kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Ðề tài: Không còn hoan hô chiến tranh và hòa bình

  1. #1

    Smile Không còn hoan hô chiến tranh và hòa bình

    Bạn đừng đi vận động và tìm kiếm hòa bình trong thế giới hữu ngã hay trong thế giới sinh hoạt đầy ắp cả hữu niệm. Vì sao? Vì hòa bình đích thực không bao giờ có mặt nơi những thế giới sinh hoạt như thế đâu, để cho bạn vận động và kiếm tìm.

    Nơi thế giới sinh hoạt bằng hữu niệm và hữu ngã, thì danh từ hòa bình là danh từ sáo rỗng, người đứng ra vận động hòa bình, cũng chính là kẻ đang cổ xúy cho chiến tranh, dưới một hình thức này hay một hình thức khác của hữu niệm và hữu ngã.

    Và những người đang sinh hoạt ở trong thế giới hữu niệm và hữu ngã, mà chủ trương sống hòa bình, cũng có nghĩa là họ đang chủ trương sống với chiến tranh, và có khi chính họ là tội phạm của chiến tranh. Vì sao? Vì còn tính ngã và còn những suy nghĩ lệ thuộc tính ngã, là còn chiến tranh. Ấy là chủ trương chiến tranh núp dưới nhãn hiệu chủ trương hòa bình và chủ trương hòa bình núp dưới nhãn hiệu chủ trương chiến tranh đó bạn ạ!

    Người ta sống trong thế giới hữu niệm và hữu ngã, chiến tranh là một hình thức khác của hòa bình và những khao khát đối với hòa bình; và sống trong thế giới hòa bình là một hình thức ngầm phát khởi chiến tranh và người ta đang chuẩn bị và khao khát tìm kiếm chiến tranh. Vì sao? Vì tự thân của thế giới hữu niệm và hữu ngã là thế giới của kỳ thị và phân biệt. Hễ nơi nào có kỳ thị và phân biệt là ở nơi đó có phân hai, phân ba, phân bốn và phân ra từng mảnh vụn.

    Kỳ thị là kỳ thị đối với những gì mà họ cho không phải là họ và không phải là của họ; phân biệt là phân biệt cái này là mình, cái này thuộc về mình; cái kia không phải là mình và không thuộc về mình. Như vậy, gốc rễ của mọi cuộc chiến tranh, từ chiến tranh cấp quốc gia, đến chiến tranh cấp vùng và chiến tranh toàn thể thế giới có phải sinh khởi từ những ý niệm phân biệt đối xử và kỳ thị của con người ở trong cõi người ta mà ra không bạn nhỉ?

    Muốn có hòa bình để sống thì trước hết ta phải buông bỏ hết thảy mọi ý niệm phân chia, để sống ở trong vô niệm. Vô niệm là vô ngã. Vô ngã là hòa bình. Vô ngã, nên toàn thể vũ trụ lúc nào và ở đâu cũng hoạt động trong sự hòa điệu tuyệt đối, toàn thể và đồng thời. Nên, vô ngã là sự hòa điệu tuyệt đối của vũ trụ, vì vậy vũ trụ luôn luôn sống trong hòa bình.

    Bạn đừng nghĩ rằng, sống vô niệm và vô ngã thì không có cái gì để làm lợi ích và hiến tặng cho cuộc đời. Nếu bạn nghĩ như vậy, thì chính những ý nghĩ đó đưa bạn đi từ những sai lầm này đến những sai lầm khác.

    Ta hãy xem, mặt trời chiếu sáng ban ngày, mặt trăng chiếu sáng ban đêm, nó có suy nghĩ rằng, nó làm lợi ích cho đời gì đâu, mà nó làm lợi ích rất nhiều cho đời, cho mọi sự sống một cách hữu hiệu, thiết thực và bình đẳng. Những bông hoa nở ra, nó có nghĩ rằng, nó nở ra để làm đẹp cho đời đâu, nó nở ra là nở ra từ tự tính vô niệm và vô ngã nơi nó. Nhưng ở nơi thế giới hữu niệm, hữu ngã, có ai bảo rằng hoa không đẹp, không thơm và không có lợi ích đâu? Không những vậy, người ta còn cài hoa trên đầu, đặt hoa vào những chỗ thiêng liêng và trang trọng nhất nữa chứ! Tại sao con người đã dành cho hoa những vị trí xứng đáng và cao cả như vậy? Vì hoa sinh ra từ vô niệm và biểu hiện đời sống bằng bản chất vô ngã nơi nó.

    Bát Nhã Tâm Kinh: “Bấy giờ Bồ-tát Quán Tự Tại thực hành Bát nhã sâu xa, soi thấy năm uẩn rỗng không, liền vượt qua mọi khổ ách.”

    Bạn khổ đau và khổ đau là thế giới của bạn, cả hai đều xảy ra cho bạn, không phải là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chúng xảy ra đồng thời và chính xác cho bạn. Xảy ra đồng thời cho bạn, vì bạn là thế giới và cả toàn thể thế giới đang có mặt trong bạn. Điều ấy xảy ra chính xác cho bạn, vì nó chính là tư duy và tác ý của bạn, mà không phải là tư duy hay tác ý của người khác.

    Bạn không thấy đó sao? Hai người cùng ngủ chung một giường, mà mỗi người có một giấc mơ khác nhau và đều có những cảm nhận khác nhau đối với những giấc mơ ấy. Tại sao có sự khác biệt này? Ấy là do hữu niệm, hữu ngã của bạn đã tạo nên sự khác biệt ấy, chứ có nào ai khác!

    Do hữu niệm, bạn cho thân năm uẩn này là tôi và là của tôi, vì vậy mà bạn nhảy mấy cũng không qua khỏi lưới khổ đau. Do hữu niệm, nên mọi người trong mọi gia đình của bạn, ai cũng cho thân năm uẩn này là họ và là của họ, nên mọi người trong gia đình của bạn, cùng nhau nhảy cao mấy, cũng không ra khỏi lưới của khổ đau; và do hữu niệm mà cộng đồng của thế giới con người cho rằng, thế giới này là của họ, thân năm uẩn trong thế giới này là thân thể của họ, nên chiến tranh xảy ra cho họ liên hồi và tranh chấp nhau liên tục, từ hải đảo đến rừng xanh, từ đồng bằng đến phố thị, họ đã từng đánh giết nhau bằng miệng lưỡi, bằng gậy gộc, ngói gạch, giáo mác, cung tên, súng đạn cho đến vũ khí nguyên tử, hạt nhân và họ đang gầm gừ nhau, dọa nhau đối với những loại vũ khí tối tân này, và vì vậy mà thế giới con người, dù văn minh đến mấy, tiện nghi đến mấy, họ vẫn cũng không thể vượt ra khỏi khổ đau và họ cũng không thể nào vượt ra khỏi chiến tranh để sống trong hòa bình.

    Khổ đau hay chiến tranh của thế giới con người là do con người có tư duy hữu ngã. Với tư duy hữu ngã thì con người mở mắt ra là chiến tranh và khổ đau, nhắm mắt lại là con người lại rơi vào bẫy sập của tâm thức tính toán, lo lắng, sợ hãi và chuẩn bị cho đời sống của chiến tranh và đối diện với khổ đau.

    Hạnh phúc và hòa bình đích thực nơi con người và xã hội chỉ hiện hữu khi nào chúng ta biết tư duy vô ngã và cùng nhau biểu hiện những hành động ấy bất cứ ở đâu, lúc nào và đối với bất cứ ai, trong sự tương tác hòa điệu tuyệt đối và đồng thời.

    Bạn đã từng nghe nhạc, và bản nhạc mà bạn cảm nhận là hay, chỉ khi nào bản nhạc ấy được phát ra từ sự hòa điệu tuyệt đối và đồng thời giữa các nhạc công, nhạc sĩ, nhạc khí và nhạc âm,… Chính sự hòa điệu tuyệt đối của âm nhạc mới phát ra cho ta những âm thanh kỳ diệu. Âm thanh kỳ diệu của bản nhạc, chính là âm thanh được biểu hiện từ tự tánh tư duy vô ngã đó bạn ạ!

    Tư duy vô ngã là tư duy có khả năng soi thấy sự hòa điệu tuyệt đối và rỗng lặng của năm uẩn hay của thế giới, không có mọi hoạt khởi và vận hành của các tư niệm hữu ngã.

    Tư duy vô ngã chính là tư duy vô niệm. Vô niệm là giác tính rỗng lặng và tròn đầy vốn có nơi hết thảy chúng sanh. Nên ta mở mắt trong vô niệm là ta mở mắt trong hạnh phúc và sống trong hòa bình toàn thể. Ta nhắm mắt trong vô niệm là ta ở trong thế giới của an lạc và hòa bình toàn thể ấy.

    Vì vậy, chiến tranh của thế giới con người, chỉ có thể chấm dứt, khi nào con người biết buông bỏ những tư duy hữu niệm mà quay về sống với tư duy vô niệm.

    Vô niệm là tất cả niệm ở nơi tâm đều ở trong trạng thái thuần tịnh, sáng trong và hoàn toàn rỗng lặng.

    Toàn thể vũ trụ lúc nào, ở đâu cũng vận hành trong sự hòa điệu tuyệt đối và đối xử với ai cũng đều ở trong vô niệm, mà con người thì lúc nào, ở đâu cũng phân chia ta và người, và đối xử với ai cũng đều là hữu niệm.

    Do đó, thể tính của vũ trụ là hòa bình, mà nghiệp dụng của chúng sanh thì ở trong hòa bình mà hiện khởi chiến tranh; thể tính của vũ trụ thì thanh tịnh, mà nhân hạnh của chúng sanh thì ở trong sự thanh tịnh mà khởi hiện ô nhiễm; thể tính của vũ trụ thì dung thông vô ngại, mà đời sống chúng sanh thì ở trong sự dung thông vô ngại mà khởi lên ý tưởng ngăn cách, chia phân, khiến cho đời sống của họ luôn luôn xảy ra tình trạng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” hay “cha vỗ tay reo mừng chiến tranh, mẹ vỗ tay hoan hô hòa bình”.

    Vì vậy, ta đừng làm kẻ “vỗ tay reo mừng chiến tranh” và cũng đừng làm kẻ “vỗ tay hoan hô hòa bình”, mà chỉ làm người thực tập buông bỏ vọng niệm. Buông bỏ đến chỗ không còn có bất cứ cái gì nữa để buông bỏ, ngay cả cái gọi là buông bỏ.

    Lúc ấy, thế giới chân thực hiện ra cho ta, ta tha hồ mà vui sống, tự do. Và nhiều người hỏi thế giới như vậy là thế giới gì, ta không biết thế giới ấy tên gì để gọi, liền tạm gọi là thế giới không còn có sự hoan hô chiến tranh và hòa bình.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  2. #2

    Mặc định

    MỘT THẾ GIỚI CHỈ CÓ THỰC VẬT, ĐỜI SỐNG THỰC VẬT CỦA NÃO???? Hoặc tất cả đi KHẤT THỰC, THÌ ĐỒ ĂN AI NẤU AI CHO? Nếu loài người tuyệt chủng hết thì sao? Thì xa xưa loài thú có trước loài người, loài khỉ ăn cây trái, sư tử ăn thịt, .? ĐÃ NHƯ THẾ ĐÓ

  3. #3

    Mặc định

    CÓ ÔNG GIOAN TẨY GIẢ SỐNG TRONG HOANG ĐỊA, MẶC ÁO LÔNG LẠC ĐÀ, ĂN CHÂU CHẤU, UỐNG MẬT ONG RỪNG, VÀ NÃO LẮNG NGHE LỜI CHÚA

  4. #4

    Mặc định

    Nếu chúng ta không biết tu thì có thể mình sẽ đụng chạm nhiều tới mọi người, bởi thế gian này luôn tranh giành, sát phạt lẫn nhau; nhưng khi chúng ta có tu, quý vị dám bảo đảm là mình sẽ không đụng chạm gì đến thế nhân hay không? Khi mình tin Phật thì sẽ làm cho các loài ma rất lấy làm khó chịu, bởi chúng mất đi một bạn đồng minh và làm những người theo ma cũng ghét lây. Chúng ta thấy rõ ràng giữa đời này ma nhiều vô số kể, chúng ta chỉ tin Phật thôi là đã đụng chạm đến nhiều người lắm rồi; nhưng ma ở đây là gì? Ma là những gì làm hại cho người và vật. Mình tin pháp Phật là những lời dạy chân chính thì sẽ đụng đến các tà thuyết bất chính làm mê hoặc lòng người. Vì thế, mình nói đúng Chánh pháp và thực hành đúng Chánh pháp là đã đụng đến các người tuyên truyền tà thuyết và mê tín dị đoan để làm mờ mắt thiên hạ. Chúng ta tin Tăng thì sẽ đụng chạm tới những người nào? Tới các thầy tà, bạn ác. Ta nếu thật sự chỉ biết đi chùa tụng kinh, lễ Phật, làm công quả, ngồi thiền và buông xả các tạp niệm xấu ác thì ta đâu có thời gian để đi nói xấu người này người kia, ấy thế mà vẫn đụng chạm tới họ.



    Chúng ta tin giới pháp của Phật và áp dụng tu hành là đã đụng chạm tới những sinh hoạt phi đạo đức, gây ra các tệ nạn xã hội, làm khổ đau cho nhân loại. Cho nên, việc mình thực hiện niềm tin đối với Tam bảo thôi là mình đã đụng tới tất cả những người không có niềm tin đối với Tam bảo rồi. Người đời vì không hiểu nên thích giết hại sinh vật để ăn, tranh giành nhau để sống, tàn hại, huỷ hoại người khác để mưu cầu lợi ích cho riêng mình; còn chúng ta, khi đã tin Phật rồi thì lại không thích tàn hại bất cứ một ai, hay dẫm đạp lên bất cứ loài vật nào để tồn sinh, vì đó là nhân dẫn đến ân oán, hận thù, làm khổ đau cho nhau. Đa số đều cho rằng giết vật để bảo tồn sự sống là do thượng đế tạo ra để phục vụ cho con người, nên họ công khai giết và còn khuyến khích nhiều người khác giết. Chúng ta không giết mà còn khuyên nhủ mọi người phóng sinh, thế là đụng chạm lớn đến họ. Thế thì cuộc sống này bắt buộc phải có đụng chạm, ta không thích đụng chạm nhưng vẫn cứ đụng chạm hoài.



    Chúng ta ưa tôn trọng công bằng, lẽ phải, muốn sự sống này đều được bình đẳng để ta cùng san sẻ cho nhau nhưng đâu có được, vì có những người luôn lợi dụng quyền cao chức trọng để bóc lột. Chúng ta hãy nên nhớ, cái gì làm được giúp ích cho mọi người thì cứ làm, còn điều gì có hại thì thôi. Trong nhà Phật có nói, mong muốn mà không được như ý là khổ, bởi vì sao? Vì chúng ta thấy cái đó được lợi ích cho mình nhưng bất lợi cho người khác nên mới có giới không gian tham, trộm cướp. Tiền bạc tài sản do công sức mình làm ra phải tiết kiệm lắm mới dư chút đỉnh, giờ lại bị kẻ khác lấy đi thì ai chẳng buồn khổ, vậy mà vẫn có một số người vì lười biếng, ham hưởng thụ nhiều, hoặc kẽ có chức quyền đã bớt sén của người khác; thế là cuộc sống phải chịu đụng chạm, cọ xát lung tung mà thôi. Người khôn ngoan, sáng suốt biết tạo nhân lành thì ít bị tai hoạ, còn số đông phải chịu nhiều đau khổ do không có hiểu biết chân chính.



    Phật hay khuyên nhủ chúng ta hãy nên sống tiết hạnh, thuỷ chung một vợ một chồng, nhưng những người có thói quen đuổi bướm bắt hoa thì lại thích mua bán dâm, chỉ đơn giản vậy thôi thì những người kinh doanh về mặt này trong xã hội đã ghét mình lắm rồi.



    Người đệ tử Phật chỉ thích nói lời chân thật, nói đúng chân lý, không nói dối để lừa gạt người khác; nhưng hễ nói lời ngay thẳng thì sẽ đụng kẻ điêu ngoa, xảo trá, hễ nói sự thật thì sẽ đụng chạm đến người nói dóc, nói láo. Là người Phật tử chân chính, ai lại đi nói dối để lừa gạt người khác phải không quý vị, chỉ cần mình nói thiệt thôi là đã đụng đến người ta rồi, thà mích lòng trước đặng lòng sau còn hơn là sống trên sự giả dối, lừa đảo lẫn nhau.



    Rượu thuốc, xì ke, ma tuý tác hại đến chừng nào, nhưng thế gian lại tiêm nhiễm nặng những thứ ấy, gây bệnh hoạn, làm mất an ninh, trật tự, bạo lực gia đình, rồi dẫn đến hiếp dâm, trộm cướp, lừa đảo, làm gia đình chia ly, tan nhà nát cửa, và cuối cùng là tù tội. Chúng ta đâu có muốn như vậy mà vẫn bị nhiều người phê phán, chỉ trích kẻ đó ngu, không biết hưởng thụ gì hết. Mình đâu có giành bia ôm, rượu thịt của họ mà ăn nhưng vẫn cứ bị đụng hoài.



    Cho nên, quý vị thấy, mình thật tu thì cũng bị đụng chạm tới những người không chịu tu, vậy hỏi làm sao để thế gian này thật sự được hoà hợp, hài hoà. Không thể có chuyện đó được, ai biết khôn thì nhờ, ai ngu thì phải chịu khổ đau đời đời kiếp thôi. Bởi vậy mà Thiên ma ba tuần đã tìm mọi cách để ngăn Phật thành đạo, nên nó tìm cách quấy nhiễu đủ thứ nhưng không làm gì được Phật. Tại sao? Vì Phật dùng cây cung Thiền định và cây kiếm trí tuệ để quét sạch chúng ma. Đến khi thành Phật rồi, Thiên ma lại muốn Ngài nhập Niết Bàn sớm để họ được tự tung, tự tác giữa cuộc đời làm nhiễu loạn mọi người, để tất cả đều phải là ma hết. Bởi vậy, người tu theo Phật là đụng chạm tới sự tham lam của ma mị. Mình muốn cùng dìu dắt họ đi lên để chuyển hoá cõi ma thành cõi Phật, nhưng chúng có chịu đâu, chúng cứ níu kéo lẫn nhau bày đủ mọi trò để kích thích lòng tham lam của con người.



    Cho nên, sống giữa cuộc đời, người biết gìn giữ giới đức để không bị rơi vào hố sâu của tội lỗi rất là khó. Chúng ta phải can đảm, mạnh dạn, quyết tâm lắm mới có thể vượt qua nổi vì chúng ma đông vô số. Không tu thì đụng đâu chửi đó, đánh đấm, mạ luỵ lẫn nhau, đụng chạm liên miên không có ngày thôi dứt. Người có tu thì khéo sắp xếp hơn nên tuy có đụng chạm cũng không đáng kể; nhờ đâu mà được như vậy? Vì mình có sự kham nhẫn, sức chịu đựng trong suốt quá trình tu học để chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc. Chúng ta hay nghĩ rằng, mình tu rồi thì ai cũng thương, ai cũng kính, ai cũng mến và ai cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mình hết. Không có chuyện đó đâu quý vị, chúng ta đừng có ảo tưởng mộng mơ như vậy. Ta càng tu thì càng bị nhiều người khảo hạch, chống đối; ví như muốn biết mình không còn nóng giận nữa thì bị người trách mắng, đánh chửi, coi ta có động tâm hay không. Hiểu được như vậy, chúng ta mới cố gắng, kiên trì, bền bỉ trong từng phút giây để có cơ hội sống được trọn vẹn với niềm tin của mình trên bước đường tu tập, chuyển hoá. Thật ra, cuộc đời rất đẹp và trong sáng biết bao, chỉ có tâm ma con người tạo ra quẩn khúc của cuộc đời. Ta không hiểu nên hay đổ thừa cho cuộc đời, tại sao mình không oán trách mình nhiều hơn, mình tạo ra thì mình phải gánh chịu, đâu có ai ban phước, giáng hoạ cho mình.



    Thường người thế gian hướng về Phật pháp rất ít vì bị bộn bề công việc, cơm áo gạo tiền, không có thời gian tìm hiểu, tạo dựng niềm tin cuộc sống cho chính mình, nên đa số rơi vào lầm lạc, khổ đau. Phật thấy rõ sự tác hại của nó nên vì lòng từ bi mà khuyên nhủ mọi người hãy sống có ý thức và trách nhiệm, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau vì tình người trong cuộc sống. Ngày xưa, khi con người chưa văn minh tiến bộ nên thấy dường như có đấng quyền năng sắp đặt, định đoạt số phận muôn loài vật. Nhiều người thiếu hiểu biết do không suy xét, trải nghiệm mà rơi vào tình trạng si mê, cuồng tín. Ngày nay, loại cuồng tín này cũng có phần suy giảm do sự tiến bộ của con người, nhưng mê tín dị đoan thì còn quá nhiều.



    Chúng ta có niềm tin chân chính sau khi có sự thẩm xét bằng trí tuệ của mình; nhờ vậy, niềm tin chân chánh không phải nhắm mắt tin càn, ai bảo gì làm đó mà không có sự kiểm tra, cân nhắc. Chúng ta thấy lòng thương người của Đức Phật khi chưa tu đã thể hiện rõ trong cuộc sống của Ngài. Khi thấy Đề Bà Ðạt Ða bắn chim bị thương, thái tử đã cảm nhận niềm đau của nó như nỗi đau của chính mình, Ngài vội vàng cứu chữa cho con chim lành mạnh và trả nó về thế giới tự do bao la. Ngài đã có tình thương vô điều kiện ngay khi chưa thành Phật, Ngài không đòi hỏi gì ở ta, không buộc ta làm gì cho Ngài mà chỉ sẵn sàng giúp ta, cho chúng ta sự bình an để sống, để vượt qua nỗi khổ, niềm đau.



    Niềm tin như một lý tưởng sống thì ta mới có quyết tâm theo đuổi mục tiêu này hay mục tiêu khác, mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Trái lại, người không có đủ niềm tin chân chính thì không có hướng đi và một tương lai tốt đẹp. Niềm tin càng vững chắc thì bước đi càng rộng mở, không có gì ngăn cản nỗi và ý chí nỗ lực càng lớn mạnh. Vì vậy mà con người cần phải nuôi dưỡng và xây dựng niềm tin về con người tâm linh, là tin chính mình có khả năng làm được tất cả mọi điều thiện lành, tốt đẹp. Trong cuộc sống, Đức Phật luôn nhấn mạnh về lòng tin sau khi có trí tuệ, xem đó là động lực thúc đẩy mọi sự tiến bộ của con người trong suốt quá trình tu tập và chuyển hoá hướng đến mục tiêu giác ngộ, giải thoát cùng lợi ích cho nhân loại.



    Như vậy, theo sự chỉ dạy của Đức Phật thì niềm tin là điều tối cần thiết cho việc phát huy các phẩm chất đạo đức nhờ chúng ta có tâm thanh tịnh, sáng suốt đang tiềm ẩn nơi mỗi con người. Vậy niềm tin của người Phật tử là gì? Nói chung, niềm tin chân chính rất quan trọng và tối cần thiết trong đời sống con người, nếu niềm tin không đúng chân lý sẽ dẫn chúng ta rơi vào mê tín dị đoan, hoặc tin sau khi chết là hết làm cho nhân loại dễ dàng rơi vào hố sâu tội lỗi. Cho nên, trước khi tin bất cứ điều gì, ta phải cần xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng, coi lời dạy của học thuyết đó có gì lợi ích cho nhân loại không, hay chỉ là mục đích nhằm phục vụ cho riêng mình. Chính vì vậy, người Phật tử chân chính phải tìm hiểu kỹ càng khi tin một điều gì và nhận ra tính chất của nó là thiện hay ác, chỉ khi nào ta biết chắc nó mang lại lợi ích cho nhân loại thì ta mới quyết định nên tin hay không. Đây là cách thức xây dựng niềm tin của người Phật tử chân chính.



    Như bài kinh người Kalmala đến tìm Phật và hỏi Ngài: “Bạch đức Thế Tôn, có rất nhiều vị đạo sư đã đến thăm chúng con, người nào cũng tuyên truyền rằng đạo của họ là chân lý. Kính bạch Ngài, chúng con không biết lời chỉ dạy của ai là đúng để tin theo và áp dụng hành trì”. Phật không trả lời ngay câu hỏi mà hỏi lại họ: “sát sinh hại vật có từ bi hay không?” - “dạ thưa không” - “gian tham, trộm cướp, lường gạt của người có từ bi hay không?” - “dạ thưa không” – “uống rượu say sưa làm não hại thân tâm có từ bi hay không?” – “dạ thưa không”. Đức Phật của chúng ta rất khéo léo dẫn dụ, buộc mọi người phải cân nhắc, suy nghĩ, bởi Ngài đang khuyên mọi người không nên làm thế.



    Một lòng tin chân chính phải đi theo với một lý trí xét đoán, hiểu rồi mới tin thì cái tin ấy mới là chánh tín. Ðối với đạo Phật, tin Phật mà không hiểu Phật tức là phỉ báng Phật, như thế dễ dàng rơi vào đường tà. Đạo Phật chủ trương cá nhân có quyền thẩm sát tất cả và tin hay không là tùy ở nhận xét của chính mình; cũng đừng vội tin những gì người ta thường lặp đi, lặp lại; đừng vội tin một điều gì dù điều đó là một tập tục cổ truyền đã trải qua nhiều thời đại; đừng vội tin một điều gì dù đó là điều người ta hay đồn và hay nói đến; đừng vội tin một điều gì dù điều đó do bút tích Thánh nhân xưa để lại; đừng vội tin một điều gì dù đó là một luật lệ đặt ra từ lâu và được xem là chánh đáng; đừng vội tin một điều gì dù điều đó do quyền năng của một bậc thầy hoặc do quyền lực của một nhà truyền giáo. Bây giờ, chúng ta sẽ tìm hiểu về niềm tin trong kinh Kamala.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

  5. #5

    Mặc định

    phật cũng nói hãy ngẫm nghĩ kỹ lời của ngài rồi hãy tin.niềm tin từ bên trong là một sức mạnh lớn hơn rất nhiều sự giúp đỡ từ bên ngoài.
    tôn giáo không nên đan xen vào các vấn đề khác !

  6. #6

    Mặc định

    Truyền thống là những tập tục lâu đời do xã hội hình thành, nó trở thành nếp sống, nếp văn hóa cho mỗi cộng đồng xã hội đặc thù. Như truyền thống tốt đẹp của người Phật tử Việt Nam là uống nước nhớ nguồn, tinh thần này hợp với đạo thờ cha kính mẹ của dân tộc Việt Nam. Truyền thống tốt đẹp này luôn nhắc nhở mỗi người biết được đạo lý làm người trước tiên là phải biết ơn và đền ơn. Chim có tổ - Người có tông, đạo hiếu luôn đi đôi với nhân nghĩa, đạo đức, và làm người ai cũng phải biết như thế. Một con người công thành danh toại đều xuất phát từ sự cung kính, hiếu thảo với ông bà cha mẹ mà ra. Người bất hiếu đa số rơi vào vòng tệ nạn xã hội vì cha mẹ của mình có công sinh thành dưỡng dục, nuôi nấng, bảo bọc, che chở, mà mình còn không biết ơn, thử hỏi sao người khác mình đối đãi tốt cho được.

    Truyền thống cúng sao giải hạn, giết vật cúng tế quỹ thần, xin xăm bói quẻ, đều là những truyền thống làm cho con người thêm hoang mang, sợ hãi, nên phải cầu khẩn, van xin để được tai qua nạn khỏi. Tất cả những thứ này đều là truyền thống, nhưng có những truyền thống giúp cho ta tốt thêm và có những truyền thống làm cho ta mê tín và sợ hãi nhiều hơn. Đức Phật của chúng ta rất tế nhị nên hoàn toàn không bác bỏ truyền thống. Do đó, đức Phật dạy ta không nên vội tin một điều gì và cũng không nên bác bỏ một điều gì khi chưa thẩm sát; như những truyền thống giết heo, bò, gà, vịt để cúng tế ngày tết, ngày giỗ, bản thân nó tạo ra nghiệp sát sanh, nghiệp lãng phí cho mỗi gia đình và người thân. Những ai thực hành những truyền thống này thì thân tâm của họ cảm thấy bất an, vì nghiệp sát sinh hại vật và làm lãng phí tiền của càng ngày thêm tăng trưởng, nghiệp tham-sân-si gây ra ân oán, thù hằn không có ngày thôi dứt. Những người tin theo các truyền thống này thì dần hồi sẽ bị lạc vào chỗ tối tăm, mê muội mà không có ngày thôi dứt.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những truyền thống rất tốt đẹp, như truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, hiếu thuận ông bà cha mẹ, cung kính tôn trọng người tu hành chân chính, biết ơn thầy cô giáo, nhớ ơn người giúp đỡ mình. Truyền thống nhớ ơn-biết ơn-đền ơn là một truyền thống tốt đẹp luôn giúp mọi người sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết. Truyền thống hiếu thuận cha mẹ điển hình là ngày lễ Vu Lan trong mùa an cư kiết hạ của chư Tăng ni. Trong 3 tháng an cư kiết hạ, lượng mua bán thịt cá ở các chợ giảm gần 50%, rõ ràng đây là một truyền thống tốt đẹp giúp mọi người thể hiện được lòng từ bi với các loài vật; hoặc kỷ niệm ngày của cha, ngày của mẹ bên phương Tây giúp cho bản thân mình cảm thấy nhẹ nhàng, yên vui, vì đã góp phần làm tròn bổn phận con cái đối cha mẹ. Tâm hiếu là tâm Phật, là đạo của một người con đối với người mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh thành, người cha làm lụng vất vả, nhọc nhằn để nuôi con khôn lớn trưởng thành. Một người con hiếu thảo phải biết tôn trọng, cung kính ông bà cha mẹ, biết đền ơn đáp nghĩa với thâm ân sâu dày và cao cả, còn thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ mọi người và biết giữ niềm tin chân chính đối với người khác.

    Truyền thống tôn sư trọng đạo đối với các bậc sư trưởng khiến mình biết quý trọng, tôn kính những người đã có công dạy dỗ mình nên người, thành tài, sống có nhân cách và phẩm chất đạo đức tốt. Chính nó là động lực thúc đẩy làm cho lớp trẻ đi sau noi gương làm theo, nhờ đó cũng được thành tài, hiền thiện, mà làm tròn bổn phận đối với gia đình, xã hội, sống tốt trong hiện tại và mai sau. Do đó, những truyền thống nào làm cho ta mê tín hay làm tổn hại cho người và vật thì ta không nên tin, còn truyền thống nào tốt đẹp, giúp cho mọi người vui vẻ, thuận thảo, hoà hợp với nhau, thì chúng ta cần phải giữ gìn và hướng dẫn cho gia đình, người thân cùng được biết và bắt chước làm theo.
    vô minh diệt vô minh tận
    vô lão tử diệt vô lão tử tận vô khổ tập diệt,vô đắc

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 17-01-2013, 01:06 PM
  2. Trả lời: 39
    Bài mới gởi: 29-11-2010, 10:05 PM
  3. nếu có chiến tranh
    By bộ xương in forum Tâm sự nhỏ to, chia sẻ, suy ngẫm
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 05-09-2010, 02:25 PM
  4. Trả lời: 10
    Bài mới gởi: 22-04-2009, 09:53 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •