Trang 2 trong 15 Đầu tiênĐầu tiên 1234567812 ... Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 21 tới 40 trên 283

Ðề tài: Những nhân vật chống Chúa điên cuồng

  1. #21

    Mặc định

    không phải xin vật chất. mà xin cái thiếu càng xin thì càng thiếu => không được nữa vì cái thiếu càng to => hậm hực tức giận.
    zhu nói đúng đó đạo nào cũng có tín bị mê. và không nhỏ đâu đa phần đó.

  2. #22
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Bimbimcay81 Xem Bài Gởi
    không phải xin vật chất. mà xin cái thiếu càng xin thì càng thiếu => không được nữa vì cái thiếu càng to => hậm hực tức giận.
    zhu nói đúng đó đạo nào cũng có tín bị mê. và không nhỏ đâu đa phần đó.
    kinh lạy cha là điểm tựa cho sự cầu nguyện đúng cách
    haiz...........................

  3. #23

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Bimbimcay81 Xem Bài Gởi
    không phải xin vật chất. mà xin cái thiếu càng xin thì càng thiếu => không được nữa vì cái thiếu càng to => hậm hực tức giận.
    zhu nói đúng đó đạo nào cũng có tín bị mê. và không nhỏ đâu đa phần đó.
    Đây là cái mà đạo công giáo mê tín này.

    2. BÀI GIẢNG TRÊN NÚI
    Tám mối Phúc (Lc 6:20-23)

    1 Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.2 Người mở miệng dạy họ rằng:
    3 "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
    vì Nước Trời là của họ.

    4 Phúc thay ai hiền lành,
    vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
    5 Phúc thay ai sầu khổ,
    vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

    6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
    vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
    7 Phúc thay ai xót thương người,
    vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

    8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
    vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
    9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
    vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

    10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
    vì Nước Trời là của họ.
    11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
    và vu khống đủ điều xấu xa.

    :wave:
    Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.

  4. #24

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi kiếp mù lòa Xem Bài Gởi
    nói cho cùng thì ki tô giáo vẫn là tôn giáo như thế nào?
    â DI DÀ PHẬT TIỂU ĐỆ XIN GÓP Ý NHƯ SAU

    Thật là nhục nhã, những bộ mặt tôn giáo giả nhân giả nghĩa, từ giáo hoàng trở xuống, đã bị phanh phui ra trước thế giới, không còn có thể che đậy được nữa, dù có lấy mo che. Tuy nhiên, đối với con chiên Việt Nam thì Giáo hội Công giáo vẫn là một “hội thánh” như được viết trên các trang nhà Công giáo một cách không ngượng ngùng. Điển hình là trên VietCatholic ta có thể đọc những câu đại khái như “Đường “hội thánh” đi là đường vinh quang” bất kể đến cái lịch sử ô nhục của cái gọi là “hội thánh” Công giáo. Tôi không hiểu vinh quang ở chỗ nào, thật là tội nghiệp. Thay vì ngẩng mặt lên trong vinh quang thì người Công giáo, một khi còn ở trong cái gọi là “hội thánh” đó, nên cúi mặt trước các tôn giáo khác, vì với cái lịch sử đồi bại ô nhục đẫm máu của Công giáo, không còn mặt mũi nào trước Tam Giáo. Đó là thái độ thích hợp nhất đối với những người còn đôi chút liêm sỉ.

    Qua điểm tin từ những tờ báo nổi tiếng tại : Anh quốc, Pháp quốc, Ý, và Hoa Kỳ ...nhà bình luận có tên là Richard de la Cure kết luận như sau :

    ..."Đạo công giáo đang đi vào ngỏ cụt, và hao tốn, vị giáo hoàng hiện nay bất lực kèm theo lo lắng nay mai sẻ bị thải hồi, và nhất là thế giới nguyền rủa, căm thù ...mà từ trước đến nay Vatican thường tuyên bố .." đạo công giáo là một tôn giáo bác ái và Yêu thương hay thường gọi là công giáo hoàn cầu "...nay đang trên con đường lụi bại và nhục nhả.

    Thật ra thì không thể nói là toàn thể giới linh mục xảo quyệt và khốn nạn. Chúng ta có thể chia họ ra làm hai loại. Loại thứ nhất gồm những người mà chính bản thân họ cũng đã bị điều kiện hóa và thuần hóa để trở nên cuồng tín một cách ngu muội và cứ thế truyền lại cho đám giáo dân thấp kém ở dưới, từ đời này sang đời khác. Loại thứ nhì gồm những người “bất lương trí thức”, chính họ cũng đã biết những chuyện nhảm nhí hoang đường của Ki Tô Giáo, nhưng vì quyền lợi thế tục, về địa vị ưu việt đối với đám giáo dân ở dưới nên họ vẫn tiếp tục che dấu sự thật, lừa dối giáo dân bằng những hứa hẹn hoang đường.

    Nhưng thực ra Giê-su là con người như thế nào, các công cuộc nghiên cứu về Giê-su của giới học giả trí thức trong vòng 200 năm nay đã có thể giải đáp cho chúng ta vấn nạn này. Tôi đã viết tạm gọi là đầy đủ về những giải đáp này trong cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?”. Ở đây tôi chỉ muốn nhắc lại một tài liệu điển hình:

    Học giả Russell Shorto, sau khi duyệt qua những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su trong vòng 200 năm gần đây, đã đưa ra một kết luận trong cuốn “Sự thật trong Phúc Âm” như sau:

    Bữa ăn chiều cuối cùng, chuyện Giê-su sinh ra từ một nữ đồng trinh, chuyện Giê-su sống lại: người ta đã khảo nghiệm từng cái đà một của ngôi nhà Ki Tô Giáo. Các học giả nghiên cứu Thánh Kinh – một thời đã từng là các nhà bảo vệ nền thần học của Ki Tô Giáo – nay đã viện đến các ngành khảo cổ, cổ sinh vật học, ngữ học, điện toán, và ngay cả môn vật lý các hạt nhỏ để tìm hiểu câu hỏi “Giê-su Là Ai?” Kết quả là một sự duyệt lại căn bản những chuyện trong Phúc Âm, thật rõ ràng một cách ngạc nhiên, và đối với một số người, là một cú sốc.. Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Công giáo bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

    Đây chính là vấn đề đối với giới chăn chiên. Họ chỉ muốn giữ con chiên của họ trong vòng ngu dốt bằng cách che dấu, bưng bít mọi sự thật có ảnh hưởng đến niềm tin vào những chuyện hoang đường mà họ đã cấy vào đầu óc của đám tín đồ đáng thương.

    a). Như vậy, trong giới chăn chiên, loại người thứ nhất là những người cuồng tín, đần độn (fanatic, stupid), có nghĩa là, vẫn còn bám vào những tín lý đã lỗi thời, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của con người về vấn đề tôn giáo, và nhắm mắt bác bỏ mọi sự kiện trái nghịch với niềm tin của mình. Mục sư Tin Lành Ernie Bringas gọi những đầu óc đần độn này là những đầu óc có một khuyết tật (an astrolabe mind), một loại đầu óc cũ kỹ trong đó có một khoảng cách kiến thức về tôn giáo, và khoảng cách này đã đưa những người có đầu óc như vậy về trình độ của thế kỷ 17. Họ được nhồi sọ để tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, được huấn luyện kỹ để mang những đoạn vụn vặt trong Thánh Kinh ra giảng một cách méo mó, lệch lạc, ngoài ngữ cảnh của toàn bộ vấn đề (out of context) trong khi kiến thức tổng quát của họ về Thánh Kinh, về lịch sử Ki Tô Giáo, và về những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay thường rất hạn hẹp.
    b). Còn loại người thứ hai là loại bất lương trí thức như Russell Shorto đã viết ở trên, nghĩa là những người đã biết rõ sự thật về những huyền thoại trong Ki Tô Giáo, về những ngụy tạo thần học trong giáo hội, nhưng vì những quyền lợi vật chất và tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, nên vẫn tiếp tục diễn giải Thánh Kinh một cách vụn vặt, lắt léo, hoặc tiếp tục đưa ra những luận điệu thần học lừa dối đã lỗi thời, những tín lý, tín điều đã bị giới trí thức trên thế giới, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, dứt khoát bác bỏ vì chúng thuộc loại huyền thoại của người Do Thái cách đây đã trên dưới 2000 năm, để mê hoặc những đầu óc thấp kém, cả tin, đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn vật chất v..v.. ở trong những quốc gia kém phát triển về kinh tế, để lùa họ vào trong tín ngưỡng Ki-Tô, tín ngưỡng đang suy thoái ở trong các quốc gia văn minh tiến bộ.

    Sau đây chúng ta hãy đi vào phần phân tích để xem giới chăn chiên đã dùng những thủ đoạn gì để điều kiện hóa và thuần hóa tín đồ, khiến cho họ trở thành những nô lệ tâm linh của các “bề trên”.



    I.- Mê hoặc tín đồ thấp kém bằng những luận điệu thần học hoang đường ngụy tạo.

    Giáo hội Công giáo đưa ra một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời, dựa trên những huyền thoại của người Do Thái trong cuốn sách gọi là Kinh Thánh gồm Cựu Ước và Tân Ước. Nhưng đọc Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân ước, chúng ta thấy tất cả những chuyện trong đó đều viết về dân tộc Do Thái, các tên Do Thái, và một vài vùng đất trong miền Trung Đông. Các học giả ngày nay đều đồng ý là, cuốn Kinh Thánh chỉ là những huyền thoại về lịch sử Do Thái trong thời bán khai, trí tuệ chưa mở mang, tuyệt đối không có liên hệ đến bất cứ một quốc gia nào khác. Như chúng ta đã biết, những nghiên cứu về Giê-su trong vòng 200 năm nay của các học giả đã đưa đến kết luận: Giê-su chỉ là một người Do Thái thường, sống với ảo tưởng, tin mình là con của Gót (God) của Do Thái, có nhiệm vụ xuống trần để cứu dân Do Thái, và chỉ dân Do Thái mà thôi.

    Nền thần học Ki Tô Giáo đã ngụy tạo, khai triển ảo tưởng trên của Giê-su và đưa Giê-su lên làm đấng cứu thế cho cả nhân loại, và hứa hẹn một cái bánh vẽ cứu rỗi ở trên trời cho những đầu óc yếu kém trong quá trình bành trướng, truyền đạo bằng võ lực, mê hoặc đầu óc con người trên khắp thế giới. Với những xảo thuật truyền đạo bịp bợm, Công giáo đã thành công làm cho tín đồ tin rằng Giê-su là Chúa Cứu Thế có thể ban phát ơn “cứu rỗi” cho những người nào tin ông ta. Nhưng vì đa số tín đồ là những bàn dân thấp kém, ít học hay vô học, không có khả năng tự mình tìm hiểu Kinh Thánh, nhất là Tân ước, chỉ nghe những lời giảng bậy của các Linh mục, mục sư, nên những người phi – Do Thái trong đó có người Việt Nam vẫn tin là mình có thể được cứu rỗi, trong khi thực chất “cứu rỗi” chỉ là một cái bánh Ki Tô Giáo vẽ trên trời. Tôi cảm thấy rất tội nghiệp cho những tín đồ Ki Tô Giáo, tin vào những chuyện không thể tin được, những chuyện mà bản chất chỉ là những sự lừa dối sai sự thực để kéo con người vào vòng nô lệ tâm linh của Ki Tô Giáo. Chứng minh?

    Tại sao nhân loại cần đến ơn “cứu rỗi” của Giê-su?

    Đây là câu hỏi mà người ta đã đặt cho Giáo Hoàng John Paul II. Thật vậy:

    Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, xuất bản năm 1995, trang 76, để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, giáo hoàng John Paul II đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm, John 6: 13, làm luận điểm giải thích, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”. Như vậy “cứu rỗi” là để được sống đời đời, một hứa hẹn vô trách nhiệm trước những người vốn không có đầu óc suy nghĩ. Tại sao? Vì câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” mà là một khẳng định về đức tin Công giáo gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý và hoang đường nếu họ không chịu nhắm mắt mà tin.

    Điều này thật là rõ ràng vì, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã phải thú nhận là “không làm gì có thiên đường trên các tầng mây” (Heaven is not a physical place above the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế” (Hell is not a punishment imposed externally by God).

    Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong lòng đất, Giáo Hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong vòng sợ hãi và mê tín. Đa số tín đồ Công giáo không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của Giáo Hoàng. Một số thuộc hạ của Giáo Hoàng giải thích để biện hộ cho Giáo Hoàng: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo. Người ngoài giáo hội thì cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty), vì giáo hội đã biết là không làm gì có thiên đường hay hỏa ngục, mà vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một hỏa ngục giả tưởng.

    Phân tích ra thì câu John 3: 16 ở trên: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, và câu tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế”, theo tôi, là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước vì những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Thật vậy, chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết. Như được viết rõ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su có đầu óc bất bình thường (trong Tân Ước viết: out of his mind), cho nên chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này mà lại còn thường mang nó ra mà trích dẫn trên một số diễn đàn của các giáo dân Ki Tô Giáo ở hải ngoại. Thật là tội nghiệp.

    Nếu giáo hoàng John Paul II không chịu giảng “tại sao nhân loại cần cứu rỗi’ mà chỉ nói tầm bậy về một câu tầm bậy trong Tân Ước thì nền Thần học Ki Tô Giáo có thể soi sáng cho chúng ta về vấn đề này. Lý luận thần học của Ki Tô Giáo về “ơn cứu rỗi” của Giê-su có thể tóm tắt trong vài câu như sau:

    - Ý niệm về sự cứu rỗi lập căn bản trên sự kiện loài người đang sống trong tình trạng hư mất, vì vậy họ cần được cứu. Theo quan điểm Cơ Đốc, con người bị đặt dưới sự đoán phạt của Thiên Chúa vì cớ nguyên tội (tội tổ tông) mà chúng ta thừa kế từ sự sa ngã của Adam (thừa kế bản chất tội lỗi của Adam sau khi phạm tội).

    - Người Ki Tô Giáo tin rằng nhân loại được tạo nên chỉ để có một mối quan hệ với Thượng đế, nhưng tội lỗi đã tách biệt mọi người với Thượng đế. Người Ki-Tô tin rằng sau khi chết trên cây thập giá, Đức Ki-Tô được chôn, Ông ta lại sống lại, và nay sống bên tay phải của Thượng đế, để mãi mãi làm trung gian hòa giải với Thượng đế cho những tín đồ. Ki Tô Giáo khẳng định rằng cái chết của Giê-su trên cây thập giá là đủ để trả hoàn toàn cái nợ tội lỗi [đối với Thượng đế] của mọi người và điều này đã hồi phục mối quan hệ đã đổ vỡ giữa Thượng đế và con người.

    Kinh Tin Kính của các Tông đồ viết về đức tin và hi vọng căn bản của người Ki Tô Giáo như sau:

    Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi…

    chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác,

    xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại…

    ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

    Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại…

    Tôi tin hằng sống vậy.

    Đó là căn bản đức tin và niềm hi vọng trong Ki Tô Giáo. Với đức tin này người Ki Tô Giáo hi vọng ở những gì. Vì tin rằng Chúa Giê-su “ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết” và tin rằng “xác loài người ngày sau sống lại” Người Công giáo Việt Nam rất hi vọng được Chúa Giê-su, đến ngày phán xét, hóa phép làm cho thân xác của họ, bất kể chết từ bao giờ, chết trên giường bệnh, già, bình thường, hay chết tan xác ngoài mặt trận, sống lại, hợp với linh hồn của họ mà sau khi chết đã được giữ [ai giữ?] trong một kho chứa của Chúa, và rồi, cả hai phần hồn và phần xác, được Chúa cho lên thiên đường để hằng sống, đời đời hầu hạ việc Chúa. Phải nói là “hầu hạ việc Chúa” vì trên thế gian này, người Ki Tô giáo Việt Nam thường tự nhận là tôi tớ, tỳ nữ hầu hạ việc Chúa, đúng ra là hầu hạ các linh mục, mục sư, với hi vọng là sau khi chết, đến ngày phán xét, được lên thiên đường sống cuộc sống đời đời để tiếp tục hầu hạ Chúa.

    Đọc về những niềm tin của người Ki-Tô Giáo ở trên chúng ta thấy rõ người Ki Tô Giáo chỉ tin chứ không hiểu. Thật vậy, ngày nay không còn mấy người tin rằng Thượng đế của Ki Tô Giáo đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài cách đây khoảng 6 ngàn năm, và trong 6 ngày, và trước những bằng chứng bất khả phủ bác của khoa học về sự tiến hóa của con người mà chính Giáo hoàng John Paul II đã phải lên tiếng chấp nhận, cũng chẳng còn mấy người tin vào cái huyền thoại về tội tổ tông.

    Chúng ta thấy, thuyết thần học Ki Tô về sự cứu chuộc và cứu rỗi của Chúa Giê-su đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước Nhưng ngày nay, trừ những giáo dân ít học và kém hiểu biết, có còn ai tin vào huyền thoại "tội tổ tông" nữa đâu. “Tội Tổ Tông” là một huyền thoại đã lỗi thời, và người nào còn nhắc đến nó, tin nó, chỉ tự chứng tỏ mình là người có đầu mà không có óc, thiếu học vấn

    Thật vậy, Trước những kết quả nghiên cứu Thánh Kinh bất khả phủ bác của giới học giả, huyền thoại về “tội tổ tông” đã không còn một giá trị trí thức nào ngay trong giới lãnh đạo của Ki Tô Giáo. Chúng ta hãy đọc vài tài liệu về “tội tổ tông” của giới trí thức Tây phương.

    Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đã viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

    Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lý và quan niệm sai lầm vẫn còn tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đã tự ý loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII) không thấy là điều giảng dạy mới của mình dẫn tới đâu, thì hàng trăm nhà thần học và giám mục đã thấy. Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đã từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác.

    Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết”
    Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.

    Và chính Giáo Hoàng John Paul II cũng đã phát biểu năm 1996:

    Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

    Đọc thêm các tác phẩm nghiên cứu của một số vị trong hàng giáo phẩm Công Giáo cũng như Tin Lành, chúng ta thấy rõ một số đã biểu lộ sự lương thiện trí thức của họ trước những sự kiện khoa học không ai có thể phủ nhận qua những nhận định như sau:

    “Không có bất cứ một hình ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. Hình ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái hình ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn giải về Giê-su. Đó là cái hình ảnh của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế” (the divine rescuer)."

    Và Linh mục Công giáo James Kavanaugh cho rằng “ơn cứu rỗi” chỉ là một huyền thoại
    “Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy, trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ khi mới sinh ra đời. Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ, chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con mình. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai
    Tôi chấp nhận sự kiện là Giê-su đã chết, và ngay cả đã bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận cái huyền thoại là cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại “cứu rỗi” trong Tân ước chỉ là một cách diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời bán khai, bản chất của nó giống như những huyền thoại của các dân tộc bán khai ở khắp nơi, nhưng nó hoang đường và độc ác hơn hầu hết các huyền thoại khác.
    Như vậy, “ơn cứu rỗi của Chúa Giê-su” chẳng qua chỉ là một cái bánh vẽ trên trời , đúng như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định (A pie-in-the-sky), mà Ki Tô Giáo vẫn còn dùng làm mồi để nhử những đầu óc ngu ngơ ngốc nghếch. Đúng vậy, nếu đã không có gì có thể gọi là “tội tổ tông” thì vai trò chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su chỉ là luận điệu thần học bịp bợm của các giáo hội Ki Tô, và riêng đối với Công giáo thì tín lý tuyên dương bà Mary, mẹ của Giê-su, là “Mẹ Thiên Chúa”, “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội” v..v.. cũng chỉ là những mánh mưu thần học của Công giáo để mê hoặc đám tín đồ vốn không có mấy đầu óc.
    Vấn nạn của các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam là tại sao họ vẫn còn vác cái gánh nặng Thiên Chúa trên vai, biết rằng một Thiên Chúa như được viết trong Kinh Thánh, một Thiên Chúa mà Richard Dawkins đã đưa ra những nhận định về các thuộc tính như sau trong cuốn “The God Delusion”, trang 51:

    Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

    Một Thiên Chúa như vậy có đáng để chúng ta kính trọng, khoan nói đến thờ phụng, không?

    Vậy tại sao các tín đồ Ki Tô Giáo không đủ can đảm loại bỏ một Thiên Chúa như vậy ra khỏi đầu óc họ như cả mấy tỷ người trên thế giới đã làm, nhất là Thiên Chúa đó chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái. Họ sợ rằng, sau khi loại bỏ Thượng đế ra khỏi đầu óc thì họ còn lại gì? Đó là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, và từ đó có thể giải thích về sự hiện hữu của những sự xấu trên thế giới, và từ đó, con người hãy phục vụ con người thay vì đi phục vụ một đấng ác ôn không ai biết, không ai hiểu, không ai thấy. Trong tất cả các thiên tai, bệnh tật v..v.., chúng ta chỉ thấy con người cứu giúp con người chứ có thấy mặt Thiên Chúa ở đâu khoan nói đến chuyện là, theo niềm tin của Ki Tô Giáo, tất cả những sự đau khổ giáng lên đầu con người đều là tác phẩm của Thiên Chúa cả. Và không phải chỉ có người Ki-Tô mới làm những việc thiện, cứu giúp đồng loại, mà trên thế giới phần lớn là những người phi-KiTô, không tin là có Thiên Chúa.

    Vì đặt tất cả niềm tin mù quáng vào những điều ngụy biện hoang đường của nền thần học Ki Tô Giáo cho nên các tín đồ mới cứ tin rằng mình có tội thật đối với một nhân vật thần thoại Do Thái ác ôn như vậy, và do đó mới mơ tưởng tới ơn “cứu rỗi” của một Thiên Chúa mà thực ra chúng ta cần phải vứt bỏ nó đi trong đầu óc của chúng ta.

    Nhưng thật ra tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam có hi vọng được Giê-su cứu chuộc hay cứu rỗi không?

    Câu trả lời là một chữ “KHÔNG” khẳng định. Chữ “KHÔNG” này là do chính Chúa Giê-su khẳng định trong Tân Ước chứ không phải là của tôi. Chứng minh?

    Trước hết, người Việt Nam hiển nhiên không phải là người Do Thái, câu này nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thực ra lại rất quan trọng. Tại sao lại quan trọng? Vì đọc Tân Ước, chúng ta thấy: Giê-Su sẽ chỉ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi mà thôi (Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và sẽ ngự trị trên dân Do Thái đời đời mà thôi (Luke 1: 33: And He will reign over the house of Jacob for ever). Ngoài ra chúng ta cũng còn thấy là Giê-su rất ghét những người không phải là Do Thái (Matthew 15: 21-28). Và Thánh Paul khẳng định, Hebrew 13: 8: “Giê-su Ki Tô luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi.” (Jesus Christ is the same yesterday, today, and forever). Điều này có nghĩa là Giê-su sinh ra đời chủ trương chỉ cứu chuộc người Do Thái mà thôi v.. v.., và thái độ bộc lộ ghét người phi-Do Thái của Giê-su, không bao giờ thay đổi. Vậy thì những sắc dân phi – Do Thái, trong đó có Việt Nam, mong cái gì ở Giê-su? Tôi không hiểu các trí thức theo Công giáo Rô-ma ở Việt Nam có đọc Tân ước không và có biết đến những điều này hay không. Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình một cuộc sống đời đời trên một Thiên Đường mà chính giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận sự hiện hữu.

    Thật vậy, câu chuyện sau đây trong Tân Ước sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:

    "Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su "Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng." Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: "Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta." Nhưng Giê-Su trả lời: "Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi." Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: "Chúa ơi, hãy giúp tôi." Nhưng Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào." Và người đàn bà kia nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ." Rồi Giê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà." Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó." [8]

    Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên,

    Tiến Sĩ Madalyn O'Hair bình luận như sau:

    Trừ phi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học.

    Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn Scandalous Saints, trang 214:

    Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?" Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

    Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc khải của Thiên Chúa, "Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8) Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi thì vừa. [9]

    Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong những câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Ki-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng cho mình có cùng một thân phận và lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không còn trên thế gian nữa. Nhưng hi vọng của họ được Giê-su cứu rỗi có thể thể thành tựu được không? Nếu còn đầu óc thì hãy suy nghĩ cho kỹ chuyện này và mang ra hỏi các bậc chăn chiên của mình là dựa vào đâu trong Tân Ước mà cho rằng người Việt Nam sẽ được Giê-su cứu rỗi.

    Nhưng thực ra, Giê-su có phải là Thiên Chúa hay không?

    Và dù có là Thiên Chúa đi nữa thì trí tuệ và tư cách của ông ta có đáng để cho chúng ta hi vọng vào một ơn “cứu rỗi” của ông ta hay không? Đọc Tân Ước, chúng ta đã thấy rằng, cũng giống như Cha ông ta trong Cựu Ước, Giê-su là một người có những đặc tính tiêu biểu là: tính tình độc ác, dễ nổi nóng, tự phụ, nhỏ nhen, thích nguyền rủa, lời nói không đi đôi với việc làm, tiền hậu bất nhất, khi nói suôi, khi nói ngược, và phần lớn là về “cái Ta” của ông ta. Rất rõ ràng trong Tân Ước, chẳng cần phải chứng minh.

    Những tín đồ Ki Tô Giáo cuồng tín thường cho là mình có nhiệm vụ đi rao giảng “Tin Mừng Phúc Âm” cho mọi người trên thế giới. Họ thành công phần nào vì họ chỉ rao truyền tin mừng cho những người thấp kém, ít học trong xã hội, và vì vậy không có ai đặt câu hỏi hay chất vấn họ khi họ giảng những điều láo lếu, không đúng sự thực, về Chúa Giê-su của họ. Nhưng Giê-su sinh ra có phải là để mang tin mừng cho nhân loại không? Ông ta nói:

    Matthew 10: 34-36: “Đừng tưởng rằng ta xuống đây để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không tới để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì ta tới để làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.”

    Và Luke 12: 51-53: Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới. Không, Ta đến để chia loài người làm hai. Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

    Đó có phải là những “tin mừng” cho gia đình và xã hội không? Người nào bảo phải, xin mời lên tiếng. Hơn nữa, Giê-su còn thường nguyền rủa những người không tin ông ta:

    “Hãy mang những kẻ thù của ta, những người không muốn ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta” , cùng đe dọa những người rời bỏ ông ta phải được gom lại như cành củi, làm cho khô héo và mang đi đốt, làm tiền lệ cho giáo hội Công giáo đi tra tấn rồi thiêu sống những kẻ mà giáo hội cho là lạc đạo. [John 15: 6: If anyone does not abide in me, he is cast out as a branch and is withered; and they gather them and throw them into the fire, and they are burned]

    Ông ta cũng còn dọa những người không tin ông ta sẽ bị đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa thiêu đốt vĩnh viễn. Chúng ta hãy đọc lời ông phán trong ngày phán xét, ngày mà các tín đồ Ki Tô Giáo hi vọng được Giê-su họp hồn với xác và cho họ lên Thiên đường (mù):

    “Rồi ta sẽ nói với những kẻ ở phía bên tay trái: “Hãy cút đi cho khuất mắt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, để đi vào ngọn lửa vĩnh hằng nhúm sẵn cho quỷ và những thiên thần của nó”

    [Tiếng Anh nguyên văn là, Matthew 25: 41: “Depart from me, you cursed, into the everlasting fire prepared for the devil and his angels” nhưng Kinh Thánh Tin Lành tiếng Việt đã dịch “devil and his angels” là “ma quỉ và những quỉ sứ (của) nó”. Dịch angel là quỉ sứ chắc là để tránh một điều hiển nhiên trong Kinh Thánh là Quỷ cũng có những thiên thần làm tay sai y như Thượng đế. TCN]

    Những kẻ ở phía bên tay trái là những ai?

    Đó là những người không phải thuộc 12 bộ lạc Do Thái, như sách Khải Huyền đã viết rõ:

    Khải Huyền 7: Sau đó tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn góc địa cầu [nguyên văn từ Kinh Thánh Việt Nam, quả địa cầu của Ki Tô Giáo có hình tứ giác, có bốn góc] cầm giữ gió bốn phương trên đất, khiến cho khắp đất, biển và cây cối đều bất động. Tôi lại thấy một thiên sứ khác đến từ phương Đông, cầm con dấu (seal) của Thượng đế hằng sống. Thiên sứ này lớn tiếng kêu gọi bốn thiên sứ đã được Thương đế ban quyền cho làm hại đất và biển (who had been given power to harm the land and the sea): Đừng làm hại đất, biển và cây cối cho đến khi chúng ta đóng dấu ấn lên trán của những tôi tớ Chúa. Rồi tôi nghe thấy số người được đóng dấu ấn trên trán, tất cả là 144000 (một trăm bốn mươi bốn ngàn) thuộc 12 bộ lạc của Israel, mỗi bộ lạc là 12000 người. Những người được đóng dấu ấn của Thượng đế trên trán là những người được Chúa chọn để cho lên thiên đường sống một cuộc sống đời đời với Chúa, vì Kinh Thánh viết rõ “Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn” và Chúa cũng đã phán, Matthew 7: 21-23: “Không phải người nào gọi Ta là Chúa cũng được vào nước trời... Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người kêu nài: “Thưa Chúa, chúng tôi đã giới thiệu Chúa cho nhiều người, đã dùng danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ [Công giáo đã ngụy tạo ra nhiều phép lạ như ở Fatima, Lourdes, La Vang v…v…] . Nhưng ta sẽ đáp: “Ta không hề biết các ngươi! Hãy cút đi cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác”
    Bịp bợm, dối trá, lợi dụng lòng mê tín của tín đồ để vơ vét của cải, tiền bạc, loạn dâm, đạo đức giả v..v.. có phải là việc gian ác hay không? Ngụy tạo phép lạ, tín lý, bí tích để tạo quyền lực thế tục cho giới giáo sĩ v..v.. có phải là việc gian ác hay không? Cưỡng bách cải đạo, giết người ngoại đạo, tra tấn, thiêu sống người lạc đạo v..v.. có phải là việc gian ác không? Ai trả lời không, xin lên tiếng. Các “hội thánh” Ki-tô, trong 2000 năm nay đã làm những gì? Có làm điều gì gian ác không? Và ai lên thiên đường? Ai xuống hỏa ngục?

    Chúng ta để ý, Chúa chỉ chọn 144000 người trong 12 bộ lạc Do Thái, không thấy Chúa nói đến các bộ lạc Bùi Chu, Phát Diệm hay Hố Nai, Gia Kiệm, hay Bolsa, San Jose, Sydney. Dân Do Thái là dân được Chúa chọn (chosen people) nhưng Chúa cũng chỉ chọn có 144000 người mà thôi. Các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam hãy ngẫm nghĩ kỹ điều này và hãy tỉnh giấc mộng kê vàng. [Không những thế, trong Khải Huyền 9: 4, Thiên Chúa còn ra lệnh cho những con quái vật châu chấu giống như những con chiến mã, có khả năng châm chích như bọ cạp, không được phá hại cây cỏ mà chỉ nhắm vào những người không có dấu ấn của Thượng đế đóng trên trán.

    Quý vị tín đồ Ki-tô Việt Nam, nhất là các tín đồ tân tòng Tin Lành, những người tin vào những lời truyền đạo gian manh của giới giáo sĩ, nghĩ sao về chuyện này. Quý vị có thấy rằng mình đã bị đám mục sư, linh mục lừa bịp quý vị bằng một cái bánh vẽ trên trời mà dù có thật quý vị cũng không bao giờ có thể được hưởng theo như những lời không thể sai lầm của Chúa Tân Ước, nhất là trong sách Khải Huyền hay không? Quý vị có bao giờ nghĩ đến điều này hay không? Quý vị có bao nhiêu hi vọng được Chúa “cứu rỗi”, bốc cái xác chết đã rũa nát của quý vị (chắc chắn là ngày tận thế sẽ không xảy ra trong đời này của quý vị) lên thiên đường? Quý vị hãy dùng đến đầu óc một chút đi, và hãy cất bỏ gánh nặng thiên chúa trên vai của quý vị (đề nghị của mục sư Harry Wilson), đúng ra là gánh nặng giáo hoàng và các “bề trên” Công giáo hay gánh nặng Kinh Thánh Tin Lành. Hơn nữa, Giê-su là người như thế nào, có đáng để cho chúng ta trông mong vào sự “cứu rỗi” của ông ta không?

    Về những chuyện trong Tân Ước chứng tỏ đạo đức thấp kém của Giê-su,

    Giám Mục John Shelby Spong đã nhận định:

    Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

    Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

    Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. [10]

    Về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Giê-su thì không một người nào trong giới trí thức không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20 với hai giải Nobel:

    Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lãnh vực trí tuệ và đạo đức, Đức KiTô [Giê-su] không thể đứng ngang hàng với một số vĩ nhân khác trong lịch sử. Tôi nghĩ rằng tôi nên đặt Đức Phật và Socrates ở trên Giê-su trong hai lãnh vực này. [11]

    Trong cuốn Tân Ước có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách, đạo đức và trí tuệ thấp kém của Giê-su, nhưng thảm thay, trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy và tin là "Chúa toàn hảo", "Tình Yêu của Chúa" bao trùm thế gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và hãy hãnh diện là "đầy tớ hầu hạ Chúa", "thờ phụng Chúa". Người Việt Nam không phải là người Do Thái, ai cũng biết vậy, nhưng vẫn cần phải nhắc lại ở đây. Tuy nhiên chẳng có ai cấm người Việt nam tin rằng mình sẽ được Giê-su cứu chuộc như cứu chuộc người Do Thái, dù rằng Tân Ước đã viết rõ, không làm gì có chuyện cứu chuộc người phi-Do Thái. Nhưng chẳng có ai nghĩ đến chuyện là chính người Do Thái lại không tin Giê-su là đấng cứu tinh của họ và do đó đã từ chối không chấp nhận vai trò cứu chuộc của Giê-su.




    Thuần hóa tín đồ bằng những tín lý độc tài, ngụy tạo.

    Sau khi đưa ra một cái bánh vẽ cứu rỗi trên trời làm cho tín đồ mê hoặc về một cuộc sống đời đời trên một thiên đường mà giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận, Giáo hội bèn sử dụng mọi xảo thuật để nô lệ hóa đầu óc con người bằng những tín lý, tín điều ngụy tạo để tạo quyền lực cho giới chăn chiên. Bánh vẽ “cứu rỗi” có đó ở trên các tầng mây, nhưng tín đồ muốn được ơn cứu rỗi đó thì không thể tự mình hưởng ơn đó mà phải qua ngả các “bề trên”, nghĩa là phải tin tất cả những gì bề trên dạy, thường là những điều láo lếu nhưng những đầu óc thấp kém, cả tin nhắm mắt tin mà không cần hiểu. Một mặt, để nhốt tín đồ vào ngục tù trí thức, theo sách lược “ngu dân dễ trị”, Giáo hội cấm tín đồ tự đọc cuốn Kinh Thánh, sợ rằng họ sẽ nhận ra những điều sai trái về thần học cũng như về khoa học trong đó. Từ 1559, Giáo hội đã đưa ra danh sách những sách cấm tín đồ đọc, vi phạm “luật thánh” này sẽ bị vạ tuyệt thông. Theo Wikipedia thì đó là danh sách những ấn phẩm mà Giáo hội Công giáo kiểm duyệt vì nguy hiểm đến chính Giáo hội và đức tin của các tín đồ [The Index Librorum Prohibitorum ("List of Prohibited Books" or “Index of Forbidden Books”) is a list of publications which the Catholic Church censored for being a danger to itself and the faith of its members.] Trong danh sách những cuốn sách cấm đọc, với 32 ấn bản trong hơn 400 năm, từ 1559 đến 1966, chúng ta có thể đếm được 6892 đầu sách cấm tín đồ đọc, và trong mỗi ấn bản đều chứa những luật của Giáo hội về vấn đề đọc sách, bán sách và kiểm duyệt sách. [The various editions also contain the rules of the Church relating to the reading, selling and censorship of books.] Vì mơ tưởng ở một cái bánh vẽ trên trời nên các tín đồ cứ nhắm mắt tuân theo những luật quái gở phi trí thức này. Bởi vậy chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy kiến thức của tuyệt đại đa số tín đồ Công giáo các cấp quá thiếu sót, nghèo nàn, cho nên thường không đủ khả năng để đối thoại một cách nghiêm chỉnh, khoan nói đến chuyện thành công trong xã hội bên ngoài.


    Giáo hội Công giáo giữ độc quyền diễn giải Kinh Thánh và hầu hết các tín đồ, kể cả các “bề trên”, cũng chỉ được biết đến những đoạn vụn vặt mà Giáo hội chọn lọc để mê hoặc tín đồ, và lẽ dĩ nhiên, diễn giải những đoạn chọn lọc trong Thánh Kinh theo ý giáo hội bất kể sự thật, và cũng lẽ dĩ nhiên tuyệt đại đa số tín đồ cũng chỉ biết về đạo của họ qua những lời diễn giảng một chiều này. Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong những bài viết của một số Tổng Giám mục, Giám mục, Linh mục Việt Nam. Giáo lý nô lệ hóa tín đồ của Giáo hội đặt nặng trên truyền thống của Giáo hội, nghĩa là đặt nặng trên những điều “Giáo hội dạy rằng..” dù rằng những điều này không hề có trong Thánh Kinh. Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

    Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Công giáo dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. Vì Truyền Thống Công giáo (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

    Giáo hội Công giáo đã viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho mình. Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh. Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh thì người ta đã khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một Thiên chúa toàn năng, toàn trí….


    Thật vậy, về truyền thống giáo dục của Giáo hội Công Giáo do Thiên Chúa mạc khải, theo lời tự nhận của giáo hội, thì như thế nào? Chúng ta không thể không nhắc lại câu nói thời danh của Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập dòng Tên:


    “Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội [Công Giáo] quyết định như vậy do sự mạc khải của Thiên Chúa.“

    Giáo hội luôn luôn cho rằng có Thánh Linh hướng dẫn trong mọi sự việc, cho nên quyết định trắng thành đen có thể cũng là sự mạc khải của một Thiên Chúa toàn năng toàn trí của Giáo hội Công Giáo.

    Nhưng chúng ta phải công nhận là, làm cho tín đồ phải tin như trên, đi kèm với sách lược cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, cùng cấm đọc những tác phẩm, báo chí v..v.. mà giáo hội không cho phép để nhốt đầu óc của các tín đồ vào cái ngục tù tâm linh của giáo hội là sự thành công lớn nhất của Giáo hội Công giáo.
    Để nhốt tín đồ vào vòng nô lệ, Giáo hội đặt nặng giáo điều về “Đức Vâng Lời”, nghĩa là tín đồ phải tuyệt đối vâng lời các bề trên, vì Giáo hội hù dọa tín đồ: không vâng lời “bề trên” thì sẽ bị “Chúa phán xét”, linh hồn không được “cứu rỗi”. Đây là giáo lý đã làm cho những tín đồ Công giáo thường là chỉ biết đến Nước Chúa, chứ không quan tâm đến đất nước của tổ tiên, ông bà.

    Điều này rõ ràng hơn gì hết trong nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Trung, một tín đồ Công giáo, về Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam: “Tòa Thánh có đánh r… cũng khen thơm”. Điều này đã nói lên sự thực về bản chất nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam và cùng lúc, sự thành công của Giáo hội hoàn vũ đối với tuyệt đại đa số người Công giáo Việt Nam, một sự thực khá đau lòng đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam trước sự bất hạnh của 7% dân số theo đạo, nạn nhân của sách lược “ngu dân dễ trị’ của một định chế tôn giáo.

    Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo đạo gốc, trong một gia đình theo đạo từ thế kỷ 16, đã phải đau lòng mà viết rằng: “Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam phải gánh phần lớn trách nhiệm trong việc nhốt những con chiên của mình vào những chuồng tâm linh tăm tối”. Nhưng trách như vậy là Charlie Nguyễn đã lầm, vì đó là chính sách của Giáo hội Công Giáo, và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam chẳng qua chỉ gồm những thuộc hạ của Giáo hoàng và của tập đoàn chỉ đạo ở Vatican, và vì chính quyền lợi thế tục của họ mà họ phải duy trì chính sách này. Bởi vậy mà cho đến ngày nay mà tuyệt đại đa số tín đồ Công Giáo Việt Nam, kể cả một số trí thức Công Giáo, vẫn còn tin Giáo hoàng là đại diện của Chúa Giê-su trên trần, có quyền cho họ lên thiên đường hay tuyệt thông họ, và vẫn có những ông Linh mục như Linh mục Vũ Đức ở Detroit rao giảng: “Linh Mục là Chúa thứ hai” (alter Christus) v..v.., trong khi đối với giới hiểu biết thì chẳng làm gì có Chúa thứ nhất, khoan nói đến trên 5000 “Chúa thứ hai” đã từng đi cưỡng bách tình dục các nữ tu và trẻ con, cùng ăn cắp tiền của nhà thờ như tuần báo Time, số ngày 26 tháng 2, 2007, mới phanh phui, và phạm đủ mọi thứ tội như lịch sử đã ghi rõ.


    Về “Đức Vâng Lời” thì phải nói Công giáo Việt Nam tuân thủ vào hạng nhất. Gần đây khi phóng viên Thanh Trúc hỏi ý kiến của Giám mục Nguyễn Chí Linh về việc Giáo hoàng bổ nhiệm Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng Giám Mục phó tổng giáo phậnHà Nội thì được Giám mục Linh trả lời:

    Nhưng đối với chúng tôi là giám mục, điều quan trọng nhất là dù Đức Giáo Hoàng có bổ nhiệm ai đi nữa thì chúng tôi cũng có nghĩa vụ phải duy trì tình hiệp thông trong giáo hội. Cho nêntôi nghĩ cần phân biệtdư luận, truyền thông và tinh thần. Chúng tôi quan tâm nhất tới vấn đề tinh thần. Truyền thống lâu đời của giáo hội Công giáo là tuân phục sự bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng. Trên hết mọi sự, đối với chúng tôi, ý kiến riêng phải nhường chỗ cho tinh thần vâng phục và tình hiệp thông.

    Giám mục Linh không nhận thức được rằng, tinh thần vâng phục mù quáng chẳng qua chỉ là “tinh thần nô lệ”, và từ cái “tinh thần nô lệ” này, người Công giáo có thể làm tất cả những gì Vatican muốn, kể phản bội quốc gia như trong quá khứ. Mặt khác, một con người vô đạo đức như Giáo hoàng Benedict XVI thì vâng phục ông ta có nghĩa gì và có giá trị gì.


    Để nắm giữ đầu óc tín đồ từ ngày sinh ra đời đến ngày chết, và để tạo quyền lực cho giới chăn chiên trước đàn con chiên thấp kém, Giáo hội Công Giáo còn dựng lên những màn ảo thuật gọi là "bí tích" [sacraments], những lễ tiết tín đồ bắt buộc phải tin hiệu năng huyền nhiệm của chúng theo như những lời "giáo hội dạy rằng", dù giáo hội "bí đặc", không làm sao giải thích được tại sao lại phải tin như vậy, vì bản chất những "bí tích" này thuộc loại mê tín dị đoan. Giáo hội dạy rằng mọi “bí tích” này là do Chúa Giê-su lập ra, và con chiên nghe đến Chúa là mất hết lý trí, chỉ việc nhắm mắt tin theo. Trong cuộc thảo luận sau khi trình chiếu cuốn phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus của đài Discovery, khi được hỏi ý kiến về những sự kiện khoa học khám phá ra trong phim, một ông linh mục đã thản nhiên trả lời: “Đức tin là về sự huyền nhiệm, không về khoa học”

  5. #25

    Mặc định

    Để làm 1 tín đồ , ngày đêm đọc kinh cầu xin Chúa , xin sự bình an , hạnh phúc ,...rất dễ , bởi vì đa số con người tìm đến tôn giáo như 1 giải thoát , như 1 chỗ tựa , tôn giáo giới thiệu cho họ 1 thế giới rất đẹp , nơi thiếu vắng đau khổ , nơi hoàn hảo , ...giống như 1 xã hội trong tưởng tượng vậy đó . Những người bất hạnh , nghèo khổ thay vì thất vọng thì cứ trông chờ vào Chúa , những gì ở đời này chưa có được thì đời sau sẽ có . Thật hay giả thì ai mà biết . Vì thế , họ cứ sống tốt , cứ đọc kinh để vào được cái thế giới ấy . Ưu điểm : làm cho người ta có hy vọng , giúp cho ta sống đạo đức hơn . Nhược điểm : họ chưa hiểu được Thiên Chúa và họ dễ đi vào những điều cầu xin vô lý , khi không đáp ứng thì họ bảo Chúa không có thật , ....rất dễ mất niềm tin , gặp phải nhiều mâu thuẫn và làm cho họ càng không hiểu về Thiên Chúa . Nếu Thiên Chúa như bao tôn giáo khác thì những gì mà các bạn (quangcom , ka-el , vấn đạo , nhật nam ...) nhận xét về giáo lý đều không sai , nếu zhu nhìn dưới góc độ đó thì hơi đúng . Và khi đối diện với những lí lẽ đó , niềm tin sẽ bị lung lay vì nhận xét rất logic , không sai .

    Những tín đồ như trên cũng không ít . Nhưng , giá trị thật sự của TCG không chỉ ở đó . Nếu chỉ đạt những ưu điểm như trên thì bất cứ tôn giáo nào cũng có và TCG chỉ là lựa chọn phía sau so với các tôn giáo khác vì quá nặng về thần linh , ảo tưởng . Điều mà TCG mang lại lớn hơn và zhu cũng không thể nói cho cụ thể , ai có đạo , biết cách giữ đạo thì sẽ cảm nhận được điều đó . Trong kinh thánh Chúa cũng nói các phương pháp cả rồi , đi nhà thờ cha cũng giảng cả rồi , nhưng cùng là 1 điều nhưng sẽ có 2 hướng hiểu : thuần luân lí và thần học , đơn nhiên , kinh thánh giới thiệu cho chúng ta về Thiên Chúa , về thiên đàng ,...và những thứ siêu hình , tiềm ẩn . Ví dụ : " Phúc cho ai không thấy mà tin " , nếu thuần luân lí thì câu này hơi vô lý , ai nói gì cũng tin , thấy chưa chắc đã tin , nói gì không thấy , ...về thần học : niềm tin là do Chúa ban , câu này không phải để nói về đức tin lí trí , và giá trị niềm tin đối với Chúa , đối với ta ,...không phải 1 , 2 câu mà nói rõ , nó thuộc về cảm giác , trải nghiệm . TCG mang nặng về thần linh như thần thoại , và hệ thống lí luận cũng vậy , phải hiểu và cảm nhận . Không thể giải thích những điều không thể hình dung và vượt ngoài trí tuệ nhưng lại có cảm giác đúng đắn và cuộc sống cũng phản ánh sự đúng đắn đó .

    Nói chung , những gì các bạn viết , zhu đều đọc và suy nghĩ , đúng về mặt lí thuyết nhưng zhu vẫn tin vào chính bản thân mình trải nghiệm hơn . Những bài học , lời Chúa trong kinh thánh có tác động tích cực hơn và trái ngược với những gì các bạn nói về mê tín . Cây tốt , trái tốt , không thể trái tốt mà cây xấu

  6. #26

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi thanchet.taisinh Xem Bài Gởi
    â DI DÀ PHẬT TIỂU ĐỆ XIN GÓP Ý NHƯ SAU

    Thật là nhục nhã, những bộ mặt tôn giáo giả nhân giả nghĩa, từ giáo hoàng trở xuống, đã bị phanh phui ra trước thế giới, không còn có thể che đậy được nữa, dù có lấy mo che. Tuy nhiên, đối với con chiên Việt Nam thì Giáo hội Công giáo vẫn là một “hội thánh” như được viết trên các trang nhà Công giáo một cách không ngượng ngùng. Điển hình là trên VietCatholic ta có thể đọc những câu đại khái như “Đường “hội thánh” đi là đường vinh quang” bất kể đến cái lịch sử ô nhục của cái gọi là “hội thánh” Công giáo. Tôi không hiểu vinh quang ở chỗ nào, thật là tội nghiệp. Thay vì ngẩng mặt lên trong vinh quang thì người Công giáo, một khi còn ở trong cái gọi là “hội thánh” đó, nên cúi mặt trước các tôn giáo khác, vì với cái lịch sử đồi bại ô nhục đẫm máu của Công giáo, không còn mặt mũi nào trước Tam Giáo. Đó là thái độ thích hợp nhất đối với những người còn đôi chút liêm sỉ.

    Qua điểm tin từ những tờ báo nổi tiếng tại : Anh quốc, Pháp quốc, Ý, và Hoa Kỳ ...nhà bình luận có tên là Richard de la Cure kết luận như sau :

    ..."Đạo công giáo đang đi vào ngỏ cụt, và hao tốn, vị giáo hoàng hiện nay bất lực kèm theo lo lắng nay mai sẻ bị thải hồi, và nhất là thế giới nguyền rủa, căm thù ...mà từ trước đến nay Vatican thường tuyên bố .." đạo công giáo là một tôn giáo bác ái và Yêu thương hay thường gọi là công giáo hoàn cầu "...nay đang trên con đường lụi bại và nhục nhả.

    Thật ra thì không thể nói là toàn thể giới linh mục xảo quyệt và khốn nạn. Chúng ta có thể chia họ ra làm hai loại. Loại thứ nhất gồm những người mà chính bản thân họ cũng đã bị điều kiện hóa và thuần hóa để trở nên cuồng tín một cách ngu muội và cứ thế truyền lại cho đám giáo dân thấp kém ở dưới, từ đời này sang đời khác. Loại thứ nhì gồm những người “bất lương trí thức”, chính họ cũng đã biết những chuyện nhảm nhí hoang đường của Ki Tô Giáo, nhưng vì quyền lợi thế tục, về địa vị ưu việt đối với đám giáo dân ở dưới nên họ vẫn tiếp tục che dấu sự thật, lừa dối giáo dân bằng những hứa hẹn hoang đường.

    Nhưng thực ra Giê-su là con người như thế nào, các công cuộc nghiên cứu về Giê-su của giới học giả trí thức trong vòng 200 năm nay đã có thể giải đáp cho chúng ta vấn nạn này. Tôi đã viết tạm gọi là đầy đủ về những giải đáp này trong cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?”. Ở đây tôi chỉ muốn nhắc lại một tài liệu điển hình:

    Học giả Russell Shorto, sau khi duyệt qua những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su trong vòng 200 năm gần đây, đã đưa ra một kết luận trong cuốn “Sự thật trong Phúc Âm” như sau:

    Bữa ăn chiều cuối cùng, chuyện Giê-su sinh ra từ một nữ đồng trinh, chuyện Giê-su sống lại: người ta đã khảo nghiệm từng cái đà một của ngôi nhà Ki Tô Giáo. Các học giả nghiên cứu Thánh Kinh – một thời đã từng là các nhà bảo vệ nền thần học của Ki Tô Giáo – nay đã viện đến các ngành khảo cổ, cổ sinh vật học, ngữ học, điện toán, và ngay cả môn vật lý các hạt nhỏ để tìm hiểu câu hỏi “Giê-su Là Ai?” Kết quả là một sự duyệt lại căn bản những chuyện trong Phúc Âm, thật rõ ràng một cách ngạc nhiên, và đối với một số người, là một cú sốc.. Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Công giáo bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

    Đây chính là vấn đề đối với giới chăn chiên. Họ chỉ muốn giữ con chiên của họ trong vòng ngu dốt bằng cách che dấu, bưng bít mọi sự thật có ảnh hưởng đến niềm tin vào những chuyện hoang đường mà họ đã cấy vào đầu óc của đám tín đồ đáng thương.

    a). Như vậy, trong giới chăn chiên, loại người thứ nhất là những người cuồng tín, đần độn (fanatic, stupid), có nghĩa là, vẫn còn bám vào những tín lý đã lỗi thời, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của con người về vấn đề tôn giáo, và nhắm mắt bác bỏ mọi sự kiện trái nghịch với niềm tin của mình. Mục sư Tin Lành Ernie Bringas gọi những đầu óc đần độn này là những đầu óc có một khuyết tật (an astrolabe mind), một loại đầu óc cũ kỹ trong đó có một khoảng cách kiến thức về tôn giáo, và khoảng cách này đã đưa những người có đầu óc như vậy về trình độ của thế kỷ 17. Họ được nhồi sọ để tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, được huấn luyện kỹ để mang những đoạn vụn vặt trong Thánh Kinh ra giảng một cách méo mó, lệch lạc, ngoài ngữ cảnh của toàn bộ vấn đề (out of context) trong khi kiến thức tổng quát của họ về Thánh Kinh, về lịch sử Ki Tô Giáo, và về những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay thường rất hạn hẹp.
    b). Còn loại người thứ hai là loại bất lương trí thức như Russell Shorto đã viết ở trên, nghĩa là những người đã biết rõ sự thật về những huyền thoại trong Ki Tô Giáo, về những ngụy tạo thần học trong giáo hội, nhưng vì những quyền lợi vật chất và tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, nên vẫn tiếp tục diễn giải Thánh Kinh một cách vụn vặt, lắt léo, hoặc tiếp tục đưa ra những luận điệu thần học lừa dối đã lỗi thời, những tín lý, tín điều đã bị giới trí thức trên thế giới, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, dứt khoát bác bỏ vì chúng thuộc loại huyền thoại của người Do Thái cách đây đã trên dưới 2000 năm, để mê hoặc những đầu óc thấp kém, cả tin, đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn vật chất v..v.. ở trong những quốc gia kém phát triển về kinh tế, để lùa họ vào trong tín ngưỡng Ki-Tô, tín ngưỡng đang suy thoái ở trong các quốc gia văn minh tiến bộ.

    Sau đây chúng ta hãy đi vào phần phân tích để xem giới chăn chiên đã dùng những thủ đoạn gì để điều kiện hóa và thuần hóa tín đồ, khiến cho họ trở thành những nô lệ tâm linh của các “bề trên”.



    I.- Mê hoặc tín đồ thấp kém bằng những luận điệu thần học hoang đường ngụy tạo.

    Giáo hội Công giáo đưa ra một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời, dựa trên những huyền thoại của người Do Thái trong cuốn sách gọi là Kinh Thánh gồm Cựu Ước và Tân Ước. Nhưng đọc Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân ước, chúng ta thấy tất cả những chuyện trong đó đều viết về dân tộc Do Thái, các tên Do Thái, và một vài vùng đất trong miền Trung Đông. Các học giả ngày nay đều đồng ý là, cuốn Kinh Thánh chỉ là những huyền thoại về lịch sử Do Thái trong thời bán khai, trí tuệ chưa mở mang, tuyệt đối không có liên hệ đến bất cứ một quốc gia nào khác. Như chúng ta đã biết, những nghiên cứu về Giê-su trong vòng 200 năm nay của các học giả đã đưa đến kết luận: Giê-su chỉ là một người Do Thái thường, sống với ảo tưởng, tin mình là con của Gót (God) của Do Thái, có nhiệm vụ xuống trần để cứu dân Do Thái, và chỉ dân Do Thái mà thôi.

    Nền thần học Ki Tô Giáo đã ngụy tạo, khai triển ảo tưởng trên của Giê-su và đưa Giê-su lên làm đấng cứu thế cho cả nhân loại, và hứa hẹn một cái bánh vẽ cứu rỗi ở trên trời cho những đầu óc yếu kém trong quá trình bành trướng, truyền đạo bằng võ lực, mê hoặc đầu óc con người trên khắp thế giới. Với những xảo thuật truyền đạo bịp bợm, Công giáo đã thành công làm cho tín đồ tin rằng Giê-su là Chúa Cứu Thế có thể ban phát ơn “cứu rỗi” cho những người nào tin ông ta. Nhưng vì đa số tín đồ là những bàn dân thấp kém, ít học hay vô học, không có khả năng tự mình tìm hiểu Kinh Thánh, nhất là Tân ước, chỉ nghe những lời giảng bậy của các Linh mục, mục sư, nên những người phi – Do Thái trong đó có người Việt Nam vẫn tin là mình có thể được cứu rỗi, trong khi thực chất “cứu rỗi” chỉ là một cái bánh Ki Tô Giáo vẽ trên trời. Tôi cảm thấy rất tội nghiệp cho những tín đồ Ki Tô Giáo, tin vào những chuyện không thể tin được, những chuyện mà bản chất chỉ là những sự lừa dối sai sự thực để kéo con người vào vòng nô lệ tâm linh của Ki Tô Giáo. Chứng minh?

    Tại sao nhân loại cần đến ơn “cứu rỗi” của Giê-su?

    Đây là câu hỏi mà người ta đã đặt cho Giáo Hoàng John Paul II. Thật vậy:

    Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, xuất bản năm 1995, trang 76, để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, giáo hoàng John Paul II đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm, John 6: 13, làm luận điểm giải thích, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”. Như vậy “cứu rỗi” là để được sống đời đời, một hứa hẹn vô trách nhiệm trước những người vốn không có đầu óc suy nghĩ. Tại sao? Vì câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” mà là một khẳng định về đức tin Công giáo gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý và hoang đường nếu họ không chịu nhắm mắt mà tin.

    Điều này thật là rõ ràng vì, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã phải thú nhận là “không làm gì có thiên đường trên các tầng mây” (Heaven is not a physical place above the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế” (Hell is not a punishment imposed externally by God).

    Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong lòng đất, Giáo Hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong vòng sợ hãi và mê tín. Đa số tín đồ Công giáo không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của Giáo Hoàng. Một số thuộc hạ của Giáo Hoàng giải thích để biện hộ cho Giáo Hoàng: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo. Người ngoài giáo hội thì cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty), vì giáo hội đã biết là không làm gì có thiên đường hay hỏa ngục, mà vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một hỏa ngục giả tưởng.

    Phân tích ra thì câu John 3: 16 ở trên: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, và câu tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế”, theo tôi, là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước vì những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Thật vậy, chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết. Như được viết rõ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su có đầu óc bất bình thường (trong Tân Ước viết: out of his mind), cho nên chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này mà lại còn thường mang nó ra mà trích dẫn trên một số diễn đàn của các giáo dân Ki Tô Giáo ở hải ngoại. Thật là tội nghiệp.

    Nếu giáo hoàng John Paul II không chịu giảng “tại sao nhân loại cần cứu rỗi’ mà chỉ nói tầm bậy về một câu tầm bậy trong Tân Ước thì nền Thần học Ki Tô Giáo có thể soi sáng cho chúng ta về vấn đề này. Lý luận thần học của Ki Tô Giáo về “ơn cứu rỗi” của Giê-su có thể tóm tắt trong vài câu như sau:

    - Ý niệm về sự cứu rỗi lập căn bản trên sự kiện loài người đang sống trong tình trạng hư mất, vì vậy họ cần được cứu. Theo quan điểm Cơ Đốc, con người bị đặt dưới sự đoán phạt của Thiên Chúa vì cớ nguyên tội (tội tổ tông) mà chúng ta thừa kế từ sự sa ngã của Adam (thừa kế bản chất tội lỗi của Adam sau khi phạm tội).

    - Người Ki Tô Giáo tin rằng nhân loại được tạo nên chỉ để có một mối quan hệ với Thượng đế, nhưng tội lỗi đã tách biệt mọi người với Thượng đế. Người Ki-Tô tin rằng sau khi chết trên cây thập giá, Đức Ki-Tô được chôn, Ông ta lại sống lại, và nay sống bên tay phải của Thượng đế, để mãi mãi làm trung gian hòa giải với Thượng đế cho những tín đồ. Ki Tô Giáo khẳng định rằng cái chết của Giê-su trên cây thập giá là đủ để trả hoàn toàn cái nợ tội lỗi [đối với Thượng đế] của mọi người và điều này đã hồi phục mối quan hệ đã đổ vỡ giữa Thượng đế và con người.

    Kinh Tin Kính của các Tông đồ viết về đức tin và hi vọng căn bản của người Ki Tô Giáo như sau:

    Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi…

    chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác,

    xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại…

    ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

    Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại…

    Tôi tin hằng sống vậy.

    Đó là căn bản đức tin và niềm hi vọng trong Ki Tô Giáo. Với đức tin này người Ki Tô Giáo hi vọng ở những gì. Vì tin rằng Chúa Giê-su “ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết” và tin rằng “xác loài người ngày sau sống lại” Người Công giáo Việt Nam rất hi vọng được Chúa Giê-su, đến ngày phán xét, hóa phép làm cho thân xác của họ, bất kể chết từ bao giờ, chết trên giường bệnh, già, bình thường, hay chết tan xác ngoài mặt trận, sống lại, hợp với linh hồn của họ mà sau khi chết đã được giữ [ai giữ?] trong một kho chứa của Chúa, và rồi, cả hai phần hồn và phần xác, được Chúa cho lên thiên đường để hằng sống, đời đời hầu hạ việc Chúa. Phải nói là “hầu hạ việc Chúa” vì trên thế gian này, người Ki Tô giáo Việt Nam thường tự nhận là tôi tớ, tỳ nữ hầu hạ việc Chúa, đúng ra là hầu hạ các linh mục, mục sư, với hi vọng là sau khi chết, đến ngày phán xét, được lên thiên đường sống cuộc sống đời đời để tiếp tục hầu hạ Chúa.

    Đọc về những niềm tin của người Ki-Tô Giáo ở trên chúng ta thấy rõ người Ki Tô Giáo chỉ tin chứ không hiểu. Thật vậy, ngày nay không còn mấy người tin rằng Thượng đế của Ki Tô Giáo đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài cách đây khoảng 6 ngàn năm, và trong 6 ngày, và trước những bằng chứng bất khả phủ bác của khoa học về sự tiến hóa của con người mà chính Giáo hoàng John Paul II đã phải lên tiếng chấp nhận, cũng chẳng còn mấy người tin vào cái huyền thoại về tội tổ tông.

    Chúng ta thấy, thuyết thần học Ki Tô về sự cứu chuộc và cứu rỗi của Chúa Giê-su đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước Nhưng ngày nay, trừ những giáo dân ít học và kém hiểu biết, có còn ai tin vào huyền thoại "tội tổ tông" nữa đâu. “Tội Tổ Tông” là một huyền thoại đã lỗi thời, và người nào còn nhắc đến nó, tin nó, chỉ tự chứng tỏ mình là người có đầu mà không có óc, thiếu học vấn

    Thật vậy, Trước những kết quả nghiên cứu Thánh Kinh bất khả phủ bác của giới học giả, huyền thoại về “tội tổ tông” đã không còn một giá trị trí thức nào ngay trong giới lãnh đạo của Ki Tô Giáo. Chúng ta hãy đọc vài tài liệu về “tội tổ tông” của giới trí thức Tây phương.

    Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đã viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

    Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lý và quan niệm sai lầm vẫn còn tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đã tự ý loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII) không thấy là điều giảng dạy mới của mình dẫn tới đâu, thì hàng trăm nhà thần học và giám mục đã thấy. Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đã từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác.

    Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết”
    Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.

    Và chính Giáo Hoàng John Paul II cũng đã phát biểu năm 1996:

    Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

    Đọc thêm các tác phẩm nghiên cứu của một số vị trong hàng giáo phẩm Công Giáo cũng như Tin Lành, chúng ta thấy rõ một số đã biểu lộ sự lương thiện trí thức của họ trước những sự kiện khoa học không ai có thể phủ nhận qua những nhận định như sau:

    “Không có bất cứ một hình ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. Hình ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái hình ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn giải về Giê-su. Đó là cái hình ảnh của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế” (the divine rescuer)."

    Và Linh mục Công giáo James Kavanaugh cho rằng “ơn cứu rỗi” chỉ là một huyền thoại
    “Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy, trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ khi mới sinh ra đời. Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ, chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con mình. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai
    Tôi chấp nhận sự kiện là Giê-su đã chết, và ngay cả đã bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận cái huyền thoại là cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại “cứu rỗi” trong Tân ước chỉ là một cách diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời bán khai, bản chất của nó giống như những huyền thoại của các dân tộc bán khai ở khắp nơi, nhưng nó hoang đường và độc ác hơn hầu hết các huyền thoại khác.
    Như vậy, “ơn cứu rỗi của Chúa Giê-su” chẳng qua chỉ là một cái bánh vẽ trên trời , đúng như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định (A pie-in-the-sky), mà Ki Tô Giáo vẫn còn dùng làm mồi để nhử những đầu óc ngu ngơ ngốc nghếch. Đúng vậy, nếu đã không có gì có thể gọi là “tội tổ tông” thì vai trò chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su chỉ là luận điệu thần học bịp bợm của các giáo hội Ki Tô, và riêng đối với Công giáo thì tín lý tuyên dương bà Mary, mẹ của Giê-su, là “Mẹ Thiên Chúa”, “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội” v..v.. cũng chỉ là những mánh mưu thần học của Công giáo để mê hoặc đám tín đồ vốn không có mấy đầu óc.
    Vấn nạn của các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam là tại sao họ vẫn còn vác cái gánh nặng Thiên Chúa trên vai, biết rằng một Thiên Chúa như được viết trong Kinh Thánh, một Thiên Chúa mà Richard Dawkins đã đưa ra những nhận định về các thuộc tính như sau trong cuốn “The God Delusion”, trang 51:

    Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

    Một Thiên Chúa như vậy có đáng để chúng ta kính trọng, khoan nói đến thờ phụng, không?

    Vậy tại sao các tín đồ Ki Tô Giáo không đủ can đảm loại bỏ một Thiên Chúa như vậy ra khỏi đầu óc họ như cả mấy tỷ người trên thế giới đã làm, nhất là Thiên Chúa đó chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái. Họ sợ rằng, sau khi loại bỏ Thượng đế ra khỏi đầu óc thì họ còn lại gì? Đó là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, và từ đó có thể giải thích về sự hiện hữu của những sự xấu trên thế giới, và từ đó, con người hãy phục vụ con người thay vì đi phục vụ một đấng ác ôn không ai biết, không ai hiểu, không ai thấy. Trong tất cả các thiên tai, bệnh tật v..v.., chúng ta chỉ thấy con người cứu giúp con người chứ có thấy mặt Thiên Chúa ở đâu khoan nói đến chuyện là, theo niềm tin của Ki Tô Giáo, tất cả những sự đau khổ giáng lên đầu con người đều là tác phẩm của Thiên Chúa cả. Và không phải chỉ có người Ki-Tô mới làm những việc thiện, cứu giúp đồng loại, mà trên thế giới phần lớn là những người phi-KiTô, không tin là có Thiên Chúa.

    Vì đặt tất cả niềm tin mù quáng vào những điều ngụy biện hoang đường của nền thần học Ki Tô Giáo cho nên các tín đồ mới cứ tin rằng mình có tội thật đối với một nhân vật thần thoại Do Thái ác ôn như vậy, và do đó mới mơ tưởng tới ơn “cứu rỗi” của một Thiên Chúa mà thực ra chúng ta cần phải vứt bỏ nó đi trong đầu óc của chúng ta.

    Nhưng thật ra tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam có hi vọng được Giê-su cứu chuộc hay cứu rỗi không?

    Câu trả lời là một chữ “KHÔNG” khẳng định. Chữ “KHÔNG” này là do chính Chúa Giê-su khẳng định trong Tân Ước chứ không phải là của tôi. Chứng minh?

    Trước hết, người Việt Nam hiển nhiên không phải là người Do Thái, câu này nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thực ra lại rất quan trọng. Tại sao lại quan trọng? Vì đọc Tân Ước, chúng ta thấy: Giê-Su sẽ chỉ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi mà thôi (Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và sẽ ngự trị trên dân Do Thái đời đời mà thôi (Luke 1: 33: And He will reign over the house of Jacob for ever). Ngoài ra chúng ta cũng còn thấy là Giê-su rất ghét những người không phải là Do Thái (Matthew 15: 21-28). Và Thánh Paul khẳng định, Hebrew 13: 8: “Giê-su Ki Tô luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi.” (Jesus Christ is the same yesterday, today, and forever). Điều này có nghĩa là Giê-su sinh ra đời chủ trương chỉ cứu chuộc người Do Thái mà thôi v.. v.., và thái độ bộc lộ ghét người phi-Do Thái của Giê-su, không bao giờ thay đổi. Vậy thì những sắc dân phi – Do Thái, trong đó có Việt Nam, mong cái gì ở Giê-su? Tôi không hiểu các trí thức theo Công giáo Rô-ma ở Việt Nam có đọc Tân ước không và có biết đến những điều này hay không. Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình một cuộc sống đời đời trên một Thiên Đường mà chính giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận sự hiện hữu.

    Thật vậy, câu chuyện sau đây trong Tân Ước sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:

    "Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su "Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng." Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: "Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta." Nhưng Giê-Su trả lời: "Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi." Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: "Chúa ơi, hãy giúp tôi." Nhưng Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào." Và người đàn bà kia nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ." Rồi Giê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà." Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó." [8]

    Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên,

    Tiến Sĩ Madalyn O'Hair bình luận như sau:

    Trừ phi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học.

    Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn Scandalous Saints, trang 214:

    Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?" Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

    Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc khải của Thiên Chúa, "Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8) Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi thì vừa. [9]

    Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong những câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Ki-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng cho mình có cùng một thân phận và lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không còn trên thế gian nữa. Nhưng hi vọng của họ được Giê-su cứu rỗi có thể thể thành tựu được không? Nếu còn đầu óc thì hãy suy nghĩ cho kỹ chuyện này và mang ra hỏi các bậc chăn chiên của mình là dựa vào đâu trong Tân Ước mà cho rằng người Việt Nam sẽ được Giê-su cứu rỗi.

    Nhưng thực ra, Giê-su có phải là Thiên Chúa hay không?

    Và dù có là Thiên Chúa đi nữa thì trí tuệ và tư cách của ông ta có đáng để cho chúng ta hi vọng vào một ơn “cứu rỗi” của ông ta hay không? Đọc Tân Ước, chúng ta đã thấy rằng, cũng giống như Cha ông ta trong Cựu Ước, Giê-su là một người có những đặc tính tiêu biểu là: tính tình độc ác, dễ nổi nóng, tự phụ, nhỏ nhen, thích nguyền rủa, lời nói không đi đôi với việc làm, tiền hậu bất nhất, khi nói suôi, khi nói ngược, và phần lớn là về “cái Ta” của ông ta. Rất rõ ràng trong Tân Ước, chẳng cần phải chứng minh.

    Những tín đồ Ki Tô Giáo cuồng tín thường cho là mình có nhiệm vụ đi rao giảng “Tin Mừng Phúc Âm” cho mọi người trên thế giới. Họ thành công phần nào vì họ chỉ rao truyền tin mừng cho những người thấp kém, ít học trong xã hội, và vì vậy không có ai đặt câu hỏi hay chất vấn họ khi họ giảng những điều láo lếu, không đúng sự thực, về Chúa Giê-su của họ. Nhưng Giê-su sinh ra có phải là để mang tin mừng cho nhân loại không? Ông ta nói:

    Matthew 10: 34-36: “Đừng tưởng rằng ta xuống đây để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không tới để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì ta tới để làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.”

    Và Luke 12: 51-53: Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới. Không, Ta đến để chia loài người làm hai. Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

    Đó có phải là những “tin mừng” cho gia đình và xã hội không? Người nào bảo phải, xin mời lên tiếng. Hơn nữa, Giê-su còn thường nguyền rủa những người không tin ông ta:

    “Hãy mang những kẻ thù của ta, những người không muốn ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta” , cùng đe dọa những người rời bỏ ông ta phải được gom lại như cành củi, làm cho khô héo và mang đi đốt, làm tiền lệ cho giáo hội Công giáo đi tra tấn rồi thiêu sống những kẻ mà giáo hội cho là lạc đạo. [John 15: 6: If anyone does not abide in me, he is cast out as a branch and is withered; and they gather them and throw them into the fire, and they are burned]

    Ông ta cũng còn dọa những người không tin ông ta sẽ bị đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa thiêu đốt vĩnh viễn. Chúng ta hãy đọc lời ông phán trong ngày phán xét, ngày mà các tín đồ Ki Tô Giáo hi vọng được Giê-su họp hồn với xác và cho họ lên Thiên đường (mù):

    “Rồi ta sẽ nói với những kẻ ở phía bên tay trái: “Hãy cút đi cho khuất mắt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, để đi vào ngọn lửa vĩnh hằng nhúm sẵn cho quỷ và những thiên thần của nó”

    [Tiếng Anh nguyên văn là, Matthew 25: 41: “Depart from me, you cursed, into the everlasting fire prepared for the devil and his angels” nhưng Kinh Thánh Tin Lành tiếng Việt đã dịch “devil and his angels” là “ma quỉ và những quỉ sứ (của) nó”. Dịch angel là quỉ sứ chắc là để tránh một điều hiển nhiên trong Kinh Thánh là Quỷ cũng có những thiên thần làm tay sai y như Thượng đế. TCN]

    Những kẻ ở phía bên tay trái là những ai?

    Đó là những người không phải thuộc 12 bộ lạc Do Thái, như sách Khải Huyền đã viết rõ:

    Khải Huyền 7: Sau đó tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn góc địa cầu [nguyên văn từ Kinh Thánh Việt Nam, quả địa cầu của Ki Tô Giáo có hình tứ giác, có bốn góc] cầm giữ gió bốn phương trên đất, khiến cho khắp đất, biển và cây cối đều bất động. Tôi lại thấy một thiên sứ khác đến từ phương Đông, cầm con dấu (seal) của Thượng đế hằng sống. Thiên sứ này lớn tiếng kêu gọi bốn thiên sứ đã được Thương đế ban quyền cho làm hại đất và biển (who had been given power to harm the land and the sea): Đừng làm hại đất, biển và cây cối cho đến khi chúng ta đóng dấu ấn lên trán của những tôi tớ Chúa. Rồi tôi nghe thấy số người được đóng dấu ấn trên trán, tất cả là 144000 (một trăm bốn mươi bốn ngàn) thuộc 12 bộ lạc của Israel, mỗi bộ lạc là 12000 người. Những người được đóng dấu ấn của Thượng đế trên trán là những người được Chúa chọn để cho lên thiên đường sống một cuộc sống đời đời với Chúa, vì Kinh Thánh viết rõ “Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn” và Chúa cũng đã phán, Matthew 7: 21-23: “Không phải người nào gọi Ta là Chúa cũng được vào nước trời... Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người kêu nài: “Thưa Chúa, chúng tôi đã giới thiệu Chúa cho nhiều người, đã dùng danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ [Công giáo đã ngụy tạo ra nhiều phép lạ như ở Fatima, Lourdes, La Vang v…v…] . Nhưng ta sẽ đáp: “Ta không hề biết các ngươi! Hãy cút đi cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác”
    Bịp bợm, dối trá, lợi dụng lòng mê tín của tín đồ để vơ vét của cải, tiền bạc, loạn dâm, đạo đức giả v..v.. có phải là việc gian ác hay không? Ngụy tạo phép lạ, tín lý, bí tích để tạo quyền lực thế tục cho giới giáo sĩ v..v.. có phải là việc gian ác hay không? Cưỡng bách cải đạo, giết người ngoại đạo, tra tấn, thiêu sống người lạc đạo v..v.. có phải là việc gian ác không? Ai trả lời không, xin lên tiếng. Các “hội thánh” Ki-tô, trong 2000 năm nay đã làm những gì? Có làm điều gì gian ác không? Và ai lên thiên đường? Ai xuống hỏa ngục?

    Chúng ta để ý, Chúa chỉ chọn 144000 người trong 12 bộ lạc Do Thái, không thấy Chúa nói đến các bộ lạc Bùi Chu, Phát Diệm hay Hố Nai, Gia Kiệm, hay Bolsa, San Jose, Sydney. Dân Do Thái là dân được Chúa chọn (chosen people) nhưng Chúa cũng chỉ chọn có 144000 người mà thôi. Các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam hãy ngẫm nghĩ kỹ điều này và hãy tỉnh giấc mộng kê vàng. [Không những thế, trong Khải Huyền 9: 4, Thiên Chúa còn ra lệnh cho những con quái vật châu chấu giống như những con chiến mã, có khả năng châm chích như bọ cạp, không được phá hại cây cỏ mà chỉ nhắm vào những người không có dấu ấn của Thượng đế đóng trên trán.

    Quý vị tín đồ Ki-tô Việt Nam, nhất là các tín đồ tân tòng Tin Lành, những người tin vào những lời truyền đạo gian manh của giới giáo sĩ, nghĩ sao về chuyện này. Quý vị có thấy rằng mình đã bị đám mục sư, linh mục lừa bịp quý vị bằng một cái bánh vẽ trên trời mà dù có thật quý vị cũng không bao giờ có thể được hưởng theo như những lời không thể sai lầm của Chúa Tân Ước, nhất là trong sách Khải Huyền hay không? Quý vị có bao giờ nghĩ đến điều này hay không? Quý vị có bao nhiêu hi vọng được Chúa “cứu rỗi”, bốc cái xác chết đã rũa nát của quý vị (chắc chắn là ngày tận thế sẽ không xảy ra trong đời này của quý vị) lên thiên đường? Quý vị hãy dùng đến đầu óc một chút đi, và hãy cất bỏ gánh nặng thiên chúa trên vai của quý vị (đề nghị của mục sư Harry Wilson), đúng ra là gánh nặng giáo hoàng và các “bề trên” Công giáo hay gánh nặng Kinh Thánh Tin Lành. Hơn nữa, Giê-su là người như thế nào, có đáng để cho chúng ta trông mong vào sự “cứu rỗi” của ông ta không?

    Về những chuyện trong Tân Ước chứng tỏ đạo đức thấp kém của Giê-su,

    Giám Mục John Shelby Spong đã nhận định:

    Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

    Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

    Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. [10]

    Về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Giê-su thì không một người nào trong giới trí thức không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20 với hai giải Nobel:

    Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lãnh vực trí tuệ và đạo đức, Đức KiTô [Giê-su] không thể đứng ngang hàng với một số vĩ nhân khác trong lịch sử. Tôi nghĩ rằng tôi nên đặt Đức Phật và Socrates ở trên Giê-su trong hai lãnh vực này. [11]

    Trong cuốn Tân Ước có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách, đạo đức và trí tuệ thấp kém của Giê-su, nhưng thảm thay, trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy và tin là "Chúa toàn hảo", "Tình Yêu của Chúa" bao trùm thế gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và hãy hãnh diện là "đầy tớ hầu hạ Chúa", "thờ phụng Chúa". Người Việt Nam không phải là người Do Thái, ai cũng biết vậy, nhưng vẫn cần phải nhắc lại ở đây. Tuy nhiên chẳng có ai cấm người Việt nam tin rằng mình sẽ được Giê-su cứu chuộc như cứu chuộc người Do Thái, dù rằng Tân Ước đã viết rõ, không làm gì có chuyện cứu chuộc người phi-Do Thái. Nhưng chẳng có ai nghĩ đến chuyện là chính người Do Thái lại không tin Giê-su là đấng cứu tinh của họ và do đó đã từ chối không chấp nhận vai trò cứu chuộc của Giê-su.




    Thuần hóa tín đồ bằng những tín lý độc tài, ngụy tạo.

    Sau khi đưa ra một cái bánh vẽ cứu rỗi trên trời làm cho tín đồ mê hoặc về một cuộc sống đời đời trên một thiên đường mà giáo hoàng John Paul II đã phủ nhận, Giáo hội bèn sử dụng mọi xảo thuật để nô lệ hóa đầu óc con người bằng những tín lý, tín điều ngụy tạo để tạo quyền lực cho giới chăn chiên. Bánh vẽ “cứu rỗi” có đó ở trên các tầng mây, nhưng tín đồ muốn được ơn cứu rỗi đó thì không thể tự mình hưởng ơn đó mà phải qua ngả các “bề trên”, nghĩa là phải tin tất cả những gì bề trên dạy, thường là những điều láo lếu nhưng những đầu óc thấp kém, cả tin nhắm mắt tin mà không cần hiểu. Một mặt, để nhốt tín đồ vào ngục tù trí thức, theo sách lược “ngu dân dễ trị”, Giáo hội cấm tín đồ tự đọc cuốn Kinh Thánh, sợ rằng họ sẽ nhận ra những điều sai trái về thần học cũng như về khoa học trong đó. Từ 1559, Giáo hội đã đưa ra danh sách những sách cấm tín đồ đọc, vi phạm “luật thánh” này sẽ bị vạ tuyệt thông. Theo Wikipedia thì đó là danh sách những ấn phẩm mà Giáo hội Công giáo kiểm duyệt vì nguy hiểm đến chính Giáo hội và đức tin của các tín đồ [The Index Librorum Prohibitorum ("List of Prohibited Books" or “Index of Forbidden Books”) is a list of publications which the Catholic Church censored for being a danger to itself and the faith of its members.] Trong danh sách những cuốn sách cấm đọc, với 32 ấn bản trong hơn 400 năm, từ 1559 đến 1966, chúng ta có thể đếm được 6892 đầu sách cấm tín đồ đọc, và trong mỗi ấn bản đều chứa những luật của Giáo hội về vấn đề đọc sách, bán sách và kiểm duyệt sách. [The various editions also contain the rules of the Church relating to the reading, selling and censorship of books.] Vì mơ tưởng ở một cái bánh vẽ trên trời nên các tín đồ cứ nhắm mắt tuân theo những luật quái gở phi trí thức này. Bởi vậy chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy kiến thức của tuyệt đại đa số tín đồ Công giáo các cấp quá thiếu sót, nghèo nàn, cho nên thường không đủ khả năng để đối thoại một cách nghiêm chỉnh, khoan nói đến chuyện thành công trong xã hội bên ngoài.


    Giáo hội Công giáo giữ độc quyền diễn giải Kinh Thánh và hầu hết các tín đồ, kể cả các “bề trên”, cũng chỉ được biết đến những đoạn vụn vặt mà Giáo hội chọn lọc để mê hoặc tín đồ, và lẽ dĩ nhiên, diễn giải những đoạn chọn lọc trong Thánh Kinh theo ý giáo hội bất kể sự thật, và cũng lẽ dĩ nhiên tuyệt đại đa số tín đồ cũng chỉ biết về đạo của họ qua những lời diễn giảng một chiều này. Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong những bài viết của một số Tổng Giám mục, Giám mục, Linh mục Việt Nam. Giáo lý nô lệ hóa tín đồ của Giáo hội đặt nặng trên truyền thống của Giáo hội, nghĩa là đặt nặng trên những điều “Giáo hội dạy rằng..” dù rằng những điều này không hề có trong Thánh Kinh. Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

    Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Công giáo dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. Vì Truyền Thống Công giáo (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

    Giáo hội Công giáo đã viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho mình. Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh. Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh thì người ta đã khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một Thiên chúa toàn năng, toàn trí….


    Thật vậy, về truyền thống giáo dục của Giáo hội Công Giáo do Thiên Chúa mạc khải, theo lời tự nhận của giáo hội, thì như thế nào? Chúng ta không thể không nhắc lại câu nói thời danh của Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập dòng Tên:


    “Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội [Công Giáo] quyết định như vậy do sự mạc khải của Thiên Chúa.“

    Giáo hội luôn luôn cho rằng có Thánh Linh hướng dẫn trong mọi sự việc, cho nên quyết định trắng thành đen có thể cũng là sự mạc khải của một Thiên Chúa toàn năng toàn trí của Giáo hội Công Giáo.

    Nhưng chúng ta phải công nhận là, làm cho tín đồ phải tin như trên, đi kèm với sách lược cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, cùng cấm đọc những tác phẩm, báo chí v..v.. mà giáo hội không cho phép để nhốt đầu óc của các tín đồ vào cái ngục tù tâm linh của giáo hội là sự thành công lớn nhất của Giáo hội Công giáo.
    Để nhốt tín đồ vào vòng nô lệ, Giáo hội đặt nặng giáo điều về “Đức Vâng Lời”, nghĩa là tín đồ phải tuyệt đối vâng lời các bề trên, vì Giáo hội hù dọa tín đồ: không vâng lời “bề trên” thì sẽ bị “Chúa phán xét”, linh hồn không được “cứu rỗi”. Đây là giáo lý đã làm cho những tín đồ Công giáo thường là chỉ biết đến Nước Chúa, chứ không quan tâm đến đất nước của tổ tiên, ông bà.

    Điều này rõ ràng hơn gì hết trong nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Trung, một tín đồ Công giáo, về Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam: “Tòa Thánh có đánh r… cũng khen thơm”. Điều này đã nói lên sự thực về bản chất nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam và cùng lúc, sự thành công của Giáo hội hoàn vũ đối với tuyệt đại đa số người Công giáo Việt Nam, một sự thực khá đau lòng đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam trước sự bất hạnh của 7% dân số theo đạo, nạn nhân của sách lược “ngu dân dễ trị’ của một định chế tôn giáo.

    Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo đạo gốc, trong một gia đình theo đạo từ thế kỷ 16, đã phải đau lòng mà viết rằng: “Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam phải gánh phần lớn trách nhiệm trong việc nhốt những con chiên của mình vào những chuồng tâm linh tăm tối”. Nhưng trách như vậy là Charlie Nguyễn đã lầm, vì đó là chính sách của Giáo hội Công Giáo, và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam chẳng qua chỉ gồm những thuộc hạ của Giáo hoàng và của tập đoàn chỉ đạo ở Vatican, và vì chính quyền lợi thế tục của họ mà họ phải duy trì chính sách này. Bởi vậy mà cho đến ngày nay mà tuyệt đại đa số tín đồ Công Giáo Việt Nam, kể cả một số trí thức Công Giáo, vẫn còn tin Giáo hoàng là đại diện của Chúa Giê-su trên trần, có quyền cho họ lên thiên đường hay tuyệt thông họ, và vẫn có những ông Linh mục như Linh mục Vũ Đức ở Detroit rao giảng: “Linh Mục là Chúa thứ hai” (alter Christus) v..v.., trong khi đối với giới hiểu biết thì chẳng làm gì có Chúa thứ nhất, khoan nói đến trên 5000 “Chúa thứ hai” đã từng đi cưỡng bách tình dục các nữ tu và trẻ con, cùng ăn cắp tiền của nhà thờ như tuần báo Time, số ngày 26 tháng 2, 2007, mới phanh phui, và phạm đủ mọi thứ tội như lịch sử đã ghi rõ.


    Về “Đức Vâng Lời” thì phải nói Công giáo Việt Nam tuân thủ vào hạng nhất. Gần đây khi phóng viên Thanh Trúc hỏi ý kiến của Giám mục Nguyễn Chí Linh về việc Giáo hoàng bổ nhiệm Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng Giám Mục phó tổng giáo phậnHà Nội thì được Giám mục Linh trả lời:

    Nhưng đối với chúng tôi là giám mục, điều quan trọng nhất là dù Đức Giáo Hoàng có bổ nhiệm ai đi nữa thì chúng tôi cũng có nghĩa vụ phải duy trì tình hiệp thông trong giáo hội. Cho nêntôi nghĩ cần phân biệtdư luận, truyền thông và tinh thần. Chúng tôi quan tâm nhất tới vấn đề tinh thần. Truyền thống lâu đời của giáo hội Công giáo là tuân phục sự bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng. Trên hết mọi sự, đối với chúng tôi, ý kiến riêng phải nhường chỗ cho tinh thần vâng phục và tình hiệp thông.

    Giám mục Linh không nhận thức được rằng, tinh thần vâng phục mù quáng chẳng qua chỉ là “tinh thần nô lệ”, và từ cái “tinh thần nô lệ” này, người Công giáo có thể làm tất cả những gì Vatican muốn, kể phản bội quốc gia như trong quá khứ. Mặt khác, một con người vô đạo đức như Giáo hoàng Benedict XVI thì vâng phục ông ta có nghĩa gì và có giá trị gì.


    Để nắm giữ đầu óc tín đồ từ ngày sinh ra đời đến ngày chết, và để tạo quyền lực cho giới chăn chiên trước đàn con chiên thấp kém, Giáo hội Công Giáo còn dựng lên những màn ảo thuật gọi là "bí tích" [sacraments], những lễ tiết tín đồ bắt buộc phải tin hiệu năng huyền nhiệm của chúng theo như những lời "giáo hội dạy rằng", dù giáo hội "bí đặc", không làm sao giải thích được tại sao lại phải tin như vậy, vì bản chất những "bí tích" này thuộc loại mê tín dị đoan. Giáo hội dạy rằng mọi “bí tích” này là do Chúa Giê-su lập ra, và con chiên nghe đến Chúa là mất hết lý trí, chỉ việc nhắm mắt tin theo. Trong cuộc thảo luận sau khi trình chiếu cuốn phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus của đài Discovery, khi được hỏi ý kiến về những sự kiện khoa học khám phá ra trong phim, một ông linh mục đã thản nhiên trả lời: “Đức tin là về sự huyền nhiệm, không về khoa học”
    Cũng đáng để tham khảo đấy chứ :-)))

  7. #27

    Mặc định

    BẢN CHÂT CÔNG BGIÁO LÀ VẬY

  8. #28
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    ôi buồn, lấy từ sachhiem đó hả
    haiz...........................

  9. #29

    Mặc định

    Phân tích đi, khi ngươi nói PHÉP MÀU TÔN GIÁO NÀO CŨNG CÓ. Đã gọi phép màu, là phản khoa học. Vậy nhà trường cô thầy có chấp nhận dạy học sinh hãy cầu xin phép màu của ÔNG THẦN THÁNH LINH THIÊNG MÀ em thích!?? Xem phim TITANÍC rồi chứ? Người ta lúc ấy SẼ PHÓ THÁC LINH HỒN CHO AI? Hỏi sachhiêm hả? Hỏi ông khoa học sản xuất tàu hả? TRONG CÁC SÁCH, AI ĐÃ ĐI TRÊN MẶT BIỂN? Vậy bị tủm xuống biển bắc cực lạnh ngắt, hoặc như may hơn là được 1 chỗ ngồi trên xuồng, KHÔNG KÊU TÊN CHÚA GIESU THÌ KÊU AI? Cũng như đã kể chuyện VÔ SINH VÔ VỌNG MÀ LẠI ƯỚC AO CÓ CON RUỘT (KO PHẢI CON NUÔI), BUỘC PHẢI XIN PHÉP MÀU. Vậy phép màu của ai? SÁCH NÀO ĐÃ VIẾT BÀ GIÀ hiếm muộn CÓ THAI? SÁCH VÀ ĐỜI ĐÃ TRÙNG KHỚP NHƯ THẾ, LẠI CÓ KẺ MỎ NHỌN LA LÀNG LÀ NGUỴ TẠO PHÉP MÀU À?

  10. #30

    Mặc định

    [QUOTE=thanchet.taisinh;1195711]
    Chào bạn. có gì súc phạm đến bạn cũng thông cảm nhé.
    những tài như trên rất rất nhiều, chửi rủa nói xấu nói hành xúc phạm tôn giáo trong đây hơi nhiều. đi ra những trang xã hội cũng nhiều, nhưng hầu như chỉ là những kẻ a rua ăn theo. Theo kiểu (chó sủa bóng trăng) thấy con đầu đàn sủa, tất cả các con khác sủa theo. Tôi không muốn ví con người như con chó, mà là cái cảnh đó nó tả những con người hay đi chửi rủa nó cũng rất đồng cảnh. Lên các bạn thông cảm nhé. những tài liệu chống phá ví dụ sách hiếm và vv cũng ngần như những con đầu đàn, trích dẫn kinh thánh thì sai kắt đầu cắt đuôi. rồi vặn vẹo theo kiểu vật lý, theo kiểu cá nhân tự kết luận như thế. Đã là một điều sai về cơ bản của tâm linh rồi. rồi những vi phạm được công khai tuyên bố thì bé sé ra to, những điều sai phạm thì ở bất cứ đâu cũng có. Không một tôn giáo nào mà không có. Nhưng những điều đó là do con người vì là xác thịt. như những tội lỗi đó được phơi ra để mà ăn lăn nó là điều tốt nhất khi phạm tội. đó là điều dũng cảm của từng cá nhân, cũng như tập thể. nếu ai có tâm thì cũng nhận ra điều đó là tốt đẹp. không như các tôn giáo khác có tội nhưng không bao giờ giám xưng ra. Vì thế càng đi vào con đường tội lỗi.
    Vì thế những người a rua không tìm hiểu đã vội vàng lên án theo những ý đồ đen tối của người khác cũng chẳng khác chí câu chuyện ( chó sủa bóng trăng ) các bạn có thể đau một tý nhưng ngộ ra vấn đề là điều tốt cho các bạn. và những ai chửi trời chửi đất cũng thế. Vì trí tuệ con người có là chi khi mà tâm linh càng ngày càng sáng tỏ. thì cái ta chưa hiểu thì đừng xúc phạm đến thượng đế kẻo cái ngu si của ta lại là cái chết vĩnh viễn. tôi nghe ai đó súc phạm đến Thiên Chúa Cũng như thượng đế & trời đất. thì thật sự tôi với chửi kẻ đó như con vật, nhưng cái điều đó là không phải tôi cố ý súc phạm đến anh em. Vì tôi hiểu ai đó mà không coi trời đất ra gì thì người đó cũng rễ sa vào con đường tội lỗi. lên tôi chỉ nói thế cho ai đó tỉnh ngộ mà thôi.
    câu chuyện đó đây này;
    http://daoxuanmai2002.vnweblogs.com/post/2456/412389
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

  11. #31

    Mặc định

    Vì tôi hiểu ai đó mà không coi trời đất ra gì thì người đó cũng rễ sa vào con đường tội lỗi. lên tôi chỉ nói thế cho ai đó tỉnh ngộ mà thôi.

    ném gấu gãy tay, phun trời ướt mặt

    ai tỉnh ngộ thì đã tỉnh ngộ, còn ai ko tỉnh...........thì chỉ có xuống địa ngục mới tỉnh thôi

    Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
    vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.


    tôi thích câu này................cái gì mà từ các bậc giác ngộ dạy, tôi đều lấy làm kim chỉ nam cho sự tu luyện của mình
    Last edited by maihoa; 29-08-2013 at 02:28 PM.

  12. #32

    Mặc định

    11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.
    câu này hay nè, vì mấy người chống Chúa càng sỉ vả thì người bị sỉ vả càng lãnh nhiều ơn phúc đó :big_grin:, nhắm sỉ vả được 365 ngày thì cứ tự nhiên, tui càng phái ! wellcome1

    còn xúc phạm Chúa thì coi kỹ lại cuốn phim đó đi, khôn thì sống , dại thì chết các cụ dạy như thế đấy ! coi rồi không tin thì hậu quả sao ráng chịu, đừng trách sao tớ không báo trước ! :star:
    Miễn nc với santanas.kratos666,kael,nhatnam;phanquanbt,1288,qu angcom

  13. #33

    Mặc định

    Nhân vật Ngan (Vitxiem) chống CS điên cuồng, vì chạy tụt cả quần gần 40 năm vẫn chưa kéo quần lên được:
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Vitxiem Xem Bài Gởi
    đúng như dự đoán, trung bình cứ 2 tháng là có 1 tên phản động ở thủ đô hà lội chạy vào đây khiêu khích
    Hết bảo người nọ người kia là CS, Ngan lại vu cho những người tranh luận về CG mà khác ý kiến là chống Chúa điên cuồng. Sao cho Ngan (Vitxiem) xem bài thơ dành cho những nhân vật "hận tụt quần".

    Có ăn nuốt mẹ mày đi

    Phun người rồi bất đắc kỳ tử sao

    Việt Nam là của chúng tao

    Ngụy con theo giặc tào lao đéo gì

    Cha ông bay lũ bất nghì

    Tụt quần chạy trốn lấy gì mà vinh?

    Sống thì thua cả súc sinh

    Chết thì cả họ bị khinh mấy đời

    Yếu hèn nhục nhã ngụy ơi

    Khôn thì thua chó mấy đời còn ngu

    - Thơ PeekFuneral đập lũ cẩu nô bất tài ngụy chó tụt quần theo chủ Mỹ ăn nhờ ở đậu mà vẫn chẳng biết cái thân tôi mọi còn sủa láo để kéo quần cũng đéo xong - Chỉ sủa thôi, đéo cắn được ai, vui quá - Hahahahaha!
    Cũng có câu không đồng ý kiến tác giả bài thơ vì cháu của Ngan (Vitxiem), theo lời Ngan (Vitxiem) thì có biết tiếng Việt mà "theo giặc tào lao" đâu, chúng thành người nước ngoài rồi. Vì vậy "hận tụt quần" của Ngan (Vitxiem) càng to + dai + dài
    Last edited by Nhật Nam; 29-08-2013 at 11:42 PM.

  14. #34

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nhật Nam Xem Bài Gởi
    Nhân vật Ngan (Vitxiem) chống CS điên cuồng, vì chạy tụt cả quần gần 40 năm vẫn chưa kéo quần lên được:
    Hết bảo người nọ người kia là CS, Ngan lại vu cho những người tranh luận về CG mà khác ý kiến là chống Chúa điên cuồng. Sao cho Ngan (Vitxiem) xem bài thơ dành cho những nhân vật "hận tụt quần".
    Cũng không đồng ý kiến tác giả bài thơ vì cháu của Ngan (Vitxiem), theo lời Ngan (Vitxiem) thì có biết tiếng Việt mà "theo giặc tào lao" đâu, chúng thành người nước ngoài rồi. Vì vậy "hận tụt quần" của Ngan (Vitxiem) càng to + dai + dài
    đúng. TCG là lũ bại hoại gia phong nên đc gọi là Tà Đạo hay Tả Đạo ("Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn;
    Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

    Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh,
    Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
    "
    còn về việc khi con ng bị làm sao tai nạn hay chet chóc kêu chúa có giúp sống lại ko? chẳng chúa nào làm đc cả chỉ là lũ hư danh lừa dối thiên hạ. khi con ng đã có 1 cái Nghiệp ko trả hết chẳng Chúa nào chịu trả cái nghiệp đo và ko chúa nào trả đc nghiệp của chúng t5a gây nên cả.Thiên chúa khôn nan noi la Đi theo phía trước là thiên đàng nhưng ai ngờ là hỏa ngục. haha. chỉ là giả dôi ngụy tạo của thiên chúa cho những kẻ ngu dốt tin vào 1 thằng hoang tưởng mà cứ ngỡ là cứu nhân đọ thế đấy

  15. #35

    Mặc định

    Ái chà! Mới đầu hô to A DI ĐÀ PHẬP, tưởng là có học, hoá ra cũng thất học gớm. Thấy chửi TÂY, chửi Mỹ, sao ko chửi Nhật, chửi Tàu hả? Nge nói lúc Nhật vào đánh Pháp giùm, thì hí hững tưởng Nhật là bạn, vì cùng da vàng, cùng xài chữa Tàu, cùng văn hóa Á đông, khà khà., nó cho đói nhăn răng mới biết BẠN ĐỂU. Năm 75 cầm súng AK của Tàu thắng trận thì chắc phải thầm cám ơn BẠN CỜ ĐỎ. Vậy năm 79 chuyện j xảy ra? TÀU ĐỎ, KHƠME ĐỎ ĐÁNH VIỆT ĐỎ, THẬT LÀ QUÁI ĐẢN. Dùng AK BẮN AK à? Anh em một thời bắn nhau à? Thà như ĐẠI HÀN thật là khôn, có ai khen cái thằng Bắc Hàn nhỉ? Buồn cười cái HUYỆN HOÀNG SA wá! CHỦ TỊCH HUYỆN ĐANG Ở ĐÂU?

  16. #36
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi thanchet.taisinh Xem Bài Gởi
    đúng. TCG là lũ bại hoại gia phong nên đc gọi là Tà Đạo hay Tả Đạo ("Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn;
    Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

    Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh,
    Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
    "
    còn về việc khi con ng bị làm sao tai nạn hay chet chóc kêu chúa có giúp sống lại ko? chẳng chúa nào làm đc cả chỉ là lũ hư danh lừa dối thiên hạ. khi con ng đã có 1 cái Nghiệp ko trả hết chẳng Chúa nào chịu trả cái nghiệp đo và ko chúa nào trả đc nghiệp của chúng t5a gây nên cả.Thiên chúa khôn nan noi la Đi theo phía trước là thiên đàng nhưng ai ngờ là hỏa ngục. haha. chỉ là giả dôi ngụy tạo của thiên chúa cho những kẻ ngu dốt tin vào 1 thằng hoang tưởng mà cứ ngỡ là cứu nhân đọ thế đấy
    bạn đang xài kí tự la tinh đó hả? có bại hoại gia phong ko nhỉ?
    ah` mà bạn hiện đang mang đồ tây hay là áo dài truyền thống nhỉ?
    haiz...........................

  17. #37
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    "ai theo ta thì vác thập giá mà theo"
    Chúa có bảo theo Chúa là sướng đâu
    "con chồn có hang,chim trời có tổ,nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."
    haiz...........................

  18. #38

    Mặc định

    Khà khà, sao đi đánh cá lại gặp toàn CƯỚP TÀU? Còn QDND trốn mất dép. Có nge lính T.SA xuất ngũ kể gì k? Đâu có hiên ngang như Philipin,

  19. #39
    Lục Đẳng Avatar của kiếp mù lòa
    Gia nhập
    Oct 2010
    Nơi cư ngụ
    hoa quả sơn
    Bài gởi
    21,931

    Mặc định

    toàn đem chính trị vào cãi. ghê quá
    haiz...........................

  20. #40

    Mặc định

    Thôi dẹp mấy cái vụ chính trị đi. ở đây đâu có bàn về chính trị đâu nhể, thế mà cứ bới bèo ra bọ vậy.
    Trong đây gọi là bàn về tâm linh để học hỏi nhau, cái ta biết cái người biết chia sẻ cho nhau, thế mà cứ chính trị chính em vào lạ quá. Khó chịu quá. 107 dap dau
    Còn ông bạn tc.taisinh, vô đây để học hỏi hay vào đả kích đây. đả kích tôn giáo là điều cấm trong đây, mà lại là phòng của TCG. Ông bạn phải có phép lịch sự tối thiểu cần có của con người chứ. Quan điểm mỗi tôn giáo có khác nhau, không hiểu thì đưa ra thắc mắc nếu không biết. mở đầu đã một bài đả kích tôn giáo, khác chi một kẻ thần kinh đi vào nhà khác chửi bới lung tung. thật là kẻ dại cởi truồng người khôn sấu hổ. các cụ nói chẳng sai tẹo nào cả. chịp chịp.
    Mt5:37 Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 30-09-2013, 07:34 AM
  2. xin hãy niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
    By bulo_kun in forum Đạo Phật
    Trả lời: 125
    Bài mới gởi: 02-02-2013, 09:38 AM
  3. TỐ NỮ KINH 2
    By thaiduong162 in forum Y, Dược Thuật
    Trả lời: 8
    Bài mới gởi: 05-06-2012, 03:13 PM
  4. Tìm hiểu về TĐGCL
    By tinhkhithan in forum Đạo Việt Nam
    Trả lời: 33
    Bài mới gởi: 28-06-2011, 05:51 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •