Trang 1 trong 2 12 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 39

Ðề tài: Giai thoại

  1. #1
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giai thoại

    Giai thoại

    Các giai thoại sẽ nằm trong hộp này .

    Câu thơ bo? lửng

    Nguyễn Du lúc còn là học trò ở với thân sinh là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm ở Hà Nội, theo học với một ông đồ họ Lê ở Gia Lâm, bên kia sông Nhị. Cậu học trò cùng các bạn ngày nào cũng phải qua sông bằng đò ngang. Người chở đò là một cô gái nhà nghèo nhưng xinh xắn và ăn nói có duyên. Cậu học trò họ Nguyễn rất để ý.

    Một hôm, cậu đến chậm, lỡ chuyến đò, cậu phải đợi chờ sốt ruột, nên làm một bài thơ nhờ bạn đưa cho cô lái để tỏ lòng mình và cũng để thử lòng cô gái. Bài thơ như sau:

    Ai ơi, chèo chống tôi sang.
    Kẻo trời trưa trật, lỡ làng tôi ra.
    Còn nhiều qua lại lại qua,
    Giúp cho nhau nữa để mà?

    Câu thơ cuối, tác giả bỏ lửng có ý để chờ cô gái điền vào. Nhận được, cô gái bẽn lẽn và từ chối, nhưng về sau nể lời bạn, cô cũng thêm vào hai chữ? quen nhau.

    Thế rồi hai người yêu nhau. Nhà thơ thổ lộ tâm tình ra 4 câu lục bát rằng:

    Quen nhau nay đã nên thương,
    Cùng nhau xe mối tơ vương chữ tình.
    Cảnh xinh xinh, người xinh xinh,
    Trên trời, dưới nước, giữa mình với ta.


    Họ yêu nhau tha thiết, quyết chí lấy nhau, nhưng rồi không lấy được nhau. Bởi lẽ đơn giản: Nguyễn Du là cậu con trai quý tộc mà cô kia thì chỉ là một cô gái bình dân. Chẳng những thế, do chuyện yêu đương ấy Nguyễn Du còn bị gọi về nhà chịu một trận đòn nên thân, rồi lại bị gửi về học một ông đồ khác ở mạn Thái Bình.

    Hơn mười năm sau, khi Nguyễn Du có dịp trở lại bến cũ đò xưa thì cô gái đi lấy chồng lâu rồi, chỉ còn cây đa vẫn còn xanh tươi trước gió, dòng nước đỏ vẫn lặng lẽ trôi xuôi. Bến đò vẫn đông người qua lại nhưng vắng bóng một người. Trông cảnh cũ nhớ người xưa, nhà thơ đành bùi ngùi sẽ ngâm lên bốn câu lục bát để gửi gắm lòng mình:

    Yêu nhau những muốn gần nhau.
    Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười.
    Vì đâu xa cách đôi nơi,
    Bến nay còn đó nào người năm xưa?


    Câu chuyện đau lòng này, sau được Nguyễn Du tự tay ghi chép trong một bản thảo dưới nhan đề ?Mối tình hận của ta?.
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  2. #2
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giai thoại về Lương Thế Vinh (Trạng Lường)

    Giai thoại về Lương Thế Vinh (Trạng Lường)

    Thần đồng- Thần chú

    Lương Thế Vinh tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thuỵ Hiên, ông sinh năm 1411 tại Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản - Nam Định).

    Từ bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng trong việc học, việc chơi. Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu rất thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với các trẻ chăn trâu. Khi thả diều, diều của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ và có tiếng kêu trầm bổng, rất du dương vui tai, người lớn cũng say mê lắng nghe.

    Cùng đi câu cá với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn. Nhìn chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để bẫy chim chả khá tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục.

    Người thời đó gọi cậu là "thần đồng", tiếng dùng để chỉ những người giỏi như thần ở tuổi nhi đồng. Nhưng bọn trẻ chả hiểu "thần đồng" là gì. Chúng ngỡ Lương Thế Vinh hay câu cá, thả diều, bẫy chim, chăn trâu ngoài đồng nên người ta gọi là "thần" ở ngoài "đồng". Rồi một chuyện sau đây xảy ra, khiến bọn trẻ tưởng cậu là "thần thánh" thực sự.

    Hôm đó, cậu đem một trái bưởi ra bãi tha ma (chỗ bạn bè thả trâu) làm quả bóng để các bạn cùng chơi. Bỗng quả bưởi lăn xuống một trong những cái hố bên mép bãi người ta đào để ngăn trâu bò khỏi phá lúa. Cái hố rất hẹp lại rất sâu không xuống mà cũng không với tay lấy lên được. Bọn trẻ tưởng thế là mất đồ chơi. Nhưng Lương Thế Vinh nghĩ một lát, rồi mới hớn hở rủ bạn đi mượn vài chiếc gầu giai đi múc nước đổ xuống hố. Bọn trẻ không hiểu Vinh làm thế để làm gì. Nhưng lát sau thấy Vinh cúi xuống cầm quả bưởi lên, chúng rất sửng sốt phục tài Vinh.

    Từ đó trẻ con trong làng truyền nhau rằng Lương Thế Vinh là thần, có một câu "thần chú" hay lắm, có thể gọi được những vật vô tri như quả bưởi lại với mình.

    Thực ra thì Vinh trèo cây hái bưởi bên bờ ao, sẩy tay cậu làm rơi quả bưởi xuống nước tưởng mất. Nhưng khi nhìn thấy bưởi nổi trên mặt ao, Vinh đã lấy cành tre khều vào và đem ra bãi chơi. Lúc quả bưởi lăn xuống hố, cậu đã chợt nhớ lại và nghĩ ra cách lấy nước đổ xuống cho bưởi nổi lên. Vốn thích thơ ca, hò, vè nên trong khi cúi xuống chờ bưởi, cậu vui miệng đọc lẩm nhẩm:

    Bưởi ơi bưởi
    Nghe tao gọi
    Lên đi nào
    Đừng quên lối
    Đừng bỏ tao...

    Và bọn trẻ cứ nghĩ rằng Vinh đọc "thần chú".


    Chơi mà học - học mà chơi

    Lương Thế Vinh là người biết kết hợp rất khéo giữa chơi và học, nên từ nhỏ Vinh học rất thoải mái và lại đạt kết quả cao.

    Khác với những người khá "dùi mài kinh sử", học như con vẹt chỉ biết thuộc nhiều, không cần hiểu, không cần sáng tạo. Vinh học đến đâu, hiểu đến đấy, học một mà biết mười. Khi đã ngồi học thì tập trung tư tưởng rất cao, luôn muốn thực nghiệm những điều đã học vào đời sống. Trong khi vui chơi như câu cá, thả diều, bẫy chim, Vinh luôn kết hợp với việc học. Lúc thả diều, Vinh rung dây diều để tính toán, ước lượng chiều dài, chiều cao. Khi câu cá, Vinh tìm hiểu đời sống các sinh vật, ước tính đo lường chiều sâu ao hồ, chiều rộng sông ngòi... và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Vinh nghĩ ra cách đo bóng cây mà suy ra chiều dài của cây.

    Người đời còn truyền lại câu chuyện sau đây:

    Dạo đó, Lương Thế Vinh và Quách Đình Bảo là hai người nổi tiếng vùng Sơn Nam (Thái Bình- Nam Định bây giờ) về thông minh, học giỏi. Một hôm, sắp đến kỳ thi, Lương Thế Vinh tìm sang làng Phúc Khê bên Sơn Nam hạ để thăm Quách Đình Bảo, toan bàn chuyện cùng lên kinh ứng thí.

    Đến làng, Vinh ghé một quán nước nghỉ chân. Tại đây Vinh nghe người ta nói là Quách Đình Bảo đang ngày đêm dùi mài kinh sử quên ngủ, quên ăn. Chắc chắn kỳ này Bảo phải đứng đầu bảng vàng. Vinh cười nói:

    - Kỳ thi đến nơi mà còn chúi đầu vào quyển sách, cố tụng niệm thêm vài chữ. Vậy cũng gọi là biết học ư? Ta có đến thăm cũng chẳng có gì để bàn bạc - Vinh nói thế rồi bỏ ra về.

    Quách Đình Bảo nghe được chuyện trên, gật gù:

    - Người đó hẳn là Lương Thế Vinh, ta phải đi tìm mới được!

    Thế là Bảo chuẩn bị khăn gói, tìm đến Cao Hương thăm Vinh. Chắc mẩm đến nhà sẽ gặp ngay Vinh đang đọc sách, nhưng Vinh đi vắng, người nhà bảo Vinh đang chơi ngoài bãi.

    Quách Đình Bảo ra bãi tìm, quả thấy Vinh đang thả diều, chạy chơi cùng bạn bè, rất ung dung thư thái. Bảo phục lắm tự nói với mình: "Người này khôi ngô tuấn tú, phong thái ung dung, ta có học mấy cũng không thể theo kịp".

    Quả nhiên sau đó, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ tư, đời vua Lê Thánh Tông (1463) Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên (đỗ đầu), Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa (đỗ thứ 3). Năm ấy Lương Thế Vinh mới hăm hai tuổi.


    Cân Voi to - đo giấy mỏng

    Ngày xưa, vua quan Trung Quốc thường cậy thế nước lớn, coi thường nước ta, cho nước ta là man di, mọi rợ. Về tinh thần bất khuất của cha ông ta thì chúng đã được nhiều bài học. Nhưng về mặt khoa học thì chúng chưa phục lắm.

    Một lần sứ nhà Thanh là Chu Hy sang nước ta, vua Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Hy nghe đồn Lương Thế Vinh không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên mới hỏi:

    - Có phải ông làm sách Đại thành toán pháp, định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?

    Lương Thế Vinh đáp:

    - Dạ, đúng thế!

    Nhân có con voi rất to đang kéo gỗ trên sông, Chu Hy bảo:

    - Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!

    - Xin vâng!

    Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân voi.

    - Tôi xem chiếc cân của ông hơi nhỏ so với con voi đấy! - Hy cười nói.

    - Thì chia nhỏ voi ra! Vinh thản nhiên trả lời!

    - Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin một miếng gan nhé!

    Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Đến bến sông, trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Thuyền đang nổi, do voi nặng nên đầm sâu xuống. Lương Thế Vinh cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên. Kế đó trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, thuyền lại đầm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngưng đổ đá.

    Thế rồi trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Thanh:

    - Ông ra mà xem cân voi!

    Sứ Tàu trông thấy cả sợ, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh coi thường. Khi xong việc, Hy nói:

    - Ông thật là giỏi! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?

    Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.

    Giấy thì mỏng mà li chia ở thước lại quá thô, Vinh nghĩ giây lát rồi nói:

    - Ngài cho tôi mượn cuốn sách!

    - Sứ đưa ngay sách cho Lương Thế Vinh với vẻ không tin tưởng lắm.

    Lương Thế Vinh lấy thước đo cuốn sách, tính nhẩm một lát rồi nói bề dày tờ giấy.

    Kết quả rất khớp với con số đã viết sẵn ở nhà. Nhưng sứ chưa tin tài Lương Thế Vinh, cho là ông đoán mò. Khi nghe Vinh nói việc đo này rất dễ, chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra ngay kết quả thì sứ ngửa mặt lên trời than: "Danh đồn quả không sai. Nước Nam quả có lắm người tài!"

    Lương Thế Vinh quả là kỳ tài! Ông nghĩ ra cách cân đo tài tình ngay cả trong lúc bất ngờ, cần ứng phó nhanh chóng. Gặp vật to thì ông chia nhỏ, gặp vật nhỏ thì ông gộp lại. Phải chăng ý tưởng của Lương Thế Vinh chính là mầm mống của phép tính vi phân (chia nhỏ) và tích phân (gộp lại) mà ngày nay là những công cụ không thể thiếu được của toán học hiện đại.


    Nên mừng hay nên lo

    Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.

    Một hôm, lúc chầu trong triều, vua hớn hở nói với Vinh:

    - Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa!

    Lương Thế Vinh tâu:

    - Lắm con trai là lắm giặc. Không lo sao được!

    Vua lấy làm lạ hỏi:

    - Ta không rõ sao lại thế?

    Trạng tâu không úp mở:

    - Ngôi báu chỉ có một. Bệ hạ có nhiều con trai càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy phải lo lắm chứ!

    Đúng như ?sấm? của trạng. Sau đó con cháu nhà vua tranh giành ngôi thứ, chém giết lẫn nhau, gây cảnh ?nồi da nấu thịt, cốt nhục tương tàn?, làm cho triều chính đổ nát, trăm họ lầm than. Chỉ ba chục năm sau khi Thánh Tông mất, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội mà cướp ngôi nhà Lê.


    Quan trạng hầu quan huyện

    Lương Thế Vinh rất ghét những viên quan hống hách, hà hiếp nhân dân. Ông có nhiều học trò giỏi đỗ cao, làm quan lớn. Với học trò nào ông cũng dạy về lòng yêu dân, đức khiêm tốn. Có lần, một viên quan huyện hách dịch đã bị ông cho một bài học, làm trò cười cho thiên hạ.

    Bữa ấy, ông đi thăm bạn bè, ngồi nghỉ chân ở quán nước bên đường. Bỗng thấy một đoàn rước quan huyện đi qua. Dân trong vùng đều biết viên quan này thường hay bắt người dọc đường khiêng cáng, bèn bảo nhau trốn chạy cả. Vì không biết lệ đó nên ông cứ ung dung ngồi nghỉ đến khi tên lính hầu của quan huyện bắt ra khiêng cáng.

    Lương Thế Vinh khúm núm bước lại ghé vai khiêng cáng. Khi cáng quan đi đến chỗ bùn lội, ông làm như vô tình trượt chân văng cáng, hất quan huyện ngã chỏng gọng giữa vũng, áo, mũ, cân đai bê bết bùn.

    Quan huyện đỏ tím mặt mày vì giận, đang toan định đổ cơn thịnh nộ lên đầu kẻ hầu hạ mình thì trạng vẫy người đi đường, nói lớn:

    - Bác gọi hộ anh học trò tôi là thám hoa Văn Cát ra khiêng hầu võng quan huyện thay thầy.

    Quan huyện xanh xám mặt mày, cuống quýt quỳ mọp xuống bùn lạy như bổ củi, xin quan trạng tha tội cho.

    Lương Thế Vinh nhẹ nhàng lấy lời răn dạy, từ đó viên quan huyện chừa thói hống hách với dân.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  3. #3
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Một câu đối, hai hoàn cảnh

    Một câu đối, hai hoàn cảnh

    Hồi đó Cao Bá Quát đang nghỉ ở nhà. Dân quanh vùng thường rủ nhau đến xin câu đối về dán trong nhà, nhất là trong dịp Tết.

    Một hôm có hai người láng giềng cùng đến một lúc, chỉ trước sau mấy bước. Người đến trước là một anh làm nghề đóng áo quan. Người đến sau là một chị đang có chửa gần ngày sinh. Cao Bá Quát không phải nghĩ ngợi lâu, cầm bút viết vào rẻo giấy cho anh thợ áo quan:

    Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm THỌ.
    Xuân mãn càn khôn, phúc mãn ĐƯỜNG.

    Nghĩa là:

    Trời thêm năm tháng, người thêm thọ.
    Xuân khắp non sông, phúc chật nhà.

    Cao khéo dùng hai chữ Thọ và Đường để nói đến cái quan tài vì ngày xưa ta quen gọi cỗ quan tài là cỗ Thọ Đường.

    Anh thợ nghe giảng rõ, vui mừng vái chào đi ra. Đến chị bụng chửa. Cao nhìn chị hóm hỉnh cười, rồi lấy mảnh giấy khác, viết ngay:

    Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm.
    Xuân mãn càn khôn, phúc mãn.

    Nghĩa là:

    Trời thêm năm tháng, người thêm.
    Xuân đầy vũ trụ, phúc đầy.

    Như vậy là Cao Bá Quát đã dùng lại câu đối nghĩ cho anh thợ áo quan hồi nãy, chỉ có bớt ở mỗi vế một chữ cuối. Nhưng như thế vẫn nói lên được rất rõ việc chị phụ nữ sắp đẻ (người thêm) và việc hiện tại trước mắt là chị đang có mang. Vì chữ Phúc là hạnh phúc cũng trùng âm với chữ Phúc là "bụng" (Phúc mãn có nghĩa là bụng đầy, bụng to, tức là bụng có chửa).

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  4. #4
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giai thoại về Sương Nguyệt Ánh

    Giai thoại về Sương Nguyệt Ánh

    Sương Nguyệt ánh tên thật là Nguyễn Xuân Khuê (1864 - 1921), hiệu là Nguyệt Ánh, sau khi goá chồng mới thêm chữ Sương, thành biệt hiệu Sương Nguyệt Ánh. Bà là con gái của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, quê quán làng An Bình Đông, nay là xã An Đức , Ba Tri, Bến Tre. Thuở nhỏ bà cùng chị là Nguyễn Kim Xuyến được cha dạy chữ Hán và cũng nổi tiếng thông minh, tài sắc trong trường học của cha. Những năm 1906 - 1908 hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, bà đã bán vườn đất giúp họ sinh xuất dương du học.

    Khoảng cuối 1917, bà được mời ra Sài Gòn làm chủ bút tờ "Nữ Giới Chung" (Tiếng chuông nữ giới), tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản tại Sài Gòn (1918), nhưng chưa đầy một năm báo phải đóng cửa. Bà cùng cháu ngoại về Ba Tri sống với người em trai là nhà thơ Nguyễn Đình Chiêm, tác giả "Phấn trang lầu". Đau mắt rồi bị loà, bà vẫn dạy chữ Hán và làm thuốc chữa bệnh. Bà mất tại Ba Tri, phần mộ đặt bên cạnh mộ cha mẹ.

    Tạp chí Quê Hương xin giới thiệu một số giai thoại về Sương Nguyệt Ánh:

    Những lời từ chối

    Cụ Đồ Chiểu tuy mù, nhưng giỏi nghề thuốc lại khẳng khái yêu nước chống Pháp nên khách thường đến nhà rất đông. Nguyễn Xuân Khuê đang thời con gái, nhiều chàng muốn kết duyên. Trong số đó có hai anh chàng tên là Xương và Giảng. Hai người này thường đến nhà cụ Đồ chơi cờ, thỉnh thoảng lại hoạ thơ, cột ghẹo cô con gái cụ Đồ.

    Muốn đuổi khéo hai anh chàng, cô bèn ra câu đối:

    Đằng tiểu quốc sự Tề hổ, sự Sở hồ?

    (Nước Đằng nhỏ, nước tề và nước Sở ép hai bên:
    Quay đầu về Sở, e tề giận
    Ngoảnh mặt về Tề, sợ Sở ghen!)

    Anh chàng Giảng nghĩ mãi chưa ra, chàng Xương gỡ thế bí, xin đối:

    Ngã đại trượng, phạt Quách hỷ, phạt Sở hỷ!

    (Gậy ta dài, trị Quách ngồi nước Yên, trị cả nước Sở)

    Cô Khuê vừa nghe xong, đỏ mặt, lẳng lặng bỏ vào buồng. Lát sau một đứa nhỏ ra , trao cho hai chàng một mảnh giấy viết:

    Chiêu Quân nhan sắc nghe ra uổng
    Tây Tử phong lưu nghĩ lại buồn!

    Câu này ngụ ý rằng: nàng Chiêu Quân lẫn nàng Tây Thi là cô Xuân Khuê đã chê cả hai chàng! Hai chàng đành ra về. Chàng Giảng trách bạn:

    - Lại khoe "gậy" dài...

    - Thì "đại" đối với "tiểu" chỉnh quá đi chứ!

    - Ừ chỉnh! Người ta vác "gậy" đuổi về đó!

    Ít lâu sau, cô lấy phó tổng Nguyễn Công Tính, sinh được một bé gái thì chồng chết. Nhiều người "ngấp nghé"...

    Thầy Bảy Nguyệt nộp đơn với bài thơ tứ tuyệt:

    Ai về nhắn với Nguyệt Anh Cô
    Chẳng biết lòng cô tính thế nào!
    Không phải vãi chùa sao đóng cửa?
    Đây lòng gấm nghé bắc cầu ô.

    Chả lẽ không đáp lời? Cô đành phải hoạ:

    Chẳng phải tiên cô cũng đạo cô,
    Cuộc đời dâu bể biết là mô!
    Lọng sườn dầu rách còn kêu lọng,
    Ô bịt vàng ròng tiếng vẫn ô.

    Sợ Thầy Bảy vẫn theo đuổi, cô hoạ thêm một bài dứt khoát:

    Phải thời cô quả, chịu thời cô
    Chẳng biết tuồng đời tính thế mô?
    Dòm thây bụi trần toan đóng cửa,
    Ngọc lành chi để thẹn danh ô.

    Câu đối không lời giải

    Tờ Nữ Giới Chung ra được một năm, vì nội dung yêu nước của nó nên thực dân bắt đóng cửa (mặt khác vì độc giả mua báo dài hạn trả chậm và nhóm thương gia bảo trợ cắt tài chính), cánh nam giới ở Sài thành lúc ấy rất khoái. Tờ Công Luận, một tờ báo của tầng lớp tư sản đăng một bài thơ như reo lên:

    Nữ giới chung! Nữ giới chung
    Cớ sao bặt tiếng chẳng nghe rung
    Hay là hụt vốn ta giùm nữa
    Đặng sắm chày to động đến cùng!

    Phạm Đình Chi, một viên chức làm cho Pháp, kiêm tư thương, sau khi thơ trên được đăng, đã đến "thăm" toà soạn Nữ Giới Chung lúc ấy đang... dọn dẹp nghỉ. Hắn ta có thái độ kiêu căng, bà Sương Nguyệt Ánh đã không tiếp hắn. Bà chỉ cho người trao cho hắn một mảnh giấy, ghi một câu đối ra, thách đối lại:

    - Đình làng tôi không dám phạm. Thưa ông, ông Phạm Đình Chi?

    Tất nhiên, Phạm Đình Chi không đối được.


    (Theo Lê Xuân)

    HELLBOY
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  5. #5
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giai thoại về nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Giai thoại về nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Lịch sử khoa cử Việt Nam có hàng chục trạng nguyên, nhưng ít có ông trạng nào mà tên tuổi lại được nhắc tới với nhiều giai thoại kỳ bí như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585). Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao tư tưởng nhân nghĩa, hòa bình. Chính ông là người đầu tiên nhắc tới hai chữ Việt Nam trong các tác phẩm của mình. Là một người thầy lớn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Học trò của ông, người theo nhà Mạc, người theo nhà Lê. Ngoài triều Mạc, cả họ Trịnh, họ Nguyễn, những người thuộc các phe đối lập, cũng đều tôn kính ông, thường xin ý kiến ông về nhiều vấn đề hệ trọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ cho tất cả. Họ đều thấy sự chỉ dẫn của ông là đúng, nên ông được xem như bậc đại hiền, một ông trạng tiên tri...

    Những lời khuyên làm nên sự nghiệp

    Năm 1568, khi Nguyễn Hoàng thấy anh ruột là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm (anh rể) giết, bèn sai người đến xin ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc này đã 77 tuổi, đang sống ẩn dật ở Am Bạch Vân. Không trả lời trực tiếp, ông dẫn sứ giả ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và nói:

    "Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân"
    (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được)


    Hiểu được ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái xin với anh rể Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào, từ đó lập ra nhà Nguyễn ở phương nam. Về sau sử nhà Nguyễn sửa thành "vạn đại dung thân", hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi.

    Ở Thăng Long, Trịnh Kiểm cũng muốn bỏ Vua Lê để tự xưng vương. Khi cho người đến hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông không trả lời mà dẫn sứ giả ra chùa, thắp hương mà nói: "Mấy năm nay mất mùa, nên tìm thóc giống cũ mà gieo". Rồi lại bảo chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ và nói: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản". Hiểu ý, Trịnh Kiểm không dám phế bỏ nhà Lê mà phò Vua Lê để lập nghiệp Chúa.

    Phùng Khắc Khoan đến gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm, với ý muốn nhờ thầy cho một lời khuyên: Có nên bỏ nhà Mạc để vào Thanh Hóa với triều đình Lê - Trịnh? Cả buổi chiều trò chuyện, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ hỏi tình hình, nói chuyện văn chương chứ không trả lời. Đêm ấy Phùng Khắc Khoan ngủ lại tại nhà thầy. Sang canh tư, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến phòng ngủ của học trò, đứng ngoài gõ cửa và nói vọng vào:

    "Gà đã gáy rồi, trời đã sáng, sao không dậy, ngủ mãi ử"

    Phùng Khắc Khoan nghe xong, suy nghĩ, và đoán rằng thầy gián tiếp bảo thời cơ đã đến, có thể vào giúp nhà Lê. Ông vội vàng thu xếp hành lý, đợi đến lúc mặt trời mọc thì vào giã từ thầy. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không nói gì, chỉ cuốn một chiếc chiếu ngắn ném theo. Phùng Khắc Khoan nhặt lấy chiếu, vừa đi vừa nghĩ:

    "Phải chăng đây là ý dặn mình cần hành động gấp và dứt điểm như cuốn chiếủ"

    Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm gần mất, nhà Mạc cho người đến hỏi ông về kế lâu dài. Ông đáp: "Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế" (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời). Sau quả đúng như vậy.

    Những lời sấm cho nhiều đời sau

    Dân gian lưu truyền nhiều bản Sấm ký được cho là của ông. Hiện nay ở kho sách Viện nghiên cứu Hán - Nôm còn giữ được bốn bản. Tuy nhiên các bản này đều không có tên người chép, chép từ bao giờ và chép ở đâu? Do vậy, chúng ta cần phải làm rõ vấn đề đâu là khả năng dự báo xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm do kiến thức và kinh nghiệm đã đem lại, đâu là những điều mà người đời đã gán ghép cho ông? Mặc dù là "tồn nghi" nhưng chúng tôi cũng xin trích ra để bạn đọc cùng khảo cứu.

    Truyện kể lại rằng, trước khi qua đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại một phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này nếu làm ăn sa sút, mang thư ấy đến gặp quan sở tại thì sẽ được cứu giúp. Đến đời thứ bảy, người cháu thứ bảy là Thời Đương nghèo khốn quá, nhớ lời truyền lại, đem phong thư đến gặp quan sở tại. Quan lúc này đang nằm võng đọc sách, nghe gia nhân báo có thư của cụ Trạng Trình thì lấy làm lạ, lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi nhà thì cái xà rơi xuống đúng chỗ võng đang nằm. Quan sợ hãi vội mở thư ra xem thì chỉ có mấy chữ:

    "Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách
    Nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn
    (Ta cứu ngươi thoát khỏi ách xà rơi
    Ngươi nên cứu cháu bảy đời của ta)


    Quan vừa kinh ngạc, vừa cảm phục, bèn giúp đỡ cháu bảy đời của Trạng hết sức tử tế.

    Đến đời Vua Minh Mệnh (1820 - 1840) trong dân gian lưu truyền một câu sấm: "Gia Long nhị đại, Vĩnh Lại vi Vương" (đời thứ hai Gia Long, người ở Vĩnh Lại làm vua). Vua Minh Mệnh vốn tính đa nghi. Biết được mấy câu sấm ấy, nhà vua vừa có ý đề phòng, vừa căm giận Trạng Trình. Tổng đốc Hải Dương lúc bấy giờ là Nguyễn Công Trứ được lệnh đến phá đền thờ Trạng Trình.

    Nguyễn Công Trứ cho lính đến, cứ y lệnh triều đình cho đập tường, dỡ nóc. Nhưng khi tháo cây thượng lương ra thì một cái hộp nhỏ đã để sẵn trong tấm gỗ, rơi xuống. Quân lính nhặt đưa trình chủ tướng, Nguyễn Công Trứ mở xem, trong đó có một mảnh giấy đề chữ:

    "Minh Mệnh thập tứ
    Thằng Trứ phá đền
    Phá đền thì lại làm đền
    Nào ai cướp nước tranh quyền gì ai".


    Nguyễn Công Trứ vội ra lệnh dừng ngay việc phá đền, khẩn cấp tâu về triều đình, xin làm lại đền thờ Trạng Trình.

    Ở một tập sấm mở đầu có các câu:

    "Nước Nam thường có thánh tài
    Sơn hà vững đạt mấy ai rõ ràng
    Bãi ngọc đất nổi, âu vàng trời cho
    Học cách vật mới dò tới chốn..."


    Có người cho rằng những lời thơ ấy đã khẳng định đất nước có nhiều người tài giỏi, cùng với nhân dân giữ vững đất nước qua biết bao nguy biến. Đất nước cũng có nhiều tài nguyên phong phú cần được khai thác. Đảo Sơn phải chăng là Vũng Tàu - Côn Đảo? Nơi có tiềm năng về dầu khí và có vị trí kinh tế chiến lược? Những lời sấm ấy cũng khẳng định phải có khoa học - kỹ thuật (học cách vật) mới có thể khai thác tốt và sử dụng tốt những tài nguyên đó, những âu vàng trời cho.
    Tập sấm còn đề cập tới một bậc Thánh giúp đời:

    "Một đời có một tôi ngoan,
    Giúp chung nhà nước dân an thái bình
    Ấy điềm sinh Thánh rành rành chẳng nghi"


    [...]

    Trong tập sấm cũng ghi một lời rất đặc biệt:

    "Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
    Hưng tộ diên trường ức vạn xuân"
    (Đất nước Hồng Lam này sau ta 500 năm
    sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân)

    Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585, thọ 94 tuổi. Ba trăm năm sau, trong bộ sách lớn "Lịch triều hiến chương loại chí", nhà văn hóa Phan Huy Chú đã coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là "Một bậc kỳ tài, hiển danh muôn thuở".


    (Theo Trường Sơn)

    HELLBOY
    Last edited by HellBoy; 14-10-2007 at 09:55 PM.
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  6. #6
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Làm thơ khất nợ

    Làm thơ khất nợ

    Lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ đã từng được người đời liệt vào hàng các tay đổ bác có tiếng. Ông vớ của thiên hạ cũng đã lắm, mà thua thiệt nợ nần người ta thì cũng nhiều.

    Một lần đi đánh tổ tôm bị thua rồi mang nợ. Chủ nợ là một ông già, đến đòi năm lần bảy lượt mà Nguyễn Công Trứ cũng vẫn không có tiền giả.

    Sau ông lão đòi rát quá, Nguyễn Công Trứ đành phải đi lục lọi rương hòm xem có gì đáng giá để đem cầm đợ mà lấy tiền trang trải. Nhưng khốn thay, lục mãi mà vẫn chẳng khui ra được gì ngoài mấy quyển sách nát. Túng thế, Nguyễn Công Trứ mới đọc liều cho ông già một bài thơ để xin khất nợ. Thơ rằng:

    Thân "bát văn" tôi đã xác vờ.
    Trong nhà còn biết "bán chi" giờ?
    Của trời cũng muốn "không thang" bắc,
    Lộc thánh còn mong "lục sách" chờ.
    Thiên tử "nhất văn" rồi chẳng thiếu.
    Nhân sinh "tam vạn" hãy còn thừa.
    Đã không "nhất sách" kêu chi nữa?
    "Ông lão" tha cho cũng được nhờ! (1)

    Ông lão rắp tâm đòi cho bằng được, thấy Nguyễn Công Trứ giở thơ ra đã có ý bực. Nhưng lần lần nghe qua cả bài thấy thơ hay mà khéo quá; câu nào cũng có tên một quân bài tổ tôm, mà đồng thời lại nói lên được cái cảnh học trò kiết không tiền...

    Vì thế ông lão nghĩ thương tình và mến tài, bằng lòng cho Nguyễn Công Trứ khất nợ.

    ----------------------

    (1) Chỗ tài tình của bài thơ là ở chỗ Nguyễn Công Trứ khéo vận dụng những tên quân bài tổ tôm (như: bát văn, bán chi, không thang, lục sách, nhất văn, tam vạn, nhất sách, ông lão) vào bài thơ, nhưng đồng thời những danh từ ấy vẫn có nghĩa thông thường.
    - Bát văn: tên quân bài có vẽ một thân hình lươn khươn, yếu ớt, tượng trưng hài hước một anh học trò; vì vậy thân bát văn là nói bóng thân học trò.
    - Bán chi: tên quân bài, và nghĩa thứ hai là bán cái gì bây giờ?
    - Không thang: tên quân bài, nghĩa khác là không thang để bắc lên trời.
    - Lục sách: tên quân bài, nghĩa thứ hai là lục tìm trong đống sách vở.
    - Nhất văn: tên quân bài, nghĩa khác là thoắt nghe (đây lấy trong câu: "Nhất văn thiên tử chiếu, tứ hải trạng nguyên tâm". Nghĩa là: Vừa nghe chiếu vua mở khoa thi, bốn biển đã nức lòng muốn chiếm trạng nguyên.
    - Câu này còn có ý bảo: nay mai tôi đỗ đạt rồi chẳng thiếu gì tiền.
    - Tam vạn: tên quân bài, nghĩa nữa là ba vạn ngày, tức suýt soát một đời người.
    - Nhất sách: tên quân bài, nghĩa thứ hai là một mưu kế.
    - Ông lão: tên quân bài, nghĩ khác chỉ ông lão chủ nợ.
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  7. #7
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giai thoại về Nguyễn Du

    Giai thoại về Nguyễn Du

    Nguyễn Du (1766 - 1820), đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc có thế lực và có truyền thống văn học bậc nhất đương thời. Nguyễn Du thông minh, học rộng, nhưng chỉ đỗ đến tam trường (Tú tài), ông ra đời bằng chức quan võ nhỏ biên trấn ở Thái Nguyên, kế nghiệp ông bố nuôi họ Hà. Tuy xuất thân trong một gia đình vọng tộc, nhưng ông không được hưởng phúc ấm của tổ tiên. Những biến cố của đời sống chính trị dồn dập ập đến biến ông thành nhà thơ - người phát ngôn cho quyền sống của những người lao khổ, nhà nhân văn chủ nghĩa lớn nhất của đất nước đầu thế kỷ XIX. Tạp chí Quê Hương xin giới thiệu một số giai thoại về Nguyễn Du.

    Câu thơ bỏ lửng

    Nguyễn Du lúc còn là học trò được ông thân sinh gọi ra Thăng Long theo học một ông đồ họ Lê ở Gia Lâm, bên kia sông Nhị Hà (sông Hồng). Nguyễn Du cùng các bạn học ngày nào cũng phải qua sông bằng đò ngang để đến trường. Người chở đò là một cô gái nhà nghèo, nhưng xinh xắn và nói nhỏ nhẹ, có duyên và rất dễ thương.

    Một hôm, các nho sinh đến chậm, phải chờ đò mãi. Trống trường bên kia đã điểm hối thúc. Nguyễn Du chờ sốt ruột nên làm một bài thơ nhờ bạn đưa cô lái đò để tỏ lòng mình và cũng là để thử lòng cô gái. Bài thơ như sau:

    Ai ơi, chèo chống tôi sang.
    Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra
    Còn nhiều qua lại, lại qua
    Giúp nhau rồi nữa để mà....


    Câu thơ cuối, tác giả bỏ lửng có ý để chờ cô gái điền vào. Nhận được, cô gái bẽn lẽn và từ chối, nhưng về sau nể lời bạn, cô cũng thêm vào hai chữ... quen nhau.
    Rồi ngày tháng dần qua, bến đợi sông chờ, một ngọn lửa thầm kín bùng lên giữa hai người, sợi dây tình khăng khít buộc chàng trai quý tộc và cô gái bình dân. Thế rồi hai người yêu nhau. Nhà thơ thổ lộ tâm tình ra bốn câu lục bát rằng:

    Xưa quen nay đã nên thương
    Cùng nhau chắp mối tơ vương chữ tình
    Cảnh xinh xinh, người xinh xinh
    Trên trời, dưới nước, giữa mình với ta.


    Họ yêu nhau tha thiết, quyết chí lấy nhau, nhưng gia đình Nguyễn Du không đồng ý. Bởi lẽ đơn giản, Nguyễn Du là cậu con trai quý tộc mà cô gái là một người bình dân. Nguyễn Du bị gửi về học một ông đồ khác ở Thái Bình. Nguyễn Du buồn rầu từ giã người yêu, mối tình đầu trong trắng của mình, dằn lòng chấp nhận gia pháp khắc nghiệt của họ Nguyễn Tiên Điền.

    Hơn 10 năm sau, Nguyễn Du có dịp trở lại bến cũ đò xưa thì cô gái đi lấy chồng lâu rồi, dòng nước đỏ vẫn lặng lẽ trôi. Bến đò vẫn đông người qua lại nhưng vắng bóng một người. Trông cảnh cũ nhớ người xưa, nhà thơ bùi ngùi ngâm lên bốn câu thơ lục bát để gửi gắm lòng mình:

    Yêu nhau những muốn gần nhau,
    Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười.
    Vì đâu xa cách đôi nơi.
    Bến nay còn đó nào người năm xưa?


    Hát phường vải

    Làng Trường Lưu thuộc huyện Nghi Xuân là một trong những làng văn vật nổi tiếng về hát phường vải, về nghề dệt vải và con gái đẹp. Làng Tiên Điền có nghề làm nón. Trai thanh phường nón thường kéo nhau sang hát với gái lịch phường vải ở Trường Lưu. Họ đi hát vì mê hát, nhưng một phần cũng vì mê các cô gái đẹp. Trong các chuyến đi ấy, Chiêu Bảy (Nguyễn Du là con thứ bảy nên gọi là Chiêu Bảy) chẳng bao giờ vắng mặt. Con đường sang Trường Lưu đã trở nên quen thuộc. Đến nay nhân dân Hà Tĩnh còn nhắc những câu Nguyễn Du cùng các cô gái đối đáp.

    Cậu Chiêu Bảy đã để thương để nhớ lại rằng:

    Phiên nào chợ Vịnh ra trông
    Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba.


    Đến khi Nguyễn Du ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn thì cô Tuyết, một trong những cô gái hát phường vải ấy trách:

    Cái tình là cái chi chi
    Anh làm tham tri em cũng biết rồi.


    Có một đêm hát nọ, Chiêu Bảy gặp một cô gái tên là Cúc, người đẹp, giọng hay, nhưng phải một nỗi quá thì mà vẫn chưa chồng. Chiêu Bảy biết thóp, liền hát chơi:

    Trăm hoa đua nở về xuân
    Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?


    Chiêu Bảy vờ nói chuyện hoa để châm chọc: các cô gái khác đều đã đi lấy chồng sớm, sao riêng cô Cúc lại để quá lứa lỡ thì như vậy?

    Nhưng cô Cúc nào phải tay vừa, thoáng nghe cô đã hiểu ngay ý tứ của đối phương, bèn cất tiếng hát đáp lại:

    Vì chưng tham chút nhuỵ vàng
    Cho nên Cúc phải dềnh dàng về thu.


    Hoa cúc vốn là loài hoa nở về mùa thu, cúc nở về thu mới đang độ tươi đẹp, đúng kỳ chớ không phải muộn. Câu hỏi khôn và câu trả lời cũng thật khéo.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  8. #8
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Gà câu đối cho trò

    Gà câu đối cho trò

    Nguyễn Quý Tân, hiệu Đỉnh Trai, biệt hiệu Tản tiên đình cư sĩ, người làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, sinh năm 1811, mất năm 1856. Thuở nhỏ, nổi tiếng là người có văn tài, năm 29 tuổi, đậu kỳ thi hương, năm 31 tuổi đậu tiến sĩ. Từ đó tục thường gọi ông là Nghè Tân. Ông có ra làm tri phủ được mấy tháng, nhưng rồi chán với công danh, thế sự, ông xin từ chức, đi ngoa du sơn thủy, uống rượu, ngâm thơ. Thơ ông phần nhiều nhằm đả kích vào bọn quan lại áp bức bóc lột dân.

    Khi chưa đỗ ông Nghè, Nguyễn Quý Tân có mở trường dạy học, học trò đến học khá đông. Một hôm thấy các trò lớn đều đến chậm, ông hỏi chuyên cớ thì được các trò cho biết như sau:

    Nguyên ở gần trường, ngay giữa lối học trò qua lại, có một cô gái nhà nọ người xinh đẹp mà lại giỏi chữ, hay nôm. Học trò qua lại thường buông lời chòng ghẹo, nhưng cô ta không trả lời. Một hôm có mấy anh chàng táo bạo, vào tận nhà làm thơ ghẹo cô ta. Cô ta tức khí mới ra một vế đối, bảo hễ đối được thì sẽ tiếp chuyện, bằng không thì đừng có qua lại trước cửa nhà cô ta mà dơ mặt. Mấy anh chàng không đối được. Thế là cả đám học trò từ đấy không dám vác mặt qua lối ấy nữa, mà phải đi vòng lối ven làng do đó đến chậm...

    Thầy đồ Tân thấy câu chuyện lý thú, bèn hỏi: "Câu ra thế nàỏ"

    Một học trò đứng dậy:

    Yêu nhau như bàu, như rót, như hót vào thúng,
    như búng con quay, như xoay thợ tiện, như bện hàng tơ.


    Thầy nghe qua nói:

    - Tưởng gì, câu tục ngữ ấy mà không đối được à? Các anh dốt thế chả trách được!

    Rồi thầy gà luôn cho các trò câu đối lại như sau:

    Lấy đây có bầu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp,
    Có đệp bánh chưng, có lưng hũ rượu.


    Các trò được thầy gà cho, mừng quýnh, tranh nhau học lấy làm lòng. Chiều về, cả bọn lại hiên ngang đi qua lối cũ và vào gặp cô gái để xin đối. Cô gái nghe câu đối rất phục, bằng lòng tiếp chuyện. Nhưng các trò đã bị một phen hú vía, nên đều bảo nhau bớt mồm bớt miệng, không dám giở thơ giở phú ra với cô ta nữa.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  9. #9
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Đầu đề đặc biệt

    Đầu đề đặc biệt

    Một ông bá hộ mời thầy về dạy trẻ trong nhà. Thầy giáo này rất ngạo mạn, khinh người. Nhiêu Tâm (1) tìm đến chơi, chủ tâm cho thầy một bài học mất thói hợm mình.

    Thầy đồ tiếp chuyện Nhiêu Tâm mà mặt cứ vênh vang, vì không biết ông là ai, cứ quen ngạo mạn như ở nhiều trường hợp khác. Nhiêu Tâm càng khép nép nhún nhường. Ông lễ phép xin thầy bày vẽ cho cách làm thơ. Thầy phán:

    - Làm thơ có dễ đâu. Các người học kém, làm thế nào được.

    - Dạ, tôi cũng đang tập, muốn xin thầy ra cho một đầu đề để vọc vạch vài câu, rồi thầy sửa chữa cho.

    - Ồ, đề ra cho hợp sức các ông thì ngại tìm lắm. Rồi các ông viết lách kém, lại làm người ta mất thì giờ.

    Nhiêu Tâm vẫn cứ khiêm tốn van nài. Thầy đồ đâm cáu:

    - Lôi thôi quá! Kèo nèo mãi. Thơ cái cục cứt! Đầu đề đó, làm đi.

    Nhiêu Tâm lễ phép:

    - Dạ, thế thầy ra cho đầu đề cục cứt. Vâng, tôi xin làm thử.

    Ông không chậm trễ, đằng hắng một tiếng rồi ứng khẩu ngay:

    Bao tử là cha mẹ ruột dồi

    Thầy đồ ra bộ khuyến khích:

    - Nghe cũng được, cố nghĩ câu hai đi.

    Nhiêu Tâm đọc tiếp, vừa đọc vừa nhìn thẳng vào thầy đồ:

    Đẻ không nên chỗ để mày trôi
    Chặt chân chẳng nỡ thây nhằm đạp
    Bịt mũi mà qua đã gớm rồi
    Chẳng chó bắt mèo ngồi ngứa mắt
    Có tong cũng chốt rước trầm môi (2)


    Mặt thầy đồ tái hẳn đi. Nhiêu Tâm quay lại chỗ ông Bá hộ chủ nhà, chỉ tay đọc tiếp:

    Lẫn thay cho lão ngồi câu quẹt
    Chấp chứa làm chi những giống hôi


    Không ai kể tiếp đoạn sau. Chẳng rõ thầy đồ dở khóc dở cười, làm thế nào để che được mặt hợm đời mà cáo thoái.

    -------------

    (1) Nhiêu Tâm tên thật là Đỗ Minh Tâm, hiệu Minh Giám, sinh 1840 không rõ năm mất, quê ở Vĩnh Long. Ông xuất thân ít học nên tục gọi Nhiêu Tâm. Ông có tiếng là một nhà thơ hài hước.
    (2) Câu này chưa rõ nghĩa, có lẽ dựa theo một thành ngữ địa phương, chúng tôi chưa tìm được.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  10. #10
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Mấy nét về nhân vật Trạng Lợn

    Mấy nét về nhân vật Trạng Lợn

    Tương truyền rằng ở làng Dừa, tỉnh Hà Nam, nay thuộc tỉnh Nam Hà, có nhà họ Dương vốn dòng khoa bảng. Đến đời ông Lương thì phải xoay sang nghề bán thịt lợn. Nhà ông hàng thịt ở làng buôn bán làm ăn ngày càng phát đạt. Vợ chồng đều lấy làm mừng, càng chịu tu nhân tích đức, giúp đỡ kẻ nghèo khó nên được mọi người quý mến.

    Một hôm, trời đã nhá nhem tối, bà vợ đi ra giếng gánh nước tắm, tự nhiên thấy một ông sao từ trên trời sa vào trong thùng, ánh sáng quáng lòa cả đôi mắt, trong bụng nửa mừng, nửa sợ. Bà gánh nước về tắm, từ đó bà cảm thấy xúc động, rồi có mang. Bấy giờ chính là giữa năm nhà vua cũng sinh hạ hoàng tử.

    Các cụ kể chuyện lại rằng: ở đầu cổng làng ấy có cái gò cao to, trên đỉnh có một hòn đá, trông xa từa tựa như con dê đứng. Người trong làng có việc gì thường ra đó cầu khấn, và thường được ước thấy điều linh ứng. Trước khi sinh Trạng, ông hàng thịt thường đi sớm qua đây, hôm nào cũng thấy có đứa bé gọi bảo rằng:

    - Thầy ơi! Thầy đi chợ mua quà cho con với!

    Ông ngoảnh đi ngoảnh lại thì không thấy ai, lúc đầu còn cho là thường không tin, đi chợ cũng không nhớ đến. Tối về đi ngang qua, ông lại thấy tiếng trách rằng:

    - Con dặn, mà thầy chẳng mua cho con quà.

    Ông lấy làm lạ, nói chơi rằng:

    - Ừ, có phải thế thì mai thầy mua cho!

    Từ ngày hôm sau trở đi, hôm nào ông cũng mua quà. Cứ về đến đấy, là thấy có một đứa bé đứng chực đón sẵn. Ông đưa quà cho rồi thử dò xem chú bé đi đâu. Bao giờ cũng thấy đứa bé đi đến cái gò ấy thì biến mất. Ông đoán là thần đồng ở trong gò hiện hình ra, nhưng vẫn để bụng không nói cho ai biết.

    Chừng độ hai, ba tháng, ông vẫn đều đặn mua quà cho đứa bé mỗi khi đi chợ qua gò. Một hôm, ông mới bảo đứa bé:

    - Con có muốn ăn quà thì về nhà thầy cho, chứ ở đây thầy chẳng lấy đâu mà cho được mãi. Đứa bé đứng ngẩn ngơ một chốc rồi gật đầu nói:

    - Xin khất thầy mươi lăm hôm ạ!

    Tối hôm sau, ông về, không thấy cậu bé ra đón, trong bụng lấy làm áy náy. Cách mươi lăm hôm, về qua đó, ông bỗng lại nghe thấy tiếng gọi:

    - Thầy đợi cho con về với!

    Vừa ngoảnh lại đã thấy cậu bé ở đằng sau, mừng quá sức, ông hỏi rằng:

    - Lâu nay sao con đi đâu mà thầy không thấy? Hay là con giận thầy?

    Đứa bé đáp:

    - Con đi chơi với chúng bạn, đánh cờ, uống rượu, đánh vật ở vùng kia, chứ làm sao mà con lại giận thầy.

    Ông lại nói:

    - Vậy có muốn về với thầy thì phải làm nên chức tước gì thầy mới bằng lòng.

    Đứa bé thưa:

    - Xin làm đến chức tổng trấn.

    Ông lại gặng rằng:

    - Có làm được Trạng thì thầy mới thích, chứ tổng trấn thì chưa hay.

    Đứa bé gật đầu:

    - Vậy con sẽ làm Trạng.

    - Thế con ở với thầy bao lâu?

    - Thầy cho con bao nhiêu lần quà, thì con xin ở với thầy đúng bấy nhiêu năm.
    Ông tính đưa quà cả thảy bảy mươi hai lần, nên ông gật đầu cho chú bé theo về. Về đến sân thì ông nghe trong nhà bà vợ vừa đẻ, ông ngoảnh lại, không thấy đứa bé đâu nữa.

    Từ đấy, con gò đầu làng không thấy được linh ứng như trước. Có người bảo rằng ông thần ở chỗ ấy đã giáng sinh vào nhà nào rồi.

    ... Đến lúc cậu bé lớn độ ba tuổi, bố mẹ thấy tướng mạo khôi ngô, ăn nói hoạt bát, lấy làm mừng lắm. Họ đặt tên cho cậu là Chung Nhi. Chung Nhi chính là tên tục của Trạng Lợn sau này.

    Câu chuyện trên được truyền miệng trong dân gian và như ta biết, dân gian vốn giàu óc tưởng tượng, đã huyền thoại hóa một nhân vật có thật, từng bị phong kiến coi là kẻ bất trị, ngang ngược, trong khi đó lại được nhân dân yêu mến và ủng hộ. Cũng từ đó, họ gán cho nhân vật mà họ yêu mến tất cả những điều hư cấu từ óc sáng tạo, thông minh của mình, cả những gì ngẫu nhiên và khó tin. Nhưng tin hay không, điều ấy đối với họ không quan trọng. Cái chính là họ muốn có một Trạng Lợn trong đời.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  11. #11
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Tạ người cho hoa trà

    Tạ người cho hoa trà

    Tương truyền khi Lê Hoan là tuần phủ Hưng Yên đứng ra tổ chức cuộc thi thơ vịnh "Kiều" ở Tao đàn Hưng Yên năm 1905, hắn có mời Nguyễn Khuyến vào ban chấm thi.

    Khi ấy, khách văn chương ở các tỉnh gửi bài về rất nhiều; riêng Chu Mạnh Trinh gửi hai chục bài đến dự thi và đoạt giải nhất. Nguyễn Khuyến chấm thơ Chu Mạnh Trinh cho là khá; nhưng đọc đến hai câu trong bài vịnh Sở Khanh:

    Làng nho người cũng coi ra vẻ,
    Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay!

    Nguyễn Khuyến tỏ vẻ không bằng lòng, phê ngay vào bên cạnh rằng:

    Rằng hay thì thực là hay,
    Đem "nho" đối "xỏ" lão này không ưa.

    Chẳng mấy chốc, chuyện ấy lọt ra ngoài rồi lan khắp trong làng nho, ai nghe cũng lấy đó làm một giai thoại để giễu họ Chu.

    Chu Mạnh Trinh từ đấy giận Nguyễn Khuyến. Khi làm án sát Hưng Yên, nhân ngày Tết, Chu cho người mang đến biếu Nguyễn Khuyến một chậu hoa trà với dụng ý cũng khá thâm: Nguyễn Khuyến lúc ấy đã bị lòa cả hai mắt, mà họ Chu lại tặng hoa chỉ có sắc, không có hương, như thế là có ý xỏ lá. Hiểu thâm ý của Chu, Nguyễn Khuyến bèn làm bài thơ mỉa như sau gửi lại cho Chu Mạnh Trinh:

    Tết đến người cho một chậu trà
    Đương say còn biết cóc đâu hoa!
    Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ,
    Áo tía đai vàng, bác đó a?
    Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá (1)
    Gió to luống sợ lúc rơi già! (2)
    Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi,
    Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà! (3)

    Chu Mạnh Trinh đọc xong thơ vừa thẹn vừa ân hận.

    Người ta nói đùa rằng một phần chính vì bài thơ này, nhất là hai câu 3, 4 mà Chu Mạnh Trinh đã phải xin từ chức án sát, không làm quan nữa. Cố nhiên lý do không phải là như vậy.

    -----------------
    (1) Xỏ lá: còn có nghĩa là nguy hại; do câu thơ chữ Hán "Tầm thường vì vũ kinh xuyên diệp" (Những hạt mưa nhỏ dần dà cũng có thể xuyên thủng lá).
    (2) Rơi già: rơi rụng quả, gẫy mầm; do câu thơ chữ Hán "Tiêu sắt thời phong khủng lạc già" (Gió mùa khô, mạnh, làm cho quả rụng, mầm rơi).
    (3) Khà: tiếng cười khà: mắt lòa không thấy sắc đẹp nên phải ngửi, ngửi cũng "đếch thấy hơi thơm" nên đành phải cười khà.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  12. #12
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Câu đối của thí sinh bướng bỉnh

    Câu đối của thí sinh bướng bỉnh

    Vào khoảng cuối đời Lê, có Nguyễn Hòe, một học sinh rất sắc sảo (không rõ lai lịch ra sao) đi thi hương. Quan chủ khảo năm ấy cũng tên là Hòe, vì thế khi xướng quyển người ta kiêng tên quan phải đọc chệch là Nguyễn Huề. Nguyễn Hòe biết thừa nhưng cố tình không chịu vào. Người xướng quyển xướng đi xướng lại mấy lần, mọi người đã vào hết, riêng Hòe vẫn còn đeo ống quyển đứng yên. Cuối cùng, người xướng quyển chõ loa vào Hòe mà hỏi họ tên. Hòe liền gào to: "Tôi là thằng Hòe!"

    Người xướng vặn:

    - Sao gọi mãi không vào?

    Hòe đáp cứng cỏi:

    - Chỉ thấy gọi thằng Huề chứ có thấy gọi thằng Hòe đâu?

    Sau người xướng phải xướng to đúng tên Hòe, bấy giờ Hòe mới chịu vào.

    Thấy thí sinh bé oắt mà ương ngạnh, quan chủ khảo sai giữ Hòe lại để hỏi vặn nghĩa lý văn chương. Hỏi đến đâu nhất nhất Hòe đều đối đáp trôi chảy đến đấy, quan liền ra một câu đối:

    Lạn Tương Như, Tư Mã Tương Như, danh tương như, thực bất tương như

    Nghĩa là: Lạn Tương Như, Tư Mã Tương Như, tên như nhau thực chất chẳng như nhau (Lạn Tương Như, nhân vật nổi tiếng đời Chiến quốc. Tư Mã Tương Như: nhân vật nổi tiếng đời Hán).

    Có ý lên giọng kẻ cả rằng hai đằng cùng tên Hòe, nhưng một đằng quan một đằng học trò, so bì với nhau sao được.

    Hòe liền đối lại:

    Ngụy Vô Kỵ, Trưởng tôn Vô Kỵ, bỉ vô kỵ, ngã diệc vô Kỵ

    (Ngụy Vô Kỵ: người thời Chiến quốc. Trưởng tôn Vô Kỵ: người thời Đường, Kỵ còn có nghĩa là kiêng dè).

    Nghĩa là: Ngụy Vô Kỵ, Trưởng tôn Vô Kỵ, ngươi không sợ thì ta cũng không sợ.

    Quan chủ khảo thấy đối xược, căm lắm nhưng cũng phải phục tài, vì chữ Tương như trong câu vừa là tên người, mà lại vừa có nghĩa là "như nhau", được Hòe đối rất chọi với chữ Vô Kỵ: cũng vừa là tên người, lại vừa có nghĩa là "không sợ".

    Sau đó quan ra một câu khác có ý khuyên răn:

    Xỉ tính cương, thiệt tính nhu, cương tính bất như nhu tính cửụ

    Nghĩa là: Răng tính rắn, lưỡi tính mềm, tính rắn sao bằng tính mềm bền lâu.

    Nhưng Hòe nào chịu, đối lại ngay rằng:

    Mi sinh tiền, tu sinh hậu, tiền sinh bất nhược hậu sinh trường.

    Nghĩa là: Lông mày sinh trước, râu sinh sau, sinh trước chẳng bằng sinh sau dài.

    Ngụ ý bảo quan chủ khảo tuy đẻ trước, nhưng dại thì sao bằng đẻ sau mà khôn.

    Đến đây, quan chủ khảo biết Hòe là tay thông minh mà bướng bỉnh, không còn dám vặn vẹo gì nữạ

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  13. #13
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giải nghĩa bằng ca dao

    Giải nghĩa bằng ca dao

    Có người nghe tiếng Lê Quý Đôn học vấn uyên bác tìm đến hỏi ông:

    - Dạ tôi có nghe hai câu mà không hiểu ý nghĩa ra sao và gốc gác ở đâu. Xin ngài giảng cho.

    - Vâng, ông cứ đọc.

    - Dạ, hai câu ấy là:

    Trương phàm khuyến tửu thi ca
    Phụ mễ đầu hà chi thán


    Lê Quý Đôn gật đầu:

    - Hai câu ấy hay lắm. Nghĩa cũng rõ ràng đấy chứ. Chỉ là:

    Khúc hát căng buồm mời rượu
    Lời than gánh gạo lội sông


    Chứ có gì là lạ!

    - Dạ, thế nhưng nói như thế là hàm ý gì, và ở đâu mà ra những câu chẳng ăn nhập gì với nhau cả?

    Lê Quý Đôn ngẩn người. Đúng! Sao lại có hai câu chắp vá rời rạc thế này. Ông càng nghĩ càng bí, đành nói với người kia:

    - Bác cho tôi khất vài hôm. Ngày kia bác lại xem tôi có nghĩ ra không.

    Người kia bằng lòng và ra về. Lê Quý Đôn hết nằm dài nghĩ ngợi, lại ra thư viện lục sách vở, kiểm tra lại tất cả hồ sơ ghi chép của mình, vẫn không tìm ra xuất xứ hai câu lạ lùng ấy.

    Ông đành xếp sách, đi lang thang trong xóm ngoài làng, vừa đi vừa cố nhớ lại trong óc xem có hy vọng giải đáp vấn đề không. Quen chân, ông ra mãi ngoài bờ sông, thấy ông lái đang đẩy chiếc thuyền ra. Trên thuyền lại có thêm mấy người sửa lại dây leo, để kéo buồm lên. Ông lái ngồi đầu khoang cười bảo họ:

    - Hay lắm, được gió cho căng buồm lên, chẳng phải chèo chống gì đâu. Các ông mau tay lên rồi ta ngồi thung dung mà chén cho khoái! Rượu mua rồi!

    Một anh cười ngặt nghẽo:

    - Ừ! Rồi mà thung dung. Coi chừng nửa đêm xuôi xuống chỗ ngoặt kia. Lúc ấy thì sẽ rõ:

    Thuận buồm xuôi gió
    Chén chú, chén anh
    Nước ngược chèo quanh
    Mày tao chi tớ!


    Cả bọn cười ầm. Lê Quý Đôn giật nẩy mình. Bất giác ông cũng mỉm cười khoan khoái. Ông đã tìm được cách giải đáp về câu thơ đang bắt mình suy nghĩ. Thì ra câu thơ ấy chỉ là dùng cứ liệu của ca dao. A! "Căng buồm mời rượu" là như thế đó.

    Lê Quý Đôn vội vàng rảo bước về nhà. Thế thì - ông nghĩ - câu thơ dưới "Lời than lội sông gánh gạo" cũng chỉ do xuất xứ của ca dao thôi. Trí nhớ ông được huy động vội vàng. Nhưng ông chưa kịp nghĩ ra, thì đã đi tới đầu xóm. Từ trong một nhà tranh nhỏ bên đường, một chị đang đưa con trên võng. Tiếng ru trầm trầm tha thiết vẳng ra:

    Con cò lặn lội bờ sông
    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.


    Nghe được câu hát ru ấy, Lê Quý Đôn sung sướng như muốn reo lên. Ông lặng đi một phút, rồi bất thần chạy vội về phòng đọc sách của mình, rút ngay một tờ giấy và cầm lấy bút, lẩm bẩm:

    - Thật là có thầy ngay trước mắt mà không biết hỏi. Mình còn phải học nhiều!

    Ông chép vội những câu vừa nghe được. Thật ra, đó cũng là những câu ông đã biết, đã thuộc, chỉ vì vô ý mà không biết kịp thời vận dụng để ứng xử kiến thức cho nhanh nhạy đấy thôi. Hồn thơ lai láng, ông ghi tiếp thêm vài dòng nữa, nối vào những đoạn ca dao trên.

    Hôm sau, người khách tới, vui vẻ nhận ở ông tờ giấy có chép lời giải thích và bình luận... cũng bằng văn vần theo kiểu ca dao:

    Thuận buồm xuôi gió
    Chén chú chén anh
    Nước ngược chèo quanh
    Mày tao chi tớ
    Phải chăng tích nọ
    Có đúng hay không
    Con cò lặn lội bờ sông
    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
    Lời than lòng dạ héo hon
    Ra ngoài chữ nghĩa dấu son thánh hiền.


    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  14. #14
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Những giai thoại về Cao Bá Quát

    Những giai thoại về Cao Bá Quát

    Cá nuốt cá, người trói người

    Chuyện kể khi còn bé, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở ngoài bắc, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong cảnh. Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một câu đối, bảo nếu đúng Quát là học trò thì phải đối được, sẽ tha không đánh đòn; vua đọc:

    Nước trong leo lẻo, cá đớp cá.

    Cậu Quát ứng khẩu đối ngay:

    Trời nắng chang chang, người trói người


    Hay là thầy Lý...

    Ở làng Cao Bá Quát có viên lý trưởng có tiếng là hay nhũng lạm. Dân làng chê trách nhưng không ai dám chỉ trích công khai. Cao Bá Quát tuy còn nhỏ tuổi, nhưng cũng biết chung mối bất bình với dân chúng. Nhân có việc làng cho đắp đôi con voi thờ dựng trước cửa đình, cậu Quát cùng chúng bạn ra chơi, lấy bút viết luôn vào lưng voi bài thơ:

    Khen ai rõ khéo đắp đôi voi
    Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi
    Chỉ có cái kia sao chẳng đắp
    Hay là thầy Lý bớt đi rồi



    Ước đời Nghiêu Thuấn

    Một lần Cao Bá Quát đến nghe bình văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu. Lính bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời:

    - Tôi học với ông Trình ông Chu.

    Trình, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn! Quan đốc giận, ra câu đối bắt đối ngay:

    - Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp?

    (Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn?)

    Cậu Quát đối lại:

    - Ngã quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân.

    (Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu).

    Quan đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi. Ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá Quát.



    Câu đối khóc mướn


    Cả mấy thầy nho đi gặp một đám tang, chủ nhà mời dừng chân để xin câu đối. Không hề quen biết, cũng chưa rõ tình hình cụ thể thế nào, không ai nghĩ ra viết câu đối sao cho hợp. Một nho sĩ cùng đi trong đám ấy, xin giấy bút viết ngay:

    Thấy xe thiện cổ xịch đưa ra, không thân thích lẽ đâu khóc mướn.
    Tưởng sự bách niên đừng nghĩ lại, động can tràng nên phải thương caỵ


    Các nhà khoa bảng ở đám tang hết sức phục đôi câu đối tài tình. Có người đoán ra ngay: - Cứ giọng văn lưu loát và tình cảm phóng khoáng này thì tác giả chắc chắn là Cao Bá Quát. Họ chèo kéo đám nho sĩ để hỏi han, thì quả nhiên đúng như vậy.


    Cót két thẩn thơ

    Tương truyền khi chưa quen nhau, ông Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm dò. Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học. Ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận.

    Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két.

    Ông Quát đối ngay:

    Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thợ

    Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên.


    Câu thơ thi xã

    Cao Bá Quát vào Huế thi, rồi được làm một chức quan nhỏ ở Huế. Các ông hoàng bà chúa cùng với những tao nhân mặc khách ở Kinh đô, thường nhóm họp nhau, đàm luận và xướng họa thơ văn. Họ lập ra một thi xã lấy tên là Tùng Vân. Tùng Vân là tên hiệu của Tùng Thiện Vương Nguyễn Miên Thẩm, người đứng đầu thi xã này. Có người muốn rủ ông Quát vào thi xã, đưa cho ông xem một vài tập thơ văn, nhưng vô tình lại không chọn lựa, đưa phải những bài quá kém. Nghe nói, ông Quát xem rồi bịt mũi đọc câu ca:

    Ngán cho cái mũi vô duyên
    Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An.


    Nhiều nhà thơ ở Huế bất bình về sự khinh miệt này. Tuy bất bình, họ vẫn phải ngầm đọc lại các tác phẩm của mình, để xem có đến nỗi "hôi" như mùi thuyền chở nước mắm ở Nghệ An vào không?

    Riêng có vị chủ trì thi xã, Tùng Thiện Vương là có thái độ khác. Ông cũng thấy trong số hội viên thi xã Tùng Vân nhiều người văn chương... đáng chê trách. Còn Cao Bá Quát, thì thật là một tài năng. Tùng Thiện Vương đã nhún mình, nhiều lần tìm gặp và đón mời ông Cao. Cuối cùng Cao Bá Quát cảm động, trở thành bạn thân của Tùng Vân.


    Trên dưới đều chó

    Nhờ có tài văn chương, tuy chức phận thấp, Cao Bá Quát thường được nhiều người lưu ý, kể cả nhà vua. Một hôm, có hai viên quan cãi cọ nhau về một việc gì đó, đâm ra ẩu đả. Cao Bá Quát vì có chứng kiến nên vua Tự Đức bắt viết tờ trình cho vua rõ đầu đuôi. Ông Quát khai rằng:

    Bất tri ý hà
    Lưỡng tương đấu khẩu
    Bỉ viết cẩu
    Thử diệc viết cẩu
    Dĩ chí đấu ẩu
    Thần kiến thế nguy thần tẩu


    nghĩa là:

    Chẳng biết vì sao
    Hai bên cãi cọ
    Bên này rằng: chó
    Bên kia cũng: chó
    Trên dưới đều chó
    Rồi họ đấu võ
    Thần thấy thế nguy thần bỏ (*)


    (*) Về giai thoại này, trong nhân dân vẫn nghe truyền tụng như trên. Sách Giai thoại làng nho của Phùng Tất Đắc chép hơi khác và cung cấp xuất xứ có vẻ cụ thể hơn.

    Chuyện rằng hai vị quan trong triều là Phan Văn Nhã và Võ Văn Khải đánh nhau vì chuyện văn chương. Ông Khải xem bài ông Nhã chê kém và nói Văn như thế chó nó cũng làm được. Thế là sinh sự.

    Vua Tự Đức hỏi, Quát cứ "sự thực tường khai" như sau:

    Quát quá Nhã gia
    Nhã hô: Quát! Quát!
    Quát lại âm
    Thủ bất tri
    Vĩ bất tri
    Chỉ kiến lưỡng tương đấu khẩụ..


    (Mấy câu chép tiếp giống như trên, câu kết hơi khác):

    Thần kiến thế nguy
    Thần khủng thần tẩu.
    Mấy câu dị bản trên nghĩa là:
    Quát qua nhà Nhã
    Nhã gọi Quát! Quát
    Quát đến uống
    Đoạn đầu không biết
    Đoạn đuôi không biết
    Chỉ thấy: hai bên cãi cọ...
    ...
    Thần thấy thế nguy
    Thần sợ thần chạỵ



    Khù khờ khệnh khạng

    Vua Tự Đức thường cứ nghĩ ra những trò văn chương độc đáo để khoe tài với các quan. Một lần, ông nói với họ:

    - Đêm qua, trẫm nằm mơ thấy hai câu thơ thật đặc biệt:

    Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
    Dã ngoại đào hoa lấm tấm khaị


    Các khanh thấy thế nào?

    Các quan đều nức nở cho là lạ, thơ chữ Hán kèm tiếng Nôm, rõ nghĩa mà có hình ảnh tân kỳ, chắc là tiên thánh nào ban cho, hoặc nhà vua nghĩ được câu thần cú. Chỉ có Cao Bá Quát quỳ tâu:

    - Tâu bệ hạ, câu thơ ấy là thơ cũ đấy ạ! Nguyên là hai câu 3, 4 ở một bài thơ thần đã được nghe.

    Vua ngạc nhiên, thơ mình nghĩ ra kia mà. Anh chàng họ Cao này sao dám nói là thơ cũ? Nhưng vua cũng bình tĩnh bảo:

    - Nếu khanh đã nghe cả bài thì đọc thử xem:

    Cao Bá Quát đọc:

    Bảo mã tây phong huếch hoác lai
    Huyênh hoang nhân tự thác đề hồi
    Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
    Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai
    Xuân nhật bất văn sương lộp bộp
    Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài
    Khù khờ thi tứ đa nhân thức
    Khệnh khạng tương lai vấn tú tàị


    Tạm dịch:

    Gió tây ngựa huếch hoác về
    Huyênh hoang người cũng tự đi theo vào
    Khề khà oanh hót vườn nao
    Đồng quê lấm tấm muôn đào nở hoa
    Xuân không lộp bộp sương sa
    Ngày thu chỉ thấy trời mưa bài nhài
    Khù khờ thơ đã cũ rồi
    Ông còn khệnh khạng hỏi người hay thở


    Đức vua bị một đòn đau quá. Ông biết rõ Cao Bá Quát bịa ra, mà lại ngang nhiên trêu chọc ông: "Khù khờ thơ đã cũ rồi, ông còn khệnh khạng hỏi người hay thơ".


    Câu đối đề đèn lồng

    Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh). Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đã đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:

    Trước mẹ dạy con, gió chiều nào che chiều ấy, con dạ.
    Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi!


    Trong Nam truyền tụng là câu đối rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát với đôi đèn.


    Câu đối đề nhà học

    Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đình nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị. Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:

    Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
    Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi (*
    )

    (*) Câu đối này có người cho là của Ông ích Khiêm.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  15. #15
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Các ông Trạng... ăn

    Các ông Trạng... ăn

    Về Trạng Ăn dân gian xã An Bình (Thuận Thành, Bắc Ninh) có bài hát tự trào:

    Như ta đây
    Ăn chín bát cơm
    Lùm lùm bát cháy
    Một bát mày mạy (dế giũi)
    Một bát cua rang
    Cha đứa chết đàng
    Bảo ta ăn mười hai bát.


    Cái lý của ông Trạng Ăn này là ở chỗ "lùm lùm bát cháy", lùm lùm đã là đầy, nhưng vẫn còn xới được, nghĩa là chưa đầy có ngọn, chưa được tính trọn là một bát. Đây là điều dễ nhầm nên bị "Trạng Ăn chửi". Nhưng "Trạng Ăn" chửi điều đó chỉ là cái cớ, còn sự thật là trạng này bị khống chế ăn, vì đến bát cơm thứ mười đã phải vét nhẵn nồi, vét ráo cả cháy nồi, trạng ta ăn dở mồm nên tức mình mà chửi. Cho trạng ta ăn thả phanh, tức bụng thì không biết sẽ là bao nhiêu bát. Thời xưa dân ta nghèo, lại chưa có loại sách "kỷ lục" nên thế đã được phong Trạng Ăn rồi.

    Gia phả họ Lê Nho ở Đại Mão (Hoài Thượng, Thuận Thành, Bắc Ninh) ghi chép về cụ Xuân Lĩnh bá Nho Khoa như sau:

    Thuở nhỏ nhà nghèo không đủ ăn học, phải theo cậu là tri phủ Cẩm Giàng nhưng bà mợ vẫn không cho ăn đủ no, nên được nửa năm ông xin về. Nhà có gạo cho ông ăn ba thăng thì ông học đến canh ba, cho ăn năm thăng thì học đến canh năm. Ông ăn khỏe nhưng làm quan không "ăn bẩn". Năm Dương Hòa thứ bảy (1641) ông làm tri phủ Từ Sơn, từng phát hiện kẻ dưới tham ô, ông thu nộp công quỹ. Cũng do ăn khỏe mà tuy làm quan văn, nhưng sức vóc hơn người. Thời Phúc Thái (1646), ông làm tri phủ Lâm Thao, dùng mưu giả vờ thần phục tướng phỉ Nông quận công mà tay không bắt sống được hắn, được vua thăng chức Lang trung bộ Lễ, trưởng điện thượng lễ nghi. Tuy gần 50 tuổi, ông vẫn ăn hết một mâm xôi và một con lợn quay giá ba quan tiền thời đó, làm cho vua cũng rất kinh ngạc, thường thưởng đồ ăn cho ông.

    Lê Như Hổ người Tiên Châu, Tiên Lữ, Hưng Yên khôi ngô vạm vỡ, thân cao năm thước năm tấc, vai rộng một thước một tấc, mỗi bữa ăn tới một thăng gạo, vì đói mà phải đi ở rể cho nhà giàu ở Thiện Phiến mong được ăn no để học. Nhà này biết vậy đã cho ăn tới bốn đấu, nhưng ông chỉ nằm dài, bỏ cả học, vì còn đói hơn ở nhà. Đến khi bố đẻ Như Hổ đến thăm thì ông bố vợ mới biết chuyện mà cho ăn tăng lên. Một lần mùa gặt, ông ăn hết nồi cơm thổi 16 đấu gạo, chỉ nửa ngày gặt xong hai mẫu lúa, bó thành bốn gánh rồi gánh về. Năm 30 tuổi Như Hổ đỗ tiến sĩ triều Mạc. Đến nhà bạn đồng khoa chơi, ông nói phải làm cơm cho 30 người ăn. Cơm dọn lên, một mình chén sạch. Ông làm quan đến Thượng thư bộ Binh, tước Xuân Giang hầu, khi nghỉ trí sĩ được tặng phong Tuấn quận công.

    Lê Nại người Mộ Trạch (Hải Dương) học giỏi, được Thượng thư Vũ Quỳnh gả con gái và cho ở rể để học hành thành tài. Nhưng Vũ Quỳnh rất buồn vì chàng rể ăn xong chỉ ngồi thừ cả ngày. Bố đẻ Lê Nại biết chuyện nói: "Con tôi ăn chưa được no nên không có sức để học đó". Từ đó Vũ Quỳnh cho ăn tới một đấu năm lẻ thì thấy Lê Nại học tới canh ba, lại cho ăn thêm một đấu tám lẻ thì thấy Lê Nại học đến canh tư, cho ăn tới hai đấu thì Lê Nại học suốt đêm. Năm 1505, Lê Nại thi đỗ trạng nguyên. Vì là Trạng Ăn mà đỗ trạng nguyên, nên ông tự làm bài thơ tán, dịch ra như sau

    Thầy đồ Mộ Trạch
    Có tiếng ăn nhiều
    Mười tám bát cơm
    Mười hai bát canh
    Đỗ đầu khoa bảng
    Danh tiếng nêu cao
    Súc tích đầy đủ
    Phát triển dồi dào


    Nhìn lại, thấy các vị "dĩ thực vi danh" (vì ăn khỏe mà nổi tiếng) trên đây đều thanh đạm, cơm canh no bụng là được. Họ ăn để lấy sức học hành và lao động, ăn khỏe hơn người thì cũng làm khỏe hơn người, và đặc biệt họ học cũng rất giỏi.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  16. #16
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Giai thoại về Đoàn Thị Điểm

    Giai thoại về Đoàn Thị Điểm

    Cái túi vải Đa La

    Cô con gái Đoàn Doãn Nghi, tên là Đoàn Thị Điểm, mới trạc tuổi thiếu niên mà đã có tài học vấn hơn người, và được thiên hạ chú ý vì một phong cách rất đặc biệt. Ra đường, cô thường xách một cái túi vải Đa La (một loại vải đẹp ngày xưa). Tự tay cô thêu lên cái túi ấy hai câu thơ của Lý Bạch:

    Đãn sử chủ nhân năng túy khách
    Bất tri hà xứ thị hương nhân


    (Miễn sao chủ nhân có đủ rượu làm say khách
    Cần gì phải phân biệt là chốn lạ hay quen)

    Đề thơ như vậy, là chứng tỏ một tâm hồn phóng khoáng và một trình độ học vấn cao. Thượng thư Lê Anh Tuấn biết được chuyện này, liền nhắc với ông Nghi - học trò cũ của mình - xin nhận cô Điểm làm con nuôi. Gia đình họ Đoàn chấp thuận.


    Thơ đi một mình

    Sống trong gia đình thượng thư Lê Anh Tuấn, cô Điểm có điều kiện đọc nhiều sách vở văn thơ, trình độ cô lại tấn tới thêm. Cô thường được cha nuôi sai đến các nhà bạn đồng liêu của ông, hoặc mượn kinh truyện, hoặc đưa thư từ. Những người này biết tiếng cô gái tài hoa, nên cũng hay thử tài. Một lần, cô Điểm một mình tới nhà quan tham tụng Nguyễn Công Hãng, không có gia nhân đầy tớ đi theo. Ông Hãng nhân đó bảo cô làm thơ vịnh cảnh đi một mình (độc hành thi). Cô Điểm không phải suy nghĩ lâu, đọc ngay hai câu:

    Đàm luận cổ kim tâm phúc hữu
    Truy tùy tả hữu cổ quăng thần.


    (Bàn luận chuyện xưa nay thì lấy gan ruột làm bạn tâm sự
    Theo liền bên phải bên trái thì lấy chân tay làm bạn theo hầu).

    Ông Nguyễn Công Hãng phục lắm.


    Cuộc rút lui của Trường An tứ hổ

    Tiếng tăm của Đoàn Thị Điểm lan rộng. Khi cô rời gia đình Lê Anh Tuấn về ở với anh để chăm sóc mẹ, nhà riêng của họ Đoàn đã trở thành nơi hằng ngày có các danh sĩ ở kinh thành Thăng Long tìm đến làm quen. Nhưng cô Điểm không nhận lời ai, vì cô chưa thấy người nào thật là bậc tài hoa danh sĩ. Một lần, khá đông những thầy nho, đều là bậc hoàng giáp, tiến sĩ kéo đến nhà ông Nghi, xin yết kiến cô Điểm. Cô không vội ra, chỉ cho một đứa cháu gái, bưng ra một quả trầu, trên đề dòng chữ:
    Đình tiền, thiếu nữ khuyến tân lang.

    Cả bọn trầm trồ, khen nét chữ đẹp. Một vài thầy khóa hấp tấp, gật gù nói khẽ với nhau: Thế này thì nhiều hy vọng lắm! Câu đối ra hợp cảnh mà có phần khêu gợi. Nào thiếu nữ, nào tân lang.

    Nhưng họ ngạc nhiên thấy mấy ông bạn hàng đầu đăm đăm tư lự. Những ông bạn có phải là hạng tầm thường đâu. Chính là những người lỗi lạc nhất trong danh sĩ mà bà con Thăng Long hâm mộ, tôn họ là Trường An tứ hổ (4 con hổ - người giỏi văn nhất kinh thành). Cả đám tứ hổ đứng yên không nói năng gì. Cuối cùng, Vũ Diễm, người xuất sắc nhất của tứ hổ, từ từ đến trước bức mành mành, chấp tay nói vọng vào:

    - Xin đa tạ chủ nhân, bọn chúng tôi xin được về học thêm, không dám phiền chủ nhân thừa tiếp nữa.
    Thế là các nho sĩ lủi thủi kéo nhau ra về. Vũ Diễm vừa đi vừa giảng cho anh em nghe:

    - Câu thách đố này của Hồng Hà nữ sĩ, tài tình mà lắt léo lắm đấy, các bác ạ! Cô ta dùng tiếng đồng âm đấy mà. Thiếu nữ là cô gái trẻ và cũng là làn gió nhẹ. Tân lang là chàng rể mới, nhưng cũng là cây cau. Thành ra câu văn muốn hiểu gió nhẹ vờn cây cau hay cô gái mừng chàng rể mới đều đúng cả. Nếu hấp tấp đối theo một nghĩa thì chẳng bõ mua cười. Bọn chúng tôi đành thoái là vì như vậy đó.


    Niềm vui của Nguyễn Kiều

    Đoàn Thị Điểm kén chọn, mãi đến 38 tuổi mới chịu lấy Nguyễn Kiều. Cuộc hôn nhân có thể nói là kỳ diệu và có tiếng tăm vang dội cả kinh thành Thăng Long. Nguyễn Kiều chắc chắn là phấn khởi nhất, vì cả thế gian này không ai lọt được vào mắt xanh của Hồng Hà nữ sĩ, thì nay ông có thể là người hạnh phúc nhất đời. Ông đã có thơ:

    Khoáng thế tao phùng khoáng thế duyên
    Thử thân chung phúc hệ sinh tiền
    Tòng kim bão khán, hà nương tử
    Thủy tín nhân hoàn hữu trích tiên


    Tạm dịch:

    Nhân duyên gặp gỡ nhất trần gian
    Cả cuộc đời ta được phúc ban
    Ai bảo khát khao tiên nữ nữa
    Nàng tiên đã xuống cõi nhân hoàn


    Tất nhiên không phải không có người ghen với Nguyễn Kiều. Người ta thóc mách nhau, không rõ vì sao mà cô Điểm lại sẵn sàng kết duyên với một người nhiều tuổi hơn mình, đã có hai đời vợ, có con, gia đình cũng túng thiếu. Thóc mách thế thôi, nhưng rồi họ cũng mừng cho ông Kiều. Có bài thơ có lẽ là do một bạn tri âm của Nguyễn Kiều sáng tác - làm lời của ông Kiều gửi đến cầu hôn cô Điểm:

    Lão khứ bần lai kỷ độ sương
    Bồi hồi si mộng phóng đài trang
    Thiên biên bồng mấn tri âm thiểu
    Phù thế tương khan khối lỗi trường
    Quân tử tính tình phi lãnh nhãn
    Mỹ nhân miện tiếu hữu hoa chương
    Thiện đoan khả thượng cầu qui ngã
    Song bút huy hoàng tảo bát phương
    .

    Tạm dịch:

    Già đến nghèo qua mấy độ rồi
    Tình si muốn gửi dạ khôn nguôi
    Ven trời lận đận không tri kỷ
    Trò rối đua chen lắm nỗi đời
    Chớ sợ chàng trai đôi mắt tục
    Chỉ mong người đẹp nét cười tươi
    Duyên lành gắn bó cùng anh nhé
    Ngòi bút hai ta tỏa ánh ngời.



    Một hóa hai

    Gia đình cô Điểm là gia đình có truyền thống văn học, người anh cô Điểm là ông Luân cũng nổi tiếng tài hoa. Hai anh em thường đàm đạo văn chương, thử tài thử sức với nhau.

    Một hôm, cô Điểm đương soi gương ở cửa sổ, ông Luân đọc một câu thách em đối lại:

    - Đối kính họa mi, nhất điểm phân thành lưỡng điểm.

    Nghĩa là:

    Soi gương vẽ mày, một nét hóa hai (một cô Điểm hóa hai cô Điểm).

    Cô em đối lại:

    - Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.

    Nghĩa là:

    Tới ao xem trăng, một vừng hóa hai (một ông Luân hóa hai ông Luân).


    Đối chữ sách

    Cô Điểm đang đọc sách về Hán Cao Tổ. Ông Luân lấy ngay chuyện trong sách ra câu đối:

    - Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
    Cô Điểm cũng dùng ngay chuyện trong sách để đối lại:

    - Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết.
    Cả hai câu nghĩa là:

    Rắn trắng giữa đường, ông Quý tuốt gươm mà chém
    Rồng vàng đội nóc, ông Vũ ngửa mặt mà than.



    Dồn đối phương vào chỗ bí!

    Cô Điểm là con cụ Bảng Nhãn, nổi danh tài sắc. Học trò cụ thường muốn ngấp nghé. Trong số thầy nho, cậu Quỳnh nghịch ngợm nhất và cũng được cô Điểm quen hơn. Cô Điểm thường ỷ tài, thách cậu Quỳnh đối đáp, hẹn có hơn tài mình thì mới chịu làm thân.

    Một hôm, hai người cùng ngồi trong nhà, trước bức vách là hai cửa sổ. Cô Điểm đọc:

    - Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song.

    Quỳnh chịu không đối được.

    Lại một lần, Quỳnh đi chợ Sơn Tây về, cô Điểm ra:

    Lên phố Mía, gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo lại, hỏi thăm đường.

    Một lần khác, cô Điểm đang tắm, Quỳnh gõ cửa đòi vào. Cô Điểm giãy nảy không cho, nhưng anh chàng cứ kèo nèo trơ tráo. Cô Điểm lại phải dùng thủ đoạn văn chương, ra câu đối bảo đối được thì sẽ mở cửa:

    Da trắng vỗ bì bạch

    Bì bạch cũng có nghĩa là da trắng, lại là một tiếng tượng thanh. Quỳnh chịu không đối được vùng vằng bỏ đi.

    Câu chuyện sau này còn được hư cấu dài hơn.

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  17. #17
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Đối rồi đấy chứ!

    Đối rồi đấy chứ!

    Ông cụ nọ vốn người ham thích văn chương, nhưng tuổi già sức yếu, không có việc gì làm. Muốn cho đỡ buồn, cụ lập một quán hàng bên vệ đường, cũng mong gặp khách vãng lai trò chuyện cho khuây khỏa. Quán hàng sạch sẽ, khang trang. Ngay chính giữa gian nhà, cụ kê một cái án thư, trên đặt chiếc mâm gỗ, để sẵn quan tiền đồng. Trên vách, dóng với chiếc án thư là một vế câu đối đỏ, chỉ có năm chữ:

    Tân quán nghênh tân khách.

    (Cửa hàng mới đón chào khách mới).

    Ông cụ nói với nhiều người quen thuộc:

    - Đây là mấy chữ chào khách, sơ sài thôi. Nhưng các vị khách xa gần, ai đối được thì lão xin tặng luôn quan tiền, gọi là chút quà tri ngộ.

    Câu đối kể ra không khó, ý nghĩa rõ ràng, nhưng lại hóa gay. Lối điệp ngữ đơn giản mà sắc sảo. Tìm cho được câu thích hợp chẳng phải là chuyện dễ dàng. Vì vậy mà hàng tháng ròng, quan tiền cứ nằm nguyên trên mâm, chưa được tặng cho ai cả.

    Chiều hôm ấy, khá nhiều khách quây quần trong hàng nước của ông cụ, cười cười, nói nói. Ai cũng trầm trồ chép miệng phàn nàn vì chuyện thiếu nhân tài. Câu đối như vậy mà mãi không ai đối được. Bỗng một thầy nho thong thả bước vào, mua bát nước vối giải khát. Thầy nhìn vế câu đối trên vách, rồi lại đưa mắt nhìn quanh mọi người. Một bác hàng xóm ngồi đó, cười xởi lởi:

    - Thầy nho chắc ở xa đến chưa rõ. Chúng tôi đang nói chuyện về vế câu đối trên vách đấy. Chưa có ai đối cả. Thầy nho xem có đối được thì nhận tiền thưởng của cụ tôi đi!

    Thầy nho gật đầu, đưa bát nước vối lên môi, chiêu một ngụm rồi đặt xuống chõng. Đột nhiên, giữa mấy chục con mắt ngơ ngác của mọi người, thầy đĩnh đạc tới gần án thư, cầm lấy quan tiền rồi lẳng lặng quay ra, không nói một lời. Cả đám người ngồi đấy nhao nhao:

    - Ô kìa, ông khách! Xách tiền đi chẳng nói chẳng rằng. Đối được không mà lờ đi thế?

    Ông chủ quán cũng định nhỏm dậy. Nhưng nhìn ra, thấy anh đồ cứ bước những bước ung dung chứ không có vẻ vội vàng, không ra hạng người xấu thói. Ông cụ nghĩ ngay có thể chàng trai này có ẩn ý gì chăng. Cụ đưa mắt cho cô con gái ngồi trên góc bếp. Cô gái nhanh nhẹn đứng lên gọi với:

    - Thưa thầy nho! Thầy chưa đối lại câu đối của bố em.

    Chàng trai vẫn ung dung nhịp bước rất khoan thai, rất ngắn, chỉ khẽ quay đầu:

    - Đối rồi đấy chứ!

    Nhóm khách cười vang:

    - Nào có thấy thầy nói năng câu gì đâu mà bảo đối rồi.

    Thầy nho dừng lại hơi nghiêng mình hướng về ông cụ tay giơ quan tiền ra:

    - Thưa cụ chủ, quan tiền của cụ vào tay tôi thế này tức là "Quý vật tặng quý nhân" chứ còn gì nữa ạ!

    HELLBOY (st).
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  18. #18
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Tao kéo mày về Keo Táo

    Tao kéo mày về Keo Táo

    Quan phủ nào đó (dân gian không nhớ rõ tên), một hôm kinh lý ở vùng Thuận Thành (Bắc Ninh) dừng chân lại ở chợ Chì (thuộc huyện Quế Võ bây giờ) để chờ đò qua sông Đuống. Quan nghỉ trong hàng nước, có đông đủ kẻ hầu người hạ và khách qua lại cùng vào giải khát. Vốn tính hay khoe khoang tài văn chương chữ nghĩa của mình, quan hỏi chuyện mọi người, lên giọng than phiền, đi đâu cũng không được gặp văn nhân tài tử. Có lẽ cái mảnh đất chợ Chì này cũng hiếm người đỗ đạt học hành. Một vài người ngồi đó, sợ thế của quan, không tiện phản đối, nhưng rất không bằng lòng. Biết được sự phật ý ấy, quan muốn chứng minh, luôn thể khoe tài mình, nên vừa cười vừa nói:

    - Đấy nhé, thử xem thì biết. Ta thử ra một vế đối, xem quanh đây ai đối được không. Nếu đối hay ta thưởng. Câu đối tức cảnh thôi. Đây là chợ Chì phải không? Thế thì ta ra câu đối này:

    Chị chờ em ở chợ Chì.

    Kể ra thì câu đối cũng khéo, có thể nói là hay. Quan dụng ý dùng tiểu xảo: chị chờ nói lái là chợ chì. Lối ra câu đối này rất thường. Cái khó là tìm ra một tên riêng để đối với chợ Chì, chuyển ra nói lái vẫn có nghĩa. Thành ra cả đám đông nghĩ mãi chẳng có ai đối được. Quan phủ càng đắc ý:

    - Đấy, ta nói có sai đâu! Câu đối dễ vậy mà các người nghĩ mãi không ra. Nhân tài hiếm thực!
    Mọi người càng ức vì sự mỉa mai của quan. Bỗng có tiếng nói từ bên vệ đường vọng vào:

    - Bẩm quan lớn, con xin đối.

    Ai nấy nhìn ra. Người kia vừa nói vừa đặt đôi càng xe xuống đất, vụng về bước vào trong quán. Thì ra đó là một anh phu xe quần áo xuềnh xoàng, chiếc nón rách ngoắc bên vai. Anh ta ngồi đấy đã lâu đón khách, đang định kéo xe đi thì như sực nhớ ra, rời xe vào để... hưởng ứng câu chuyện văn chương của quan phủ. Mọi người đều ngạc nhiên! Cái anh chàng khố rách này, chắc gì đã biết chữ nhất là một, mà dám vào đối đáp. Quan phủ chừng như cũng khó chịu, hất hàm:

    - Được, muốn đối thì cứ đối. Nhưng ta bảo trước, đối phải cho đúng phép tắc văn chương chứ không phải nói lảm nhảm vu vơ như các anh nói chuyện với nhau ở đầu đường đâu nhé. Sai phép tắc ta nọc cổ ra đánh ngay, đừng có bảo là ác nghiệt đấy.

    Anh phu xe lễ phép:

    - Dạ, con đâu dám. Con làm nghề phu xe, chỉ xin lấy nghề nghiệp ra mà nói thôi. Quê con bên Gia Lâm, có cái thôn tên nôm dân dã. Con xin được lấy cái tên ấy mà ghép vào câu. Câu quan lớn ra: Chị chờ em ở chợ Chì. Con xin đối là:

    Tao kéo mày về Keo Táo.

    Câu đối hay quá! Keo Táo nói lái cũng là tao kéo.

    Quan phủ điếng người. Bà con ngồi chung quanh bụm miệng không dám cười to, nhưng đều hể hả thấy anh phu xe văng mày tao vào mặt quan mà quan phải chịu phép. Sau đó, quan phủ có giữ lời hứa, thưởng cho anh phu xe không thì không ai kể lại.
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  19. #19
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Quan Bảng... học chữ

    Quan Bảng... học chữ

    Sinh thời Lê Quý Đôn (1726 - 1784) nổi tiếng là người thông thái, đọc và hiểu không biết bao nhiêu sách vở thời bấy giờ. Ông thi đỗ Khôi nguyên. Lẽ thường, tuổi trẻ thông minh đĩnh ngộ, đỗ đạt sớm thường hay mắc tính kiêu ngạo. Thời trẻ, Lê Quý Đôn cũng không tránh khỏi điều ấy. Chuyện kể, sau khi thi đỗ, ông liền cho treo ngay trước ngõ tấm biển với hàng chữ:

    "Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn"

    (Nghĩa là: Ai không hiểu chữ gì thì hãy đến mà hỏi).

    Lần thân phụ ông qua đời, người đến viếng rất đông. Trong số đó có một cụ già mà Lê Quý Đôn không quen. Cụ tự giới thiệu lai lịch: Cháu còn nhỏ, chứ lão là bạn thân với cha cháu từ xưa. Nhưng vì nhà nghèo, đường xa, lại tuổi già sức yếu nên ít đi lại thăm hỏi nhau. Nay nghe tin cha cháu mất, lão đến để có câu đối viếng. Lão run tay, cháu hãy lấy giấy bút, lão đọc, nhờ cháu viết hộ.

    Lê Quý Đôn lấy giấy bút. Cụ bèn đọc: "chi". Ông Đôn không biết nên viết chữ "chi" nào bởi trong tiếng Hán có nhiều chữ "chi" viết khác nhau. Ông đành cầm bút chờ cụ già đọc tiếp xem sao. Cụ lại đọc "chi". Lê Quý Đôn thấy lạ, liền hỏi:

    - Bẩm, "chi" nào ạ?

    Cụ thở than rằng:

    - Đến chữ "chi" cũng không biết viết, thế mà treo bảng ngoài ngõ để cho người đến hỏi, thì sao trả lời được kia chứ?

    Lê Quý Đôn ngượng chín cả người. Bây giờ cụ già mới đọc luôn hai vế đối:

    "Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kiên thượng tại
    Tại tại số thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chỉ"


    (Nghĩa là: Cách hơn ba chục năm, xích huyện hồng châu nay vẫn đó.
    Xa ngoài mấy ngàn dặm, đào hoa lưu thủy bác về đâủ).

    Thấy câu đối hay, lạ, Lê Quý Đôn và cả các nho sĩ đến viếng đều kinh ngạc. Còn ông già thì phủ phục trước linh cữu mà khóc rằng:

    "Ới anh ơi, anh bỏ đi đâu để con anh đỗ đến Bảng Nhãn mà chưa biết chữ "chi" anh ơi".

    Lạy xong, cụ già chống gậy ra về. Lê Quý Đôn mời mãi nhưng cụ không chịu nán lại. Bởi thế nên sau này không ai biết ông cụ hay chữ đó tên là gì.

    Giai thoại còn kể rằng, một lần Lê Quý Đôn đến cầu siêu ở ngôi chùa làng. Nhà sư thấy ông thì mừng rỡ mà rằng:

    - Quan Bảng vừa tới, may mắn sao. Bần tăng có điều muốn nhờ quan chỉ giáo. Chả là đứa tiểu đồng của bần tăng nghe người nào đó đó, về hỏi, nhưng bần tăng nghĩ không ra, nên đành theo lời quan bảng dạy "Nghi nhất tự lai vấn". Câu đố thế này, xin quan chỉ cho:

    "Hạ bất khả hạ. Thượng bất khả thượng.
    Chỉ nghi tại hạ. Bất khả tại thượng".


    (Nghĩa là: Dưới không thể dưới. Trên không thể trên. Đúng nên ở dưới. Không thể ở trên).

    Lê Quý Đôn nghĩ mãi không ra. Đúng lúc ấy chú tiểu chạy từ ngoài vào thưa với sư phụ là cậu đã giải được. Lê Quý Đôn giục chú tiểu nói thử xem, thì mới hay đó là chữ "nhất" (một). Đúng là trong chữ "hạ" (dưới), thì chữ "nhất" ở trên chứ không thể viết dưới. Trong chữ "thượng" thì chữ "nhất" nằm dưới và chữ "bất", chữ "khả" thì chữ "nhất" lại ngồi trên.

    Lê Quý Đôn biết nhà sư đã lấy ngay chữ "Nhất tự lai vấn" ông treo trước ngõ để nhạo. Ông tự nhủ thì ra thiên hạ còn nhiều người giỏi hơn mình liền về nhà sai người cất tấm bảng. Từ đó ông bỏ tính kiêu ngạo, chăm chú nghiên cứu, học hành, giúp đời, trở thành một ông quan đa năng, một thiên tài khoa học lớn nhất Việt Nam thời phong kiến.
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

  20. #20
    Nhất Đẳng Avatar của HellBoy
    Gia nhập
    Oct 2007
    Nơi cư ngụ
    Địa Ngục
    Bài gởi
    1,647

    Mặc định Ông lão bán than

    Ông lão bán than

    Thuyền vua Trần Nhân Tông theo dòng sông Đuống đến Bình Than để về hội quân bàn kế chống giặc Nguyên lại sang xâm lược (1282). Nhìn ra phía trước, vua thấy một ông lão ăn mặc tiều tụy, khoác áo quen quen, liền hỏi tả hữu:

    - Có phải Nhân Huệ Vương đấy không?

    Mọi người nhìn theo rồi đồng thanh:

    - Dạ, chính phải.

    - Hãy mời Vương đến gặp ta.

    Đúng đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Ông phạm lỗi, bị cách chức thành dân thường, về làm nghề đốt than. Lính nhà vua rượt thuyền theo kịp ông để mời ông dừng lại, ông lắc đầu:

    - Tôi chỉ là lão bán than quê mùa, có gì mà hỏi.

    Vừa lúc thuyền của Nhân Tông đến cạnh. Nhà vua dịu dàng nói:

    - Thôi đừng giấu ta nữa. Một thời gian qua đã khiến cho kẻ nam nhi khốn khó thế này ư? Thôi trở lại mà lập công giết giặc.

    Trần Khánh Dư đổi ngay thái độ:

    - Đánh giặc thì tôi không từ chối. Đốt than hàng ngày để kiếm ăn, nhưng cũng là nung nấu chí lớn đấy thôi.

    Trần Khánh Dư được trở lại làm quan. Ông giỏi về thủy chiến nên được giao luyện tập và phụ trách thủy quân ở mặt Hải Đông. ít lâu sau, ông đánh thắng đoàn thuyền của tướng giặc Trương Hổ.

    Câu chuyện tướng quân Trần Khánh Dư đi bán than mà vẫn nung nấu căm thù đã trở thành câu chuyện đẹp trong lịch sử. Người đời sau đã chép vào hành trang này của ông một bài thơ, đó là bài Bán than của một người đời Lê (sống sau ông Trần đến năm trăm năm). Bài thơ không phải của Trần Khánh Dư, nhưng đã thể hiện được tâm sự anh hùng mà ông ôm ấp:

    Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn
    Hỏi chi bán đó? Gửi rằng: than
    ít nhiều miễn được đồng tiền tốt
    Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn
    Ơ? với lửa hương cho vẹn kiếp
    Thử xem sắt đá có bền gan
    Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác
    Nhưng lệ trời kia lắm kẻ hàn (*).


    ----------------------------------------------------
    (*) Lệ: sợ
    Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc ,
    Nào ngờ đâu ở mãi tới hôm nay .

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •