Trang 1 trong 3 123 Cuối cùngCuối cùng
kết quả từ 1 tới 20 trên 41

Ðề tài: Giáo trình Thiền Minh Sát Tuệ

  1. #1

    Mặc định Giáo trình Thiền Minh Sát Tuệ

    1.4. TỨ DIỆU ÐẾ (ARIYA SACCA)

    Ở phần trước (1.3), chúng ta đã nhận ra rằng mục tiêu của 37 phẩm Bồ đề là Tứ Diệu Ðế (hình 1-1). Tứ Diệu Ðế gồm có:

    1) Khổ đế (Dukkha Sacca):5 uẩn, danh và sắc là khổ
    2) Tập đế (Samudaya Sacca):nguyên nhân của khổ là lòng Tham ái
    3) Diệt đế (Nirodha Sacca) ; diệt đế là Níp bàn
    4) Ðạo đế (Magga Sacca): chính là thánh đạo tám ngành.

    1.4.1. Những nét đặc trưng của Tứ Diệu Ðế

    1- Khổ đế:

    Mang nét đặc trưng của sự bất an, không có khả năng giữ bản chất giống nhau. Cả thân lẫn tâm đều bất an. Thân bất an là do khổ thọ, và tâm liên tục tìm một đối tượng dục lạc mới - để được hạnh phúc, nhưng thực tế khi ấy họ đang chịu sự khổ đau. Người diệt khổ, luôn luôn không tìm kiếm và bó buộc vào những đối tượng dục lạc khác nhưng luôn khi được an vui và thoải mái.

    2- Tập đế:

    Nguyên nhân của lòng Ái dục. Sắc và danh pháp chẳng bao giờ ngừng hoạt động; thấy, nghe, xúc, thọ, xem xét (tầm) và quyết định, v.v...

    3- Diệt đế:

    Mang nét đặc trưng của sự thoát khỏi bất an, bởi vì nó không còn tham ái (taṇhā), đạt được sự an lạc của Níp bàn.

    4- Ðạo đế:

    Mang nét đặc trưng bởi có những phẩm chất thích hợp cần thiết để nhận ra Tứ Diệu Ðế và đạt Níp bàn.

    1.4.2. Áp dụng Tứ Diệu Ðế

    1. Nhận thức được sự khổ (khổ là 5 uẩn: sắc pháp và danh pháp). Ðây không phải là cái khổ bình thường (đau nhức) nhưng là sự khổ cố hữu (dukkha - sacca).
    2. Tập đế là nguyên của đau khổ
    3. Diệt đế là con đường không còn đau khổ
    4. Tiếp theo là Bát Chánh Ðạo dẫn đến sự nhận chân Tứ Diệu Ðế.

    1.4.3. Sự tu tập như thế nào để phù hợp Tứ Diệu Ðế

    1. Nó cho thấy chân lý của sự khổ (khổ đế): Và như vậy chúng ta tu tập để nhận ra khổ. Khổ là danh sắc.

    2. Nó cho thấy những phiền não dẫn đến đau khổ. Như vậy chúng ta phải tu tập để đoạn trừ ái dục. Chúng ta càng ý thức được khổ, thì tham ái (taṇhā) bị tận diệt. - vì tham ái có tri kiến cho rằng sắc pháp và danh pháp là "chúng ta = ngã" và do đó "chúng ta" khổ.

    3. Sự giảm bớt phiền não dẫn đến sự đoạn diệt (nirodha) bởi vì tham ái càng bị đoạn diệt, hành giả càng tiến gần níp bàn.

    4. Càng tiến đến đoạn diệt, càng phát triển 8 chánh đạo

    Nếu trí tuệ nhận thức được khổ đế, sau đó nhận thức được toàn bộ Tứ Diệu Ðế, và sự tu tập được hoàn thiện.

    1.4.4. Khổ đế

    Chúng ta (danh sắc) luôn luôn đau khổ trong kiếp sống này. Ðây là khổ đế và không thể điều trị được. Danh và sắc luôn luôn khổ ở mỗi tư thế, và mọi thời điểm.

    Có hai loại khổ cơ bản:

    a) Khổ vì phiền não hay khổ tâm
    b) Khổ vì quả hay khổ thân.

    Loại thứ nhất có thể loại trừ ngay kiếp sống này, ngay tại thế gian này, bằng cách tu tập Minh sát tuệ cho tới khi đạt được quả A la hán. Loại thứ hai, quả không thể đoạn trừ trong kiếp sống này. Nếu một vị A la hán còn sống, vị này vẫn còn khổ vì quả. Vipāka có nghĩa là "quả", và ở trường hợp này đề cập đến khổ là kết quả tự nhiên của việc tái sinh, có danh sắc (nguyên nhân của khổ tập).

    Danh pháp và sắc pháp chính là kết quả sự tái sinh, được tạo nên bởi vô minh và ái dục. Ðiều này chỉ có thể đoạn diệt bằng cách không tái sinh (đạt đến Níp bàn trọn vẹn) và như vậy loại trừ ngũ uẩn.

    1- Bốn loại khổ

    1. Khổ thọ (dukkha vedanā) (thường đau đớn trong thân - và danh pháp biết được nó - đau khổ tinh thần do đau khổ thân xác tạo nên. Ngoại trừ với một vị A la hán, chỉ cảm thấy đau đớn thân xác.)

    2. Hành khổ (sankhana dukkha) (trong tu tập, sự đau đớn được thay đổi hoặc được điều trị bằng cách thay đổi tư thế. Ðiều này khó nhận thấy hơn khổ thọ)

    3. Hoại khổ (dukkha lakkhana) (tri kiến cho thấy rằng khổ được nhận thấy ở sắc pháp và danh pháp có 3 đặc tính (tam tướng). Ðiều này được nhận thấy ở Tuệ thứ 4 trong 16 tuệ - Tuệ sanh diệt (udayabbhaya-ñāṇa)

    4. Khổ đế là chân lý đau khổ hiện có, và chúng ta không thể thay đổi được điều gì - và đây là chân lý thật sự. Và chúng ta không thể thay đổi già, bệnh, và chết. Khổ với phiền não có thể bị đoạn trừ bằng cách đạt được quả vị A la hán; nhưng đây là khổ với quả và chỉ có thể thay đổi được bằng cách không còn tái sinh nữa.

    Khổ thọ giống như một bệnh nhân trong bệnh viện. Hành khổ giống như một y tá cảm thấy không được thoải mái khi phải săn sóc bệnh nhân.

    Những hành giả mới bắt đầu tu tập phải nhận ra khổ thọ trước tiên, bởi vì nó dễ dàng nhận thấy hơn. Sau đó, tiếp theo là hành khổ, nó khó nhận thấy hơn khổ thọ.

    Hoại khổ đòi hỏi trí tuệ minh sát.

    Khi khổ đế được hành giả nhận ra bằng trí tuệ, sau đó hành giả sẽ thấy chỉ có khổ trong thế gian, và không có hạnh phúc. Khi hành giả thấy được khổ đế, lập tức sẽ nhận thức tất cả Tứ Diệu Ðế

    2- Mười một loại Khổ đế mà Ðức Phật khám phá:

    Quả:


    1) Sanh (của 5 uẩn)

    2) Già (của 5 uẩn)

    3) Chết (của 5 uẩn)

    Khổ với phiền não:


    4) Sầu

    5) Bi

    6) Khổ

    7) Ưu

    8) Não

    9) Gần người không thích

    10) Xa cách người thương mến

    11) Mong cầu mà không được

    Tất cả đều khổ đau, là đang bám víu vào chúng - được tạo nên bởi 5 uẩn.

    Bất cứ ai thỏa thích với thân xác
    Ở sự thấy, nghe, tưởng, hành và thức
    Vị này thỏa thích trong đau khổ, và bất cứ ai
    Thỏa thích trong khổ đau sẽ không thoát khỏi khổ đau.
    -- (Tương Ưng Bộ Kinh, XXII 2a)

    Những lời trích dẫn trên đề cập đến sự tương phản của khổ, đó là lạc . Bởi vì lạc là vô thường và không thể vững bền, đó là khổ thọ và vì nó không kiểm soát được, nó là vô ngã (anatta).

    Ðể chấm dứt khổ, chúng ta phải nhận thức khổ qua sự tu tập. Thấy khổ bằng trí tuệ sẽ dẫn dắt hành giả vượt khỏi sự tái sinh (vata). Bởi vì phiền não rất mạnh mẽ và dai dẳng, nó cần thiết phải dùng trí tuệ để nhận thức khổ và đoạn diệt nó.

    Khi quán sát khổ, người ta phải dùng sắc pháp và danh pháp trong khoảnh khắc hiện tại làm đối tượng, bởi vì sắc pháp và danh pháp là khổ đế. Chúng ta càng nhận thức khổ bằng trí tuệ, thì càng đạt nhiều lợi ích từ sự tu tập. Lợi ích này là sự diệt bỏ tham ái. Càng nhận thấy nhiều hạnh phúc, thì đau khổ càng không được nhận ra và không đạt được lợi ích từ sự tu tập. Một số hành giả thay vì nhận thấy khổ, lại thỏa thích trong hạnh phúc, thay vì định (samadhi), và họ càng yêu thích nó. Những gì họ yêu thích, thực sự là Năm Uẩn. Năm Uẩn có khổ thọ, lạc thọ và xã thọ - như vậy đặc biệt họ thích lạc thọ trong 5 uẩn. Cảm nhận điều này, hành giả tưởng nó là Níp bàn. Cảm giác này (lạc thọ) không thể loại trừ phiền não, và mang lại kinh tởm với sắc pháp và danh pháp, như là Níp bàn thật sự (Níp bàn là vượt khỏi Ngũ Uẩn).

    3- Khổ trong lục căn

    Sự sinh ra của 5 uẩn (danh và sắc) là khổ đế. Khổ đế xuất hiện bởi sáu căn môn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thức, thân). Ví dụ, khi mắt gặp đối tượng là sắc uẩn. Nhưng thấy (hoặc nghe v.v...) là thức uẩn. Thức uẩn là bao gồm 3 sở hữu: thọ, tưởng và hành uẩn. Như vậy tất cả, nó tạo nên 5 uẩn, và khi 5 uẩn xuất hiện, nó là khổ đế. Sự việc giống như vậy đi qua các căn môn khác, nhãn, nhĩ, thiệt v.v... Trong Phật giáo, chúng ta nói "thế giới", chúng ta muốn nói đến thế giới Uẩn (Khandha) hoặc thế giới căn xứ (ayatana).

    Vishira Theri, tỳ khưu ni, và là một vị A la hán vào thời đức Phật, đã nói "Chỉ có khổ xuất hiện. Chỉ có khổ hiện hữu. Chỉ có khổ là tồn tại. Không có khổ không có bất cứ điều gì".

    1.4.5. Tập đế (samudaya)

    Tập đế là nguyên nhân của đau khổ - đó là tham ái . Có ba loại tham ái:

    1. Tham dục (Kama-taṇhā) của ngũ căn (Sắc, thinh, hương, vị, xúc) đối với Kammacunda - dục lạc hoặc các đối tượng hoặc các đối tượng dục lạc. Nếu không có dục lạc trong các đối tượng dục lạc, thì không có tham dục. Ví dụ, nếu hành giả có thu thúc lục căn (indriyacamvara-sīla) với tất cả 5 căn, hành giả sẽ không có tham dục ở thời điểm đó. Tham dục hoàn toàn bị đoạn trừ ở bậc thánh A Na Hàm (Anagami)

    2. Tham muốn tái sinh ở sắc giới (Bhavataṇhā)

    "Bhava" có nghĩa đen là "hữu" đề cập đến kiếp sống liên tục tái diễn từ sự tái sinh. Có 31 cõi (bhava), hoặc những trạng thái hiện hữu, có phạm vi từ sanh ra ở những trạng thái khổ sở cho đến những trạng thái cao nhất siêu phàm. Tham ái sắc giới gây cho con người đau đớn đến chết hoặc thương tích trầm trọng hoặc tàn tật bám víu vào đời sống và sự chết. Tham ái sắc giới bị phá hủy hoàn toàn ở bậc thánh A la hán.

    3. Ham muốn tái sinh ở cõi vô sắc (Vibhavatanna)

    Ðây là quan điểm "hủy diệt" cho rằng chỉ có một đời sống và chết là hết. Như vậy, bởi vì chỉ có một đời sống duy nhất, người theo thuyết hủy diệt muốn đạt được nhiều lạc thú càng thích trong khi còn sống. Sát na đạo Nhập Lưu đoạn trừ được thân kiến (vibhavataṇhā).

    4. Mọi người đều có tham dục, nhưng với tham dục có nghĩa là chúng ta vừa có tham dục, vừa ái sắc giới, chúng ta ham muốn sống cả sắc giới và vô sắc giới.

    Tất cả 4 loại ái dục ở trên dẫn đến tái sinh một kiếp sống mới.

    1.4.6. Diệt đế (Nirodha-sacca)

    Diệt đế là sự đoạn diệt khổ. Diệt đế và Níp bàn thì giống nhau. Níp bàn là pháp diệt trừ phiền não.

    Sự việc này được thực hiện bằng cách đoạn diệt nhân của khổ, tập hoặc ba thành phần của tham ái. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi của Níp bàn không có khổ, vì 5 uẩn đã đoạn diệt, sự kiện này xảy ra hết sức ngắn ngủi trong một sát na ý tưởng được gọi là tâm đạo (xem 1.1.1) khi hành giả nhận thức được khổ bằng trí tuệ, sau đó vị này biết rằng tham ái là nhân và vì thế vị này biết rằng phải từ bỏ tham ái. Khi nhân này bị đoạn diệt thì quả cũng thế.

    Nếu tham ái hoàn toàn bị tận diệt, và rồi hành giả sẽ đạt được Níp bàn và đạo quả A la hán. Nếu hành giả không nhận ra được tham ái là nguy hại, vị này không thể đạt được Níp bàn - và như vậy đoạn diệt khổ. Níp bàn là:

    Sự dập tắt lửa tham, lửa sân và lửa si, không duyên; mục đích tối cao của Phật giáo, sự giải thoát cuối cùng, sự dập tắt tất cả phiền não và đau khổ [1] .

    Ðặc tính của Níp bàn là an lạc, vắng lặng và đoạn diệt phiền não. Người nhận thức Níp bàn là tốt lành và ham muốn đạt tới cũng là người nhận ra được "khổ" trong thế gian (5 uẩn). Nếu ai đó cho rằng thế gian là hạnh phúc, Níp bàn là vô nghĩa đối với họ.

    Không có sanh tử trong Níp bàn. Không còn sắc pháp và danh pháp nữa, hoặc Năm Uẩn; sắc pháp và danh pháp không còn là đối tượng của thiền. Níp bàn không phải là một nơi chốn, nhưng nó vẫn tồn tại. Nó giống như ngọn gió; hành giả chỉ nhận biết ra nó bằng sự tác động của nó. Níp bàn là đối tượng của tâm tuyệt đối hay đặc biệt, nó là tâm đạo. Một người bình thường bị đắm chìm trong tham ái và tâm đạo không thể sinh khởi trong tám vị này- trừ khi vị này tu tập thiền minh sát. Như vậy khi vị này tu tập thiền minh sát, tâm của vị tu tập này trở nên trong sạch và điều này được gọi là tâm đạo, có Níp bàn làm đối tượng. Níp bàn không phải là tâm, Níp bàn là đối tượng của tâm, đó là tâm đạo.

    Người đạt Níp bàn tự mình chứng ngộ - vị này không cần vị thầy chỉ dạy. Không ai có thể đạt Níp bàn mà vị này không tu tập minh sát tuệ, để thành tựu tâm đạo.

    Níp bàn là sự diệt khổ, nhưng hành giả không thể đạt níp bàn trừ phi hành giả theo Bát Chánh Ðạo. Có hai loại Níp bàn.

    1. Hữu dư Níp bàn (Saupadisesa-nibbāna). Ðiều này có nghĩa là diệt trừ phiền, nhưng 5 uẩn vẫn còn hiện hữu.

    2. Vô dư Níp bàn (Anupadisesa-nibbāna) . Ðây là sự chết của thân và tâm của một vị không còn phiền não, và được gọi là đại Níp bàn.

    1.4.7. Ðạo đế (magga- sacca)

    Ðạo đế là Bát Chánh Ðạo, con đường dẫn đến thoát khổ. "Magga" có nghĩa là đạo, hay đường, nó dẫn đến Níp bàn, đó là pháp diệt khổ. Chỉ có một con đường duy nhất đó là Bát Chánh Ðạo và con đường (đạo) đó được tu tập bằng Tứ niệm xứ, là con đường đầu tiên của 37 pháp bồ đề phần, và dẫn đến sự trong sạch, hoặc đoạn trừ phiền não. Bát Chánh Ðạo gồm có Giới Ðịnh và Tuệ là con đường duy nhất để diệt khổ.

    Bát Chánh Ðạo

    Trí tuệ (paññā):

    1. Chánh kiến (Samma Diṭṭhi)

    Nhận thức Tứ Diệu Ðế, là nhận thức (sabhava dhamma) của bản chất thật của các chân lý. Nếu nó là thế tục, danh-sắc làm đối tượng. Nếu nó là siêu thế, níp bàn làm đối tượng.

    2. Chánh tư duy (Samma sankapa)

    Nekkhamma: sự tu thân (xuất gia), Abyāpada: không sân, và ahiṃsā: vô hại, không sân. Chức năng của chánh tư duy rất quan trọng. Nó được dùng để giúp: nhiệt tâm, chánh niệm, tỉnh giác tiến triển đúng trong niệm xứ.

    Giới (Sīla):

    3. Chánh ngữ (Samma vacca)

    Không nói dối, trụy lạc, nói lời vô ích, hoặc nói lời vô hại đến kẻ khác. (Cội rễ của 4 hành động bất thiện là tham,sân, si. Nếu có chánh ngữ chúng không thể xảy ra.

    4. Chánh nghiệp (Samma Kammanta)

    Các giới luật - ví dụ; không làm hại các sinh vật (Chánh tư duy đảm bảo chánh nghiệp).

    5. Chánh mạng (Samma ajiva)

    Không có nghề nghiệp gây hại, như mua bán vũ khí v.v... (Ngay cả ăn để điều trị đau khổ là một hình thức chánh mạng)

    Ðịnh (Samadhi):

    6. Chánh tinh tấn (Samma vayama)

    Tứ chánh cần để loại bỏ phiền não. Tứ chánh cần (xem 1.3.2.) giúp cho định (samadhi) và tuệ (trí tuệ) xuất hiện

    7. Chánh Niệm (Samma Sati)

    Ðề cập đến chánh niệm ở tứ niệm xứ. Chánh niệm dựa vào Chánh tinh tấn để phát huy.

    8. Chánh Ðịnh (Samma Samādhi)

    Nhất tâm, trong khoảnh khắc hiện tại, trong niệm xứ. Ðể hoàn thiện, Chánh định cần có sự hỗ trợ từ Chánh Tinh Tấn và Chánh Niệm.

    Ðể có Chánh Ðịnh đúng đắn, đối tượng của nó phải xuất phát từ Tứ Niệm Xứ.

    Chúng ta định nghĩa "Ðạo" là gì? Chỉ có một con đường (Ðạo) duy nhất, con đường dẫn đến giác ngộ. Nhưng "Ðạo" có 8 yếu tố. Như vậy Bát Chánh Ðạo giống như một loại thuốc có 8 thành phần, nhưng cần thiết chỉ dùng 1 viên duy nhất.

    Ðức Phật khám phá 8 chánh đạo, và trước thời của ngài không có.

    Bát Thánh Ðạo là con đường Trung đạo. Trung đạo là tận diệt si mê. Khi si mê bị tiêu diệt hoàn toàn, người ta nhận ra Tứ Diệu Ðế.

    Thực tế Bát Chánh Ðạo là 8 sở hữu tâm. Nó không có ngã hoặc linh hồn, không phải đàn ông, đàn bà. Nó là sabhava [2] . Như vậy thì không có ai nhận ra khổ (dukkha sacca), không có ai đoạn tận Samudaya (tập đế), không có ai đạt diệt đế (nirodha sacca) hoặc Níp bàn, không có ai phát huy đạo đế (magga sacca) [3] .

    1.4.8. Trí tuệ thực chứng Tứ Diệu Ðế

    1. Trí tuệ nhận thức được khổ cũng dập tắt Vipallāsa (ảo tưởng) - nghĩa là thân - tâm là thường còn v.v...

    2. Trí tuệ nhận ra samdaya (tập đế) thay đổi được tà kiến cho rằng chúng ta được tạo nên bởi một sức mạnh cao hơn, thay vì là quả của nhân.

    3. Trí tuệ nhận ra diệt đế sửa đổi tà kiến về Níp bàn giả tạo, được tạo ra bởi định tâm

    4. Trí tuệ nhận ra đạo đế đoạn trừ bất cứ sự bám víu vào sự tu tập sai lạc và chỉ cho thấy con đường đích thật (đạo) để diệt khổ.

    Bởi vì tham ái bị đoạn trừ (nhân), thế gian của 5 uẩn (Khandha) bị tiêu diệt, và như vậy khổ bị tiêu diệt. Trí tuệ nhận thức được Tứ Diệu Ðế chỉ có trong Phật giáo.

    1.4.9. Kết luận

    Như trong Thanh Tịnh đạo có nói, Khổ đế giống như một vật nặng nề. Tập đế thì giống như người đang mang một vật nặng. Diệt đế là đang đặt vật nặng xuống, như vậy chúng ta cảm thấy khỏe hơn. Ðạo đế là phương cách để đặt vật nặng xuống -- (Samyutta-Nikāya, iii 26).

    http://www.buddhanet.net/budsas/uni/...t/gtmst-12.htm
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  2. #2

    Mặc định

    PHƯƠNG PHÁP THIỀN TUỆ MINH SÁT là một phương pháp thiền quán sát sự sanh diệt của mọi hiện tướng ,nắm bắt nội TÂM trong từng sát na ,trước đây cô từng giảng giải thiền định
    Đó chỉ mới là bài nhị thiền định đồng nhất quán nhưng đó cũng là căn bản để mình quán các bực thiền sau ,còn bây giờ cô lại giảng giải phần thiền minh sát tuệ .
    Nhiều người hay lẫn lộn thiền định với thiền minh sát tuệ ,mặc dù thiền tuệ cũng phải có định ,nhưng rất nhiều người lại kết hợp cái này với cái kia ,như định thì kết với quán sát sát tuệ thì TÂM trở nên lăng xăng lẫn lộn ngay .
    Ví dụ một chiếc xe đang chạy nay chúng ta học cách thắng chiếc xe đó khi xe đã dừng ta lại tập khởi cái xe chạy tiếp ,
    Trước đây chiếc xe chạy không có chiều hướng hôm nay mình bắt nó dừng lại và định lại hướng theo ý muốn của mình .
    Chính vì vậy thiền tuệ minh sát phải biết nắm bắt cặn kẻ ,dù trên lý thuyết vẫn là lý thuyết ,mình phải biết nó là như thế nào để dễ dàng thoát ly khổ ải phiền não .cô sẽ giảng giải sau.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  3. #3

    Mặc định

    Đề mục 1 : Quán hơi thở.


    Bản thân tôi khi mới tập thiền quán, cứ hễ mỗi khi nhắm mắt lại thì những hình ảnh lộn xộn, những suy nghĩ lung tung nó cứ tràn ngập tâm trí, không sao mà yên được. Thế mới thấy cái đảo điên vọng tưởng nó hỗn độn hỗ lốn đến chừng nào.

    Tôi đã có thử qua pháp « nhất tâm nhất niệm », tức trong đầu cứ nghĩ đến 1 pháp thân hay 1 câu chú nào đó của chư vị, cứ tập trung vào đó không ngơi nghĩ, lung lay, đúng là có khả quan hơn hẳn, những suy nghĩ xáo trộn, hình ảnh lung tung đã từ từ mờ dần bởi sự tập trung đó. Nhưng cũng khó ghê lắm, cứ hễ 1 phút lơi là là y như rằng lại bị những dòng suy nghĩ cuốn theo, để rồi 1 lúc sau chợt bừng tỉnh mà quay về nhất niệm.

    Thế rồi 1 ngày, tôi có duyên được 1 anh bạn chỉ phương pháp « quán hơi thở », mới đầu tôi lấy làm không được kính trọng lắm, tôi thấy sao mà nó bình thường và đơn giản quá, nhưng khi thực hành rồi thì thấy diệu dụng thật tuyệt vời.

    Rất đơn giản, đầu tiên tôi chọn cho mình 1 tư thế ngồi thật thoải mái, có thể là bán già, kiết già hoặc chỉ đơn giản là bắt chéo chân mà thôi, tôi cố giữ thẳng lưng để khiến cho mình không quá dễ chịu mà đi vào giấc ngủ, khi cảm thấy mình thoải mái rồi thì lúc đó tôi mới khép nhẹ đôi mắt lại.
    Khởi đầu, tôi để mặc cho tâm trí vẫy vùng với những thứ lộn xộn của nó, 1 lúc sau tôi mới tập trung vào hơi thở của mình, « quán hơi thở » ở đây tức rằng ta tập trung vào hơi thở của mình, quán sát nó, lắng nghe nó, ta thở vào ta biết mình đang thở vào, ta thở ra thì biết mình đang thở ra.
    Thật kì diệu, những suy nghĩ hình ảnh hỗn độn đã không còn làm vướng bận tâm trí tôi nữa, tôi chỉ còn thấy hơi thở của chính mình. Cứ tập quen dần dà như thế, tôi càng lúc càng nhận ra rằng những hỗn độn đó vắng bặt ngay cả khi tôi chưa cần phải quán hơi thở của mình.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  4. #4

    Mặc định

    Đề mục 2 : Quán Nhân Duyên

    Từ lúc tu tập pháp môn thiền quán tự tại, tôi bắt đầu có thói quen quan sát sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh mình.

    Vào 1 hôm nọ trời chiều thanh mát, tôi thấy mình thư thái đến lạ, ngồi giữa vườn cây, tôi thả mình vào cảnh sắc thiên nhiên.

    Vẫn tư thế ngồi bán già quen thuộc, lưng giữ thẳng, sau 1 bài quán hơi thở, tôi bắt đầu chú ý đến 1 khóm hoa hồng đang nở rộ trắng cả 1 góc vườn. Những cành hồng mọc thật là rất khác nhau, tôi thấy có cành chỉ vừa lên búp, có cành hoa vừa hé nở, lại có càng hoa đã nở rất to nhưng cũng có vài cành hoa đã ngã màu và thậm chí có cả những cành hoa khô lại, rũ cặp cả xuống.

    Tôi bỗng thấy lạ, không phải là trước giờ tôi chưa từng thấy hoa hồng, lạ ở đây vì trước đây nhìn hoa nhưng không để tâm vào hoa, thấy hoa nhưng không ý thức về sự tồn tại của nó. Nhưng giờ đây tôi đã khác, tôi cảm thấy mình có tầm nhìn rộng lớn và bao quát hơn, tôi nhìn mọi thứ vừa xa lạ vừa quen thuộc, đóa hoa vẫn là đóa hoa nhưng nay nó lại có thêm điều gì đó mà tôi không lý giải được, tôi thấy gần gũi.
    Nhìn khóm hoa 1 lát, tôi có những sự nghi hoặc nảy sinh, tôi thấy dòng suy nghĩ trôi chảy và nhất quán, thống nhất, nó không chạy tán loạn hay lung tung, nó tập trung vào đề mục mà tôi suy nghĩ.
    Đầu tiên tôi nghĩ rằng không chỉ riêng hoa hồng mà các loài cây có phải tự nó mọc lên hay không?
    Trước tiên tôi thấy hình như là không phải, vì tôi nhớ cách đây không lâu chính tay ba mình đã gieo hạt giống, rồi tưới nước cho nó, chăm bẵm cho nó, rồi nó lớn lên hằng ngày, thế là tôi nghĩ chắc là không phải nó tự mọc lớn lên mà là do có chăm cho nó lớn lên. Nhưng mà hình như cũng không phải, tôi để ý góc xa xa cạnh hàng rào có bụi cỏ dại mọc cũng rất xanh tốt, tôi nhớ là không có ai tự nhiên lại đi trồng có dại như thế, tự nó mọc lên đấy chứ. Tôi nhìn lại khóm hồng, tôi chợt thấy rằng việc nói do có người trồng mà nó mọc lên cũng không hẳn là đúng vì nó có thể do con chim nào đó vô tình nhả hạt giống xuống đất và nó phát triển nhờ mưa tự nhiên mà.
    Vậy phải chăng là cây nó tự mọc? Tôi đi sâu vào đề mục này, nhìn lại quá trình từ lúc gieo hạt giống, tới nãy mầm, tới lớn lên, tới ra hoa rồi tàn héo. Tôi để tâm mình thư thái và quán chiếu quá trình đó, tới những mối liên hệ tới quá trình đó.
    Và tâm trí tôi chợt lóe sáng, những luồng suy nghĩ mới vẻ cứ chảy tràn, tôi thấy mình hoan hỉ đến lạ, tôi tự thấy rằng cây hoa hồng từ hạt giống nãy mầm lớn lên ra hoa rồi tàn héo, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nói riêng những khóm hoa hồng ở nhà tôi, nó phải nhờ việc ba tôi gieo hạt, rồi nhờ vào đất, rồi nước, rồi ánh sáng mặt trời, rồi không khí... Tôi thấy tất cả những yếu tố đó gộp lại, không thiếu 1 yếu tố nào thì khóm hoa hồng nó mới xuất hiện và phát triển.
    Tôi lập tức hiểu ra 1 điều rằng, không phải các loài cây tự nó mọc lên mà hết thảy là do các nhân duyên đã hợp lại với nhau mà khiến nó có thể mọc lên.
    Tiếp sau đó, tôi lại nghĩ rằng việc cây cối mọc lên là do những nhân duyên tác hợp với nhau, thế còn việc hoại diệt, cây cối nói chung hay đóa hồng này nói riêng thì việc hoại diệt có phải là do tự thân nó không?
    Với việc quán chiếu những nhân duyên tác hợp mà cây có thể mọc lên, tôi lần leo hướng đó. Tôi nhìn vào khóm hồng, tôi thấy có cành hoa thì có những con sâu bé bé đang đục khoét, có cành thì trơ trụi vì lúc sáng mẹ có bứt vài bông đem vào cắm trong nhà, tôi lại nghĩ đến những cây nhỏ trong vườn héo khô vì đất đã khô cằn do lâu rồi không có giọt mưa nào cũng không được tưới nước. Tôi thấy rõ quá trình hoại diệt là do rất nhiều yếu tố, cây chết vì thiếu nước, cây chết vì đất khô, cây chết vì sâu bọ, cây chết vì bị bứng khỏi đất… Đi sâu vào những yếu tố đó, tôi lại càng nhận thức rõ ràng rằng việc tàn hoại của cây là do những nhân duyên hợp nhau mà thành.
    Việc quán sự sinh diệt của cây cối và nhận ra đó là do những nhân duyên tác thành mà không phải là do tự thân nó đã trở thành bài học cực kì quan trọng giúp cho tôi pháp triển trí huệ của mình trong quá trình thức tỉnh, nhận ra thực tướng của vạn pháp.

    Tôi gọi đấy là phép “Quán Nhân Duyên”.

    Đề mục 3: Con gà và quả trứng.




    Một lần tình cờ, nghe người bạn của tôi đố tôi rằng “ Con gà có trước hay quả trứng có trước?”

    Đây thực sự là 1 đề tài hóc búa, lẽ thường, từ quả trứng rồi nở ra gà con, nếu nhìn như thế thì có vẻ quả trứng có trước nhưng ta lại đặt câu hỏi, thế làm thế nào để có quả trứng?
    Đương nhiên là do gà trống và gà mái giao phối, rồi gà mái đẻ ra trứng, nếu như thế thì lại là con gà có trước, nhưng lại đặt câu hỏi làm sao có con gà, thì con gà lại nở ra từ quả trứng.
    Đây là câu đố xoay vòng, đang lúc suy nghĩ mãi, tôi lại nhớ đến pháp môn quán tự tại, phép quán nhân duyên.

    Tôi thả lỏng tâm trí, để tâm thoải mái mà đi sâu vào quá trình từ gà sinh trứng rồi trứng nở ra gà. Tôi lại thấy rất nhiều yếu tố, nguyên nhân trong quá trình này. Để quả trứng có mặt thì phải có yếu tố là gà trống và gà mái gặp nhau, giao phối, rồi gà mái đẻ trứng, rồi ấp ứng mà trứng nở mà gà con có mặt, gà con lớn lên lại giao phối rồi đẻ trứng rồi gà con lại có mặt.
    Hết thảy những yếu tố này không thể thiếu được, nếu không có sự gặp nhau sẽ không có sự giao phối không có sự giao phối sẽ không có thể đẻ trứng, không có sự ấp, trứng sẽ không nở và không nở sẽ không có gà con.
    Chợt bỗng thấy tâm mình bình yên và thoải mái đến lạ, quán sát vào câu đố “ con gà có trước hay quả trứng có trước?” Tôi không thấy cả con gà có trước hay quả trứng có trước, mà tôi thấy những nhân duyên tác thành có mặt trước tiên.

    Tôi đã thấy sự sanh ra của quả trứng rồi thành con gà không phải là tự thân xảy ra mà cũng là do những nhân duyên tác thành, tôi lại tiếp tục quán sâu sát vào sự hoại diệt của con gà thì thấy nhiều nguyên nhân yếu tố như bị người ta giết thịt, bị bệnh chết, khát chết, đói chết… Hết thảy là do những nhân duyên tác thành mà dẫn đến sự hoại diệt.
    Cũng như quán sát quá trình sinh tử của cây cỏ, nay tôi quán sát quá trình sinh diệt của con gà rồi nhân rộng ra các loài động vật nói chung, tôi thấy sự sinh diệt cũng không phải do tự thân mà do những nhân duyên tác hợp mà thành.
    Đề mục 4: Sóng.




    Một lần nọ đi biển, lúc mọi người thích thú đắm mình trong dòng nước bất tận, tôi chỉ thích tìm 1 nơi thật yên bình, lặng ngắm biển, thấy trong lòng thư thái và dễ chịu đến lạ.

    Tôi ngắm những đợt sóng lên rồi xuống, thành rồi hoại, cứ thế mà tiếp diễn liên tục.
    Tôi để tâm thoải mái và quan sát, sau bài quán hơi thở, tôi dụng phép quán nhân duyên đi vào quá trình hình thành và tàn hoại của sóng, tôi thấy rõ những yếu tố tác hợp, từ tự có mặt của sức gió, nước biển… mà sóng được hình thành, rồi khi sóng hình thành đến tàn hoại do sức thổi đã hết, do sóng vào vùng nước cạn dần…

    Cũng như cây cỏ và loài thú, tôi thấy việc thành và hoại của sóng biển cũng là do những nhân duyên tạo tác.

    Trời bỗng nổi cơn mưa, mưa nhỏ, đủ để lấm tấm mặt biển, tôi nhìn lên trời, những đám mây đen.
    Tôi nhờ nhìn thấy những nhân duyên tạo thành sóng biển, nay lại dụng phép quán nhân duyên quán sát cơn mưa.
    Tôi thấy quá trình từ những giọt nước bốc hơi thành mây, những đám mây khi gặp không khí lạnh, nó đọng lại và rớt xuống tạo thành những cơn mưa, cơn mưa làm đầy những sông suối, hồ… rồi từ đó mà nhờ những đợt nắng, không khí nóng, lại bốc hơi lên thành mây.
    Hết thảy quá trình sinh rồi hoại đều do những nhân duyên tạo tác không thể vắng mặt bất kì nhân duyên nào.

    Tôi chợt thấy những hiện tượng tự nhiên như sóng, mưa cũng không phải tự thân nó hình thành và tàn hoại mà hết thảy cũng là do những nhân duyên tác hợp mà thành.
    Đề mục 5: Con người.



    Tôi nhờ phép quán nhân duyên mà đã thấy rằng cây cối, động vật, hiện tượng không tự thân nó sanh ra cũng không tự thân nó mất đi, mà hết thảy là do những mối nhân duyên tạo tác mà thành. Nay tôi nhờ những phép quán chiếu đó mà quán tới bản thân con người, bản thân tôi.

    Nhờ phép quán nhân duyên mà tôi thấy rõ ràng rằng bản thân con người cũng như cây cối, động vật, hiện tượng hết thảy đều không tự tánh tự sanh ra cũng không tự tánh tự hoại đi mà hết thảy đều những nhân duyên tạo tác.

    Cụ thể hơn, tôi đi vào quá trình hình thành mình, tôi thấy rằng việc ba mẹ duyên gặp gỡ nhau, rồi yêu nhau, cưới nhau, qua quá trình giao hợp rồi những mối duyên chín mùi mà bào thai thành hình, rồi bào thai được chăm sóc cho phát triển, đến ngày được sanh ra, rồi được chăm bẵm phát triển lớn lên. Trong mỗi quá trình đó lại có những mối nhân duyên khác tác hợp thành, tôi thấy rõ những mối nhân duyên chằng chịt chồng chéo lên nhau tạo tác hợp thành mà có sự xuất hiện của tôi.
    Rồi cả việc khi còn bé, lớn lên, già, bệnh, rồi chết đi, tôi nhìn thấy hết thảy những mối nhân duyên, những yếu tố nguyên nhân tác thành.

    Qua đó tôi càng thấy rõ, con người không tự sanh ra cũng như chết đi, mà cũng như cây cối, động vật, hiện tượng hết thảy đều do những mối nhân duyên tạo tác mà thành.

    Đây là bước khởi đầu cho quá trình nhận thức thực tướng của vạn pháp.

    Tôi thấy vạn pháp không có tự tánh tự sanh ra và hoại diệt, mà hết thảy là những sự kết hợp, tạo tác đan xen lẫn nhau mà có sự thành và hoại, tôi thấy hết thảy là do những mối nhân duyên ràng buộc đó.
    Đề mục 6: Vô Thường



    Nay tôi đã có thực chứng về sự sanh diệt của vạn vật, tôi lại đi sâu sát quán chiếu lại hết thảy các quá trình đó 1 lần nữa.
    Tôi quán chiếu các nhân duyên tạo tác mà sanh, rồi cũng nhân duyên tạo tác mà diệt, hết thảy các quá trình đó đều hiện rõ.
    Qua việc quán chiếu sâu sát đó, tôi thấy hết thảy các hiện tượng đều không thường hằng, không có sự tồn tại vĩnh viễn, bất biến, tất cả là những quá trình biến đổi không ngừng, thay đổi liên tục, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh.

    Tôi thực chứng sự vô thường.
    Đề mục 7: Vô Ngã




    Đã có sự thực chứng về vô thường, nay tôi tiếp tục đi sâu quán sát về ngã. Đầu tiên, tôi quán chiếu lại sự thành hoại của bản thân do các nhân duyên tạo tác mà thành, tôi đi sâu vào câu hỏi “cái gì là ta ?”

    Cũng như sự thành và hoại đều do sự tác hợp của nhân duyên, thì cái ta cũng vậy? Không có cái duy nhất nào gọi là ta, mà hết thảy là các yếu tố cấu thành lại giả tạm gọi là ta.
    Ví dụ đơn giản, ta nhìn 1 bông hoa ta thấy nó có rất nhiều bộ phận như cuống hoa, cánh hoa, nhị hoa…hết thảy những bộ phận đó kết hợp lại với nhau thì được giả tạm gọi là hoa.
    Hay như chiếc xe đạp, ta thấy nó có nào là bánh xe, căm xe, sườn xe, yên xe, tay lái, thắng… hết thảy kết hợp lại, giả tạm gọi là xe đạp.
    1 cánh hoa không thể gọi là hoa, hay 1 chiếc bánh xe không thể gọi là xe. Thì bản thân ta cũng thế, 1 cánh tay không thể gọi đó là ta, 1 con mắt không thể coi là ta, mà hết thảy những thứ như tay, chân, mắt, mũi, miệng… kết hợp lại với nhau giả tạm gọi đó là ta, 1 người với tên A, B, C giả tạm gọi tương ứng với những sự kết hợp đó.
    Đó là phần ta có thể nhìn thấy rõ ràng được, nay tôi lại đi quán sát thâm sâu hơn về cái mà người ta vẫn cho là cái ta vi diệu ở bên trong, điều khiển, tạo tác, chi phối, biểu cảm, thể hiện…giả tạm gọi là Ngã.
    Tôi quán chiếu sâu sát về Ngã, tôi đi vào sự thọ cảm, đối tượng thọ cảm, biểu hiện thọ cảm, cảm xúc thọ cảm. Tôi chợt thấy được 1 sự thật màu nhiệm vi diệu.
    Tôi thấy rằng có những bộ phận trên cơ thể ta làm điều kiện cho sự thọ cảm, tôi thấy đầu tiên là mắt, là nhãn căn, đối tượng của mắt là những gì mắt thấy là nhãn trần (sắc) và cái thấy đó là nhãn thức. Tiếp theo là tai, là nhĩ căn, đối tượng của tai là những gì tai nghe được là nhĩ trần (thinh) và cái nghe thấy đó là nhĩ thức. Mũi là tỉ căn, đối tượng của mũi là những hương mà mũi ngửi được là tỉ trần ( hương ) và cái ngửi thấy đó là tỉ thức. Lưỡi là thiệt căn, đối tượng của lưỡi là những vị mà lưỡi nếm được là thiệt trần (vị) và cái nếm thấy đó là thiệt thức. Thân thể là thân, đối tượng của thân thể là những gì thân thể xúc chạm là thân trần (xúc) và cái xúc chạm đó là thân thức. Và cuối cùng là ý thức là tập hợp hết thảy những thức kia, đối tượng của ý thức là pháp, hết thảy các pháp.
    Tôi thấy rằng qua các căn đó là điều kiện để có sự thọ cảm, rồi từ sự thọ cảm đó mà những tình cảm trỗi dậy, lợi lạc có, tai hại có. Những tình cảm đó lại là tác nhân chi phối lời nói, hành động của ta. Vì bởi vô minh che lấp, không thấy thiệt chân tướng, thực tướng, vẫn còn vướng mắc, chấp kiến nên ta vướng vào những tình cảm không lợi lạc, dẫn đến những lời nói không lợi lạc và hành động không lợi lạc; những lời nói, hành động đó là tác nhân tạo nên những quả báo tương ứng sau này.

    Nay đã quán thấy thế, lại quán thấy hết thảy đều vô thường. Tôi thấy rằng, mắt này rồi sẽ hoại, tai này, mũi này, lưỡi này, thân này rồi sẽ hoại; không còn có những phương tiện tiếp xúc với ngoại cảnh trần thì hết thảy những thọ cảm cảnh trần rồi sẽ không xuất hiện, thọ cảm không xuất hiện thì những tình cảm vương vào thọ cảm cũng sẽ không xuất hiện, không còn những điều kiện tạo tác thì hành động tạo nghiệp cũng không xuất hiện.
    Chỉ riêng đi vào từng thức một, ta đều thấy có sự hoại thành, thành hoại liên tục, ví như ta quan sát bông hoa, suy nghĩ khởi niệm về bông hoa, rồi lại quan sát dòng nước, suy nghĩ khởi niệm về dòng nước…. Ta thấy rõ ràng rằng 1 niệm hoại rồi 1 niệm khác lại thành, nó liên tiếp nhau trong sát na mà khiến ta có vọng tưởng về sự bất biến thường hằng. Cũng như những tình cảm, biểu hiện… nó cũng luôn biến đổi, thành rồi hoại, vừa vui đó, lại buồn, rồi hận, rồi thương, hết thảy cứ thành hoại nối tiếp nhau…

    Tôi thấy rằng giả tạm có 1 cái gọi là Ngã chi phối, biểu hiện, điều khiển… vì còn có những phương tiện làm điều kiện cho sự hình thành của những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm, nghĩ. Rồi từ đó lại sinh khởi những tình cảm nương vào đó, rồi làm nhân cho những lời nói, hành động tạo tác.

    Tôi thấy hết thảy những nhân duyên tạo tác, kết thành với nhau mà có cái giả tạm gọi là Ngã.

    Tôi chứng thực vô ngã.

    Đề mục 8: Khổ


    Qua thực chứng về vô thường và vô ngã, thấy hết thực tướng vạn pháp đều không có tự tánh riêng biệt mà do những nhân duyên tác hợp giả tạm mà có, cũng như thấy rằng vạn pháp đều không thường hằng bất biến, hết thảy đều do những nhân duyên tác hợp mà có sự giả tạm gọi là sinh và diệt.
    Nay đã thoát ly được chấp thường và chấp ngã, tôi thấy rõ, thực chứng rõ về Khổ.

    Khổ do vô minh mang lại, vô minh là không thấy chân thực tướng của vạn pháp, không thường thì cho là thường, không có ngã thì cho là ngã.
    Vì vướng mắc vào thường và ngã mà sinh ra kiến chấp, nãy sinh những tình cảm không mang đến lợi lạc như tham ái, thủ chấp, sân hận, si mê… rồi từ đó dẫn đến lời nói hành động không mang đến lợi lạc, là những nhân duyên đem lại quả báo ngày sau.
    Vì cho rằng có ta, tôn thờ cái ta, mà có những nhận thức về của ta, cái này là của ta, cái này ta muốn, cái này ta phải có, cái này không thể thuộc về người khác. Từ đó nãy sinh mâu thuẫn, đấu đá, tranh đoạt…Đó là khổ.
    Vì không thấy vô thường nên sợ chết, sợ chết vì sợ mất đi, mất đi những cái mà ta sở hữu, sợ không còn có những thứ ta sở hữu, sợ không còn cái ta… Vì không thấy rõ quy luật, thực tướng của vạn pháp nên sợ hãi, mộng tưởng… Đó là khổ.

    Trong cuộc sống, khi không có cái nhìn tỉnh thức về thực tướng của vạn pháp, thì mãi vẫn còn chìm đắm vào tà kiến, vẫn còn ngụp lặn trong biển khổ.
    Nay đã thực chứng thực tướng của vạn pháp, thực chứng vô thường và vô ngã, thực chứng về nhân duyên tạo tác, ta nhờ đó thoát ly khỏi khổ.

    Ta thấy con đường thoát khổ.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  5. #5
    Lục Đẳng Avatar của Dieudiem
    Gia nhập
    Nov 2011
    Nơi cư ngụ
    Đơn sơ nhà gỗ !
    Bài gởi
    13,103

    Mặc định

    Những ji` tỷ viết là những kinh nghiệm đúc kết lại ..nhẹ nhàng thư thái ...ung dung tự tại,muội thấy tỷ như 1 người vãng sanh khi còn đang sống vậy ,chúc mừng tỷ lắm ...!
    *BI QUAN LÀ TÂM TRẠNG,LẠC QUAN LÀ Ý CHÍ !

  6. #6
    Lục Đẳng Avatar của vothuong1978
    Gia nhập
    Dec 2011
    Nơi cư ngụ
    Thánh Địa Tâm Linh
    Bài gởi
    16,168

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Dieudiem Xem Bài Gởi
    Những ji` tỷ viết là những kinh nghiệm đúc kết lại ..nhẹ nhàng thư thái ...ung dung tự tại,muội thấy tỷ như 1 người vãng sanh khi còn đang sống vậy ,chúc mừng tỷ lắm ...!
    Mụi nói lời ngưỡng mộ thì dc ..nhưng đừng làm theo...vì mỗi cái đều thiếu...mà thiếu cái quan trọng..
    Thị Trấn Về Đêm...

  7. #7

    Mặc định

    Chứng thực bằng trí tuệ thực chứng của cô
    Khi ta thấy mọi sự hợp tan của trần gian, những cái buồn từ bên ngoài tác động, hay cái vui giả tạm kia, luôn làm mình ưu tư phiền muộn, những cuộc vui nhộn,cảnh biệt ly,tình bạn, tình yêu,luôn thay đổi trắng, đen mọi thứ làm mình ưu tư phiền muộn đó tại sao?tại mình không cương quyết bỏ, tất cả vui buồn giả tạm được mất, hơn thua đâu giúp mình đạt lên sự bình yên an ổn, thật giả,giả thật biến đổi nhanh như vậy sao? mình không ngừng những ảo vọng, niệm lại để định tâm,đừng quá hy vọng,đừng vọng niệm, đừng đưa mình vào sự cuốn lôi theo cảnh trần gian, tạm dừng lại và sàng lọc lại nơi tâm này, nghe từng sóng trổi của thanh tâm đang réo ta trói nó và lóng nó xuống theo từng đợt sóng sô,cho đến khi nó không còn khuấy lên nửa, những thứ tạp nhạp lúc vui lúc buồn,lúc chia tay,lúc hợp như án mây,tại sao? ta luyến ái yêu mến làm tâm không lúc nào an, ưu phiền và đau khổ,thôi ngừng lại tất cả, là ta đang diệt thọ của sơ quả lúc này đây không quan tâm với mọi biến đổi của thế gian,ai luận ai hơn, mặc ai,ai đẹp,ai xấu kệ,ai thắng ai thua kệ tôi vẫn là tôi,anh vẫn là anh,bổn tâm của tôi là như vậy,bổn tánh tôi là như vậy chẳng ai làm gì ai cả,bây giờ tâm lọc sàng cặn bã và nhốt nó.Dẫu cho đời lay động nhưng tâm tôi không lay động,đó là chứng thực sơ quả TU ĐÀ HOÀN.
    Oai nghi tự nhiên của quả vị TU ĐÀ HOÀN,sự oai nghi đức hạnh của vị TU ĐÀ HOÀN phát xuất từ tâm, từ tánh hiện ra,bản chất nó là như vậy,người đạt vị TU ĐÀ HOÀN lời ăn tiếng nói tự biết làm chủ, đắn đo suy ngẫm và hay im ỉm niệm phật, thường lắng đọng tâm tư quán xét cảnh đời,từng bước chân là thiền định.
    Dần dần phát sanh ra tâm không muốn tiếp súc nhiều người và thanh tịnh,đây là những bước tiến của quả vị TU ĐÀ HOÀN,quả vị này tuy là thấp nhất nhưng là nền tảng vững bước chắc chắn cho các quả vị sau, tâm tư trở nên khoan dung độ lượng,có tấm lòng bao la ngay quả vị này .
    TRÍ TUỆ ĐẮC QUẢ TRÊN CÂY CÂY LÚA:của cô DIỆU ĐỊNH
    -Những hạt giống lúa được chọn lọc kỷ, đã bỏ những hạt lép rồi,tới ngày tháng phải chọn nơi phù hợp để gieo, trên đất tốt nước bùn thật phù hợp gieo từng hạt lúa giống xuống cho đúng vụ mùa,như tâm của chúng sanh một lúc nào đó được khơi dậy đúng lúc cũng sẽ phát tâm tâm bồ đề,đến lúc hạt lúa đến ngày mọc mạ,những hạt nào chắc thì cây mạ mọc mạnh,những cậy mạ yếu thì nó èo uộc.Như tâm ai đã là tâm chắc trong nhiều kiếp sẽ mọc nhanh như cây mạ gieo có nước và đất phù hợp.
    Trong chúng sanh ai không tu ,tâm không thiện,luôn tạo tác nó như những hạt lép, trong nguyên đống lúa sàng sãi ra,những hạt lép đã bị thổi ra ngay khỏi đống lúa,và người không tu đó sẽ bị loại như vậy còn lại là những người có tâm đến đạo,hướng đường tu là những hạt lúa chắc.Đây là cuộc sàng sải thứ nhất.
    Lúa tốt phải tìm nơi đất tốt phù hợp để gieo, giống như người tu học đi tìm đường lối, đạo pháp phù hợp để tu,nơi đó có đủ nước và đất tốt mạ sẽ phát triển, như con người đã tìm nơi phù hợp cũng sẽ phát triển đạo pháp của mình.
    Cây lúa mọc ngoài đồng cùng với cây cỏ qua tay chăm sóc bón,của con người mà cây phát triển thành cây lúa, nhờ được con người nhổ cỏ diệt mọi cây dại chen lẫn là để cây lúa được trưởng thành, như con người tu cũng vậy khi ở trong chúng sanh bao nhiêu hỗn tạp, tự mình phải tách ra riêng biệt mới thấy được cái tâm của mình, không hề giống ai, nhờ vậy mà mình phát triển cái tâm tu của mình, hằng ngày mình chăm săn sóc lau chùi nó,và luôn soi rọi thanh tâm như người đã chăm sóc, bón cây lúa trưởng thành.
    Đến ngày cây lúa đã ra hoa kết quả,cây lúa đã ngậm sữa,rồi thành hạt lúa cây nào chăm sóc kỷ thì sẽ ra hạt chắc,cây nào yếu sìu sìu ển ển, thì ra hạt lép.cũng do mình chăm sóc kỷ hay không, nào khác gì tâm của chúng sanh, khi gieo nhân quả tùy theo mình mà nó nảy mầm mình cứ gạt hái theo cách trồng của mình mà thôi.Ai chăm sóc tâm cho tin tấn thì ngày ra hoa kết quả sẽ là hạt chắc,là mọi nghiệp quả tốt.
    Mình không được lúa chắc vì mình tâm lơ tâm lất ngay khi mới gieo hạt giống xuống,bây giờ tới ngày thu hoạch cứ xét công trình mà mình hành mà có hạt chắc hay lép,đó là thành quả .
    Khi còn là hạt lúa ngoài đồng giờ thu hoạch cắt về lại sàng hạt lúa và chắc một lần nữa,hạt chắc để nấu ăn và làm giống, giống như người tu hành khi đã là hạt chắc rồi thì sẽ là người lại là gieo mầm, gieo giống,từ cây lúa đem về,đây gọi là cuộc sàng sãi lần thứ hai,nếu là người tu có thể gọi đây là quả vị TU ĐÀ HOÀN,mới chứng đạo,rồi còn phải chà phải đãi võ trấu rồi sàng sãi trấu,đây là cuộc sàng sãi THỨ BA như đã là người được vào cửa thánh, phãi đãi những cái tâm phàm dứt sạch thành hạt ngọc để giúp đời tu,ai không trọng hạt ngọc,hạt minh châu trời cho thì đói, khổ như người đã vào cửa thánh,được sàng sãi kỷ một lần nữa đã trở thành hạt ngọc trong thế gian.
    Đã được lột võ trở thành hạt ngọc, ĐÂY GỌI LÀ ĐẮC THÀNH CHÁNH QUẢ A LA HÁN, thành hạt gạo sẽ hy sinh thân mình giúp cho chúng sanh những bữa cơm no,như những hạt ngọc phật pháp từ người tu chắc,đã thành chánh quả,nhưng cũng lắm người đã không tôn trọng hạt ngọc đó,họ chà đạp nó không thương tiếc, nhưng khi đói chính họ lại chạy đi cầu cứu để mong một bữa no.
    Không gì gian nan khổ bằng hạt lúa phải chịu sàng sãi đãi trấu ,đau và khổ,gian nan vô cùng như người tu học nếu muốn thân mình thành người hữu ích cho chúng sanh trên đường tâm linh, đạo pháp cũng phải nhảy vào dầu sôi lửa bỏng như những hạt gạo gian nan.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  8. #8
    Lục Đẳng Avatar của Dieudiem
    Gia nhập
    Nov 2011
    Nơi cư ngụ
    Đơn sơ nhà gỗ !
    Bài gởi
    13,103

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi vothuong1978 Xem Bài Gởi
    Mụi nói lời ngưỡng mộ thì dc ..nhưng đừng làm theo...vì mỗi cái đều thiếu...mà thiếu cái quan trọng..
    uh ! mụi hỉu zoi` ! mụi có thể thiền quán hơi thở, quán niệm Phật ...chứ hơn nửa thì chưa ! hjhj !
    *BI QUAN LÀ TÂM TRẠNG,LẠC QUAN LÀ Ý CHÍ !

  9. #9
    Lục Đẳng Avatar của vothuong1978
    Gia nhập
    Dec 2011
    Nơi cư ngụ
    Thánh Địa Tâm Linh
    Bài gởi
    16,168

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Dieudiem Xem Bài Gởi
    uh ! mụi hỉu zoi` ! mụi có thể thiền quán hơi thở, quán niệm Phật ...chứ hơn nửa thì chưa ! hjhj !
    ờ mụi ngoan!!!!! cố gắn thời gian gần hết rồi...........rose4
    Thị Trấn Về Đêm...

  10. #10

    Mặc định

    ấn chứng thiền hữu sắc vô biên xứ
    Để phân biệt hai cách tham thiền ,1= là định 1= là tuệ mà chứng trên pháp thiền của cô để mọi người dễ dàng phân biệt ,
    1= khi cô nhìn bâù trời mêng mông ,những đám mây trắng bay tạo thành nhiều hình dáng như con này hay con kia ,và vị thánh này hay vị thánh kia như cuốn hút vào ,mọi thời gian ,hay mọi thứ xung quanh không còn tác dụng đối với cô .
    Mình và nó như hòa quyện vào nhau ,mây và cô như là một bềnh bồng lơ lững ,TÂM trãi rộng như bầu trời không biên giới ,nó không có gì là ngăn trở ,thật nhẹ nhàng thật thoải mái ,an lạc không ai làm phiền mình hết và cứ thả hồn vào đó kệ mây muốn biến thành hình gì cũng được ,lúc thế này hay lúc biến thế kia .
    Đây là thiền định hữu sắc không vô biên xứ ,rồi kế đến là thiền tuệ
    -Khi đã xã định Tâm vẫn còn định trên tướng của mây ,cô ngẫm mây do tác động của gió mà biến dạng ,cũng như con người do tác động của thời gian ,mà mình cũng phải biến dạng từ trẻ rồi già ,rồi bịnh rồi chết ,cuộc sống của mình đây cũng biến lúc giàu lúc nghèo .
    Ngay trong cuộc sống hằng ngày phải bôn ba để lo toan hằng ngày ,vì danh vì lợi ,lúc lên lúc xuống ,ngẫm cho sự đời mà thấy cuộc đời nào khác những đám mây mỏng mảnh bay giữa hư không
    Vậy thiền định và thiền tuệ cùng trên một ấn tướng thiền 1= là tâm không sanh khởi 2= tâm đã sanh khởi quán chiếu nên phải phân biệt rõ hai cách thiền một cách rõ ràng
    Last edited by minh đài; 21-01-2013 at 11:58 AM.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  11. #11

    Mặc định

    Minh Đài là Ai .....
    Vô Thường Mà Thường
    Thường Mà Vô Thường

  12. #12

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    Minh Đài là Ai .....
    Minh Đài không ngoài chỉ là minh đài ,không ngoài cái ta
    Last edited by minh đài; 21-01-2013 at 12:06 PM.
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  13. #13

    Mặc định

    vẫn chưa được .... hà hà .....
    Vô Thường Mà Thường
    Thường Mà Vô Thường

  14. #14

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    vẫn chưa được .... hà hà .....
    Minh cho biết cái cao minh??
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  15. #15

    Mặc định

    Quá quá hay!
    Tiếp nửa đi cô MĐ.
    Rất thích những bài chia sẻ cảm nhận hơn là những bài lý thuyết suông.
    Ngộ

  16. #16

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    vẫn chưa được .... hà hà .....
    làm gì có cái bất di bất dịch,
    làm gì có cái nào khuôn mẩu cho cái nào
    đúng chổ nầy thì có thể sai chổ kia
    trẻ con thì ăn kẹo người lớn thì uống rượu
    vậy thì được và chưa được có thể lập được sao?
    MỘT LÀ TẤT CÃ
    TẤT CÃ LÀ MỘThttp://www.thegioivohinh.com/diendan/images/editor/menupop.gif

  17. #17

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi nguyen_thangub Xem Bài Gởi
    Quá quá hay!
    Tiếp nửa đi cô MĐ.
    Rất thích những bài chia sẻ cảm nhận hơn là những bài lý thuyết suông.
    cô sẽ viết tứ diệu đế qua thiền tuệ minh sác của cô ,mong sẽ chia những cái thấy này đem đến lợi ích cho hết thảy mọi người ,đang tu học .
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  18. #18

    Mặc định

    Sự hình thành danh sắc
    Trước tiên ta quan sát muôn loại cây cỏ ,khi vũ trụ hình thành ,nhờ chân khí âm ,dương ,kết hợp lửa ,gió ,đất ,và nước ,thì từ loài nhỏ ,như thảo , mộc ,hình thành rể ,tự nó biến hóa có sắc tướng rồi ,nó có thọ cảm của loài cây cỏ , nó nhận biết nơi phù hợp sinh tồn ,rể nó vươn tới nơi mà nó thấy dễ phát triển ,nó nhỏ như vi sinh trong vũ trụ ,cũng tìm nơi để phát sinh ,cây cỏ cũng có sự sống ,rể mọc thành mầm , mầm lên cao cao thành cây non ,cây non thành cây cao ,tàn của nó tỏa ra rộng ra ,để hít thở qua lá ,rồi nó sanh ra hoa ,hoa ra quả , quả già tạo ra hạt ,hạt già tạo ra giống ,đó là một tiến trình của vũ trụ ,.
    ĐẦU của cây chúi xuống để ăn những tạp chất từ đất mà sống ,vậy cây cũng đã có tạp chất đất mà lớn lên ,lá của cây là phổi nó hít mọi ko khí (gió )và trao đổi chất qua ánh sáng mặt trời (lửa)nếu là cây non nó sẽ hấp thụ ít ,những tạp chất trong vũ trụ ,nó cũng thọ cảm vui ,khi biết có chỗ phù hợp sinh sôi , nó cũng buồn khi nơi đó ko đúng chổ ,nếu ko đúng chổ nó ủ rủ ,buồn héo và chết đi ,còn phù hợp nó sẽ sinh trưởng tốt ,khi đã lớn tự kết hoa ,tạo trái ,bền bỉ ,thành trái già có hạt giống chắc để gieo giống , như ta tu bền bỉ cũng tạo ra tâm bồ đề chắc , và đi gieo hạt giống như trái già đó vậy
    Vậy sắc trần do hợp duyên mà hình thành ,khi có mặt trời rọi chiếu ,khí nóng bao trùm vũ trụ ,
    Ban đênm lại có mặt trăng chiếu làm hài hòa mát dịu ,đất là nơi chúng sang đang bám trụ ,bất cứ nơi nào trên đất mà có đủ ánh sáng lọt vào ,có hơi nước ,có gió kèm với ánh sáng thì nơi đó có sự sống
    từ loài hai chân cho đến loài bốn chân ,loài noãn sanh cho đến loài có tư tưởng hay loài không có tư tưởng đều do hợp duyên kết cấu mà hình thành ,tất cả muôn loài có chung một pháp tánh đó là LỤC CĂN ,
    Lục căn gồm nhãn căn ,nhỉ căn ,thiệt căn ,tỷ căn ,thân và ý 6 căn này chạm vào lục trần ,tiếp xúc lâu ngày mà sanh thức ,từ thức mà sanh thọ cảm
    Con nít cũng có cái thọ của nó đó gọi là tưởng mà thôi ,khi mình cho nó ăn một thứ gì đó như bánh ngọt ,hay chua ,nó cũng có một cảm nhận của vị đó ,nhưng nó không biết đó là gì .
    Nhưng nó vẫn phát sanh được cảm nhận ưa thích ,cảm thọ của nó ,
    Nó biết vòi vỉnh ,đòi những thứ mà nó cảm nhận được những cái nó ưa thích nhưng nó không biết những thứ đó là gì cả ,nó chỉ có cái tưởng mà thôi
    Khi đứa trẻ lớn hơn một chút do học hỏi mà nó biết được đây là cái bánh ,đây là quả cam ,đây là hình tròn ,đó là trong đầu của nó đã phát sanh được ấn tượng ,cái gì mà nó thích ,cái gì làm nó ưa ,cái gì làm nó yêu thương ,ghét .
    Đối với một đứa trẻ lên sáu ,thì mọi hình thành trong nhận biết càng lúc càng rõ ,nó biết màu nào nó ưa nhìn màu nào nó không ưa người nào thân thuộc người nào không thân thuộc ,cái gì nó nhìn hoài thành thuộc thì nó cho đây là cái nó cần .
    Đối với một đưa trẻ lớn hơn ,nó nhìn phân biệt rất rõ ràng hơn ,nó biết cái nào nó đáng nhìn thì nhìn cái không đáng nó không thèm nhìn, và cách nhìn của nó sâu hơn của một đứa trẻ chưa có cái biết .
    Thấy và nghe đều từ lục căn này chạm với lục trần mà sanh thức giác ,nên gọi là nhãn thức ,nhỉ thức ,tỷ thức ,vị thức ,và ý thức
    Thức là cái biết do nhiều lần va chạm ở trong lục trần mà sanh nhiều kinh nghiệm trở nên già dặn theo từng thứ lớp đi lên

    Tiếp theo Khổ từ đâu mà hình thành
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

  19. #19

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi nguyensanh Xem Bài Gởi
    làm gì có cái bất di bất dịch,
    làm gì có cái nào khuôn mẩu cho cái nào
    đúng chổ nầy thì có thể sai chổ kia
    trẻ con thì ăn kẹo người lớn thì uống rượu
    vậy thì được và chưa được có thể lập được sao?
    có thể lập được ..... cái luôn luôn đủ ..... ai đã rõ tự tánh bình đẳng là hằng biết được cái cầm ..... hà hà ..... từ thể khởi dụng ..... dụng trở về thể ..... thể dụng thông suốt không hai , pháp bất nhị môn thì sẽ tự rõ thôi hà ..... chỗ tự tâm hiện lượng đó hà .....
    Vô Thường Mà Thường
    Thường Mà Vô Thường

  20. #20

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi mysterious Xem Bài Gởi
    có thể lập được ..... cái luôn luôn đủ ..... ai đã rõ tự tánh bình đẳng là hằng biết được cái cầm ..... hà hà ..... từ thể khởi dụng ..... dụng trở về thể ..... thể dụng thông suốt không hai , pháp bất nhị môn thì sẽ tự rõ thôi hà ..... chỗ tự tâm hiện lượng đó hà .....
    Đây chỉ mình biết pháp chỉ có một không hai ,không còn cái chổ để phân biệt ,nhưng khi muốn diễn giải để đạt đến nhất mà không còn cái gọi là nhất môn nữa nghĩa là vô ,
    Vô và hữu cũng không còn là để thuyết ,nó chỉ là do tưởng mà sanh pháp ,cũng là giả lập văn tự ,nên buông luôn .
    M Đ vì thế hệ sau mà mới có văn tự lý thuyết chứ đâu còn lý thuyết nào để nói .và trong TÂM không còn 1 pháp nào để bám nữa
    rose4rose4 Chúc mọi người vạn sự bình an

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. HIỆN TƯỢNG THÍCH THÔNG LẠC
    By phanquanbt in forum Đạo Phật
    Trả lời: 124
    Bài mới gởi: 13-02-2013, 01:12 AM
  2. VÔ NGÃ
    By phanquanbt in forum Đạo Phật
    Trả lời: 4
    Bài mới gởi: 07-12-2012, 08:48 PM
  3. Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 23-04-2012, 06:33 AM
  4. Dành cho người hữu duyên
    By nguoi_mu in forum Đạo Phật
    Trả lời: 101
    Bài mới gởi: 24-04-2011, 07:54 PM
  5. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 29-03-2011, 07:05 PM

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •