Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 27

Ðề tài: Sự Tích

  1. #1
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự Tích

    Sự Tích

    Và đây là các sự tích .

    Sự tích mùa Xuân

    Ngày xưa trên trái đất chỉ có ba mùa: mùa Hạ, mùa Thu và mùa Đông. Người ta bảo rằng, mùa Xuân chỉ đến khi có một chiếc cầu vồng nhiều màu sắc và có muôn hoa đón chào.

    Cầu vồng thì chỉ có trong mùa Hạ, khi ông mặt trời xuất hiện sau cơn mưa rào. Còn hoa thì nở quanh năm, lại có khắp nơi trên trái đất nên không thể hẹn nhau cùng nở một lúc được.

    Vì thế, sau mùa Đông giá buốt là đến mùa hạ nóng bức, thời tiết thay đổi đột ngột khiến cho muôn loài hết sức khổ sở. Ai cũng mong được gặp mùa Xuân ấm áp.

    Có một chú thỏ sống trong khu rừng xanh với mẹ. Mỗi lúc chuyển mùa, mẹ của thỏ lại bị ốm nặng. Thương mẹ quá, thỏ liền bàn với bác khỉ già thông thái:

    - Chúng ta hãy cùng nhau làm một chiếc cầu vồng thật đẹp để đón mùa Xuân.

    - Nhưng bằng cách nào? - Bác khỉ già hỏi lại.

    - Cháu sẽ rủ muông thú trong rừng góp những chiếc lông đẹp nhất để làm chiếc cầu vồng nhiều màu sắc.

    Tin lan truyền đi khắp nơi. Muông thú trong rừng đều muốn gặp mùa Xuân dịu hiền nên vui vẻ góp những sắc màu đẹp nhất. Nào là màu xám của gấu, màu vàng tơ của hươu sao, màu nâu của sóc. Rồi chim công, vẹt, vành khuyên.... cũng góp những chiếc lông nhiều màu sắc của mình. Bầy cá cũng cử cá chép mang đến một túi vây cá lấp lánh sắc màu.

    Chim sâu khéo tay bắt đầu kết nối những mảng màu để làm chiếc cầu vồng.

    Trong khi đó, thỏ tạm biệt các bạn muông thú để lên đường đi tìm các loài hoa.

    Thỏ đi, đi mãi, vượt thác, lên ngàn, băng qua hết khu rừng này đến khu rừng khác để gặp từng loài hoa. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của thỏ dành cho mẹ, các loài hoa đều đồng ý sẽ tích tụ dưỡng chất để chờ chị gió báo tin là đồng loạt nở.

    Một buổi sáng cuối mùa Đông, chim sâu đã dệt xong những mảng màu cuối cùng. Chiếc cầu vồng xuất hiện làm muôn loài trên mặt đất xôn xao. Chị gió nhanh chóng báo tin cho các loài hoa. Như đã hẹn, những nụ hoa lần lượt trồi lên, nở muôn màu rực rỡ. Cả mặt đất lộng lẫy sắc màu. Nàng mùa Xuân xinh đẹp đã đến với trái đất.

    Từ đó, trên trái đất có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nếu các bé để ý sẽ thấy các loài hoa đều khoe màu rực rỡ khi những làn gió xuân nhè nhẹ thổi tới.

    Còn riêng chú thỏ đáng yêu đã được nàng mùa Xuân tặng cho một chiếc áo trắng tinh, mềm mại vì tấm lòng hiếu thảo và đã biết đoàn kết các bạn muông thú và các loài hoa để cùng nhau đón mùa Xuân về.

    (Theo Kim Tuyến)

    HELLBOY
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  2. #2
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích con sư tử

    Sự tích con sư tử

    Thuở xưa, có một hoàng tử mới mới lên ngôi hoàng đế. Ngay lập tức chàng muốn đi học phép thuật để củng cố đất nước. Chàng đi tìm một ông thầy bùa chú rất nổi tiếng về phép thuật để học.

    Hoàng hậu rất buồn vì ý định của hoàng đế vì nàng sợ sự chia ly, vả lại trên đường đi có rất nhiều nguy hiểm, khó khăn. Nhưng chàng đã quyết và một ngày kia lên đường cùng với bốn người tuỳ tùng.

    Đường đi rất khó khăn, vì phải qua những sa mạc rộng lớn và đi vào những vùng rừng sâu đầy thú dữ... nhưng vì họ quá khao khát phép thuật, quyền hành sau nầy, cho nên những khó khăn chẳng cản được họ.

    Ba tháng cực khổ, đói và khát, hoàng đế và bạn hữu chàng đến chỗ của thầy tu. Vị thầy nầy cảm động vì sự dũng cảm của họ nên chấp nhận cho họ học nghề. Nhưng ông ra một điều kiện: họ phải hứa xử trí một cách đạo đức, không bao giờ giết sinh vật nào cả. Nếu tay họ chỉ một lần vấy máu thôi, thì tất cả phép thuật sẽ biến mất đi. Hoàng đế đồng ý.

    Sau khi học những phép thuật, họ vui mừng, lên đường trở về cung điện. Nhưng đi một tháng sau, họ lạc trong một khu rừng dày đặc. Họ không nhận ra những đường xưa nữa, và thấy tất cả vật xung quanh họ đều lạ lùng. Lúc đó, hoàng hôn giăng bủa và đêm khuya bỗng nhiên ôm trùm cả phong cảnh rừng tối om. Những vòm lá ngàn cây che mịt mù cả trời đen thui, không cho thấy những ngôi sao nào để mà nhắm hướng. Xung quanh họ bắt đầu vang lên hàng trăm thứ tiếng của thú rừng.

    Hoàng đế và các bạn hữu chàng bắt đầu sợ và bàn với nhau dùng phép thuật để biến thành một con thú vật rất mạnh bạo, to lớn, dữ tợn, có thể tự bảo vệ, và làm khiếp sợ những con thú khác. Vì thế, hoàng đế bắt đầu biến thành đầu một con vật, bờm tóc, như vương miện ... Ông đại tướng làm theo ngay và biến thành thân người của con động vật ấy ... bốn người tùy tùng kia thì biến thành bốn chân ... còn lại ông thầy địa, do dự một lúc, rồi biến thành cái đuôi. Con vật ấy có dáng đi hùng dũng như một vị vua nên các con thú rất sợ và không tấn công nó.

    Hoàng đế và mấy bạn bè ở như vậy suốt cả đêm dài. Nhưng lúc gần sáng, thì có một con nai non đi qua gần đó. Con sư tử rất đói vì cả ngày chưa ăn, bỗng chìa cánh tay ra, bắt con nai bằng vuốt nhọn, và hai tay giữ mạnh, cắn cổ nai và xé thịt ăn ngon lành ...

    Mõm nó còn đỏ máu lúc mặt trời dần dần thức dậy. Nó muốn biến lại thành người để tiếp tục đi về cung điện. Nhưng đột nhiên nó nhớ lại là nó đã dùng phép thuật để giết một con thú vật rồi ... Lúc đó nó mới biết là nó sẽ không bao giờ trở thành người lại được nữa, và luôn luôn phải sống làm kiếp con sư tử...

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  3. #3
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Hoa hồng bạch

    Hoa hồng bạch

    Câu chuyện này xảy ra vào thời mà những khu vườn còn ngập tràn cỏ dại, các loài hoa rất hiếm và chưa có hương thơm, còn hoa hồng chỉ có một màu đỏ thắm.

    Ở một làng quê nọ, nơi một dòng sông nối liền với biển, có hai đứa trẻ chơi rất thân với nhau, cô bé có mái tóc dài đen mượt, còn tóc cậu bé màu vàng tơ. Buổi sáng tinh mơ, khi mặt trời còn chưa tròn, hai đứa trẻ đã cùng nhau vui đùa trong sóng biển hay mải mê tìm kiếm những viên đá màu xanh. Buổi chiều muộn, lúc mặt trăng đã hiện dần vành vàng nhạt màu, cả hai vẫn còn ở trong rừng hái cho nhau những chùm quả dại ngọt lịm. Tháng ngày như thế trôi qua, nhưng chưa bao giờ cậu bé được nghe giọng nói của cô bé, vì cô bị câm từ thủa nhỏ. Và thay vì kể chuyện cho cô, cậu hát cho cô nghe những bài ca của những người đánh cá khi cả đoàn thuyền kéo về những con cá lớn, những bài ca về câu chuyện dòng sông... Hai đứa trẻ dần lớn lên, và rồi cậu bé đi học việc theo đoàn thuyền đánh cá, còn cô bé ở nhà với bố mẹ làm vườn. Cậu vẫn thường hát cho cô nghe những sáng tinh mơ hay những chiều tà mặt trăng không còn nữa.

    Ngày cậu bé tròn 15 tuổi, đoàn thuyền đánh cá mở hội mừng cậu gia nhập. Suốt một ngày vui chơi, và buổi tối các cô bé sẽ tặng cậu hoa để rồi sớm hôm sau, cậu sẽ theo đoàn thuyền ra khơi. Chiều hôm ấy, có cô bé láng giềng con một người đánh cá đến hỏi cô phải làm gì. Và cô rủ cô bé ấy đi tìm hoa vì cô biết những khu vườn nhiều hoa đẹp nhất.

    Nhưng vào mùa hè nóng bỏng ấy, ánh nắng chói chang đã làm khô đi nhiều cây cối, suốt buổi chiều bọn trẻ đi rất xa mà chỉ tìm được vài bông hồng nhỏ. Khi mặt trời dần lặn, hai cô bé sợ lạc, và cô bé láng giềng đứng lại trên con đường nhỏ đợi những bác thợ đi qua để hỏi lối về.

    Còn lại một mình, cô bé tóc đen vui chạy như một cánh chim từ vườn này sang vườn khác, cô rẽ từng khóm lá, từng rặng cây để tìm chọn. Một làn gió dịu dàng, man mát bỗng đưa bước chân cô đến một vườn hoa, nơi một khóm hồng đỏ thắm như đang chờ đợi. Ôm vào ngực những nụ hồng chúm chím, cô lặng mình hôn lên những cánh hoa. Lạ kỳ làm sao, những bông hoa bỗng tỏa hương thơm ngọt ngào, dịu nhẹ. Vui sướng, cô nhắm mắt và thầm nghĩ "cám ơn trời, trời đã ban cho bạn những bông hoa này qua tôi", và nước mắt cô chảy dài trên má, khẽ rơi xuống những cánh hoa. Khi mở mắt, cô ngây người đi trước vẻ đẹp lạ lùng của những bông hoa. Nước mắt cô đã làm phai đi màu đỏ, những cánh hoa bên ngoài đã mang sắc trắng, và bên trong phơn phớt màu hồng.

    Những nụ hoa thẹn thùng, trong trắng như e ấp, dịu dàng trên ngực cô, trong vòng tay cô.

    Khi cô quay trở lại, cô bé láng giềng đã hỏi được đường về, và cả hai cùng chạy đến nhà cậu bé. Đến gần khu vườn nhà cậu bé, mái tóc của cô bay theo gió và vướng vào bụi gai, cô càng gỡ càng thêm rối. Đưa cho cô bé láng giềng bó hồng, cô giữ lại cho mình một nụ hoa, nụ hoa bé nhỏ nhất. Đứng sau lùm cây, cô bé như nghe thấy tiếng hát của cậu bé, và bên những cành lá rì rào trong gió, cô tưởng tượng nụ cười thân thương của cậu bé , nụ cười của mặt trời những sáng tinh mơ và mặt trăng những khi chiều tà.

    Nụ hồng của cô bé đã nở ngày hôm sau và bên cô luôn có hương thơm thoang thoảng. Rồi một sớm tinh mơ, khi mặt trời còn chưa tròn, cô bé đem cành hồng ra vườn trồng. Sáng sáng cô tưới chút nước và chăm sóc cho cây hồng bé nhỏ của mình. Mùa hè qua đi, mùa thu rồi hết mùa đông, khi mùa xuân đến, cô bé mừng vui thấy những nụ hồng đầu tiên chúm chím hé nở. Và dù cô bé không còn hôn lên những nụ hoa, dù nước mắt cô không bao giờ còn chảy trên những cánh hoa, thì kỳ diệu thay, những bông hồng mới vẫn mang hương thơm dịu ngọt và màu trắng phớt hồng.

    Từ đó loài hoa hồng bạch ra đời.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  4. #4
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích khèn bè Mường Vạt

    Sự tích khèn bè Mường Vạt

    Chuyện rằng:

    Xa xưa có một đôi vợ chồng người Thái còn trẻ và xinh đẹp vùng Mường Vạt. Họ lấy nhau đã mười năm mà không có một mụn con, buồn lắm. Đã thế, anh chồng lại đổ bệnh. Cả bản sợ hãi, họ cho là pên hướn (bệnh hủi). Bọn chúa đất đã bắt gia đình, họ hàng anh làm một cái lán nhỏ tận trong rừng sâu, bắt buộc anh phải vào ở đó độc thân. Cấm mọi người giao tiếp, sợ lây bệnh. Hàng tháng, một hai lần gia đình tiếp tế lương thực, muối với một số lượng ít ỏi, để từ xa gọi người bệnh đến lấy.

    Người vợ trẻ buồn nản, bị quan bản cấm thăm chồng, với một quy ước hết sức khắc nghiệt, nàng bỏ đi lang thang. Chàng trai trẻ sống lủi thủi một mình, làm bạn với chim và muông thú. Anh đã lấy một cây nứa nhỏ, cắt lỗ hình chữ nhật, lấy cật tre giắt vào làm hình lưỡi gà để phổ, phát ra những âm thanh nghe vui tai. Sau anh làm thành đôi, ghép thành ba mà thổi lên, chỉ nghe rõ một âm thanh thánh thót, gọi được chim muông về bầu bạn. Lâu dần, anh ghép vào bảy đôi thông qua một cục gỗ, có lỗ thoát không khí làm nơi thổi và dùi lỗ. Nếu bịt lại mới kêu, và hai đầu bằng nhau như một cái bè.

    Khi anh thổi, đầu óc anh nghĩ tới cảnh đau đớn, chia ly vợ chồng, bệnh tật? nhưng lạ thay, những âm thanh phát ra lại như mỉa mai. Bực mình, anh lấy dao phát một nhát đứt vát một đầu. Chiếc khèn bị vứt vào lùm cây. Đêm về trăng sáng, anh nhặt lấy cái khèn bị chém vát thổi thử. Lạ lùng thay, chiếc khèn nói lên được tâm sự của anh. Đầu anh suy nghĩ, các ngón tay bấm theo cảm hứng. Tiếng khèn là một bản nhạc lòng da diết, làm thức tỉnh mọi lương tri con người. Khi nghe, họ mất đi cái ác, cái xấu mà gần gũi yêu thương nảy nở, nhất là tình yêu đôi lứa.

    Càng ngày anh thổi càng hay, anh say sưa sửa chữa, sắp xếp lại khèn, từ làm lưỡi gà bằng cật tre, anh đã hy sinh cái nồi đồng duy nhất anh có, lấy dao chặt gọt làm lưỡi gà cho chiếc khèn của mình. Chiếc khèn lưỡi gà bằng đồng làm xong, thổi lên hay đến mức chim muông về làm tổ. Mọi người được tin thằng pên hướn mi pe (thằng hủi có khèn). Họ lấp từ xa lắng nghe, ai cũng thương anh. Tin đó đến tai bọn chúa đất, tạo bản; chúng lén lút nghe trộm. Quả thật, sau khi nghe tiếng khèn của anh, bọn chúng mất đi cái gian ác, độc địa; chúng bỏ đi cái ý định đày ải cho chết và cho người nhà đón về, làm lều ở góc bản. Từ đó, tiếng khèn của anh lại vang xa. Cô vợ bỏ đi lang thang nay trở về, nghe tiếng khèn của anh, lâu dần cũng tĩnh tâm không còn đi lang thang. Hai vợ chồng khoẻ mạnh trở lại. Cứ tối đến, anh chồng ra đầu sàn thổi khèn, cô vợ ngồi cạnh quay xa, kéo sợi. Anh dạy cho con trai thổi và làm ra nhiều khèn. Từ ngày đó, bản anh vui, sầm uất hẳn lên.


    Ngày nay, các nghệ nhân làm khèn bè của người Thái Yên Châu vẫn giữ hình dáng: một đầu phẳng, một đầu vát và lưỡi gà bằng đồng. Khèn được thổi trong các đêm liên hoan văn nghệ thôn bản. Tiếng khèn giữ nguyên bản sắc của người Mường Vạt, Yêu Châu, thiết tha, tình cảm, làm vui nhộn các cuộc vui, góp phần xây nên nếp sống văn hoá tinh thần, mà ít nơi nào có được - giữ được từ xa xưa đến tận ngày nay.


    (Theo Đào Quang Tố)

    HELLBOY
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  5. #5
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Chuông, Trống, Mõ

    Chuông, Trống, Mõ

    Ngày xưa, có một thư sinh nghèo học hành rất giỏi, hy vọng thế nào rồi cũng được đỗ cao, làm nên nghiệp lớn. Chàng rất sáng dạ, học đâu nhớ đấy, tấn tới lạ thường, thầy dạy cùng bạn bè đều mến phục. Thông thuộc hết kinh sử, chàng lại có tài làm thi phú rất hay.

    Thuở bấy giờ người ta vẫn tin là học tài thi phận và kẻ sĩ muốn vược thang mây thì phải làm việc bố thí hoặc điều thiện trước lúc thi cử. Chàng thư sinh nghèo quá không làm được việc bố thí mới nghĩ đến cách làm điều thiện. Một hôm trong khi dạo chơi ngoài đồng, chàng thấy một lũ trẻ chăn trâu đang reo hò kéo một con chạch lớn, bàn tính với nhau làm thịt nướng ăn. Thấy bộ dạng buồn bã của con vật sắp chết, hai mắt ứa lệ, thư sinh liền nghĩ ngay đến việc làm điều thiện, bỏ ra đồng tiền dành dụm được bấy lâu để mua lại con chạch của lũ trẻ. Xong rồi chàng đưa con vật đến bờ sông cái để phóng sinh, sau khi nhắn nhủ nó rằng:

    "Chạch ơi, người ta thường bảo "cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán", ta cứu sống cho mày hôm nay, mong rằng kỳ thi năm tới may sẽ nhớ ơn phù hộ cho ta làm văn trôi chảy và đỗ đạt vẻ vang".

    Sau khi thả con chạch xuống sông, thư sinh yên lòng trở về, ngày đêm đèn sách hăng hái thêm lên. Kỳ thi gần tới, chàng lạy bàn thờ tổ tiên và cha mẹ rồi vác lều chõng ra kinh đô. Ai cũng nghĩ là với tài học xuất chúng như chàng ắt thế nào cũng được ghi tên bảng vàng, song trái với ước vọng của cha mẹ cùng thày bạn, chàng liên tiếp bị trượt mấy kỳ thi ở cả ba trường. Không nản chí, chàng ở lại kinh đô tìm thầy danh tiếng để dùi mài kinh sử mà chờ khóa tới. Khoa thi sau chàng cũng hỏng luôn ở cả ba trường như kỳ đầu. Tủi hổ, chán nản, chàng tìm đường trở về làng.

    Đến ngang bến đò con sông cái năm xưa chàng đã phóng sinh cho con chạch, thư sinh không khỏi ngạc nhiên thấy ở hai bên bờ có nhiều điếm quân canh gác cẩn mật. Hỏi ra mới biết là ở quãng sông này có một con chạch rất lớn hóa thành mãng xà, thường đón người qua lại đây để ăn thịt. Thư sinh nghe nói thế đâm ra nghi hoặc, tự bảo thầm rằng có lẽ con quái vật này chính là con chạch chàng đã cứu nạn cho năm nào. Như vậy, hai kỳ thi vừa rồi chàng bị trượt cũng là hậu quả của việc chàng làm, ngỡ là lành hóa gây ra hung dữ. Những hành động quái ác của con chạch yêu tinh đã vang lên tới Thiên Đình, thư sinh phải gánh chịu lấy trách nhiệm.

    Sau một hồi suy nghĩ trên kia, thư sinh nài nỉ với người lính canh để cho chàng qua sông. Người lính bảo phải đợi cho khách quá giang đông đã, rồi toán quân cầm sẵn giáo, rìu theo hộ tống, bấy giờ sang ngang mới có thể chống trả lại khỏi làm mồi cho con quái vật. Thư sinh yêu cầu ra đi một mình, rủi ro xin chịu lấy, viện cớ là có việc gấp không thể chờ đợi được, rồi năn nỉ mãi người lính mới cho xuống thuyền.

    Ra đến giữa sông, chiếc thuyền bỗng nhiên chòng chành đầu lái như muốn lật, từ mặt nước con quái vật nhô đầu lên, há miện lớn chực nuốt người. Chàng thư sinh vội lớn tiếng bảo nó:

    "Mày không còn nhớ tao hay sao? Có phải mày là con chạch đã được tao cứu mạng cho khỏi tay lũ trẻ chăn trâu độ trước, rồi mày lại đội lốt để mày làm hại người ta không?"

    Mãng xà đáp:

    "Đúng đấy, nhưng tao phải ăn thịt mày".

    Thư sinh liền nói:

    "Hãy nghe đây đã. Mấy năm trước, sở dĩ cứu sống cho mày ở khúc sông này, tao có nói cho mày biết là vì tao tin ở sự biết ơn của loài vật "cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán". Bây giờ mày trả ơn tao như thế phải không?"

    Mãng xà cãi:

    "Lầm rồi, phải hiểu là "cứu vật vật trả oán" mới đúng. Thôi đừng chữ nghĩa lôi thôi nữa, để tao ăn thịt mày cho rồi".

    Thư sinh nói:

    "Khoan đã, trong đôi bên chưa biết ai có lý. Phải kiếm ai phân xử mới được: nếu họ bảo mày có lý thì tao xin bằng lòng cho mày ăn thịt. Chỉ cần hỏi ba lần thôi, bất cứ gặp người hay loài vật, ba kẻ đầu tiên chúng ta đi gặp đây, là ba kẻ phân xử, quyết định cho chúng ta xem ai có lý".

    Mãng xà nhận lời, trồi lên mặt nước để đi theo thư sinh tìm ba người phân xử. Kẻ thứ nhất họ gặp là một con trâu già yếu đang gặp cỏ bên bờ ao. Thư sinh kể đầu đuôi câu chuyện rồi hỏi xem ý kiến của trâu thế nào về câu phương ngôn: "Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán".

    Con trâu phần sợ rắn, phần xấu bụng muốn trả thù những sự hành hạ của người ta đối xử với nó bấy lâu, mới trả lời rằng:

    "Câu phương ngôn ấy sai, ý nghĩa trái ngược lại mới đúng, vì loài vật ngu ngốc không biết phân biệt điều thiện với điều ác, loài vật không có trí khôn như người ta mà chỉ nghe theo thú tính".

    Nghe nói thế, mãng xà chồm lên toan ăn thịt thư sinh, chàng bèn nhắc lại điều kiện đã giao kết, rồi cả hai lại tiếp tục đi. Đi được một lúc, họ gặp một con cá gáy (chép) to lớn lâu năm sắp hóa thành tinh. Nghe hết tự sự và câu hỏi dò ý kiến trên, cá cũng trả lời như trâu. Thư sinh bắt đầu lo ngại cùng mãng xà lại ra đi. Kẻ thứ ba mà cuối cùng họ gặp trên đường là một người già cả, râu tóc bạc phơ. Ông cụ này không ai khác hơn là Phật Thế Tôn ở trên trời nghe thấy rõ mọi việc xảy ra giữa chàng thư sinh với con mãng xà bạc ác cùng những lời lẽ của trâu và cá gáy, liền hóa ra một ông lão để gặp họ. Sau khi nghe thuật lại đầu đuôi câu chuyện tranh chấp giữa đôi bên, Phật liền mời cả hai về nhà. Phật dùng phép thần thông gọi trâu cùng cá gáy đến đủ mặt, rồi cả năm bước vào nhà Phật, một ngôi chùa. Qua khỏi cửa chùa ông lão trở lại nguyên hình Phật Thế Tôn, ngỏ lời bênh vực cho lẽ phải của thư sinh, nghiêm khắc lên án sự bội bạc vô ơn của mãng xà, cùng sự xấu bụng của trâu và cá gáy. Rồi để trừng phạt cả ba con, Phật bắt mãng xà hóa ra cái chuông, trâu hóa thành cái trống, cá gáy hóa thành mõ. Vì thế từ đó giá chuông nhà chùa đúc theo hình con rắn, trống bịt bằng da trâu và mõ làm theo hình cá gáy. Để nhắc nhở các nhà tu hành nhớ sự tích này mà luôn luôn giữ lấy lòng ngay thật hiền lành, bất cứ ngày đêm mỗi lần đọc kinh đều phải gõ vào ba vật nói trên.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  6. #6
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Chim Tu Hú

    Chim Tu Hú

    Ngày xưa, có một người đàn ông tính tình rất ngay thật song phải cái tật nóng nảy, sôi nổi khiến cho mọi người sống gần lấy làm khó chịu. Người ta đặt cho anh chàng nóng tính tên là Bất Nhẫn.

    Một hôm Bất Nhẫn gặp một vị sư già quen biết lâu năm với gia đình, khuyên nhủ anh ta thay đổi tính xấu đã đem lại nhiều sự phiền nhiễu, tai hại cho đời anh. Bất Nhẫn hứa cải đổi, theo lời nhà sư vào ở trong rừng, nguyện ngồi yên trong một trăm ngày không để ý đến mọi việc xảy đến cho mình.

    Ban đầu sự có mặt của Bất Nhẫn trong khu rừng vắng vẻ làm cho các loài vật sợ hãi, nhưng rồi thấy êm thắm vô hại, chúng quen dần và xem anh cũng như một khúc cây. Bất Nhẫn lấy làm khốn khổ thấy lũ thú rừng bừa bãi chung quanh mình, có khi chim chóc lại ỉa cả trên đầu, song nhớ lại lời nguyện với nhà sư nên anh cũng không tỏ vẻ gì tức giận. Một đôi vợ chồng chim sâu đến làm tổ đẻ ngay ở búi tóc trên đầu, Bất Nhẫn cũng để yên. Được ít lâu chim con nở ra chíu chít.

    Một hôm chim mái đi kiếm mồi cho con hơi muộn, đang hút nhụy hoa sen, gặp trời chiều tối các cánh hoa khép lại. Chim mái phải ở lại suốt đêm trong lòng hoa, đến sáng ngày hoa hé nở mới bay ra được. Về đến tổ thấy các con mà chẳng thấy chồng đâu, chim mái nổi cơn ghen, không nghĩ rằng chim trống đã bay đi từ sớm tìm kiếm vợ. Đến khi thấy chồng trở về, chim mái gây sự cãi nhau, đổi tội cho chồng đã thừa đêm vợ vắng nhà mà đi theo gái. Chim trống nói thế nào chim mái cũng không chịu tin, khiến nó phải gọi Bất Nhẫn làm chứng:

    "Tôi đã thề với mình là suốt đêm tôi ở nhà ấp ủ cho con, nếu mình không tin lời thì thử hỏi con người bị trời trồng này xem."

    Nghe nói thế, Bất Nhẫn không cầm lòng được nữa, lấy tay hất cả tổ chim xuống đất mà rủa:

    "Đồ vô ơn khốn kiếp, sỡ dĩ tao chịu ngồi yên như thế này cho chúng mày làm tổ và ăn ỉa trên đầu trên cổ là vì tao đã có lời nguyện, chứ tao có bị tội trời trồng đâu mà chúng mày dám bảo thế."

    Cơn tức giận đã phá hoại cả lời nguyện của Bất Nhẫn sắp thành quả vì anh đã ngồi yên được chín mươi chín hôm.

    Thất bại lần này, Bất Nhẫn ra công tìm cách khác để mong đạt được ý nguyện. Nghe trong sách nói ai giúp được người ta qua sông nước ngặt nghèo thì động đến lòng Trời Phật, Bất Nhẫn mới đứng ra làm kẻ chở thuyền. Anh chọn một khúc sông hiểm trở, sắm một chiếc thuyền, tự nguyện chở giúp ch một trăm người quá giang.

    Chỗ sông này vắng vẻ nên ít có người qua lại, song Bất Nhẫn vẫn kiên tâm chờ đợi. Trong vòng một năm anh đã chở được chín mươi tám người qua sông. Chỉ còn có hai người nữa là anh có thể từ giã chốn sông nước đìu hiu, nguy hiểm này. Một hôm, có một người đàn bà cùng đi với một đứa bé đến. Thiếu phụ còn trẻ tuổi có vẻ đàng điếm, kiêu kỳ, mới bước xuống thuyền đã lên giọng hách dịch bảo:

    "Bác chở chúng tôi sang bên kia bờ, phải cẩn thận không thì mất đầu, nghe chưa"?

    Bất Nhẫn từ tốn trả lời để yên lòng khách, thiếu phụ lại dục giã chèo mau. Chiếc thuyền khó khăn lắm mới vược qua ba phần sông, sắp đến bờ thì thiếu phụ bỗng kêu lên, buộc phải quày trở lại vì đã bỏ quên gói cơm của đứa con. Bất Nhẫn nghe theo quày thuyền trở lại cho hai mẹ con lên bến. Đợi một lúc lâu, thiếu phụ cùng con trở lại xuống thuyền. Cũng như chuyến trước, thuyền vừa gần qua tới nơi, người đàn bà lại ra lệnh bảo quay trở lại vì đã bỏ quên gói hành lý. Lần này Bất Nhẫn không còn dằn được nữa, tức giận bảo:

    "Cô ả này dễ thường quên đến cả vú nếu hai vú không dính chặt vào người".

    Anh vừa nói xong thì người đàn bà hiện nguyên hình Phật Bà Quan Âm bảo với Bất Nhẫn:

    "Thế mà anh cũng nguyện đòi sửa đổi tính nết, cũng đòi tu? Tu hành gì anh, tu hú!"

    Dứt lời Phật Bà bay lên trời.

    Bất Nhẫn buồn rầu thất vọng trở về, đau khổ nhuốm bệnh mà chết, hóa kiếp thành một con chim. Lời nói sau cùng của Phật Bà con văng vẳng mãi trong trí óc Bất Nhẫn, cho đến khi hóa ra chim rồi, cũng vẫn còn nhắc nhở hai tiếng tu hú.

    Lúc Bất Nhẫn gặp Phật Quan Âm là vào mùa vải chín, cho nên mỗi năm cứ đến mùa này người ta thấy giống chim tu hú xuất hiện, não nùng kêu: Tu hú.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  7. #7
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Bình Vôi

    Bình Vôi

    Ngày xưa, có một người ăn trộm nhà nghề tài giỏi, về già, sức yếu, không còn xoay xỏa được các mẻ lớn như hồi còn trẻ, đành đi ăn trộm vặt để sống qua ngày. Lão trộm ở gần một ngôi chùa, thường lui tới chốn này lần lượt vơ vét hết lư hương, chân đèn đến chũm chọe, chuông. tượng đồng. Các sư biết rõ kẻ lấy trộm nhà chùa, song không thể trừng phạt được tên gian, vì luật nhà Phật cấm làm điều hại người, lấy ác báo ác. Do đó mà lão trộm cứ liên tiếp thổi sạch của cải trong chùa, và các sư đành mặc cho lão ta lấy.

    Một hôm lão trộm thấy mình đã kiệt sức, sắp chết đến nơi, hối hận tìm đến gặp sư cụ để thú tội:

    - Bạch sư cụ, suốt cả đời tôi chỉ có ăn trộm, đốt nhà, giết người, tội lỗi ngập đầu, ngày nay tôi hết sức hối hận, không biết làm thế nào để chuộc lại bao nhiêu tội ác đã gây ra được mong Phật tổ tế độ cho. Mong sư cụ mở lòng từ bi mà khuyên bảo cho, tôi nguyện hết lòng làm theo lời sư cụ dạy, dù có phải hy sinh đến đâu cũng không từ.

    Sư cụ vốn oán sẵn tên trộm già, thấy có dịp trừ tiệt mối họa mới vờ khuyên nó muốn chuộc bao nhiêu tội lỗi tày đình, thì sáng sớm tinh sương vào lúc không người, hãy leo lên ngọn cây đa trước cửa chùa chắp tay niệm Phật ba lần rồi lao mình xuống, tức khắc sẽ được Phật tung lưới nhiệm màu hứng độ cho về cõi cực lạc.

    Lão trộm tin thật vào lời nhà tu hành, mừng rỡ lạy tạ ra về. Sáng hôm sau, tên trộm già cố sức khó nhọc trèo lên ngọn cây đa cao vòi vọi, làm y như lời sư cụ dặn, lớn tiếng "Mô Phật" ba lần rồi nhảy vào quãng không. Nhà sư đã xúi cho tên trộm già chết, trong lúc đó nấp ở cửa chùa nhìn ra thấy rõ mọi sự, mừng thầm cho mưu kế của mình thực hiện, từ đây dứt tiệt được kẻ láng giềng đạo tặc. Song lão trộm vừa nhảy khỏi ngọn cây đa, sư cụ bỗng kinh ngạ thấy một dải lụa điều từ đâu như do một bàn tay vô hình tung quấn vào giữa người lão rồi từ từ đưa lên trời.

    Mấy hôm liền sau đó, nhà sư đâm ra nghĩ ngợi quên ăn, quên ngủ, ước muốn được lên cõi Niết Bàn như lão ăn trộm. Một kẻ trọn đời làm toàn chuyện ác đức như thế đáng lẽ phải sa địa ngục, mà chỉ nhảy từ ngọn cây đa xuống là được Phật độ cho về Niết Bàn, huống hồ một nhà sư bao nhiêu năm khổ hạnh tụng kinh niệm Phật? Nghĩ thế rồi, một sáng sớm kia nhà sư cũng trèo lên ngọn cây đa trước chùa và làm y theo cách mình đã dạy tên trộm.

    Trái với mong ước, nhà sư chẳng thấy dải của Phật tung ra độ mà khi thả rơi người xuống liền bị một cành cây xuyên qua thủng bụng. Đến khi người ta hay hạ xác nhà sư xuống thì bụng đã chương phình lên, thủng một lỗ lớn ở chỗ rút cành cây đâm xuyên.

    Vì thù oán và ham muốn, nhà sư bị hóa kiếp thành ra cái bình vôi. Miệng bình là chỗ bị cành đa đâm thủng và chìa vôi là cành đa. Thân hình to lớn là bụng nhà sư chương sình. Vôi đựng trong bình cay nồng cũng như lòng oán thù và tham muốn ở kẻ hành. Màu đỏ ở miệng bình vôi là máu loang ra ở vết thương bị cành đa xuyên qua. Nhà sư bi. Phật hóa kiếp thành bình vôi ngày ngày phải chịu khổ hình cho người ta ngoáy moi tận ruột lấy vôi ra để ăn trầu.

    Theo tín ngưỡng trên đây, mỗi lần bình vôi vỡ hay cũ, người ta đem ra bỏ ở các gốc cây đa.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  8. #8
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Tháp Bút Kim Nhan

    Tháp Bút Kim Nhan

    Anh học trò nghèo, ngày ngày lên rừng đốn củi bán lấy tiền ăn học và nuôi cha mẹ, đêm đêm đốt củi học bài. Người anh gầy gò, ốm yếu. Cha mẹ nhìn anh, thương hại, khuyên "học tài thi phận. Con học vừa phải để giữ gìn sức khỏe", Nhưng anh không nghe. Đêm nào cũng vậy, anh gối đầu lên một khúc gỗ xù xì để cho đầu đau, không thể ngủ quên được. Sắp đến kỳ thi mà anh chưa sắm sanh được gì. Lều chưa có. Chõng chưa có. Bút chưa có. Nghiên chưa có. Sức anh lại gầy còm... Anh ngồi khóc. Bỗng dưng rừng nổi gió. Lá đổ ào ào. Anh ngẩng đầu nhìn ra xung quanh, thấy hàng trăm con thú rừng: hổ, nai, hươu, khỉ, trăn, cóc... Anh hoảng sợ. Nhưng chú hổ hiểu ý anh, liền nói: "Chúng tôi đến đây không phải để ăn anh, mà để giúp anh sắm những thứ cần thiết cho kỳ thi sắp tới". Mặt mũi anh rạng rỡ. Bầy thú hối hả: con thì đi sắm đòn gánh, con thì làm chõng, con thì làm lều... Xong xuôi mọi thứ, chỉ còn thiếu nghiên mực và cái bút. Bầy thú nhìn nhau lo lắng. Bỗng chú cóc hăm hở thưa: "Tôi nghĩ ra rồi. Tôi là cậu ông trời. Tôi sẽ lên gặp Ngọc Hoàng. Nếu Ngọc Hoàng lôi thôi, tôi sẽ đánh cắp bút lông và nghiên mực của Ngọc Hoàng". Cả đám thú vui sướng, cười ha ha... Mấy hôm sau, cóc lò dò mang bút và mực về.

    Đến ngày lên đường vào kinh, anh học trò vui vẻ cảm ơn đàn thú đã giúp mình sắm sanh đầy đủ. Nhưng đến lúc đặt gánh lên vai, anh không đi nổi, vì bụng đói, sức yếu. Anh lại ngồi khóc. Bầy thú lại đến giúp: nấu cho anh ăn một bữa no nê, rồi gánh dùm các thứ cho anh. Hổ mang chõng, nai mang lều, hươu mang ghế, cóc mang nghiên và bút. Trăn thì bò theo để khi gặp sông suối sẽ vắt mình làm cầu...

    Đàn thú đang đi tưng bừng như một ngày hội, thì trên trời, Ngọc Hoàng biết mất bút và mực do cóc đánh cắp, bèn sai Thiên Lôi đánh. Trời đang yên lành, bỗng nổi ầm ầm giông tố, sấm sét. Cóc bị đánh trúng một quả tầm sét, nghiên vỡ tung tóe và tạo thành những cái hồ xung quanh, bút văng ra một nơi và mọc thành ngọn núi Kim Nhan.

    Tháp bút Kim Nhan mỗi ngày một mọc cao. Người ta cho đó là điềm lành mà Ngọc Hoàng đã ban phát cho vùng đất này nẩy sinh ra những nho học.

    Vùng đất xứ Nghệ cũng như nhiều vùng đất khác ở nước ta, tuy nghèo nhưng chuộng sự học hành. Điều đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập. Còn một chi tiết mà chưa hề thấy ai khai thác. Từ tháp bút Kim Nhan tỏa ra xung quanh, có nhiều địa danh mang đậm màu sắc học vấn: Cát Văn, Bút Điền, Bút Trận, Văn Tập, Nho Lâm... Mỗi tên gọi gắn liền với một huyền thoại bộc lộ lòng tôn kính của nhân dân đối với nền văn hiến của nước nhà, của xứ sở mình.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  9. #9
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Truyền thuyết về con hổ xám trên núi nàng Tô Thị

    Truyền thuyết về con hổ xám trên núi nàng Tô Thị

    Nhà thơ dân tộc Nùng Mã Thế Vinh rót một chén rượu cao hổ cốt ra mời. Ông coi tôi như người nhà. Năm nào cũng vậy, cứ đến khi ngồi bên bếp lửa hồng đun nồi bánh chưng chờ đón Tết, nhà thơ thường kể cho con cháu nghe những điển tích trên quê hương xứ Lạng. Năm nay ông bảo: "Trong thờ phụng tín ngưỡng ở miền núi chúng ta, đền chừa nào cũng thờ hổ. Tuy là con vật thường ngày gây nên những tác hại cho con người như phá hoại mùa màng, ăn hiếp kẻ yếu nhưng lại được người đời thần thánh hoá thành con vật tượng trưng cho sức mạnh. Con hổ xám hoá đá trên núi nàng Tô Thị thì lại hoàn toàn khác. Nó mang một biểu tượng của tình con ngườị.." Nhà thơ chìm trong suy tưởng, hơi rượu và khí núi từ vách núi nàng Tô phả ra lành lạnh. Nhà của ông ép vào chân núi. Những ngày rỗi việc, nhà thơ hay đi thong dong ở vùng Sơn Cước, vừa cóp nhặt ý thơ vừa nuôi đuổi đàn dê ăn cỏ kiếm thêm cho cuộc sống. Con hổ xám chỉ cách tượng đá nàng Tô Thị có vài chục mét. Đã có nhiều truyền thuyết về con hổ này song người đời lại ít để ý đến nó.

    Con hổ vẫn lặng câm như vậy hàng thế kỷ nay.

    ... Ngày ấy, có một thiếu phụ vận bộ quần áo dân tộc bồng con leo lên một đỉnh núi ngày đêm nóng trông người chồng đi trấn giữ vùng biên ải mãi không về. Và trên dãy núi hoang sơ ấy có một con hổ cái màu xám rất to, tợn. Một ngày kia con người đã dùng tên bắn chết đứa con nhỏ bé của nó. Hổ xám thương xót con vô cùng. Nó muốn gầm lên phá tan cả mặt trời, mặt đất. Hổ điên dại chạy khắp núi rừng.... Một ngày kia hổ thấy bóng dáng một người lặng lẽ bế con trèo lên chỗ hổ đang rình rập. Đôi mắt người thiếu phụ rơi những giọt nước mắt, đứa trẻ tròn xoe cặp mắt trong veo như bầu trời. Màn đêm buông dần, cảnh vật yên tĩnh... Con hổ xám vẫn phủ phục trong bất động. Nó nhớ đến hổ con, nó căm hờn và thương xót và trước mắt nó là sự thuỷ chung của người vợ trông chồng. Mùi nếp hương lan toả, khói lam chiều buông trên rặng tre làng. Bỗng nhiên bầu trời loé sáng tạo thành một màu tím sẫm. Nàng Tô Thị ngước mắt lên trời, một tia chớp nổ giữa trần gian, mẹ con nàng rùng mình hoá đá. Con hổ xám rướn mình trong kinh hoàng. Nó chợt hiểu và như một định mệnh đôi mắt của hổ chạm vào tia chớp. Trong đôi mắt hổ có hai dòng lệ long lanh. Thêm một luồng chớp nữa. Hổ cái xám cũng từ từ hoá thành đá...

    Nhà thơ Mã Thế Vinh dẫn chúng tôi đến bên tượng đá nàng Tô Thị và con hổ xám trên đỉnh núi ở xòm Còn Lèng xã Việt Thắng, thị xã Lạng Sơn. Ai nấy đều xúc động trước hai pho tượng đá có hồn này. Gió xuân hiu hiu lạnh. Bên tai tôi văng vẳng vần thơ mà nhà thơ Mã Thế Vinh vừa ứng tác:

    Viếng thăm Tô Thị chỏm đầu non
    Hồ còn thương cảm tuổi trăng tròn
    Chờ chồng, hai "nàng" cùng hoá đá
    Kẻ đứng bồng - kẻ lòng sắt son...


    (Xứ Lạng ngày áp Tết 1998)

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  10. #10
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích dưa hấu

    Sự tích dưa hấu

    Đời xưa, thời vua Hùng Vương, đất nước ta có núi cao, có sông rộng, trời đẹp nắng vàng, nhưng đồng ruộng thưa thớt, hoa quả chưa có nhiều thứ thơm ngọt như bây giờ. Vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là An Tiêm có tài tháo vát và có trí hơn người. Vua yêu mến An Tiêm thường ban cho của ngon vật quý.

    Thói thường, các quan được một chút lộc vua thì nâng niu ca tụng; riêng An Tiêm thường bảo: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" và xem thường các thứ ấy. Việc đến tai vua, vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó xem có chết rũ xương ra không".

    Thế là một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo một cái gì hết. Chàng nói mãi chúng mới để cho đem một cái gươm cùn hộ thân. Buồm căng gió, thuyền tròng trành nhằm biển khơi thẳng tiến. Bãi cát trắng, vệt cây xanh trong bờ lần lượt khuất đi, rồi bèo bọt, rác rểu, dấu vết của dân cư cũng không còn nữa, bây giờ chỉ thấy trời với nước xanh ngắt một mầu.

    Hôm sau thuyền đến một đảo nhỏ. Họ để gia đình An Tiêm lên bờ với năm ngày lương thực, một chiếc nồi, rồi nhổ neo quay lái. Nàng Ba, vợ An Tiêm, bế con nhìn theo chiếc thuyền dần dần ra xa rồi khuất mất, nước mắt nhỏ như mưa. Từ nay có bao giờ nàng lại được cùng hàng xóm chia nhau những bắp ngô đầu mùa, hay nói một câu chuyện gia đình dưới ánh trăng! Quay vào hòn đảo hoang vu nàng lại càng khiếp sợ hãi hùng, không biết rồi đây lấy gì mà ăn để sống tạm cho qua ngày tháng.

    An Tiêm dắt vợ con tìm được một cái hốc đá ở tạm. Rồi chàng cắp gươm đi thăm dò. Hòn đảo quả thật hoang vu, chỉ có ít cây cỏ lơ thơ và mấy loài chim biển. Tìm mãi mới thấy vài thứ quả chát chua và rau dại ăn tạm cho đỡ đói. Từ đấy, ngày ngày An Tiêm trồng rau và tìm quả, nàng Ba thì ra bờ biển mò con ngao, cái hến. Đứa con lớn của An Tiêm bắt chước cha cũng cặm cụi làm bẫy đánh chim. Nhưng rồi chim dần dần quen bẫy, có khi suốt ngày thằng bé không bắt được một cái lông. Cá nhiều nhưng không lưới, quả thì có mùa. Cho nên thức ăn chính của vợ chồng con cái An Tiêm vẫn là mấy thứ rau dại mà chàng trồng thành rau vườn. Cuộc đời của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông bao nhiêu. Tuy vậy An Tiêm vẫn tin rằng một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên.

    Một hôm có con chim đương ăn ngoài bãi thấy An Tiêm đến, vội bay đi, bỏ lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên xem thì là một mảnh quả dưa bằng hai ngón tay. Chàng nghĩ thầm chim ăn được có lẽ người cũng ăn được, bèn nếm thử thì thấy có vị ngọt. Chàng ăn hết miếng dưa và nhặt hạt gói lại. Ngồi nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống.

    Ít ngày sau mấy hạt dưa mọc mầm đâm lá, bò tỏa ra khắp khoảnh đất. Nàng Ba cũng giúp chồng sớm chiều săn sóc mấy dây dưa lạ. Vợ chồng hồi hộp trông thấy mấy cái hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con. Thấy nó lớn mãi như không bao giờ thôi, An Tiêm cũng không biết lúc nào nên hái.

    Một buổi sớm tinh mơ, nghe tiếng quạ kêu ngoài bãi, nàng Ba bảo chồng:

    - Ở đây hoang vắng, quạ không tụ họp bao giờ, nay chúng nó kêu inh ỏi một nơi, tất là có sự lạ. Anh ra xem thế nào!

    An Tiêm ra đến bãi thì đàn quạ bay đi bỏ lại quả dưa chúng vừa mổ thủng vài nơi. Chàng cắt dưa về. Khi chàng bổ dưa ra, cả nhà lóa mắt vì mầu đỏ tươi của ruột dưa. Đây đó giữa mầu đỏ, có những hạt đen như hạt huyền và bọc ngoài một lớp vỏ trắng viền xanh. Hai đứa bé thèm nhỏ nước rãi, nàng Ba thì cứ tấm tắc khen quả trông ngon mắt. An Tiêm cẩn thận cắt cho mỗi người một mảnh nhỏ ăn thử. Bốn người như một, khen ngợi cái vị thanh ngọt, cái mùi thơm nhẹ nhàng của quả lạ, ăn vào không những không xót ruột lại còn thấy đỡ khát và khỏe người ra. Đến trưa, An Tiêm mạnh dạn bổ hết quả dưa cho con ăn đến no.

    Bấy giờ cả nhà An Tiêm mừng rỡ, bồng bế nhau ra bãi, chọn những quả sẫm mầu da đem về, còn lại thì thay phiên nhau canh quả. Và từ đấy, họ cứ trồng thêm ra mãi. Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén, vì vậy thêm một gốc dưa là thêm không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Nhưng họ chăm sóc hết lòng, nhờ vậy giống dưa càng ngày càng sai, quả càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống dưa quý, để đổi về đem bán trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá xinh xinh.

    Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ đến cũng có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả dưa lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích, mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. An Tiêm và nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, và truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ăn ngày nay.

    Về sau khắp nước ta đều có giống dưa hấu. Nhưng người ta nói chỉ có huyện Nga Sơn là trồng được những quả ngon hơn cả, vì nơi ấy xưa là hòn đảo An Tiêm ở, trải qua mấy nghìn năm nước cạn, cát bồi nay đã liền vào với đất.

    Lời bình

    Truyện "Sự tích dưa hấu" thuộc nhóm truyện giải thích nguồn gốc của sự vật, ở đây là giống dưa hấu khá to, quả tròn có quả nặng 3 kg, 5 kg, ruột đỏ, vỏ xanh đậm, ăn ngọt mát, vừa có tác dụng giải khát, vừa có tác dụng bồi bổ sức khỏe. Tại sao lại có tên là dưa hấu? Theo một tài liệu có đăng trên tạp chí Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số Tết Bính Tý, thì sở dĩ có tên "hấu" vì người Việt khi thấy một khách thương người Hoa vừa ăn dưa, vừa khen "hảo! hảo" nên nhại lại chệch âm thành hấu. Kỳ thực loại dưa này từng có tên khác là "Quả dưa đỏ" mà xưa kia hồi đầu thế kỷ 20 Nguyễn Trọng Thuật từng phóng tác thành tiểu thuyết.

    Tiếp đó vào những năm trước 1975, nhà văn Tô Hoài một lần nữa lại chuyển thể truyện cổ tích này thành tiểu thuyết với tên "Đảo hoang". Lại có lúc truyện được mang tên "Mai An Tiêm", với kiểu truyện dùng tên nhân vật chính. Và nhân vật chính ở đây lại là con nuôi vua Hùng thứ mười bảy. Như vậy tùy theo nhan đề truyện mà có hướng tiếp cận, tìm hiểu truyện khác nhau. Với nhan đề "Sự tích dưa hấu", truyện nghiêng về phía giải thích nguồn gốc sự vật. Còn với nhan đề "Mai An Tiêm", truyện lại nghiêng về phía nhân vật. Nhưng dù với nhan đề gì, thì truyện cổ tích này vẫn là một câu chuyện viết về nhân vật Mai An Tiêm với các phẩm chất luôn khẳng định bản tính tự lực cánh sinh, tin vào sức lao động của mình, bền bỉ kiên trì vượt qua mọi sự thử thách khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Nhờ nghị lực phi thường đó, chẳng những Mai An Tiêm đã thắng được sự thách đố của nhà vua mà còn tạo cho đất nước một loại cây quả quý giá: cây dưa hấu.

    Câu chuyện gồm 3 phần:

    Phần 1. Tư đầu truyện đến "cho qua ngày tháng": nguyên cớ và sự việc An Tiêm bị đày ra hoang đảo

    Mở đầu truyện giới thiệu nhân vật Mai An Tiêm: con nuôi vua Hùng Vương thứ mười bảy, "có tài tháo vát, có trí hơn người", được nhà vua yêu mến và thường ban cho của ngon vật lạ.

    Nếu Mai An Tiêm cứ bằng lòng với cuộc sống như vậy thì chí ít cũng sung sướng an nhàn cho đến mãn đời. Chẳng đã có bao nhiêu người hễ được chút lộc vua thì nâng niu ca tụng đó sao? Và nếu vậy thì cũng chẳng có truyện "Sự tích dưa hấu".

    Nhưng An Tiêm vì có tài trí hơn người, đâu chịu theo thói thường bo bo giữ nếp xu mị. Vốn tính thẳng, chàng nói ra ý mình: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ", có nghĩa là nhận của biếu, của cho của người khác, cho dù đó là lộc vua đi nữa, vẫn cứ mắc nợ nần ân huệ của người cho, và người được cho phải lo trả nghĩa ân huệ đó, có khi lệ thuộc suốt cả cuộc đời. An Tiêm không muốn sống bằng cách hưởng thụ sự ban ân. Như thế thì cuộc đời còn gì là tự do nữa, và bản thân con người liệu có còn là con người nữa không, hay suốt đời chỉ là kẻ tôi tớ hèn mọn? Phải chăng đó chính là những suy nghĩ của Mai An Tiêm khi thốt ra khỏi miệng một câu nói thẳng như ruột ngựa: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ".

    Tất nhiên câu nói ấy sẽ đến tai nhà vua. Và phản ứng của nhà vua thật là quyết liệt: "Vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó, xem có chết rũ xương ra không". "Thế rồi một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo một cái gì hết. Chàng nói mãi, chúng mới để cho đem một cái gươm cùn để hộ thân". Vậy là chỉ vì một câu nói thẳng, gia đình Mai An Tiêm gồm 4 người (vợ chồng, thằng con lớn và đứa con nhỏ) bị đày ra hoang đảo giữa biển cả mịt mù, xa cách hẳn với xã hội loài người.

    Tai họa đến từ một câu nói thẳng, một kiểu vạ miệng, và cũng đến từ lòng tự ái của một nhà vua đầy độc đoán và quyền uy. Nếu biết trước cái giá phải trả của một câu nói thẳng "đắt" đến thế, thì có lẽ Mai An Tiêm đã không nói. Nhưng như thế thì đâu còn là chàng Mai An Tiêm "có tài tháo vát, có trí hơn người", có lòng tự trọng cũng hơn người! Bỗng nhiên cả gia đình Mai An Tiêm rơi vào một thảm cảnh khắc nghiệt: có thể "chết rũ xương" ở chốn hoang đảo không nơi trú thân, không lương thực, vật dụng, nước uống. Cho nên nàng Ba, vợ An Tiêm "Quay vào hòn đảo hoang vu, nàng lại càng khiếp sợ hãi hùng,...". Nỗi khiếp sợ của người đàn bà bế con nhỏ ấy là có thật.

    Phần 2. Từ "An Tiêm dắt vợ con..." đến "một cái nhà lá xinh xinh": cuộc vật lộn để tự kiếm sống trên hoang đảo

    Nơi hoang đảo, An Tiêm có điều kiện thể hiện một cách cụ thể nhất tài trí của mình chẳng những vì cuộc sống của bản thân chàng, mà còn vì cuộc sống của vợ con chàng nữa. Hãy xem tài và trí của An Tiêm được thể hiện như thế nào?

    An Tiêm bình tĩnh cắp gươm đi thăm dò, tìm rau dại, tìm quả dại. Vợ An Tiêm mò ngao, mò hến. Đứa con lớn làm bẫy đánh bắt chim. Như vậy cả gia đình An Tiêm sống bằng săn bắt, hái lượm, bằng những vật hoang dại có trên hòn đảo. "Cuộc sống của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông bao nhiêu". "Tuy vậy An Tiêm vẫn tin là một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên". Niềm tin ấy lóe lên bất ngờ giữa nơi hoang đảo, đúng là niềm tin của cổ tích, ca dao: "Chớ than phận khó ai ơi, Còn da lông mọc, còn chồi nảy măng". Như vậy trước Robinson Cruso, nhân vật trong truyện cùng tên của nhà văn Anh Daniel Defo (1660 - 1731) gần hai chục thế kỷ nhân vật Mai An Tiêm của nước Văn Lang dưới triều đại các vua Hùng đã vật lộn để trụ vững trên hoang đảo.

    Rồi niềm tin về một cuộc sống sẽ khá hơn bắt đầu trở thành hiện thực khi Mai An Tiêm phát hiện ra "một mảnh quả dưa bằng hai ngón tay". "Chàng nghĩ thầm: chim ăn được có lẽ người cũng ăn được, bèn nếm thử thì thấy có vị ngọt". Chi tiết này nói lên Mai An Tiêm thật là thông minh, có trí hơn người ở cách suy luận có lý. Và cái tài của An Tiêm cũng lộ rõ ở việc An Tiêm "lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống". Nhờ vậy mà mấy hạt dưa nhặt được đã mọc mầm, đâm lá, bò tỏa rồi ra hoa, kết trái, thành một vườn dưa trồng lúc nào không biết, biến hòn đảo hoang vu thành một hòn đảo dưa trồng ngon quý. "Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén..." nhưng nhờ sự lao đồng cần cù, sự bền bỉ kiên trì của Mai An Tiêm nên "giống dưa càng ngày càng sai, quả càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt". Hóa ra "Bài ca vỡ đất" của nhà thơ Hoàng Trung Thông sáng tác khoảng năm 1950 với những câu: "Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm", lại được Mai An Tiêm thể nghiệm từ những năm dưới thời các vua Hùng.

    Mai An Tiêm trở thành người anh hùng của lao động sáng tạo và đồng thời là người anh hùng sáng tạo văn hóa miệt vườn nữa.

    Ở phần này cái trí của An Tiêm lại một lần nữa được thể hiện khi "cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng". Tại sao An Tiêm lại cứ thả dưa trôi biển như thế? Vì An Tiêm muốn về lại với xã hội loài người, muốn tìm đến sự giao lưu, trao đổi. Tất cả những lao động sáng tạo vất vả, cực nhọc của An Tiêm và gia đình cũng chỉ vì một mục đích như thế: thoát khỏi cảnh đày ải, trở về với cuộc sống con người bình thường, cuộc sống của cộng đồng. Ở đảo hoang bốn bề xa vắng, nếu không đánh dấu thả dưa trôi biển, thì liệu đến kiếp nào An Tiêm mới gặp lại được xã hội loài người. Cách thực hiện sự giao tiếp của An Tiêm thật thông minh mà nhiều đời sau khi chưa có phương tiện phát sóng truyền tin, những người đi biển vẫn thường sử dụng bằng cách nhắn tin bỏ vào những chai thủy tinh nút kín, thả trôi trên biển. Và quả nhiên khi các thuyền buôn nhiều nơi đến với hoang đảo, gia đình Mai An Tiêm đã có được thức ăn dùng thường ngày và còn cất được "một cái nhà lá xinh xinh" nữa.

    Phần 3. Đoạn còn lại: Mai An Tiêm được đón trở về đất liền

    Mai An Tiêm đã phải vật lộn với thiên nhiên hoang dã để mong có ngày trở về với xã hội con người. Vì vậy mà mới có chuyện An Tiêm thả dưa xuống biển. Có thể nói An Tiêm đã tự mình tìm về được với xã hội con người khi những thuyền buôn đến đảo để trao đổi vật dụng với những trái dưa ngon quý. Nhưng tại sao nhà vua lại "ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm"?. Vì nhà vua hiểu nhầm câu nói thẳng của An Tiêm. Nhà vua nghĩ rằng An Tiêm coi thường các thứ vua ban, nghĩ rằng An Tiêm là kẻ vô ơn, bạc nghĩa, có chết rũ xương cũng đáng. Kỳ thực câu nói của An Tiêm tựa như một câu tục ngữ, có ý nghĩa khái quát xác đáng: "của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ". Cho đến khi An Tiêm tự lực cánh sinh chứng minh được chân lý đó thì nhà vua mới tỉnh ngộ, và sửa sai bằng cách cho thuyền ra để đón cả nhà An Tiêm về đất liền.

    Cũng như nhiều truyền thuyết khác kể về thời dựng nước của các vua Hùng, truyện "Sự tích dưa hấu" giải thích thêm nguồn gốc một sản vật quý của đất nước cũng xuất hiện ở thời Hùng Vương. Câu chuyện còn minh họa cho tục ngữ của người Việt đúc kết kinh nghiệm sống. Câu chuyện có thể là một chứng tích mở đầu cuộc phiêu lưu trên biển đầu tiên của người Việt cổ, với những chi tiết phong phú, sống động. Có lẽ vì thế mà nhiều nhà văn Việt Nam hiện đại chọn lựa đề tài này để phóng tác thành tiểu thuyết nói về thời quá khứ xa xưa của dân tộc Việt.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  11. #11
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích trái sầu riêng

    Sự tích trái sầu riêng

    Ngày xưa, vào hồi Tây Sơn khởi nghĩa, có một chàng trai người vùng Đồng Nai, có tài cả văn lẫn võ, đã vung gươm hưởng ứng sự bất bình của thiên hạ. Chàng từng cầm quân mấy lần đánh cho tan tác thầy trò Nguyễn Ánh.

    Nhà Tây Sơn mất, Gia Long vừa thắng thế trên đất nước Việt thì cũng bắt đầu giết hại những người từng theo nhà Tây Sơn.

    Nhân dân trong xóm quý mến chàng, khuyên chàng trốn đi thật xa. Họ giúp tiền gạo và mọi thứ cần dùng, trong đó có cả một chiếc thuyền nhỏ để tiện đi lại. Và chàng ra đi. Ngược dòng sông Cửu Long, chàng tiến sâu vào nước Chân Lạp.

    Một hôm, chàng dừng thuyền, lên bộ để mua sắm thức ăn. Chàng bước vào một cái quán bên đường. Trong quán có một bà mẹ ngồi ủ rũ bên cạnh một cô gái nằm mê man bất tỉnh. Đó là hai mẹ con đi dâng hương trên núi Tà-lon, về đến đây thì người con bị ốm nặng. Vốn có biệt tài về nghề thuốc, chàng đã cứu chữa cho cô gái khỏi bệnh. Sẵn có thuyền, chàng chở họ về tận nhà.

    Cô gái đem lòng quyến luyến chàng. Sau một tuần chay tạ ơn Trời, Phật, mẹ nàng cho biết là Phật đã báo mộng cho hai người lấy nhau. Chàng vui mừng nhận lời và từ đó hai vợ chồng làm ruộng, nuôi tằm, xây dựng gia đình đầm ấm.

    Mười năm thoảng qua như một giấc mộng. Hai vợ chồng quấn quýt nhau như đôi chim câu. Trong vườn nhà vợ có một cây ăn quả gọi là cây "tu-rên" mà ở xứ sở chàng không có. Mùa trái chín đến, vợ bổ một trái đưa cho chồng ăn. Trái "tu-rên" vốn có một mùi khó chịu. Thấy chồng nhăn mặt, vợ bảo:

    - Anh ăn sẽ biết nó đậm đà như lòng em đây.

    Không ngờ một ngày kia, vợ đi dâng hương Đế Thiên, Đế Thích về thì ngộ cảm. Chồng cố công chạy chữa nhưng không sao cứu kịp. Cái chết chia rẽ cặp vợ chồng một cách đột ngột. Không thể nói hết cảnh tượng đau khổ của người chồng. Tuy cách trở âm dương, nhưng hai người vẫn gặp nhau trong mộng. Chồng hứa trọn đời sẽ không lấy một ai nữa. Còn hồn vợ thì hứa không lúc nào xa chồng.

    Nghe tin Gia Long đã thôi truy nã những người thù cũ, bà con ở quê nhà nhắn tin lên bảo chàng về. Những người trong xóm cũng khuyên chàng tạm đi đâu cho khuây khỏa. Chàng đành từ giã quê hương thứ hai của mình. Trước ngày lên đường, vợ báo mộng cho chồng biết sẽ đi theo cho đến sơn cùng thủy tận. Năm ấy, cây "tu-rên" tự nhiên chỉ ra mỗi một trái. Trái "tu-rên" ấy lại tự nhiên rụng vào vạt áo chàng giữa lúc chàng ra thăm cây kỷ niệm của vợ. Chàng mừng rỡ, quyết đưa nó cùng về xứ sở.

    Chàng lại trở về nghề dạy học, nhưng nỗi riêng canh cánh không bao giờ nguôi. Chàng đã ương hạt "tu-rên" thành cây, đem trồng trong vườn, ngoài ngõ. Từ đấy ngoài công việc dạy học, chàng còn có việc chăm nom cây quý.

    Nhưng cây "tu-rên" của chàng ngày một lớn khỏe. Lại mười năm nữa sắp trôi qua. Chàng trai ngày xưa bây giờ tóc đã lốm đốm bạc. Nhưng ông thấy lòng mình trẻ lại khi những cây mà ông bấy lâu chăm chút nay bắt đầu khai hoa kết quả. Ông sung sướng mời họ hàng, làng xóm tới nhà nhân ngày giỗ vợ và nhân thể thưởng thức một thứ trái lạ chưa hề có ở trong vùng.

    Khi những trái "tu-rên" được bưng ra đặt trên bàn, mọi người thoáng ngửi thấy một mùi khó chịu. Chủ nhân biết ý, đã nói đón: "... Nó xấu xí, có mùi khó chịu, nhưng chính những múi của nó ở trong lòng lại đẹp đẽ, thơm tho như mối tình đậm đà của đôi vợ chồng son trẻ...". Ông ta vừa nói vừa bổ những trái "tu-rên" chia từng múi cho mọi người cùng nếm. Đoạn, ông ta kể hết câu chuyện tình duyên xưa mà từ khi về đến nay ông đã cố ý giấu kín trong lòng. Ông kể mãi, kể mãi. Khi kể xong, ở khóe mắt con người chung tình ấy, hai giọt lệ long lanh tự nhiên nhỏ vào múi "tu-rên" đang cầm ở tay. Hai giọt nước mắt ấy sôi lên trên múi "tu-rên" như vôi gặp nước và cuối cùng thấm vào múi như giọt nước thấm vào lòng gạch.

    Sau đám giỗ ba ngày, người đàn ông ấy bỗng không bệnh mà chết. Từ đấy, dân làng mỗi lần ăn thứ trái đó đều nhớ đến người gây giống, nhớ đến chuyện người đàn ông chung tình. Họ gọi "tu-rên"bằng hai tiếng "sầu riêng" để nhớ mối tình chung thủy của chàng và nàng. Người ta còn nói những cây sầu riêng nào thuộc dòng loại hạt có hai giọt nước mắt của chàng mới là thứ sầu riêng có trái ngon và thơm hơn các thứ khác.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  12. #12
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Núi Ba Ông

    Núi Ba Ông

    (Truyện cổ dân tộc La Ha)

    Ngày xưa người La Ha (1) sống tập trung đông vui ở vùng ven sông Đà. Đất đai La Ha màu mỡ rộng rãi. Ở đấy, ngay ngang chừng những dãy núi cao có cả một cánh đồng rộng, bằng phẳng, hút tầm mắt nhìn. Lại có cả một con suối lớn, nhiều nước để làm ruộng, nhiều cá để tế lễ.

    Thời ấy có một bà mẹ La Ha đi rừng gặp một phiến đá nhẵn có in vết chân người khổng lồ. Bà ướm thử chân mình vào vết chân trên đá. Về nhà, bà thụ thai. Khi sinh nở, bà đẻ liền ba người con trai khác thường.

    Người thứ nhất vừa lọt lòng mẹ đã chạy ngay đến đõ ong đầu nhà; móc lấy mật ong ăn. Ong xúm lại đốt túi bụi, chú bé vẫn không hay biết gì, bà mẹ đặt tên cho chú là "Chàng ong đốt".

    Người thứ hai vừa ra đời thấy nhà cửa nhiều rác rưởi đã gắt ầm lên rằng: "Nhà cửa gì mà không có lấy một cái lỗ nào để quét rác xuống gầm sàn cả". Nói rồi chú với lấy thanh gươm treo trên vách, khoét ngay một lỗ tròn ở sàn. Vì thế chú có tên là "Chàng khoét lỗ".

    Người thứ bà còn nóng tính hơn nữa. Chú nhìn bàn thờ tổ, rồi không nói, không rằng, hăm hở chạy tuốt vào rừng sâu. Lát sau, chú bé lôi về một con hổ lớn đã bị chú đâm chết. Chú lột da hổ, trải trước bàn thờ. Lúc đó mới thấy nét mặt chú tươi tỉnh một chút. Chú nói: "Phải thế này mới ra cái bàn thờ họ Quàng nhà ta chứ"(2). Bà mẹ đặt tên chú là "Chàng đâm hổ".

    Ong đốt, Khoét lỗ, Đâm hổ lớn lên có sức khỏe và tài trí hơn người, suốt cả vùng La Ha không ai không biết đến tên tuổi.

    Năm ấy có lũ giặc tràn đến, lăm le cướp đất người La Ha, ba anh em được dân La Ha bầu lên và giao cho cầm quân đánh giặc. Giặc từ xa đến, hùng mạnh, đông như kiến. Trên đường tiến quân, chúng đã chinh phục rất nhiều mường bản và tới đây bao vây đất La Ha. Giặc đánh rất dữ, nhưng chúng không làm sao lọt vào bờ cõi La Ha được. Chúng gặp phải đội quân dũng cảm, chỉ huy tài giỏi của ba anh em họ Quàng.

    Đánh mãi không nổi, giặc bày ra trò xin giảng hòa và đóng quân bên ngoài bờ cõi La Ha, người La Ha bằng lòng. Nhưng lũ giặc đâu phải thật lòng. Chúng là lũ người quỷ quyệt, chờ lúc quân La Ha không phòng bị sẽ đánh úp.

    Chúng giả bộ thân thiện, mở tiệc, bày trò chơi vui và mời ba anh em họ Quàng sang dự. Ba anh em cũng phải mở tiệc và mời tướng giặc sang trại mình dự vui. Lúc đầu quân La Ha còn đề phòng cẩn thận. Sau thấy giặc không có hành động gì khác lạ nên dần dần họ cũng cho là giặc thật bụng.

    Bọn giặc hèn chỉ chờ có thế. Một lần, chúng bày ra lễ uống rượu cần mừng cơm mới. Ba anh em họ Quàng đến dự rất vui vẻ. Lừa lúc ba chàng say rượu lăn ra ngủ, chúng xô vào chặt đầu cả ba. Ba anh em vùng dậy, một tay nhặt lấy đầu đặt lên cổ, một tay cầm gươm xông vào giết lũ tướng giặc rồi bỏ về. Trên đường về gặp con suối lớn "Nặm Ngàm", họ hỏi: "Suối ơi, đầu lìa cổ còn ghép lại được không". Suối Nặm Ngàm chảy nước mắt trả lời: "Ba chàng anh hùng ơi, con cá ra khỏi suối có sống được không".

    Ba anh em lại đi, vẫn một tay giữ lấy đầu cho khỏi rơi, họ gặp con chim khướu bạc đầu (3) và lại hỏi chim. Chim kêu lên thảm thiết nói rằng: Trời đất ơi, tôi đã sống đến bạc cả đầu thế này mà chưa bao giờ thấy đầu lìa cổ lại còn ghép được.

    Cuối cùng ba chàng hỏi cánh đồng mới gặt chỉ còn chân rạ. Cánh đồng ủ ê nét mặt trả lời họ: "Cây lúa rời khỏi đất, cây lúa chết. Nhưng đến mùa sau, từ gốc rạ này, hạt lúa lại nảy mầm".

    Hiểu ý cánh đồng ba anh em quay trở lại phía đầu bờ cõi La Ha. Họ đứng chụm vào nhau và biến thành ba trái núi lớn. Mỗi trái núi đều thắt cổ bồng, và ngọn núi là một tảng đá lớn hình đầu người. Ba đầu người quay về ba phía như ngày đêm canh giữ cho đất đai La Ha.

    Lũ giặc ngoài, phần vì bị anh em họ Quàng giết hết chủ tướng, phần thấy ba chàng hiển linh biến thành ba trái núi sừng sững nên hoảng sợ kéo nhau bỏ chạy.

    Ba trái núi ấy ngày nay vẫn còn ở Mường Xại (4) ven bờ sông Đà. Nhân dân các dân tộc vùng này gọi đó là "Núi Ba ông".

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  13. #13
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích khăn đỏ và áo có dấu ấn

    Sự tích khăn đỏ và áo có dấu ấn

    (Truyện cổ dân tộc Dao)


    Ngày xưa có một cô gái rất đẹp. Nàng lại khéo tay, giỏi may vá thêu thùa. Nàng lấy chồng, chồng nàng là một chàng trai hiền lành, trung hậu. Đôi vợ chồng trẻ sống rất thuận hòa, hạnh phúc.

    Trong nhà vợ chồng nàng nuôi một con chim nhỏ xinh, rất tinh khôn và hót cũng rất hay. Đó là chú chim mà vợ chồng nàng đã cứu thoát chết trong một trận bão núi khủng khiếp.

    Một bữa, tên chúa đất đi rong chơi qua nhà đôi vợ chồng trẻ. Thấy nàng xinh đẹp, lão dừng lại, buông lời trêu ghẹo. Nàng cự tuyệt. Lão chúa đất tức giận, thét người nhà xô vào bắt nàng. Nàng chống cự không nổi. Chồng nàng và con chim cũng xông vào đều bị người nhà lão chúa đất đánh cho tơi bời.

    Chúng cướp nàng đi mất. Lúc tỉnh dậy, chồng nàng chỉ còn thấy mỗi xác con chim, còn nhà cửa bị bầy đoàn lão chúa đất đốt phá trụi lủi.

    Chàng uất ức đến quên đau đớn, lập tức chàng đi tìm vợ. Một ngày... hai ngày... rồi ba ngày... Vợ chàng vẫn biệt tăm tích. Chàng mệt mỏi, gục thiếp đi bên bờ suối. Bỗng một trận gió làm chàng hồi tỉnh. Chàng nghe văng vẳng trên không có tiếng người bảo: "Muốn cứu được vợ, hãy về chôn cất cho chim! Muốn cứu được vợ hãy về chôn cất cho chim!".

    Chàng bèn theo lời, trở lại nhà. Xác con chim nhỏ còn đó. Chàng bèn xé vạt áo lành, gói xác chim, chôn cạnh gốc đào sau nhà.

    Mùa xuân năm sau, chàng ngạc nhiên thấy con chim đã sống lại từ khi nào không rõ. Nó đang nhảy nhót hót vang trên các cành đào chi chít những hoa. Thấy chàng, con chim sà tới, lượn ba vòng trên đầu chàng, đoạn bay đi. Lát sau, con chim cắp về cho chàng một mảnh vải nhỏ thêu thùa rất đẹp. Nhìn đường kim mũi chỉ, chàng biết đó là do bàn tay vợ. Chàng ứa nước mắt, thấy rằng vợ đã đành chịu chết để giữ vẹn chữ trinh, và mảnh vải đó là vật cuối cùng nàng để lại cho chàng.

    Con chim nhỏ hót bảo chàng:

    Hãy mặc chiếc áo đã xé vạt kia, đính mảnh vải thêu vào sau lưng mà đi về phương bắc, chàng sẽ được gặp tiên ban phúc.

    Chàng bèn theo lời chim.

    Đường đi gian khổ, nhưng chàng không nản lòng. Một bữa giữa rừng già, chàng gặp một cụ già phúc hậu, đầu tóc bạc phơ, đang ngồi câu bên suối. Chàng hỏi thăm đường. Cụ già tươi cười hỏi:

    - Tìm tiên làm gì?

    Chàng bèn kể lại đầu đuôi mọi chuyện. Cụ già bèn trao cho chàng cây gậy trúc, bảo chàng cứ nhắm mắt lại mà đi. Chàng tuân lời. Vừa nhắm mắt lại, chàng đã thấy người bay bổng như chim. Khi dừng lại, vừa mở mắt, chàng đã thấy một ông tiên hiện ra trước mắt. Chàng vội quỳ xuống:

    - Con đã vâng lời, chôn chim làm chim sống lại, nay theo lời chim, đi tìm người xin người ban phúc.

    Tiên ông bèn vào động lấy "ấn nhà trời" ra đóng dấu vào mảnh vải thêu chàng đính sau lưng áo, đoạn dặn thêm:

    - Con về kiếm vuông vải, nhuộm sao cho thực đỏ, đỏ trăm năm không phai, khi ấy vợ con mới về với con được.

    Chàng lạy tạ tiên ông, đoạn trở lại nhà. Và chàng kiếm vải, nhuộm. Chàng nhuộm đi nhuộm lại, mấy tháng ròng rồi mà mầu vẫn cứ phai. Chàng buồn lắm nhưng không nản. Một bữa, chàng đang nhuộm, con chim từ đâu bay tới, hót bảo chàng:

    - Lấy máu mà nhuộm, nhuộm đủ bảy ngày! Lấy máu mà nhuộm, nhuộm đủ bảy ngày!

    Không cân nhắc, chàng liền chích máu đầu ngón tay nhuộm lại vải. Một ngày... Hai ngày... Ba ngày... máu chảy nhiều quá, chàng ngất lịm mà chiếc khăn chưa đủ đỏ.

    Con chim đã đi gọi các loài chim bạn kiếm lá thuốc, rễ cây rừng cứu chữa cho chàng. Vừa hồi tỉnh, chàng đã lại cắt tay lấy thêm máu, quyết nhuộm khăn bằng đỏ, mầu đỏ trăm năm không phai nhạt.

    Một ngày nữa... Hai ngày nữa... Ba ngày nữa... Rồi tới ngày thứ bảy... Chiếc khăn bỗng thắm đỏ và rực sáng lên như mặt trời. Giữa đám hào quang kỳ ảo ấy, vợ chàng hiện ra đẹp tươi hơn trước.

    Từ đó, người Dao có tục nữ đội khăn mầu đỏ thắm, nam mặc áo sau lưng dính dấu "ấn nhà trời", và lưu truyền nhau câu chuyện của đôi vợ chồng chung thủy.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  14. #14
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Hồ Tây và những truyền thuyết

    Hồ Tây và những truyền thuyết

    Từ xưa Hồ Tây đã được coi là một thắng cảnh của Hà Nội. Hồ Tây ở gần sát với Quảng trường Ba Đình. Đường Thanh Niên - con đường phân ranh giới giữa hồ Trúc Bạch và Hồ Tây, gần như thẳng, nối liền với đường Hùng Vương. Cách đây khoảng 20 năm về trước, Hồ Tây là nơi rất yên tĩnh. Người Hà Nội thích tới đây chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên và ngẫm nghĩ, cảm nhận từ sóng gợn mặt hồ, đến những tiếng chuông văng vẳng từ một ngôi chùa nào đó hay ngắm nhìn mầu trời, sắc nước... Những cảnh thiên nhiên tĩnh lặng của Hồ Tây đã đi vào lòng người Hà Nội làm phong phú tâm hồn bao thế hệ đã từng sống ở đất Hà Thành này.

    Ngày nay, Hồ Tây được rất nhiều du khách đến, không chỉ vì cảnh đẹp mà còn có những di tích lịch sử và những món ăn đặc sản hấp dẫn. Đường Thanh Niên không còn chỉ là con đường dành cho nam nữ thanh niên chiều chiều thường đến đây ngồi chơi bên hồ mà trở nên tấp nập nhộn nhịp sau một ngày làm việc. Và không biết còn mấy ai ngồi ngắm Hồ Tây nhớ lại những câu thơ:

    "Gió đưa cành trúc la đà,
    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương,
    Mịt mù khói tỏa làn sương
    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ...".


    Hay câu thơ:

    ..." Mặt hồ đáy nước trong xanh,
    Quế đưa hương ngát cho thanh lòng trần"...


    Và có còn ai tự hỏi tại sao hồ có tên là Hồ Tây?

    Hồ Tây mới đầu chỉ là tên chung chỉ hồ ở phía tây bắc kinh thành. Gọi mãi trở thành tên riêng là Hồ Tây. Trong dân gian, Hồ Tây còn được gọi là hồ Trâu Vàng và còn có tên khác là Dâm Đàm (đầm mù sương). Theo tài liệu nghiên cứu của ông Bùi Văn Nguyên trong "Cảnh trí Hồ Tây" xuất bản năm 1978" thì tên Dâm Đàm còn được sử dụng đến năm 1573 (đời nhà Trần, nhà Lý). Khi vua Lê Thế Tông lên ngôi, người ta mới tránh gọi hồ là Dâm Đàm, vì tên húy của vua là Duy Đàm, thay vào đó là Hồ Tây.

    Sách "Tây Hồ chí" còn ghi, Hồ Tây có từ thời vua Hùng. Lúc ấy, nơi đây là một bến ở cạnh sông Hồng, thuộc động Lâm Ấp, nên gọi là bến Lâm Ấp của thôn Long Đỗ. Mãi tới thời Hai Bà Trưng, bến này thông với sông Hồng. Chung quanh bến Lâm Ấp là một rừng lim rậm rạp có nhiều hang động. Người già ở địa phương còn cho biết, khi đánh cá, thỉnh thoảng họ vớt được những khúc gỗ lim ở dạng trầm tích. Về địa lý, Hồ Tây là hồ ngoại sinh, có dạng lòng chảo. Hồ tạo thành chủ yếu là do tác dụng xâm thực của sông Hồng. Nhưng trong dân gian có nhiều truyền thuyết về sự hình thành Hồ Tây.

    Truyền thuyết Hồ Trâu Vàng kể lại rằng, đời nhà Lý, ở nước ta có Nguyễn Minh Không sang Trung Quốc chữa bệnh cho con vua Tống. Khi hoàng tử khỏi bệnh, vua Tống trả ơn bằng cách cho phép Minh Không vào kho báu lựa đồ theo ý thích và muốn lấy bao nhiêu cũng được Minh Không hóa phép chỉ lấy đồng đen (vì đồng đen được coi là "mẹ" của vàng) và thu hết cho vào một bao mang về dâng vua Lý. Vua sai đem chỗ đồng đen ấy đúc thành cái chuông. Chuông đúc xong mang ra đánh thử. Tiếng chuông vang xa ngàn trùng đến tận Trung Quốc. Nghe tiếng chuông ngân, trâu vàng ở bên ấy lồng lên chạy về nơi phát ra tiếng chuông. Đến khu rừng phía bắc Thành Thăng Long thì tiếng chuông im bặt. Trâu vàng mất hướng đi, lồng lên đi tìm và giẫm nát cả một khu rừng, còn đất thì lún xuống thành hồ. Những nơi trâu đi thành sông mà ngày nay còn lại di tích, đó là sông Kim Ngưu. Nhà vua đã sai ném cả chuông lẫn trâu vàng xuống hồ để trâu khỏi lồng lên. Và hồ ấy chính là Hồ Tây ngày nay. Truyền thuyết còn kể, nếu ai sinh đủ 10 người con trai thì có thể đến hồ gọi trâu vàng về. Một lần có người đến gọi được trâu vàng lên khỏi mặt nước, dắt trâu vào bờ. Bỗng nhiên, thừng bị đứt, trâu vàng chui ngay vào hang ở gần đó. Nơi đó nhân dân lập đền thờ gọi là đền Kim Ngưu trên đường vào phủ Tây Hồ hiện nay. Về sau mới biết, người gọi trâu chỉ có 9 con trai ruột và 1 con trai nuôi.

    Một truyền thuyết khác kể rằng. Xưa kia ở núi đá Tản Viên, có hang mà con cáo (hồ tinh) chín đuôi hay lên quậy phá làm hại nhân dân. Thấy vậy Thượng Đế sai Long Vương dâng nước phá hang của cáo. Cáo chín đuôi bỏ chạy. Quân thủy của Long Vương đuổi theo bắt cáo. Nơi cáo bị giết thịt trở thành cái đầm sâu gọi là Đầm Xác Cáo mà ngày nay gọi là Hồ Tây. Ở vùng Xuân Đỉnh đến nay vẫn còn có làng Cáo. Có lẽ địa danh này có liên quan đến truyền thuyết về Đầm Xác Cáo. Dân gian còn kể: Ngày xưa Trấn Vũ là một người có tài và có công trừ yêu, dẹp giặc nhiều lần, nhưng không chịu làm quan. Ông chỉ muốn đi tu cho đủ chín kiếp mười đời để thành Phật. Lý do tu đủ 10 đời cũng được nhân dân tương truyền lại. Qua rất nhiều thử thách, đã có lần ông bị Phật Bà phạt vì không dám đỡ đẻ cho một phụ nữ gặp trên đường. Ông bị Phật Bà cho rằng bản lĩnh tu hành chưa cao, tránh khó khăn và bắt Trấn Vũ tu thêm một kiếp nữa. Ông đã có ý chán nản, nhưng thực tế cuộc sống, những người ông gặp đã củng cố lòng kiên nhẫn của ông. Ông tiếp tục tu hành để trở thành người có đạo đức cao siêu, vừa có phép thuật siêu cao (mà sau này ông là một trong bốn vị thần của Hà Thành).

    Ngày ấy, ở phương bắc có bà Hoàng bị hủi không ai chữa nổi. Nhà vua cho người cầu thầy thuốc giỏi về chữa trị. Trấn Vũ được mời chữa trị và chữa khỏi. Khi vua ban thưởng, ông không nhận gì chỉ xin đồng đen. Vì có phép thuật, nên nhà vua mất rất nhiều đồng đen vào cái túi nhỏ của Trấn Vũ. Vua ra lệnh không ai được chở giùm, mặc kệ Trấn Vũ. Ông đã dùng mũ làm thuyền để chở đồng đen về nước đúc chuông. Câu chuyện tiếp theo giống như truyền thuyết Hồ Trâu Vàng kể ở trên.

    Con cáo yêu tinh chín đuôi vẫn thỉnh thoảng hiện về hại dân, nên mọi người cầu thánh Trấn Vũ trừ yêu. Thánh sai làm một cái thuyền và một bộ dây thật bền. Thánh tự buộc mình vào đầu dây, lặn xuống hồ. Yêu tinh nuốt thánh vào bụng, thánh giật dây cho dân làng kéo lên và dùng dao nhọn mổ bụng yêu tinh để thánh ra. Mọi việc xong xuôi, có một lần vào buổi tối, trên đường về nhà, thánh gặp một người con gái xin vào trú mưa. Đến đêm cô gái bị đau bụng nguy kịch, thánh xoay xở hết cách. Cuối cùng thánh nhớ câu truyền: "Đau bụng lấy bụng mà chườm; Nhược bằng không khỏi, hoắc hương với gừng"... Phật Bà hiện lên cho rằng thánh còn trần tục. Bị oan ức, thánh tự mổ bụng lấy ruột gan vứt khắp mọi nơi. Mãi về sau, thánh mới được Phật Bà xét lại cho tu thành quả. Ruột của ông vứt xuống hồ thành Bạch Xà (nay thuộc địa bàn Quảng Bá); bao tử của thánh thành Kim Quy (nay thuộc địa bàn thôn Tây Hồ). Hai con vật này lại trở thành yêu tinh giết hại dân làng, xương chất thành đống (chính là nơi trường Chu Văn An hiện nay). Trời lại sai thánh trừ yêu. Kim Quy thánh giẫm dưới chân, còn Bạch Xà thánh quấn vào bên kia. Từ đó dân sống ven Hồ Tây mới yên ổn làm ăn.

    Theo "Tây Hồ chí", xưa kia quanh hồ có núi cao, gò thấp, khói sương mờ mịt tạo nên cảnh trời, đất, nước kỳ lạ. Nhà Lý, nhà Trần gọi là hồ Dâm Đàm, bởi quanh năm có sương mù trên mặt hồ. Sự đan quyện đất-nước-trời đã tạo nên hình dáng những con vật ở ven hồ. Đó là những hình con ngựa (mã) ở khu vực Nhật Chiêu, Quán La, Chích Sài ; còn phượng ở dải đất từ Thụy Chương đến Nguyệt Chủy; con rồng (long) thuộc khu An Minh, An Quang, con lân là khu vực Lạc Chích (Ngũ Xá); quy là bán đảo Tây Hồ. Trong Hồ Tây có những gò đống lớn nhỏ nổi lên được gọi là châu. Tương truyền rằng những châu ấy chính là những viên ngọc do Sơn Long nhả ra. Từ lâu lắm rồi người dân nơi đây coi khu vực Hồ Tây là địa linh và nơi đây có rất nhiều đền thờ cùng nhiều truyền thuyết hấp dẫn về các vị thần, thánh, tổ nghề nuôi tằm, dệt vải, v.v.

    Theo truyền thuyết cũ, khi Lý Công Uẩn dời đô từ động Hoa Lư đến đồng bằng sông Hồng đã chọn núi Nùng để xây cung điện. Nhiều nhà sử học đã đưa ra lập luận, núi Nùng nhất định là nơi cao ráo so với cả vùng đất có nhiều ao hồ như địa hình lúc ấy của Thăng Long, chứ không thể là núi cao chót vót. Tương truyền còn cho rằng núi Nùng là cái rốn của rồng nên còn có tên là Long Đỗ. Xưa kia núi Nùng là một thắng cảnh ở sát Hồ Tây. Sau này, vào đời nhà Lê, nhà vua cho san phẳng núi Nùng xây điện Kính Thiên nay là Viện Bảo tàng quân đội. Đền Long Đỗ trước cũng ở đây, sau dời ra phía bờ sông Hồng.

    Hồ Tây và hồ Trúc Bạch xưa kia chỉ là một. Vì Hồ Tây lớn quá, nhân dân ba làng Trúc Yên, Yên Phụ, Yên Quang mới đắp con đê chắn ngang để giữ phần cá về phía mình. Con đê đó nay trở thành đường Thanh Niên.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  15. #15
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích cây kim giao

    Sự tích cây kim giao

    Ngày ấy có đôi trai gái yêu nhau tha thiết lắm. Người con trai tên là Kim, người con gái tên là Giao. Cả hai gia đình đều rất nghèo túng. Quanh năm làm thuê, làm mướn. Hai bên bố mẹ Kim và Giao rất ưng thuận làm thông gia với nhau.

    Kim và Giao đã từng thề thốt kết bạn trăm năm. Nếu không lấy được nhau thì họ sẽ ở vậy, chứ nhất định không lấy một ai khác ở trên thế gian này. Mối tình của họ trong như nước suối, sáng như trăng rằm.

    Bỗng nhiên đất nước có nạn ngoại xâm. Lũ giặc tràn từ phương Bắc sang, chiếm đóng khắp nơi, quân dân vô cùng cơ cực. Bọn giặc ngoại xâm và bọn quan lại địa phương câu kết với nhau thỏa sức vơ vét, cướp phá. Khắp nơi nhân dân đã nổi lên chống lại. Tất cả trai tráng đều ra nhập nghĩa quân.

    Kim cũng xin vào đội ngũ những người yêu nước. Anh đánh giặc rất dũng cảm. Trước ngày cưới mấy hôm thì anh bị sa vào tay kẻ thù. Chúng đày anh lên một vùng núi hoang vu mạn ngược (cứ như bây giờ vùng ấy thuộc vùng rừng Cúc Phương huyện Hoàng Long) và giao cho một quan lang cai quản.

    Kim bị quan lang giam cầm tra tấn rất thậm tệ. Hằng ngày chúng bắt anh vào rừng đốn gỗ phá núi, lấy đá về xây nhà cho quan lang. Từ ngày phải xa người yêu, chàng đau khổ vô cùng, không lúc nào không nhớ đến quê nhà. Sau một thời gian lâm bệnh, người con trai ấy đã qua đời. Bạn tù và dân địa phương đã chôn cất anh ngay giữa rừng, bên một dòng suối.

    Lại nói về chuyện cô gái. Sau khi người yêu bị giặc bắt và đày lên rừng, cô rất buồn và thương nhớ khôn nguôi. Vì cô còn trẻ đẹp nên tên lý trưởng trong làng đã nhiều lần đến gạ gẫm làm vợ lẽ hắn. Nhưng cô gái nhất quyết cự tuyệt.

    Vì nhớ thương người yêu nên nàng đã bỏ làng ra đi lên rừng tìm anh. Nói đến việc nàng đi tìm người yêu, ai nghe cũng phải cảm động.

    Thân gái một mình, đường sá xa xôi, núi rừng hiểm trở. Có nhiều đêm nàng phải ngủ trên cây để tránh thú dữ. Bấy giờ dọc đường rất lắm trộm cướp, nàng phải đóng giả người ăn mày để chúng khỏi để ý. Đi bộ ngày này qua ngày khác, thế rồi nàng cũng tìm được đến nơi chúng giam người yêu.

    Khi đến nơi, người yêu không còn nữa. Tin sét đánh làm nàng như đứt từng khúc ruột. Nàng ôm lấy nấm mộ người yêu, nước mắt như mưa. Sau đó nàng đã hóa điên và chết ngay ở bên dòng suối. Nhân dân địa phương đem chôn nàng ở bên cạnh mộ người con trai. Hai nấm mộ nằm sóng đôi giữa khu rừng vắng.

    Sau đó ở giữa hai nấm mộ mọc lên một cái cây rất thẳng. Thứ cây rất lạ, chưa ai thấy bao giờ. Lá cây phía trên có mầu xanh thẫm rất bóng, phía dưới mầu trắng bạc. Cây tỏa ra một mùi hương thơm ngan ngát như mùi trầm. Đêm đêm từ cây ấy vọng ra một thứ tiếng trầm trầm như tiếng người hát, nghe ai oán rất buồn.

    Quan lang thấy vậy tưởng là cây có ma. Hắn rất hoảng sợ liền đem dao ra chặt cây đi, nhựa cây bắn vào mặt hắn, tự nhiên hai mắt hắn mù tịt. Còn vợ con trong nhà thì sinh ốm đau thập tử nhất sinh.

    Cái cây sau khi bị quan lang chặt, lại bật chồi lên, chẳng bao lâu cây lại xanh tốt như cũ. Từ đấy trở đi không ai dám chặt nữa.

    Nhân dân trong vùng rất yêu quý giống cây ấy. Nhiều người bị cảm bứt một nắm đem bỏ vào nấu nước xông sẽ khỏi, nhưng điều kỳ lạ nhất của giống cây này là gỗ của nó đem vót làm đũa ăn cơm, khi nhúng vào thức ăn có thuốc độc, đũa sẽ sủi ngay lên một thứ bọt đen báo cho ta biết: Vì vậy thứ gỗ quý ấy đã cứu được bao nhiêu người khỏi chết oan.

    Nhân dân gọi tên giống cây lạ ấy là cây Kim Giao.

    Ngày nay ai đến thăm rừng nguyên sinh Cúc Phương cũng được biếu một đôi đũa bằng gỗ Kim Giao để đem về làm kỷ niệm.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  16. #16
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích củ mài và cây cơm nguội

    Sự tích củ mài và cây cơm nguội

    (Truyện cổ dân tộc Khơ Mú)


    Ngày xưa, ở một bản nọ có đôi vợ chồng trẻ, chỉ mới lấy nhau mười năm mà đã đẻ mười hai đứa con. Con đông đến nỗi bố mẹ không nhớ hết tên từng đứa. Vợ chồng dẫu lam làm, chịu thương chịu khó làm nương rẫy, dẫu gặp mưa thuận gió hòa vẫn không nuôi nổi đàn con của mình. Khi gặp năm hạn hán, thiên tai, lại nạn thú rừng về phá hoại, họ sống rất chật vật khó khăn.

    Năm nọ mất mùa, cả bản đói to, mọi nhà đã vét hết cả mẻ lúa giống, ngô giống mùa sau ra ăn. Thương con, chị vợ bảo chồng:

    - Ta bớt ít lúa giống, ngô giống cho con ăn thôi.

    Người chồng dẫu thương con nhưng ôn tồn bảo vợ:

    - Đói thì tìm củ rừng, tìm rau rừng mà ăn, không làm nương ruộng thì mùa trước đói, mùa sau đói, không sống nổi đâu.

    Giấu con, vợ chồng trốn vào rừng phát nương, gieo lúa tra ngô. ở nhà đàn con đói quá kéo nhau vào rừng kiếm ăn, suốt ngày đêm khóc đói:

    "Pung pung đói mỏi
    Đói lòng lắm bố ơi mẹ à!"


    Nghe tiếng khóc, thương con, lòng xót như xát ớt vợ chồng thay nhau gọi lại an ủi:

    "Chớ chớ vội các con ơi
    Để bố mẹ phát cỏ làm nương hẵng"


    Và cứ theo thời gian, họ phát nương, nhặt cỏ, tra hạt, vun gốc...
    "Chớ chớ vội các con ơi
    Bố mẹ còn vun gốc nhặt cỏ..."


    Đến lúc trổ, lúa chín, một nắng hai sương:

    "Lúa đã trổ đã chín
    Bố mẹ suốt về thổi nấu cho các con ăn"


    Khi mẻ gạo đầu tiên vừa giã xong, họ đồ ngay lên một chõ. Người chồng quạt cho bay hơi, chóng nguội, người vợ nắm từng nắm. Vợ chồng hối hả bê ra xới, chạy thẳng về nhà cho con ăn. Nhưng khi về tới nhà, họ không thấy đàn con đâu nữa mà từ rừng sâu vẫn vọng về tiếng khóc đói:

    "Pung pung đói mỏi
    Đói lòng lắm bố ơi mẹ à!"


    Hai vợ chồng vừa khóc vừa bê bung xôi lập cập theo tiếng gọi vọng của núi rừng mà chạy mãi đến kiệt sức vẫn không gặp con. Họ đành đặt bung xôi xuống, cố gọi :

    "- Ôi các con thương con quý
    Cơm thơm trộn cá con trứng luộc
    Bố thương mẹ quý đưa đến đây
    Về nhà ăn với bố mẹ, các con ơi ?"


    Tiếng gọi vừa dứt thì đàn chim Pung bay đến sà xuống đậu quanh cả khu rừng hót vang:

    "Pung pung, pung pung
    Chúng con ăn quả và quả sấu đã quen
    Còn cơm xôi xin nhường bố mẹ
    Nằm cành sấu cành me đã ấm đã êm
    Chúng con không về nhà được nữa đâu bố ơi mẹ à!"


    Đến lúc đó, hai vợ chồng mới biết vì đói quá mà đàn con của mình đã tìm vào rừng kiếm ăn và hóa ra chim cả rồi. Lòng đau xót nước mắt chứa chan, họ lấy xôi tung ra cho chim. Vì thương con, vì đói, mệt, kiệt sức, vợ chồng gục vào bung xôi mà chết.

    Thấy bố mẹ chết thảm quá, đàn con kêu vang rừng "Pung pung!" rồi lấy những nắm xôi còn lại đắp mồ cho bố mẹ. Từ chỗ ấy về sau, mọc lên một cây lạ có củ, củ có bột trắng thơm dẻo như xôi. Đó là củ mài. Còn những nắm xôi được tung ra xung quanh lại mọc lên cây cơm xôi, quả chín ăn bùi và dẻo. Người ta nói: ấy là loại quả cứu đói người nghèo.

    Đàn con hóa ra chim kêu pung pung vang rừng vào mùa lúa chín để nhắc nhở lại cảnh khổ của bố mẹ ngày xưa phải một nắng hai sương mới có được hạt ngô hạt lúa nuôi con.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  17. #17
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Phạm Nhĩ hay là sự tích ông Ba Mươi

    Phạm Nhĩ hay là sự tích ông Ba Mươi

    Đã từ lâu lắm, trên cõi Trời có một người có sức khỏe lạ lùng, những việc dời núi lấp biển, đội đá bẻ cây... không một ai bì kịp. Nói về tài phép, ông cũng thần thông biến hóa vượt xa nhiều vị trên Thiên đình. Đặc biệt ông có hai vành tai dài và rách, vì lúc nhỏ ông thường dùng hai tai cho nhiều người móc vào mà đu, rồi xoay họ như chong chóng. Cũng vì thế người ta quen gọi ông là Phạm Nhĩ. Vốn tính nghịch và hung hăng quen thói từ hồi trẻ, Phạm Nhĩ không mấy khi ngồi yên. Ông thường hay gây sự đánh nhau với những kẻ mà ông thù ghét. Nhưng người ta đều tránh né ông, chẳng mấy ai dám đọ sức, vì đã từng có bao nhiêu anh hùng hảo hán không chịu nổi một cú đấm, cái gạt của ông.

    Thấy mọi người đều thua tài, Phạm Nhĩ ngày một tỏ ra kiêu căng tự phụ. Ông cho rằng các vị thần chung quanh Ngọc Hoàng chẳng qua chỉ là đồ bị thịt, tài nghệ và sức khỏe không có tí gì. Và ông lấy làm bực mình vì sao bấy lâu danh tiếng mình nổi như cồn mà vẫn không được Ngọc Hoàng vời vào để trao cho một chức vị xứng đáng. Mỗi ngày lòng kiêu căng tự phụ của ông một lớn thêm mãi. Cho đến lúc Phạm Nhĩ đâm khinh nhờn cả Ngọc Hoàng, tự nghĩ rằng có sức mạnh và tài phép như mình thì nên làm vua nhà Trời mới phải. Thế rồi chẳng bao lâu ông đã tụ tập chung quanh mình một số bộ hạ cũng có sức khỏe và tài phép hơn người, thành một đội quân bất trị. Đội quân này ngày một đông, đã từng gây náo loạn ở Thiên đình mà vì sợ oai Phạm Nhĩ, nên không một ai dám bắt. Cuối cùng, Phạm Nhĩ cầm đầu đội quân tiến đến Thiên cung đòi hạ bệ Ngọc Hoàng để cho mình trị vì thiên hạ.

    Nghe tin chẳng lành, Ngọc Hoàng thượng đế vội vàng sai các bậc tướng lĩnh đem quân nhà Trời ra ngăn chặn. Có đến mười tám vị tướng, vị nào cũng lục trí thần thông, miệng thét ra lửa tay bẻ gẫy cổ thụ, chân đạp đổ núi, nhưng không vị nào đối địch với Phạm Nhĩ được lâu. Không đầy mười ngày chỉ còn ba vị sống sót chạy về.

    Ngọc Hoàng lại sai năm mươi lực sĩ hầu cận, người nào cũng tài ba và sức khỏe, ra chống chọi với Phạm Nhĩ. Nhưng cũng chẳng mấy chốc ông đã làm cho bọn này nếm mùi thất bại chua cay. Quân đội nhà Trời vốn đông như kiến cỏ, nhưng kéo ra bao nhiêu bị diệt bấy nhiêu, cuối cùng bỏ chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Thừa thắng, Phạm Nhĩ thúc quân tiến lên vây chặt Thiên cung.

    Thấy thế, Ngọc Hoàng thượng đế hết sức lo lắng. Theo lời bàn của các triều thần, Ngọc Hoàng vội sai Bắc Đẩu cầu cứu đức Phật. Nghe tin cáo cấp, đức Phật sai Chuẩn Đề đi bắt Phạm Nhĩ. Nhưng đức Phật không ngờ Chuẩn Đề tài phép cao cường là thế, lại bị ăn đòn nặng nề của Phạm Nhĩ đến nỗi lê lết chạy về, xiêm giáp tả tơi.

    Sau rốt, đức Phật đành phải tự thân ra đi. Trong lúc Phạm Nhĩ đương hung hăng múa may chửi bới Ngọc Hoàng và bọn triều thần bất tài bất lực, thì đức Phật đã xuất hiện giữa không trung. Phạm Nhĩ vội xông lên toan dùng sức đánh, không ngờ sa ngay vào túi thần của đức Phật, toàn thân co rúm không cất chân động tay được nữa. Thế là ông bị bắt. Bọn bộ hạ mất đường như rắn mất đầu, không ai bảo ai, tẩu tán khắp nơi.

    Trước khi ra về, đức Phật giao lại tên tù cho Ngọc Hoàng xử trí, nhưng cũng dặn làm sao cho y hối lỗi chứ đừng giết hại. Ngọc Hoàng bèn quyết định đày Phạm Nhĩ xuống cõi trần làm kiếp vật. Nhưng trước hết Ngọc Hoàng sai cắt bỏ đôi cánh của ông để tước bớt sức mạnh, e rằng bất thần ông lại bay trở về Trời thì rất nguy hiểm. Hơn nữa, Ngọc Hoàng còn lo Phạm Nhĩ vốn mang cốt tướng nhà Trời, có thể nghe hết mọi chuyện bốn phương ngay trong giấc ngủ, mặc dù cách xa hàng ngàn dặm. Bởi vậy để làm giảm bớt trí nhớ của ông, Ngọc Hoàng hóa phép bắt lỗ tai ông mỗi khi tỉnh giấc thì khép kín lại. Tuy nhiên, thể theo lời dặn của đức Phật Ngọc Hoàng cũng phong cho Phạm Nhĩ làm chúa tể sơn lâm để an ủi đôi phần.

    Từ khi xuống trần, tài phép của Phạm Nhĩ giảm sút đi nhiều vì không còn cánh mà bay. Mặc dầu vậy, ông vẫn còn giữ được một sức khỏe tuyệt trần, khiến mọi thú vật khiếp sợ, xứng với danh hiệu chúa tể mà Ngọc Hoàng phong cho. Cho đến sau này, dòng dõi nhà ông vẫn nối nhau làm chúa sơn lâm. Ngay loài người cũng phải kiềng ông, không dám gọi cái tên "Hổ", mà chỉ gọi tránh là ông "Ba Mươi". Tại sao lại gọi là ông Ba Mươi? Đó là vì khi có người nào săn được hổ thì nhà vua có lệ thưởng cho ba mươi quan tiền vì đã trừ được cho loài người một con thú hung ác. Nhưng vua cũng bắt người đó phải chịu ba mươi hèo để cho vong hồn Phạm Nhĩ được thỏa mà không tác quái nữa.

    Ngày nay còn có câu:

    Trời sinh ra hùm có vây,
    Hùm mà có cánh, hùm bay lên trời.


    để nhớ cuộc náo động Thiên cung của Phạm Nhĩ xưa kiạ

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  18. #18
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Hòn Chồng, Hòn Vợ

    Hòn Chồng, Hòn Vợ

    Ở bãi biển Trà Kiệu, tỉnh Quảng Nam ngày nay có hai tảng đá lớn nằm cạnh nhau, cao như núi. Người ta gọi là: "Hòn Chồng, hòn Vợ". Chiều chiều, gió nổi lên mát rượi, sóng vỗ rì rào, như ru giấc ngủ ngàn năm của đôi vợ chồng xấu số ấy. Truyện kể rằng:

    Anh ta vốn người Trà Kiệu, tóc hơi quăn, mũi thẳng nước da ngăm ngăm, hai con mắt sáng, thân hình tráng kiện, ai cũng cho là đẹp trai. Anh ta vốn không có mơ ước nào hơn là lấy một cô gái quê mình, biết dệt cửi, biết đi rừng, làm nương rẫy để cùng anh nuôi mẹ già.

    Nhưng năm ấy, nhà vua lấy lính, anh ta phải đi. Lúc đầu, các quan trong triều thấy anh ta khỏe mạnh, chọn làm lính túc vệ (lính hầu nhà vua), hầu hạ cạnh nhà vua, để bảo vệ nhà vua khi có chuyện bất trắc. Công việc đó tưởng hợp với anh ta, vì anh ta ít nói, suốt ngày im lặng, thấy chuyện gì trong cung cấm cũng chẳng thổ lộ với ai. Nhưng nhà vua lại không ưng ý, cho là anh ta quê mùa, không biết lễ nghi ở chốn cung đình, nên cho anh ta ra làm vườn, trồng cây, xén cỏ. Anh ta cần cù, chăm chỉ, đợi hết hạn lính sẽ xin về quê. Cuộc sống ở chốn kinh kỳ, anh ta chẳng tha thiết chút nào. Rừng núi, bãi biển đối với anh ta thích hợp hơn nhiều. ở đây, anh ta như con cá mắc cạn.

    Còn một năm nữa thì hết hạn lính. Anh ta vui vẻ, kiên nhẫn chờ đợi, tính tháng tính ngày. Không ngờ, một hôm anh ta đang làm vườn thì cô công chúa thứ chín dạo chơi. Anh ta vội vàng nép sau bụi cây. Công chúa đi qua, đánh rơi chiếc khăn mà không hay biết. Người thị nữ theo sau cũng không thấy. Anh ta chạy ra lượm chiếc khăn đưa cho thị nữ. Công chúa ngoảnh lại, nhìn anh ta rồi mỉm cười, bỏ đi. Một lần khác, công chúa vô ý giẫm phải gai, xuýt xoa. Anh ta là người làm vườn thấy mình có lỗi, liền chạy lại nhổ cái gai ra. Lần này, công chúa nhìn anh tận mặt, thấy anh ta khác hẳn những chàng trai mình đã gặp. Các chàng ấy đều con nhà đài các, người ẻo lả, da trắng bợt, ăn nói nhũng nhẽo, làm duyên làm dáng đến buồn cười. Thấy anh ta hay hay, là lạ, công chúa hỏi người ở đâu, cha mẹ còn hay mất, và vài ba câu chuyện bâng quơ khác, chẳng có ý gì. Còn anh ta cũng được nhìn tận mặt công chúa, chỉ thấy da nàng trắng gấp mấy lần da các cô gái vùng anh, tay chân thì nhỏ nhắn như vắt bằng bột. Anh ta chẳng biết nàng có đẹp hơn các cô gái quê mình không, có điều ăn mặc thì thật sang trọng, toàn lụa là, châu báu.

    Câu chuyện này đối với anh ta đến đây tưởng là chấm dứt. Anh ta quên bẵng đi. Nhưng bỗng anh ta được lệnh cho về quê, mặc dù chưa mãn hạn. Anh ta vui như con chim sổ lồng, rồi mang khăn gói, vượt qua chín núi mười sông, trở về Trà Kiệu. Thì ra, từ ngày gặp gỡ, công chúa đã đem lòng yêu anh ta. Lúc đầu mối tình ngang trái ấy còn được giữ kín, sau các thị nữ biết hết, mách với các bà phi. Rồi đến tai nhà vua. Nhà vua buồn rầu nói:

    - Như thế thì loạn! Nó chỉ là tên lính giữ vườn. Còn ra thể thống nào!

    Thế rồi, im lặng, xuống chỉ cho anh ta trở về nguyên quán, không muốn làm to chuyện.

    Nhưng mối tình của công chúa thì chưa nguôi, trái lại hình như càng trở nên say đắm, nhất là hằng ngày không thấy bóng anh ta ở vườn ngự uyển (vườn nơi vua ở) nữa. Một hôm, công chúa cùng thị nữ ra trại voi chơi, chuyện trò với các quản tượng mới biết có con voi vùng Trà Kiệu, quan địa phương vừa tiến. Nghe nói đến voi vùng Trà Kiệu, bấy giờ công chúa mới nảy ra ý trốn đi tìm chàng trai. Thế là đêm hôm sau, công chúa ngồi trên lưng voi về Trà Kiệu thật. Gặp lại anh ta, công chúa kể hết sự tình rồi tỏ ý muốn cùng anh nên vợ nên chồng. Lúc đầu, anh ta nghe thì sửng sốt, nhưng dần dần thấy thương. Rồi họ thành vợ thành chồng. Ngày ngày anh ta vác nỏ vào rừng săn bắn, còn nàng thì ở nhà dệt vải. Châu báu mang theo nàng bán hết làm vốn.

    Câu chuyện người con trai Trà Kiệu lấy công chúa đồn đi. Quan địa phương bẩm lên tỉnh, quan tỉnh bẩm về triều đình. Nhà vua nổi dận, phán:

    - Nó là gái hư, ăn phải bùa mê thuốc lú của thằng kia, nên đến nông nỗi thế! Thứ người ấy thì cho dìm sông dìm biển đi cho rảnh mắt!

    Lệnh truyền xuống, quan địa phương đóng hai cái hòm gỗ nhốt hai vợ chồng lại rồi ném xuống biển. Mãi về sau, trên bãi biển này mọc lên hai hòn đá nằm song song, gọi là: "Hòn Chồng, hòn Vợ".

    Ở bãi biển Nha Trang cũng có "Hòn Chồng, hòn Vợ", nhưng chắc là sự tích khác.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  19. #19
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích loài sam

    Sự tích loài sam

    Hai vợ chồng người đánh cá nọ, nhà nghèo nhưng yêu thương nhau rất mực, ăn ở với nhau mấy năm trời mà chẳng hề nghe một tiếng mắng gắt. Đi làm thì chớ, còn ở nhà, vợ đâu, chồng đó, ríu rít với nhau cả ngày, hết chuyện nọ sang chuyện kia, không biết chán.

    Hôm ấy, chồng đi thuyền ra khơi, chẳng may gặp bão, xiêu bạt đi đâu, không ai biết. Anh em người ta về cả rồi, riêng chồng chị mãi không thấy. Chị như điên như dại, khóc suốt ba ngày đêm, hết nước mắt. Nhưng chị không tuyệt vọng. Chị cố tìm chồng cho được. Chị cứ theo dọc bờ biển mà đi, đi mãi.

    Gặp một tảng đá chắn mất đường, chị định trèo qua. Nhưng trời đã tối, phần thì đói, phần thì mệt, chị ngồi xuống, nghỉ chân một lát, không ngờ thiếp đi lúc nào không biết nữa. Bỗng có một tiếng nổ xé trời. Chị choàng tỉnh dậy, thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, đứng trước mặt nói:

    - Ta là Thần Biển, thấy ngươi thủy chung với chồng mà thương. Chồng ngươi còn sống, hiện ở đảo xa. Hãy ngậm lấy viên ngọc này cho chắc mà vượt qua biển cả đến gặp chồng ngươi.

    Nói xong biến mất. Mừng quá, chị ngậm viên ngọc vào miệng. Tự nhiên, người chị nhẹ như chiếc lông, chân chị lướt trên mặt nước mà chẳng khác đi trên đất liền. Trong chốc lát, đã đến đảo. Đảo vắng ngắt, chị thấy chồng đang nằm trên bãi cát, chờ chết. Thương quá, chị chạy lại, ôm lấy chồng, định kể lể nỗi đau khổ của mình. Nhưng sợ rơi viên ngọc, chị không nói được gì. Chị khẽ đỡ chồng dậy, rồi để tay ngang lưng, dìu chồng đi qua biển trở về.

    Người chồng ngạc nhiên hết sức, nhưng hỏi gì, chị vợ cũng không nói. Khác ngày thường quá! Có chuyện gì chăng? Chị vợ cứ làm thinh, bám chắc vào lưng chồng mà lướt trên mặt nước.

    - Sao biết tôi dạt vào hòn đảo ấy mà tìm? Sao chúng ta đi trên nước mà không việc gì? Anh em đã về cả chưa? Có ai làm sao không?

    Người vợ vẫn im lặng.

    - Sao tôi hỏi mà mình không nói?

    Tiếng người chồng hơi gắt. Chị vợ vốn quen chiều chồng, sợ chồng giận, vả chị cũng có bao nhiêu chuyện để trong bụng để nói với chồng. Trong phút chốc, chị quên hết, mở miệng ra nói. Bỗng viên ngọc rơi ra sáng lòa. Thế là hai người chìm xuống biển.

    Ngày nay, dưới biển có loài sam thường lội từng đôi, con cái bao giờ cũng ôm lưng con đực, trông rất lạ. Người ta nói đó là hiện thân của đôi vợ chồng người đánh cá nọ. Sống hay chết, trên cạn hay dưới nước, họ không bao giờ rời nhaụ

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  20. #20
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Sự tích cây huyết dụ

    Sự tích cây huyết dụ

    Ngày xưa có một người chuyên mua lợn về giết thịt để mang bán ở chợ. Nhà bác ta ở bên cạnh một ngôi chùa làng. Hàng ngày, vào lúc mờ sáng là lúc sư cụ bên chùa theo lệ thường thức dậy tụng kinh. Và cũng theo lệ thường, chú tiểu dậy gõ một hồi chuông mai. Bấy giờ cũng là lúc bác sửa soạn giết lợn, cho nên bác ta quen lấy tiếng chuông làm chừng thức dậy làm việc hằng ngày. Cứ như thế, ngày nào cũng như ngày ấy không bao giờ sai lạc.

    Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: "Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!". Sư hỏi người đàn bà: - "Ađiđdà-Phật! Cứu mạng là cứu thế nào? Bần tăng phải làm gì đâỷ". Người mẹ có bộ điệu hãi hùng ấy trả lời: - "Ngày mai xin hòa thượng hãy đánh chuông chậm lại. Như vậy mẹ con chúng thiếp rất đội ơn". Nhà sư tỉnh dậy không hiểu thế nào cả. Nhưng tờ mờ sáng hôm đó, vâng theo lời báo mộng, sư cụ chỉ lâm râm đọc kinh cầu nguyện mà không đánh thức chú tiểu dậy thỉnh chuông.

    Lại nói chuyện hôm ấy bác đồ tể ngủ một giấc li bì. Mãi đến lúc mặt trời lên chừng một cây sào, tiếng chuông chùa mới bắt đầu vang rền làm cho bác giật mình choàng dậy. Thấy trời đã quá trưa, bác không dám giết lợn như thường lệ, vì nếu làm thịt thì khi đưa ra đến chợ, chợ đã vãn người rồi. Tức mình vì lỡ mất một buổi chợ, bác ta lật đật sang chùa trách sư cụ. Sư cụ bèn đem câu chuyện nằm mộng đêm qua để phân trần với ông hàng xóm không phải lỗi tại mình.

    Nhưng lúc bước chân về chuồng lợn của nhà thì bác đồ tể ngạc nhiên thấy con lợn cái mua ngày hôm qua toan giết thịt sáng đó, đã đẻ được năm con lợn con. Vừa mừng vừa sợ, bác ta kể cho mọi người biết sự lạ lùng: - "Đúng là linh hồn người đàn bà ẩn trong con lợn cái đã tìm cách cứu bầy con của mình khỏi chết".

    Tự nhiên bác đồ tể đâm ra suy nghĩ. Bác thấy bàn tay của mình đã từng vấy máu biết bao nhiêu là sinh mạng. Trong một lúc hối hận đến cực điểm, bác ta cầm cả con dao bầu chạy sang chùa bộc bạch nỗi lòng với sư cụ. Bác ta quả quyết cắm con dao của mình trước sân chùa, thề trước Phật đài từ nay xin giải nghệ.

    Không rõ bác đồ tể rồi sau đó thế nào, nhưng con dao của bác tự nhiên hóa thành một loại cây có lá đỏ như máu và nhọn như lưỡi dao bầu, người ta vẫn gọi là cây huyết dụ (1).

    -----------------------

    1. Theo lời kể của người miền Bắc.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •