Trang 1 trong 4 1234 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 69

Ðề tài: Những đoạn trích ngắn

  1. #1

    Mặc định Những đoạn trích ngắn

    Topic dành để đăng những đoạn trích nhỏ trong kinh mà bạn thấy hay thấy thích và muốn chia sẻ. Tùy duyên mà hiểu mà ngộ. Không có đáp án nào cả :)

    "Cảnh giới của Như lai, trí hạnh của Như Lai, gia trì của Như Lai, lực của Như Lai, vô úy của Như Lai, tam muội của Như Lai, sở trụ của Như Lai, tự tại của Như Lai, thân của Như Lai, trí của Như Lai, tất cả thế gian chư Thiên cũng người đời không thông đạt được, không rõ biết được, không nhẫn thọ được, không quán sát được, không giản trạch được, không khai thị được, không tuyên minh được. Không ai có thể làm cho chúng sanh hiểu rõ. Trì trừ sức gia bị của chư Phật, sức thần thông của Phật, sức oai đức của Phật, sức bổn nguyện của Phật, và sức thiện căn đời trước của họ, sức nhiếp thọ của thiện tri thức, sức tịnh tín sâu, sức minh giải lớn, sức tâm thanh tịnh xu hướng Bồ đề, sức nguyện rộng lớn cầu Nhất thiết trí."

    Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập pháp giới
    vẫn còn đi còn đi

  2. #2

    Mặc định Người ăn thịt thời phải tội

    [...]

    Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Với người ăn thịt chẳng nên đem thịt đến cho. Vì con thấy người không ăn thịt được công đức lớn."

    Phật khen: "Lành thay! Lành thay! Nay ông có thể khéo biết ý của Như Lai. Bồ Tát hộ pháp phải như vậy.

    Nầy Ca Diếp! Bắt đầu từ ngày nay trở đi Như Lai không cho phép hàng thanh văn đệ tử ăn thịt, nếu đàn việt đem đến dưng thí, phải xem thịt ấy như thịt con mình".

    Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Tại sao đức Như Lai không cho phép ăn thịt?"

    Phật dạy: "Nầy Ca Diếp! Luận về người ăn thịt thời dứt mất giống đại từ".

    Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Duyên cớ gì ngày trước đức Như Lai cho phép hàng Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục?" Phật dạy: "Nầy Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy chỉ là theo việc mà tạm chế thôi".

    [...]

    Nầy Ca Diếp! Người mà ăn thịt, hoặc đi đứng nằm ngồi chúng sanh nào nghe đến hơi thịt thời kinh sợ. Ví như người ở gần sư tử, đi đến đâu, mọi người nghe mùi hôi của sư tử đều kinh sợ. Như người ăn tỏi, không ai dám gần người ấy vì tanh mùi tỏi. Kẻ ăn thịt cũng vậy, tất cả chúng sanh nghe hơi thịt, thảy đều kinh sợ, nghĩ đến sự chết, các loài cá trạnh, muôn thú cùng chim chóc, đều chạy tránh xa, đều có quan niệm rằng người ấy là kẻ hại ta. Vì thế nên Bồ Tát không ăn thịt, vì độ chúng sanh mà thị hiện ăn thịt. Dầu thị hiện ăn thịt mà thật ra thời không có ăn.

    Nầy Ca Diếp! Hàng Bồ Tát nầy còn không ăn những thức ăn thanh tịnh, huống lại ăn thịt.

    Sau khi Như Lai nhập niết bàn, các bực tứ quả Thánh Nhơn đều lần lượt nhập niết bàn. Sau khi chánh pháp diệt, trong thời tượng pháp, sẽ có các Tỳ Kheo in tuồng trì luật, ít đọc tụng kinh, tham ưa ăn uống, lo bồi bổ thân thể, y phục mặc trên thân thô xấu hôi dơ, hình dung tiều tụy không có oai đức, chăn nuôi bò dê vác củi gánh cỏ, tóc râu để dài, đầu mặc cà sa mà như thợ săn, dầu ngó xuống đi chậm rãi mà như mèo rình chuột. Thường tự xướng rằng ta chứng được quả A La Hán, mang nhiều bệnh khổ nằm lăn trên phẩn uế, ngoài thời hiện ra tướng hiền thiện, trong thời đầy lòng tham sân như bà la môn, thọ phép câm, thiệt chẳng phải Sa môn mà hiện tướng Sa môn, tà kiến xí thạnh, chê bai chánh pháp. Những người như vậy phá hoại giới luật, chánh hạnh oai nghi của Như Lai chế, và quả giải thoát của Như Lai nói.

    Họ rời pháp thanh tịnh và làm hư hoại giáo pháp thậm thâm bí mật. Họ theo ý riêng, nói ngược với kinh luật rằng đức Phật cho phép chúng tôi ăn thịt. Họ đều tự xưng là Sa môn Thích tử.

    Nầy Ca Diếp! Bấy giờ lại có các hàng Sa môn chứa thóc, nhận lấy thịt cá, tay tự nấu ăn, cầm xách bình dầu ăn, cùng giày dép bàng da và lọng báu, thân cận quốc vương, quan lớn, nhà giàu sang, xem tướng, coi sao, siêng học nghề thuốc, chứa nuôi tôi tớ, vàng bạc bảy báu, các thứ dưa trái, học tập các nghề: nghề vẽ, nghề nắn, làm sách dạy học, gieo trồng, chú thuật, chế thuốc, đờn ca xướng hát, hương hoa trang điểm, cờ bạc, học các nghề thợ.

    Nếu có Tỳ Kheo nào hay tránh lìa các việc ác như trên, nên nói người ấy thật là đệ tử của Như Lai.

    Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nhơn người khác giúp mà sống. Lúc khất thực, nếu đặng món ăn lộn với thịt, phải làm cách nào để ăn đúng với pháp thanh tịnh?

    Phật dạy: "Nầy Ca Diếp! Nên lấy nước rửa sạch thịt rồi hãy ăn. Nếu đồ đựng bị thịt làm dơ, chỉ làm cho không có vị thịt thời cho phép được dùng không tội. Nếu thấy trong thức ăn có nhiều thịt thời không được nhận. Tất cả thứ thịt đều không được ăn. Người ăn thịt thời phải tội.

    [...]

    Trích Kinh Đại Bát Niết Bàn - Phẩm Tứ Tướng

  3. #3

    Mặc định

    "Phước nghiệp của mình, nếu mình ngu mà không làm, thì thấy người khác làm phước hãy tận tình khuyến khích, chắp tay kính trọng, sáng suốt mà làm cho tiến triển công đức của họ. Không được manh tâm trở ngại, làm cho họ thoái chí. Nếu chí họ không thoái, vẫn bước tới như thường thì họ không mất gì mà mình tự hại không ít.....
    ....
    Khi thấy điều thiện của người, đừng nghĩ thành hay không, lâu hay mâu, mà phải bết, dầu chỉ một thoáng, một giây, một phút, một giờ, một ngày, một tháng, nửa năm, một năm, điều thiện ấy cũng đã làm cho họ vượt lên trên những kẻ không làm."


    -Lương Hoàng Sám. Phẩm 2: Diệt trừ nghi hoặc-
    vẫn còn đi còn đi

  4. #4

    Mặc định



    Kinh Phổ Môn





    Kinh Bát Nhã

    Quán tự tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách



    Kinh Kim Cang

    Đức Phật bảo ngài Tu-Bồ-Đề: "Các vị đại Bồ-tát phải hàng-phục tâm mình như thế này: bao nhiêu những loài chúng-sanh, hoặc là loài noãn-sanh, hoặc loài thai-sanh, hoặc loài thấp-sanh, hoặc loài hóa-sanh, hoặc loài có hình-sắc, hoặc loài không-hình-sắc, hoặc loài có-tư-tưởng, hoặc loài không-tư-tưởng, hoặc loài chẳng-phải-có-tư-tưởng, mà cũng chẳng-phải-không-tư-tưởng, thời Ta đều làm cho được diệt-độ, và đưa tất cả vào nơi vô-dư niết-bàn. Diệt-độ vô-lượng, vô-số, vô-biên chúng-sanh như thế, mà thiệt không có chúng-sanh nào là kẻ được diệt-độ cả. Tại sao vậy? Này, Tu-Bồ-Đề! Nếu vị Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng-sanh, tướng thọ-giả, thời chẳng phải là Bồ-tát.

    Tu-Bồ-Đề! Lại nữa, vị Bồ-tát, đúng nơi pháp, phải nên không- có-chỗ trụ-trước mà làm việc bố-thí. Nghĩa là không trụ-trước nơi hình sắc mà bố-thí, không trụ-trước nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà bố-thí.

    Này, Tu-Bồ-Đề! Vị Bồ-tát phải nên bố-thí như thế, chẳng trụ-trước nơi tướng. Tại vì sao? Vì nếu vị Bồ-tát, không trụ-trước nơi tướng mà bố-thí, thời phước-đức nhiều không thể suy lường...



    Kinh Pháp Cú

    Giử miệng thu nhiếp ý

    Thân không phạm lỗi chi

    Ai làm được như thế

    Sinh tử chẳng còn gì


  5. #5

    Mặc định



    MƯỜI HAI ĐẠI NGUYỆN CỦA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

    1. Nam Mô hiệu Viên-Thông, danh Tự Tại, Quan-Âm Như Lai quảng-phát hoằng thệ nguyện.
    (Được xưng tặng là hiểu biết đầy đủ thông dong hoàn toàn, Ngài đem pháp tu hành mà khuyên độ khắp cùng)

    2. Nam-mô vô quái ngại, Quan-Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện.
    (Ở trong một niệm tâm được tự tại vô ngại, Ngài nguyện thường ở biển phương Nam để cứu độ chúng sanh)

    3. Nam-mô trú Ta-Bà U-Minh giới Quan Âm Như-Lai tầm thanh cứu khổ Nguyện.
    (Luôn ở cõi Ta Bà và cõi U-Minh, Ngài cứu độ kẻ nào kêu cầu tới Ngài)

    4. Nam-mô hàng tà ma, trừ yêu quái Quan Âm Như-Lai năng trừ nguy hiểm nguyện.
    (Trừ khử loài tà ma, yêu quái, Ngài có đủ sức cứu người gặp nguy hiểm)

    5. Nam-mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quan Âm Như-Lai cam-lộ sái tâm nguyện.
    (Ngài cầm nhành dương liễu dịu dàng nhúng vào nước ngọt mát trong cái bình thanh tịnh để rưới lòng của chúng sanh)

    6. Nam-mô Đại-Từ bi năng hỉ xả, Quan Âm Như-Lai thường hành bình đẳng nguyện.
    (Thương xót người đói và sẵng lòng tha thứ, Ngài không phân biệt kẻ oán người thân, tất cả đều coi như nhau)

    7. Nam-mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quan Âm Như-Lai thệ diệt tam đồ nguyện.
    (Đêm ngày đi khắp đó đây để cứu giúp chúng sanh ra khỏi các sự tổn hại, Ngài nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh)

    8. Nam-mô vọng Nam nham cầu lễ bái, Quan Âm Như-Lai, già tỏa giải thoát nguyện.
    (Nếu ai quay về núi hướng nam mà hết lòng cầu nguyện thì dầu có bị gông cùm xiềng xích cũng được thoát khỏi)

    9. Nam-mô tạo pháp-thuyền du khổ hải, Quan Âm Như-Lai độ tận chúng sanh nguyện.
    (Dùng phép tu hành để làm chiếc thuyền, Ngài đi cùng trong biển khổ để độ hết chúng sanh)

    10. Nam-mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quan Âm Như-Lai tiếp dẫn Tây Phương nguyện.
    (Nếu ai cầu nguyện và tu hành theo Ngài chỉ dẫn, khi rời bỏ xác thân này thì sẽ có phướng dài đi trước, tàng lọng quý giá theo sau, để rước về Tây Phương)

    11. Nam-mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quan Âm Như-Lai Di Đà thọ ký nguyện.
    (Ở giới của Đức Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà), Ngài đã được cho biết trước là về sau Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở ngôi vị đó)

    12. Nam-mô đoan nghiêm thân vô tỉ trại, Quan Âm Như-Lai quả tu thập nhị nguyện.
    (Được thân hình nghiêm trang không ai so sánh được với Ngài, ấy là kết quả của sự tu theo mười hai lời nguyện lớn ấy)


  6. #6

    Mặc định

    Bạn nhanhoa đúng là rất chăm chỉ post kinh. Đó là sở thích và quyền của bạn ấy. Trango thì thường chỉ post về đúng vấn đề đang quan tâm, hay đang đọc thôi. Nên 1 lúc không thể post nhiều.
    Tuy nhiên, như trango đã nói, ngay từ đầu khi lập topic này. Không có đáp án nào cả, và vì thế cũng không nên có bất cứ 1 câu hỏi nào cả. HTL vui lòng lập 1 topic khác các bạn trao đổi pháp nhé. Cảm ơn các bạn!
    vẫn còn đi còn đi

  7. #7

    Mặc định

    "Này Xá Lợi Phất! Không có thể nào lấy ít thiện căn, phúc đức nhân duyên mà được sinh sang bên nước kia đâu.
    Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam hay là thiện nữ mà được nghe nói Phật A Di Đà, nghe rồi nhớ lấy danh hiệu của Ngài, niệm trong 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 7 ngày. Niệm kỳ cho thành một người nhất tâm không còn loạn tưởng. Thế là người ấy, khi nào lâm chung, Phật A Di Đà, cùng với Thánh chúng, hiện ra trước mặt. Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo, tức là được sanh sang nước An Lạc, Phât A Di Đà."


    Phật nói kinh A Di Đà
    vẫn còn đi còn đi

  8. #8

    Mặc định



    12 Đại Nguyện Của Đức Phật Dược Sư

    Nguyện thứ nhất: Ta nguyện đời sau, khi chứng đặng đạo chánh đẳng chánh giác, thân ta có hào quang sáng suốt, rực rỡ, vô biên thế giới, khiến cho tất cả chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy.

    Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả.

    Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ vật dụng, chớ không cho ai phải chịu sự thiếu thốn.

    Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ đề, hoặc có những người tu hành theo hạnh Thinh văn, Ðộc giác, thì ta cũng lấy phép đại thừa mà dạy bảo cho họ.

    Nguyện thứ năm: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.

    Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn, không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, diên cuồng, chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà sinh lòng khi đã nghe danh hiệu ta thì liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa.

    Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ nghe danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.

    Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.

    Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần họ tu tập theo các hạnh Bồ tát đặng mau chứng đạo chánh đẳng Bồ đề.

    Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào mà pháp luật nhà Vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rức, hễ nghe đến danh hiệu ta, thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy.

    Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tạo miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn.

    Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào nghèo đến nổi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh giải dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn: nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả.


    - Nam Mô Đông Phương Giáo Chủ Tịnh Lưu Ly Dược Sư Lưu Ly Quang Phật

    Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai

    Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai

    Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai




    DƯỢC SƯ QUÁN ĐẲNG CHƠN NGÔN

    Nam mô Bạc già phạt đế, bệ sát xã,

    lũ lô thích lưu ly, bác lặc bà, hắc ra xà dã.

    Đát tha yết đa tha, a ra hắc đế.

    Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha.

    Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế toá ha.



  9. #9

    Smile

    Truyền đăng là tâm truyền tâm, hể ngộ rồi thì bất cứ thời gian nào không gian nào cũng phải ngộ là giải thoát mọi kiến chấp, ngã chấp, pháp chấp, vô trước trong mọi tình huống thuận nghịch mà các tổ sư thứ kế trao truyền gìn giữ mạch nguồn đạo lý như thật.

    Tổ thứ hai là ngài A Nan.

    Sau khi ngài A Nan trùng tụng những lời Phật dạy từ vi tế cơ bản đến rốt ráo tận nguồn qua 49 năm Đức Thế Tôn đã tùy duyên hóa độ xong rồi. Ngài Ca Diếp và đại chúng lắng nghe như dòng nước rót vào tịnh bình không thiếu không thừa, riêng ngài Ca Diếp rất tâm đắc hơn ai hết và cũng thừa nhận thức rằng là con người sinh ra không ai khỏi sanh già bệnh chết, cũng là thời điểm đúng lúc mà Ngài phú chúc cho Ngài A Nan và tìm nơi theo mật hạnh đầu đà yên tâm hành đạo.
    Ngài A Nan kế vị tổ Ca Diếp là tổ thứ hai trong dòng truyền thừa « niêm hoa vi tiếu ». Ngài A Nan theo hầu Phật suốt cả cuộc đời nên nghe thấu, biết nhiều, nhớ lâu là đệ tử đa văn bậc nhất.

    Giai thoại được truyền thừa sau :
    Một hôm nọ A Nan nghe vị tỳ kheo phát biểu. Nếu ai sống trăm tuổi mà không thấy con hạc già trầm mình xuống nước chẳng bằng sống một ngày mà nhìn thấy hạc già bồng bềnh trên dòng nước xanh
    Ngài A Nan ý kiến: « Ý của bạn không nhầm nghĩa ý của Phật », theo đệ như thế này : « Nếu ai sống trăm tuổi không biết pháp sinh diệt chẳng bằng sống một ngày mà rõ sinh tử là đại sự ».
    Một hôm A Nan hỏi Ngài ca Diếp: « Phật truyền y bát và còn pháp gì riêng cho trưởng lão nữa không ? »

    Ngài Ca Diếp gọi : “ A Nan ”.
    A Nan đáp: “ Dạ ”.
    Ngài Ca Diếp: “ Cây trụ phướng trước tịnh xá ngã ”.
    A Nan lúc bấy giờ mới thật tỏ ngộ. Vậy Ngài A Nan tỏ ngộ và ngộ cái gì ? Sẽ có trăm nghìn cách giải nhưng chung quy là thành tâm định một chổ gọi là Dạ thật lòng để lắng nghe, thì tâm mới rót vào tâm tròn đầy, còn gọi là truyền tâm ấn, đúng vào giây phút hiện tại này, còn phướng ngã không có nghĩa gì về ngộ cả có gió là phướng bay, giông bảo phướng ngã tất cả đều do duyên sanh hay duyên diệt. Nhưng ngay thời gian hiện tại này hai sự việc của hai nhân vật cùng sãi ra một thời điểm: “ Dạ và cây trụ phướng trước cửa tịnh thất ngã “, tiếng Dạ cũng là Tâm mà cũng là Cảnh, vậy tâm tức là cảnh. Cảnh ( phướng ) tức là Tâm. Dạ là Tâm, Tâm là Cảnh. Tâm Cảnh vốn bổn lai, bình đẳng sẵn có trong mỗi chúng ta nên đặt câu hỏi còn bám víu không đâu vào đâu cả. Nay được Ngài Ca Diếp khai ngộ.

    Đến cơ duyên Ngài phú pháp nhãn tạng cho Ngài A Nan rồi vào núi mà nhập diệt và bài phú ấn tâm cho Ngài A Nan Sau:

    “ Lâu nay nói có pháp

    Thảy đều tự mình ngộ

    Nói có pháp không pháp

    Ngộ chăng pháp không pháp”

    Câu một qua lịch trình nhận thức thường tình cần có pháp để hướng dẫn tiến tu, tùy duyên. Nhưng tất cả các pháp đều do tâm biến hiện, vậy thấy Tâm là thấy pháp, thấy Tâm là thấy tự thân của pháp, thấy tự thân của pháp đúng như thật của chính nó mới thật là tự mình ngộ, đó câu hai, vậy ngộ cái gì: vô thường thấy vô thường, vô ngã thấy vô ngã, duyên sanh thấy duyên sanh, sanh diệt thấy sanh diệt
    Chứng minh câu ba ngầm chứa rất rõ ràng minh bạch: từ hữu vi đến vô vi từ vật thể li ti đến vật khổng lồ hay vật không vật chất có tên mà không hình dều có thể gọi là pháp. Tất cả các pháp đều tương duyên, tương sanh, tương tức mà hiện hữu qua quá trình sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, nên gọi là pháp không pháp, có thể gọi là không thực tướng , không thực tánh, không thực thể hay vô ngã. Ngộ chăng là tự vấn, tự suy nghiệm đúng như thật là pháp không pháp là tự trả lời pháp không pháp mới là pháp bổn lai vốn ở mọi thời gian và khắp không gian, nơi phật tròn đầy ở chúng sanh cũng không thiếu một li. Đó là câu bốn.
    Truyền đăng là tâm truyền tâm, hể ngộ rồi thì bất cứ thời gian nào không gian nào cũng phải ngộ là giải thoát mọi kiến chấp, ngã chấp, pháp chấp, vô trước trong mọi tình huống thuận nghịch mà các tổ sư thứ kế trao truyền gìn giữ mạch nguồn đạo lý như thật
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  10. #10

    Mặc định

    "Không phải gió động, không phải phướn động, là do nhân giả tâm động. Biết rõ vạn vật đều trống không, nhưng lại không biết hết thảy duy tâm tạo. Trên kinh Phật nói, tướng tùy tâm sinh, bất kể là động tướng, hoặc là tĩnh tướng, đều là tùy tâm mà sinh ra, tâm động tức thì động, tâm bất động, hết thảy đều không động!"
    ..Nam Mô A Di Đa bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ...:wave:

  11. #11

    Mặc định

    Bồ tát y theo Bát nhã ba la mật đa nên tâm không ngăn ngại. Vì tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh niết bàn. Chư Phật ba đời đều y theo Bát nhã ba la mật đa được đạo quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
    Tâm kinh
    ..Nam Mô A Di Đa bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ...:wave:

  12. #12

    Mặc định

    Tất cả đều bắt đầu từ cái căn bản. Cho nên chúng ta phải khôn ngoan để học một điều gốc. Nếu học chỉ một gốc, đương nhiên là ta được tất cả mọi ngọn nguồn từ gốc đó sinh ra.
    Gốc đó chính là tĩnh lặng.

    - Tĩnh lặng thì đương nhiên là tự tin, vì người tĩnh lặng chẳng có sợ sệt trong lòng.
    - Tĩnh lặng thì thường là có hứng thú làm việc, vì không có những trầm uất hay stress trong lòng làm mình buồn nản hay lười biếng.
    - Tĩnh lặng thì đương nhiên là rất nhạy cảm khi nói chuyện với người khác, vì không có các xung động hay thành kiến làm ta chia trí hay mờ mắt.
    - Tĩnh lặng thì làm việc cẩn thận, vì tĩnh lặng thì không hấp tấp.
    - Tĩnh lặng thì luôn luôn làm việc bình tĩnh và hiệu quả, vì không dễ nổi giận.
    - Tĩnh lặng thì khiêm tốn, nên không hỏng việc vì kiêu căng.

    Người xưa lấy tĩnh lặng làm gốc cho mọi điều, không phải vì mọi người đều muốn thành thiền sư, mà vì tĩnh lặng làm cho mọi kỹ năng khác đều tăng. Võ sư học Thiền. Kiếm sĩ học Thiền. Người pha trà học Thiền. Người cắm hoa học Thiền. Bác sĩ học Thiền. Doanh nhân học Thiền. Tướng học Thiền. Vua học Thiền…
    Khi ta học được tâm tĩnh lặng là ta đã có gốc, các kỹ năng làm việc khác tự nhiên pháttriển cho ta.
    Cho nên, dù các bạn làm nghề gì—kỹ sư, giáo sư, bác sĩ, luật sư, họa sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ—hãy tập tâm tĩnh lặng. Rồi các bạn sẽ thấy, càng tĩnh lặng, các kỹ năng làm việc của bạn càng tăng, dù đó là loại việc gì.

    Và khi nói đến tĩnh lặng, ta hay nói đến chữ Thiền, vì hai từ đó gần như có nghĩa như nhau. Tâm Thiền là Tâm Tĩnh Lặng.
    Nhưng có nhiều cách luyện tâm tĩnh lặng, không chỉ ngồi Thiền mà thôi, như là: tập trung vào chỉ một việc đang làm (thiền từng phút), cầu nguyện, nhìn ngắm thiên nhiên…
    ST.
    ..Nam Mô A Di Đa bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ...:wave:

  13. #13

    Mặc định

    có một con khỉ nhốt trong cái lồng sáu mặt bên ngoài cũng có con khỉ mới đầu con khỉ bên ngoài đứng một mặt chí choé con khi bên trong,con khỉ bên trong cũng chí choé lại,rồi con khỉ bên ngoài lại tiếp qua mặt lồng thứ hai chí chóe tiếp ,nhưng lần này con khỉ bên trong lặng yên không đáp lại con khỉ bên ngoài,con khỉ bên ngoài cứ đi tiếp hết sáu mặt cái lồng chí choé,con khỉ bên trong tĩnh lặng rồi,con khỉ bên ngoài chí choé hồi rồi cũng bỏ đi,
    Khi tâm ta không được tĩnh yên thì cho dù ta có ở thâm sơn cùng cốc cũng như chốn phồn hoa,thôi
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  14. #14

    Mặc định

    Tặng một vầng trăng



    Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vặc, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.

    Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi, kẻ cắp tìm không ra của cải gì, lúc sắp sửa bỏ đi, thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ở cổng. Ngài chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm sẵn trong tay.

    Kẻ cắp đang trong lúc kinh ngạc bối rối, thì Thiền sư nói:

    - Từ đường rừng núi xa xôi, cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không! Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!

    Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Hắn ta lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng.

    Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi, thiền sư không khỏi cảm thương liền khẳng khái thốt lên:

    - Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.

    Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào am tranh ngồi thiền, ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà.

    Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng, ấm áp của ánh trăng, từ trong buồng thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra, nhìn thấy chiếc áo ngoài mà ngài đã khoác lên người kẻ cắp được gấp gọn gàng, tử tế, đặt ở cửa. Vô cùng sung sướng, thiền sư lẩm bẩm nói:

    - Cuối cùng ta đã tặng cậu ấy một vầng trăng sáng.


  15. #15

    Mặc định

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT...

    ĐEM SÁU CĂN VÀ SÁU TRẦN RA LÀM VÍ DỤ...
    QUẢ THẬT CAO MINH...
    XIN BÁI PHỤC...

    " XƯA NAY TRUYỀN CÓ PHÁP
    TRUYỀN RỒI NÓI KHÔNG PHÁP
    MỖI MỖI CẦN TỰ NGỘ
    NGỘ RỒI KHÔNG KHÔNG PHÁP.."

  16. #16

    Mặc định

    Bấy giờ, Thế Tôn lại nương tướng Như Lai soi khắp, vì các Bồ tát tuyên nói Bát nhã Ba la mật đa pháp tánh vắng lặng tất cả Như Lai, lý thú thẳm sâu hiện môn Đẳng giác. Nghĩa là tánh Kim cương bình đẳng hiện môn Đẳng giác, vì Đại Bồ đề là chắc chắn khó hoại như kim cương vậy. Nghĩa tánh bình đẳng hiện môn Đẳng giác, vì Đại Bồ đề là nghĩa nhất vậy. Pháp tánh bình đẳng hiện môn Đẳng giác, vì Đại Bồ đề tự tánh tịnh vậy. Tất cả pháp tánh bình đẳng hiện môn Đẳng giác, vì Đại Bồ đề đối tất cả pháp không phân biệt vậy.

    Phật nói pháp tánh vắng lặng lý thú Bát nhã hiện Đẳng giác như thế rồi, bảo Kim Cương Thủ Bồ tát rằng: Nếu có kẻ được nghe bốn thứ lý thú Bát nhã hiện môn Đẳng giác như thế, tin hiểu thọ trì, đọc tụng tu tập, cho đến sẽ ngồi tòa Diệu Bồ đề, dù cho gây tất cả ác nghiệp rất nặng đi nữa cũng năng vượt qua khỏi tất cả ác thú, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

    Trích kinh Lý Thú Bát Nhã
    Nguyện thường thấy chư Phật, thường thấy Bồ tát, thường thấy chơn thiện tri thức, thường nghe chư Phật nguyện, thường nghe Bồ tát hạnh, thường nghe Bồ tát Ba la mật môn .

  17. #17

    Mặc định

    Trích Tiểu Bộ, Kinh Phật tự thuyết, chương 8, phẩm Pataligamiya:

    Thế Tôn bảo các nam cư sĩ ở làng Pàtali:

    - Này các Gia Chủ, có năm điều NGUY HIỂM này cho người ác giới, người phạm giới. Thế nào là năm?
    1. Ở đây, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, do nhân duyên phóng dật, nên hao mất tài sản lớn. Ðây là nguy hiểm thứ nhất cho người ác giới, người phạm giới.
    2. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, tiếng xấu đồn xa. Ðây là nguy hiểm thứ hai cho người ác giới, cho người phạm giới.
    3. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới khi đến hội chúng nào, hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn, vị ấy đến với sự sợ hãi, với sự ngỡ ngàng. Ðây là nguy hiểm thứ ba cho người ác giới, cho người phạm giới.
    4. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, phạm giới, khi chết bị si ám. Ðây là nguy hiểm thứ tư cho người ác giới, cho người phạm giới.
    5. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới, khi thân hoại mạng chung bị sanh vào ác xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðây là nguy hiểm thứ năm của người ác giới, của người phạm giới.
    Này các Gia chủ, đấy là năm điều NGUY HIỂM này cho người ác giới, cho người phạm giới.

    Này các Gia chủ, có năm điều LỢI ÍCH này cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Thế nào là năm?
    1. Ở đây, này các Gia chủ người giữ giới, người đầy đủ giới, do nhân duyên không phóng dật được tài sản lớn. Ðây là lợi ích thứ nhất cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới.
    2. Lại nữa, này các Gia chủ, với người giữ giới, người đầy đủ giới, tiếng tốt lành được đồn xa. Ðây là lợi ích thứ hai cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới.
    3. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới khi đi đến hội chúng nào, hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, hoặc là gia-chủ, hoặc là Sa-môn, người ấy đi đến không có sợ hãi, không có ngỡ ngàng. Ðây là lợi ích thứ ba cho người giữ giới cho người có đầy đủ giới.
    4. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới, khi chết không có si ám. Ðây là lợi ích thứ tư cho người giữ giới, cho ngưòi có đầy đủ giới.
    5. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, người đầy đủ giới khi thân hoại mạng chung được sanh nơi an lành, cõi trời, cõi người này. Ðây là lợi ích thứ năm cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới.
    Này các Gia chủ, đấy lànăm LỢI ÍCH này cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới.


    Giới ở đây chính là ngũ giới:
    1. Không sát sanh
    2. Không trôm cắp
    3. Không tà dâm
    4. Không nói dối
    5. Không uống rượu và các chất men say

  18. #18

    Mặc định

    Hỏi Về Đạo & Túc Mạng
    Một vị Sa-môn hỏi Phật: "Do nhân duyên gì mà được Tri-túc-mạng và hiểu thấu Đạo cao tột?"
    Đức Phật dạy: "Tịnh tâm, thủ chí, thì có thể hiểu thấu Đạo cao tột. Ví như lau gương, chùi hết cấu bẩn thì còn lại vẻ sáng; dứt lòng tham dục, không còn mong cầu, tất sẽ đắc Túc-mạng."
    Kinh 42 chương
    ..Nam Mô A Di Đa bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ...:wave:

  19. #19

  20. #20

    Smile

    Các bậc thánh nhân, Chư Phật Bồ Tát khi đến thế gian này, các Ngài biết rất rõ ràng nhân quả, khi thọ quả báo thiện hoặc ác, các Ngài biết rõ ràng quả báo này là do đời nào, kiếp nào đã gây tạo ra, cho nên quý Ngài lại an nhiên trả quả, chẳng bao giờ sân giận, than oán lo sợ. Đây là người đại tu hành, đại giác ngộ!

    Xưa kia, có một lão Hồ ly biến thành người đến hỏi Tổ Đại Sư Bá Trượng rằng:
    " NGƯỜI ĐẠI TU HÀNH CÒN RƠI VÀO LUẬT NHÂN QUẢ KHÔNG?"
    Lão Hồ ly này trong kiếp trước là một pháp sư, giảng kinh nói pháp. Có người hỏi lão ta câu này, nhưng lão đã đáp sai. Lão đã trả lời:

    " Bất lạc nhân quả"( Chẳng rơi vào nhân quả).

    Kết quả là lão bị đọa vào súc sanh làm loài chồn đến 500 năm. Năm trăm năm sau, lão tu luyện được thân người, đến gặp Tổ Bá Trượng thỉnh giáo:

    "Làm thế nào để thoát ly súc sanh?"

    Tổ Bá Trượng nói:

    " Ngày mai khi tôi thăng tòa thuyết pháp, ông đem câu hỏi ngày xưa mà người ta đến hỏi ông, thì ông đến hỏi lại tôi một lần nữa".
    Hôm sau, ông ta đến, hướng về Pháp sư đảnh lễ xong, sau đó cung kính thỉnh giáo Ngài và lại đưa ra câu hỏi :

    " NGƯỜI ĐẠI TU HÀNH CÒN RƠI VÀO LUẬT NHÂN QUẢ KHÔNG? "
    Tổ Bá Trượng trả lời rằng:

    " Bất muội nhân quả"( Không mê lầm nhân quả).
    Chỉ sửa đi một chữ mà ngay đó ông ta hiểu được, đảnh lễ tạ ơn Tổ Bá Trượng rồi ra về. Qua ngày hôm sau, Tổ Bá Trượng dẫn một số người đến sau núi tìm con hồ ly đó, thì phát hiện ra nó đã chết và đem chôn cất. Ông ta đã thoát ly được thân chồn. Tổ Bá Trượng nói với mọi người rằng:

    " Con hồ ly này là ông lão hôm qua đến hỏi chuyện tôi đó."

    Ngài nói, giảng pháp, chuyển ngữ sai đi chỉ một chữ mà bị đọa làm thân chồn 500 năm.

    Các bậc thánh nhân, Chư Phật Bồ Tát khi đến thế gian này, các Ngài biết rất rõ ràng nhân quả, khi thọ quả báo thiện hoặc ác, các Ngài biết rõ ràng quả báo này là do đời nào, kiếp nào đã gây tạo ra, cho nên quý Ngài lại an nhiên trả quả, chẳng bao giờ sân giận, than oán lo sợ. Đây là người đại tu hành, đại giác ngộ!
    Còn phàm phu như chúng ta thì sao? Chúng ta mê lầm, gây tạo những nghiệp tội không biết trước được.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •