Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 27

Ðề tài: Thắc mắc về thực hành thiền nguyên thủy

  1. #1

    Mặc định Thắc mắc về thực hành thiền nguyên thủy

    Xin chào các anh, các chị, các bạn trên diễn đàn!
    Mình có vài thắc mắc khi đọc phần thiền trong cuốn sách "Thực hành thiền nguyên thủy", các anh, các chị, các bạn có ai từng nghiên cứu qua xin chỉ dạy giúp mình nhé
    Câu hỏi thứ nhất mình muốn hỏi là: trong sách có chỉ thiền theo các bài tập, hết bài tập thứ nhất rồi đến bài tập thứ 2... Mình chỉ bắt đầu tập khoảng 1 tháng thôi, và theo suy nghĩ chủ quan của mình thì khi nào mình cảm thấy phần bài tập đó tương đối ổn, tức là mình lặp lại đi lặp lại nhìu lần cảm thấy đạt được yêu cầu như trong bài tập hướng dẫn và cảm thấy bài tập đó khiến tâm mình an, lúc đó mình sẽ chuyển sang bài tập tiếp theo. Và tất nhiên cái sự "cảm thấy" đó cũng xuất phát hoàn toàn từ cảm tính. Vậy điều đó có sai gì không ạ? Không biết là mỗi bước chuyển tiếp có chuẩn mực gì không?
    Câu hỏi thứ 2 mình muốn hỏi là: Lúc này mình đang chuyển qua bài tập thứ 2 và cảm thấy có chút vướn ở đây. Ở bài tập thứ 1, chủ yếu là chú tâm vào bụng, cảm nhận sự phồng xẹp của bụng. Việc chú tâm đó làm mình định được tâm mình, vào lúc đó mình có 1 khoảng thời gian dẹp qua một bên những suy nghĩ bộn bề trong cuộc sống, tập xong cảm giác rất khỏe về mặt tinh thần, giống như não của mình được nghỉ ngơi trong phút chốc... Tuy nhiên, sang tới bài thứ 2, sách chĩ dẫn là: "Trong khi thực tập quan sát sự phồng xẹp của bụng những tư tưởng khác sẽ phát sinh làm bạn quên mất sự chú tâm. Tư tưởng, ham muốn, ý nghĩ, tưởng tượng, v.v... sẽ xuất hiện giữa những "phồng xẹp". Bạn không nên bỏ qua những phóng tâm hay vọng tưởng này mà phải ghi nhận từng phóng tâm một khi chúng phát sinh"...., "Khi tâm bạn tưởng tượng điều gì, bạn phải biết mình đang tưởng tượng và ghi nhận: "tưởng-tượng, tưởng-tượng, tưởng-tượng". Khi bạn chỉ đơn thuần nghĩ đến điều gì phải ghi nhận: "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Khi bạn suy gẫm, ghi nhận: "suy-gẫm, suy-gẫm, suy-gẫm""..."Sau khi đã chú tâm ghi nhận mỗi một động tác đó, ta lại trở về với sự phồng xẹp."v.v.... Kết quả là lúc mình mình tập, rất là nhìu suy nghĩ đến, nếu ở bài tập thứ 1, lúc ngồi thiền, mình cố ý tạm thời không nghĩ đến việc gì hết, thì bài tập thứ 2 mình lại "giữ" nó lại, cái này qua đến cái khác, và cứ như vậy, nên cuối cùng dẫn đến 2 kết quả , một là không thể tập trung lại vào cái cảm nhận phồng xẹp của bụng, mà nếu có thì hành động đó giống như "bài bản" của một buổi tập (kết thúc là chú tâm vào sự phồng xẹp), hai là không có cảm giác "tâm an" giống như bài tập thứ 1 nữa. Không biết mình có hiểu sai ý gì ở đây không?
    Mong các anh, các chị, các bạn giúp mình nhé! Mình cám ơn rất nhìu!:happy:

  2. #2

    Mặc định

    Đó không phải là phương pháp hành thiền nguyên thủy, đó là phương pháp phồng xẹp do ông mahasi người myanmar nghĩ ra

  3. #3

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hoabantim Xem Bài Gởi
    Xin chào các anh, các chị, các bạn trên diễn đàn!
    Mình có vài thắc mắc khi đọc phần thiền trong cuốn sách "Thực hành thiền nguyên thủy", các anh, các chị, các bạn có ai từng nghiên cứu qua xin chỉ dạy giúp mình nhé
    Câu hỏi thứ nhất mình muốn hỏi là: trong sách có chỉ thiền theo các bài tập, hết bài tập thứ nhất rồi đến bài tập thứ 2... Mình chỉ bắt đầu tập khoảng 1 tháng thôi, và theo suy nghĩ chủ quan của mình thì khi nào mình cảm thấy phần bài tập đó tương đối ổn, tức là mình lặp lại đi lặp lại nhìu lần cảm thấy đạt được yêu cầu như trong bài tập hướng dẫn và cảm thấy bài tập đó khiến tâm mình an, lúc đó mình sẽ chuyển sang bài tập tiếp theo. Và tất nhiên cái sự "cảm thấy" đó cũng xuất phát hoàn toàn từ cảm tính. Vậy điều đó có sai gì không ạ? Không biết là mỗi bước chuyển tiếp có chuẩn mực gì không?
    Câu hỏi thứ 2 mình muốn hỏi là: Lúc này mình đang chuyển qua bài tập thứ 2 và cảm thấy có chút vướn ở đây. Ở bài tập thứ 1, chủ yếu là chú tâm vào bụng, cảm nhận sự phồng xẹp của bụng. Việc chú tâm đó làm mình định được tâm mình, vào lúc đó mình có 1 khoảng thời gian dẹp qua một bên những suy nghĩ bộn bề trong cuộc sống, tập xong cảm giác rất khỏe về mặt tinh thần, giống như não của mình được nghỉ ngơi trong phút chốc... Tuy nhiên, sang tới bài thứ 2, sách chĩ dẫn là: "Trong khi thực tập quan sát sự phồng xẹp của bụng những tư tưởng khác sẽ phát sinh làm bạn quên mất sự chú tâm. Tư tưởng, ham muốn, ý nghĩ, tưởng tượng, v.v... sẽ xuất hiện giữa những "phồng xẹp". Bạn không nên bỏ qua những phóng tâm hay vọng tưởng này mà phải ghi nhận từng phóng tâm một khi chúng phát sinh"...., "Khi tâm bạn tưởng tượng điều gì, bạn phải biết mình đang tưởng tượng và ghi nhận: "tưởng-tượng, tưởng-tượng, tưởng-tượng". Khi bạn chỉ đơn thuần nghĩ đến điều gì phải ghi nhận: "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Khi bạn suy gẫm, ghi nhận: "suy-gẫm, suy-gẫm, suy-gẫm""..."Sau khi đã chú tâm ghi nhận mỗi một động tác đó, ta lại trở về với sự phồng xẹp."v.v.... Kết quả là lúc mình mình tập, rất là nhìu suy nghĩ đến, nếu ở bài tập thứ 1, lúc ngồi thiền, mình cố ý tạm thời không nghĩ đến việc gì hết, thì bài tập thứ 2 mình lại "giữ" nó lại, cái này qua đến cái khác, và cứ như vậy, nên cuối cùng dẫn đến 2 kết quả , một là không thể tập trung lại vào cái cảm nhận phồng xẹp của bụng, mà nếu có thì hành động đó giống như "bài bản" của một buổi tập (kết thúc là chú tâm vào sự phồng xẹp), hai là không có cảm giác "tâm an" giống như bài tập thứ 1 nữa. Không biết mình có hiểu sai ý gì ở đây không?
    Mong các anh, các chị, các bạn giúp mình nhé! Mình cám ơn rất nhìu!:happy:
    Không có gì sai đâu bạn hiền, cảm tính dần dần sẽ thành thật tính!
    Mỗi bước chuyển tiếp cũng chẳng có chuẩn mực gì đâu, tùy mức độ kiên cố của bạn thôi!
    Tuy nhiên mình khuyên bạn:
    Bạn hiền nếu thích pháp này thì hãy cứ tập bài 1 đi, tâm bạn chưa đủ định để vào bài 2 đâu! Bản chất bài 2 là bạn dùng chánh niệm mà theo dõi vọng tưởng nhờ vậy mà vọng tưởng tự dứt, nhưng nếu bạn chưa đủ định, bản thân bạn chưa đủ kiên cố thì không những bạn không theo dõi được vọng tưởng mà còn bị vọng tưởng cuốn theo, như vậy là nguy hiểm và sai pháp. Vậy nên bạn hiền không nên nóng vội làm gì, cứ từ từ tập bài 1 thêm đi khi đủ kiên cố hãy tập bài 2. Bạn hãy tin tôi, nếu bạn phù hợp với bài 1 thì hãy cứ tập bài 1 cũng đủ, bài 1 cũng có thể dẫn bạn tới cuối bài 2 hay đi xa hơn nữa. Bạn đừng nên lầm tưởng bài 2 là cao hơn bài 1 hay ngược lại! chúc bạn tinh tấn!
    Bạn hiền! tôi cũng nghĩ đây không phải thiền nguyên thủy của Phật!
    Tôi thì thiền theo pháp khác! không thiền theo pháp này! đôi lời chia sẻ cùng bạn! thân chào!
    Last edited by Nonamepas; 28-08-2013 at 11:04 PM.

  4. #4

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Nonamepas Xem Bài Gởi
    Không có gì sai đâu bạn hiền, cảm tính dần dần sẽ thành thật tính!
    Mỗi bước chuyển tiếp cũng chẳng có chuẩn mực gì đâu, tùy mức độ kiên cố của bạn thôi!
    Tuy nhiên mình khuyên bạn:
    Bạn hiền nếu thích pháp này thì hãy cứ tập bài 1 đi, tâm bạn chưa đủ định để vào bài 2 đâu! Bản chất bài 2 là bạn dùng chánh niệm mà theo dõi vọng tưởng nhờ vậy mà vọng tưởng tự dứt, nhưng nếu bạn chưa đủ định, bản thân bạn chưa đủ kiên cố thì không những bạn không theo dõi được vọng tưởng mà còn bị vọng tưởng cuốn theo, như vậy là nguy hiểm và sai pháp. Vậy nên bạn hiền không nên nóng vội làm gì, cứ từ từ tập bài 1 thêm đi khi đủ kiên cố hãy tập bài 2. Bạn hãy tin tôi, nếu bạn phù hợp với bài 1 thì hãy cứ tập bài 1 cũng đủ, bài 1 cũng có thể dẫn bạn tới cuối bài 2 hay đi xa hơn nữa. Bạn đừng nên lầm tưởng bài 2 là cao hơn bài 1 hay ngược lại! chúc bạn tinh tấn!
    Bạn hiền! tôi cũng nghĩ đây không phải thiền nguyên thủy của Phật!
    Tôi thì thiền theo pháp khác! không thiền theo pháp này! đôi lời chia sẻ cùng bạn! thân chào!
    Rất cám ơn bạn Nonamepas! Mình muốn hỏi thêm là cái mà bạn nói: "dùng chánh niệm mà theo dõi vọng tưởng nhờ vậy mà vọng tưởng tự dứt" có phải là một dạng suy gẫm, quán tưởng để nhìn thấy rõ bản thân của mình không? Mình nghĩ rằng bài tập nào thì cũng sẽ có ý nghĩa riêng của nó, cái chính là mình sợ mình không quán được hết ý nghĩa của bài tập dẫn đến hỉu sai hoặc bỏ sót ý thì sẽ rất phí phạm!
    Mình chưa hiểu nhiều về phật giáo nguyên thủy, chỉ biết tựa sách là thế thôi^^. Nhưng cơ bản là mình cũng không quá coi trọng nó xuất phát từ đâu, mà mình quan tâm đến kết quả hơn! Và hiện tại mình mong muốn tìm hiểu cũng như thực hành về thiền định. Rất mong nhận được sự chia sẻ nhiều hơn từ phía bạn!
    Cám ơn rất nhìu!

  5. #5

    Mặc định

    Coi chừng ức chế tâm, và phân biệt thiền tuệ và thiền chi cũng như điều kiện luyện tập tứ niệm xứ.
    Hãy trao đổi với nhau bằng tấm lòng, bằng những gì mình có chứ đừng cho rằng ta là chân lý còn lại là sai bởi vì làm sao biết được ai đã giải thoát hay chưa giái thoát ?

  6. #6

    Mặc định

    Có những điều này phải lưu ý khi tu tập tứ niệm xứ để có kết quả

    1-giới luật thanh tịnh
    2-điều kiện khi tập luyện
    3-tâm khi tập luyện
    4- thời gian tập luyện và cách thức tập luyện

    Người chưa đủ duyên chưa đủ căn cơ để bước trên bát thánh đạo thì hãy khoan vội vàng tiến quá xa trên tứ niệm xứ vì không chỉ là không lợi ích mà còn hại nữa.

    Nhớ lời thế tôn dạy, định phải kèm với giới và định phải kèm với tuệ mới hiệu quả tốt
    Hãy trao đổi với nhau bằng tấm lòng, bằng những gì mình có chứ đừng cho rằng ta là chân lý còn lại là sai bởi vì làm sao biết được ai đã giải thoát hay chưa giái thoát ?

  7. #7

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hoabantim Xem Bài Gởi
    "dùng chánh niệm mà theo dõi vọng tưởng nhờ vậy mà vọng tưởng tự dứt" có phải là một dạng suy gẫm, quán tưởng để nhìn thấy rõ bản thân của mình không? Mình nghĩ rằng bài tập nào thì cũng sẽ có ý nghĩa riêng của nó, cái chính là mình sợ mình không quán được hết ý nghĩa của bài tập dẫn đến hỉu sai hoặc bỏ sót ý thì sẽ rất phí phạm!

    Cám ơn rất nhìu!
    Bạn thân mến,

    Thật sự ra thiền NT của Đức Phật rất là khoa học, vô cùng thực tế, cũng chẳng phải thiền tưởng, nên cũng không nên gọi là quán tưởng, nên gọi là quán sát, tức tập trung sự chú ý vào sự xuất hiện của các đề mục thân, thọ, tâm, pháp qua 6 căn.

    Do quy luật vô thường, có sanh tất sẽ có diệt. Nếu chánh niệm của bạn đủ mạnh, đủ tế, bạn dùng chánh niệm để quán sát vọng tưởng, do chánh niệm (tức tâm quán sát mà không phản ứng) không tiếp tục phản ứng với các vọng tưởng đó, tâm hay chuỗi tâm của tiến trình sẽ bị diệt mà không tiếp tục xảy diễn.

    Sở dĩ ban đầu quán sát phồng xẹp mà không nên khởi quán sát các vọng tưởng ngay, vì phồng xẹp thô dễ quán sát, hơn là các vọng tưởng - tức các tâm - tế khó quán sát hơn. Với các thiền sinh mới bắt đầu thiền tập, do chánh niệm vẫn còn thô chưa đủ mạnh, chưa đủ tế nên phải quán sát những đề mục thô hơn nữa, mới có thể quán sát được mà vẫn giữ được tâm chánh niệm, và bắt kịp đề mục. Lâu dần tiếp tục thiền tập với phồng xẹp chẳng hạn, tâm chánh niệm của bạn sẽ tự động phát triển, sẽ càng vi tế hơn, định của tâm chánh niệm sẽ vững hơn, lần hồi chắc chắn thiền sinh có thể quán sát được những gì "tế" hơn nữa, như quán thọ, quán tâm, rồi về sau quán pháp.

    Thiền tuệ, nôm na cũng giống như tập chụp banh, để phát triển các phản xạ có điều kiện. Thiền tuệ trên tâm cũng vậy, cứ mỗi lần tâm chánh niệm nhận bắt sự xuất hiện của đề mục mà không phản ứng, đề mục sẽ tự diệt - vì đó là quy luật vô thường của vũ trụ, không cần phải quán tưởng gì cả, bản chất của chúng sanh, của mọi sự vật hiện tượng là sanh rồi diệt - nếu không có nhân duyên để chúng phản ứng tiếp diễn.

    Nếu luyện tập bắt banh kiên trì, sẽ phát triển được "phản xạ" bắt banh dù banh bay theo hướng nào, nhanh hay chậm. Không những thế, nếu luyện tập thuần thục, một lúc nào đó người ta sẽ phát triển được cái "tâm" nhận biết cảm giác được cả độ xoáy, hướng bay, hướng xoáy, độ mạnh, yếu vv... của từng trái banh được ném ra.

    Luyện tâm cũng tương tự như luyện thân, lối luyện bắt banh vậy. Một hành giả nếu tiếp tục kiên trì, tinh tấn với tâm chánh niệm luôn nhận biết được sự xuất hiện của mỗi đề mục, dù là đề mục thô như phồng xẹp, tất nhiên thực hành này dẫn tới quả (kết quả) là hành giả sẽ lần hồi phát triển được cái tâm "biết" từng đề mục mỗi khi chúng vừa xuất hiện. Bạn sẽ "thấy" rằng mỗi một cử động phồng -> sẽ có một tâm biết "phồng." Mỗi một cử động "xẹp," sẽ có một tâm biết cái "xẹp" ấy.

    Không những vậy, khi hành giả tiếp tục tinh tấn, hành giả sẽ nhận ra có một tâm khác "thấy" rõ sự hiện diện của cử động "phồng" và cái tâm nhận biết sự "phồng" ấy. Lại có một tâm khác nhận biết cử động "xẹp" và luôn cả cái "tâm biết" sự "xẹp" ấy. Phồng và cái tâm biết phồng; xẹp và cái tâm biết xẹp,... là những cặp danh/sắc tương ưng. Ngoài ra sẽ có một tâm khác "biết" rõ mỗi khi "phồng" và cái tâm biết phồng (cặp danh/sắc) ấy xuất hiện.

    Cái tâm biết các cặp danh/sắc ấy chính là tâm minh sát. Một khi kinh nghiệm ấy xuất hiện rõ trong bạn, đó chính là kinh nghiệm về sự phân biệt danh sắc. Nói cách khác, hành giả đến giai đoạn này là đã phát triển được tuệ thứ I của 16 tuệ minh sát - tuệ phân biệt danh sắc rồi vậy. Tiếp tục thực hành, bạn sẽ phát triển được những tuệ kế tiếp. Từ đây, bạn sẽ thấy thân và tâm bắt đầu có nhiều thay đổi. Hãy tinh tấn với chánh niệm, và thái độ buông xả, thiền tập của bạn sẽ ngày càng tiến bộ hơn.

    Đại khái đó là diễn tả, có vẻ hơi chi tiết 1 chút của tiến trình thiền tuệ. Qua đó, bạn thấy rất rõ thiền của đạo Phật vô cùng thực tế, vô cùng khoa học, có thể dẫn tới giải thoát, giác ngộ, và hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ do kinh nghiệm rõ về vô thường, về các tiến trình sanh diệt không ngừng xảy diễn của danh và sắc qua quá trình thiền tập.

    Do những kinh nghiệm vô cùng thực tế này, quả tất nhiên là hành giả sẽ không còn chấp thủ, dù là ở mức độ vô thức, hoàn toàn kinh nghiệm về vô thường, về vô ngã (không có gì làm chủ các tiến trình sanh/diệt này), và liễu ngộ ý nghĩa thật sự của khổ đế.

    Mong những lời chia sẻ này, không quá lạm bàn, ngõ hầu có thể giúp bạn có thêm khái niệm rõ ràng về thực hành trong đạo Phật, hiểu được sao lại cứ phải dùng chánh niệm để quán sát phồng, xẹp, quán sát các cảm thọ,... làm như vậy để làm gì.

    Mến chúc bạn tinh tấn, sớm đạt nhiều thành quả trong thiền tập, hướng tới giác ngộ giải thoát.
    Last edited by xman4vn; 29-08-2013 at 02:40 PM.

  8. #8

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi hoabantim Xem Bài Gởi
    Rất cám ơn bạn Nonamepas! Mình muốn hỏi thêm là cái mà bạn nói: "dùng chánh niệm mà theo dõi vọng tưởng nhờ vậy mà vọng tưởng tự dứt" có phải là một dạng suy gẫm, quán tưởng để nhìn thấy rõ bản thân của mình không? Mình nghĩ rằng bài tập nào thì cũng sẽ có ý nghĩa riêng của nó, cái chính là mình sợ mình không quán được hết ý nghĩa của bài tập dẫn đến hỉu sai hoặc bỏ sót ý thì sẽ rất phí phạm!
    Mình chưa hiểu nhiều về phật giáo nguyên thủy, chỉ biết tựa sách là thế thôi^^. Nhưng cơ bản là mình cũng không quá coi trọng nó xuất phát từ đâu, mà mình quan tâm đến kết quả hơn! Và hiện tại mình mong muốn tìm hiểu cũng như thực hành về thiền định. Rất mong nhận được sự chia sẻ nhiều hơn từ phía bạn!
    Cám ơn rất nhìu!
    Này bạn hiền! về câu hỏi của bạn chắc chắn tự bạn sẽ tự tìm thấy câu trả lời thông qua việc hành thiền trong tương lai gần thôi! câu trả lời đang ở phía trước bạn, không quá xa đâu tất nhiên cũng không gần (nên trên đường đi bạn đừng nao lòng)!
    Đúng là bài tập nào cũng có ý nghĩa riêng của nó! tất cả chỉ là phương tiện vậy nên bạn hãy lựa chọn phương tiện phù hợp với chứ đừng cầu phương tiện tốt nhất làm gì!
    Bạn lo không hiểu rõ bài tập? Này bạn hiền bạn không phải lo nhiều thế đâu! bài 1 là để bạn định tâm hơn! như trên mình thấy bạn đã với 1 tay tới đó rồi! vậy tại sao bạn không trèo lên mà ngồi cho đàng hoàng đi? Thân chào!

  9. #9

    Mặc định

    Bạn hoabantim thân mến,
    Đúng như bạn Nonamepas nhắn nhủ, bài tập 1 là để phát triển định tâm của bạn một cách dễ dàng qua việc không ngừng quán sát các cứ động phồng, xẹp. Sở dĩ khi chuyển qua bài tập 2, bạn bị phóng tâm nhiều là do bạn chưa đủ thuần thục ở bài tập 1.

    - Cũng như lời bạn Nonamepas khuyên, bạn không nên nóng vội, và nên quay trở lại bài tập 1 một thêm 1 thời gian để phát triển định.

    Ngoài ra, ở bài tập 1, khi bạn nhận xét rằng bạn thuần thục trong việc quán sát sắc thô của phồng, xẹp, bạn có thể tăng thêm định bằng cách thức như sau:
    - để ý lúc bắt đầu khởi phồng
    - tâm quán sát tiếp tục dán chặt với từng cử động nhỏ trong giai đoạn phồng
    - tâm quán sát để ý tới điểm cuối cùng của giai đoạn phồng
    - cũng như vậy, tâm quán sát của bạn cố gắng nhận ra điểm khởi đầu của giai đoạn "xẹp"
    - từng cử động trong khoảng giữa của giai đoạn xẹp
    - điểm cuối cùng của quá trình "xẹp"

    Nếu kiên trì và tinh tấn, bạn sẽ không bỏ lỡ bất kể điểm nhỏ nào trong quá trình phồng xẹp. Một khi bạn có thể thực hành phát triển tâm quán sát tới mức độ như vậy, luôn dán chặt vào từng thay đổi trong cử động phồng xẹp, có thể nói định của bạn đã tăng trưởng gấp bội, và tâm quán sát bắt đầu trở nên tế hơn rất nhiều.

    - bạn cũng nên lưu ý tiến trình phồng xẹp là tiến trình tự nhiên trong khi chúng ta thở, không nên có bất kỳ cố gắng phồng thêm hoặc cố tình xẹp hơn nào.

    - Tới được giai đoạn này tâm luôn dán chặt vào từng li ti thay đổi của phồng xẹp trong bài tập 1, bạn có thể chuyển sang bài tập 2 mà hầu như sẽ ít bị phóng tâm.

    Thêm 1 chia sẻ nữa để lưu ý bạn là các tâm nhận biết của cặp danh sắc, và tâm nhận biết sự hiện hữu của các cặp danh sắc (tuệ phân biệt danh sắc) trong phồng xẹp là --> QUẢ (kết quả) đạt được do không ngừng tinh tấn thực hành nhận biết sắc - tức các cử động phồng xẹp.

    Trong lúc thực hành, bạn không nên và cũng không cần thiết có bất kỳ khởi tưởng nào sự có mặt của các tâm nhận biết này. Thực hành kiên định và tinh tấn, về sau bạn sẽ "thấy" rõ rằng các tâm này phát sinh là do nhân duyên sự xuất hiện các sắc, cũng như nhân duyên sanh diệt của các cặp danh/sắc. Những tuệ MS này, khi thiền tập của bạn tinh tấn và chín mùi, chúng sẽ tự động phát sinh bởi vì đó là quả trổ từ sự tinh tấn thực hành của bạn, không phải từ các nghĩ tưởng.

    Cũng giống như nếu bạn tinh tấn tập luyện chụp banh không xao lãng, bạn sẽ đạt được phản xạ chụp bắt đúng từng trái banh mà không bị bỏ lỡ. Ngược lại nếu quán "tưởng" rằng mình có phản xạ đó, vào thực tế bạn sẽ chẳng thật sự bắt được trái banh nào cả. Cứ hãy chú trọng vào sắc - tức các cử động phồng xẹp - trước. Thật ra, do nhân duyên các danh này phát sinh, hiện hữu ngay lúc các căn bắt các sắc khởi sinh. Có điều, vì tâm quán sát còn thô, tuệ minh sát chưa phát triển, bạn sẽ không nhận ra sự có mặt của các tâm này. Thực hành đến một lúc, bạn sẽ "nhận" ra tất cả, "thấy" rõ các tiến trình sanh diệt, thấy rõ nhân duyên sanh khởi, cũng như thấy rõ hoại diệt của các tiến trình (tâm vọng tưởng...) mà không cần phải "quán tưởng" gì cả.

    Tốt nhất, bạn nên đăng ký tham dự các khóa thiền dài ngày tại các thiền viện NT, nên trực tiếp trình pháp, tham khảo với các thiền sư. Trong môi trường của một thiền viện, miên mật trong giới, tạo duyên lành cho định tuệ không ngừng tăng trưởng phát sanh. Chắc chắn bạn sẽ có nhiều tiến bộ trong tu tập.

    Mến chúc bạn tinh tấn, hướng đến giác ngộ giải thoát.
    Last edited by xman4vn; 30-08-2013 at 03:13 AM.

  10. #10

    Mặc định

    Mình rất cám ơn vì sự chia sẻ tận tình của các bạn! ^^

  11. #11

    Mặc định

    Nói đơn giản hơn, sự phồng xẹp không phải là theo dõi cơ bụng mà quan sát hơi thở. Như Đức Phật đã trình bày trong kinh tứ niệm xứ

    Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: "Tôi quay dài" hay khi quay ngắn, tuệ tri: "Tôi quay ngắn". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
    Bài tập của bạn là thân hành niệm đầu tiên của tứ niệm xứ, vì thân hành niệm dễ tập và và dễ nhận thấy với người mới bắt đầu tập vì quan sát sự vận động thô của thân thế. Sau khi đã thành thục thì lại sẽ có những thứ quan sát sâu sắc hơn

    Như người đi học toán thì lớp 1+1 =2 và lên lớp 2 thì cũng 1+1=2 đấy nhưng sẽ chuyển thành 1+1+1+1=4 đổi thành toán nhân 2x2=4 như vậy.

    Vậy nên bạn hữu đừng nên gấp gáp làm gì, pháp này hành tùy căn cơ, có người chưa đủ duyên, chưa đủ lực định, chưa đủ thấu hiểu có thể mất thời gian dài để hiểu được pháp này.

    Bởi vì pháp này có hiệu quả lớn, sức mạnh lớn nhưng cũng như thuốc hay thì sẽ đắng, thuốc mạnh thì sẽ có tác dụng phụ, nếu có sự nóng vội, không hiểu sâu cặn kẽ, không hành đúng sẽ dẫn đến lạc thiền, ức chế tâm, gây nên nhửng bệnh thần kinh không mong muốn có thể dẫn đến mãi cả đời không hành pháp được nữa.

    Bạn nên lưu ý điều như vậy, không nóng vội, cặn kẽ rõ ràng, hành định cùng giới. Đặc biệt nhất pháp hành này càng tập, thì phải thấy càng giải thoát, tâm trở nên hiền lành hơn, nhanh nhạy hơn, rõ về sự sinh diệt và sống có đạo đức hơn, nên khi tập bạn thấy có cái gì đó không bình thường như đau đầu, tâm tính nóng nảy, lờ mờ, sự sinh diệt và lý nhân quả không rõ ràng thì phải ngừng ngay và trở lại từ đầu, nên tốt nhất là có thầy hướng dẫn tỉ mỉ chứ không nên kinh suất
    Hãy trao đổi với nhau bằng tấm lòng, bằng những gì mình có chứ đừng cho rằng ta là chân lý còn lại là sai bởi vì làm sao biết được ai đã giải thoát hay chưa giái thoát ?

  12. #12

    Mặc định

    Tiện bài viết của bạn "hoabantim" các anh chị cho e hỏi một điều với ạ?
    E cũng muốn thực hành thiền qua sách này để giúp cho tâm trí trở nên tĩnh lặng hơn và tăng khả năng tập trung trong công việc hàng ngày. Đó là điều mà em muốn hướng đến trước mắt chứ chưa dám nghĩ tới giải thoát. E chỉ là một phàm phu tục tử chưa thực hiện được việc giữ giới luật. Nếu như vậy mà e thực hiện theo phương pháp này thì có nguy hiểm gì không ạ? Ý e là chuyện ma quỷ ạ. Vì chưa giữ được đầy đủ các giới nên e luôn cảm thấy mình chưa đủ sự nghiêm túc, nên e luôn cảm thấy lo sợ mình sẽ bị nguy hiểm. Mong các anh chị giúp đỡ.

  13. #13

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TheTycoon Xem Bài Gởi
    Tiện bài viết của bạn "hoabantim" các anh chị cho e hỏi một điều với ạ?
    E cũng muốn thực hành thiền qua sách này để giúp cho tâm trí trở nên tĩnh lặng hơn và tăng khả năng tập trung trong công việc hàng ngày. Đó là điều mà em muốn hướng đến trước mắt chứ chưa dám nghĩ tới giải thoát. E chỉ là một phàm phu tục tử chưa thực hiện được việc giữ giới luật. Nếu như vậy mà e thực hiện theo phương pháp này thì có nguy hiểm gì không ạ? Ý e là chuyện ma quỷ ạ. Vì chưa giữ được đầy đủ các giới nên e luôn cảm thấy mình chưa đủ sự nghiêm túc, nên e luôn cảm thấy lo sợ mình sẽ bị nguy hiểm. Mong các anh chị giúp đỡ.
    Theo mình thì bạn cứ thực hành, không có gì nguy hiểm đâu, có thể là bạn sẽ chậm có kết quả hoặc chậm nhận ra sự thay đổi của mình thôi.

    Bạn nên đọc kỹ bài của bạn xman4vn post ở trên, rất đơn giản và đầy đủ. Đúng là chân nhân bất lộ tướng! Khâm phục!

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TheTycoon Xem Bài Gởi
    Tiện bài viết của bạn "hoabantim" các anh chị cho e hỏi một điều với ạ?
    E cũng muốn thực hành thiền qua sách này để giúp cho tâm trí trở nên tĩnh lặng hơn và tăng khả năng tập trung trong công việc hàng ngày. Đó là điều mà em muốn hướng đến trước mắt chứ chưa dám nghĩ tới giải thoát. E chỉ là một phàm phu tục tử chưa thực hiện được việc giữ giới luật. Nếu như vậy mà e thực hiện theo phương pháp này thì có nguy hiểm gì không ạ? Ý e là chuyện ma quỷ ạ. Vì chưa giữ được đầy đủ các giới nên e luôn cảm thấy mình chưa đủ sự nghiêm túc, nên e luôn cảm thấy lo sợ mình sẽ bị nguy hiểm. Mong các anh chị giúp đỡ.
    Nếu bạn đã liên hệ đến thiền nguyên thủy thì bạn phải bỏ đi những tục dị đoan như dông nhập, quỷ phá, hồn ma v.vv... Trong nguyên thủy thì ma ba tuần duy nhất mà bạn nhận biết được, có thể phá bạn được chính là bản ngã của bạn đấy
    Hãy trao đổi với nhau bằng tấm lòng, bằng những gì mình có chứ đừng cho rằng ta là chân lý còn lại là sai bởi vì làm sao biết được ai đã giải thoát hay chưa giái thoát ?

  15. #15

    Mặc định

    Khi bạn chọn tu thiền, bạn cần cẩn trọng đi từng bước, đừng nghĩ rằng bài tập số 4 là cao hơn số 1, đừng nghĩ rằng thiền sư là giỏi giang hơn bạn , bạn không bao giờ bằng được ông.
    Cái chính của Thiền là Ly Ngã, Ly dục, xả bỏ chấp thủ, rời bỏ cái chấp thủ " Ta là chính Ta đó, cái ta mà ai cũng biết là Ta đó.
    Có nhiều người khi đạt được hơi thở đẹp và thấy được định tướng vi diệu rồi trong tâm tràn đầy hỹ lạc tịnh định, thời gian thiền kéo dài không còn biết là bao lâu, họ vội vàng cho rằng mình đã đắc được tứ thiền, bạn phải bỏ luôn cả cái "tâm tham đắc" nầy luôn, có như vậy khi đến sơ thiền hỹ lạc xen kẻ với thanh tịnh và định bạn mới tách được chúng ra được bằng tuệ giác sáng suốt của mình, còn không thì bạn cũng chỉ chìm đắm mãi mãi vào hỹ lạc xen kẽ và không bao giờ rời hỹ hay rời lạc được.
    Tôi đã gặp nhiều người bạn kể rằng họ vào định được 6 giờ mà không hay, pháp tu của họ không giống thiền mà Phật dạy, họ dùng niệm thầm "không nói" để ức chế tâm.......và rồi dù có định sâu, nhưng lạc qua thiền vô sắc giới mà không hay.
    Thiền theo Phật dạy là tu cái tâm quán sát cái tâm tạo tác , chú mục vào chánh niệm ( hơi thở hay đề mục) để ngũ căn thanh tịnh, chỉ còn căn ý là duy trì chánh niệm, lúc đó bạn sẽ chẳng thể nghe thấy , ngữi thấy, trông thấy những gì xung quanh, hoặc nghe biết ở nơi rất xa nếu bạn vào cận định, và không còn nghe biết gì khi đã vào đại định, hơi thở dừng bặt , tim chậm lại....dù vậy tâm bạn vẫn tỉnh giác trong từng chánh niệm, sự nở ra của thân , cảm giác của bạn chỉ còn ở nơi xúc chạm của thân với không khí, thời khắc đó .......hỹ lạc tràn đầy, và bạn phải luôn luôn dặn mình phải buông bỏ ....
    Last edited by chỉnh_tâm; 31-08-2013 at 09:27 AM.

  16. #16

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi TheTycoon Xem Bài Gởi
    Tiện bài viết của bạn "hoabantim" các anh chị cho e hỏi một điều với ạ?
    E cũng muốn thực hành thiền qua sách này để giúp cho tâm trí trở nên tĩnh lặng hơn và tăng khả năng tập trung trong công việc hàng ngày. Đó là điều mà em muốn hướng đến trước mắt chứ chưa dám nghĩ tới giải thoát. E chỉ là một phàm phu tục tử chưa thực hiện được việc giữ giới luật. Nếu như vậy mà e thực hiện theo phương pháp này thì có nguy hiểm gì không ạ? Ý e là chuyện ma quỷ ạ. Vì chưa giữ được đầy đủ các giới nên e luôn cảm thấy mình chưa đủ sự nghiêm túc, nên e luôn cảm thấy lo sợ mình sẽ bị nguy hiểm. Mong các anh chị giúp đỡ.
    Bạn thân mến,

    Bạn hãy cứ thực hành theo những bài tập đó đi nhé, không có sao đâu. Chắc chắn bạn sẽ đạt được nhiều tĩnh lặng hơn nếu cố gắng thực hành. Khởi đầu, hãy thử chừng 1/2 tiếng, rồi sau đó được thì 1 tiếng mỗi ngày đều đặn :happy:

    Những bài tập đó giúp bạn phát triển sự buông xả vào các chấp thủ, ít nhất trước hết có thể giúp bạn bớt dính mắc vào những đam mê, những sân, si của đời thường.

    Bạn đừng lo. Tinh tấn với phương pháp này, tâm thái bạn sẽ ngày càng tĩnh lặng hơn, ngày càng bình yên hơn nhờ luôn chánh niệm thực hành buông xả. Dù có tham, sân, si rồi bạn cũng sẽ nhìn thấy, trực nhận ngay cái sân, si của mình như thế nào, mức độ phản ứng với tham, sân, si cũng dần dần giảm bớt. Ngay cả những âu lo sợ sệt về thế giới vô hình và các vị phi nhân nữa, nếu có rồi cũng sẽ qua mau peace.

    Cuộc đời của bạn phụ thuộc vào chính phẩm chất tâm của bạn.

    Chúc bạn đặng nhiều duyên lành trong thực hành chánh pháp, bạn nhé.
    Last edited by xman4vn; 31-08-2013 at 11:37 AM.

  17. #17

    Mặc định

    Bạn muốn hành thiền cho đúng Pháp của Phật để lại, hãy nên đọc các bài kinh như kinh niệm hơi thở, thiền hành, tứ niệm xứ....thiền tưởng niệm công đức Phật, thiền phát tâm từ.....
    Điều quan trọng nhất vẫn là huấn luyện tâm để thu phục cho được 5 triền cái .
    Năm triền cái hay chướng ngại là:
    1. Tham dục, 2. Sân hận, 3. Hôn trầm - thuỵ miên, 4. Trạo hối, 5. Hoài nghi.
    Năm chướng ngại này làm ta không thể hành thiền, không thể tạo thiện nghiệp. Vì vậy, việc loại bỏ chúng ra khỏi tâm là việc rất quan trọng. Nếu ta không loại bỏ chúng thì chúng sẽ chiếm cứ tâm ta, làm ta đầy hoài nghi: về Pháp, về Tăng, về sự giải thoát do hành thiền mang lại. Có người tham muốn thành công trong nhiều việc kinh doanh, muốn có nhiều tiền hơn nữa, và không hề nghĩ gì về việc tạo thiện nghiệp. Họ luôn khát khao được giàu có, tiền của dư đầy. Đôi khi sự sân hận phát sinh nhưng họ không nhìn thấy sự phát sinh đó. Họ nổi sân, bực tức, làm điều gì đó cho hả giận. Có lúc sự hôn trầm - thuỵ miên (dã dượi - buồn ngủ) xâm chiếm làm thân tâm ta yếu kém, không làm điều thiện được. Có khi thì trạo hối ( trạo cử / phóng tâm - hối hận) khiến tâm ta phóng đi rất nhiều lần, suy nghĩ miên man, cảm thấy hối tiếc.
    Và nên nhớ sau khi xả thiền cũng cần một thời gian vài ba phút để xem lại diễn tiến của buổi thiền tập của mình.
    Tuy vậy , những lời trên đây là yếu chỉ giúp người tu thiền , ngoài ra chìa khoá để đắc thiền là nơi núi cao có suối trong có chim chóc (nếu không có điều kiện tìm được nơi A lan nhã) và cây trái xum xuê, hai là phải xa lìa ái dục và ba là xuất thế gian xa gia đình đê tránh hưởng thụ dục lạc, bốn là bát quan trai giới.
    Last edited by chỉnh_tâm; 31-08-2013 at 02:43 PM.

  18. #18

    Mặc định

    Cảm ơn các anh chị đã giúp đỡ.

  19. #19

    Mặc định

    Lời Dẫn Nhập: Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theo văn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với các bản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú. Hy vọng sẽ đóng góp được phần nào lợi ích về tri kiến cho người đọc cũng như sự tu tập của các hành giả. Văn bản song ngữ Pali - Việt được ghi lại ở dạng Pdf và có thể hạ tải ở đường dẫn sau: http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_PhDich.htm
    Colombo, ngày 19 tháng 09 năm 2010
    Tỳ khưu Indacanda.
    *****
    KINH GIẢNG VỀ
    NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA
    (Phần Giới Thiệu)[1]
    Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngụ tại Sāvatthi, ở khu vườn phía Đông, nơi lâu đài của Migāramātu, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng như là đại đức Sāriputta, đại đức Mahāmoggallāna, đại đức Mahākassapa, đại đức Mahākaccāyana, đại đức Mahākotthita, đại đức Mahākappina, đại đức Mahācunda, đại đức Anuruddha, đại đức Revata, đại đức Ānanda, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng khác nữa.
    Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy các vị tân tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.
    Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Pavāranā, vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, Ta được hài lòng với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, Ta có tâm hài lòng đối với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, các ngươi hãy ra sức tinh tấn hơn nữa nhằm đạt được pháp chưa đạt được, nhằm chứng đắc pháp chưa được chứng đắc, nhằm chứng ngộ pháp chưa được chứng ngộ. Ta sẽ chờ đợi ở chính nơi đây, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).”
    Các tỳ khưu trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn sẽ chờ đợi ở chính nơi đó, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).” Và các tỳ khưu trong xứ sở ấy quy tụ về Sāvatthi để chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Và các vị tỳ khưu trưởng lão còn giáo huấn, chỉ dạy các tân tỳ khưu nhiều hơn nữa. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.
    Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa), vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang hoàn toàn im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, tập thể này không có việc nói chuyện nhảm. Này các tỳ khưu, tập thể này không còn việc nói chuyện nhảm, được thanh tịnh, đã vững vàng ở cốt lõi. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này đáng được tiến cúng, đáng được hiến dâng, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là nơi để gieo trồng phước báu của thế gian không gì hơn được. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Ở tập thể như thế này, vật được bố thí ít trở thành nhiều, được bố thí nhiều thì trở thành nhiều hơn nữa. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là khó gặp ở thế gian. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là xứng đáng đi nhiều do-tuần để yết kiến dầu với vật thực đi đường ở vai.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được tiêu diệt, có trí hiểu biết chân chánh, đã được giải thoát. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận năm hạ phần kiết sử, là hạng hóa sanh, có sự viên tịch Niết Bàn tại nơi ấy, từ thế giới ấy không có việc quay trở lui. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, có sự giảm thiểu của luyến ái-sân hận-si mê, là bậc Nhất Lai, sẽ đi đến thế gian này chỉ một lần rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, là bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, có sự tiến đến giác ngộ đã được chắc chắn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn sự thiết lập niệm. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn chánh tinh tấn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn nền tảng của thần thông. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm quyền. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm lực. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bảy chi phần đưa đến giác ngộ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về Thánh Đạo tám chi phần. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về từ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về hỷ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về xả. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tử thi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tưởng vô thường. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về niệm hơi thở vào hơi thở ra.[2] Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên là có quả báu lớn, có lợi ích lớn. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bốn sự thiết lập niệm[3] được hoàn bị. Bốn sự thiết lập niệm được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ[4] được hoàn bị. Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.
    (Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra)
    Và này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào là có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

    Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]
    Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
    Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’
    Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’

    Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]

    Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở vào.’

    Vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát[11] về vô thường, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào.’
    Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như vầy, được thực hành thường xuyên như vầy là có quả báu lớn, có lợi ích lớn.
    (Bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị)
    Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO[12] vị tỳ khưu trong khi thở ra dài nhận biết: ‘Tôi thở ra dài;’ hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn;’ hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.[13] Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thân khác nữa trong số các thân, tức là sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thọ khác nữa trong số các thọ, tức là sự chú tâm tốt đẹp đối với sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, đối với kẻ có niệm bị quên lãng, không có sự nhận biết rõ rệt, ta không nói về sự tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra.[14] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập. ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Vị ấy sau khi nhìn thấy sự dứt bỏ tham và ưu phiền bằng tuệ là người có trạng thái xả tốt đẹp.[15] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị.
    (Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị)
    Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị ấy được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp.[16] Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ —(như trên)— tâm ở trên tâm —(như trên)— pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị này là đã được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu là đã được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị.
    (Minh và giải thoát được hoàn bị)
    Này các tỳ khưu, bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ;[17] tu tập trạch pháp giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tịnh giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập định giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập xả giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ.
    Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.
    Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy thỏa thích lời dạy của đức Thế Tôn.
    ------
    Chú thích:
    [1] Phần trong ngoặc đơn () không có ở Chánh Kinh, được thêm vào để tiện việc theo dõi (ND).
    [2] ānāpānasati = āna+apāna+sati, āna là hơi thở vào, apāna là hơi thở ra, sati là niệm, sự ghi nhớ.
    [3] Từ thông dụng là ‘tứ niệm xứ.’
    [4] Từ thông dụng là ‘bảy giác chi.’
    [5] Chú ý đến từ “hoặc” (từ Pali là ‘vā’) ở đầu câu và động từ “nhận biết” (pajānāti) trong nhóm 4 câu này. Có thể hiều là ở pháp thiền này, hành giả không điều khiển hơi thở theo ý mình mà để hơi thở tự nhiên rồi chú tâm nhận biết sự diễn biến của hơi thở khi dài khi ngắn khác nhau.
    [6] assasanto và assasāmi là các biến thể của động từ assasati. Đa số các từ điển và các bản dịch tiếng Anh đều ghi nghĩa cho động từ này là “thở vào,” nên ở từng đôi như vậy trình bày “thở vào” trước rồi “thở ra” sau. Còn ở bản dịch này, chúng tôi ghi nhận nghĩa của động từ assasati là “thở ra” nên trình bày “thở ra” trước rồi “thở vào” sau. Sự chọn lựa này được căn cứ vào 2 chứng cớ:
    - Ở Chú Giải Tạng Luật, ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 408, theo bản in của Pali Text Society - PTS).
    - Tự Điển Pali - English Dictionary của PTS cũng ghi assasati là thở ra (trang 90), passasati là thở vào (trang 447).
    Nếu là như vậy, phải chăng phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào? Việc thử nghiệm xin dành cho các hành giả, ở đây chúng tôi chỉ trình bày theo sự nghiên cứu về văn tự.
    [7] - Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (nhận biết) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập). Theo thiển ý của cá nhân thì đến giai đoạn này, hành giả đã có sự tiến triển trong sự tu tập hơi thở và các chi thiền bắt đầu sanh khởi.
    [8] - Ngài Buddhaghosa giải thích là sabbakāya (toàn thân) nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc của toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 411, theo bản in của PTS).
    - Ngài Mahābhidhāna, ở tập Chú Giải Saddhammappakāsinī, ghi rằng: ‘Trong khi làm cho được biết rõ, trong khi làm cho rõ rệt phần đầu-giữa-cuối của toàn bộ hơi thở vào, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập (Patisambhidāmagga-atthakathā tập 2, trang 491, theo bản in của PTS).
    [9] Ở nhóm 2 câu này, cụm từ sabbakāyapatisamvedī (có cảm giác toàn thân) nên được hiểu là ‘danh tính từ’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào.
    [10] Tương tợ như trên, ở nhóm 2 câu này, từ passambhayam (trong khi làm an tịnh) nên được hiểu là ‘phân từ hiện tại, thể liên tiến (progressive)’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào. Cách giải thích này được áp dụng tương tợ cho các nhóm 2 câu ở bên dưới.
    [11] anupassati (anu + passati): passati có nghĩa là ‘nhìn, xem, coi,’ còn anu là ‘dõi theo, lần theo’ nên từ anupassati được ghi nghĩa là ‘quan sát’ thay vì ‘quán’ hay ‘tùy quán,’ để dễ hiểu.
    [12] Các mệnh đề điều kiện về thời gian “VÀO LÚC NÀO” và “VÀO LÚC ẤY” được viết dưới dạng in hoa để tiện phân biệt.
    [13] Trong câu: “vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian” thì hai động từ “sống” (viharati) và “có thể chế ngự” (vineyya) động từ chính (finite verb), còn các cụm từ còn lại bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu.
    [14] Các hành giả tu tập về hơi thở nên chú ý điều kiện này.
    [15] ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả) là trường hợp tương tợ như các từ gantu, sotu, netu, vattu, jetu, v.v...
    [16] Trong trường hợp này “tâm đã được định tĩnh” là túc từ, là đối tượng của danh động từ ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả), nghĩa là hành giả có trạng thái xả đối với cái “tâm đã được định tĩnh.” Cấu trúc Pali ở câu này tương đối phức tạp về mặt văn phạm.
    [17] bhāveti có nghĩa là “làm cho hiện hữu, tu tập, phát triển” là động từ chính (finite verb), túc từ là “niệm giác chi” và niệm giác chi này được đặt nền tảng ở sự tách ly, ở sự lìa ái dục, ở sự tịch diệt, và có đích đến là sự buông bỏ.
    Tiếp theo >



    Author of this article: Tỳ khưu Indacanda
    Show Other Articles Of This Author
    • Giảng về thần thông
    • Cập nhật CÔNG TRÌNH TAM TẠNG SONG NGỮ
    Hai chúng sinh có nghiệp quả với nhau, một là người còn sống, một đang làm thân ngạ quỷ, quỷ đang đòi mạng người sống,vì nghiệp căn của tiền kiếp, bạn Khoatin giúp ai đây?
    Nếu bạn giúp người sống thì phạm luật nhân quả, và phải đền mạng mình, hoặc giảm công đức của mình, qua trường hợp kế tiếp gặp chuyện như vậy nữa mà bạn vẫn cứ giúp người sống, thì e rằng công đức của bạn chẳng đủ bù, và đành phải xả bỏ xác thân của chính mình.
    Nhưng thật sự bản thân bạn cũng chẳng thể trực tiếp giúp họ, mà bạn phải cầu Phật, Phật giúp ai đây? cả hai đều là chúng sinh trong lục đạo, họ đều bình đẳng, Phật giúp ai đây? Phật không thể giúp người sống để chối bỏ sự trả nghiệp của họ, nếu được như vậy thì Ngài đã thị hiện giúp cho cả giòng họ Ngài khỏi bị xử tử rồi!.
    Do đó dù bạn dụng pháp gì để giúp một bên cũng chỉ là tạm thời , không phải là mãi mãi, và không phải là chánh pháp.
    Nếu bạn tu hành đã có phương tiện, bạn có thể dụng pháp cho ngạ quỷ kia được siêu thăng lên tịnh độ và buông bỏ báo nghiệp với người sống,nhưng bạn muốn vậy , chắc gì ngạ quỷ kia muốn, rồi bạn thuyết cho nó, nó vẫn không thông, và không buông , bạn dùng chày đập chết nó chăng? nó nó vẫn tái sanh và đeo bám.
    Nếu bạn đã có phương tiện và huệ , người bạn là một vùng từ trường êm diu từ bi, thân bạn sáng chói, khiến ngạ quỷ khiếp phục, bạn nói kiểu gì mà nó không nghe theo?từ cái huệ nầy , từ hào quang nầy chính là bát nhã trí chính là nhất thiết trí, lúc đó bạn có thể nhìn thấy căn nghiệp của ngạ quỷ và tùy duyên mà pháp thí,nó chẳng thể nào không khiếp phục, chẳng thể nào không nghe theo.
    Phật dạy , lúc đầu ta phải tu theo thiện nghiệp, xa rời ác nghiệp, khi thành đạo thì đi con đường trung đạo phi thiện phi ác , hình tướng phẩn nộ của Đức Thích Ca là Uế Tích Kim cang, ngạ quỹ mi dữ , ta dữ hơn, mi xú uế, ta chịu được xú uế nhiều hơn cả mi.
    Do đó, chớ nên cưởng cầu tùy duyên mà phổ độ, sự giúp đở chúng sanh cũng phải ở trong chánh giác, chánh trí huệ, thiếu hai cái nầy thì từ bi cũng chỉ là ngu muội do vô minh.Vì bạn giúp cho người sống thì người chết phải chịu thiệt, trong khi họ được phép báo nghiệp mà không thực hiện được, chính bạn là người cản trở luật trời, thì tội ấy đáng bị cái chi đây ?
    Đối với tôi Phật pháp là pháp Phật chẳng cao chẳng thấp, tùy dụng mà hành, tùy hỹ mà dụng công và cái pháp cao quý nhất lúc nào cũng phải kèm theo đặc tính là tùy hỹ-tùy thuận chúng sanh, trong các pháp thế gian và xuất thế gian, thường y theo pháp mà trụ , không làm điều Phi pháp, vạn pháp đều phải khởi lên từ Trí huệ, nhưng phải đặt trên nền tảng của Từ Bi, bình đẳng với lòng thật sự chơn thành tha thiết mong cầu lợi lạc cho tất cả chúng sinh
    Tất cả là 16 pháp thở , quý vị đọc kỹ rồi hành theo, quá khứ đừng nhớ tới tương lai không nghĩ tới chỉ an trú chánh niệm về phía trước, ý Phật nói là chỉ chú ý tới sự định tỉnh và an lạc ở hiện tại, giữ chánh niệm tu tập tâm quán sát loại bỏ , hoặc dừng tâm tạo tác, khóa ngũ căn nhản nhĩ tỷ thiệt thân, chỉ còn căn Ý là giữ chánh niệm là con đường thứ bảy trong bát thánh đạo để đi tới con đường thứ tám chánh định,
    chúc quý hữu như ý.

  20. #20

    Mặc định

    Lời Dẫn Nhập: Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theo văn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với các bản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú. Hy vọng sẽ đóng góp được phần nào lợi ích về tri kiến cho người đọc cũng như sự tu tập của các hành giả. Văn bản song ngữ Pali - Việt được ghi lại ở dạng Pdf và có thể hạ tải ở đường dẫn sau: http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_PhDich.htm
    Colombo, ngày 19 tháng 09 năm 2010
    Tỳ khưu Indacanda.
    *****
    KINH GIẢNG VỀ
    NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA
    (Phần Giới Thiệu)[1]
    Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngụ tại Sāvatthi, ở khu vườn phía Đông, nơi lâu đài của Migāramātu, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng như là đại đức Sāriputta, đại đức Mahāmoggallāna, đại đức Mahākassapa, đại đức Mahākaccāyana, đại đức Mahākotthita, đại đức Mahākappina, đại đức Mahācunda, đại đức Anuruddha, đại đức Revata, đại đức Ānanda, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng khác nữa.
    Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy các vị tân tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.
    Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Pavāranā, vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, Ta được hài lòng với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, Ta có tâm hài lòng đối với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, các ngươi hãy ra sức tinh tấn hơn nữa nhằm đạt được pháp chưa đạt được, nhằm chứng đắc pháp chưa được chứng đắc, nhằm chứng ngộ pháp chưa được chứng ngộ. Ta sẽ chờ đợi ở chính nơi đây, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).”
    Các tỳ khưu trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn sẽ chờ đợi ở chính nơi đó, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).” Và các tỳ khưu trong xứ sở ấy quy tụ về Sāvatthi để chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Và các vị tỳ khưu trưởng lão còn giáo huấn, chỉ dạy các tân tỳ khưu nhiều hơn nữa. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.
    Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa), vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang hoàn toàn im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, tập thể này không có việc nói chuyện nhảm. Này các tỳ khưu, tập thể này không còn việc nói chuyện nhảm, được thanh tịnh, đã vững vàng ở cốt lõi. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này đáng được tiến cúng, đáng được hiến dâng, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là nơi để gieo trồng phước báu của thế gian không gì hơn được. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Ở tập thể như thế này, vật được bố thí ít trở thành nhiều, được bố thí nhiều thì trở thành nhiều hơn nữa. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là khó gặp ở thế gian. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là xứng đáng đi nhiều do-tuần để yết kiến dầu với vật thực đi đường ở vai.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được tiêu diệt, có trí hiểu biết chân chánh, đã được giải thoát. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận năm hạ phần kiết sử, là hạng hóa sanh, có sự viên tịch Niết Bàn tại nơi ấy, từ thế giới ấy không có việc quay trở lui. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, có sự giảm thiểu của luyến ái-sân hận-si mê, là bậc Nhất Lai, sẽ đi đến thế gian này chỉ một lần rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, là bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, có sự tiến đến giác ngộ đã được chắc chắn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn sự thiết lập niệm. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn chánh tinh tấn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn nền tảng của thần thông. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm quyền. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm lực. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bảy chi phần đưa đến giác ngộ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về Thánh Đạo tám chi phần. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về từ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về hỷ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về xả. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tử thi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tưởng vô thường. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
    Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về niệm hơi thở vào hơi thở ra.[2] Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên là có quả báu lớn, có lợi ích lớn. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bốn sự thiết lập niệm[3] được hoàn bị. Bốn sự thiết lập niệm được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ[4] được hoàn bị. Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.
    (Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra)
    Và này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào là có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

    Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]
    Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
    Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’
    Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’

    Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]

    Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở vào.’

    Vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát[11] về vô thường, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở vào;’

    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’
    vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào.’
    Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như vầy, được thực hành thường xuyên như vầy là có quả báu lớn, có lợi ích lớn.
    (Bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị)
    Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO[12] vị tỳ khưu trong khi thở ra dài nhận biết: ‘Tôi thở ra dài;’ hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn;’ hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.[13] Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thân khác nữa trong số các thân, tức là sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thọ khác nữa trong số các thọ, tức là sự chú tâm tốt đẹp đối với sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, đối với kẻ có niệm bị quên lãng, không có sự nhận biết rõ rệt, ta không nói về sự tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra.[14] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập. ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Vị ấy sau khi nhìn thấy sự dứt bỏ tham và ưu phiền bằng tuệ là người có trạng thái xả tốt đẹp.[15] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị.
    (Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị)
    Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị ấy được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp.[16] Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ —(như trên)— tâm ở trên tâm —(như trên)— pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị này là đã được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu là đã được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
    Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị.
    (Minh và giải thoát được hoàn bị)
    Này các tỳ khưu, bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ;[17] tu tập trạch pháp giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tịnh giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập định giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập xả giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ.
    Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.
    Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy thỏa thích lời dạy của đức Thế Tôn.
    ------
    Chú thích:
    [1] Phần trong ngoặc đơn () không có ở Chánh Kinh, được thêm vào để tiện việc theo dõi (ND).
    [2] ānāpānasati = āna+apāna+sati, āna là hơi thở vào, apāna là hơi thở ra, sati là niệm, sự ghi nhớ.
    [3] Từ thông dụng là ‘tứ niệm xứ.’
    [4] Từ thông dụng là ‘bảy giác chi.’
    [5] Chú ý đến từ “hoặc” (từ Pali là ‘vā’) ở đầu câu và động từ “nhận biết” (pajānāti) trong nhóm 4 câu này. Có thể hiều là ở pháp thiền này, hành giả không điều khiển hơi thở theo ý mình mà để hơi thở tự nhiên rồi chú tâm nhận biết sự diễn biến của hơi thở khi dài khi ngắn khác nhau.
    [6] assasanto và assasāmi là các biến thể của động từ assasati. Đa số các từ điển và các bản dịch tiếng Anh đều ghi nghĩa cho động từ này là “thở vào,” nên ở từng đôi như vậy trình bày “thở vào” trước rồi “thở ra” sau. Còn ở bản dịch này, chúng tôi ghi nhận nghĩa của động từ assasati là “thở ra” nên trình bày “thở ra” trước rồi “thở vào” sau. Sự chọn lựa này được căn cứ vào 2 chứng cớ:
    - Ở Chú Giải Tạng Luật, ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 408, theo bản in của Pali Text Society - PTS).
    - Tự Điển Pali - English Dictionary của PTS cũng ghi assasati là thở ra (trang 90), passasati là thở vào (trang 447).
    Nếu là như vậy, phải chăng phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào? Việc thử nghiệm xin dành cho các hành giả, ở đây chúng tôi chỉ trình bày theo sự nghiên cứu về văn tự.
    [7] - Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (nhận biết) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập). Theo thiển ý của cá nhân thì đến giai đoạn này, hành giả đã có sự tiến triển trong sự tu tập hơi thở và các chi thiền bắt đầu sanh khởi.
    [8] - Ngài Buddhaghosa giải thích là sabbakāya (toàn thân) nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc của toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 411, theo bản in của PTS).
    - Ngài Mahābhidhāna, ở tập Chú Giải Saddhammappakāsinī, ghi rằng: ‘Trong khi làm cho được biết rõ, trong khi làm cho rõ rệt phần đầu-giữa-cuối của toàn bộ hơi thở vào, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập (Patisambhidāmagga-atthakathā tập 2, trang 491, theo bản in của PTS).
    [9] Ở nhóm 2 câu này, cụm từ sabbakāyapatisamvedī (có cảm giác toàn thân) nên được hiểu là ‘danh tính từ’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào.
    [10] Tương tợ như trên, ở nhóm 2 câu này, từ passambhayam (trong khi làm an tịnh) nên được hiểu là ‘phân từ hiện tại, thể liên tiến (progressive)’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào. Cách giải thích này được áp dụng tương tợ cho các nhóm 2 câu ở bên dưới.
    [11] anupassati (anu + passati): passati có nghĩa là ‘nhìn, xem, coi,’ còn anu là ‘dõi theo, lần theo’ nên từ anupassati được ghi nghĩa là ‘quan sát’ thay vì ‘quán’ hay ‘tùy quán,’ để dễ hiểu.
    [12] Các mệnh đề điều kiện về thời gian “VÀO LÚC NÀO” và “VÀO LÚC ẤY” được viết dưới dạng in hoa để tiện phân biệt.
    [13] Trong câu: “vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian” thì hai động từ “sống” (viharati) và “có thể chế ngự” (vineyya) động từ chính (finite verb), còn các cụm từ còn lại bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu.
    [14] Các hành giả tu tập về hơi thở nên chú ý điều kiện này.
    [15] ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả) là trường hợp tương tợ như các từ gantu, sotu, netu, vattu, jetu, v.v...
    [16] Trong trường hợp này “tâm đã được định tĩnh” là túc từ, là đối tượng của danh động từ ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả), nghĩa là hành giả có trạng thái xả đối với cái “tâm đã được định tĩnh.” Cấu trúc Pali ở câu này tương đối phức tạp về mặt văn phạm.
    [17] bhāveti có nghĩa là “làm cho hiện hữu, tu tập, phát triển” là động từ chính (finite verb), túc từ là “niệm giác chi” và niệm giác chi này được đặt nền tảng ở sự tách ly, ở sự lìa ái dục, ở sự tịch diệt, và có đích đến là sự buông bỏ.


    Author of this article: Tỳ khưu Indacanda
    Show Other Articles Of This Author
    Last edited by chỉnh_tâm; 31-08-2013 at 08:07 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Hành Thiền Để Giải Phóng Tâm
    By phanquanbt in forum Thiền Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 26-12-2012, 06:32 PM
  2. TRÍCH THIÊN TỦY-BẢN GIẢN LƯỢC
    By thaiduong162 in forum Tử Bình, Tướng, Số, Khác...
    Trả lời: 7
    Bài mới gởi: 10-09-2012, 06:48 PM
  3. Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 11-06-2012, 02:39 PM
  4. Niệm Phật Pháp Môn Giải Thoát
    By Nothing_To_Lose in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-09-2011, 11:28 AM
  5. Tịnh độ chân tông thực hành
    By Nothing_To_Lose in forum Tịnh Độ Tông
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 09-09-2011, 11:18 AM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •