sau:

    - Việc thờ Mẫu kể trên nẩy sinh và phát triển trên cơ sở thờ Nữ thần, nó thuộc loại hình tín ngưỡng thờ thần mà có người gọi là Thần Đạo, một đạo mang bản sắc Việt Nam rõ rệt nhất.

    - Tuy không hoàn toàn thuộc Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ, một biến thể của đạo giáo Việt Nam, nhưng giữa tục thờ Mẫu này và đạo Mẫu Tứ Phủ có những nền tảng chung là tôn thờ Nữ thần và thờ Mẫu thần, có sự thâm nhập và ảnh hưởng qua lại, trong đó nổi bật là tục thờ Mẫu thần và Nữ thần đều tiếp thu ảnh hưởng trở lại của Mẫu Tam phủ, Tứ Phủ, thể hiện qua điện thờ, nghi lễ thờ cúng, tục lên đồng và lễ hội.


    Từ việc xem xét hệ thống điện thần đạo Mẫu có thể rút ra một số nhận xét sau:

    l. Hệ thống thần linh Tam phủ, Tứ Phủ gồm các Thiên thần và nhân thần, là các vị thần linh có nguồn gốc nhân thần hay thiên thần. Tuy nhiên, xu hướng ""nhân thần hoá"" và ""lịch sử hoá"" là xu hướng chính trong quá trình ""thêu dệt"" nên thần tích các vị Thánh này. Vị Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời chậm trễ nhất trong số các Thánh Mẫu, nhưng thần tích của Bà cũng được người đời ""trần thế hóa"", ""địa phương hóa"" và ""lịch sử hóa"" một cách khá trọn vẹn, để từ đó Bà bước lên ngôi thứ cao nhất trong điện thần Tứ Phủ. Còn biết bao vị thần khác đều có nguồn gốc xuất thân, lý lịch ""nhập thể" với bao công lao, kỳ tích, gắn liền với lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc, tạo cho nó trờ thành một biểu tượng của lòng yêu nước mang đầy tính tâm linh. Cũng chính vì thế họ đều là các phúc thần, có thể xua đuổi các tà mà, mang lại tài, lộc, sức khoẻ cho con người.

    2. Các thần linh Tứ Phủ còn được phân thành một bên là các nữ thần và bên kia là nam thần, tuy thứ bậc chính của mỗi vị Thánh trong điện thần phụ thuộc vào việc họ thuộc hàng nào từ trên xuống dưới, như Thánh Mẫu - Vua Cha, các Quan, các Chầu, Ông Hoàng, các Cô Cậu hay thuộc phủ nào mà họ cai quản: Thiên phủ, Thuỷ phủ, Nhạc phủ hay Địa phủ. Về phương diện hữu thức là như vậy, nhưng nếu chúng ta đi sâu vào tầng vô thức thì việc phân chia trên lại bao hàm một ý nghĩa sâu xa nào đó.

    Tuy là đạo thờ Mẫu, và Mẫu là vị thần có quyền năng sáng tạo tối thượng, nhưng trong điện thần, các vị thần vẫn chia thành dòng Cha và dòng Mẹ. Thánh Mẫu với các hoá thân trực tiếp là các Chầu và những người giúp việc là các Cô. Còn bên kia là Vua Cha và thuộc dòng Vua Cha là các quan, các Ông Hoàng và Cậu. Tất nhiên, sau này trong quan niệm dân gian, tuy Mẫu là một, là ""nhất thể"" nhưng lại hoá thân thành "tam vị"" Thiên, Địa, Thuỷ, hay Vua Cha cũng chỉ có một, sau lại chia thành Vua Cha Thuỷ phủ, Vua Cha Nhạc phủ, Vua Cha Thiên phủ, Vua Cha Địa phủ. Nhưng cuối cùng, thuỷ tổ của Thánh Mẫu vẫn là dòng Tiên, còn thuỷ tổ của Vua Cha vẫn là dòng Long Vương - dòng Rồng, mà cái đó người Việt đã khái quát trong huyền thoại suy nguyên: Lạc Long Quân và Âu Cơ. Cũng bởi lẽ đó, hội thờ Đức Thánh Tiên Mẫu tức Giỗ Mẹ vào tháng ba, còn ngày hội Vua Cha tức giỗ Cha vào tháng Tám “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”

    Một khía cạnh khác của giới tính các thần linh trong điện thờ Tứ Phủ là số lượng các vị Thánh trong mỗi hàng. Thuộc dòng Mẫu - Mẹ, ta thường thấy Tứ vị Thánh Mẫu, Tứ vị Chầu Bà, rồi cũng có thể tăng lên Bát vị Chầu Bà, thậm chí 12 vị Chầu. Đối với hàng Cô, ta cũng thường gặp các con số 4, 6, 8, 12. Như vậy, thuộc dòng Thánh Mẫu, ta thấy số lượng các vị thần trong mỗi hàng là chẵn: 4,6,8,12. Còn với dòng Vua Cha, Nam thần, thì có Ngũ vị tôn Ông, rồi Thập vị Tôn Ông, Ngũ vị Ông Hoàng hay Thập vị Ông hoàng, tức là con số lẻ và bội số của nó, tức 5 và 10...

    Có thể giải thích hiện tượng các con số này từ quan niệm dân gian về con số thiêng, trong đó con số lẻ là con số ""cơ"" (cố định) gắn với dương, đực, đàn ông, nam tính, còn con số chẵn là con số ""ngẫu"" (không cố định), gắn với âm, cái, nữ tính. Đây là những con số mang tính biểu tượng, thiêng liêng , thể hiện tính lưỡng phân lưỡng hợp giữa dòng vua Cha và các Nam thần, Thánh Mẫu và các Nữ thần.

    3. Từ việc xem xét hệ thống điện thần, tên gọi mỗi vị thần linh, cách thức bài trí thờ cúng trong các đền, điện, ta thấy toát lên những biểu tượng mang ý nghĩa vũ trụ quan, nhân sinh quan sâu sắc. Trước nhất, điện thần Tứ Phủ là một mô thức vũ trụ thu nhỏ với hai cặp Thiên - Địa, Rừng Núi - Sông Nước (Sơn - Thủy), trong đó cặp Thiên - Địa (dương - âm, đực - cái) là cặp trụ cột của hệ thống Tứ Phủ. Cũng từ đây gắn với các quan niệm về tứ phương, ngũ phương, ngũ hành (Bà Mộc, Bà Thủy, Bà Hoả, Bà Kim, Bà Thổ). Trong một vũ trụ được quan niệm như vậy Mẫu - Mẹ, nữ tính thâu tóm quyền năng sáng tạo, sinh sôi và bảo trữ. Đó là một vũ trụ mang tính ""nhất nguyên"" (nguyên lý Mẫu) nhưng ""lưỡng cực" (âm - dương, nữ tính - nam tính). Ở đây một lần nữa chúng ta thấy việc thờ nữ thần chính là cách nhân hoá việc thờ các lực lượng tự nhiên.

    Ở tầm vĩ mô, Tam phủ, Tứ Phủ đồng nhất với vũ trụ, trời đất, còn ở tầm vi mô, Tứ Phủ lại mô phỏng như một gia tộc, theo quan niệm truyền thống ""nhân thân tiểu thiên địa"". Hơn thế nữa, đó còn là một gia tộc đã được cung đình hóa. Cao nhất có Cha - Mẹ, Vua Cha - Thánh Mẫu, có các quan, các Chúa, các Ông Hoàng, có các Cô, các Cậu... Lễ tiết thì có “tháng giỗ Cha , tháng giỗ Mẹ”. Cô, Cậu đều là các vị thánh hiển linh từ những chàng trai, cô gái chết trẻ, mà không phải khó khăn lắm để có thể nhận ra một hình thức thờ Bà cô, Ông mãnh của bất cứ gia tộc, dòng họ nào.
    Cung đình hóa một điện thần là điều dễ nhận biết nhất, thông qua cách thức bài trí, hệ thống xưng hô, trang phục của các linh tượng và của các vị Thánh khi giáng đồng. Đấy là chưa kể, các thần tích của khá nhiều vị Thánh đều được gắn cho các chức vị, nào là công chúa, hoàng tử của các triều đình kể từ thời Hùng Vương đến sau này, nào là các quan văn, quan võ lừng danh một thời. Cách bài trí nào "tam toà"", "lục viện"", y hệt triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Tất cả những cái đó đều nói lên một điều khi con người tạo ra thần thánh cho mình thì chính mô thức xã hội con người lại trở thành hệ quy chiếu cho ""xã hội"" thần thánh.


    Last edited by phoquang; 04-02-2016 at 12:37 AM.

  18. #98
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,246

    Mặc định

    Tục thờ cúng thánh mẫu của Việt Nam
    CÁC BAN THỜ TRONG CÁC ĐỀN - PHỦ - ĐIỆN THỜ THÁNH MẪU

    ( Nguồn: http://lichsuhuyenbivietnam.blogspot...-viet-nam.html )





    Một là: Ngọc Hoàng, vị Thánh cao nhất trong đạo Mẫu, có ban thờ riêng trong các đền và phủ, tuy nhiên vai trò của Ngọc Hoàng trong nghi lễ và thờ cúng, cũng như trong tâm thức dân gian của người Việt rất mờ nhạt.

    Hai là: Tam toà thánh Mẫu gồm Mẫu Thuợng Thiên, Mẫu Thuợng Ngàn, Mẫu Thoải, Địa Tiên Thánh Mẫu họ là biểu trung cho quyền năng sáng tạo vũ trụ duy nhất, nhung lại hoá thân thành Tam vị, Tứ vị Thánh Mẫu cai quản các miền khác nhau của vũ trụ: Trời, đất, nuớc và thuợng ngàn.

    Ba là: Ngũ vị Vương Quan, các vị đều mặc võ quan, mang kiếm hay kích, màu sắc võ phục thì tuỳ thuộc các vị thần ở các phủ như: Thoải phủ mặc màu trắng, Thiên phủ mặc màu đỏ, Nhạc phủ mặc màu xanh, Địa phủ mặc màu vàng. Quan lớn Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ đều thuộc Thoải phủ, dòng Long Vuơng Bát Hải.

    Bốn là: Tứ vị Thánh bà hay Tứ vị Chầu bà đuợc hoá thân, phục vụ trực tiếp Tứ vị Thánh Mẫu. Chầu Đệ Nhất hoá thân của Mẫu Thuợng Thiên, Chầu Đệ Nhị hoá thân của Mẫu Thuợng Ngàn, vị Thánh thống soái trong các hàng Chầu, cai quản vùng núi non, sơn cuớc. Khi giáng trần bà mặc sắc phục Mán, màu xanh, đặc trưng cho Nhạc phủ. Trong Nhạc phủ cùng với Chầu Đệ Nhị còn có Chầu Lục và Chầu Bé. Chầu Lục gốc nguời Nùng ở Hữu Lũng(Lạng Sơn), Chầu Bé ở Bắc Lệ(Lạng Sơn). Còn Chầu Muời gốc nguời thổ, tương truyền đã có công giúp Lê Lợi đánh tan quân Liễu Thăng, trấn ải Chi Lăng, được thờ ở Đồng Mỏ(Lạng Sơn). Chầu Đệ Tam là hoá thân của Mẫu Thoải. Đó là vị Thánh có dáng vẻ u buồn, y phục và khăn trùm màu trắng. Chầu Đệ Tứ là vị Thánh giữ vai trò khâm sai Tứ Phủ. Tuy đứng đầu Địa Phủ, có khi bà hoá thân duới dạng Chầu Thoải phủ, khi giáng trần bà mặc áo trắng, múa đôi mái chèo; khi lại hoá thành Thánh Mẫu Thiên phủ, mặc áo đỏ, múa quạt(Chầu Đệ Tứ khâm sai Thuợng Thiên).

    Năm là: Ngũ vị Hoàng tử được gọi tên từ Ông Hoàng Đệ Nhất đến Ông Hoàng Muời. Tương truyền, cũng như các Quan, các ông hoàng đều có gốc tích là con trai Long Thần Bát Hải Đại Vuơng ở hồ Động Đình, tuy nhiên, theo địa phương hoá thì các ông Hoàng đều gắn với một nhân vật nào đó ở cõi nhân gian là những danh tướng có công dẹp giặc cứu nuớc, những người khai sáng, mở mang đất nước. Trong số mười ông Hoàng thì thuờng có sáu ông giáng đồng, có ba ông giáng rất thuờng xuyên, đó là Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bẩy, và Ông Hoàng Muời. Khi các ông giáng đồng, các Ông Hoàng có phong cách gần giống các Quan lớn, tuy nhiên có phần phong nhã, vui tươi hơn.

    Sáu là: Thập nhị Vuơng cô, từ cô Cả (Cô Đệ Nhất) đến cô thứ 12 (Cô Bé), đều là các thị nữ của Thánh Mẫu và các Chầu. Tuy nhiên, khi giáng đồng các Cô có thể hoá thân vào vai trò khác nhau của Tứ Phủ. Cô Đệ Nhất là thị nữ của Mẫu Thuợng Thiên, mặc rất đẹp, Cô Đôi là thị nữ của Mẫu Thuợng Ngàn, khi giáng trần với hai bông hoa cài trên mái tóc. Cô Bơ(Ba) thuộc thuỷ phủ rất nổi tiếng với y phục màu trắng, thắt lung hồng , múa điệu chèo đò. Cô chữa bệnh cứu nguời bằng cách ban nuớc uống, nhưng cũng có thể gieo bệnh nếu kẻ nào đó làm trái ý Cô. Cô thứ Tư là thị nữ của Chầu Đệ Tứ, Cô Năm thuộc Chầu Đệ Ngũ, nhưng cũng có khi đuợc hoá thân là thị nữ của Mẫu Thuợng Ngàn hay Thuợng Thiên, cô thuờng xuất hiện trong các bữa tiệc. Cô Sáu phủ Thuợng Ngàn, ăn mặc áo chàm, đeo túi hoa, tóc cài hoa rừng, lung thắt con dao nhỏ, đi hái thuốc chữa bệnh cứu nguời. Cô Chín là thị nữ của Mẫu Thuợng Ngàn, giáng trần cô nói tiếng Mán, tiếng Muờng, cô múa đuốc soi đuờng, thêu hoa trên vải. Cô cai quản Đền Sòng Sơn (Lạng Sơn), là một nữ thần rừng rất linh thiêng. Cô thứ Muời Hai còn gọi là Cô Bé Bắc Lệ, Cô Bé Thuợng Ngàn, đền thờ cô ở Bắc Lệ.

    Bẩy là: Thập nhị Vuơng cậu, là những nguời chết trẻ, từ 1 – 9 tuổi, hiển linh thành các bé Thánh. Nguời ta không biết rõ đầy đủ về 10 hay 12 vị thuộc hàng Cậu, họ là các phụ tá của các Ông Hoàng. Thuờng thì, lần lên đồng nào cũng có giá Cậu Bơ và Cậu Bé. Đó là các giá đồng với tính cách phóng túng, nghịch ngợm, quần áo kỳ cục, lời nói ngọng nghịu của trẻ con, kèm theo các điệu múa lân hay múa hèo khá sôi nổi.

    Tám là: Quan ngũ Hổ và Ông Lốt( Rắn ), nơi thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía duới điện thờ Mẫu. Phía trên điện thờ chính, có hình tuợng đôi Bạch Xà vắt ngang. Trong quan niệm dân gian, Hổ là vị chúa cai quản vùng rừng núi, còn Rắn là thần ở nơi sông nuớc. Hổ thuờng đuợc vẽ năm con hổ màu sắc khác nhau, trong đó Hoàng Hổ (Hổ vàng) trấn phuơng Trung tâm (địa khu), Hắc Hổ (Hổ đen) trấn phuơng Bắc (Thuỷ khu), Bạch Hổ(Hổ trắng) trấn phuơng Tây(Kim khu), Xích Hổ ( Hổ đỏ ) trấn phuơng Nam (Hoả khu), Thanh Hổ (Hổ xanh) trấn phuơng Đông (Mộc khu). Trong thờ Mẫu Tứ Phủ hay trong tín nguỡng dân gian, hình tuợng Hổ là biểu tuợng cho sức mạnh thiêng liêng, có thể trừ diệt ma tà, trấn giữ các phuơng, là thần linh canh cửa ở các ngôi đền.

    Chín là : Vương Phụ Vương Mẫu ( Lê Thái Công và Thái Bà ) và các vị Tổ Tiên Sinh ra Thánh Mẫu. Là những nguời có công sinh thành ra Thánh Mẫu khi Ngài giáng xuống trần gian.


    AM TÒA THÁNH MẪU

    Đệ nhất Địa tiên thánh mẫu
    Thánh giá đệ nhất Sòng sơn – thánh mẫu Địa tiên – Liễu Hạnh công chúa
    Sắc phong
    Chế thắng hòa diệu đại vương – Khâm duy mã vàng bồ tát – tái cấp gia ban đệ nhất Quỳnh Hoa – đệ nhị Tiên nương – đệ tam Quảng hàn thượng đẳng tối linh thần – Mẫu nghi thiên hạ – Nam thiên bất tử.
    Đệ nhất Địa tiên thánh mẫu
    Trải qua ba lần giáng sinh và tu tiên hóa Phật bà thường xuyên anh linh hiển hóa khắp Bắc Trung Nam, Đồng Đăng, Tuần Quán Yên Bái, Nghệ An, Tây Hồ, Huế, Buôn Mê Thuột, Nga Sơn, Sòng Sơn, Phủ Dày …

    Đền Chính của Mẫu đệ Nhất
    Quần thể Phủ Giầy(phủ nấp,phủ vân cát,phủ bóng,)Phủ Tây hồ,Sòng sơn,Đồi Ngang Phố Cát,Đền Rồng ,Đền Nước.

    Đệ nhị Thượng ngàn thánh mẫu

    Thánh giá Đệ nhị thượng ngàn tiên chúa

    Sắc phong

    Đệ nhị thượng ngàn Na Bình công chúa – Lê Mại đại vương diệu tín thiền sư – Chế thắng hòa diệu đại vương thượng đẳng tối linh thần – Đệ tứ nhạc tiên Bạch Anh Quản Trưởng sơn lâm công chúa.

    Đền thờ chính của Mẫu Đệ nhị

    Đền Đá đen, đền thượng – trung – hạ Ba Vì, đền Ba Cây, đền Tam Đảo, đền Đông Cuông, đền Bắc Lệ và các đền trên thượng ngàn.

    Đệ tam Thủy cung thánh mẫu

    Thánh giá Đệ tam thủy cung công chúa

    Sắc phong

    Đệ tam thủy tinh công chúa – Khâm Mông Ngọc nữ Động Đình hồ – Đệ tam xích lân long nữ Động Đình hồ.

    Mẫu Thoải được hiểu như là Nam hải quan âm – Thủy tạng bồ tát – Hàn sơn thánh mẫu thượng đẳng tối linh thần – Chế thằng hòa diệu đại vương.

    Đệ tam Thủy cung thánh mẫu

    Đền thờ chính của Mẫu đệ tam

    Đền Bắc Ninh, đền Nước, đền Cờn, đền Kỳ Anh, đền Lý Nhân, đền Mẫu Thoải Gia Lâm, đền Lộ, đền Rầm, đền Sở, đền Cửa sông và các cửa sông cửa biển.

    NGŨ VỊ TÔN QUAN

    Quan Lớn Đệ Nhất

    Đệ Nhất Thượng Thiên Hoàng thái tử Vương Quan

    Phong danh hiệu

    Dân gian gọi là Đức Thánh Cả, là Tôn quan đệ nhất. Tước phong Đào tiên đệ nhất – Điều thất hoàng thái tử Vương Quan thượng đẳng tối linh thần. Danh hiệu vua phong Tham nghị triều chính Vương Quan.

    Ngài trực tiếp hầu cận bên phải đền vua cha Bát Hải Động Đình (đền Đồng Bằng) thay quyền và đại diện cõi nhân gian, thừa hành Tam giới, tâu đối tội phúc nhân danh cõi thượng thiên (trên trời).

    Quan Lớn Đệ Nhị

    Sắc phong

    Nhạc thần đại vương – Đô đài giám sát – Đệ nhị thượng ngàn giám sát đại vương thượng đẳng tối linh thần.

    Đền Ngài phía tay trái đền Đồng Bằng và được thờ trấn ở Tây Bắc Lào Cai, Đông Bắc Lạng Sơn, phía Nam Phố Cát.

    Quan Lớn Đệ Tam

    Đệ Tam Thượng thiên hoàng thái tử vương quan

    Sắc phong

    Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương thượng đẳng tối linh thần.

    Đền thờ Ngài được lập ở Lạng Sơn, Hưng Yên,Lảnh giang linh từ (Nam Hà) và các cửa sông. Đền Ngài còn ở Thái Bình đằng sau đền Đồng Bằng phía đường 10 đi Hải Phòng.

    Quan lớn Đệ Tứ

    Quan lớn Khâm Sai quyền cai tứ phủ

    Sắc phong

    Thiên Hựu đại vương thượng đẳng tối linh thần.

    Đền thờ Ngài ở đền Mẫu Sinh và đền Thánh Hóa. Đền thờ Ngài còn ở sau đền Đồng Bằng phía đường 10 đi Hải Phòng.

    Quan lớn Đệ Ngũ

    Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh

    Sắc phong

    Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần – Cao Lỗ đại vương – Đệ ngũ Tuần Tranh

    Ngọc Hoàng ban cho Ngài thống lĩnh thiên địa binh, thay quyền tam tứ phủ đại diện cho con người (nhân vi chúa tể), thu chấp kim ngân tài mã, giải oan nghiệp sớ cho trần gian.

    Đền Ngài được lập ở đền Kỳ cùng Lạng Sơn,Đền Ninh Giang Hải dương và các cửa sông vùng duyên hải.

    THẬP NHỊ TIÊN NƯƠNG

    Mười hai vị chầu bà cai quản khắp trên rừng dưới nước, khắp bốn phương tám hướng trên đất Việt Nam ta.

    1. Chầu bà đệ nhất – Đệ nhất thượng thiên công chúa

    Chầu bà đệ nhất được dân ta huyền hóa qua đời thứ nhất mẫu Liễu giáng ở Vị Nhuế, Nam Định.

    Ngài là hiện thân của Thánh Mẫu đệ nhất, thuộc dòng đi tu, ít khi ngự đồng. Trang phục của Ngài là áo đỏ khăn hồng (khăn buồm). Ngài làm việc trong nội cung phủ Giầy.

    Sắc phong Đệ nhất hoa nương công chúa làm việc thượng thiên – Đệ nhất thượng thiên công chúa.

    Thập nhị Tiên nương

    Mười hai vị chầu bà cai quản khắp trên rừng dưới nước, khắp bốn phương tám hướng trên đất Việt Nam ta.

    2. Chầu bà đệ nhị

    Chầu bà đệ nhị thượng ngàn công chúa theo dân gian tương truyền là con gái gia đình người Mán ở Đông Cuông, tên húy là Lê Thị Kiệm, vợ của ông Hà Văn Thiên, người Tày được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông.

    Bà là hóa thân của Mẫu đệ nhị của chúa. Bà là hình mẫu của dân ta trên cõi thượng ngàn. Quyền của chầu bà là cai quản 36 động sơn trang đất được sắc phong là Đông Cuông, Tuần Quán, Bảo Lạc, Hà Giang, Tuyên Quang.

    Chầu bà hạ sinh vào giờ dần ngày Mão tháng giêng năm Thân. Có tích nói ngày Mão tháng Mão năm Thân thuộc thời Lê là con vua Đế Thích thiên đình.

    Ngày tiệc của Bà là ngày mão đầu tiên của năm.

    3. Chầu bà đệ tam

    Đệ tam thủy tinh công chúa là sự hiện hóa của Mẫu đệ tam.

    Đền thờ chầu ở đền Rồng, đền Nước, đền Hàn Thanh Hóa, đền Mẫu Thoải Lạng Sơn và các cửa sông cửa bể.

    4. Chầu bà đệ tứ

    Đệ tứ tùy tòng công chúa theo tương truyền là bà Chiêu Dung công chúa, là tùy tướng của Hai Bà Trưng, một trong tám tướng hồng nương. Chầu mặc áo vàng chít khăn buồm, hiện có đền chầu ở phủ Giầy, đền Cây Thị Thanh Hóa, Đền Thượng Lào Cai, đền chầu đệ tứ Gia Lâm.

    Chầu là tùy tòng hầu cận bên Mẫu tam tòa, làm việc nội cung quản lý sổ sách trần gian.

    5. Chầu đệ ngũ suối Lân

    Tương truyền Ngài là công chúa thời Lý, tu trên suối Lân (không biết trong hoàn cảnh nào). Chầu bà có công với dân với nước các đời Trần, Lê, Nguyễn qua đó đánh giặc Ngài hiển linh. Chầu độ cho nhân dân và dân buôn bán khách lữ hành qua đường thiên lý đền thờ Chầu hiện nay ở cửa Rừng suối Lân Lạng sơn. Các triều đại gia phong anh hùng liệt nữ.

    6. Chầu lục cung nương (Mế lục cung nương, lục cung đô thống)

    Theo tương truyền Chầu là con gái tù trưởng người Nùng Hữu Lũng Lạng Sơn, mẹ là công chúa nhà Trần, hạ sinh vào thượng tuần tháng 9 ngày 10 năm Thân. Chầu là hiện thân của Mẫu Liễu Hạnh, con vua cha Ngọc Hoàng, làm rơi chén ngọc nên bị đầy xuống trần gian 15 năm.

    Đền thờ Chầu ở Hữu Lũng(Đền 94) Lạng Sơn, Cây Xanh Tuyên Quang.

    7. Chầu bảy Tân La

    Theo tương truyền Chầu là tướng của Hai Bà Trưng hạ sinh ở Mỏ Bạch Thái Nguyên, khi thất thế Chầu hóa thân tại Tân La Hưng Yên.

    Chầu anh linh giúp dân giúp nước, các đời truy tặng anh hùng liệt nữ. Đền thờ Chầu ở Tân La, Mỏ Bạch…

    8. Chầu bát

    Chầu tám thượng ngàn, Bát nàn đại tướng Đông Nhung quê ở vùng Phượng Lâu Bạch Hạc. Chầu dấy binh khởi nghĩa theo Hai Bà Trưng, sau khi thất thủ Chầu rút chạy từ Đồng Mỏ về Thái Bình ẩn náu trong chùa Tiên La. Khi giặc Hán phát hiện đã bao vây, Chầu quyết một lòng kiên trung mở đường máu tử tiết ở giữa sân chùa anh linh đã dậy tiếng đồn khắp bốn phương nức tiếng âu ca đá vàng ghi tạc sử xanh muôn đời, trải qua các triều đại sắc phong anh hùng liệt nữ. Chầu về đồng mặc áo vàng chít khăn củ ấu, ra tay dấu 8 ngón, lưng đeo kiếm cờ khai quang múa kiếm múa cờ.

    Đền thờ Chầu ở Lạng Sơn (nơi Chầu đánh trận và để lại lá cờ thần), ở Tiên La Thái Bình (nơi Chầu ẩn náu và tiết khí hi sinh).

    9. Chầu cửu

    Chầu là hiện thân của Mẫu Liễu Hạnh qua các đời thi hiện cứu dân độ quốc bói linh chữa quyết hiển linh hiển ứng.

    10. Chầu mười Đồng Mỏ

    Mỏ ba công chúa là con gái tù trưởng ở đất Đồng Mỏ. Sinh thời Chầu giỏi võ và kiếm cung, khi vua Lê Thái Tổ hiệu triệu toàn dân đánh giặc, Ngài đã chiêu binh ra sức giúp triều đình. Sau khi giặc tan triều đình phong công. Chầu giúp dân lập ấp tế trợ cứu bần. Đến mùa thu Chầu mãn hạn về tiên. Triều đình phong tặng anh hùng liệt nữ, tiếng Chầu anh linh biến hiện khắp Bắc Trung Nam xa gần nô nức trảy hội Mỏ ba. Chầu được Ngọc Hoàng sắc phong Khâm sai bốn phủ – một trong những vị Chầu tối linh được nhân dân và con nhang đệ tử phụng sự loan giá.

    Chầu về ngự áo vàng khăn chữ nhân, ra tay dấu 10 ngón, lưng đeo kiếm cờ múa kiếm múa cờ ngự đồng loan giá phán chỉ thông truyền chứng lễ hoa quả lương thực.

    Đền thờ Chầu ở Chi Lăng Đồng Mỏ.

    11. Chầu bé Bắc Lệ

    Chầu bé Bắc Lệ công chúa là con gái người Nùng ở Hữu Lũng Lạng Sơn, bị giặc cưỡng bức đã hòa mình xuống sông Bắc Lệ. Chầu anh linh giúp dân giúp nước độ người viễn sứ tha hương, lúc lại hiện hóa ra người bán hàng, chữa bệnh.

    Ngài là hiện thân của Mẫu đệ nhị thượng ngàn.

    Đền thờ Chầu tại Đền Công Đồng Bắc lệ .

    12. Chầu bà bản đền

    Bản Đền công chúa tức thủ điện công chúa là hiện thân của các vị thánh Mẫu tùy vào bản đền đó và địa phương mà Ngài thị hiện, vì vậy Chầu về đồng các màu sắc, thường người hầu Chầu thủ đền vào đầu năm thì mặc áo hồng khăn hồng, cuối năm thì mặc áo xanh khăn xanh.

    Hiện nay người ta không hầu và cũng không biết đến giá Chầu nữa nhưng văn Chầu thủ đền và một số nơi vẫn được lưu giá và hầu Ngài.

    THẬP VỊ ÔNG HOÀNG

    Thập vị hoàng tử đều được quy về làm con vua cha Bát Hải Động Đình, đều hầu vua cha ở đền Đồng Bằng

    1. Thánh ông Hoàng Cả

    Tên húy Ngài là Đoàn Thượng ...

    Sắc phong tước hiệu Đông hải Đại vương.

    Đền thờ ở Lý Nhân, Nam Hà nhưng đã bị phá, nay được thờ phối hương với đền thờ bà Vũ Nương và ở đền Trung suối Mỡ (Bắc Giang)

    2. Thánh ông Hoàng Đôi

    Tên húy Ngài là Nguyễn Hoàng Triệu.

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng thần.

    Đền thờ Ngài ở Thanh Hóa (đền ông Hoàng Triệu), ở Hà Nội (đền Hoàng ở Chèm).

    3. Thánh ông Hoàng Bơ

    Tên húy của Ngài là Tống Khắc Bính, là thái tử con vua Nam Tống

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Thần.

    Đền thờ Ngài ở Thanh Hóa gần đền cô Tám. Đền thờ chính của Ngài là ở trên núi nhìn ra biển ở cửa Cờn, ngày nay người ta chuyển thành thờ ông Hoàng Chín,Đền Hưng long và đang được hưng công tại Thái Bình.

    Ngài hầu Mẫu ở đền Cờn, mẫu Hàn Sơn Thanh Hóa, làm việc thoải cung, là 1 trong 4 vị Khâm sai thay quyền vua Mẫu bốn phủ đi bắt lính nhận đồng. Ngài ngự áo xanh theo sắc phong bốn phủ, chít khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi ghệt tay ghệt chân, thắt đai vàng thành hoa trước ngực, múa hèo. Sau khi làm lễ khai quang, Ngài đi hèo ngự tọa, hiến tửu, nghe thơ, ban phát lộc tài. Đầu năm tháng Giêng, người ta hầu Ngài ngự áo đỏ khăn đỏ chứ không như bây giờ, mặc áo trắng. Có người lý luận rằng áo Ngài thì Ngài mặc nhưng trong tâm linh Việt Nam cho màu trằng là màu buồn nên đầu xuân kiêng mặc áo trắng.Như vậy mới là hóa thân bất tử giữa trần và âm. Đó là phong cách chứ không phải là sự đơn thuần.

    Ngài hạ sinh vào thời Nam Bắc Tống phân tranh. Sau khi nhà Nam Tống bị nhà Bắc Tống đánh bại, Ngài dong thuyền ra biển Đông và thác hóa. Thân y trôi vào cửa Cờn được ông Hoàng Chin lúc bấy giờ đang tu ở đó vớt lên chôn cất. Sau này Ngài phù Lý, Trần anh kinh hiển hách được nhân dân gọi là ông Hoàng Bơ Thoải. Đền thờ Ngài hiện nay đã bị những kẻ vô học chuyển thành đền ông Hoàng Chín. Ngưỡng mong những nhà nghiên cứu cũng như những người có chức có quyền và chức đồng đạo sớm trả lại đền thờ của Ngài theo đúng nghĩa

    4. Thánh ông Hoàng Tư

    Tên húy của Ngài là Nguyễn Hữu Cầu.

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Thần, Thủy Cung hoàng tử.

    Đền thờ Ngài ở Đồ Sơn. Nhân dân thường gọi là miếu Thủy thần.

    5. Thánh ông Hoàng Năm

    Tên húy là Hoàng Công Chất.

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Thần.

    Đền thờ Ngài ở Điện Biên

    6. Thánh ông Hoàng Sáu

    Tên húy Ngài là: ??????

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Thần.

    Đền thờ Ngài ở Phố Lu

    7. Thánh ông Hoàng Bảy

    Tên húy Ngài là Nguyễn Hoàng Bảy.

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Thần.

    Đền thờ Ngài ở Bảo Hà, Lào Cai.

    Ngài hẫu Mẫu Đông Cuông, làm việc Khâm sai bắt lính nhận đồng. Ngài ngự áo màu thắm, chít khăn mỏ rìu, đi mạng, mặc áo trấn thủ, đi ghệt tay ghệt chân, múa hèo đi “sang hồ”. Ngài ngự đồng làm việc quan sau đó ngự tọa phán truyền, ban lộc phát tài. Tất cả ai hầu đồng đều phải hầu Ngài. Ngài là 1 trong tứ vị Khâm sai.

    Ngày hạ sinh vào thời vua Lê chúa Trịnh quyền, thuộc dòng chúa Nguyễn, là em của ông Hoàng Triệu (tức ông Hoàng đôi). Ngài được triều đình phái lên vùng Văn Bàn, Lào Cai chống giặc biên giới, giáo hóa dân chúng. Sau khi tử trận thân Ngài trôi về Bảo Hà, được nhân dân vớt lên mai táng và lập đền thờ. Ngài anh linh hiện ứng, hộ quốc an dân. 17/7 là ngày tiệc Ngài.

    8. Thánh ông Hoàng Tám

    Tên húy Ngài là Nùng Chí Cao

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Đại Vương.

    Đền thờ Ngài ở Cao Bằng (đền Kỳ Sầm).

    9. Thánh ông Hoàng Chín

    Tên húy Ngài là ?????

    Sắc phong tước hiệu Thượng Đẳng Thần.

    Đền thờ Ngài ở phía đảo ngoài biển Cờn.

    Hiện nay người ta lập đền ông Chín trước mặt đền Thái tử (ông Hoàng Bơ) là sai. Sự nhầm lẫn này là thể hiện sự thiếu hiểu biết. Một số người ngự đồng Ngài, đeo kính di ba toong không khác gì ông thày bói, thật là lố bịch và bất kính. Thánh ông sinh từ thời Lý chưa có kính và ba toong. Ngài ngự đồng uống nước trà nhưng không hút thuốc. Tôi viết quyển sách này rất mong mọi người quan tâm đến đạo Mẫu, đồng bóng, nhìn nhận đúng đắn và trả lại đền Thái tử (ông Hoàng Bơ)

    10. Thánh ông Hoàng Mười

    Tên húy Ngài là Nguyễn Xí.

    THẬP NHỊ TIÊN CÔ

    1. Cô Đệ nhất, cô cả thượng thiên, cô cả Vân Đình

    2. Cô Đôi thượng ngàn.Sơn Tinh Công Chúa

    Cô Đôi là hình bóng của Chúa thượng hiện về để cứu giúp trần gian chữa bệnh. Cô được thờ phối hương ở đền Đông Cuông và đền Đồng Đăng. Cô là 1 trong tứ phủ Thánh Cô thay quyền vua Mẫu chấm lính nhận đồng.

    3. Cô Bơ thoải, cô Bơ thác Hàn, cô Bơ Bông

    Cô là công chúa con vua thuộc dòng họ Lê đất Thanh Hóa. Cô ba sinh trong thời Lê Mạc, giúp nhà Lê chống nhà Mạc. Khi nhà Mạc chiếm thành, thái tử nhà Lê chạy về Thanh Hóa, cô làm lái thuyền chở thái tử sang sông. Thái tử thấy nhan săc cô đẹp nên sinh lòng vẩn đục. Khi ra giữa dòng, cô nhảy xuống sông tự vẫn.

    Cô anh linh lững lẫy, Mẫu phong Cô là Quỳnh Hoa công chúa đứng hầu và là 1 trong tứ vị Thánh Cô chấm lính nhận đồng.

    4. Cô Tư Tây Hồ

    Cô theo tương truyền là quân của Hai Bà Trưng, là hình bóng của mẫu Liễu Hạnh, làm việc nội chính hầu hạ Mẫu trong cung điện. Cô ít ngự đồng, khi ngự đồng mặc áo vàng khăn vàng, làm lễ khai quang rồi xe giá.

    5. Cô Năm Đồng Tiền, cô Năm Sơn trang, cô Năm suối Lân

    Cô Năm Đồng Tiền ngự ở Đồng Tiền, Tuyên Quang. Cô là quân của Hai Bà Trưng anh linh hiển hóa thao hầu Mẫu Tuyên.

    Cô còn ngự ở đền Suối Lân hầu Chầu Năm Suối Lân

    6. Cô Sáu Sơn trang

    Cô hầu Mẫu Thượng Ngàn, hầu Mẫu Lục cung, Chầu Lục cung nương. Đền thờ Cô ở Chầu Lục Hữu Lũng (Lạng Sơn) và các vùng tràng châu như vùng Thanh Hóa.

    7. Cô Bảy Tân La, cô Bảy Mỏ Bạch, cô Bảy Kim Giao

    Tiên cô là võ sĩ theo hầu Chầu Bảy, người Mọi, đất Thái Nguyên, khi thất trận về Tân La thủ tiết cùng Chầu Bà.

    8. Cô Tám đồi chè

    Cô Tám hầu Mẫu Thượng và Mẫu Thoải, là tướng sĩ của Hai Bà Trưng. Đền thờ cô ở Hàn Sơn Thanh Hóa.

    khai quang, múa mồi và ban phát tài lộc.

    9. Cô Chín Cửu Tỉnh, cô Chín Sòng Sơn, cô Chín Âm Dương, cô Chín Thượng thiên, cô Chín Thượng ngàn, cô chín Giếng

    Tất cả là một Cô, anh linh lừng lẫy, được sắc phong la giáng là Quế Hoa công chúa thay quyền vua Mẫu chúa Chầu dưới cõi trần gian. Tiên cô là hiện thân của Mẫu Sòng Sơn. Cô còn là hình dáng của bà nẫu cháo khao quân sĩ vua Quang Trung trên đường ra Bắc. Tiên cô anh linh lừng lẫy khắp nơi vùng Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Thời Nguyễn cho phá miếu thờ Cô sau đó Minh Mệnh phải sắc phong, phục dựng tôn nhang đền thờ cô ở Sòng Sơn và tại đô thành Huế, Điện Hòn Chén. Cô ngự đồng khăn hồng áo hồng, múa quạt, múa khăn, dệt gấm, thêu hoa, làm thuốc chữa bệnh. Tiên cô là 1 trong tứ vị Thánh Cô chấm lính nhận đồng. Thế gian cho cô hay hành bệnh phàn vía, tức là bệnh đau đầu và điên rồ.

    10. Cô Mười Mỏ Ba

    Cô vốn là dòng người Nùng theo hầu Chầu Mười.

    11. Cô Bé Bắc Lệ, cô Bé Suối Ngang, cô Bé Na Sầm

    Tiên cô là người Nùng, quê nhà ở Suối Ngang, hầu Chầu Bé Bắc Lệ. Cô ngự đồng mặc áo xanh lam, khăn hoa, đội nón, khăn vành dây, tết tóc, thắt đai hoa giọt ngắn giọt dài đằng sau đằng trước. Tiên cô múa mồi, đi chợ, ban tài phát lộc. Tiên cô là 1 trong tứ vị chấm lính nhận đồng

    12. Cô Bé bản đền

    Bản đền công chúa là tiên Cô ở tại bản đền đó.

    THẬP NHỊ CÔ TIÊN

    1. Cô Đệ nhất, cô cả thượng thiên, cô cả Vân Đình

    2. Cô Đôi thượng ngàn.Sơn Tinh Công Chúa

    Cô Đôi là hình bóng của Chúa thượng hiện về để cứu giúp trần gian chữa bệnh. Cô được thờ phối hương ở đền Đông Cuông và đền Đồng Đăng. Cô là 1 trong tứ phủ Thánh Cô thay quyền vua Mẫu chấm lính nhận đồng.

    3. Cô Bơ thoải, cô Bơ thác Hàn, cô Bơ Bông

    Cô là công chúa con vua thuộc dòng họ Lê đất Thanh Hóa. Cô ba sinh trong thời Lê Mạc, giúp nhà Lê chống nhà Mạc. Khi nhà Mạc chiếm thành, thái tử nhà Lê chạy về Thanh Hóa, cô làm lái thuyền chở thái tử sang sông. Thái tử thấy nhan săc cô đẹp nên sinh lòng vẩn đục. Khi ra giữa dòng, cô nhảy xuống sông tự vẫn.

    Cô anh linh lững lẫy, Mẫu phong Cô là Quỳnh Hoa công chúa đứng hầu và là 1 trong tứ vị Thánh Cô chấm lính nhận đồng.

    4. Cô Tư Tây Hồ

    Cô theo tương truyền là quân của Hai Bà Trưng, là hình bóng của mẫu Liễu Hạnh, làm việc nội chính hầu hạ Mẫu trong cung điện. Cô ít ngự đồng, khi ngự đồng mặc áo vàng khăn vàng, làm lễ khai quang rồi xe giá.

    5. Cô Năm Đồng Tiền, cô Năm Sơn trang, cô Năm suối Lân

    Cô Năm Đồng Tiền ngự ở Đồng Tiền, Tuyên Quang. Cô là quân của Hai Bà Trưng anh linh hiển hóa thao hầu Mẫu Tuyên.

    Cô còn ngự ở đền Suối Lân hầu Chầu Năm Suối Lân

    6. Cô Sáu Sơn trang

    Cô hầu Mẫu Thượng Ngàn, hầu Mẫu Lục cung, Chầu Lục cung nương. Đền thờ Cô ở Chầu Lục Hữu Lũng (Lạng Sơn) và các vùng tràng châu như vùng Thanh Hóa.

    7. Cô Bảy Tân La, cô Bảy Mỏ Bạch, cô Bảy Kim Giao

    Tiên cô là võ sĩ theo hầu Chầu Bảy, người Mọi, đất Thái Nguyên, khi thất trận về Tân La thủ tiết cùng Chầu Bà.

    8. Cô Tám đồi chè

    Cô Tám hầu Mẫu Thượng và Mẫu Thoải, là tướng sĩ của Hai Bà Trưng. Đền thờ cô ở Hàn Sơn Thanh Hóa.

    khai quang, múa mồi và ban phát tài lộc.

    9. Cô Chín Cửu Tỉnh, cô Chín Sòng Sơn, cô Chín Âm Dương, cô Chín Thượng thiên, cô Chín Thượng ngàn, cô chín Giếng

    Tất cả là một Cô, anh linh lừng lẫy, được sắc phong la giáng là Quế Hoa công chúa thay quyền vua Mẫu chúa Chầu dưới cõi trần gian. Tiên cô là hiện thân của Mẫu Sòng Sơn. Cô còn là hình dáng của bà nẫu cháo khao quân sĩ vua Quang Trung trên đường ra Bắc. Tiên cô anh linh lừng lẫy khắp nơi vùng Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Thời Nguyễn cho phá miếu thờ Cô sau đó Minh Mệnh phải sắc phong, phục dựng tôn nhang đền thờ cô ở Sòng Sơn và tại đô thành Huế, Điện Hòn Chén. Cô ngự đồng khăn hồng áo hồng, múa quạt, múa khăn, dệt gấm, thêu hoa, làm thuốc chữa bệnh. Tiên cô là 1 trong tứ vị Thánh Cô chấm lính nhận đồng. Thế gian cho cô hay hành bệnh phàn vía, tức là bệnh đau đầu và điên rồ.

    10. Cô Mười Mỏ Ba

    Cô vốn là dòng người Nùng theo hầu Chầu Mười.

    11. Cô Bé Bắc Lệ, cô Bé Suối Ngang, cô Bé Na Sầm

    Tiên cô là người Nùng, quê nhà ở Suối Ngang, hầu Chầu Bé Bắc Lệ. Cô ngự đồng mặc áo xanh lam, khăn hoa, đội nón, khăn vành dây, tết tóc, thắt đai hoa giọt ngắn giọt dài đằng sau đằng trước. Tiên cô múa mồi, đi chợ, ban tài phát lộc. Tiên cô là 1 trong tứ vị chấm lính nhận đồng

    12. Cô Bé bản đền

    Bản đền công chúa là tiên Cô ở tại bản đền đó.

    em thấy hình như các thông tin của anh về Tứ Phủ Thánh Cô hình như nhiều điều chưa thực sự chính xác thì phải ạ, chả hạn như tích về Cô Tám, hình như sự tích của Cô là:

    Cô Tám là tiên cô giáng thế cùng thời với Cô Bơ Thác Hàn, có huyền tích lịch sử riêng chứ không liên quan gì đến Chầu Bát và cô thuộc Nhạc Phủ chứ không phải thuộc Địa Phủ như mọi người vẫn lầm tưởng. Có một số ý kiến thống nhất rằng, cô giáng sinh dưới thời Lê Thái Tổ dấy binh khởi nghĩa, cô là người thiếu nữ trồng hái búp chè tại vùng Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hoá. Cô cũng có công giúp vua trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm nên khi thác hoá về trời, cô được phong công lập đền thờ, trấn giữ một bên bến song Đò Lèn, Phong Mục. Cô sinh thời là người con gái đảm đang nết na tần tảo, hái búp chè xanh trên đồi thường dung làm thuốc chữa bệnh nên mọi người thường tôn hiệu là Cô Tám Đồi Chè. Khi thanh nhàn, cô thường đủng đỉnh dạo chơi khắp vùng Hà Trung, Thanh Hoá, cũng có khi cô hiện hình bẻ lái con thuyền độc mộc trên dòng sông Mã.

    Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Tám Đồi Chè hiếm khi về ngự đồng, chỉ có người nào sát về Cô Tám hoặc khi hầu đón tiệc tháng 6 tại các đền ở vùng Thanh Hoá. Cô Tám Đồi Chè ngự đồng thường mặc áo xanh quầy đen ( có nơi là áo tím hoa cà ) . Cô Tám cũng khai quang sau đó múa mồi, sau đó thường là múa tay tiên các điệu như người đi hái chè trên non. Hiện nay đền thờ Cô Tám Đồi Chè được thờ riêng tại đền cô thuộc đất Phong Mục, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nếu đi từ đền Cô Bơ sang thì qua đò Lèn, đền cô rất khang trang nhưng ít người biết tới.

    TỨ PHỦ THÁNH CÔ

    1, Cô Đệ Nhất Thượng Thiên

    Cô Nhất Thượng Thiên. Cô cũng vốn là con Vua Cha dưới Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thiên Cung Công Chúa trên Thiên Đình. Có người nói rằng cô cũng với Cô Chín hầu cận bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (tức Mẫu Liễu Hạnh) lại có nơi quan niệm cô là Tiên Cô kề cận, tay biên tay chép kề bên Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (tuy nhiên do có quan niệm là Mẫu Đệ Nhất cũng chính là chầu cho nên hai ý kiến này hầu như là thống nhất với nhau). Cô giá ngự trong cung tòa, cận bên Mẫu cho nên khi đến các đền phủ người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Vua Mẫu Đình Thần Tứ Phủ. Khi thanh nhàn cô cưỡi gió cưỡi mây rong chơi khắp chốn, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa cho đến tận Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Định... Cô là tiên cô thần thông lục trí, cô chấm đồng người nết na thảo hiền rồi đem về tiến Mẫu trong Đền Sòng Sơn. Cô Nhất khá ít khi ngự đồng, chỉ những người sát căn cô mới hay hầu cô hoặc trong các dịp khai đàn mở phủ Cô Nhất về chứng đồng tân lính mới. Khi ngự về Cô Nhất mặc áo màu đỏ (áo gấm hoặc áo lụa thêu phượng), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), thắt khăn và vỉ lét đỏ. Cô làm lễ khai cuông rồi múa quạt. Cô Nhất thường được thờ vào ban Tứ Phủ Thánh Cô ở trong các bản đền. Cũng có một số người nói rằng có đền cô là Đền Cô Nhất ở trong đất Nghệ An giáp Thanh Hóa với món đặc sản bánh ngào.

    2, Cô Đôi Thượng Ngàn

    Cô vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa, ra vào hầu cận bơ tòa Vua Mẫu trong điện ngọc, nơi tiên cảnh. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm, khi hạ sinh, Cô Đôi rất xinh đẹp: da trắng, tóc xanh mượt mà, mặt tròn, lưng ong thon thả. Sau này cô quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn cô về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục. Cô Đôi cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn. Cô Đôi Thượng rất hay ngự về đồng, vì danh tiếng cô lừng lẫy ai ai cũng biết đến, đệ tử cô đông vô số và cô cũng hay bắt đồng. Trong đại lễ khai đàn mở phủ người ta thường dâng lễ vàng cây lên 5 tiên cô là Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín và Cô Bé, trong đó Cô Đôi thường là giá cô ngự về đầu tiên (mở khăn cho hàng cô) để chứng lễ. Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa. Cô về đồng thường khai cuông rồi múa mồi, múa tay tiên hái tài hái lộc cho đồng tử. Vì Cô Đôi Thượng hầu cận bên Mẫu Đông Cuông nên đền cô cũng được lập gần Đền Đông Cuông, trong đền thờ Cô Đôi và Cô Bé Đông Cuông, cách đền chính khoảng 500m, trước cửa đền có giếng nước quanh năm trong mát. Nhưng chính đền của cô lại là Đền Cô Đôi Thượng Ngàn tại xã Nho Quan, Ninh Bình (qua rừng quốc gia Cúc Phương) thuộc làng Bồng Lai . Khi cô ngự đồng văn thường hát .

    3. Cô Ba Thoải Cung

    Cô vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai.

    Đến ngày 2/8 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này).

    Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.

    Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn

    Đền cô là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng

    4. Cô Tư Ỷ La, Cô Tư Địa Phủ

    Cô Tư Ỷ La cũng vốn là con vua Đế Thích chính cung. Theo lệnh vua cha, cô theo hầu Mẫu Thượng Ngàn tại đất Tuyên Quang. Về sau, nơi Mẫu giá ngự đó, người ta lập đền Mẫu Ỷ La nên cô cũng được gọi là Cô Tư Ỷ La. Tương truyền rằng, Mẫu bà rất yêu quý, thường cho Cô Tư kề cận bên mình. Vậy nên đúng như các tư liệu ghi lại thì chính xác là Cô Tư hầu cận Mẫu Thượng Ngàn chứ không phải cô hầu cận Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai như chúng ta vẫn thường nghĩ. Ngoài ra Cô Tư còn có một danh hiệu khác là Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ. Qua ước đoán, có thể suy ra rằng danh hiệu này là do Cô Tư đã từng giáng hiện tại đất Tây Hồ, Hà Nội rong chơi, và điển hình nhất là hiện nay vẫn có ban thờ Cô Tư tại đình Tứ Liên; một ngôi đình cổ nằm ở gần Phủ Tây Hồ, Hà Nội.

    Trong hàng Tứ Phủ Tiên Cô, Cô Tư Ỷ La thường hiếm khi thấy ngự về đồng nên nếu nói về y phục cũng như cung cách khi hầu giá Cô Tư hiện giờ là rất khó. Tuy nhiên theo phỏng đoán của người viết thì có thể khi hầu giá Cô Tư Ỷ La thường mặc xiêm áo màu vàng nhạt, cô có thể khai cuông và múa mồi hầu Mẫu (đây chỉ là ý kiến cá nhân đưa ra để mọi người tham khảo). Hiện nay Cô Tư vẫn được coi là thờ chính cung hầu Mẫu Thượng Ngàn trong đền Mẫu Ỷ La thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, như đã nói ở trên, Cô Tư còn được thờ vọng trong Đình Tứ Liên ( xưa gọi là Đình làng Ngoại Châu), phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi các thanh đồng hầu tráng mạn đến giá Cô Tư,

    5. Cô Năm Suối Lân

    Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm, cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.

    Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn).

    6. Cô Sáu Lục Cung, Cô Sáu Sơn Trang

    Cô cũng vốn là thánh cô nguyên tích là người Nùng ở đất Hữu Lũng, Lạng Sơn. Có thuyết thì nói rằng Cô Sáu là tiên cô kề cận bên cửa Chúa Thượng Ngàn ở đất Trang Châu (chưa xác định rõ), còn lại đa phần đều thống nhất rằng Cô Sáu là người kề cận Chầu Lục Cung Nương nên cô mới được gọi là Cô Sáu Lục Cung hay còn có danh khác là Cô Sáu Sơn Trang. Khi nhân dân lập đền thờ phụng Chầu Bà, vẫn thỉnh Cô Sáu là cô trấn bản đền Lục Cung. Ngoài ra, theo một số tích cũ kể lại, Cô Sáu Lục Cung sinh thời là người con gái xinh đẹp nết na, lại có tài chữa bệnh, cô thường đi khắp rừng sâu núi thẳm để hái thuốc cứu người vậy nên khi hiển thánh, Cô Sáu vẫn thường được muôn dân tôn là tiên cô có tài chữa bệnh cứu người, dân chúng khắp nơi về cửa cô để xin thuốc tiên trị bệnh. Cô Sáu Sơn Trang cũng nổi tiếng đành hanh trên đời, nghiêm khắc trừng trị kẻ nào nhạo báng cửa cô.

    Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Sáu Lục Cung rất hay về ngự đồng. Các thanh đồng đạo quan thường thỉnh bóng Cô Sáu Sơn Trang ngự đồng không chỉ có khi về đền Lục Cung, về đất Lạng Sơn mà cả khi khai đàn mở phủ hay trong cả những dịp hầu vui, đón tiệc tiên thánh. Cô Sáu ngự đồng thường mặc áo lam hoặc áo tím chàm (ngắn vạt rộng tay). Cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi như các tiên cô trên Thượng Ngàn khác. Hiện nay Cô Sáu Lục Cung chính là thánh cô trấn giữ bản đền Lục Cung Chín Tư, cung thờ cô được xây ngay cạnh chính cung đền Chầu Lục Cung Nương (Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn).

    7. Cô Bảy Tân La, Cô Bảy Kim Giao, Cô Bảy Mỏ Bạch

    Cô Bảy Kim Giao. Cô vốn cũng là một tiên cô người dân tộc Mọi ở đấy Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên. Theo một số tích nói rằng cô cũng là người kề cận bên Chầu Bảy nên cũng được gọi là Cô Bảy Kim Giao hay còn có hiệu khác là Cô Bảy Tân La ( khi cô được theo hầu cận Chầu Bảy tại đền Tân La). Tương truyền rằng cô cũng là vị thánh cô có công giúp người dân Mọi biết trồng trọt chăn nuôi rồi cô cũng có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Vậy theo một số tài liệu thì chính xác Cô Bảy là Cô Bảy Kim Giao hay Cô Bảy Tân La (theo hầu Chầu Bảy Kim Giao) chứ không phải là Cô Bảy Tân An (theo hầu Ông Bảy Bảo Hà ) như một số người vẫn nói. Còn có sự tích nói rằng, đêm đêm cô thường hội họp cùng các bạn tiên nàng, mắc võng đào giữa hai cây kim giao rồi cùng đàn hát.

    Trong hội đồng Thánh Cô, Cô Bảy Kim Giao là một trong số các cô ít khi ngự đồng nếu không nói là hầu như không thấy. Vậy nên nếu để nói đến y phục và cung cách hầu giá Cô Bảy là rất khó, theo phỏng đoán của người viết thì có thể giá Cô Bảy Kim Giao mặc áo tím hoặc chàm xanh, cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay, Cô Bảy vẫn được thờ làm cô bản đền tại chính cung Đền Kim Giao (Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên) và còn cả tại đền Tân La ( Dốc Lã, Bảo Khê, Hưng Yên). Khi hầu tráng mạn đến giá Cô Bảy Kim Giao

    8, Cô Tám Đồi Chè

    Đã bổ sung ở trên

    9. Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Thượng Ngàn

    Cô Chín Sòng Sơn :Còn gọi là cô Chín Giếng , một tiên cô tài phép , theo hầu Mẫu Sòng , lại có tài xem bói,1000 quẻ cô bói ra thì ko sai một quẻ nào,Cô có phép thần thông quảng đại , ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách , rồi cô hành cho dở điên dở dại , sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứ Thanh , ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản .

    Cô Chín Sòng Sơn :Còn gọi là cô Chín Giếng , một tiên cô tài phép , theo hầu Mẫu Sòng , lại có tài xem bói,1000 quẻ cô bói ra thì ko sai một quẻ nào,Cô có phép thần thông quảng đại , ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách , rồi cô hành cho dở điên dở dại , sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứ Thanh , ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản .

    Còn có truyền thuyết về cô : Cô là Tiên Nữ hầu Mẫu trong đền Sòng , quản cai chín giếng , cô dạo chơi bốn phương khắp ngả trời Nam , sau về đến đất Thanh Hóa cảnh lạ vô biên , cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát , lấy gỗ cây sung làm nhà ,còn cây si thì cô mắc võng , nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa , cách đền Sòng Sơn khoảng 30km.Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai , có khi cô máu quạt tiến Mẫu , múa cờ tiến Vua , cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa , rồi lại múa cánh tiên .Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật : Nón đỏ hài hoa vòng hồng để dâng cô đều được cô chứng minh .Ở một số địa phương đều thờ cô và tôn với các danh khác như Cô Chín Rồng , Cô Chín Suối nhưng chính đều là Cô Chín Sòng được thờ phụng

    10. Cô Mười Mỏ Ba

    Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba , giúp vua đánh giặc Ngô ,khi ngự về cô mặc áo vàng cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc , sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười

    11. Cô Bé Thượng Ngàn, là Tiên Cô mà tên gọi thường được đặt theo tên các địa danh, các đền thờ

    Các vị cô bé đều là những bộ nàng trên Tòa Sơn Trang, hầu Mẫu Thượng Ngàn, có rất nhiều cô bé trên khắp các cửa rừng lớn nhỏ.

    Các cô về mặc quần áo thổ cẩm, chân quấn xà cạp, đeo kiềng bạc, tay cầm ô, vai đeo gùi. Các cô bé gồm:

    a,Cô Bé Thượng Ngàn (Thị Xã Lạng Sơn)

    b,Cô Bé Suối Ngang (Hữu Lũng)

    c,Cô Bé Đèo Kẻng (Thất Khê)

    d,Cô Bé Đông Cuông (Yên Bái)

    e,Cô Bé Tân An (Lào Cai)

    Từ rất xa xưa, bên bờ sông Hồng tại thôn Tân An 2 thuộc xã Tân An, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, đã có một ngôi Đền gọi là Đền Cô Tân An (còn gọi là Đền Cô Bé Thượng Ngàn), là nơi thờ tự một nữ chúa có tên húy là Hoàng Bà Xa, tương truyền đã cùng cha là đức quan ngài Hoàng Bảy, có công chinh phạt giặc ác, giữ yên bờ cõi, được cư dân vùng Bảo Hà và Khau Ban (địa danh Văn Bàn cổ xưa) suy tôn là vị Thánh Mẫu. Đối diện bên kia sông là đền Bảo Hà (huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai)- thờ Đức quan ngài Hoàng Bảy.

    f,Cô Bé Cây Xanh (Bắc Giang)

    g,Cô Bé Nguyệt Hồ (Bắc Giang)

    h,Cô Bé Minh Lương (Tuyên Quang)

    Truyền thuyết kể rằng, vào thời nhà Trần (thế kỷ XV), ở tổng Minh Lương, thuộc xã Lang Quán ngày nay có hai vợ chồng, ông chồng là người Dao, bà vợ là người Mường tuổi đã cao mà chưa có con. Ngày ngày ông bà ra ngòi Lịch xúc tôm tép sống lần hồi. Một hôm, ông ở nhà, bà đi xúc tép như mọi ngày, nhưng xúc mãi không được con gì mà chỉ được hai quả trứng lạ. Bực mình, bà xuống hạ nguồn rồi lên tận thượng nguồn ngòi Lịch xúc vẫn chỉ được hai quả trứng ấy. Bà đành mang về thả vào chum nước dưới cầu thang. Ít lâu sau, bà mang thai và sinh ra một cô bé bụ bẫm, đặt tên là Minh Lương. Cùng lúc đó, hai quả trứng thả trong chum nước dưới cầu thang nở ra hai con rắn. Hai con rắn và cô bé Minh Lương cùng lớn lên, quấn quýt làm bạn với nhau.

    Một buổi chiều, ông bà đi làm về và nhìn thấy hai con rắn quấn chết cô bé. Sẵn con dao rựa đeo bên người, ông tức giận rút dao vừa chém, vừa nói “Mày hại tao à”. Hai con rắn sợ quá chạy trốn, nhưng một con chậm hơn đã bị chém đứt đuôi. Ông đuổi hai con rắn và nói: “Cụt đi hang Mang, Khoang đi hang Đồng”.

    Ông bà xót thương cô bé, không nỡ chôn, nên đặt cô nằm ở trên sàn. Đến sáng đã thấy mối đùn lên đắp mộ cho cô bé. Dân làng thấy vậy đều cho là cô đã linh hoá nên lập miếu thờ. Thời kỳ giặc Cờ đen, cô bé Minh Lương đã hiển linh giúp quan quân triều đình thoát khỏi rừng rậm, sau đó dũng mãnh dẹp sạch giặc Cờ đen. Sau đó Cô còn hiển linh bốc thuốc, giúp dân chữa bệnh thoát cơn hiểm nghèo.

    i,Cô Bé Thác Bờ (Hòa Bình)

    j,Cô Bé Sóc (Miền Nam)

    Còn gọi là Cô Bé Đen, mặc khăn áo đen và hồng. Về đồng múa mồi, dùng nhang chữa bệnh. Cô đánh phấn màu đen, phấn đỏ cô để ban khen cho thanh đông cô. Hay về đồng tại Miền Nam.

    k, Cô Bé Mỏ Than( Tuyên Quang)

    Truyện chuyền miệng kể rằng : thần Kim Quy thấy mỏ quý của vua cha mẫu mẹ tại đền Mỏ Than. Đã rủ cá Kình ở biển Đông về cùng nhau mang hết mỏ quý ra vùng Nam Hải khi đất ở đây chỉ còn là giữa núi và biển, cá Kình đứng gác bên ngoài, thần Kim Quy xuống hang và khi lên tới gần miệng hang thì ông Cóc (ở gần miếu Sơn Thần) đã nghiến răng báo lên thiên đình cho Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngọc Hoàng củ cô Mười xuống. Cô bé cưỡi trên lưng hai con rồng bay xuống thấy khoảng trời u ám có khí lạnh bay lên. Cô nhảy vội xuống với hai vết chân chẹn lên thần Kim Quy, vết chân phải trượt gót mờ, bàn chân trái đè oằn cổ rùa. Bắt rùa hoá đá (Bách gia trăm họ gọi là quy trị bản đền) thần Kim Quy hoá đá thì cà Kình ở biển Đông cũng hoá đá. (Tất cả các cảnh quan của đền quay về nơi phật ngự phương tây riêng có cá Kình quay về phía Đông Bắc). Nhờ Cô Bé Mỏ mà bách gia trăm họ vẫn còn “mỏ tụ đồng” xưa. Đến Pháp tìm ra mỏ than hay còn gọi là vàng đen của đất nước. Hiện nay còn nuôi dưỡng mỏ kim cương non. Cho nên ở chính nơi đây còn tồn tại truyền thuyết Cô Bé Mỏ Than (hay Cô Bé Mỏ Cây Xanh). Cô bắt ông Ba Mươi phủ phục bên mình, cô xin vua cha mẫu mẹ cho cây xanh bao bọc lấy mỏ và bốn mùa toả bóng mát cho cô hoàn thành việc cha việc mẹ. Ngoài ra cô còn chữa bệnh cho bách gia trăm họ. Nhất là những người dở dại dở điên. Những lúc thư nhàn cô gọi đàn chim ngũ sắc về vây quanh ca hát, lúc đi lúc về cổ thường mang sắc thái màu vàng với âm thanh của tiếng chim vàng anh báo biến, báo hiện. Khi cô đi xa cô thường để lại đôi dải thắt lưng màu đen ở lại (đôi long xà có mào) để giữ đền giữ phủ. Người ta truyền rằng ai nhìn thấy ông rắn có mào là người đó được lên danh lên giá. Nhưng người đó phải là người thực tâm không có tâm tà. Xưa những người đàn bà bụng mang dạ chửa phải đi vòng qua cửa cô cách nữa dặm. bất kể ai qua nơi cô ngự đều phải bỏ nón mũ xin cô thực tâm cô phù hộ. Tà tâm cô cho náo loạn gia trung.

    12. Cô Bé Thoải Cung

    Cô ngự ở dưới tòa Thoải Cung, Cô rất xinh đẹp, tài giỏi, có thể hô mưa gọi gió...

    ÔNG HOÀNG CẢ

    Là con của vua cha Bát Hải Động Đình, là cả trong Tứ phủ Ông Hoàng, giáng sinh đầu tiên. Sau đó, lên cõi thượng thiên coi giữ sổ sách.

    Ông Hoàng Cả (thường gọi tắt là Ông Cả) hay còn gọi là Ông Hoàng Quận: là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Trong Tứ Phủ Ông Hoàng, ông là anh cả, giáng sinh ra đầu. Sau này ông lên cõi Thượng Thiên, coi giữ sổ sách.Thiên Tào. Có khi ông rong chơi khắp chốn khi chơi Thiếu Lĩnh, lúc chơi Non Bồng. Ông dạo khắp các nơi Bồng Lai, Tiên Cảnh, khi trên thượng giới ông cuỡi con Xích Long, khi dạo chơi trên mặt nước Ông Hoàng cưỡi lốt tam đầu cửu vĩ. Có khi ông cũng ngự lên cõi trần gian phù hộ cho người làm ăn buôn bán hoặc kẻ học hành khoa cử. Tuy nhiên Ông Hoàng Cả không giáng trần.

    Ông Cả rất ít khi ngự đồng, khi ngự về ông thường mặc áo đỏ (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét đỏ. Ông Hoàng Cả ngự về thường chỉ tấu hương, khai quang (cũng có người hầu ông về múa hèo, nhưng khá hiếm vì không mấy người hầu về Ông Cả)

    Ông Hoàng Cả không giáng trần nên không có đền thờ. Khi thỉnh ông tráng bóng văn thường hát là:

    “Bóng trăng thanh ánh vàng phơi phới

    Động Đình Hồ Bát Hải Long Vương

    Có ông Hoàng Quận phi phương

    Khi thăng Thượng Giới đẹp duyên cưỡi rồng”

    QUAN LỚN ĐỆ NHẤT THƯỢNG THIÊN

    Vốn là con trai cả của đức vua cha Bát Hải Động Đình, được gọi là ông Lớn, cai quản Thượng Thiên. Tương truyền, ông là Tôn quan đại thần trên Đế Đình Thiên Cung.

    Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên Hay còn gọi là Đệ Nhất Tôn Ông. Quan lớn vốn là con trai cả của Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, được coi là Ông Lớn cai quản Thượng Thiên. Tương truyền ông là Tôn Quan Đại Thần trên Đế Đình Thiên Cung, được sắc phong ngôi Thượng Thiên Nhất Phẩm Công Hầu, quản cai tam giới đình thần văn võ. Nhưng ông không giáng trần.


    Quan Đệ Nhất cũng ít khi về ngự đồng, chỉ những dịp có đại sự như: mở phủ, tạ phủ, hầu xông đền xông điện thì quan mới về ngự đồng. Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp trạng mã. Thông thường khi khai đàn mở phủ, người ta phải thỉnh Quan Đệ Nhất về để pháp sư tuyên sớ điệp sau đó quan phê sớ, phú huý, công cứ rồi tuyên bố khai đàn mở phủ, hoặc quan lớn ngài còn “điểm dấu thánh” (lấy nén hương đã đốt, chấm một dấu nhỏ vào áo công đồng và khăn phủ diện của đồng tân, coi như khăn áo đã được quan lớn đánh dấu là khăn áo của con cái Tứ Phủ, khăn áo đã được “điểm dấu thánh” là của riêng thanh đồng đó, không ai được dùng chung cũng như hạn chế việc thay đổi), cũng có khi Quan Đệ Nhất chỉ về biên sớ sau đó truyền cho các quan sau mở phủ nhưng cũng có khi chính quan lớn về khai giếng mở hồ Thiên Phủ (tức mở phủ Thượng Thiên) gồm: bóc trứng, đập chĩnh, kéo cầu,…và khai quang mã đàn, hình nhân bản mệnh (hồng) và Thiên Phủ (đỏ).


    Do không giáng trần nên Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên không có đền (trước đây) và ngày tiệc chính, nhưng ở trong bất cứ đền nào cũng có tượng ông, ngồi giữa trong Năm Tòa Ông Lớn, mặc áo bào đỏ, đội mũ cánh chuồn. Hiện giờ đền thờ Quan Lớn Đệ Nhất mới được xây dựng và hoàn thành, thuộc quần thể di tích đền Đức Vua Cha Bát Hải Đồng Bằng, cách đền Đồng Bằng khoảng 500m, thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

    Văn hầu:

    Hương một triện chín lần soi thấu

    Giãi tấc lòng khải tấu linh thông

    Đệ Nhất tôn ông Thỉnh mời Đệ Nhất tôn ông

    Lai lâm chứng giám đền trung uy hùng

    Lục trí thần thông anh linh lục trí thần thông

    Quyền thu tam giới uy phong pháp màu

    Loan giálên chầu thượng thiên

    Loan giá lên chầu

    Khâm thừa sắc chỉ công hầu ra uy

    Mưa gió bất kỳ nổi cơn mưa gió bất kỳ

    Sấm vang tám cõi mây che ngất trời

    Dong nhan khai quang thập kỳ cờ

    Quang minh chiếu từ trung

    Ngã tích tang cúng dàng

    kim phụng hoàng lân cận

    thánh chúa tiên trung vương

    Trên thượng giới tôn quan giáng thế

    Vâng sắc rồng cứu thế độ dân

    Vua phong thượng đẳng tối linh thần

    Khắp hòa trung nam bắc muôn dân đạo cầu

    Trong tám cõi cửu châu vọng bái

    Độ Việt Nam quốc thái dân an

    Khâm thừa sắc lệnh vua ban

    Số sinh số tử liệt hàng chúa phê

    Đủ mọi bề tài kiêm, tài kiêm văn võ

    Trong bách thần nào có nhường ai

    Nhược thao văn võ toàn tài

    Đình thần tứ phủ nào ai dám bì

    chuyển trời đất làm mưa tuôn chớp dội

    Nổi cơn dông cây cối đổ xô

    Mưa tuôn gió thổi sấm ù

    Muôn loài thủy mị làm cho rụng rời.


    QUAN LỚN ĐỆ NHỊ THƯỢNG NGÀN
    Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay còn gọi là Quan Đệ Nhị Giám Sát (có một số người gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát). Quan lớn vốn là con trai thứ hai của Vua Cha Bát Hải Động Đình.

    Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay còn gọi là Quan Đệ Nhị Giám Sát (có một số người gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát). Quan lớn vốn là con trai thứ hai của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông theo lệnh Vua Cha, hạ phàm đầu thai vào Hoàng Cung (có sách nói là ông hạ phàm ngày mồng ba tháng mười một năm Ất Dậu vào một nhà quý tộc) ngày mồng mười tháng mười một năm Bính Dần, ông là người văn võ toàn tài, thông minh chính trực, được khắp muôn nơi ngưỡng mộ, các vương tôn công tử đều thuận tình đến làm học trò. Đến khi về chầu Thiên Đình, ông lại được giao quyền giám sát quản cai Sơn Lâm, Thượng Ngàn, ông giáng thế ban phúc cho dân, khi dân chúng bị hạn hán, cầu đảo ông thì lập tức có mưa thuận gió hòa.

    Quan Đệ Nhị là một trong ba vị quan lớn rất hay ngự về đồng (kể cả trong những ngày tiệc vui). Khi ngự đồng, ông mặc áo xanh ( xanh la hay xanh lá cây) thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ và múa kiếm (cách hầu Quan Giám Sát thì có nơi múa đôi kiếm, có nơi múa một kiếm, có nơi lại múa một kiếm một cờ). Cũng như Quan Đệ Nhất, khi khai đàn mở phủ, người ta thỉnh Quan Đệ Nhị về chứng đàn Nhạc Phủ (Thượng Ngàn: đàn mã đều màu xanh). Ngoài ra vào những dịp đại lễ (như mở phủ khai đàn, tạ phủ…), trước ngày làm lễ, người ta thường thỉnh Quan Đệ Nhị về thanh tra giám sát đàn mã đền phủ.

    Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn được thờ ở hai nơi chính là: Đền Quan Giám ở trên huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (là nơi quan trấn giữ miền Sơn Lâm) và Đền Quan ở Phố Cát, Thanh Hóa (là nơi quan giáng hạ dạo chơi) và ngày tiệc chính của ông là ngày 10/11 âm lịch (là ngày hạ phàm của quan)

    Văn hầu:

    Quyền cai trên thượng ngàn quan đệ nhị quản cai

    Thông chi thiên địa khâm sai quan đại thần

    Giá võ đằng vân phép tôn quan

    Giá võ đằng vân bát muôn công tử xa gần đều làm tôi

    Truyền phán các quan ông về truyền phán các quan

    Tả văn hữu võ lưỡng ban đáo đàn

    Lệnh truyền văn võ đôi hàng

    Quản tam giới quyền hành sinh sát

    Nương càn khôn nam khoát trong tay

    Quan lớn khâm thừa đế lệch xưa nay

    Quyền hành quan giám sát trước ngôi dầy tiên cung

    Sổ hội đồng một tay quan lớn người biên chép

    mệnh trần gian sinh tử chép biên

    Khâm thừa sắc lệnh vua ban

    nhắc dây họa phúc cân người có công

    Có phen về đền xương rồng tấu đối

    Tấu đối xong nhật khắc tam du

    Có phen đằng giá vân cù

    Mưa tuôn gió thổi sấm gù dậy vang

    Hợp bàn loan đình thần ca tụ

    Chén rựou quỳnh quan chú quan anh

    Bên lầu gió mát trăng thanh

    Đàn ca sáo thổi dạo quanh trước lầu

    Có phen tiếp hầu lưu quý thủy

    Ván ván cờ tiên quan lớn đấu trí một hai

    Có phen thắng cảnh đua tài

    tiên thơ một đẩu văn bài trăm thiên

    Thơ thơ lý bạch cờ tiên ai dám ví

    Rượu lưu linh tửu túy coi chi

  19. #99
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,246

    Mặc định

    SỰ TÍCH ĐỀN THỜ ÔNG HOÀNG ĐÔI

    (Thường gọi tắt là Ông Đôi) hay còn gọi là Ông Triệu Tường: là con trai Đức Vua Cha. Ông theo lệnh, giáng sinh lên cõi trần gian, làm con trai thứ hai nhà họ Nguyễn, sau đó ông trở thành danh tướng, có công giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc”, ông là người đã đem quân truy đuổi họ Mạc đến tận đất Cao Bằng, rồi ông được vua Lê phong công, giao cho kéo binh đóng ở đất Tống Sơn, Triệu Tường, Thanh Hóa.

    Ông Đôi cũng khá ít khi ngự đồng, nếu có ngự về, ông mặc áo như Ông Hoàng Cả (nhưng màu xanh), chỉ có ở Hà Nội là hay thỉnh ông về nhưng lại thỉnh ông như một vị Quan Lớn (gọi là Ông Lớn Triệu Tường), ngự sau giá Quan Điều Thất, ông về tấu hương, khai quang rồi múa cờ lệnh (cờ lệnh đại, vuông, ngũ sắc).

    Đền thờ Ông Hoàng Đôi được lập ở nơi mà xưa kia ông đã kéo binh vê đóng ở đó gọi là Đền Triệu Tường (hay còn gọi là Đền Quan Triệu) ở đất Tống Sơn, núi Triệu Tường, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa, ngoài ra ở Hà Nội cũng có một ngôi đền gọi là Đền Quan Triệu (hay tên thường gọi là Đền Hoàng). Khi thỉnh ông về ngự văn háy hát rằng:

    “Chí càn khôn nổi miền Nam Việt
    Đất Thanh Hoa nhân kiệt địa linh
    Có Ông Hoàng Triệu giáng sinh
    Vào nhà Nguyễn tộc lên danh tướng tài”

    SỰ TÍCH ĐỀN THỜ ÔNG HOÀNG BƠ (HOÀNG BA)

    (Theo thần tích đền Hưng Long)

    Cổ nhân có câu : "Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân", nghĩa là người sống nhân đức thì trời đất sẽ ủng hộ giúp đỡ. Từ thủa xưa, mỗi khi đất nước nguy biến, nhân dân cực cực đều xuất hiện những vị anh hùng cứu dân hộ quốc. Theo tâm linh người Việt, đó là sự diệu kỳ do thiên địa hóa hình, thần tiên giáng thế. Ông Hoàng Bơ Thủy Cung - một vị Thần quản cai cõi miền sông nước đã hóa thân thành Minh Đức Đại Vương hiển tích tại đền Hưng Long, làng Kênh Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

    Thần tích kể rằng: Làng Kênh Xuyên thủa xưa có hai vợ chồng lão ông Trần Thái Công và lão bà Đặng Thị hiền lành nhân đức đã luống tuổi mà chưa có con nối dõi bèn phát nguyện ra trông coi đèn hương đền thờ Thánh Mẫu Đệ Tam Thủy Tinh. Dầu dãi trải mấy thu không tiếc công lao, lại làm phúc đắp đường, sửa đê, bố thí người nghèo khổ. Công đức cảm động đến Thánh Mẫu, một đêm thái bà nằm mơ thấy một người con gái mình mặc áo trắng mang đai ngọc lưu ly tay ôm một đứa bé trai kháu khỉnh, ngự trên rồng vàng bay lên từ mặt nước nói rằng :

    - Ta là con gái động đình Long Vương, Thủy Tinh Ngọc Dung Xích Lân Long Nữ Công Chúa thấy vợ chồng ngươi siêng năng làm phúc, chăm sóc đèn hương, nên cho Hoàng tử Long cung đầu thai làm con để lo báo hiếu, sau này sẽ cứu giúp dân lành nhiều phen.

    Thực đúng:

    "Lòng trời thương kẻ ngay lành

    Truyền sai hoàng tử giáng hình dương gian

    So châu báu ví ngọc vàng

    Cứu dân giúp nước tiếng vang muôn đời"

    Giấc mộng tỉnh, thái bà thấy trong lòng khác lạ mà mang thai, đến kỳ khai hoa mãn nguyệt bỗng thấy mây ngũ sắc vây quanh, hương thơm sực nức, từ trên trời hào quang sáng chói như trăm hồng ngàn tía. Đúng ngọ ngày hạ chí mười ba tháng sáu (ngày hội đền Đức Thánh Mẫu) thái bà sinh hạ một cậu bé trai khôi ngô tuấn tú, dung mạo khác thường bèn đặt tên là Trần Minh Đức, tám tháng biết nói, chín tháng biết đi, năm tuổi đã đọc thông sách vở. Lớn lên chỉ mộ về đạo Phật thiền gia dù cho Thái ông, Thái bà có giục giã cũng không màng chuyện hôn nhân phu phụ. Năm hăm hai tuổi Minh Đức lập một thảo am để hàng ngày nghiên cứu Phật Pháp thuyền gia. Sau khi Thái ông, Thái bà về tiên, thì Minh Đức cũng đi đâu không rõ. Ngôi đền và thảo am để nhang lạnh khói tàn, bỗng một đêm dân làng ai ai cũng đều mơ thấy có một vị hoàng tử khôi ngô tuấn tú đầu đội kim khôi, mình mặc áo trắng lưng giắt kiếm bạc, cưỡi trên đôi bạch xà hiện lên trên mặt biển nói rằng:

    -Ta là hoàng tử long cung, giáng sinh vào để tác phúc cho Thái ông, Thái bà nay hết hạn ta về thủy cung. Dân làng thời phải nên thờ phụng Thánh Mẫu Thủy Tinh cho nghiêm cẩn như xưa khi có nạn ắt ta đến cứu. Về sau sẽ âm phù cho đất đai rộng mãi.

    Sáng dậy ai cũng thuật lại cho nhau giấc mơ y hệt, bèn cung kính sợ hãi mà cho rằng ngôi đền rất linh thiêng nên lập thêm long ngai bài vị Minh Đức Hoàng Bơ Thoải đại vương phụng thờ, hương hỏa ngày đêm không dứt.

    Đến năm Giáp Ngọ ngày mười ba tháng tám có bão lớn con đê Ngự Hàm bỗng dưng vỡ toác, nước ngập mênh mông, người chết vật trôi nhiều vô số kể. Việc đắp đê hàn long không thể tiến hành, dân làng bèn nhớ giấc mơ xưa lập đàn cầu đảo, bỗng đâu từ ngoài biển có một ông Bạch mãng xà bơi vào, rắn bơi đến đâu hàn long đến đó, khi hàn long xong thì cũng không thấy rắn trắng đâu nữa. Dân làng đều biết là Minh Đức hoàng tử cứu giúp bèn về đền lễ tạ.Và Chánh tổng Tân Hưng lúc đó là cụ Bá Thuần cho xây một ngôi đền ngay chỗ vỡ đê thờ Minh Đức hoàng tử. Chỗ ấy ngày nay là thôn Hưng Long Bắc, xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vì làng Kênh Xuyên được âm phù lên mở rộng mãi ra biển đến nay đã tách thành 4 làng. Kênh Xuyên, Hưng Thịnh, Hải Long và Hưng Long. Đồng thời tâu lên triều đình về sự linh ứng của ngài. Và được triều đình ban phong mỹ hiệu cấp ruộng tế điền để phụng thờ.

    Đức thánh hoàng còn được triều Nguyễn sắc phong mỹ tự " Đông Hải, Thủy Tinh, Bạch Long, Linh Phù, Hiển Ứng, Tịnh Tuệ, Bác Huệ, Minh Đức Đại Vương thượng đẳng thần " Từ đó đến nay dân thôn phụng thờ và lễ bái đều linh nghiệm, là nơi ngư dân cầu đảo trước mỗi mùa cá và mỗi lần ra khơi. Hàng năm vào mười ba tháng sáu là ngày tiệc đản sinh của Thánh Hoàng dân làng đều tổ chức tế lễ rước kiệu từ đền về chùa lễ Phật và bái yết thánh Mẫu Đệ Tam và hầu bóng, nhiều lần có cá Heo về chầu.

    TRUYỀN THUYẾT QUAN LỚN ĐỆ TAM

    Đền Lảnh Giang (nhân dân thường gọi là Đền Lảnh) nằm trong địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Theo Thần Phả, Đền này thờ Tam vị danh thần họ Phạm đời Hùng Vương thứ 18, Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử.

    Căn cứ vào thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (sự tích ra đời một vị thuỷ thần triều vua Hùng(() Thần tích này do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Thần tích đang được lưu giữ tại Đền Lảnh.) cùng các sắc phong, câu đối, cũng như truyền thuyết địa phương thì lịch sử ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương được thờ ở Đền Lảnh Giang như sau:

    Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được một mụn con nối dõi.

    Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.

    Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên bờ sông và thuồng luồng đã bỏ đi. Từ hôm đó nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.

    Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:

    Sinh là tướng, hóa là thần

    Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời

    Khi nào giặc dã khắp nơi

    Bọn ta mới trở thành người thế gian(1)

    (1)Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.).

    Bấy giờ Thục Phán – thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng, thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thuỷ bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Vua Hùng liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, 5 đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.

    Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.

    Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Phạm Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, ban cho dân 10 hốt vàng để mua ruộng đất, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.

    Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.

    Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7, ngày 18 tháng 10 có chép: “Sắc cho xã An Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phụng thờ Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh ứng triều Hùng thiêng liêng rõ rệt, trước đây chưa có dự phong. Gặp nay trẫm vâng chịu mệnh lớn, nghĩ đến công thần biểu dương phong cho vị thần, phò giúp nền nếp quốc gia, cho phép y theo lệ cũ kính thờ”.

    Hàng năm tại Đền Lảnh Giang, nhân dân địa phương tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Theo tục lệ địa phương thì kỳ lễ hội tháng 6 là để dành cho các khách thập phương, còn kỳ lễ hội tháng 8 chủ yếu dành cho các khách quanh vùng. Những ngày này thường gặp nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về ngày lễ hội. Có nhiều năm nước ngập nhưng các thiện nam tín nữ cùng nhân dân bản địa vẫn bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần họ Phạm, Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

    Cụ Bùi Bằng Đoàn(() Cụ Bùi Bằng Đoàn (1886 – 1953) là người xã Liên Bạt, huyện Sơn Lăng tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Cụ đỗ Cử nhân năm Thành Thái thứ 18 (1906), làm Thượng thư Bộ Hình. Sau Cách mạng tháng tám 1945, cụ được làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bài thơ này cụ viết vào tháng 2/1907.) khi viết về công lao đánh giặc của ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương thờ tại Đền Lảnh Giang trong tập sách “Giang Sơn cổ tích đề vịnh”, có bài thơ như sau:

    “Hùng gia quý thế tam huynh đệ

    Phạm tộc giang hương phả tượng truyền

    Phá tặc an dân nhân dĩ viễn

    Anh thanh thiên cổ nguyệt cao huyền”.

    Dịch là:

    Anh em ba vị cuối triều Hùng

    Họ Phạm quê nhà xóm bãi sông

    Đánh giặc cứu dân người đã khuất

    Còn nêu sự nghiệp sáng trăng trong.

    Trong báo cáo ngày 16/5/1996, cơ quan Bảo tàng lịch sử tỉnh Nam Hà (cũ) có nhận xét: Đền Lảnh Giang là di tích thờ ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Duệ Vương có công lao đánh giặc Thục, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Khi đất nước thanh bình, các ông là những người quan tâm, chăm lo đến sản xuất, làm cho đời sống nhân dân ngày một ấm no hạnh phúc... Đền Lảnh Giang là công trình kiến trúc quy mô, uy linh, bề thế, mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc và xây dựng cổ truyền của dân tộc. Tại đây còn giữ được nhiều cổ vật thờ cúng có giá trị cao về nghệ thuật.

    Từ những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cổ truyền dân tộc của Đền Lảnh Giang, ngày 5/11/1996, Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp bằng công nhận đền Lảnh Giang là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

    SỰ TÍCH QUAN ĐỆ TỨ

    Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai là quan lớn đứng hàng thứ tư trong Ngũ vị Tôn Ông, trấn giữ đồng bằng địa linh và không giáng trần. Ngự trên Thiên Đình, biên chép sổ sách sinh tử.

    Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai vốn là con trai thứ tư của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Được vua cha giao quyền trấn giữ đồng bằng địa linh, khâm sai tứ phủ (có người cho rằng, trong các quan thì ông trấn ở trung tâm trời đất), tuy thế nhưng ông thường ngự trên Thiên Đình, biên chép sổ sách sinh tử, chầu chực bên bệ ngọc bàn loan. Cũng như Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Tứ không giáng trần.

    Trong tòa quan lớn, Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai ít khi giáng đồng nhất, cũng chỉ khi nào có đại lễ mới thỉnh ông về. Khi ngự đồng ông mặc áo vàng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương khai quang rồi chứng sớ điệp. Thông thường, khi mở phủ khai đàn, người ta mới hay thỉnh Quan Đệ Tứ về để chứng đàn Địa Phủ (gồm long chu, phượng mã, tượng phục, nghê quỳ (voi và nghê hoặc lân)… tất cả đều màu vàng) Vì không giáng trần nên Quan Đệ Tứ cũng không có đền thờ riêng mà chỉ được thờ ở hầu hết các phủ đền trong Năm Tòa Ông Lớn (ông ngồi bên trái Quan Giám Sát hoặc bên phải Quan Tam Phủ). Còn ngày tiệc ông thì có tài liệu nói là 24/4 (nhưng nguồn tài liệu chưa chắc chắn nên chỉ đưa ra để tham khảo).

    Văn hầu:

    Tiệc bàn loan thỉnh mời quan đệ tứ

    Vốn con trời cao ngự thiên cung

    Choi chói vua phong bảng vàng choi chói vua phong

    Quyền quan đệ tứ oai hùng oai hùng ai đang

    Khắp mười phương trên trời dưới đất

    Quản kiêm chi đạo phật truyền ra

    Cầu ô bắc sông ngân hà

    Liệt hàng tinh đẩu bày ra ngang trời

    Khai quang dong nhan thập kỳ diệu

    Quan về chứng đàn duyên

    Ngã tích tăng cúng dàng

    Kim phụng hoàng lân cận

    Thánh chúa tiên trưng vương

    Cảnh ngự vui sao sa lác đác

    Cửu diệu cùng đài cát đế tinh

    Tam quan thất đẩu ngũ hành

    Nhị thập bát tú thiên đình hà sa

    Mới tâu qua quan nam tào quan bắc đẩu

    Sổ trần gian lão ấu chép biên

    Xem ai hiếu thuận thảo hiền

    Tu nhân tích đức sổ biên thọ trường

    Quan văn vật nổi dấu thiên tứ phủ vạn linh

    Sơn duyên dục tú hà hải trung linh

    Thiên niên dốc một bầu trong vũ trụ

    Trên phủ tía ngai vàng lồ lộ

    Vẻ lâu đài in bóng nước chanh vanh

    Bảng vàng treo thiên cổ vị nhân

    Gồm nam bắc xa thu về một mối

    SỰ TÍCH QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

    Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh

    Thời gian : 14/02 Âm lịch

    Địa chỉ : Thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

    Là lễ hội lớn ở Hải Dương, có sức hấp dẫn lạ thường đặc biệt với các bà, các cô ở thành phố. Đền Tranh Đền Tranh hay đền Quan lớn Tuần Tranh thuộc xã Tranh Xuyên, tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại thời Lê và Nguyễn (thị xã Ninh Giang hiện nay). Đây là một ngôi đền lớn thờ nhân vật mang tính huyền thoại theo tín ngưỡng dân gian, hằng năm có hai mùa lễ hội lớn vào tháng 2 và tháng 5.

    Khoảng năm 1960, đền Tranh bị giải hạ để lấy đất xây dựng công trình khác. Đồ tế tự được chuyển về một ngôi miếu nhỏ ở phía nam thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, cách di tích cũ khoảng 300m về phía bắc. Năm 1995, đền được phép khôi phục. Công trình hiện nay khá hoành tráng với kinh phí xây dựng ngót một tỷ đồng do nhân dân công đức. Đền Tranh xưa lập ban thờ như thế nào nay chưa có cứ liệu nghiên cứu. Đền Tranh là nơi tập trung và phong phú nhất về tín ngưỡng dân gian mà điển hình là nhân vật huyền thoại Quan Lớn Tuần Tranh. Nghiên cứu thấu triệt từng nhân vật được thờ ở đây là điều không đơn giản.

    Đền Tranh một năm có ba mùa lễ hội. Hội tháng 2, từ ngày 10-20 / 2, trọng hội vào 14 - ngày sinh của quan lớn Tuần Tranh, đây là hội chính hàng năm. Hội tháng 5, từ ngày 20-26 / 5, trọng hội vào 25 - ngày hoá của Đức thánh. Lễ hội đền Tranh có quy mô rộng lớn, thu hút khách nhiều tỉnh phía Bắc, một trong những hội lớn của Hải Dương, có sức hấp dẫn lạ thường, đặc biệt với các bà các cô ở các thành phố, bởi thế khách thập phương đến đây rất đông. Không chỉ trong những ngày hội (thường kéo dài tới 7 ngày) mà những ngày thường cũng không ít khách đến lễ và không thể thiếu tiết mục hát chầu văn. Chúng ta biết rằng, một ngôi đền mới được khôi phục và chưa được xếp hạng mà đã có ngót một tỉ đồng công đức là vấn đề không bình thường. Phần hội ở đây rất giản dị, đặc biệt phần lễ thì vô cùng phong phú và hấp dẫn. Những lời khấn ở đây hầu hết được viết thành thơ và được thể hiện bằng điệu chầu văn rất mượt mà , sôi nổi.

    Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh, hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được sắc phong công hầu. Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng. Vậy nên Quan Lớn Tuần Tranh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp, hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng. Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội. Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân.

    Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy trong hàng Năm Toà Ông Lớn, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự). Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

    Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất: đầu tiên là Đền Ninh Giang hay Đền Quan Lớn Tuần Tranh lập bên bến sông (bến đò) Tranh ở Ninh Giang, Hải Dương (là nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh, cũng là nơi ông hiển tích) và Đền Kì Cùng lập bên bến sông Kì Cùng, qua cầu Kì Lừa (là nơi ông bị lưu đày). Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này), ngoài ra vào ngày 14/2, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.

    Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát:

    “Uy gia lẫm liệt tung hoành

    Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài

    Ninh Giang chính quán quê nhà

    Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng”

    Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:

    “Nào ngờ đâu đất trời thay đổi

    Người anh hùng mang tội xiềng gông

    Tháng năm đày chốn Kì Cùng

    Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân

    Trước cung điện triều đình tra xét

    Bắt long hầu truyền hết mọi nơi

    Oan vì bướm lả ong lơi

    Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung

    Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt

    Nỗi oan này có thấu cao minh

    Áo bào đã nhuộm chàm xanh

    Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”

    Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:

    “Loa đồng hỏi nước sông Tranh

    Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai

    Sông Tranh đáp tiếng trả lời

    Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”

    Hát văn : Quan Lớn Tuần Tranh

    Trình bày : Thành Long - Văn Chung

    Thể loại : Nhạc dân tộc

    --------------------------------------

    Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:

    “Ông về truyền phán các quan

    Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn

    Quân thuỷ quân bộ đôi hàng

    Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra

    Lệnh truyền thiên đội vạn cơ

    Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh

    Trước là bảo hộ gia đình

    Sau ra thu tróc tà tinh phen này

    Ra oai trần thế biết tay

    Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian

    Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”

    Và còn những đoạn nói về tài phép của quan lớn, giúp dân hộ quốc:

    “Sắc ban phong kiêm chi Tam Giới

    Hay tróc tà sát quỷ trừ tinh

    Quan Tuần vạn phép muôn linh

    Quyền ông cai quản âm binh nhà trời

    […] Lúc bấy giờ ra uy hùng hổ

    Nương uy trời cứu hộ sinh nhân

    Đùng đùng nổi trận phong vân

    Thượng đồng ban dấu giúp dân trừ tà”

    Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh

    Thời gian: 14/2 âm lịch.

    Địa điểm: Thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

    Đối tượng suy tôn: Thần sông.

    Đặc điểm: Lễ bái, lên đồng, hầu bóng, hát chầu văn.

    Hội Đền Tranh Đền Tranh hay đền Quan lớn Tuần Tranh thuộc xã Tranh Xuyên, tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại thời Lê và Nguyễn, đầu TK XX thuộc thị xã Ninh Giang. Đây là một ngôi đền lớn thờ nhân vật mang tính huyền thoại theo tín ngưỡng dân gian, hằng năm có hai mùa lễ hội lớn vào tháng 2 và tháng 5. Khoảng năm 1960, đền Tranh bị giải hạ để lấy đất xây dựng công trình khác.

    Đồ tế tự được chuyển về một ngôi miếu nhỏ ở phía nam thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, cách di trích cũ khoảng 300m về phía bắc. Năm 1995, đền được phép khôi phục. Công trình hiện nay khá hoành tráng với kinh phí xây dựng ngót một tỷ đồng do nhân dân công đức. Đền Tranh xưa lập ban thờ như thế nào nay chưa có cứ liệu nghiên cứu. Đền hiện nay có 11 ban thờ:

    1- Ban thờ Phật

    2- Ban thờ Thánh mẫu

    3- Ban thờ Ngọc hoàng Thượng đế

    4- Ban thờ Ngũ vị tôn ông

    5- Ban thờ Tứ phủ chầu bà ( Thiên phủ, Địa phủ, Thuỷ phủ, Nhạc phủ)

    6- Ban thờ Quan lớn Tuần Tranh

    7- Ban thờ Sơn trang.

    8- Ban thờ Động chúa sơn lâm

    9- Ban thờ Thành hoàng: Quý Minh và Vũ Đô Mạnh

    10- Ban thờ Mẫu địa

    11- Ban thờ Đức thánh Trần

    Đền Tranh là nơi tập trung và phong phú nhất về tín ngưỡng dân gian mà điển hình là nhân vật huyền thoại Quan Lớn Tuần Tranh. Nghiên cứu thấu triệt từng nhân vật được thờ ở đây là điều không đơn giản.

    Đền Tranh một năm có ba mùa lễ hội. Hội tháng 2, từ ngày 10-20 / 2, trọng hội vào 14 - ngày sinh của quan lớn Tuần Tranh, đây là hội chính hàng năm. Hội tháng 5, từ ngày 20-26 / 5, trọng hội vào 25 - ngày hoá của Đức thánh. Lễ hội đền Tranh có quy mô rộng lớn, thu hút khách nhiều tỉnh phía Bắc, một trong những hội lớn của Hải Dương, có sức hấp dẫn lạ thường, đặc biệt với các bà các cô ở các thành phố, bởi thế khách rất đông và lộng lẫy. Không chỉ trong những ngày hội (thường kéo dài tới 7 ngày) mà những ngày thường cũng không ít khách đến lễ và không thể thiếu tiết mục hát chầu văn. Chúng ta biết rằng, một ngôi đền mới được khôi phục và chưa được xếp hạng mà đã có ngót một tỉ đồng công đức là vấn đề không bình thường.

    Phần hội ở đây rất giản dị, đặc biệt phần lễ thì vô cùng phong phú và hấp dẫn. Những lời khấn ở đây hầu hết được viết thành thơ và được thể hiện bằng điệu chầu văn rất mượt mà , sôi nổi.Có thể nói, lễ hội đền Tranh là lễ hội hát chầu văn. Dưới đây là một trong những bài chầu văn tại đền, hiện nay:

    Đọc:

    Chính quán quê nhà Ninh Giang,

    Danh lam thắng tích một toà ngôi cao.

    Lẫm liệt tung hoành uy gia,

    Trừ tà sát quỷ nổi danh tướng tài.

    Cảnh Thiên thai Quan Tuần ngự giá,

    Bộ tiên nàng thứ tự dâng huê.

    Chầu thôi lại trở ra về,

    Truyền quân dâng nước Thuỷ tề mênh mông.

    Cảnh am thanh nhiều bề lịch sự,

    Vốn đặt bầy tự cổ vu lai.

    Có phen xuất nhập trang đài,

    Đào lan quế huệ xum vầy xướng ca.

    Phú:

    Nước Văn Lang vào đời Thục Phán,

    Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng,

    Triều đình ra lệnh tiến binh,

    Thuyền bè qua bên sông Trang rợp trời.

    Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,

    Tước phong hầu truy tặng Đại vương,

    Bảng vàng thánh thọ vô cương

    Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.

    Đấng anh hùng cổ kim lừng lẫy,

    Khắp xa gần đã dậy thần cơ,

    Cửa sông đâu có phụng thờ,

    Ninh Giang lại nổi đền thờ Tuần Tranh.

    Gương anh hùng muôn đời soi tỏ,

    Đất Văn Lang thiên cổ anh linh,

    Bao phen đắp luỹ xây thành,

    Khắc miền duyên hải, sông Tranh nức lòng.

    Thơ:

    Sông Tranh ơi hỡi bến sông Tranh,

    Non nước còn ghi trận tung hoành,

    Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ,

    Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh.

    Ai về qua bến sông Tranh,

    Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời.

    Dẫu rằng nước chảy hoa trôi,

    Bến sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi.

    Loa đồng hỏi nước sông Tranh,

    Thanh long đao năm xưa cứu nước, anh hùng là ai?

    Sông Tranh đáp tiếng trả lời,

    Chỉ có thanh long đao Quan đệ ngũ, chính người trong phủ Ninh Giang

    Oán:

    Nhưng nào ngờ đâu khi đất trời thay đổi,

    Người anh hùng cổ mang nặng xiềng gông.

    Ngày hai nhăm tháng năm, Quan lớn bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng (1)

    Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái ân.

    Trước cung điện, triều đình xét hỏi,

    Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi.

    Quan lớn Tuần oan vì ong bướm lả lơi,

    Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung.

    Bắt đày chốn sơn cùng, thuỷ kiệt,

    Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh.

    Gió lạnh sương sa vì đời bội bạc,

    Sự ngay gian đảo lộn trắng đen.

    Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi,

    Lỡ hại người trong lúc phong ba.

    Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta,

    Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng.

    Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ,

    Nợ trần hoàn quyết trả cho xong.

    Tháng hai vừa tiết trung tuần,

    Thử lòng ông lão, mộng trần ứng ngay.

    Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ,

    Đôi bạch xà tựa cửa hôm mai.

    Trí đã quyết khỏi vòng cương toả,

    Hay đâu còn mắc nợ oan khiên.

    Ngài vừa hay có lệnh ban truyền,

    Quan quân tầm nã khắc miền sông Tranh.

    Thà thác vinh còn hơn sống nhục,

    Cho sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn. (2)

    SỰ THÍCH ĐỀN THỜ ÔNG HOÀNG BẢY

    Đền Bảo Hà nằm ở xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giáp ranh tỉnh Yên Bái, còn được gọi là đền ông Hoàng Bảy. Đền xây dựng dưới chân đồi Cấm, có quang cảnh thiên nhiên “trên bến dưới thuyền” đẹp đẽ. Phía tả ngạn là dòng sông Hồng cuồn cuộn chảy. Còn bên hữu ngạn là một hồ rộng, tạo cho nhà đền cảnh đẹp trữ tình. Ngôi đền Bảo Hà được xây dựng vào cuối đời Lê (niên hiệu Cảnh Hưng), thờ danh tướng Hoàng Bảy họ Nguyễn, có công bảo vệ và xây dựng tổ quốc ở cửa ải Lào Cai. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc.

    Từ đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng. Tại đây có đài hoả hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới. Giữa niên hiệu Cảnh Hưng, Bảo Hà là trung tâm Châu Văn Bàn. Trong thời kỳ này, bọn giặc phương Bắc thường hay quấy nhiễu, xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn đã phải xây dựng các thành luỹ chống giặc.
    Đến cuối đời nhà Lê (1740-1786), các châu Thuỷ Vĩ, Văn Bàn và nhiều nơi khác thuộc phủ Quy Hoá luôn bị giặc cướp phương Bắc tràn sang quấy nhiễu. Trước tình hình giặc giã biên cương quấy đảo, triều đình cử viên tướng thứ bảy họ Nguyễn lên trấn thủ Quy Hoá. Danh tướng họ Nguyễn đưa đội quân tiến dọc sông Thao đánh đuổi bọn giặc cỏ, giải phóng Khảu Bàn và xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây danh tướng đã tổ chức các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sỹ… Sau đó thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hoá (Yên Bái, Lào Cai ngày nay).

    Sau đó, quân giặc phương Bắc do tên tướng Tả Tủ Vàng Pẹt đưa quân sang xâm lược bờ cõi, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân lên tham chiến. Song, do trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh. Giặc vứt xác ông xuống sông Hồng, và trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù đứng ra tổ chức vớt xác ông lên chôn cất và lập miếu thờ. Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được các vua triều Nguyễn cấp sắc phong là “Thần Vệ Quốc”. Còn đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao… thì tôn thờ ông là vị nhân thần. Ông đi vào cõi tâm linh các dân tộc và hiện thân trong các lễ hội xuống đồng vào ngày Thìn tháng giêng.

    Đền được xây dựng gồm: cổng tam quan, sân đền, nhà khách, phủ chúa Sơn Trang, Toà đại bái, Cung cấm, Cung nhị, Cung công đồng với diện tích, bài trí các pho tượng khác nhau, kiến trúc đơn giản không cầu kỳ. Trong các cung thờ chính của đền có các pho tượng: Đức Thánh Trần, Đức Vua Cha, Quan Tuần Trang, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Đông quan Bơ phủ, Mẫu Nhị, Mẫu Thượng Ngà, Mẫu Thuỷ Tiên, Thiên Phúc Thiên Nhãn.

    Đền Bảo Hà có rất nhiều ngày lễ hội, trong đó những ngày lễ chính là: Lễ thượng nguyên (rằm tháng giêng), lễ tiệc quan tuần tranh (25/5 âm lịch), lễ hội ngày giỗ ông Hoàng Bảy (17/7 âm lịch), lễ tết muộn (Tết tất niên).

    Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua, ông giáng phàm trần, trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn, cuối thời Lê. Vào triều Lê Cảnh Hưng, có giặc Trung Quốc từ Vân Nam tràn sang cướp bóc, đốt phá. Triều đình bèn cử ông, dọc theo sông Hồng, lên đánh đuổi quân giặc và trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai. Tại đất Bảo Hà, ông thống lĩnh lục thủy, đánh đuổi quân giặc về vùng Vân Nam, sau đó ông chiêu dụ các thổ hào địa phương đón người Dao, người Thổ, người Nùng lên khẩn điền lập ấp. Sau này trong một trận chiến đấu không cân sức, Ông Bảy bị giặc bắt, chúng tra khảo hành hạ dã man, nhưng ông vẫn một lòng kiên trung, quyết không đầu hàng, cuối cùng, không làm gì được, chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay, di quan của ông dọc theo sông Hồng, trôi đến phà Trái Hút, Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa), từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong dinh Bảo Hà, đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi, phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận, ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc_ Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.

    Ông Bảy là Ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, cũng bởi vì trong hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà sát căn Ông Bảy thì thường thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa…). Khi ngự về đồng, ông thường mặc áo lam hoặc tím chàm (thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó. Lúc ông giá ngự, thường dâng ông ba tuần trà tàu rồi thuốc lá có tẩm thuốc phiện.

    SỰ TÍCH ĐỀN THỜ ÔNG HOÀNG MƯỜI

    Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh

    Ông Hoàng Mười:Theo truyền thuyết, ông Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là "Đức thánh minh", là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ ở Việt Nam.

    Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.

    Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).

    Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.

    Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách ... để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông. Khi thỉnh Ông Mười, văn hay hát rằng:

    “Ông Mười trấn thủ Nghệ An

    Về huyện Thiên Bản làm quan Phủ Dày”

    Hay nói về tài đức của ông cũng có đoạn (cả trong hát văn và những câu hò xứ Nghệ):

    “Gươm thiêng chống đất chỉ trời

    Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung

    Hai vai nặng gánh cương thường

    Sông Lam sóng cả buồm giương một chèo”

    “Đất Nghệ An anh hùng hào kiệt

    Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa

    Cung gươm lên ngựa đề cờ

    Ra tay gìn giữ cõi bờ Việt Nam”

    “Chí anh hùng ra tay cứu nước

    Đi tới đâu giặc bước lui ngay

    Việt Nam ghi chép sử dày

    Cung cao điện ngọc đêm ngày khói nhang”

    “Năm cửa ô tới Đô Thành

    Nam Đàn, Nghi Lộc nức danh Ông Mười”

    Rồi có cả đoạn thơ hát khi Ông Hoàng Mười “tái đáo Thiên Thai”:


    “Hoa đào rơi rắc lối Thiên Thai

    Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi

    Ngõ hạnh suối đào xa cách mãi

    Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi

    Đá mòn rêu nhạt nước chảy hoa trôi

    Ước cũ duyên xưa có thế thôi”


    Hay khi dâng ông miếng trầu têm, văn thường hát:

    “Đất lề quê thói Nghệ An

    Miếng trầu cau đậu dâng Quan Hoàng Mười”


    Và có cả khi văn tấu điệu hò Nghệ Tĩnh để ông vỗ gối ban thưởng:

    “Muối đã mặn ba năm còn mặn

    Gừng đã cay chín tháng vẫn cay

    Ghế ông tình nặng nghĩa dày

    Xa xôi đến mấy, ra đây ngự đồng”

    “Xứ Nghệ vui nhất Chợ Vinh

    Đẹp nhất Bến Thủy, anh linh Ông Mười”


    Sưu tầm.



  20. #100
    Thành viên DANH DỰ - Đã đóng góp nhiều về Học thuật cho Diễn đàn Avatar của phoquang
    Gia nhập
    Mar 2008
    Bài gởi
    33,246

    Mặc định



    Nói về tín ngưỡng thờ Mẫu tam tứ phủ không thể không nói đến tập tục hành hương đi lễ cầu an tại các phủ đền miếu điện vào các ngày đầu xuân, các ngày sóc vọng (rằm, mồng một), các ngày tiệc thánh, hội đền hay bất kỳ ngày nào trong năm. Đi lễ thánh trước hết để tỏ lòng tôn kính ngưỡng phục biết ơn chư thánh đã bảo hộ cho dân an quốc thái, cho đất nước phồn hoa , sau đó là sự nguyện ước cho gia đình bản thân những điều tốt lành, bình an, may mắn. Dời cuộc sống tất bật bon chen, người ta tới cửa thánh để du ngoạn, tĩnh tâm, nương theo Phật Thánh để tu đức tích thiện làm điều có ích. Theo phong tục cổ truyền, khi đi lễ cầu an người ta thường chuẩn bị đồ lễ, sớ văn và khấn vái như sau :

    SỬA LỄ VẬT

    Thông thường, các lễ vật được sắp làm các phần lễ và bày ở các ban chính ( ban công đồng, ban trần triều, ban sơn trang, ban Mẫu….) hoặc tất cả các ban thờ trong nơi thờ tự. Các lễ vật dâng tiến thường có:


    1.Trầu cau:( phù lưu)

    Người xưa có câu : “miếng trầu là đầu câu chuyện”.Trầu cau tuy là lễ vật đơn sơ nhưng lại rất có ý nghĩa. Thường mỗi một phần lễ lại đặt kèm một lễ trầu cau hoặc có thể chỉ đặt đại diện ở các ban đại diện ( ban công đồng). Một lễ trầu cau có thể chỉ là một quả cau - một lá trầu hoặc một nải cau (cành có nhiều quả) hay cả buồng cau. Cau trầu khi dâng lễ thường dùng loại tươi chứ ít dùng loại cau khô. Cau thì trọn quả bánh tẻ (không già mà cũng không non quá) có vỏ xanh nhẵn không có trầy xước và có râu thì càng tốt . Lá trầu chọn loại lá tươi dày, màu xanh hoặc hơi ánh vàng. Thường chọn số quả cau là số lẻ như 1, 3, 5, 9… với quan niệm số lẻ là số âm : tương ứng với sự huyền ảo linh thiêng và cũng là tổng của hai số chẵn và lẻ : sự thuận hòa âm dương, hay quan điểm cho rằng số lẻ là số phát triển và số chẵn thì không tăng thêm nữa, vậy thì sẽ không có thêm tài thêm lộc được .Cũng có khi chọn số chẵn như 12, 36 ,72… (những số này đều có thể chia ra thành ba phần ) hay số 100 (tượng trung cho sự trọn vẹn hoàn mĩ). Có một điều lưu ý là số 7 tuy là số lẻ nhưng cũng rất nhiều người kiêng vì cho rằng 7 lễ đọc theo tiếng hán là thất lễ đồng âm dị nghĩa với từ thất lễ trong nghĩa là làm không đúng lễ phép( vô lễ). Về số lượng của các lễ vật khác cũng tương tự như ở phần này nên sẽ không nói lại nữa.
    Ngoài trầu và cau ta có thể đặt kèm một ống vôi hay quết một it vôi ở phần đầu của lá trầu. Vôi để dâng lễ thường là vôi đào (vôi hồng), ngoài ra còn có thể dâng thêm thuốc lào, vỏ quạch, vỏ chay.... Ngoài dâng trầu nguyên lá, cau nguyên quả, người ta còn dâng trầu têm cánh phượng đặt vào đĩa hay cắm vào các que tre vót nhọn hay cắm cùng các cành hoa nhìn cũng rất đẹp và trang trọng ( Nhưng vẫn nên có một đĩa trầu nguyên lá cau nguyên quả)


    2.Các đồ lễ chay: Hương, hoa, đăng, trà, quả, thực (lục cúng)
    Lục cúng gồm sáu phẩm vật chay tịnh dâng cúng Phật Thánh
    - Hương : ở đây nói về phần hương sống ( hương chưa đốt) để đặt vào phần lễ. Có thể dùng hương thẻ, hoặc hương vòng hay hộp hương trầm. Phần hương này thường sẽ để nhà đền thắp sau này. Phần hương đốt ( hương thắp) sẽ nói sau.
    - Hoa : thường dùng loài hoa có cả hương cả sắc. Dâng hoa lễ thánh là tiến dâng vẻ đẹp ( sắc) và lòng thành tâm ( hương) tới chư vị Phật Thánh. Hoa có thể cắm vào bình, lọ hay bày vào đĩa. Hoa để dâng tiến thường không giới hạn về màu sắc. Ví như hoa màu trắng thường được ít mua về thờ tại nhà ( màu tượng trưng cho sự tang tóc buồn bã) mà thường mua hoa đỏ ( màu cát tường) hay hoa vàng ( màu phú quý..) nhưng với tín ngưỡng tứ phủ thì màu trắng lại là màu tượng trưng cho thủy phủ ( cõi sông nước) . Tại các đền thờ về thoải phủ hay vào ngày tiệc các vị thánh thoải người ta thường dâng hoa hay các lễ vật màu trắng.
    - Đăng ( đèn): tượng trưng cho nguồn sáng, trí tuệ, hay sự linh thiêng. Các đền thường thắp đèn dầu hoặc đèn điện, còn người dâng lễ thường dâng nến cây hoặc nến cốc…
    -Trà ( chè): có thể dâng trà gói ( trà khô) hoặc trà đã pha hay các loại nước khác như nước trắng, nước hoa quả, nước hương nhài…
    - Quả : mùa nào thức ấy, dâng tiến các loại quả tùy tâm.
    -Thực: các loại oản, bánh kẹo, xôi, chè kho …

    3.Rượu và các đồ lễ mặn:

    Người xưa có câu “vô tửu bất thành lễ” ( không có rượu không thành lễ nghi). Rượu thường được đựng trong bình nhỏ hoặc rót ra chén và bày trên ban công đồng, ban Trần triều hay ban thờ các nam thần cùng các đồ lễ mặn như các loại thịt được nấu chín như thịt gà, thịt lợn… hay chế biến thành giò, nem, chả…
    Các đồ lễ như thịt sống, trứng ,gạo muối thường được bày riêng ở ban thờ hạ ban (thờ ngũ hổ, thanh xà, bạch xà). Thịt sống, trứng (vịt) được bày năm quả để dâng các quan ngũ hổ, trứng (gà) bày hai quả riêng để dâng thanh xà bạch xà.
    Ngoài ra trong những dịp cần thiết người ta dâng lễ tam sinh là ba loại động vật khác nhau như : gà , ngan, cá hay gà lợn cá,……. . Các đồ lễ dâng sơn trang như cua, ốc, cá khô… cũng thuộc loại đồ lễ mặn

    4. Đồ mã, tiền vàng (kim ngân minh y)

    Đi lễ hành hương, người ta thường dâng các đồ mã đơn giản như nón hài, các loại giấy tiền, giấy xu, giấy vàng, hay các loại vàng tứ phủ. Vàng tứ phủ là các loại vàng được xếp từ các phong vàng nhỏ thành từng cây. Vàng tứ phủ có các màu theo tứ phủ như màu đỏ ( thiên phủ), màu xanh( nhạc phủ), màu vàng ( địa phủ), màu trắng (thoải phủ) và màu tím hay màu xanh lam đậm. Loại vàng này có các kích cỡ từ nhỏ đến lớn và dâng các vị thánh theo cấp độ tương ứng. Thí dụ như vàng dâng các quan lớn thường to và nhiều hơn vàng dâng các thánh cô.
    Rượu và các đồ lễ mặn chỉ để dâng thánh không được dâng ở ban thờ Phật. Các đồ lễ khác thì có thể dâng ở tất cả các ban.

    5.Bảo vật

    Các cụ có câu “ tốt lễ dễ kêu”, càng dâng tiến đồ lễ chau truốt cầu kỳ tố hảo thì càng dễ kêu cầu đắc lễ đắc bái. Dâng lễ vật là để tỏ lòng thành kính ngưỡng mộ và mong cầu chư thánh bảo hộ gia ân. Bảo vật ở đây là đồ lễ quý báu cao sang, nó quý hơn cả vàng bạc kim cương. Đó chính là tâm bảo. Phật Thánh tại tâm. Những đồ lễ giới thiệu ở trên cũng xuất phát từ lòng thành tâm ngưỡng mộ Phật Thánh. Tùy vào điều kiện mà mỗi người có thể sắm sửa các đồ lễ phù hợp. Không nên quá chú trọng vào đồ lễ vật chất mà cần thiết hơn cả là tâm bảo – đồ lễ quý giá mà một người đi lễ nên có

    Bài viết : Soạn Giả Phúc Yên
    Đăng : mantico


    Last edited by phoquang; 06-02-2016 at 01:32 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •