Trang 2 trong 2 Đầu tiênĐầu tiên 12
kết quả từ 21 tới 38 trên 38

Ðề tài: Ông Phật trong tâm

  1. #21

    Mặc định

    Có và không vốn không hai. Bậc giác ngộ tức là họ không chấp có, chấp không. Có đấy nhưng mà không. Không chấp đắm . Như trong kinh Duy Ma Cật sở thuyết có nói ngài Duy ma cật như sau: Thị hiện có quyến thuộc mà ưa sự xa lìa, dù có ăn uống nhưng dùng thiền duyệt làm vị... Huynh tìm kinh Duy ma cật đọc biết liền à

  2. #22
    Nhất Đẳng Avatar của Hành Giả Du Già
    Gia nhập
    Oct 2012
    Nơi cư ngụ
    A Lan Nhã
    Bài gởi
    1,048

    Mặc định

    Có nhữg vị Độc Giác Phật khi ngộ đạo họ tự nhập diệt, rất nhiều vị Độc Giác Phật đã nhập diệt nhưng các bạn không biết. Vì giáo pháp của 1 vị Toàn Giác còn tại thế nên sẽ không coa thêm 1 vị Toàn Giác Phật cho đến khi giáo Pháp của một vị Toàn Giác diệt độ.

    Từ 2558 năm qua có rất nhiều vị Độc Giác Phật nhập diệt...Bồ Tát thì vô số... Vì chưa đạt thánh trí nên chưa thấy chứ không phải không có
    HÀNH GIẢ DU GIÀ LẤY TA BÀ LÀM NIẾT BÀN TẠI THẾ - SỐNG HẾT THẢY VỚI TẤT CẢ CHÚNG SANH

  3. #23

    Mặc định

    Đúng như bạn hanh giả du già nói độc giác Phật rất nhiều và bồ tát củng rât nhiều nhưng ko là vô số nếu so sánh với tỷ lệ các chúng sanh sanh diệt gần ngàn tỷ người. không biết bạn có thể chia ra tỷ lệ số vi chung dắc bồ tát so với chúng sanh sanh diệt là tỷ lệ bao nhiêu 1/ 1 triệu hay 1 phần 1 tỷ vậy. Cái bạn nói không ai phủ nhận và không phải ko biết về điều này. Mà cái cốt lõi chúng ta muốn đề cập đến là tất cả chúng sanh cõi ta bà này đều thành Phật là điều ảo tưởng, thay vì suy nghĩ ảo tưởng như thế hãy quay về với thực tế gần gũi tu tập tinh tấn diệt tham sân si mạn nghi. chứ cứ mãi mơ mộng ảo tưởng, xa rời thực tế thì uổng cả ngàn kiếp tu tập. Vì sao gọi là Độc Giác Phật, vì sao goi là Bồ Tát, mà không gọi là Phật bạn cũng hiểu và trả lời được rồi. Nhưng cái mà đạo hữu của mình thắc mắc là nếu ai cũng thành Phật hết cả, chứ ko có đề cập đến Độc giác Phật hay bồ tát gì cả.

    Cảm ơn bạn chia sẻ và sẽ hấp dẫn hơn nhiều nếu bạn chia sẻ đúng trọng tâm mà mọi người đang thắc mắc. Chúc bạn tinh tấn và sức khỏe. Nam mô A di đà Phật!

  4. #24
    Nhất Đẳng Avatar của Hành Giả Du Già
    Gia nhập
    Oct 2012
    Nơi cư ngụ
    A Lan Nhã
    Bài gởi
    1,048

    Mặc định

    Những gì muốn nói Tôi đã chia sẽ, hiểu & ngộ đến đâu thì tùy quý vị. Xét thấy nói thêm sẽ là hý luận nên Tôi không nói thêm nữa.
    HÀNH GIẢ DU GIÀ LẤY TA BÀ LÀM NIẾT BÀN TẠI THẾ - SỐNG HẾT THẢY VỚI TẤT CẢ CHÚNG SANH

  5. #25

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Hành Giả Du Già Xem Bài Gởi
    Có nhữg vị Độc Giác Phật khi ngộ đạo họ tự nhập diệt, rất nhiều vị Độc Giác Phật đã nhập diệt nhưng các bạn không biết. Vì giáo pháp của 1 vị Toàn Giác còn tại thế nên sẽ không coa thêm 1 vị Toàn Giác Phật cho đến khi giáo Pháp của một vị Toàn Giác diệt độ.

    Từ 2558 năm qua có rất nhiều vị Độc Giác Phật nhập diệt...Bồ Tát thì vô số... Vì chưa đạt thánh trí nên chưa thấy chứ không phải không có
    có lẽ là vậy nên con thật khó đi tìm một vị đạo sư đã thật sự thấu triệt để học đạo , chắc chưa đủ duyên lành . cảm ơn bác đã chia sẻ
    Hãy lắng nghe và cảm nhận với tâm không thành kiến chân lý sẽ hiển bày.

  6. #26

    Mặc định

    Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi:

    Có một pháp Đà - la - ni tên là Kim - Cang - Tâm hay khiến chúng sinh một phen thấy, một phen nghe liền đặng đạo quả. Này gã trai lành! Thế nào gọi là Kim Cang tâm? Tâm này người người vẫn có không kẻ nào không, nên cái tâm bình đẳng của chúng sinh này tự biết lấy, tự hiểu lấy. Vì sao? Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sinh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân, thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm làm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sinh, nếu tâm chính thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm của mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.

    Phật nói: Người này không bao lâu sẽ được thành Phật; nếu có người trai lành, gái tín muốn cầu Phật đạo, mà không rõ được tâm của mình thì không thể thành Phật. Nếu có người người rõ được tâm, thấy được tính, y theo Phật dạy tu hành, quyết định thành Phật, còn hơn công đức tụng ba mươi muôn biến kinh Kim Cang cũng không sánh kịp

  7. #27
    Nhất Đẳng Avatar của Hành Giả Du Già
    Gia nhập
    Oct 2012
    Nơi cư ngụ
    A Lan Nhã
    Bài gởi
    1,048

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi phapchieumt Xem Bài Gởi
    Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi:

    Có một pháp Đà - la - ni tên là Kim - Cang - Tâm hay khiến chúng sinh một phen thấy, một phen nghe liền đặng đạo quả. Này gã trai lành! Thế nào gọi là Kim Cang tâm? Tâm này người người vẫn có không kẻ nào không, nên cái tâm bình đẳng của chúng sinh này tự biết lấy, tự hiểu lấy. Vì sao? Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sinh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân, thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm làm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sinh, nếu tâm chính thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm của mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.

    Phật nói: Người này không bao lâu sẽ được thành Phật; nếu có người trai lành, gái tín muốn cầu Phật đạo, mà không rõ được tâm của mình thì không thể thành Phật. Nếu có người người rõ được tâm, thấy được tính, y theo Phật dạy tu hành, quyết định thành Phật, còn hơn công đức tụng ba mươi muôn biến kinh Kim Cang cũng không sánh kịp
    Kinh đã nói rõ như thế cứ theo như kinh mà hành. Khi Ngộ tự động không thấy chân kinh.
    HÀNH GIẢ DU GIÀ LẤY TA BÀ LÀM NIẾT BÀN TẠI THẾ - SỐNG HẾT THẢY VỚI TẤT CẢ CHÚNG SANH

  8. #28

    Mặc định

    Đúng vậy. Cảm ơn đạo hữu HGDG. Nam mô A Di Đà Phật!

  9. #29

    Mặc định

    THẦN THỨC LÀ GÌ

    Một con người bằng xương bằng thịt, có cử động, nói năng được, nói tóm lại là một người sống, thì chia thành 02 phần rõ rệt:

    Một phần là thân xác của mình
    Và một phần là linh hồn của mình
    Linh hồn đó ở trong một thân xác.


    Nói Về Thân Xác

    Nếu để linh hồn qua một bên (chỉ đề cập đến thân xác thôi) thì thân xác đó vẫn cử động được, vẫn di chuyển, vẫn hoạt động được, nhưng giống như một người máy. Tức là làm mà không biết mình làm, chỉ làm mà thôi. Cũng ăn, cũng uống, cũng ngủ, tất cả mọi thứ đều làm được với thân xác, chỉ thân xác mà thôi. Mắt, tai, mũi, lưỡi … thân xác đều có, nhưng:

    Mắt nhìn thấy sự vật thì chỉ biết rằng Nhìn và Thấy, chấm dứt.
    Tai nghe được tiếng động, biết được có tiếng động, chấm dứt.
    Mũi ngửi được, biết rằng có mùi, chỉ ngửi và chấm dứt.
    Lưỡi nếm được, biết rằng có một cái vị, nhưng chỉ biết được bao nhiêu đó mà thôi, chấm dứt.
    Tay sờ vào một vật gì thì chỉ biết hành động sờ nhưng không phân định được.
    Tóm lại là với ngũ căn thì đều nhận biết nhưng không rõ chi tiết.

    Tuy nhiên, nếu thân xác đó có được một linh hồn ở bên trong của thân xác, thì chính linh hồn đó mới tạo ra những cái thức. Khi đó, ngũ căn không chỉ đơn thuần là thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó. Tất cả những hành động của ngũ căn đều có sự diễn tả rất là chi tiết. Những chi tiết có được là từ ở những cái THỨC do Linh Hồn tạo nên.

    Thấy như thế nào, thấy cái gì, màu sắc như thế nào và những chi tiết của việc thấy ra làm sao?

    Tất cả những gì có liên quan đến cái thấy thì sẽ giúp cho chữ thấy được mở rộng ra, càng chi tiết hơn.

    Nhận biết rằng có một cái mùi bay ngang qua lỗ mũi của mình, nhờ có linh hồn cho cái Tỉ thức mà mình biết được rằng đó là mùi thơm hay mùi hôi, mùi của 1 loại hoa, 1 loại cỏ, hay là mùi của 1 con vật, và cái mùi đó đã tạo nên một cảm giác ra làm sao?

    Lần lượt ngũ căn đều nhận được từ ở Linh Hồn những cái THỨC gọi chung là NGŨ THỨC, dự phần vào việc giúp cho ngũ căn cảm nhận mọi sự vật chung quanh mình một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn và tinh tế hơn.

    Bên cạnh ngũ căn được sự tăng cường của NGŨ THỨC, còn có những THỨC khác mà tầm quan trọng cũng rất đáng kể, đó là MẠC NA THỨC và A LẠI DA THỨC.

    Giữa Ngũ Thức, Mạc Na Thức và A Lại Da Thức có một thức trung gian, đó là Ý THỨC. Sự phân định và thẩm định một cách rõ ràng của những cái Thức của Ngũ Căn đều phải qua Ý Thức.

    Đơn cử một thí dụ như sau: một người nhìn thấy một cảnh đẹp, nhờ có Nhãn Thức mà người đó sẽ hiểu được các chi tiết trong cái cảnh mà mình nhìn thấy. Nhưng bên cạnh đó, nhờ có Ý Thức, người đó sẽ thấy rằng khung cảnh này nó nên thơ như thế nào, nó làm cho lòng tôi bồi hồi ra sao, nó làm cho những kỷ niệm xa xưa sống lại với tôi như thế nào? Làm cho tôi nhớ lại những gì đã xảy ra, làm cho tôi liên tưởng đến một hình ảnh khác... Tất cả những gì tôi liên tưởng, tôi nghĩ đến, hay tôi bồi hồi trước một khung cảnh đẹp, đều là do ở tác động của Nhãn Thức tăng cường thêm sự trợ lực của Ý Thức. Và cái Ý Thức quan trọng vô cùng, nó lại liên quan đến cái Tâm và cái Tánh.

    Nếu một người đó có một Tâm từ bi, Tâm hỷ xả thì khi đứng trước một cảnh vật hữu tình, tâm người đó rung động, chan chứa những hình ảnh tốt đẹp về những cái gì mà người đó muốn đem ra để ban phát cho chúng sanh. Tâm rung động đó là một tâm rung động tốt. Cái tâm rung động tốt đó sẽ giúp cho cái Ý Thức nảy sinh ra những tư tưởng tốt đẹp là làm sao xoa dịu được nỗi đau của kẻ khác.

    Cho nên cái Ý Thức dính liền với cái Tâm rất nhiều và nó cũng dính chặt với cái Tánh. Nếu là một người có bản tánh thích chia sẻ, thích sự dịu dàng, thích ban phát, ban bố, thì trước một khung cảnh hữu tình, người đó sẽ tức cảnh sanh tình xướng lên những vần thơ biểu lộ hết tâm tư của mình, sự chắt chiu, lo lắng của mình đối với những người kém may mắn, kém phước lành hơn mình.

    Nếu cũng trong một khung cảnh đó, cái Ý Thức được khởi lên từ ở một người có một cái Tâm không lành lại cộng thêm một cái Tánh không lành thì mọi chuyện sẽ quay ngược trở lại và sẽ không thể nào có được những bài thơ êm nhẹ, ca ngợi một tình thương yêu đối với chúng sanh.

    Thành ra, tất cả những cái Thức mà mình có được chính là từ ở Linh Hồn.

    Nên nhớ rằng: thân xác bị già nua, bị hủy hoại, nhưng Linh Hồn thì không.

    Trước khi thân xác chấm dứt sự sống, Linh Hồn vì ở trong thân xác đó, nên đã nhận biết được sự lão hóa, sự hủy hoại từ từ của thân xác, nên đã có sự chuẩn bị, sắp xếp để rời thân xác.

    Coi như cái áo này đã cũ rồi, cần phải đi tìm chiếc áo mới khác tốt đẹp hơn. Và khi linh hồn rời khỏi xác thân, tất cả các Thức đều bị hủy diệt.

    Tại sao?

    Vì những Thức đó là những thức giả tạm, không vĩnh viễn, xem như là phương tiện cho những bộ phận của thể xác mà thôi. Kể cả Mạc Na Thức cũng không được xem là một thức vĩnh viễn. Duy nhất được xem là vĩnh viễn, chính là A Lại Da Thức và thức này đảm nhận công việc của một ngăn chứa.

    Chứa cái gì?

    Chứa thuần những sự việc quan trọng, không quan trọng thì không chứa!

    Không quan trọng thì tạm thời chứa trong Mạc Na Thức, khi linh hồn đã rời khỏi thân xác rồi thì Mạc Na Thức cũng bị hủy diệt.

    Vì Sao?

    Vì tất cả những thứ mà Mạc Na Thức chứa lại cũng là giả tạm, nếu so với cái giả tạm của Lục Thức thì cái giả tạm của Mạc Na Thức có tính cách kéo dài hơn. Để chi? Để chờ đợi, chờ đợi coi có sự chuyển hóa hay không?

    Sự chuyển hóa đó từ ở đâu? Chính là ở cái Tâm.

    Một người trước kia có một tâm không lành, nhưng sau một thời gian tu tập, nghe Pháp, hiểu Pháp, hành Pháp và nhận xét rằng mình đã làm chuyện sai, cho nên hoán chuyển tâm mình để trở nên tốt đẹp hơn. Khi trở nên tốt đẹp hơn, điều đó là vĩnh viễn, được Mạc Na Thức ghi nhận. Và Mạc Na Thức sẽ giữ đó cho đến ngày người đó lìa đời, nếu tâm người đó vẫn trước sau như một, sau khi đã chuyển hóa rồi mà không có gì thay đổi cả, thì Mạc Na Thức trước khi bị hủy diệt, sẽ chuyển cái sự việc tốt đẹp đó vào trong A Lại Da Thức, xem như là một điểm son cho người đó.

    Nếu một người luôn sân hận, có nhiều tánh xấu, thường làm những chuyện sai trái, Mạc Na Thức sẽ tích tụ không sót một điều nào cả. Cho nên cần ghi nhớ: mình có thể che dấu được kẻ khác, chớ không thể nào che dấu chính bản thân mình.

    Chính bản thân mình là cái gì?

    Chính là cái Mạc Na Thức đó! Một tư tưởng vừa khởi lên, chưa được chuyển đạt thành lời, Mạc Na Thức tức khắc ghi nhận liền. Và nếu không được sửa đổi cho tới ngày nhắm mắt, tất cả mọi thứ sẽ trở thành vĩnh viễn và sẽ được chuyển vào trong A Lại Da Thức có thứ tự lớp lang.

    Trước khi linh hồn rời khỏi thân xác, những cái gì thuộc về vĩnh viễn thì Mạc Na Thức chuyển vào trong A Lại Da Thức. Những cái gì có tính cách tạm bợ thì bỏ ra ngoài, không kể tính. Tất cả các thức: Lục thức lẫn Mạc Na Thức đều bị hủy diệt. Linh hồn ra đi chỉ mang theo A Lại Da Thức mà thôi.

    Chính cái linh hồn đó, khi còn trong một thân xác sống động thì gọi là Người. Nhưng khi người đó không còn hơi thở nữa thì gọi là Vong. Linh hồn vì không còn thân xác nữa để trụ vào, cho nên được gọi một cách đúng nghĩa là Thần Thức.

    Danh từ Thần Thức nói lên sự linh hoạt, mầu nhiệm không thể bàn luận cho cùng của Linh Hồn, chớ không phải là vì linh hồn có thần thông quảng đại gì cả.

    Cái linh hồn đó mang cái A Lại Da Thức đi theo mình. Nếu trong A Lại Da Thức chứa toàn là điều sân hận, chứa toàn là những điều quấy trá, chứa toàn những điều đau thương, điều đó nói lên cái gì?

    Nói lên rằng: người đó khi còn sống đã gieo nhân không lành. Chứa sân hận cũng là gieo Nhân không lành, chứa đau khổ cũng gieo Nhân không lành, chứa những điều quấy trá cũng là gieo Nhân không lành.

    Tất cả mọi thứ sẽ theo nghiệp lực mà người đó đã tạo ra và được hành xử theo luật Nhân Quả.

    Người đó tạo nghiệp không lành với một kẻ khác, nhưng muốn tạo nghiệp với kẻ khác thì, chuyện trước tiên là người đó đã gieo nhân không lành với kẻ khác đó, khi vòng nghiệp lực đã đóng lại rồi, thì cốt tủy của vòng nghiệp lực là một sự tác động của Nhân và Quả.

    Cho nên tất cả nghiệp lực đều dính chặt vào Nhân và Quả. Thần thức đó bị vướng mắc, chính là vướng mắc ở cái Nhân và Quả.

    Giải quyết những vướng mắc của thần thức là giải thích cho thần thức hiểu rằng: tôi đã làm điều không hay, không phải, chẳng qua là vì tôi đã gieo Nhân không lành, bây giờ Quả không lành lại đến với tôi. Vì Quả tôi nhận được không lành cho nên tôi bị vướng mắc, chính vì vậy mà vong không thể siêu thoát được!

    Cho nên siêu độ cho vong là vạch rõ cho vong hiểu rằng: cái A Lại Da Thức mà vong đã mang theo chứa toàn là Nhân xấu, ngày giờ này giúp cho vong có một trí huệ, trí huệ đó ví như một ngọn đèn giúp vong lựa lọc lại những cái Nhân mà mình đã mang theo. Điều thú vị là khi đã trở thành một cái vong rồi (mà phải nhớ rằng là vong trong vòng 49 ngày chớ không phải vong sau 49 ngày), thần thức mới nhận chân ra được rằng: từ bấy lâu nay cái túi A Lại Da Thức của tôi đã chứa quá nhiều những hạt lép, hạt không tốt, hạt hư thúi. Ngày giờ này nó làm cho tôi nặng nề, khó khăn cất bước.

    Bây giờ tôi phải làm sao?

    Chính người chủ lễ phải giúp cho vong có được chút trí huệ để phân định được: hột này không tốt để qua, hột này tốt, giữ lại. Sau khi lựa lọc lại những cái nhân mà mình đã mang theo thì, với sự giúp đở của người chủ lễ, thần thức đó đã nhìn thấy được một sự không cân bằng của cán cân.

    Thời gian 49 ngày là thời gian đặc ân để giúp cho vong làm sao chuyển hóa được những cái nhân không lành của mình thành ra những cái nhân lành. Và nếu biết tu tập trong 49 ngày thì sự chuyển hóa sẽ dễ dàng, chừng đó, vong sẽ nhẹ nhàng để cất bước.

    Một người khi đã hiểu được điều đó, sẽ đem hết tấc dạ của mình để mà siêu độ cho thân nhân mình. Không thể nào nhờ người khác được, vì sợi dây tình cảm buộc ràng giữa thân nhân và linh hồn đó rất là chặt chẽ.

    Trong thời gian 49 ngày, chính cái sợi dây tình cảm đó đã lôi kéo vong ngồi xuống để lựa lọc lại những cái nhân không lành mà mình đã mang theo. Cho nên việc giúp vong tu tập trong vòng 49 ngày là một việc rất cần … rất cần.

    Đôi khi vong tỏ ra có chút ít trí huệ, đó là nhờ lúc còn sống, có duyên may gặp được Thiện Tri Thức chỉ dẫn và hiểu rõ được rằng mình bị vướng mắc. Nhưng cũng chỉ hiểu được bao nhiêu đó mà thôi, không hiểu hơn nữa!

    Vì vậy ngày nay, nếu không có người dẫn dắt, không có người chỉ vẽ, không có người vạch vòi thì vong sẽ không thấy được những vướng mắc của mình, hay hiểu rõ những vướng mắc của mình ở nơi nào để mà tháo gỡ.

    Do đó mà vong sẽ bị đọa đày một cách oan uổng.

    Đó là lý do vì sao bắt buộc phải dùng nghi thức Sám Hối để giúp cho vong nhẹ nhàng hơn trong thời gian 49 ngày. Sám hối là một hành động để diễn tả, để nói lên rằng tôi ăn năn, tôi hối hận, tôi tiếc hối vì tôi đã tạo nên những cái nhân không lành.

    Vong phải biết rõ vì sao mà mình lại có quá nhiều cái nhân không lành? Và nhờ có sám hối mà vong mới hoán chuyển được những cái nhân không lành thành những cái nhân lành. Mà một cái vong ra đi với nhiều cái nhân lành thì đâu có gì là cực nhọc, đâu có gì là nặng nề nữa đâu.

    Muốn có được nhân lành, vong bắt buộc phải có được một chút trí huệ. Có trí huệ như đeo ngọn đèn ở trước trán, đi tới là có ngọn đèn soi sáng rồi, do đó mà biết được đường nào mình sẽ phải đi.

    Có một điều rất là lý thú và rất là lợi lạc mà ít ai để ý đến. Siêu độ cho vong, chỉ có 3 con đường để lựa chọn: hoặc về Cõi Người, hoặc về Cõi Trời, hoặc về Cõi Phật.

    Không có trường hợp "rơi" xuống Tam Đồ! Dù người đó khi hắt hơi có những dấu hiệu bị đọa vào Tam Đồ, nhưng trong vòng 49 ngày, nếu thân nhân ra sức giúp cho vong linh tu tập, thì việc hoán chuyển từ Tam Đồ lên Cõi Người sẽ rất là dễ dàng, không khó khăn; nhưng, quá 49 ngày rồi thì người có dấu hiệu bị đọa Tam đồ phải theo đúng Tam Đồ mà đi, nếu không được siêu độ. Vì vậy, 49 ngày là thời gian đặc ân, thời gian để hoán chuyển cảnh giới nếu được siêu độ đúng cách.

    Từ xưa đến nay, chúng sanh không bao giờ lợi dụng thời gian đặc ân này để làm bất kỳ điều gì cho vong linh hết, rất uổng, rất uổng!

    Gần như đa số những người thân của vong linh, có lẽ vì tánh lơ là, không để ý, xem việc chết, sống là lẽ thường, cho nên rất ít ai chịu quan tâm đến việc siêu thoát của vong linh. Vong linh có an ổn ra đi chăng? Hay còn lang thang, vất vưởng trong địa ngục đọa đày? Vong linh có đau khổ chăng? Có tìm được một cảnh giới tốt đẹp, hạnh phúc chăng?

    Tất cả chúng sanh nghĩ rằng chôn xuống một thi hài là xong chuyện! Không bao giờ nghĩ rằng trong cái thân xác được chôn xuống đó, còn có cái linh hồn. Và chính cái linh hồn đó mới điều khiển được thân xác, nếu không có linh hồn thì không thể điều khiển cái thân xác được. Dù cái thân xác đó có đẹp cách mấy, có tốt cách mấy thì cũng vẫn là một đống thịt mà thôi!

    Cho nên, cái linh hồn đó không biến mất khi thân xác đã tan rã, mà linh hồn đó có phận sự đi tìm một thân xác mới. Cái linh hồn đó không bao giờ bị hủy hoại, chỉ có thể bị đọa đày, nhưng không tan biến. Vì vậy mà phải giúp cho cái linh hồn được tốt đẹp, vì cái linh hồn được tốt đẹp, thì một con người ở trên dương thế mới được tốt đẹp.

    Còn nếu như một linh hồn có quá nhiều nặng nề, không tốt, thì cái thân xác ở trên dương thế chứa đựng cái linh hồn quá xấu xí, cũng sẽ trở thành xấu xí.

    Phải hiểu rõ được điều đó để thấy rằng, càng làm cho linh hồn tốt đẹp nhiều chừng nào, thì người trên dương thế sẽ được hoán chuyển, sẽ được sửa đổi một cách tốt đẹp.

    Cho nên giúp đỡ cho vong linh, là giúp đỡ cho một số đông chúng sanh trong tương lai được tốt đẹp hơn. Một linh hồn biết tu tập, hiểu biết điều phải trái, có trí huệ thì dù tiến vào một thân xác nào, thì thân xác đó cũng khởi sắc, và ảnh hưởng tốt đẹp cho những người chung quanh.

    Còn một điều rất thú vị: đó là một sự gạn lọc! Gạn lọc để tất cả những cái gì không tốt đẹp sẽ được để qua một bên và làm cho nó trở nên tốt đẹp. Còn những cái gì đã tốt đẹp rồi thì giúp cho nó càng ngày càng thăng hoa. Tới một lúc nào đó, Cõi Ta Bà sẽ có vô số người tốt đẹp.

    Nguồn: http://lacphap.com/item/386-than-thuc-la-gi

  10. #30

    Mặc định BÌNH THƯỜNG TÂM THỊ ĐẠO

    XUÂN ẤT SỬU 1985

    Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

    Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán năm Ất Sửu, là năm 1985 D.L., tất cả quí Tăng Ni và Phật tử tới chúc mừng năm mới đáp lại lòng tốt của quí vị, tôi xin nói chuyện nhiều, trước nhất là để nhắc cho quí vị nhận ra cái chân thật nơi mình để ứng dụng tu hành, thứ nữa để quí vị cùng tôi, chúng ta sống được cái chân thật này tròn một năm hay là từ đây về sau hằng được chân thật. Hôm nay tôi không tiếc những sợi lông mày, vì quí vị mà nói trắng ra những điều gì cần nói, đó là chủ yếu buổi nói chuyện hôm nay với đề tài là: “BÌNH THƯỜNG TÂM THỊ ĐẠO”. Đề tài này quí vị chắc cũng thường nghe, chúng tôi không nói những chuyện gì mới lạ ở đâu xa, chỉ dẫn những chuyện cũ mà quí vị từng nghe chúng tôi giảng những năm về trước, nhưng ở đây chúng tôi nói lại có khác hơn thuở xưa; bởi vì ngày trước chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi chỉ nói tổng quát hay là gần một chút để cho quí vị thầm nhận, nếu ai không nhận được thì qua những buổi khác hoặc qua thời gian tu rồi cũng có thể nhận, chớ chúng tôi không nói trắng, không nói thẳng. Nhưng hôm nay chúng tôi sẽ nói thẳng ra cho quí vị thấy, nếu quí vị thấy rồi ứng dụng được thì đó là một điều rất quí mà chúng tôi mong mỏi.

    Trước tiên tôi dẫn câu chuyện ngài Triệu Châu đến hỏi đạo ngài Nam Tuyền. Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”. Ngài Triệu Châu hỏi: “Lại có thể nhằm tiến đến chăng?” Nếu nói tâm bình thường là đạo như vậy mình có thể nhằm tiến tới để được tâm đó hay không? Ngài Nam Tuyền trả lời: “Nghĩ nhằm tiến đến là trái.” Vừa nghĩ tiến đến để đạt đạo là trái với đạo rồi. Ngài Triệu Châu hỏi thêm: “Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?” Theo quan niệm của ngài Triệu Châu là muốn biết đạo phải do nghĩ mà biết, nay không do nghĩ tiến đến thì làm sao biết đạo? Ngài Nam Tuyền đáp: “Đạo chẳng thuộc biết, chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký, nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang, đâu thể dối nói phải quấy.” Ngay đó Sư ngộ, như vậy ngang đó ngài Triệu Châu liền ngộ, còn quí vị ngộ chưa?

    Bởi chưa ngộ, nên nay tôi mới giải thích trắng ra cho quí vị thấy. Tất cả chúng ta, người học đạo hay người tầm đạo, ai cũng nghĩ rằng trên đường tu mình phải tìm cho được đạo hay là thấy cho được đạo; nhưng muốn tìm được đạo, thấy được đạo phải làm sao? Chúng ta cứ nghĩ rằng đạo là cái gì quí giá cao cả ở ngoài mình, chớ không phải ở nơi mình, thế nên mình cứ nghĩ tìm đạo; ngài Triệu Châu cũng có tâm niệm tương tự chúng ta, Ngài đến hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền chỉ thẳng: “Tâm bình thường là đạo.” Quí vị nghĩ “tâm bình thường” là tâm như thế nào? Ngồi đâu cũng nghĩ chuyện năm trên năm dưới, đó là tâm bình thường phải không? Vừa có dấy niệm lên là động, mà động là bất bình thường. Thế nên cái tâm bình thường là cái tâm phẳng lặng không động, tâm đó là đạo, chớ chẳng đâu xa, cũng như nói mặt nước phẳng là khi nào không dậy sóng, phải không? Nếu dậy sóng thì mặt nước không còn phẳng nữa, phẳng tức là lặng lẽ, là bình thường, vừa dấy sóng lên là động, là bất bình thường. Như vậy ngài Nam Tuyền không ngại chỉ thẳng cho chúng ta thấy rằng “Tâm bình thường là đạo” chớ không phải cái gì xa xôi. Đạo là cái tâm bình thường đó. Qua câu nói đó ngài Triệu Châu chưa hài lòng, Ngài nói: “Lại có thể nhằm tiến đến chăng?” Nếu tâm bình thường như vậy thì tôi có thể tiến đến để đạt đạo được chăng? Quí vị thấy Ngài nói tiến đến để đạt đạo, thì cái nghĩ tiến đến là bình thường hay bất bình thường? Vừa nghĩ tiến đến là đã bất bình thường, mà bất bình thường là mất đạo; vì vậy ngài Nam Tuyền trả lời: “Nghĩ nhằm tiến đến là trái.” Trái với cái gì? Trái với đạo! Bởi vì vừa nghĩ tiến đến đã là động, mà động tức là bất bình thường, cho nên trái với đạo. Cũng như mặt nước phẳng nếu dấy sóng lên là trái với mặt nước phẳng, phải không? Vì vậy nên nói nghĩ nhằm tiến đến là trái. Nhưng ngài Triệu Châu cũng chưa hài lòng, Ngài nghĩ đạo là cái gì phải do suy nghĩ mà biết mới gọi là đạo, chẳng lẽ tâm bình thường lặng xuống là đạo hay sao? Vì vậy Ngài mới hỏi thêm: “Khi chẳng nghĩ làm sao biết đạo?” Nếu không suy nghĩ gì cả làm sao biết đó là đạo, phải không? Nghĩa là đạo là cái mình hay suy nghĩ mà biết, nhận ra, nay không cho suy nghĩ, không cho biết thì làm sao biết đó là đạo? Ngài Nam Tuyền mới bảo “Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký”, nghĩa là tâm lặng lẽ đó là đạo, vừa dấy biết thì đó là vọng giác, còn không biết gì cả đó là vô ký, cả hai đều sai. Nếu thật đạt đạo, tức là thật nhận ra cái đó thì sao? Thì không còn nghi ngờ gì nữa cả, chỗ đó nó thênh thang như hư không rỗng rang, không có thể nói là phải hay là quấy, nghĩa là vừa nói quấy là hai bên, mà hai bên là trái với đạo. Ngay đó ngài Triệu Châu ngộ, như vậy thì ngài Triệu Châu ngộ được tâm bình thường là đạo. Quí vị thấy chỗ đó chưa? Đây là tôi nói trắng quá rồi chắc không còn ai nghi ngờ gì nữa.

    Để tôi dẫn thêm một Thiền sư khác, đó là Thiền sư Đạo Ngộ. Ngài Sùng Tín là một ông thợ làm bánh bao ở trước cổng chùa, như vậy chúng ta biết trình độ văn hóa của ông đến đâu rồi, phải không? Là một người làm nghề bánh bao, nhưng được cái tốt là biết phát tâm cúng dường, nên hôm nào cũng đem vài cái bánh bao đến cúng thầy (tức Thiền sư Đạo Ngộ). Cứ như thế trong một thời gian, ngài Đạo Ngộ nghĩ thương tình người có đạo tâm, nên một hôm khi Sùng Tín đem bánh bao cúng cho Ngài, Ngài chỉ nhận phân nửa, còn phân nửa Ngài trả lại và nói: “Ta cho lại ngươi để về nuôi dưỡng con cháu”, Sùng Tín ngạc nhiên quá, thưa rằng: “Con cúng cho Thầy mà Thầy cho lại con để làm gì?” Đạo Ngộ nói: “Ngươi cúng cho ta, ta cho lại ngươi thì có lỗi gì?”. Câu chuyện đối đáp đó làm ông băn khoăn: Tại sao mình cúng cho thầy mà thầy cho lại mình? Suy nghĩ một lúc không biết ông hiểu làm sao rồi phát tâm đi tu. Khi ông xin xuất gia, Đạo Ngộ nói: “Được, ta cho ngươi xuất gia.” Sau khi Ngài xuất gia, ngài Đạo Ngộ bảo: “Nay ông làm thị giả cho ta, ta sẽ chỉ tâm yếu cho ông.” Từ đó Sư bắt đầu làm thị giả, mãi đến hai ba năm không thấy Đạo Ngộ chỉ dạy tâm yếu gì cả. Cho đến một hôm thắc mắc quá, Sư ẩn nhẫn không nổi mới ra hỏi thầy: “Từ ngày con vào đây đến nay chưa được Thầy chỉ tâm yếu.” Đạo Ngộ bảo: “Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.” Nghĩa là Sùng Tín thấy từ ngày thầy bảo làm thị giả hứa dạy tâm yếu, mà cả mấy năm chưa dạy câu nào nên Sư phải hỏi. Khi Sư hỏi thì Đạo Ngộ nói rằng: “ Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.” Quí vị thấy có nghi không? Thế nên Sư nghi, hỏi thêm: “Thầy chỉ dạy ở chỗ nào?” Đạo Ngộ bảo: “Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp, ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận, ngươi xá lui ra thì ta gật đầu, chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?” Như vậy chỉ dạy tâm yếu không có lời phải không? Nghĩa là dâng trà thì vì đưa tay mà tiếp, nếu dọn cơm xong mời thì bắt đầu đến ngồi cầm đũa, phải không? Cho tới xá lui ra thì gật đầu, chỗ nào mà không chỉ dạy tâm yếu. Sùng Tín cúi đầu im lặng suy nghĩ, nghĩ tại sao việc đó là tâm yếu? Sư vừa suy nghĩ, Đạo Ngộ liền bảo: “Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.” Qua câu nói đó, Sư ngộ, liền hỏi thêm “làm sao giữ gìn”? Đạo Ngộ bảo: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác.” Đó là điểm đặc biệt, tôi giải thích thêm cho quí vị thấy cái chủ yếu.

    Khi người thị giả dâng chung trà, mình đưa tay nhận chung trà, lúc đó có suy nghĩ gì không? Mà có biết không? Đó nhận chung trà mà không có một niệm suy nghĩ gì cả. Khi người thị giả dọn cơm sẵn, xá mời thì mình bước tới ngồi và cầm đũa, lúc đó thế nào? Ngồi cầm đũa đâu có gì phải suy nghĩ? Khi người thị giả xá chào lui thì mình gật đầu, trong giai đoạn gật đầu đâu có suy nghĩ gì phải không? Như vậy trong những động tác hằng ngày của chúng ta mà không có một niệm nghĩ suy, đó là tâm yếu rồi, phải không? Tâm yếu hiện rõ ràng trong mọi hành động, nếu thấy được chỗ đó thì chỗ nào mà không chỉ tâm yếu? Không dạy tâm yếu? Như vậy quí vị thấy tâm yếu này có giống tâm bình thường ở trên không? Đâu có hai phải không? Nhưng ở đây đặc biệt là khi Sùng Tín cúi đầu suy nghĩ: Việc đó sao gọi là tâm yếu? Vừa suy nghĩ thì Đạo Ngộ nói thẳng một câu: “Thấy thì thẳng đó liền thấy.” Trong những hành động, ngay đó mà thấy, vừa suy nghĩ liền sai; chúng ta thấy rõ tâm yếu là gì rồi phải không? Nên ngay câu đó Sư mới ngộ, chớ khi kể những hành động trên Sư chưa ngộ được. Đến khi Sư suy nghĩ, Đạo Ngộ nói: “thấy thì thẳng đó liền thấy suy nghĩ liền sai”, ngay đó Sư ngộ. Nhưng khi ngộ rồi, làm sao gìn giữ để đừng mất tâm yếu đó? Đấy là vấn đề then chốt. Khi hỏi “làm sao gìn giữ” thì Đạo Ngộ trả lời: “Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác.” Rất nhiều người hiểu lầm các câu này: “Mặc tánh tiêu dao” nghĩa là thế nào? Nghĩa là chúng ta thổi sáo, đi dọc đường dọc sá như là người điên phải không? Thong thả rong chơi xứ này xứ nọ, thổi sáo thổi kèn hoặc là đàn địch v.v... Như vậy có phải là “nhậm tánh tiêu dao” không? Quí vị thấy phải không? “Nhậm tánh tiêu dao” hay mặc tánh tiêu dao là thế nào? Quí vị nhớ tánh tiêu dao chớ không phải thân tiêu dao, phải rõ chỗ đó. Tánh của mình thế nào mà gọi là mặc tánh tiêu dao? Tánh thấy, tánh nghe có động không? Có giới hạn không? Bởi nó không động, không giới hạn cho nên nó thênh thang; trong cái thênh thang không động đó, cứ mặc nó đừng kiềm đừng giữ thì đó là mặc tánh tiêu dao; chớ không phải nói mặc tánh tiêu dao rồi cầm ống sáo đi nơi này, nơi kia thổi, rồi nói tôi mặc tánh tiêu dao. Đó là cuồng Tăng chớ không phải tiêu dao, nhớ như vậy; đa số người hiểu lầm điểm đó. Tánh của mình là thênh thang, là lặng lẽ, không bận không phiền, mình đừng thêm một cái gì cho nó nữa, đừng kềm đừng giữ thì đó gọi là tánh tiêu dao. Còn chúng ta lâu nay tu là kềm là giữ, bởi kềm giữ nên nó trái với tự tánh. Quí vị phải hiểu cho thật rõ chỗ đó. Lại có một số người hiểu lầm chữ tùy duyên phóng khoáng. Tùy duyên là duyên đến thì mình theo đó; phóng là buông, khoáng là rộng rãi; tùy duyên là buông hết, không vướng, không bận, không bị điều gì làm phiền nhiễu, đó gọi là tùy duyên phóng khoáng. Chúng ta đâu không nghe bài kệ của ngài Sơ tổ Trúc Lâm: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”, nghĩa là ở trong chỗ bụi bặm mà vui với đạo,tức là vui với tâm bình thường đó, rồi hãy tùy duyên. Tùy duyên như thế nào? “Cơ tắc xan hề khốn tắc miên”: đói thì ăn, mệt thì ngủ đó gọi là tùy duyên. Đói ăn mệt ngủ là tùy duyên là phóng khoáng.

    Còn gặp quán rượu thì bước vào hay thấy rạp hát thì lao tới, phải đó là tùy duyên phóng khoáng không? Quí vị thấy phải không? Tùy duyên phóng khoáng là đến ăn thì ăn, đến mặc thì mặc, đến nghỉ thì nghỉ, không để một niệm nào làm rối, làm bận lòng mình. Buông hết những tâm niệm, lòng mình thênh thang rộng rãi đó gọi là tùy duyên phóng khoáng. Thí dụ chúng ta cầm chổi quét chùa hay đi nhổ cỏ mà tâm vẫn thênh thang rộng rãi, đó là tùy duyên phóng khoáng, chớ không phải nói tùy duyên phóng khoáng rồi đến tiệm, ngồi quán hoặc gặp cái gì làm cái ấy bất kể tốt xấu. Tùy duyên phóng khoáng là trong cuộc sống bình thường: ăn, mặc hay làm công tác trong phạm vi nhà chùa, trong phạm vi đạo đức mà không bận lòng, không có vọng tưởng, tâm vẫn an nhiên tự tại, đó mới gọi là tùy duyên phóng khoáng. Đừng như một số cuồng Tăng hiện nay, nói phóng khoáng rồi bày ra những chuyện tầm phào, gặp nữ sắc cũng không kỵ, gặp rượu chè cũng không tránh, ai mời vào tiệc rượu cũng ngồi, rồi nói tôi tùy duyên phóng khoáng. Trong nhà thiền gọi đó là cuồng thiền, chớ không phải tùy duyên phóng khoáng. Chính những trọng điểm này tôi muốn nhắc thật kỹ đó quí vị hiểu mà tu, chớ để nhiều khi hiểu lầm một chữ mà có thể là họa trên đường tu của mình. Tôi nhắc lại: Tánh của chúng ta lặng lẽ thênh thang, chúng ta không phải kềm, không phải giữ, đó là mặc tánh tiêu dao; còn gặp công tác nào làm công tác ấy, gặp ăn thì ăn, gặp nghỉ thì nghỉ, mà tâm chúng ta vẫn lặng lẽ thênh thang đó là tùy duyên phóng khoáng. Ăn, nghỉ, mặc, trong nề nếp đạo đức, chớ không phải ăn, mặc, nghỉ theo cách của nhiều người nói “đói thì ăn”, rồi khi xuống chợ, đói liền vào quán ngồi ăn, hay khi đi đường mệt thì nằm ì ngoài đường ngủ rồi nói “mệt thì ngủ”. Đó gọi là cuồng thiền, thiền hiểu một cách loạn không đúng lẽ thật, làm trái với tư cách người tu, làm trò cười cho thiên hạ, đó là những kẻ hiểu lầm. “Tùy duyên phóng khoáng” là tùy theo hoàn cảnh, đến ăn thì ăn, đến mặc thì mặc, như trong những câu chuyện vừa kể trên: dâng trà thì tiếp trà, dâng cơm thì nhận cơm, xá chào thì cúi đầu. Tùy duyên phóng khoáng là như thế! “Chỉ hết tâm phàm chẳng có thánh giải khác”, chủ yếu là hết tâm phàm. Tâm phàm là tâm nào? Là tâm vọng tưởng điên đảo. Buông xả hết những tâm vọng tưởng điên đảo là đủ, đó là đạo, chớ đừng mong thấy gì đặc biệt hay tuyệt vời. Thường người tu hay mong thấy những gì kỳ đặc, mong có những tiếng lạ, mong có những điều huyền diệu; thế nên khi lặng hết vọng tưởng, chúng ta chưa hài lòng, chúng ta muốn thấy hào quang, muốn biết bay v.v... Đó là muốn có cái gì của thánh đem vào mình, đó là cái bệnh của đa số người tu; vì vậy nên Ngài dạy: “chỉ hết tâm phàm”, tức là những vọng tưởng điên đảo của chúng ta sạch hết thì đó là thánh rồi, chớ đừng đòi cái thánh nào thêm nữa. Thế nên, “chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác”, không có thánh giải nào ở ngoài đến, ngừng ngay phàm tình tức là vọng tưởng, nó là chủ của nghiệp, là nhân của luân hồi sanh tử, hết nhân đó là giải thoát sanh tử phải không? Chỗ không sanh, không diệt nhưng hằng tri hằng giác là cái bất sanh, bất tử, như vậy bất sanh bất tử không phải thánh là gì? Thế mà chúng ta đòi thêm Thánh nữa, có phải là đầu lại thêm đầu hay không? Thế nên ở đây Ngài chỉ thẳng cho chúng ta biết “chỉ hết tâm phàm”, tức là chỉ cần hết vọng tưởng thôi, đừng đòi thêm điều gì khác nữa. Có nhiều người thường hỏi tôi, sau khi vọng tưởng lặng hết thì còn cái gì, tức là muốn làm sao? Muốn thêm Thánh giải nữa phải không? Tôi chỉ trả lời: Ráng hết vọng tưởng giùm tôi đã, rồi việc kia sau, đừng có đòi. Nhưng người tu ai cũng mong hết được cái này phải có cái gì khác, chớ không ngờ hết cái này thì là Thánh mất rồi! Như vậy quí vị mới hiểu chủ yếu của người tu là dứt mầm sanh tử luân hồi, khi nhân sanh tử luân hồi hết, đó là giải thoát, chớ không còn cái giải thoát nào khác nữa. Vì vậy nên hết tâm phàm là hết luân hồi, hết luân hồi là giải thoát, đừng đòi thêm Thánh giải nào khác nữa. Hết tâm phàm thì ngay nơi đó là đạo, phải không? Như vậy quí vị mới thấy chỗ thiết yếu của ngài Đạo Ngộ dạy. Sau khi chúng ta nhận được hay tâm yếu trong mọi hành động của mình, muốn gìn giữ nó thì phải mặc tánh tiêu dao tức là đừng kềm đừng giữ. Có nhiều người nói “giữ tâm thanh tịnh” thì tôi hay nhắc giữ là sai, giữ là trái với mặc tánh tiêu dao. Vì cái thanh tịnh đó là tự tánh của mình mà giữ nó tức nhiên là bị kềm, hết tiêu dao, phải không? Còn tùy duyên phóng khoáng là theo duyên gặp hành động nào thì thực thi hành động đó, gặp ăn thì ăn, mặc thì mặc, nghỉ thì nghỉ, nhưng tâm thênh thang rộng rãi, chớ không phải nói tùy duyên phóng khoáng rồi làm những điều trái đạo đức. Lâu ngày tâm phàm tự hết, khi ấy không cần thánh giải nào khác, vì tự nó là Thánh. Đó là chỗ chỉ dạy đầy đủ của ngài Đạo Ngộ.

    Tôi dẫn thêm một câu chuyện nữa, như trong đoạn đầu chúng ta thấy ngài Triệu Châu ngộ đạo nơi ngài Nam Tuyền, ngộ ngay chỗ “bình thường tâm là đạo” nên sau này Ngài dạy lại đồ đệ, đây tôi dẫn câu chuyện: Một hôm có vị Tăng mới vào chùa, đến thưa với Ngài rằng: “Con mới vào tùng lâm, xin Thầy chỉ dạy.” Ngài Triệu Châu hỏi: “Ăn cháo xong chưa?” Tăng thưa: “Ăn xong.” Ngài bảo: “Rửa bát đi.” Dạy cái gì lạ vậy? Người ta nói giải thoát nói giác ngộ v.v... phải không? Đây chỉ hỏi “ăn cháo xong chưa”, khi ông Tăng trả lời “ăn xong”, Ngài bảo “rửa bát đi”, ngay đó ông Tăng ngộ. Như vậy ông Tăng ngộ cái gì? Cái ngộ này có khác với cái ngộ của ngài Sùng Tín hay không?

    Dâng trà thì tiếp, dâng cơm thì nhận, xá lui ra thì cúi đầu. Ở đây ăn cháo xong thì rửa bát, có phải là “Bình thường tâm” hay không? Như thế quí vị mới thấy rõ các ngài chỉ dạy lại nhau cái đó, chớ chẳng cái gì khác hơn, chính cái mình đã nhận được nơi thầy thì đem truyền lại cho đệ tử, nhưng truyền lại một cách rất lạ lùng phải không? Không ai có thể hiểu nổi! Tại sao bảo ăn cháo, bảo rửa bát mà lại ngộ đạo, đạo ở chỗ nào? Vì vậy nên sau này Thiền sư Hoằng Trí có làm một bài tụng để ca ngợi chỗ đó. Ngài nói:

    “Chúc bãi linh giao tẩy bát bồn,

    Hoát nhiên tâm địa tự tương phù.

    Như kim tham bảo tùng lâm khách,

    Thả đạo kỳ gian hữu ngộ vô?”

    Tôi tạm dịch:

    “Cháo xong liền dạy rửa chén tô,

    Bỗng dưng tâm địa tự tương phù

    Hiện nay là khách tùng lâm cũ,

    Hãy nói khoảng này có ngộ không?”

    Chúng ta ở trong tùng lâm mười năm, mười lăm năm có bằng vị Tăng bảo ăn cháo, bảo rửa chén đó không? Thật là đơn giản, mới vào mà bảo “ăn cháo đi”, thưa “ăn cháo xong”; bảo “rửa bát đi” liền ngộ đạo. Quí vị thấy người xưa dạy: Đạo là chỗ bình thường đó. Ăn cháo rửa bát có phải là mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng hay không? Hiểu được đoạn trên thì đến chỗ này chúng ta không thấy lạ.

    Đến câu chuyện thứ tư: Ngài Động Sơn Thủ Sơ, khi còn là một Thiền khách, Ngài đến hỏi đạo nơi ngài Vân Môn, ngài Vân Môn hỏi: “Ông vừa rời chỗ nào?” Ngài thưa: “rời Tra Độ”, tức là từ Tra Độ đến. Ngài Vân Môn hỏi: “Mùa hạ ở đâu?” Thủ Sơ đáp: “Ở chùa Báo Ân tại Hồ Nam.” Vân Môn hỏi: “Rời chỗ kia lúc nào?” Thủ Sơ đáp: “Ngày 25 tháng 8.” Vân Môn bảo: “Tha ông ba gậy! Đến nhà tham thiền đi.” Quí vị có thấy thắc mắc không? Có lỗi gì mà bảo “tha ông ba gậy, xuống nhà tham thiền đi”. Thủ Sơ làm lỗi gì? Nếu không có lỗi tại sao tha ba gậy? Đó là cái kỳ đặc của ngài Vân Môn. Đọc sách thiền, đến đoạn này, ai cũng bóp trán, phải không? Hỏi đâu nói đó một cách thật thà không một chút điêu ngoa, tại sao lại tha ba gậy, rồi bảo xuống nhà tham thiền. Đó là một thắc mắc, mà chính sư Thủ Sơ cũng thắc mắc; có lẽ trưa đó Sư ngủ không được, cho nên đến chiều Sư đi thẳng vào thất của ngài Vân Môn hỏi: “Bạch Hòa thượng khi sáng con có lỗi gì?” Nếu ở trường hợp Sư, chúng ta cũng thắc mắc như vậy. Ngài Vân Môn nói: “Cái túi cơm, Giang Tây, Hồ Nam là thế ấy!” Quí vị thấy Ngài nói làm sao? Ngài quở “cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam là thế ấy”, Giang Tây tức là chỗ của Mã Tổ, Hồ Nam là chỗ của ngài Thạch Đầu. Đó là hai vị Thiền sư nổi tiếng đời Đường. “Là thế ấy” nghĩa là sao?

    Quí vị thấy hỏi “ở đâu” - thưa “ở Tra Độ” - hỏi “mùa hạ ở đâu” - thưa “ở chùa Báo Ân tại Hồ Nam” - hỏi “rời chỗ kia lúc nào” - thưa “ngày 25 tháng 8”; đó có phải là chuyện bình thường hay không? Trả lời như vậy có cần phải suy nghĩ gì không? Hỏi đâu đáp đó rõ ràng bình dị, không phải suy nghĩ gì cả. Trong khi hỏi đáp bình thường không bận suy nghĩ đó có phải là tâm bình thường hay không? Chính chỗ đó. Nhưng Ngài muốn làm cho nổi sóng, nổi gió nên Ngài nói “tha ông ba gậy”, đó là nổi sóng đó. Chúng ta không hiểu lỗi tại chỗ nào, đó là cái kỳ đặc của ngài Vân Môn, ta phục Ngài là phục ở điểm đó. Câu “tha ba gậy” làm cho mình thắc mắc băn khoăn không biết tại sao câu trả lời rất bình dị mà Ngài cho là có lỗi. Thế nên sư Thủ Sơ đợi đến chiều lên hỏi lại, khi hỏi lại thì ngài Vân Môn quở: “cái túi cơm”, nghĩa là ông không có thông minh chút nào hết, như là cái túi cơm vậy thôi! Ở “Giang Tây, Hồ Nam là thế ấy”: chỗ Mã Tổ, chỗ ngài Thạch Đầu chỉ dạy cái đó thôi, cái chỗ bình thường đó! Ngay đó Thủ Sơ ngộ. Sư ngộ đạo là nhờ cái kỳ đặc hay cái khéo tay của ngài Vân Môn. Đọc qua câu chuyện ai cũng phải ngạc nhiên, ngạc nhiên ở điểm nào? Chỗ “tha ông ba gậy” đó. Trong nhà thiền gọi đó là cái thuật làm sóng gió, chính nhờ cái thuật đó mà sư Thủ Sơ mới nhận ra một cách dễ dàng. Như vậy quí vị thấy các Thiền sư ngày xưa có dạy điều gì khác đâu phải không? Các ngài chỉ muốn chỉ cái chân thật cho chúng ta, mà cái chân thật đó là ngay chỗ bình thường. Trong mọi hành động, mọi ngôn ngữ, nếu không thêm dấy niệm suy nghĩ thì ngay trong đó là đạo. Như vậy ở đây có người nào không có cái đó? Tất cả chúng ta ai thiếu cái đó? Thế mà có ai dám nhận không?

    Đến đây tôi dẫn câu chuyện có mà không chịu nhận: chuyện ông Sa-di Cao. Khi ngài Dược Sơn và ông Sa-di Cao nói chuyện, qua câu trả lời của Sa-di Cao, ngài Dược Sơn biết đó là người đã thấy, nên mới khoe với các đồ đệ lớn như Vân Nham, Đạo Ngô, nhưng hai vị này chưa tin. Vì vậy ngài Dược Sơn muốn hỏi lại một lần nữa, để xác định lối trả lời của Sa-di Cao đúng lẽ thật cho hai vị kia tin. Ngài mới hỏi ông Sa-di Cao: “Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?” Sa-di Cao trả lời: “Nước con an ổn.” Ngài hỏi thêm: “Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?” Ông Sa-di Cao đáp: “Chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.” Ngài Dược Sơn hỏi: “Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi sao chẳng được?” Ông Sa-di Cao đáp: “Chẳng nói họ không được, chỉ vì họ không chịu thừa nhận.” Câu chuyện ngừng ngang đây.

    Tôi nói ra ngoài một chút, tôi hỏi quí vị: “Vào mười hai giờ đêm giao thừa này, ở dưới phố đốt pháo ồn lắm, quí vị có nghe chăng?” Quí vị thử trả lời tôi xem. Sao không trả lời giống ông Sa-di Cao? Sao không trả lời rằng: “Chùa con yên tịnh.” Quí vị trả lời theo câu hỏi của tôi mà không trả lời theo ông Sa-di Cao. Dưới chợ thì pháo nổ ồn, nhưng ở chùa mình thì yên tịnh. Tôi nói như vậy, quí vị thấy sao? Có thấy gì ở chỗ đó chưa? Nếu quí vị trả lời như tôi trả lời là hợp với ông Sa-di Cao, còn nếu nói “nghe pháo nổ ở dưới phố” thì chưa hợp.

    Tôi nhắc lại cho quí vị thấy, ngài Dược Sơn nói: “Ta nghe ở Trường An (Trường An là thủ đô của nhà Đường) rất náo loạn (tức là ồn náo) ngươi có biết chăng?” Nếu trả lời như quí vị thì nói “dạ biết” phải không? Cũng như tôi hỏi: “Ở dưới chợ, khi hôm pháo nổ ồn, quí vị có nghe chăng?” Quí vị nói: “Dạ nghe.” Như vậy câu trả lời đó không hợp với ý Sa-di Cao. Sa-di Cao liền thưa: “Nước con an ổn.” Ông ở trong nước Tàu, Trường An là thủ đô nước Tàu, tại sao ông nói “nước con an ổn”? Câu trả lời của tôi “chùa con yên tịnh” hợp với ý ông Sa-di Cao. Tại sao vậy? Trả lời như vậy có cái kỳ đặc gì trong đó? Quí vị thấy chưa? Động là ồn, người qua lại xôn xao là náo, ồn náo là tiếng động và người xôn xao. Thấy kẻ qua người lại xôn xao là thấy, tiếng động là ồn là nghe. Khi hỏi ồn náo là muốn hỏi ông có thấy có nghe sự ồn náo ngoài kia chăng? Sa-di Cao trả lời: “nước con an ổn”, hay là nước con yên tịnh. Người đi là xôn xao mà cái thấy có xôn xao hay không? Như vậy động là tiếng, xôn xao là người, còn cái thấy, cái nghe có động, có xôn xao bao giờ? Thế nên nói “nước con an ổn” hay “chùa con yên tịnh” là để chứng minh người đó đang nhớ cái của mình không động. Động là cái bên ngoài! Trái lại, khi hỏi “nghe không”, chúng ta đáp “dạ nghe”, là chúng ta đã lệ thuộc vào bên ngoài mất rồi! Như vậy để thấy người xưa muốn thí nghiệm người được luôn luôn nhớ mình, nhớ không quên; đó mới là người thường sống với cái thật. Thế nên qua câu trả lời thì ngài Dược Sơn chấp nhận ngay, cả hai huynh đệ là ngài Vân Nham và ngài Đạo Ngô đều gật đầu. Nhưng muốn thí nghiệm thêm nữa, ngài Dược Sơn mới hỏi: “Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?” Cái không động đó là do ngươi xem kinh được hay thưa hỏi thiện tri thức mà được? Nếu là chúng ta thì trả lời như thế nào? “Dạ do thưa hỏi được!” Ông trả lời rằng: “Chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.” Cái nghe, cái thấy đâu phải do kinh mà được, đâu phải do thầy dạy mà được, phải không? Cái đó đã sẵn nơi mình từ khi cha mẹ sanh đến giờ. Nó đã sẵn rồi đâu đợi xem kinh hay thưa hỏi. Thế nên ông trả lời: “chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được”; đó là chỉ thẳng cái của mình có sẵn từ xưa; mới nghe như có vẻ phủ nhận công ơn Thầy Tổ phải không? Nhưng sự thật là như vậy, Thầy Tổ chỉ là người chỉ bóng thôi, còn cái thật là cái sẵn nơi mình. Ngài Dược Sơn mới hỏi thêm câu nữa: “Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?” Ý Ngài nói chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi mà được thì có nhiều người họ không xem kinh, không thưa hỏi sao chẳng được? Đây là gạn lại lần chót, Sa-di Cao trả lời: “Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận thôi!” Có sẵn đó mà không nhận nên coi như không được, chớ có người nào không được. Câu nói chí lý vô cùng! Quí vị được hay không được? Chỉ cần biết thừa nhận hay không, phải vậy không? Nếu không biết thừa nhận, thì mình là kẻ lang thang, hạt châu trong chéo áo mà vẫn là kẻ cùng tử, quí vị phải nhớ rõ.

    Để kết thúc tôi dẫn một câu chuyện lý thú nữa là chuyện ngài Tử Hồ bắt ăn trộm. Câu chuyện này tôi thích nhất và hay kể nhiều nhất, tôi biết quí vị thuộc, nhưng mỗi lần kể là một lần mới. Nhớ như vậy! Ngài Tử Hồ là một vị Hòa thượng Thiền sư, chúng của Ngài được trên năm trăm người. Một hôm giữa đêm, bỗng Ngài la to: “Ăn trộm! Ăn trộm!” Chúng hốt hoảng chạy đến, người đầu tiên chạy đến bị Ngài chụp ôm nói: “Bắt được rồi! Bắt được rồi!” Người bị bắt hoảng hốt thưa: “Dạ con! Không phải, không phải!” Ngài nói: “Phải! Phải! Chỉ tại ông không dám nhận thôi!” Quí vị thấy câu chuyện nói điều gì? Cả năm trăm người, ai cũng có cái đó mà không dám nhận, buộc lòng Ngài phải dùng phương tiện kỳ đặc: Ôm một ông thầy nói ăn trộm, tự nhiên ông phải bào chữa: dạ con! không phải ăn trộm. Thế nên ông nói: “con! không phải! không phải!” thì Ngài nói: “phải, phải! chỉ tại ông không dám nhận thôi”. Thành ra hai chữ “phải” và “không phải” nhắm vào việc gì? Ông Tăng nói “không phải” là không phải ăn trộm, nhưng Ngài nói “phải” là phải cái gì? Thành ra chữ thì như đối đáp nhau, mà ý thì thật là khác muôn dặm! Chữ “phải, phải” của Ngài là chỉ cho chúng ta ai cũng sẵn có mà không chịu nhận. Như vậy hình ảnh Ngài chụp một người la ăn trộm, người đó nói con không phải ăn trộm thì Ngài nói “phải, phải, tại ngươi không dám nhận”, câu chuyện đó chừng nào chúng ta mới quên được?

    Người xưa muốn cho chúng ta thừa nhận cái thật của mình mà lâu nay đã bỏ quên, nên các ngài dùng đủ phương tiện để nhắc chúng ta nhớ. Riêng tôi không có phương tiện khéo như vậy, nên tôi mới dẫn chuyện của người xưa để nhắc cho quí vị nhớ. Qua những câu chuyện tôi kể và giải thích ở đây, nếu quí vị nhận được, biết quí nó như hòn ngọc vô giá hay một hạt minh châu thì lời giải thích của tôi hôm nay là hữu ích, tức tôi là kẻ có công. Nếu quí vị nhận được nó mà xem thường, nghĩ rằng cái đó ai mà không có, một thằng bé con cũng có, ông già cũng có, có gì quan trọng; nếu quí vị xem thường như vậy thì tôi là kẻ có tội. Vì muốn cho quí vị tiến tu không còn ngờ vực nữa, nên tôi không ngại rụng hết lông mày vì quí vị mà chỉ thẳng, nếu quí vị biết ngay nơi đó quí trọng gìn giữ như hòn ngọc báu thì quí vị sẽ là người hữu dụng trong nhà đạo, và tôi cũng là người giúp quí vị đủ lòng tin để tiến tu. Bằng không, nếu quí vị xem thường điều đó, thì đó là lỗi lớn của chúng tôi.

    NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT.

    ]

  11. #31

    Mặc định Ai thực tế hơn ai?

    Hòa Thượng Thích Thanh Từ.
    TV. Chân Không - 2001
    Đề tài tôi nói hôm nay là Ai thực tế hơn ai? Trước khi vào đề tài tôi xin hỏi câu này, nếu
    người thấy tờ giấy trắng mà nói đen và ngược lại, tờ giấy đen mà nói trắng thì chúng ta đánh giá
    người đó thế nào? Đúng theo danh từ nhà Phật gọi là điên đảo, tức cái thấy lộn ngược, không
    đúng lẽ thật.
    Phật thường nói tất cả chúng sanh đều sống với vô minh điên đảo. Người không nhận ra lẽ
    thật, sống trong mờ mịt tăm tối, không thấm nhuần chân lý, gọi là người vô minh. Trở lại thực tế,
    ngay nơi bản thân chúng ta hiện giờ, là thật hay giả? Nói theo kinh sách thì nó giả, còn theo tình
    cảm của mình thì nó thật. Như vậy Phật nói sai hay chúng ta thấy sai? Chắc không ai dám nói
    Phật nói sai hết, thế thì chúng ta thấy sai. Phật thấy thân giả, chúng ta cho là thật, cũng như tờ
    giấy trắng ta nói đen. Rõ ràng cái thấy, cái biết của mình không đúng như thật.
    Chúng ta cùng nhau tuần tự nghiệm xét lại vấn đề này. Nếu thân này thật thì ông cha
    chúng ta không chết, phải không? Thật thì còn hoài còn mãi, nhưng ta thấy ông chết rồi cha chết,
    anh em chết, mình chết, như vậy đâu có thật. Người này đi, người kia đi, ai cũng có mặt một thời
    gian rồi đi. Đó là đứng về lý vô thường thân không thật vì nó có sanh, có già, có bệnh, có chết.
    Nó là một dòng chuyển biến không dừng nên không thể thật được. Như mấy đứa trẻ con đốt một
    cây nhang, nó cầm quay nhanh nên ta thấy có một vòng tròn. Vòng tròn đó thật không? Nếu nói
    vòng tròn thật là ta nói sai, vì nó chỉ là một cây nhang quay nhanh thôi.
    Trong con người chúng ta tế bào này sanh, tế bào kia diệt liên tục, do dòng chuyển biến
    không dừng ấy tạm kết thành thân. Từ trẻ đến già rồi chết, ta sống bằng sự chuyển biến không
    dừng, vậy mà ta chấp nó thật mới lạ chứ. Vì vậy chấp thân thật là vô minh. Từ vô minh lại sanh
    thêm các thứ ngã chấp pháp chấp khác nữa, cứ thế ta sống trong nhiều lớp mê mờ, khó thoát ra
    được. Do đó đau khổ phát sanh, và nỗi khổ lớn nhất là trầm luân mãi trong sanh tử.
    Bước sang lĩnh vực thứ hai là duyên hợp. Phật dạy toàn bộ thân này do tứ đại hợp thành.
    Đất là chất cứng như tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương… Nước là mồ hôi, máu mủ v.v…
    Gió là hơi thở ra vào làm thân chuyển động. Lửa là hơi ấm trong người. Bốn chất đó luôn có nơi
    thân, không thể thiếu thứ nào cả. Bốn chất đó tồn tại được trong thân ta là nhờ mượn tứ đại bên
    ngoài đem vào. Vì vậy sự sống của chúng ta lúc nào cũng nương nhờ vay mượn. Nước thiếu
    mượn tách nước đem vô. Đất thiếu mượn ít chén cơm. Hơi ấm thiếu kiếm gừng, kiếm ớt ăn vào.
    Còn gió tức không khí thì ta mượn trả liên tục. Nếu trả mà không mượn lại là tử vong liền. Một
    sự sống vay mượn như vậy mà nói là của mình, là thật thì không điên đảo sao được?
    Tóm lại, đứng về mặt thời gian thân này chuyển biến không dừng nên không thật. Đứng về
    mặt không gian thân này do vay mượn đất, nước, gió, lửa liên tục mà tồn tại nên cũng không thật.
    Như vậy khi quán sát kỹ ai cũng biết thân không thật, nhưng trên tình cảm, trên ảo tưởng của
    mình không ai dám nói nó giả cả. Chúng ta phạm một sai lầm lớn như thế nên làm gì cũng thất
    bại, cũng đau khổ.
    Trong tất cả chúng ta có mấy người được giác ngộ? Kể cả hàng tu sĩ cũng thấy nó thật nữa
    huống chi người còn tóc. Mới thấy cội gốc vô minh của chúng sanh quá sâu đậm, gỡ bỏ thật là khó. Chúng ta chỉ thấy bằng ảo tưởng, chớ không phải từ trí tuệ nên mới có sự sai lầm ấy. Đó là
    điều hết sức quan trọng.
    Khi thấy thân thật thì mọi nhu cầu của thân như tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc, thanh,
    hương, vị, xúc đều trở nên quan trọng, cần thiết, do đó người ta tìm kiếm, đòi hỏi. Ăn thì phải
    ngon, mặc phải đẹp, rất nhiều thứ ham muốn, cho nên tham phát sanh. Tham được thụ hưởng, lúc
    nào cũng muốn hơn người, thua là không được. Nếu ai ngăn trở cái mình muốn thì nổi tức lên, cự
    hoặc đánh người ta, đó là sân. Như vậy tham sân có là từ si. Thân không thật mà thấy thật đó là
    si, si là gốc vô minh.
    Như vậy từ si có tham sân, mà tham sân có rồi thì đau khổ theo sau. Nếu không có si thì
    không có tham. Như thấy thân giả một cách rõ ràng dứt khoát thì hết tham liền. Vì thấy thật nên
    mới tham thụ hưởng. Nói tham, sân, si là không đúng lắm, lẽ ra phải nói si, tham, sân. Sân nổi ra
    ngoài thấy như dữ tợn lắm nhưng lại dễ dẹp. ở cõi trời không có sân vì muốn gì được nấy. Còn ở
    đây muốn mà bị giành mất hoặc bị ngăn thành ra mới sân. Cho nên đối với thế gian sân quan
    trọng mà lên cõi trời thì hết quan trọng. Bởi vậy những người khá giả là có phước, muốn gì được
    nấy nên họ ít sân. Còn người nghèo ít phước, làm ăn trục trặc, nay được mai mất nên dễ sân, dễ
    bực tức. Hiểu thế mới biết gốc ngọn tất cả sự việc xảy ra từ mê lầm là đầu.
    Thân chúng ta có hai phần, vật chất tức thể xác, tinh thần tức tâm linh. Có thể xác thì phải
    có tinh thần, có vật chất thì phải có tâm linh. Thể xác này chúng ta phân tích thấy không thật rồi,
    bây giờ đến tâm linh. Tâm mình là gì? Có ai không nói tôi suy nghĩ thế này, suy nghĩ thế kia, đó
    là tâm tôi. Mọi người đều cho những suy nghĩ, hiểu biết, phân biệt là tâm mình. Bây giờ ta thử
    quán sát xem điều này đúng không. Đây là một vấn đề tế nhị, sâu kín nên cần phải xem xét kỹ
    lưỡng mới được.
    Như khi ai chọc giận ta la lên thì nói “tôi giận”. Thế thì cái giận là tôi rồi, tâm tôi giận. Ai
    làm gì tốt, mình thấy thích thì nói “tôi thích”, đó là tham. Ai chọc mình buồn thì nói “tôi buồn”,
    thấy người dễ thương, nói “tôi thương”, thấy người dễ ghét nói “tôi ghét”. Tóm lại tham cũng là
    tôi, sân cũng là tôi, buồn, thương, giận, ghét, tất cả đều là tôi, tâm tôi. Những thứ buồn, thương,
    giận, ghét, phải, quấy v.v… tất cả là tâm mình phải không? Đó là điều lâu nay Phật tử chưa giải
    quyết nổi, vì nghĩ nó là tâm mình.
    Bây giờ tôi đặt câu hỏi, từ khi chúng ta còn bé cho tới lúc già tắt thở, mình là một hay
    nhiều? A từ trẻ đến già A là A hay A là B, là C… Hồi trẻ kêu anh A, già kêu bác A chớ đâu có
    kêu bác B, ông C, như vậy mình là một. Còn buồn, thương, giận, ghét cả trăm thứ thì cái gì là
    mình? Chẳng lẽ mình là một trăm thứ, ngàn thứ lộn xộn? Đó là một vấn đề chúng ta phải suy
    gẫm, nhận định cho chín chắn.
    Thí dụ, có Phật tử đang buồn ngồi thở ra thở vô, ngó trời ngó mây dàu dàu, bất chợt ai
    chạy lại nói vé số anh mua hôm qua trúng rồi, lúc đó còn buồn không? Cười nhảy tưng lên. Nếu
    buồn là mình thì phải buồn hoài, đằng này đang buồn vừa nghe tin vui liền hết buồn. Nhưng nếu
    đang vui mà dò lại thấy trật hết một con số, lúc đó làm sao, buồn lại ngay. Đổi thay vùn vụt như
    vậy thì cái nào là thật mình?
    Giận, ghét cũng vậy. Có những người mình ghét cay ghét đắng, nhưng hôm nào ta làm ăn
    thất bại, thiếu nợ thiếu nần, người đó mang số bạc lớn đến cho mượn để trả nợ, lúc đó mình còn
    ghét nữa không? Không ngay. Như vậy ghét thương không thật, tùy duyên mà có. Gặp duyên trái ý thì tức giận hay thất bại thì buồn phiền, không có gì nhất định hết. Không nhất định, đổi thay
    như chong chóng mà nói là tâm mình thì tâm mình đổi thay không thật rồi.
    Lúc nào ta cũng cho tôi nói phải, nghĩ phải, ai cãi lại không chịu. Càng đi sâu vào tâm lý
    mới thấy đức Phật thật sáng suốt vô cùng. Phật dạy khi nghĩ, thì nói đây là cái nghĩ của tôi, đừng
    thêm cái nghĩ của tôi “là đúng”. Trong nhân gian có gì là chân lý bất di bất dịch đâu, cái phải chỉ
    tương đối thôi, phải chỗ này mà không phải chỗ kia. Thí dụ luật pháp của nhà nước phong kiến
    thời xưa thì phụ nữ không được ra khỏi nhà, phải tam tòng tứ đức, nhưng luật pháp ngày nay phụ
    nữ bình quyền với nam giới. Nếu ta cho rằng hồi xưa đúng nghĩa là bây giờ không đúng. Nhưng
    nếu mọi người đều chấp nhận như thế thì ta nói sao đây. Nên biết không có pháp nào cố định,
    không có pháp nào đúng trong mọi lúc mọi chỗ cả.
    Như vậy mà chúng ta cứ đặt thế này là phải, thế kia là quấy thì sáng suốt hay cố chấp? Đó
    là cố chấp. Vì thế mới xảy ra tranh cãi nhau có khi đập lộn nhau nữa, cũng vì cái phải của mình.
    Muốn tìm lẽ phải rất khó, bởi vì ai cũng bảo vệ lẽ phải thuộc về mình, khi so sánh đối chiếu khác
    nhau nên cự nhau. Đừng nói xa, hai vợ chồng thôi, nếu ai cũng giữ phần phải về mình thì cãi vả
    nhau là chuyện thường, hơn nữa thì đánh nhau, tệ hại nữa là ly dị luôn.
    Nhìn kỹ con người ở thế gian này có trăm ngàn thứ lăng xăng, lộn xộn mà không có gì
    đúng với sự thật. Thế nhưng có ai cho là mình sai đâu. Ngay cả tên trộm cũng có cái đúng của nó.
    Những cái đúng, một người với một người thì cãi vả, một tập thể với một tập thể thì chống đối,
    nước này với nước kia thì chiến tranh v.v... Tất cả đều từ tâm chấp của mình mà gây ra bao nhiêu
    đau khổ. Nếu biết rõ suy nghĩ không thật, đây là cái nghĩ của anh, đây là cái nghĩ của tôi không ai
    đúng ai sai cả. Như vậy không ai đụng chạm ai vì đâu có chấp đúng mà đụng chạm. Chỉ khi nào
    chấp ta “đúng”, người nghĩ khác là “sai” mới sanh chuyện.
    Ởû thế gian từ chấp thân, giành giựt vật chất thụ hưởng nên sanh ra tranh đấu. Đến chấp
    tâm phải quấy hơn thua lại sanh ra tranh đấu nữa, làm con người khổ đau không cùng không tận
    cũng bởi hai thứ chấp đó. Chính vì vậy mà Phật dạy chấp thân không thật, chấp tâm cũng không
    thật, còn một cái thật chúng ta lại bỏ quên. Bây giờ phải trở lại, tìm kiếm cho ra cái thật đó,
    không thì chúng sanh sẽ đau khổ không biết kiếp nào mới hết.
    Bởi chấp thân nên giành giựt tài sản, giành giựt tất cả những nhu cầu để thân được thụ
    hưởng sung sướng, cho nên con người mới tranh đấu với nhau. Bởi chấp tâm hơn thua, phải quấy
    nên cũng tranh đấu với nhau. Bây giờ thấy thân không thật, thấy tâm lăng xăng cũng không thật.
    Nếu chúng ta chịu khó nhìn lại tâm đang suy nghĩ phân biệt đó ra sao, nhìn lại thì nó mất tiêu, tìm
    không thấy mới biết nó rõ ràng không thật. Như khi ta nổi giận, mình xoay lại tìm xem cái giận
    đó ở đâu. Chừng nào tìm ra chỗ nơi của nó hãy giận thêm, tìm không ra bỏ đi cho khỏe. Như vậy
    tu dễ chớ đâu có khó.
    Thật ra tu đơn giản lắm, không có bùa chú gì hết, chỉ cần nhìn lại những thứ lăng xăng lộn
    xộn xem nó ở đâu, tìm không ra thì nó mất. Tự nó mất tức biết nó không thật. Chúng ta tu theo
    Phật đã lâu mà không dám khẳng định thân này là giả, tâm suy nghĩ giả, sợ thiệt thòi, sợ mất
    mình. Đó là chưa cương quyết. Làm sao một phen giác thì giác luôn đừng mê trở lại, biết giả thì
    giả luôn, đừng ngầm chấp thật. Chúng ta nghe kinh Phật nói biết thân tâm giả mà không dám
    nhận giả, bởi vậy lúc giác, lúc mê, ở nhà thì mê, vào chùa thì giác nên tu hoài mà không hết khổ,
    rốt cuộc cũng tạo nghiệp luân hồi. Mỗi đêm chúng ta tụng kinh Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, là sắc uẩn thuộc về
    thân, thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm. Thấy hai thứ đó không thật liền qua hết tất cả khổ nạn.
    Khi phân tích kỹ biết thân tâm không thật, đó là chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Tánh là không,
    duyên hợp tạm có không thật? Đó là câu hỏi rất thâm trầm phải can đảm lắm mới nhìn được điều
    này. Thân không thật, tâm suy nghĩ cũng không thật thì cái gì là mình đây?
    Nhà Phật nói bên cạnh cái giả dối tạm bợ đó, còn một cái chân thật mà lâu nay chúng ta
    quên. Vì vậy hình ảnh anh chàng nhà nghèo được bạn đãi tiệc rượu, rồi nhét vô túi một hòn ngọc
    quý để anh dùng cho bớt khổ. Không ngờ có hòn ngọc trong túi mà anh quên đi, không biết nên
    kiếm sống bằng cách ăn mày. Như vậy anh khổ là vì quên, tới chừng được người bạn chỉ hòn
    ngọc trong túi. Sực nhớ, giật mình sờ tay vào túi gặp hòn ngọc, anh liền thành phú gia, hết kiếp
    ăn mày, đâu có lâu gì.
    Phật đã khéo léo dùng ví dụ này trong kinh Pháp Hoa để chỉ cho chúng ta có cái chân thật,
    không một tí đau khổ nào hết mà lại quên. Chúng sanh cứ lao theo cái giả tạo nghiệp với nhau, để
    rồi luân hồi muôn kiếp, chịu không biết bao nhiêu là đau khổ. Chư Phật đã nói, các Tổ cũng nói
    mọi người đều có tánh giác chân thật mà không hay biết, cứ lăn lộn trầm luân trong vọng tưởng
    đảo điên. Thế thì cái thật đó ở đâu, nó ra sao?
    Tôi xin nêu một ví dụ đơn giản, như khi nhìn bình hoa, lúc đầu con mắt tôi chỉ thấy rõ
    bình hoa thôi. Nhưng bước thứ hai tôi lại phân biệt bình hoa này đẹp hay xấu. Đẹp thì ưa, xấu thì
    chê, đó là bước thứ ba. Nếu ngay nơi niệm thứ nhất thấy bình hoa là bình hoa, lúc đó không có
    nghiệp gì hết. Nhưng khi bắt đầu khởi niệm phân biệt đẹp xấu liền sanh ra thương ghét. Từ cái
    thương ghét đó mà tạo nghiệp lành hoặc dữ. Như vậy cái gì dẫn chúng ta đi trong sanh tử? Là
    nghiệp vậy.
    Nghiệp không có nơi cái thấy ban đầu mà có từ chặng thứ hai, thứ ba. Khi nhìn bình hoa
    chỉ thấy bình hoa, không khởi niệm gì cả thì vẫn biết bình hoa rõ ràng mà không dấy động, qua
    cái thấy thứ hai, thứ ba mới sanh chuyện. Thấy người cũng vậy, nếu chỉ thấy người biết người
    vậy thôi thì đâu có sanh chuyện. Nhưng ta thường không dừng lại ở cái thấy ban đầu, mà nhảy
    qua chặng thứ hai thấy người đó trắng, đen, có duyên, vô duyên rồi sanh thương ghét v.v... Cho
    nên cái dẫn mình đi trong luân hồi là chặng thứ ba.
    Nghe cũng thế, người ta nói tiếng gì mình nghe rõ tiếng ấy, nói lời hay lời dở đều nghe hết
    thì không sao, nhưng phân biệt đó là khen, là chê, là người thân kẻ thù thì sanh chuyện ngay.
    Thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, ngửi chỉ ngửi, nếm chỉ nếm, không thêm phân biệt khen chê thì tất
    cả mọi việc đều yên ổn. Cái thấy, cái nghe không khởi phân biệt khen chê ấy có thể diễn tả hình
    dáng gì chăng? Còn khi ta ôn lại hoa này đẹp hoa kia xấu là do đối chiếu so sánh hình bóng của
    chúng nên mới khởi phân biệt khen chê. Nghĩa là đem bóng này so sánh với bóng kia, chỗ thấy
    bằng bóng niệm khởi, sinh diệt. Thế mà chúng ta thường sống với cái thấy sanh diệt ấy, còn cái
    thấy thứ nhất thì bỏ quên. Chặng đầu là chặng chân thật không tạo nghiệp, không nguy hiểm,
    chúng ta lại bỏ để chạy theo chặng thứ hai, thứ ba là sanh diêt, vì vậy mà có khổ đau.
    Vậy chặng thứ nhất là gì? Cũng tâm, tâm đó biết mà không so sánh nên là tâm thật, còn
    tâm thứ hai thứ ba là tâmm giả dối tạm bợ. Chúng ta không bao giờ dừng ở tâm chân thật, mà
    thường chạy theo tâm thứ hai, thứ ba. Thiền sư thấy bình hoa là bình hoa, không thêm cái gì hết
    cho nên thấy như mù, nghe như điếc. Nhưng tuyệt nhiên không phải điếc không phải mù, mà các Ngài thấy nghe rất sáng rất rõ vì thấy nghe ngay chặng thứ nhất, chứ không phải chặng thứ hai,
    thứ ba.
    Chúng ta ai cũng có cái thấy ở chặng thứ nhất cả, nhưng không chịu sống ngay nơi đó mà
    thích nhảy sang các chặng sau. Thấy nhạy lắm nên nghĩ đẹp, nghĩ xấu, nghĩ hay, nghĩ dở cũng
    nhạy rồi từ đó có khen chê. Đó là điều hết sức thực tế mà người tu không biết, người đời cũng
    không biết. Thấy như mù, nghe như điếc, tưởng như không thấy không nghe. Đâu phải thế. Thấy
    rõ biết rõ nhưng không dấy khởi niệm nào nên tâm thanh tịnh. Vừa dấy khởi liền theo cảm tính
    thương ghét của mình nên mới có chuyện vui buồn.
    Phật tử tu thiền, khi tọa thiền thấy niệm vừa dấy khởi liền nói vọng “buông”. Niệm khởi là
    cái bị mình biết, nên nó không phải chủ, vì vậy ta mới buông. Buông hết, tâm được lặng lẽ, lúc đó
    ai biết lặng? Ví dụ tôi đang ngồi trong thất, có người khách đến chào hỏi nói chuyện, một lát
    người khách ấy ra về. Sau đó hai, ba người khách tới rồi cũng ra về. Người ngồi yên thấy khách
    ra khỏi thất, người đó là ai? Rõ ràng là ông chủ chứ ai. Như vậy tâm mình biết được niệm khởi,
    niệm lặng, tức ông chủ chân thật vẫn bất động yên tịnh, có mặt thường xuyên để thấy các niệm
    sanh diệt biến đổi. Vậy mà ta lại quên mất ông chủ, chạy theo các thứ động tịnh sanh diệt của
    tâm.
    Đó là lý do tại sao chúng ta phải ngồi thiền, vì mình quá điên đảo, chạy ngược chạy xuôi
    không lúc nào dừng, cho nên ngồi lại để thấy rõ hình tướng của nó, chừng nào buông hết các thứ
    vọng niệm, lúc nó lặng chúng ta mới nhận ra mình chính là cái “biết” được có niệm hay không có
    niệm. Khi nó lặng mình biết là ông chủ hiện tiền.
    Trong nhà Phật nói cỡi trâu tìm trâu, để chỉ cho chúng sanh điên đảo, muốn kiếm cái hiện
    tiền của mình mà lại quay lưng với chính nó thì biết bao giờ mới gặp được. Không đợi phải ngồi
    thiền mà bất cứ lúc nào, ngồi dưới cội cây chơi hóng mát, đầu óc rỗng rang, không nghĩ gì hết.
    Gió thổi nghe mát, chim kêu nghe tiếng, lúc đó có mình hay không có mình? Mình đang hiện
    tiền mới nghe, mới thấy rõ ràng được chứ. Cái nghe cái thấy ban đầu tất cả chúng ta đều có mà
    đều quên, không sống lại với nó lại sống với những suy tính điên đảo nên sanh cuồng loạn khổ
    đau.
    Chúng ta tu để làm gì? Để chừa các lầm mê chấp thân này thật, chấp tâm sinh diệt là tâm
    của mình, rồi giành giật hơn thua phải quấy, làm khổ cho nhau. Khi nào biết hai thứ đó không
    thật rồi chúng ta mới nhận chân được cái chân thật bất sanh bất diệt của mình. Nó hiển hiện từ
    mắt, từ tai... sáu căn của chúng ta. Vì tâm nay không sinh diệt nên không tạo nghiệp, không tạo
    nghiệp nên không luân hồi, không luân hồi thì giải thoát sinh tử rồi.
    Chúng ta xét kỹ thân này dù được nuôi dưỡng cưng chiều mọi sự sung sướng, nhưng có
    giữ được không?
    Last edited by phapchieumt; 14-11-2014 at 12:34 PM.

  12. #32

    Mặc định

    Xin đề nghị không dùng màu chữ xanh, nếu đoạn văn ngắn đọc chữ có màu thì không sao. Nhưng do học hữu post tài liệu khá nhiều chữ, mà dùng chữ màu đọc không được. Rất muốn đọc hết, nhưng có bệnh về mắt...dù miễn cưỡng đọc nhưng vẫn không thể chú tâm đọc hết được.

    vài dòng góp ý, thân ái!
    ..Nam Mô A Di Đa bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ...:wave:

  13. #33

    Mặc định Bụt trong ta, Chúa trong ta

    Giới thiệu: Bài nầy do Chân Văn dịch từ Chương Bốn trong quyển "Living Buddha, Living Christ" của Thích Nhất Hạnh, Riverheads Book xuất bản 1995. Quyển sách gồm nhiều bài giảng bằng Anh ngữ của Thầy, được ghi âm, chép lại và nhuận sắc. Ðây là một quyển sách đã bán được rất nhiều trong loại sách về tôn giáo và tâm linh ở Hoa Kỳ. Theo lối quen dùng trong các sách Việt ngữ của Thầy, từ "Buddha" được dịch là "Bụt", một từ trong tiếng Việt cổ dùng để phiên âm "Buddha" khi đạo Phật được truyền vào Việt Nam vào đầu kỷ nguyên Tây lịch. Về sau, từ khi người Việt dùng kinh sách chữ Hán, từ "Phật" hay "Phật Ðà" (tiếng Hán Việt) được dùng thay từ "Bụt". Bài dịch nầy đã được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21, California, Hoa Kỳ, tháng 11-1995

    Living Buddha, Living Christ


    Cuộc đời Ngài là Giáo Lý

    Có một khoa học gọi là Phật học, đó là học về cuộc đời của Bụt. Bụt là một nhân vật có thật trong lịch sử. Bụt sinh ra ở thành Kapilavatsu (Ca Tì La Vệ), gần biên giới Ấn Ðộ và Nepal. Ngài thành hôn, có một con, xuất gia, giác ngộ, và chia sẻ giáo pháp của Ngài cho đến năm tám mươi tuổi Ngài tịch. Nhưng cũng có một vị Bụt ở trong mỗi người chúng ta, không tùy thuộc vào thời gian và không gian. Ðó là Ðức Bụt Sống, vị Bụt của sự thật sau cùng, vượt trên các ý nghĩ và khái niệm, và lúc nào chúng ta cũng gặp được. Vị Bụt Sống đó không sinh ra ở Kapilavatsu và cũng không tạ thế ở Kushinagar.

    Ki Tô Học là môn học về cuộc đời Chúa Ki Tô. Khi nói Chúa Ki Tô, chúng ta cũng cần biết đang nói về Chúa Giêsu trong lịch sử hay Ðức Ki Tô Hằng Sống. Chúa Ki Tô trong lịch sử sinh tại Bê Lem, con của một người thợ mộc. Ngài rời quê hương xa, trở thành một đạo sư, và bị đóng đinh trên thập tự vào năm ba mươi ba tuổi. Ðức Ki Tô Hằng Sống là Con của Thượng Ðế, đã phục sinh, và nay vẫn còn tiếp tục sống. Trong Ki Tô Giáo, bạn phải tin vào sự Phục Sinh, nếu không thì bạn không phải tín đồ. Tôi e rằng điều kiện nầy làm nhiều người e ngại, không chịu nhìn sâu vào cuộc đời Chúa Giêsu. Thật đáng tiếc, vì chúng ta có thể học hỏi cả nơi Chúa Giêsu trong lịch sử lẫn Chúa Giêsu như một cánh cửa tuyệt đối.

    Khi chúng ta theo dõi và tiếp xúc một cách sâu sắc với cuộc đời và giáo lý của Chúa Giêsu, chúng ta có thể thâm nhập vào sự thật của Thượng Ðế. Tình yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm, sự bao dung, là những biểu hiện của cuộc đời Chúa Giêsu. Thượng Ðế xuất hiện với chúng ta qua Giêsu Ki Tô. Với Thánh Linh và Nước Chúa ở trong Ngài, Giêsu đã tiếp xúc với mọi người sống cùng thời của Ngài. Ngài đã nói chuyện với những cô gái điếm, những người thâu thuế, Ngài có can đảm làm bất cứ việc gì cần thiết để chữa các căn bệnh của thời đại Ngài. Như là đứa con của mẹ Maria và thánh Giuse, Giêsu là Con của Người, Người Nam và Người Nữ. Như một người sống với Thánh Linh, Ngài là Con của Thượng Ðế. Nói rằng Chúa Giêsu vừa là Con của Người, vừa là Con của Thượng Ðế, các Phật tử có thể chấp nhận không khó gì. Chúng ta có thể thấy Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con là một, bất nhị, vì nếu không có Ðức Chúa Cha ở trong Ngài thì không có Ðức Chúa Con. Tuy nhiên, trong Ki Tô Giáo, Giêsu thường được gọi là Con Một của Thượng Ðế. Tôi thấy chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập. Giêsu sống đúng như lời dạy của Ngài, cho nên suy gẫm cuộc đời Chúa Giêsu là điều tối cần thiết để hiểu giáo lý của Ngài. Tôi nghĩ cuộc đời Chúa Giêsu là bài học căn bản nhất của Ngài, quan trọng hơn cả sự phục sinh và tính vĩnh cữu.



    Sống tỉnh thức là Bụt

    Bụt là người giác ngộ, nghĩa là không còn bị ràng buộc vào thế tục. Nhưng khi nhiều người nói rằng họ tin Bụt, họ đang nói về niềm tin vào vị Bụt thần thông, huyền diệu, không phải niềm tin vào giáo lý hay cuộc đời của vị Bụt lịch sử. Họ tin vào sự mầu nhiệm của Bụt, và thấy như vậy là đủ. Nhưng các thí dụ trong cuộc đời thật của Bụt và Chúa Giêsu quan trọng hơn, vì khi các Ngài sống như những con người thật, chúng ta có thể bắt chước, sống theo mẫu đời sống của các Ngài.

    Khi chúng ta đọc, "Cửa trời mở rộng và Thánh Linh giáng xuống Ngài như một con chim bồ câu," chúng ta có thể thấy hình ảnh Chúa Giêsu đã giác ngộ. Ngài đã tiếp xúc được với sự thật của đời sống, nguồn suối của tỉnh thức, của minh triết và trí tuệ ở trong Ngài. Ðó là điều phân biệt Ngài với người phàm tục. Khi Ngài sinh ra trong một gia đình người thợ mộc, Ngài là Con của Người. Khi Ngài mở rộng trái tim, cánh cửa thiên đường đã mở ra cho Ngài. Thánh Linh đã ngự xuống Ngài như một con chim bồ câ, và Ngài biểu hiện như là Con của Thượng Ðế - rất thiêng liêng, sâu sắc, và vĩ đại.

    Nhưng Thánh Linh không phải chỉ ngự xuống Giêsu không thôi, mà cho tất cả chúng ta. Trong nhãn quan Phật Giáo, ai không phải là con của Thượng Ðế? Ngồi dưới gốc cây bồ đề, những hạt giống thiêng liêng và huyền diệu ở trong Bụt bừng nở. Ngài là một người, nhưng đồng thời Ngài cũng thị hiện tâm linh nhân loại đến mức cao nhất. Khi chúng ta tiếp xúc được với tâm linh tối thượng trong chúng ta, chúng ta là Bụt. Chúng ta mang ơn Thánh Linh, và chúng ta trở nên rất bao dung, rất cởi mở, sâu xa, và thông cảm.



    Những cánh cửa mở ra cho các thế hệ sau

    Kinh Thánh Mathiơ tả Nước Chúa giống như một hạt cải nhỏ xíu. Ðiều đó có nghĩa là hạt giống của Nước Chúa ở sẵn trong chúng ta. Nếu chúng ta biết vun trồng hạt giống đó trong mảnh đất mầu của cuộc sống hằng ngày, nó sẽ lớn lên và thành một cây cao cho chim chóc đến trú ẩn. Chúng ta không cần phải chết đi mới tới được cửa thiên đàng. Thật ra chúng ta cần phải sống đích thực. Việc tu tập là tiếp xúc sâu xa với sự sống để Nước Chúa trở thành sự thật. Ðây không phải là chuyện sùng tín. Ðây là chuyện thực tập. Có thể vào Nước Chúa bây giờ và ở đây. Nhiều đoạn trong Phúc Âm cũng có cách nhìn nầy. Chúng ta đọc Kinh Lạy Cha, rằng chúng ta không đi tới Nước Chúa, nhưng Nước Chúa sẽ đến với chúng ta: "Nước Ngài sẽ tới ..." Giêsu nói, "Ta là cánh cửa vào." Ngài tự mô tả là cánh cửa của Nước Chúa. Vì Ðức Chúa Con được tạo nên bằng Ðức Thánh Linh, Ngài là cánh cửa để chúng ta vào Nước Chúa.

    Bụt cũng được mô tả như là một cánh cửa, là vị đạo sư chỉ đường cho ta sống trong đời. Phật tử tu học con đường đó một cách sâu xa để giúp ta sống trong chánh niệm, từ bi, và an lạc. Kinh sách nói có 84 ngàn pháp môn, cánh cửa của sự tu học. Nếu bạn may mắn tìm thấy một cánh cửa, và cho rằng cánh cửa của bạn là cánh cửa duy nhất, thì đó không phải là tinh thần đạo Bụt. Thật ra, chúng ta phải mở ra thêm nhiều cánh cửa mới cho các thế hệ tương lai. Chúng ta đừng sợ có quá nhiều cánh cửa - đúng ra, ta nên lo ngại không có thêm những cánh cửa mới. Thật tội nghiệp cho con cháu chúng ta, và con cháu của họ, nếu chúng ta hài lòng với 84 ngàn cánh cửa hiện có. Mỗi người chúng ta, với sự tu tập và tâm từ bi, có thể mở ra những Cánh Cửa Pháp mới.

    Xã hội đang biến đổi, con người thay đổi, đời sống chính trị và kinh tế ngày nay không còn giống như thời Bụt và Chúa nữa. Bụt trông cậy nơi chúng ta để Giáo Pháp tiếp tục phát triển như một thực thể sống động - không phải một giáo pháp cứng đọng, mà là một Pháp Thân (Dharmakaya), một thực thể giáo lý thiêng liêng.



    Bà mẹ sinh ra các vị Bụt

    Bụt dạy Pháp thân của Ngài quan trọng hơn nhục thân. Ngài muốn dạy chúng ta phải thực hành Giáo Pháp để đạt tới Niết Bàn ở đây và bây giờ. Giáo Pháp sinh động không phải là những thư viện chứa kinh điển hay các băng thâu những bài giảng hay. Pháp sinh động là sống tỉnh thức trong chánh niệm, biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày của Bụt cũng như của quý vị. Khi tôi nhìn thấy quý vị bước đi với chánh niệm, tôi tiếp xúc được với sự an lạc, với sự hiện diện của quý vị một cách sâu xa. Khi quý vị săn sóc các anh chị em của mình, tôi nhìn thấy Giáo Pháp sống động trong quý vị. Nếu có chánh niệm, quý vị có thể tiếp xúc với Pháp thân của Bụt.

    Bụt mô tả những hạt giống của tỉnh thức trong mỗi chúng ta là "Như Lai Mẫu" (tathagatagarbha). Chúng ta đều là "mẹ của Như Lai" vì trong lòng chúng ta đều mang sẵn hạt giống của tỉnh thức. Nếu chúng ta đều săn sóc vị Bụt sơ sinh trong mình bằng sự thực tập tỉnh thức mỗi ngày, một ngày nào đó Ðấng Giác Ngộ sẽ đến với chúng ta. Các Phật tử nhìn Bụt như một vị thầy và một người anh, không phải là một thần linh. Chúng ta đều là Pháp huynh Pháp đệ của Bụt. Chúng ta cũng nói Trí Tuệ Bát Nhã (Prajnaparamita) là mẹ của tất cả các vị Bụt. Trong lịch sử, các giáo phái Tin Lành giảm bớt hình ảnh Mẹ trong Thượng Ðế và đề cao vai trò Cha của Ngài, nhưng trong Giáo hội Công Giáo có sự sùng kính Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời.

    Thật ra Mẹ và Cha là hai phương diện của cùng một thực thể. Hình ảnh người cha hiện rõ hơn trong Trí Tuệ và Hiểu Biết, người Mẹ trong Tình Thương và Từ Bi. Trong đạo Bụt, hiểu biết (prajna) là căn bản của thương yêu (maitri). Nếu không có hiểu biết thì không có tình thương đích thực, và không có tình thương thì không có hiểu biết đích thực.



    Người con gái của Thượng Ðế

    Người ta gọi Bụt bằng mười danh hiệu, mỗi danh hiệu biểu lộ một phẩm chất. Danh hiệu thứ nhất, Như Lai (Tagatatha), tức là "vị đến với chúng ta trên đường chánh", "vị đến từ sự thật mầu nhiệm của sự sống và sẽ trở về sự thật mầu nhiệm đó", hay "vị đến từ cõi như vậy, ở trong cõi như vậy, và quay về cõi như vậy". Như là danh từ Phật giáo nói đến Chân Như, bản chất của sự vật, hay sự thật tối hậu. Ðó là bản thể hay nền tảng của sự hiện hữu, ví như nước là bản thể của sự sống. Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như, và sẽ quay về Chân Như. Chúng ta từ cõi Không mà đến và sẽ trở về cõi Không.

    Trong một bài kinh, Phật nói rằng hình sắc chúng ta thây là do các nhân duyên tạo thành, khi không đủ nhân duyên thì chúng ta không thấy. Khi có đủ nhân duyên thì chúng ta nhận ra một hiện tượng, chúng ta thấy hiện tượng là có thật. Nhưng khi một trong các nhân duyên vắng mặt, chúng ta không nhận ra hiện tượng đó nữa. Ta không thấy nên nói là nó không hiện hữu. Nhưng điều đó không đúng. Vào mỗi tháng Tư ở Làng Hồng, chúng ta không nhìn thấy hoa hướng dương nở, chúng ta có thể nói hoa hướng dương không hiện hữu. Nhưng các nông dân ở ngôi làng tại miền Nam nước Pháp này đã gieo hàng ngàn hạt giống xuống đất. Khi nhìn ngọn đồi trơ trọi, họ có thể thấy các hoa hướng dương rồi. Hoa hướng dương đã có mặt ở đó. Chúng chỉ còn thiếu các nhân duyên của mặt trời, sức nóng, mưa, và thời gian. Không phải vì ta không thấy mà hoa hướng dương không hiện hữu.

    Cũng theo cách đó, chúng ta nói Ðức Như Lai không từ đâu tới mà cũng không đi về đâu cả. Ngài tới từ cõi Chân Như và trở về Chân Như, không phụ thuộc vào thời gian và không gian. Nếu quý vị đi qua thửa ruộng bên Làng Hồng vào tháng Tư, và xin cánh đồng cho quý vị thấy Chân Như, thấy Nước Chúa, các thửa ruộng bỗng nhiên sẽ phủ đầy hoa hướng dương vàng chói rực rỡ. Khi Thánh Phan Xi Cô (St Francis) nhìn quán chiếu sâu xa một cây hạnh nhân vào giữa mùa đông và bảo cây hãy nói cho ngài nghe về Thượng Ðế, cây bỗng bừng nở đầy hoa.

    Danh hiệu thứ hai của Bụt là A La Hán, vị xứng đáng được tôn kính. Danh hiệu thứ ba là Thiện Thệ, vị hoàn toàn tỉnh thức. Thứ tư là Minh Hạnh Túc, vị có trí tuệ và đức hạnh đầy đủ. Thứ năm là Vô Thượng Sĩ, vị dẫn đường không ai hơn. Thứ sáu là Thế Gian Giải, người biết rõ thế giới nầy. Thứ bảy là Ðiều Ngự Trượng Phu, người đi trên con đường tự tại. Thứ tám là Thiên Nhân Sư, thầy của thần linh và người. Danh hiệu thứ chín của Ngài là Bụt (Buddha, Phật Ðà), bậc giác ngộ. Danh hiệu thứ mười là Ðức Thế Tôn, bậc đầy phúc báu.

    Mỗi khi chúng ta quy y, quay về nương tựa Bụt, chúng ta tìm nương tựa vào một vị có đủ mười đức tính trên, đó cũng là hạt nhân có sẵn trong mỗi người. Thái tử Tất Ðạt Ða (Siddharta) không phải là vị Bụt duy nhất. Mọi vật trong thế giới cây cỏ, muông thú và khoáng chất đều là các vị Bụt tương lai. Tất cả chúng ta đều chứa sẵn mười đức tính của Bụt trong thâm căn của mình. Nếu chúng ta thể hiện được mười đức tính đó thì sẽ được tôn kính.

    Tôi thấy trong Phép Rửa Tội là sự công nhận của mỗi người, khi mở lòng ra đón Thánh Linh, đều có khả năng thể hiện mười đức tính trên, đó cũng là những đức tính để trở thành các người con của Chúa. Trong đạo Bụt, chúng ta không nói đến Tội Tổ Tông, nhưng nói đến các Chủng Tử Bất Thiện, là những hạt giống có sẵn trong mỗi người - hạt giống của tham lam, hận thù, giận dữ, ngu si, cố chấp, v.v... - và chúng ta nói đến các hạt giống trên có thể được chuyển hóa khi chúng ta tiếp xúc với các đức tính của Bụt. Các đức tính đó cũng có sẵn hạt giống trong chúng ta. Tội tổ tông cũng có thể được chuyển hóa khi một người tiếp xúc với Thánh Linh. Giêsu là con của Thượng Ðế và con của Người. Chúng ta cũng là con của Thượng Ðế và của song thân chúng ta. Nghĩa là chúng ta thuộc về cùng một thực tại như Giêsu. Ðiều này có thể coi như là tà thuyết đối với một số người Ki Tô Giáo. Nhưng tôi tin những nhà thần học đã nói là không cần phải nghĩ như vậy. Giêsu không phải chỉ là Chúa của chúng ta. Ngài còn là Cha, là Thầy, là Anh, và là Chính chúng ta. Nơi duy nhất chúng ta có thể tiếp xúc với Giêsu và Nước Chúa là ở trong nột tâm mình.



    Chúng ta tiếp tục ra đời

    Khi chúng ta làm lễ Chúa Giáng Sinh hay lễ Phật Ðản, chúng ta mừng sự ra đời của những hài nhi đặc biệt. Sự giáng sinh của Chúa và đản sinh của Bụt là các biến cố quan trọng trong lịch sử loài người. Mấy ngày sau khi Bụt ra đời, nhiều người ở Kapilavatsu đến kính thăm, trong đó có một đạo sĩ già tên là Asita. Sau khi nhìn ngắm Bụt sơ sinh, Asita bật khóc. Vua cha kinh ngạc hỏi: "Thưa đạo sĩ, tại sao ông lại khóc? Con tôi sẽ có số phận không may chăng?" Ðạo sĩ trả lời: "Thưa Ðức Vua, không phải vậy. Việc ra đời của Thái tử Tất Ðạt Ða thật là mầu nhiệm. Con trai hoàng thượng sẽ thành một vị thầy quan trọng của thế giới. Nhưng tôi bây giờ đã già quá rồi, chắc không sống được đến ngày đó nữa. Ðó là lý do tại sao tôi khóc."

    Trong Kinh Thánh cũng có một câu chuyện tương tự. Tám ngày sau khi sinh ra, Chúa Hài Ðồng được đưa đến đền thờ để làm lễ cắt bì. Khi một người tên Simeon nhìn thấy Chúa, Ông ta thấy là Ngài sẽ thay đổi cuộc sống nhân loại một cách lớn lao.

    "Khi đến ngày làm lễ thánh tẩy theo luật của Mai Sen (Moses), người ta bế Ngài đến Giê Ru Sa Lem để trình Ngài lên Thượng Ðế ... và người ta theo luật của Thượng Ðế làm lễ hiến sinh hai bồ câu nhỏ. Lúc đó có một người ở Giê Ru Sa Lem tên là Simeon. Người đó là một người công chính và sùng tín, đi tìm đường cứu rỗi dân Israel, đưa Thánh Linh ở cùng người đó. Ðức Thánh Linh đã báo cho Simeon biết rằng ông ta sẽ được nhìn thấy Messiah (Ðấng Cứu Thế) trước khi chết. Theo hướng dẫn của Thánh Linh, Simeon đi tới đền thờ, và khi cha mẹ Chúa Hài Ðồng bế Chúa tới trao cho ông theo luật thánh, Simeon bế Chúa trong hai tay, và ca ngợi Thiên Chúa rằng: 'Lạy Chúa, nay Ngài có thể cho tôi tớ Ngài được yên nghỉ theo lời Ngài đã phán, vì nay tôi đã thấy được sự cứu rỗi mà Ngài đã chuẩn bị trước sự chứng kiến của mọi người, ánh sáng mạc khải cho dân ngoại và vinh quang cho dân Chúa, dân tộc Israel.' Cha và mẹ của hài nhi kinh ngạc khi nghe Simeon nói thế."

    Mỗi khi tôi đọc chuyệm Asita và Simeon, tôi lại ước chi khi mỗi người chúng ta sinh ra lại có một vị hiền giả đến thăm viếng. Mỗi trẻ sơ sinh ra đời đều quan trọng, không kém gì việc đản sinh của Bụt. Chúng ta cũng là Bụt, một vị Bụt tương lai, và chúng ta tiếp tục ra đời trong mỗi giây phút. Chúng ta cũng đều là Con của Thiên Chúa và là con của cha mẹ ta. Chúng ta phải chăm sóc mỗi đứa trẻ mới ra đời.



    Tiếp xúc với tổ tiên

    Tôi không biết tôi là chính tôi hay tôi cũng là anh ruột tôi. Trước khi tôi ra đời, một em bé trai khác đã định sinh ra, nhưng mẹ tôi bị xẩy thai. Nếu người con trai đó còn sống, chắc tôi đã có một người anh. Hay tôi đã là anh tôi. Từ nhỏ tôi vẫn nghĩ ngợi về điều này.

    Những bậc cha mẹ sắp có con nên cẩn trọng vì họ đang mang một hài nhi có thể trở thành một Ðức Bụt hay một Chúa Giêsu. Họ phải tỉnh táo biết những thứ gì họ đang ăn, uống, điều họ nghĩ, việc họ làm. Cách thức họ chăm sóc thân thể và cảm thọ của họ ảnh hưởng đến sự an lạc của đứa trẻ trong bụng mẹ. Cha mẹ chúng ta cho chúng ta được ra đời và hiện giờ vẫn tiếp tục ban sự sống cho chúng ta. Mỗi khi gặp khó khăn, tôi đều khấn cha mẹ tôi và lúc nào tôi cũng được phù hộ.

    Các tổ tiên về tâm linh của chúng ta cũng ban cho chúng ta sự sống và cũng vẫn còn tiếp tục mãi. Ở nước tôi, chúng tôi thường nói một vị thầy đích thật có thể cho môn đệ sự sống. Nếu quý vị có đủ bản lãnh, quý vị sẽ tạo nên sự sống của những đứa con tinh thần, và qua sự tu tập và cuộc sống, quý vị sẽ tiếp tục ban sự sống cho nhiều người, cả sau khi đã qua đời. Chúng ta có thể nói các người con từ miệng Bụt ra đời vì Bụt đã ban cho họ các lời dạy, tức là Pháp. Có nhiều cách để mang Pháp tới cho cuộc sống tinh thần của một đứa trẻ sắp ra đời. Cách thông thường nhất là dùng lời nói. Mỗi ngày tôi vẫn tu tập để tiếp xúc với các tổ tiên huyết thống và các tổ tiên tâm linh của tôi. Mỗi khi tôi thấy mình yếu đuối, tôi lại kêu gọi họ phù trợ, và bao giờ các ngài cũng tới giúp.



    Khổ và con đường dứt khổ

    Ngay từ khi còn nhỏ, Tất Ðạt Ða và Guêsu đều nhận thấy đời nhiều nỗi khổ. Bụt đã thấy rất sớm nỗi khổ của mọi loài. Chúa Giêsu cũng phải nhìn thấy như vậy, vì các Ngài đều tìm đường giúp nhân loại dứt khổ đau. Chúng ta cũng phải tìm một lối sống giúp cho đời vơi khổ. Sự thật về khổ lúc nào cũng có mặt, ở chung quanh và ở trong ta, và chúng ta phải tìm đường giảm bớt nỗi khổ, biến khổ đau thành an lạc, hòa bình.

    Chư tăng ni tu tập theo truyền thống của họ, đã tụng kinh, ngồi thiền, đi thiền hành, thọ trai trong yên lặng, và tu tập nhiều phương pháp khác để diệt khổ. Sống cuộc đời của một vị tăng hay ni, có thể ngồi im lặng quán chiếu về sự khổ và đường diệt khổ, là một điều quý báu hiếm có. Quý vị có thể ngồi quán chiếu sâu xa về thân và tâm của mình, như gà mẹ đang ấp trứng. Một ngày nào đó, trứng sẽ nở ra một gà con. Nếu quý vị không tôn quý những giờ thực tập, thì dù là tăng ni, quý vị cũng không cống hiến gì được cuộc đời.

    Năm hai mươi chín tuổi Bụt xuất gia, tuổi tương đối còn trẻ, đến năm ba mươi lăm Ngài thành đạo. Chúc Giêsu cũng sống nhiều ngày một mình trong sa mạc. Chúng ta đều cần những giờ phút suy ngẫm và làm mới lại mình. Những người không phải tăng ni sẽ thấy khó kiếm được thì giờ thiền quán hay cầu nguyện, nhưng đó là một việc quan trọng phải làm. Trong những khóa tu, chúng ta tập sống ý thức về mỗi việc mình làm, rồi tiếp tục áp dụng điều đó trong cuộc sống hằng ngày. Thực hành như thế, chúng ta có thể quán chiếu sâu xa về bản chất của khổ và tìm ra đường thoát khổ. Ðó là bài giảng thứ nhất của Bụt tại Vườn Nai ở Sanarth: "Hảy quán chiếu sâu xa bản chất của khổ để tìm nguyên nhân gây ra khổ và con đường diệt khổ." Người đi tu hay người tại gia đều có thể thực tập điều đó.



    Ta là con đường

    Ðạo Bụt trong truyền thống Theravada (Nam Tông) nhấn mạnh vào các bài giảng của vị Bụt lịch sử, vị Bụt đã sống và đã qua đời. Sau nầy ý niệm về Bụt sinh động phát triển trong truyền thống Mahayana (Bắc Tông). Khi Bụt sắp nhập diệt, nhiều vị đệ tử buồn rầu vì sắp phải xa Ngài. Ngài đã trấn an họ rằng: "Nhục thân của ta sẽ không còn nữa, nhưng Pháp thân của ta vẫn luôn luôn ở bên các con. Hãy quy y Pháp để làm hòn đảo cho các con nương tựa." Lời Bụt dạy rất rõ ràng. Giáo Pháp của Ngài là hải đảo cho chúng ta nương tựa, là bó đuốc soi đường cho chúng ta. Khi Giáo Pháp còn tồn tại, thì chúng ta không cần phải lo buồn. Một vị sa môn lúc đó đang bệnh, ngỏ ý tiếc không thể đến gặp Bụt, Bụt nhắn với thầy đó rằng: "Nhục thân của Ta không quan trọng. Nếu thầy có Pháp thân với thầy, nếu thầy tin Pháp, thực tập Giáo Pháp, thì ta luôn luôn ở bên thầy." Chúa Giêsu cũng từng nói: "Khi có hai, hay ba người họp nhau trong tên ta, ta ở đó cùng họ."



    Ta luôn luôn ở đó cùng người

    Sau khi Bụt nhập diệt, người ta yêu và sùng kính Ngài quá nên ý niệm Pháp thân vốn bắt đầu là các giáo lý đã biến thành một vị Bụt huy hoàng, bất diệt, lúc nào cũng giảng Giáo Pháp. Trong truyền thống Bắc Tông, Bụt lúc nào cũng còn sống, vẫn tiếp tục giảng Giáo Pháp. Nếu quý vị chú ý lắng nghe, quý vị có thể nghe tiếng nói của Pháp từ một hòn sỏi, một lá cây, một đám mây bay. Ðức Bụt thường tồn đã trở thành Bụt sống, vị Bụt của niềm tin. Cũng giống như Chúa Ki Tô của đức tin, Chúa Ki Tô sống. Nhà thần học Paul Tillich mô tả Thiên Chúa như là nền tảng của hiện hữu. Người ta cũng có khi mô tả Bụt như vậy.



    Thấy Ðạo là thấy ta

    Gặp một vị minh sư cũng có giá trị như học ngài hàng thế kỷ, vì trong ngài chúng ta thấy tấm gương sống của sự giác ngộ. Làm sao chúng ta được gặp Bụt hay Chúa? Ðiều đó tùy thuộc chính ta. Nhiều người nhìn vào mắt Bụt hay Chúa mà không thấy. Có một thầy kia hối hả đi tìm gặp Bụt, vội quá đến nỗi dọc đường nhìn mà không thấy một người đàn bà đang đau khổ cần giúp đỡ. Khi vị đó tới tu viện gặp Bụt, ông ta cũng không nhìn thấy Bụt. Quý vị thấy Bụt hay không là do quý vị đang sống trong trạng thái nào.



    Ta là trí tuệ, là từ bi

    Bụt tỏa ra hào quang cũng như các nhân vật siêu phàm khác. Khi chúng ta gặp các nhân vật đó chúng ta cảm thấy bình yên, tình thương, thấy sức mạnh nơi họ và trong chúng ta. Có câu ngạn ngữ Trung Hoa rằng: "Thánh hiền ở đâu thì nước suối ở đó trong hơn, cây cối ở đó cũng xanh hơn." Câu đó mô tả không khí bao quanh bậc thánh nhân. Khi quý vị đến bên một hiền giả, quý vị cảm thấy bình an và sáng láng. Khi quý vị đến gần Chúa Giêsu và nhìn thẳng vào mắt Ngài - dù quý vị có thấy hay không - quý vị có nhiều hy vọng được cứu rỗi hơn là chỉ đọc lời nói của Ngài. Nhưng khi quý vị không thể đích thân gặp Chúa, thì còn những bài học của Chúa, đặc biệt là những bài học về cuộc đời của Ngài.



    Thoát khỏi những khái niệm

    Mỗi khi tôi đọc kinh điển, dù là kinh đạo Chúa hay đạo Bụt, tôi luôn luôn ghi nhớ rằng những điều các Ngài nói là nói cho một người hay một thính chúng nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó. Tôi cố suy ngẫm sâu xa về khung cảnh của lời dạy để hiểu cho đúng hơn. Ðiều các Ngài nói có khi không quan trọng bằng cách nói. Khi chúng ta biết như vậy, chúng ta gần Chúa và Bụt hơn. Còn nếu như chúng ta phân tích kỹ lưỡng lời dạy của các Ngài mà không hiểu tương quan giừa người nói và người nghe thì có thể chúng ta đã hiểu lầm. Nhiều nhà thần học cũng có khi mắc lỗi nầy.

    Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy sự can đảm vô cùng của Chúa Giêsu khi Ngài cố thay đổi xã hội chung quanh. Khi đọc kinh Phật, chúng ta cũng thấy Bụt có một nhân cách rất mạnh. Xã hội Ấn Ðộ thời Bụt không nhiều bạo lực bằng xã hội trong đó Chúa Giêsu sinh ra, cho nên chúng ta có cảm tưởng các phản ứng của Bụt không quyết liệt bằng, nhưng điều đó là vì trong xã hội của Bụt khả dĩ có thể tìm ra phương cách khác. Hãy xem phản ứng của Bụt đối với sự sa đọa của các tu sĩ theo phái Vệ Ðà chẳng hạn, cũng rất quyết liệt. Thí dụ khái niệm về Tự Ngã (Atman), một trọng điểm của giáo lý Vệ Ðà, là một nguyên nhân của tình trạng bất công xã hội thời đó - như hệ thống đẳng cấp, cách đối xử bất nhẫn với những người vô đẳng cấp, và sự độc quyền về giáo điều của những người không chắc có giá trị tinh thần nhưng lại hưởng những cuộc sống sung túc nhất. Phản ứng lại, Bụt đã nhấn mạnh đến giáo lý Vô Ngã. Ngài nói: "Mọi sự vật không có tự tánh riêng biệt, độc lập. Nhìn vào tự tánh của một bông hoa, quý vị thấy đó là sự trống rỗng." Ðến khi các đồ đệ bắt đầu sùng bái giáo lý Vô Ngã, Ngài lại nói: "Thà rằng tin ở tự ngã của một bông hoa còn hơn là vướng mắc vào tính vô ngã của bông hoa."

    Bụt không trình bày một học thuyết có tính cách tuyệt đối. Ngài dạy về vô ngã để đối trị với vấn đề của thời đại đó. Ðó là một đề tài thiền quán. Nhưng nhiều Phật tử về sau bị vướng mắc vào ý niệm vô ngã. Họ lầm phương tiện với cứu cánh, lầm cái bè qua sông với bờ sông bên kia, lầm ngón tay chỉ mặt trăng với mặt trăng. Có điều quan trọng hơn cả thuyết vô ngã. Ðó là sự giải thoát khỏi khái niệm về Ngã và về Vô Ngã. Một người theo đạo Bụt mà để bị vướng mắc vào một lý thuyết, dù là lý thuyết Phật giáo, là làm ngược lời Bụt dạy. Lời nói và khái niệm không quan trọng. Ðiều quan trọng là sự khai ngộ của chính chúng ta về bản chất của sự vật và cách thức chúngta đối trị với sự thật đó. Nếu Bụt sinh ra ở xã hội mà chúa Giêsu đã sinh ra, tôi nghĩ chắc Ngài cũng bị đóng đinh trên thập tự.



    Thấy Ðạo, lên đường

    Khi Chúa Giêsu nói: "Ta là con đường" Ngài muốn bảo nếu muốn gần Thiên Chúa chúng ta phải tu tập con đường của Ngài. Trong Tân Ước, ta thấy các người theo Thiên Chúa Giáo đầu tiên, như tả trong sách Tông Ðồ Mục Vụ, thường nói đến đức tin của họ như là "Con Ðường - Ðạo." Tôi nghe câu nói "Ta là Con Ðường" hay hơn câu "Ta biết Con Ðường." Ðây không phải là một con đường trải nhựa. Nhưng chúng ta phải phân biệt chữ "Ta" trong lời Chúa và chữ "Ta" mà người nghe vẫn nghĩ. Chúa nói "Ta" là nói về Ðời Sống, đời sống của Ngài, đó là Ðạo. Nếu quý vị không nhìn vào đời sống của Ngài, quý vị không thấy Ðạo của Ngài. Nếu quý vị chỉ ca ngợi một danh hiệu, dù là danh hiệu Chúa, đó chưa phải là tu học theo cuộc đời của Chúa. Nếu muốn sáng danh Chúa Giêsu chúng ta phải tập sống sâu xa, thương yêu và hành động bác ái. Ðạo, Con Ðường, chính là Chúa chứ không phải là một vài ý Chúa nói ra. Giáo lý đích thực có tính động. Ðó không phải là lời nói mà thôi nhưng là đời sống thật. Nhiều người không có đạo lẫn đời sống mà vẫn bắt ép mọi người theo cái mà họ tưởng là đạo. Nhưng đó chỉ là lời nói mà không dính dấp gì đến đời sống thật hay con đường thật.

    Khi chúng ta hiểu và thực hành sâu xa cuộc đời và giáo pháp của Bụt, cuộc đời và tín lý của Chúa Giêsu, chúng ta bước được vào trong cánh cửa của căn nhà Bụt sống và Chúa sống, và đời sống hằng cửu sẽ đến với ta.



    Thân ta là mình Chúa

    Khi một vị mục sư nói tôi là người không biết ơn (vì không tạ ơn Chúa khi ăn cơm), ông đang nói một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ người theo đạo Bụt. Ông nghĩ tình thương yêu chỉ có thể biểu tượng vào một người. Vì vậy, sự Phục Sinh là một tín lý rất quan trọng trong Ki Tô Giáo. Nếu Giêsu chết đi rồi không phục sinh, ai sẽ mang tình yêu thương vĩnh cữu của Ngài tới cho chúng ta? Nhưng Thượng Ðế có cần phải biểu hiện thành một người không? Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo luôn luôn dùng hình ảnh của một người.

    Trong đạo Bụt, chúng ta cũng hay diễn tả các điều thệ nguyện của mình bằng hình ảnh của một người, như sự tỉnh thức (Bụt Thích Ca), trí tuệ (Bồ tát Văn Thù Sư Lợi), và tình yêu (Bụt Di Lặc), nhưng ngay cả khi không có Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Sư Lợi, Di Lặc, chúng ta vẫn tiếp xúc được với tỉnh thức, trí tuệ và yêu thương. Ðệ tử Bụt là sự tiếp nối của Bụt. Chúng ta có thể biểu hiện tỉnh thức, trí tuệ và thương yêu qua các nhân vật thời đại của mình, ngay cả qua chính mình. Chúng ta không cần tin Bụt hay Bồ tát sẽ sống lại bằng sự thực hành tỉnh thức, trí tuệ và thương yêu trong chúng ta.

    Chúa Ki Tô sống là Ðức Ki Tô của Tình Yêu, mỗi lúc đều tạo dựng nên tình yêu. Khi giáo hội biểu hiện sự hiểu biết, bao dung, và từ bi, Chúa Giêsu đang ở đó. Những tín đồ Thiên Chúa Giáo cần giúp thể hiện Chúa Giêsu trong đời sống của họ, cho những người chung quanh thấy rằng ta có thể đạt tới tình thương, sự hiểu biết và bao dung. Ðiều đó không thể làm đầy đủ qua sách vở và bài giảng. Phải thể hiện trong đời sống. Trong đạo Bụt cũng vậy, đức Bụt sống Ngài dạy chúng ta từ bi chỉ có thể thể hiện bằng cách chúng ta sống.

    Nhờ công phu hành trì của nhiều thế hệ người theo đạo Bụt và đạo Chúa, sức mạnh từ Bụt và từ Chúa đã được truyền tới đời chúng ta. Nhờ thế chúng ta có thể tiếp xúc với Bụt sống và Chúa sống. Chúng ta biết ta là biến thân của thân Bụt và một phần của thân huyền nhiệm của Chúa. Chúng ta có cơ hội tuyệt vời làm cho Bụt và Chúa tiếp tục sống mãi. Nhờ thân thể và đời sống của chúng ta mà ta có thể tu tập. Nếu quý vị ghét thân thể của quý vị, nghĩ rằng đó là nguồn gốc của buồn phiền, nó chỉ chứa đựng các hạt giống của giận dữ, thù hận và tham lam, quý vị không hiểu rằng thân thể của quý vị cũng là thân Bụt, thân thể quý vị cũng là một phần thân Chúa.


    Hãy vui hưởng sự sống

    Thở và biết rằng mình sống thật là điều tuyệt vời. Vì ta còn sống, nên ta còn bao nhiêu chuyện có thể làm. Tăng thân, cộng đồng của những người tu tập có thể tiếp tục. Giáo hội có thể tiếp tục. Xin đừng phí một giây phút nào. Mỗi giây phút đều là dịp để thở sự sống vào Bụt, Pháp, và Tăng. Mỗi giây phút đều cho ta cơ hội để thể hiện Cha, Con, và Thánh Thần.

    "Có một người sinh ra trên trái đất để mang lại bình an hạnh phúc cho muôn loài. Vị đó là ai vậy?" kinh Anguttara Nikaya hỏi câu đó. Ðối với người Phật tử, vị đó là Bụt. Ðối với tín hữu Thiên Chúa Giáo, vị đó là Chúa Giêsu. Bằng chính đời sống hằng ngày của quý vị, quý vị có thể giúp các Ngài tiếp tục sống. Quý vị chỉ cần đi trong tỉnh thức, bước từng bước an hòa và hạnh phúc trên hành tinh của chúng ta. Hãy thở thật sâu và vui hưởng hơi thở của quý vị. Hãy ý thức về bầu trời xanh và tiếng chim hót ngọt ngào. Hãy vui hưởng sự sống, quý vị sẽ giúp Ðức Chúa Ki Tô Sống và Ðức Bụt Sống tiếp tục lâu dài, mãi mãi.

    Thích Nhất Hạnh (1995)

  14. #34

    Mặc định An lạc trong phút giây hiện tại

    Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ thông tin, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tất cả mọi việc diễn ra với tốc độ nhanh chóng mặt, đòi hỏi con người chúng ta luôn luôn phấn đấu hướng về tương lai, luôn luôn lo lắng cho kế hoạch mình thực hiện. Luôn luôn lo sợ sẽ có chuyện gì đến chuyện kia đến không như ý muốn, lúc nào tâm trí ta luôn luôn suy nghĩ, chúng ta không bao giờ để cho cái đầu của mình không suy nghĩ một điều gì cả, kể cả trong giấc ngủ chúng ta cũng không có được sự ngon giấc, luôn bất an, luôn sợ hãi nằm mơ thấy ác mộng, nằm mơ thấy công việc, nằm mơ thấy chuyện tình cảm xảy ra không như ý muốn... Và những kế hoạch kia không xảy ra theo ý muốn của mình theo dự tính của mình thì mình lại giận dữ, nuối tiếc cái quá khứ, tự trách móc mình tự dằn vặt chính mình giá như lúc đó mình không tham, lúc đó mình giằn cơn nóng giận của mình, giá như lúc đó mình đừng tin ông A bà B, giá như lúc đó mình cưới anh A chứ không cưới anh B làm chồng để cho đời mình giờ khổ sở thế này...Bạn cứ nghĩ đi trong đời bạn sẽ có hàng ngàn hàng vạn lần cái "giá như" như thế, có hàng vạn hàng triệu lần tiếc nuối về quá khứ như thế.
    Bạn cứ tưởng tượng đi bạn lúc nào cũng tiếc nuối quá khứ, và lo sợ tương lai như thế. Bao nhiêu phiền não lúc nào cũng bao vây bạn, rồi bạn không có thể nào thoát ra được, bạn sẽ phiền muộn, bạn sẽ đau khổ, bạn sẽ bị trầm cảm, bạn bi stress, sức lực của bạn suy kiệt, tinh thần uể ải lúc đó bạn thấy cuộc sống sao ngột ngạt quá sao như địa ngục thế, sao cuộc đời của mình không may mắn bằng họ. Và hậu quả khôn lường sẽ đến với một số bạn đã không làm chủ được mình như ăn nhậu say xỉn triền miên để quên đi thực tại, tự vẫn để kết liễu đời mình nhằm trốn tránh thực tại, lăn dài trên con đường tội ác vì không dám đương đầu với thực tại...
    Vậy tại sao ta không sống cho giây phút hiện tại, tìm cầu hạnh phúc cho hiện tai, an lạc cho giây phút hiện tại. Hãy tĩnh tâm cảm nhận hơi thở của mình khi mình hít vào khi mình thở ra, để biết được rằng ta đang sống ngay tại giây phút hiện tại, để cảm nhận được sự kỷ diệu nhiệm màu của sự sống. Ta không biết rằng ta đang sống hiện tại, đang hít thở bầu không khí của vũ trụ là ta đang là một tuyệt tác của tạo hóa, ta chính là tuyệt tác nghệ thuật của tạo hóa mà không có một tuyệt tác nào có thể so sánh với ta cho dù đó là những bản nhạc bất hủ của Mozart, hoặc bức tranh của danh họa picasso. Ta chính là kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Khi ta biết được sự màu nhiệm của cuộc sống của chính ta thì ta mới trân quý từng giây phút ta đang sống hiện tại. Khi ta biết trân quý từng giây phút hiện tại thì ta mới tìm cách làm cho mình hạnh phúc, an lạc ngay tại giây phút hiện tại. Hãy để giây phút hiện tại của chính mình an trú trong chánh niệm.
    Vì chúng ta không thể sống cho quá khứ với sự tiếc nuối, và chúng ta không thể sống cho tương lai với sự sợ hãi, mà sự thật là chúng ta đang sống ở giây phút hiện tai. Hãy mang đến hạnh phúc, sự an lạc bình yên cho chính ta và những người xung quanh ở tại giây phút hiện tại. Khi bạn biết sống cho giây phút hiện tại bạn sẽ không cảm thấy hối hận ray rứt về quá khứ nữa, và cũng không lo sợ về tương lai nữa.
    Điều này hoàn toàn khác với cách sống thực dụng của lối sống bất cần đời chỉ sống hôm nay mà không biết ngày mai của một số nhóm người sống trong thác loạn và dục vọng. Nghĩa là bạn luôn biết, luôn cảm nhận, luôn thưởng thức giây phút sống hiện tại của bạn là bạn sống trong sự an lạc, bình an hạnh phúc không có cảm giác lo sợ, sợ hãi bất an, không có khổ đau.
    Ví dụ 1: khi bạn đi bạn cảm nhận được đôi chân bạn bước lên mặt đường, bạn đang hít thở bạn đang cảm nhận sự kỳ dịu của cuộc sống, khi bạn nấu ăn bạn cảm nhận được bạn đang hạnh phúc khi nấu ăn bạn tập trung vào công việc nấu ăn của mình một cách tốt nhất chứ không có tâm lý sợ sệt mình sẽ nấu món ăn nay ngon hay dở có ai khen chê thì sao, rồi xin ra lo sợ bất an làm cho mình bị khớp tâm lý và nấu món ăn sẽ không ngon như mình có thể nấu; sự khen hay chê của người khác là của tương lai mình không quá bận tâm tại giây phút hiện tại vì mình có bận tâm thì nó cũng không giúp ít gì mình cho giây phút hiện tại mà ngược lại nó làm cho kết quả mình hiện tại càng xấu đi vì mình lo sợ và bất an ảnh hưởng đến hành động của mình hiện tại. Khen hay chê là giây phút của tương lai hãy để nó tự nhiên nó đến, khi nó đến mình sẽ rút kinh nghiệm. Hãy sống hạnh phúc và an lạc tại giây phút hiện tại, hãy thưởng thức những gì hiện tại đang xảy ra với bạn.
    Ví dụ 2: khi bạn đi phỏng vấn bạn luôn có tâm lý lo sợ không biết mình có trả lời được hay không, không biết mình có gây ấn tượng với ban giam khảo không, lo sợ rằng mình sẽ rớt. Rồi vì cái tâm lý lo sợ cái tương lai đó mà mình bị khớp tâm lý, bị bất an, không có tập trung tinh thần tốt nhất cho giây phút hiện tại là mình đang phỏng vấn. Kết quả như thế nào ở tương lai là do hành động của bạn hiện tại quyết định. Khi một nhà phỏng vấn tuyển dụng khi phỏng vấn thấy bạn tâm lý lo sợ, bất an sợ sệt, run rẩy, nói lấp bấp thì bạn có gây ấn tượng cho họ hay không. Thay vì cứ lo sợ cho tương lai như vậy tại sao ta không làm tốt giây phút hiện tại tập trung tốt vào giây phút hiện tại là chuẩn bị kiến thức, kinh nghiệm, các thủ thuật phỏng vấn cho tốt và tự tin khi bước vào phỏng vấn.
    Ví dụ 3: Là đa số chị em phụ nữ luôn luôn mắc phải là cứ luôn lo sợ chồng mình có bồ nhí. Từ cái lo sợ này mà kiểm soát chồng mình một cách thái quá, ghen tuôn vô lý, và nhiều khi xúc phạm đến chồng mình mà không biết trái lại làm cho chồng mình càng chán ghét mình thêm và đẩy chồng mình rời xa vòng tay của mình hơn. Sao cứ mãi lo sợ một cái điều tương lai, luôn có cảm giác bất an đau khổ và điên tiết vì cái điều chưa xảy ra như vậy. Sao ta không tập trung vào giây phút hiện tại của mình mà làm cho tốt, mình sống an lạc hạnh phúc cho chính mình và đem lại sự an lạc hạnh phúc cho gia đình mình, cho chồng mình cho con mình ngay giay phút hiện tại đây.
    Vậy ngay giây phút hiện tại mình làm cho tốt thì kết quả tương lai mình sẽ gặt hái thành công. Vậy giây phút hiện tại mình làm tốt như thế nào?
    Đó là khi lúc yêu nhau mình phải tìm hiểu thật kỹ người mình yêu có yêu mình không, tính tình 2 người có hòa hợp để sống an vui trọn đời không? Đây là bước cơ bản nhất tại giây phút hiện tại mà các bạn đang yêu rất thờ ơ vấn đề này, bị cái si chi phối ta không tỉnh thức để suy xét cái ưu điểm nhược điểm của đối tượng và khả năng chấp nhận của mình, và nhiều khi tự tin thái quá vào khả năng cải tạo đối tượng của chính mình, chúng ta cứ lao vào nhau một cách mãnh liệt mà quên đi nhiều cái khó khăn phía trước đang chờ, đó là chúng ta không làm tốt công việc hiện tại, mà khi cưới nhau về rồi thì những cái ta cho là nhỏ nhặt là không quan tâm nó lại lớn dần và nó bóp cho tình yêu của ta ngày càng teo tóp lại và kết quả điều gì đến phải đến. Vì thể hãy tỉnh giác trong giây phút hiện tại vì hôn nhân là chuyện quan trọng của đời người chứ không đơn giản như ta thay cái áo cái quận. Hãy đánh giá đúng tầm quan trọng của nó, hãy tỉnh giác và làm tốt giây phút hiện tại để xây nền móng hôn nhân một cách vững chắc.
    Khi cưới nhau về rồi các chị có con, các chị chỉ quan tâm đến con, rồi bao nhiêu cái các chị phải lo, nên ít quan tâm đến chồng, rồi nhan sắc tàn phai theo thời gian mà không chịu chăm chút, rồi tính tình thay đổi hay cằn nhằn hay bực bội la lối hơn với chồng, các chị không gây dựng nền văn hóa gia đình hướng đến tâm linh hay hướng đến cách sống thiện. Trong khi các anh lại càng thăng tiến hơn, địa vị cao hơn, tiền bạc nhiều hơn các em ngoài xã hội trẻ hơn, đẹp hơn, ngọt ngào như mật ong, chiều chuộng các anh từng tý một thì ai mà không có sự so sánh và nếu các anh không tỉnh táo sẽ lạc bước. Rồi cái gì đến rồi cũng sẽ đến khi phát hiện ra các chị cứ quay ra trách móc chửi bới các anh cũng có được gì đâu mà càng gây ra khẩu nghiệp.
    Thay vì vậy hãy sống trân trọng từng phút giây hiện tại thương yêu các anh, chăm sóc nhan sắc của mình không để nó quá xuống cấp mà cũng không nên chăm sóc một cách thái quá, lo cho chồng cho con, và điều quan trọng là tạo một không khí tâm linh sống hướng thiện trong gia đình. Có nghĩa là nên rủ chồng đi làm các công việc từ thiện, nên rủ chồng đi chùa hay đi nhà thờ, nên cùng chồng niệm phật, đọc kinh thánh, mình và chồng sống tốt với mọi người xung quanh cha mẹ anh em bà con, hàng xóm...Giây phút hiện tại mình làm tốt như thế thì cái quả tương lai mình gặt sẽ là quả ngọt, quả tốt và hãy chia sẻ sự an lạc hạnh phúc bình an của mình ở phút giay hiện tại của mình cho người khác.
    Vậy sống cho giây phút hiện tại, sống hạnh phúc an lạc bình an ngay giây phút hiện tại chắc chắn tương lai bạn sẽ gặt kết quả tốt, và quá khứ mà đã qua cũng là kết quả tốt. Bạn không còn đau khổ, sợ hãi lo lắng cho tương lai và không còn tiếc nuối dằn vặt hối hận cái quá khứ.
    Cuộc đời là vô thường vì thế hãy trân quý giây phút hiện tại. Mọi suy nghĩ, lời nói, hành động của bạn tại giây phút hiện tại là một bài pháp quý hãy trân trọng nó. Hãy chăm sóc hạt giống hiện tại chắc chắn cái quả tương lai sẽ là trái ngọt. Hãy để giây phút hiện tại của chính mình an trú trong chánh niệm.
    Pháp Chiếu xin chia sẻ!
    Nam mô A Di Đà Phật!

  15. #35

    Mặc định

    Chúng sanh điên đảo đảo điên
    Đuổi hình bắt bóng cứ cho rằng thật
    Cái thật xuất phát từ Tâm
    Tinh tấn tu tập rèn tâm an lành.
    Hỡi ai trôi nổi kiếp trần
    Lấy mê làm ngộ khó lìa tánh phàm
    Giác Ngộ chẳng lìa chữ Không
    Ngộ rồi thì thấy chúng sanh
    Một lòng cứu độ an vui vĩnh hằng.

  16. #36

    Mặc định phá chấp Huyền Cơ

    Tâm bình an lạc giữa đời
    Ung dung tự tại dạo chơi bốn bề
    Cần gì một chữ huyền vi
    Tâm không dính mắc mong gì Huyền Cơ
    Vô thường chợt đến ai ơi
    Gắng sức tu tập rèn tâm an lành
    Một lòng cứu độ chúng sanh
    Tây phương cực lạc giang tay đón chào
    Ngàn đời rèn một chữ Không
    Mong cầu giác ngộ trở về Hư Không
    Giờ này vướng mắc Huyền Cơ
    Sảy chân một bước uổng công ngàn đời
    Đã Không thì Chẳng Huyền với Cơ
    Ung dung tự tại giữa dòng tử sanh
    Vài lời muốn nói chúng sanh
    Tu thì phải tỉnh đừng sanh mong cầu.

  17. #37

    Mặc định Chấp

    Thế nào là Chấp? Chấp có nghĩa là ôm lấy, là cầm giữ, là nắm chặt. Một người ôm lấy, giữ lấy, nắm chặt lấy một vật gì, một lời gì, một hành động gì, một tư tưởng gì, thậm chí một tình cảm gì, sẽ khư khư không muốn rời ra, không muốn thả xuống và bất kỳ ai đụng chạm đến vật mà người đó ôm chặt, nắm chặt đều bị một phản ứng rất là mạnh bạo, đôi khi có thể đi đến những việc đáng tiếc.

    Người chấp tánh là người giữ mãi cái tánh của mình không thay đổi, dù cho bất kỳ một lời khuyên nào cũng đều nhất quyết không thay đổi.
    Người chấp ý là khi ý kiến của mình đưa ra, bắt buộc kẻ khác phải theo, dù cho một ý kiến khác hay hơn cũng vẫn không thể nào thay thế được.
    Người chấp một tình cảm thì cái tình cảm đó phải là như vậy, không thể thay đổi. Nếu có sự thay đổi, người đó sẽ có thể nổi cơn điên.
    Kẻ chấp lời là lời nói của người đó đưa ra, luôn luôn bắt buộc kẻ khác phải tuân hành, nếu không tuân hành sẽ có những việc không hay xảy tới.
    Thầy lấy thí dụ sau đây:

    Có hai người: người A và người B.

    Người A mỗi khi thốt ra lời gì thường hay kèm theo sự cắt nghĩa rõ ràng, vạch trần phải trái, cân phân lợi hại. Lời của người A thốt ra cốt chỉ để làm lợi ích cho chúng sanh, đem lại điều tốt đẹp cho kẻ khác. Người đó không màng sự lợi lạc cho chính bản thân mình, chỉ mong góp phần vào việc giúp đỡ cho mọi người với kiến thức của mình. Nếu có người nghe theo và làm y theo thì rất tốt. Nhưng người B là người không muốn nghe theo và không muốn làm y theo. Người B cho rằng người A nói sai nhưng không thể bắt bẻ được và cũng không thể nào chứng minh cho mọi người thấy rằng lời nói của người A không đáng tin cậy. Người B hành động chỉ vì bướng bỉnh, không muốn nghe theo lời chỉ dẫn của người A và luôn cho rằng người A đã chấp lời của mình, lúc nào cũng tự cho rằng lời mình là đúng. Như vậy, người B có thật tâm phê phán người A hay không?

    Nên biết rằng, khi mình khởi tâm làm một điều gì, nói một điều gì, suy nghĩ một điều gì, nếu điều đó không đem lại lợi ích cho kẻ khác, gây nhiều phiền não cho kẻ khác, làm cho tâm kẻ khác chao động, tóm lại không làm lợi ích cho bất kỳ một chúng sanh nào, thì lời đó, hay ý đó, hay hành động đó mới thật sự gọi là CHẤP nếu người đó khư khư giữ lấy và không chấp nhận một ý kiến tốt nào hết.

    Ngược lại, nếu luôn luôn làm điều lợi ích cho chúng sanh, từng hành động, từng suy nghĩ, từng lời nói, từng cử chỉ đều cốt yếu làm lợi ích cho chúng sanh thì không thể gọi là CHẤP được.

    Chấp có thiên hình vạn trạng; tùy hoàn cảnh, tùy cơ hội mà chấp từ tốt trở thành xấu, nhưng tất cả đều xuất phát từ ở Tâm và Ý. Cho nên bất kỳ một hành động nào, một lời nói nào, một cử chỉ nào, một tư tưởng nào, cũng đều có thể trở thành chấp hay không chấp. Đó là tùy vào cách hành xử của người chủ động.

    Nếu tâm của người đó là một Tâm Lành thì điều mà người đó hành xử không gọi là chấp. Còn nếu người hành xử có tâm không tốt, việc hành xử của người đó sẽ gọi là chấp, vì người đó khư khư giữ lấy những điều không lợi ích cho chúng sanh.

    Làm bất kỳ một điều gì, nghĩ suy một điều gì, lời mình thốt ra, tình cảm mình đưa ra, nếu không kèm với một tâm tốt, ý tốt, đều bị xem là chấp.

    Thông thường, đối với chúng sanh, chữ chấp bàn bạc rất nhiều. Tại vì sao? Tại vì cái ngã của chúng sanh quá lớn. Chúng sanh tự thương mình rất nhiều, những gì của mình là phải của mình, là phải nắm giữ và phải ôm chặt. Chúng sanh thường không bao giờ chịu nghĩ đến kẻ khác, chịu chia sẻ những điều tốt đẹp của mình cho kẻ khác và nhất là tánh cao ngạo lên rất cao. Vì cao ngạo cho nên không bao giờ muốn phục tùng kẻ khác, không bao giờ muốn nghe lời kẻ khác, không bao giờ muốn chia sẻ với kẻ khác. Chúng sanh tự cho rằng cái gì của mình cũng đều hay, đều đẹp, đều tốt, đều đúng cả, còn của người khác đều không đúng, cho nên khư khư ôm chặt cái gì thuộc của mình, dù cho bất kỳ một lời khuyên bảo, một lời phê bình, một lời chỉ dạy cũng đều không nghe. Do đó để có thể vạch mặt, chỉ tên cái CHẤP, điều cần yếu là mình phải hiểu rằng mình làm đúng hay sai, mình đã suy nghĩ đúng hay sai? Đúng hay sai có nghĩa là có lợi ích cho người khác hay không? Nếu mình làm điều có lợi ích cho người khác thì mình có quyền trả lời rằng tôi làm đúng. Một khi tôi làm đúng thì tôi sẽ giữ con đường đúng đó để đi. Do đó hành động này không gọi là chấp. Còn nếu mình thấy rằng, việc mình làm không đem lại lợi lạc cho người khác, không chia sẻ được cho người khác, tức là điều mình làm đã sai. Nếu biết sai mà vẫn còn khư khư giữ lấy, thì đó là Chấp. Thông thường thì chúng sanh chấp ngã rất nhiều.

    Thế nào là chấp ngã? Chấp ngã có nghĩa là những gì mình làm, những gì mình nghĩ, những gì mình ban phát ra đều đúng, không bao giờ sai. Chấp ngã là đầu mối tạo ra rất nhiều … rất nhiều nghiệp chướng. Vì sao? Vì sẽ tạo ra nhiều kẻ thù, mà tạo ra nhiều kẻ thù là tạo ra nhiều nghiệp chướng. Do đó, chấp ngã là điều vô cùng quan trọng, gần như đa số chúng sanh đều chấp ngã!

    Phần lớn những điều không hay xảy tới cho chúng sanh đều là do chữ Chấp. Cho nên phải thận trọng rất nhiều trong từng suy tư, trong từng lời nói, trong từng cử chỉ, trong từng hành động, trong từng tình cảm mình đưa ra, phải xem coi tất cả có mang lại lợi lạc cho kẻ khác hay không. Do đó, nếu muốn giữ lấy những gì mình đã hành xử, phải tự đặt câu hỏi rằng: “Nếu tôi giữ những cái đó, nó có thực sự đem lại lợi lạc cho người khác hay không? Có làm lợi ích cho người khác hay không?” Nếu câu trả lời là có thì tôi cứ mạnh dạn giữ lấy những gì tôi hành xử, vì đó không phải là Chấp. Còn nếu tôi không đem lại lợi lạc cho kẻ khác mà tôi vẫn khư khư giữ lấy, đó sẽ gọi là Chấp.

    Người Cố Chấp còn nặng nề hơn người Chấp nữa.

    Đối với người Cố Chấp, việc sửa đổi là một điều không tưởng, khó lòng thực hiện được.

    Người Cố Chấp gần như không bao giờ giờ hủy bỏ tư tưởng mình, những gì mà người đó đã nghĩ, đã tưởng, đã cho là như vậy rồi thì sẽ phải là như vậy, không có sự sửa đổi.

    Trên phương diện giao tế, người Cố Chấp không mang lại lợi lạc cho ai cả vì thiếu sự cảm thông.

    Về phương diện tu tập, tánh Cố Chấp được xem là một con dao khá dài, đâm thủng vào người của mình và xoáy cho nát ngũ tạng của mình.

    Nói về sự thăng hoa, tánh Cố Chấp là một sự ngăn cản rất nặng nề cho việc tiến bước của mình.

    Người trong cửa Đạo hay ngoài cửa Đạo mà Cố Chấp, sẽ không thể nào thành công được, dù chỉ là một thành công nhỏ. Người ấy đã phạm vào điều căn bản của việc tu tập, phạm vào điều căn bản của việc thăng hoa.

    Người Cố Chấp luôn luôn để lên vai của mình một gánh nặng rất lớn, không bao giờ có thể bỏ xuống được.

    Người tu tập chân chính tuyệt đối không bao giờ Cố Chấp; phải biết lắng nghe, phải biết cảm thông và phải suy tư.

    Suy tư để hiểu rằng mình đã có nghĩ quấy cho người khác hay không?

    Phải lắng nghe để thẩm định lời nói của người khác, đó là một lời nói đúng hay là một lời nói sai? Nếu đó là một lời nói sai thì liệu rằng mình có thể nào giúp đỡ, hướng dẫn cho người đó sửa đổi sự sai lầm để đi đến điều tốt đẹp hay không?

    Nếu trong trường hợp người đó có tánh Cố Chấp, khư khư giữ lấy ý của mình thì phải tức khắc tránh xa để ngăn chận điều sân hận có thể xảy ra, gây tạo nghiệp lực.

    Người Cố Chấp rất khó hòa hợp với bất cứ ai và tự mình đào hố sâu vực thẳm cho mình; với một gánh nặng trên vai, họ không thể nào cất bước đi đâu lâu dài được.

    Kính bạch Sư Phụ,
    Chấp hay Cố Chấp vẫn là tánh xấu, nếu không muốn nói là rất tai hại cho việc tu tập, cho sự thăng hoa. Làm cách nào để diệt trừ tánh xấu này?
    Người có tánh Chấp, việc sửa đổi vẫn còn tương đối dễ dàng, chỉ cần người đó tập Thản Nhiên, đừng để tất cả những gì từ bên ngoài ảnh hưởng đến mình.

    Sự Thản Nhiên sẽ đưa lần đến việc không Thụ Đắc, đó là tính chất cốt yếu của việc giữ Tâm Bình.

    Nếu chấp vì do một sự hiểu lầm hoặc vì do một sự sơ ý hay chấp vì do không biết, không tường tận một sự việc gì, việc hủy bỏ cái “Tánh Chấp” cũng không khó khăn nếu được hành xử với tất cả Thiện Ý và với một Tâm Thành.

    Người có tánh Cố Chấp, việc sửa đổi hay hủy diệt cái tánh này không phải là việc làm dễ dàng và nhanh chóng.

    Tuy nhiên, nếu thật tâm muốn sửa đổi, người này cần phải biết lắng nghe, phải biết suy tư và nhất là phải biết buông xả, không buông xả thì nhất định không thể nào sửa được Tánh Cố Chấp.

    Ngoài ra, tuyệt đối không bao giờ nghĩ quấy cho kẻ khác, vì một khi đã nghĩ quấy rồi, người Cố Chấp sẽ khư khư giữ lấy tư tưởng đó, không thể nào xóa bỏ được. Do đó sự buông xả là một điều… tối ư cần thiết mà người Cố Chấp bắt buộc phải chu toàn, nếu muốn cải sửa tánh của mình.

    Kính Bạch Sư Phụ,
    Người Cố Chấp thì Tâm Không Bình, do đó việc trước tiên là bắt buộc phải giữ Tâm Bình, thưa có đúng như vậy không?
    Nên nhớ kỹ rằng: người Cố Chấp là người tự đào lỗ để chôn mình, không thể nào tiến lên được vì cái gánh nặng trên vai mình lúc nào cũng trĩu nặng, không buông xuống được.

    Sống phải cho vui tươi, phải cho thảnh thơi, phải cho thư thả.

    Phải sống làm sao mà cái sống của mình là cái sống của người, như vậy mới tạo được sự An Bình.

    Cái sống của mình là cái sống của người, có nghĩa là: mình muốn cho mình vui thì phải làm cho người vui; nếu người không vui tức là mình đã đem lại sự buồn phiền cho kẻ khác.

    Mình muốn được yên ổn thì đừng nên đem sự khó khăn đến cho kẻ khác.

    Kẻ khác không vui, liệu rằng mình có vui được hay không?

    Mình phải đem sự yên ổn đến cho kẻ khác thì mình mới không vị vướng mắc bởi những khó khăn mà mình đã tạo cho kẻ khác.

    Sự thụ đắc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ Tâm Bình.

    Một người nói với tôi những lời không đẹp, vô cùng khiếm nhã, nếu tôi không chấp những lời nói đó, có nghĩa là tôi không thụ đắc lời nói đó, xem như người đó nói vào khoảng không, tôi sẽ không cảm thấy bực dọc, tức tối, tự ái bị va chạm, Tâm tôi được An Bình!

    Có thụ đắc mới có Khổ Sở
    Có thụ đắc mới xảy ra Sân Hận
    Có thụ đắc mới cảm thấy niềm Đau Khổ.

    Càng thụ đắc càng bị vướng mắc, càng đâm ra bực bội, tức tối, mở ngõ cho nghiệp lực ùa tới.

    Người tu tập chân chính không bao giờ nên thụ đắc bất kỳ một sự vật hay sự việc gì cả. Niềm vui tới thì biết đó là niềm vui, nếu phải chia sẻ lại niềm vui, sau khi chia sẻ xong rồi thì chấm dứt, không trì kéo, không luyến tiếc. Nếu là sự buồn đau thì sau khi chia sẻ sự đau buồn cũng sẽ không bận bịu, không vương vấn. Như vậy mới giữ được Tâm Bình. Nếu lúc nào cũng bị quấn chặt bởi lục dục thất tình, đường tu tập sẽ bị đình trệ rất nhiều, không tiến được.

    Càng tu tập càng hiểu rõ một cách sâu sắc tầm quan trọng của sự Thản Nhiên và sự Thụ Đắc.

    Không Thụ Đắc tức là Buông Xả, không trì níu, không chấp chặt, không cất giữ và nhất là không tích lũy để trở thành một gánh nặng trĩu trên vai.
    Theo http://lacphap.com/item/456-chap

  18. #38

    Mặc định Vài suy nghĩ về cái ngã của người tu


    A di Đà Phật!

    Tại sao một người khi sinh ra đã không còn sự ngã mạn, không phải tự nhiên mà họ được. Mà họ đã gieo trồng trong nhiều kiếp, cho nên dù kiếp này họ tu dù cho có thành tựu cỡ nào họ cũng đều không khởi cái tâm ngã mạn.

    Còn một người sao đang tu kiếp này sao lại khó bỏ được cái tâm ngã mạn. Là do nhiều kiếp họ cũng tu nhưng không diệt trừ hoặc kiếp này họ mới chỉ gieo duyên Phật pháp. Và như thế là họ đang tu sửa tiếp tục cái nghiệp này. Vì cái nghiệp này quá lớn, quá nặng nên cần phải có thời gian để rèn luyện. Kiếp này không sửa được thì kiếp sau lại tiếp tục tu sửa, đến một lúc nào đó họ sẽ diệt trừ. Chỉ cần cái tâm họ khởi lên ý thức là phải sửa cái ngã mạn, thì cái quả của họ sẽ từ từ diệt trừ một khi họ đã có cố gắng.

    Còn nếu như một người mà tâm họ không khởi lên ý thức để mà sửa ngã mạn, họ cho họ là hay là đúng, thì muôn đời họ chẳng sửa được và thoát được luân hồi nghiệp báo. Họ cứ bị cái ngã này kéo họ luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác mãi không thôi. A di đà Phật!

    Nếu họ có phước đức, nếu như cái phước họ lớn, thì sẽ khiến cho họ bị vấp ngã trong cuộc đời. lúc đó không phải là họ bi đau khổ, mà đó lại là phước, để giúp họ cảnh tỉnh những sai lầm của họ. Nên vì sao nói trong họa có phước là vậy.
    Còn nếu họ không có phước đức, thì chính cái nghiệp xấu ác kia sẽ khiến họ xa rời chánh pháp, và nhiều khi đọa đường ác nữa.
    Vậy thì ngã mạn hay không ngã mạn, sửa hay không sửa thì tự mình quyết định lấy. Mình gieo nhân nào thì sẽ hái cái quả tương ứng vậy?
    A di đà Phật!

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 17-09-2013, 09:15 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 18-04-2011, 11:31 PM
  3. Để nhiều bùa trong người (trong nhà) có tốt không???
    By trungtuyentdl in forum Hỏi Đáp, Tư Vấn
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 11-09-2010, 03:39 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •