kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Ðề tài: Có thế giới bên kia

  1. #1

    Mặc định Có thế giới bên kia

    Sưu tầm

    Có thế giới bên kia và tôi đã được gặp

    Lời mở đầu

    Cuốn sách "Những người chết nói với chúng ta" phát hành mùa hè năm 1988 (nhà xuất bản Félin, Pháp), bàn về những cuộc liên lạc với thế giới bên kia, như nhiều cuốn sách trước đó, có thể đã không được ai để ý. Nhưng có điều đáng ngạc nhiên, tác giả của nó là một thần học gia Công giáo: cha Francois Brune. Bị kích thích bởi một vài khám phá gần đây, ngài đã có can đảm lao mình vào một cuộc điều tra có hệ thống các chứng từ hiện hữu về những cuộc tiếp xúc với người chết. Một cuộc thám hiểm, mà từ đó ngài đã trở về với một vài mạc khải kỳ lạ, cùng với sự xác nhận những gì mà truyền thống Kitô giáo trình bày như là xác thực nhất. Qua cuộc nói chuyện với Michel Leclercq (phóng viên báo Paris Match), ngài đã bình luận về cuộc gặp gỡ giữa đức tin với kinh nghiệm thiêng liêng ấy như sau:

    I. Cuộc sống mai hậu của con người đang buộc ta phải thừa nhận như một hiển nhiên khoa học

    Paris Match: Cha là linh mục. Cách đây vài năm, cha đã xuất bản một tác phẩm thần học đồ sộ đáng nhớ ("Ðể con người trở thành Thiên Chúa", Ymca Press). Nhưng nay, với tác phẩm mới này, "Những người chết nói với chúng ta", cha lại quan tâm đến thuật chiêu hồn, tạm gọi như vậy. Nguyên cớ nào đã thúc đẩy cha?

    Francois Brune: Ðúng thế, tôi quan tâm đến một vài hình thức liên lạc với người chết. Anh cứ an tâm: vẫn luôn là thần học. Thật vậy, tôi cảm thấy ngày nay, ngay cả một nhà thần học cũng không còn được quyền bất biết một vài khám phá gần đây. Quả thế, cho đến lúc này, cuộc sống mai hậu của con người vẫn còn là một tín điều, người ta có thể tin hoặc không tin nó. Hiện tại, chính cuộc sống này đang buộc ta thừa nhận điều đó như một hiển nhiên khoa học. Anh muốn tôi đừng quan tâm sao được!

    Paris Match: Cha nói là “một hiển nhiên khoa học”. Cha khẳng định như thế dựa trên cái gì?

    Francois Brune: Trên hàng ngàn sự kiện hiển nhiên đã được xác nhận: Người chết nói với chúng ta.

    Anh sẽ bảo tôi: “Điều ấy chả mới mẻ gì. Từ bao thế kỷ, những kẻ thực hành thuật chiêu hồn (thông linh học) vẫn cho rằng mình đã có nhiều cuộc tiếp xúc với những người chết. Có điều là hiếm khi thấy sự chính xác khoa học trong đó. Vì mặc dầu nhiều ông đồng bà cốt hiển nhiên thành thật, vẫn luôn có thể tồn tại một mối hoài nghi: chẳng ai biết được các giới hạn mang tính chủ quan của con người.”

    Nhưng đây mới là điều mới mẻ: hiện nay, các kẻ đã chết chẳng còn cần người trung gian để ngỏ lời với ta. Họ thực sự dùng máy móc, như máy ghi âm từ tính hoặc thậm chí cả máy thu hình mà chúng ta đã phát minh. Còn gì khách quan hơn một cái máy? Các chuyên gia giỏi nhất trên thế giới đã quan tâm đến các thí nghiệm này; trong các điều kiện thực hiện những thí nghiệm ấy, không thể nào có gian lận được. Và câu kết luận bắt buộc là: chính những người chết đang nói với chúng ta.

    Cho đến lúc này, các sự kiện như thế ít được biết đến tại Pháp. Tuy nhiên, hầu như khắp nơi, việc nghiên cứu đã được tổ chức rồi. Người Ðức đi trước khá lâu, ngay từ 1981, hơn ngàn người đã quan tâm đến điều đó. Người Anh và người Mỹ đến lượt mình cũng bắt đầu và dần dần lấp đầy sự chậm trễ của họ. Người Ý thì rất tích cực. Ngay cả người Nga cũng nhảy vào! Trong các nước ấy, nhiều phòng thí nghiệm thực sự đã được dựng lên: người ta thực hiện ở đó hàng chục nghìn cuộc ghi âm.

    Paris Match: Nội dung các cuộc ghi âm đó là gì?

    Francois Brune: Ta hãy lấy ví dụ một trong những nhà tiên phong của loại nghiên cứu này, cha Léo Schmid, quản xứ Công giáo một thành phố nhỏ tại Thụy Sĩ. Cho đến khi chết bất thần năm 1976, ngài đã nhận được khoảng 12.500 tiếng nói ngỏ với ngài bằng thổ ngữ của ngài cũng như bằng tiếng Ðức, Latin, Pháp hoặc Anh. Nhiều kẻ đối thoại với ngài đã xưng tên, ngoài ra, ngài còn có thể dần dần nhận ra giọng nói của họ. Mỗi một kẻ trở đi trở lại không ngừng trên cùng những đề tài, chuyển động trong một thế giới đầy những bận tâm thuộc riêng bản thân họ. Ví dụ "người anh em Nicolas" liên tục nhắc lại sự cần thiết phải cầu nguyện và giữ an bình nội tâm. Lắm kẻ khác xin cầu nguyện cho chính mình. Nhiều người tìm cách gây lo lắng: "Chúng tôi đến để tiêu diệt". Một giọng nói rên rỉ: "Chúng tôi đang bị trừng phạt dày vò!" trong lúc nhiều người khác nữa tuyên bố: "Nơi đây luôn luôn tràn đầy ánh sáng" và bảo mình đang ở trong "một tình trạng hạnh phúc, vui tươi, nhảy múa, hớn hở".

    Nói cho đúng, chúng ta chỉ mới ở bước đầu nghiên cứu. Những thời gian đầu, xem ra mối bận tâm lớn của người quá cố là bắt chúng ta thừa nhận rằng việc thông giao thực sự đã được thiết lập. Ðọc nhiều sứ điệp tiên khởi này, ta có ấn tượng họ sợ ta bỏ không nghe họ nữa. Sau đó, họ đã tìm phương cách cải tiến hệ thống liên lạc, bằng cách cho ta nhiều lời khuyên về mặt kỹ thuật. Ðặc biệt, mối bận tâm lớn lao của họ là làm cho mình được nhận ra, là chứng tỏ danh tính của mình bằng cách gợi lại nhiều chi tiết cá nhân, nhiều bí mật nho nhỏ trong đời sống mà chỉ có người trao đổi với họ mới biết được. Chắc hẳn tham vọng lớn lao của họ cũng chỉ là làm cho ta thừa nhận điều mà nhiều người trong chúng ta không còn muốn tin: các nghĩa địa đều trống rỗng và cái chết chỉ là một cuộc vượt qua đến nơi mà mỗi người chúng ta được kêu mời gặp lại chính mình với tất cả nhân cách, cá tính, với mọi kỷ niệm của mình.

    Paris Match : Cha vừa mới nói tới cái chết. Ðiều đó dẫn chúng ta đến "những kinh nghiệm cận tử" rất nổi tiếng mà cha bàn tới nhiều trong cuốn sách của cha.

    Francois Brune : Tại sao tôi lại chẳng bàn đến chúng? Ðây cũng vậy, vẫn là những sự kiện hoàn toàn không thể nghi ngờ, được kiểm chứng hàng ngàn lần bởi nhiều nhà khoa học rất đáng tin. Chắc anh còn nhớ sự thành công tại Pháp, cách đây khoảng 10 năm, của cuốn sách nổi tiếng do bác sĩ Raymond Moody viết: "Cuộc sống sau cuộc sống". Vị bác sĩ người Mỹ này thuật lại trong đó lời chứng của hàng chục, hàng trăm người mà sau khi bị coi như đã chết và được hồi sinh, kể rằng họ đã trải qua một kinh nghiệm phi thường trên mọi phương diện. Ðến nỗi phải thừa nhận một kết luận: nếu cái chết quả là như thế thì đó chẳng phải là điều kinh khủng, trái lại, là một sự diệu kỳ.

    Chắc anh nghĩ rằng một cuốn sách như thế chỉ có thể gây công phẫn cho một vài giới tôn giáo hay khoa học. Ðúng vậy, nhiều nhà bác học - đặc biệt tại Hoa Kỳ - đã bắt tay vào việc để tìm cách chứng minh rằng chớ nên quan tâm tới những chuyện tầm phào như thế. Nhưng các nghiên cứu càng mở rộng thì các chứng cứ càng gia tăng và sự vững chắc của chúng càng hiện rõ. Một nhà báo người Pháp, Patrice van Eersel, trong một cuốn sách hấp dẫn nhan đề "Nguồn bí ẩn" (Grasset xuất bản), kể lại làm sao mà những kẻ hoài nghi nhất đã lần lượt buông khí giới, "kinh nghiệm cận tử" đúng là có thật và các chi tiết kể lại bởi những ai đã từng trải qua đều phải được đánh giá một cách nghiêm chỉnh. Thế mà tất cả những cái ấy đều khiến thần học gia là tôi say mê. Vì tôi tìm thấy trong các kinh nghiệm cận tử một mô tả lạ lùng, cho thấy những bước đầu tiên vào cõi bên kia sẽ như thế nào đối với mỗi người chúng ta. Và cùng với nó là những điểm ám tàng, vốn hoàn toàn hòa hợp với tất cả những gì ta đã có thể biết được nhờ nhiều nguồn thông tin khác, như các băng từ ghi âm, các liên lạc khác với thế giới bên kia, cũng như chứng từ của những nhà thần nghiệm vĩ đại nhất trong hoặc ngoài Kitô giáo. Vả lại, chính sự hòa hợp hoàn toàn giữa các nguồn tài liệu khác nhau như thế, theo tôi, mới làm nên bằng cớ tốt nhất về tính xác thực của các mô tả nói trên.

    Paris Match: Vậy các kinh nghiệm mà cha vừa nói chứng minh có một thế giới bên kia và có linh hồn?

    Francois Brune: Khác với những gì các nhà thần học giảng dạy hiện nay, không nên quan niệm linh hồn như là hoàn toàn phi vật chất. Theo truyền thống cổ xưa nhất (mà chúng ta cũng gặp lại như vậy), linh hồn là một thân xác khác, một loại bản sao khác của thân xác chúng ta, một bản sao sống động và có ý thức, có cùng một nhân cách (cá tính), nhưng được cấu tạo bởi một thứ vật chất tinh tế hơn nhiều, mà ta thường không thể tri giác ở trần gian này, vì nó nằm trong một phương chiều khác hẳn. Anh hãy nghĩ tới một máy thu thanh được chế tạo để chỉ nhận các sóng dài, với nó, anh hoàn toàn không thể bắt băng tần FM! Các làn sóng FM tuy có đó, nhưng máy thu thanh của anh không đáp ứng được. Như thế, người ta có thể bắt đầu hiểu làm sao thế giới các "hồn ma" có thể hiện diện với thế giới vật chất chúng ta, song trừ những ngoại lệ, chúng ta vẫn không tri giác được chút nào.

    II. Linh hồn sau khi chết vẫn tiếp xúc với thế giới vật chất

    Paris Match: Vậy linh hồn sau khi chết vẫn tiếp xúc với thế giới vật chất. Làm sao nó nhận ra mình không thuộc thế giới này nữa?

    Francois Brune: Việc tách rời khỏi thân xác làm nên cảm giác đầu tiên của tất cả những ai đã có "kinh nghiệm cận tử": họ thấy mình ở ngoài thân thể vật chất của mình mà không hiểu cái gì đã xảy đến cho mình. Văn chương bàn về các kinh nghiệm cận tử đầy dẫy những giai thoại về đề tài này, và một vài giai thoại còn rất hài hước, kỳ lạ. Ví dụ câu chuyện của George Ritchie, được chính ông kể lại trong cuốn "Trở về từ cõi bên kia" (Robert Laffont xuất bản).

    Khi ấy, ông ở trong quân đội và đang sửa soạn nghỉ phép. Nhưng do một cơn sốt, ông ngất xỉu và người ta tưởng ông đã chết. Thình lình giữa đêm khuya, ông thức dậy trong một căn buồng nhỏ xíu, nơi người ta đã cách ly ông. Ông đã ra khỏi thân thể mình mà chẳng hề hay biết. Ông kể: "Tôi giật mình nhổm dậy. Mấy giờ rồi? Tôi nhìn cái bàn đầu giường, nhưng người ta đã lấy mất đồng hồ báo thức. Ðồ đạc của tôi đâu?... Chết cha! Xe lửa! Mình đã hụt xe lửa! Tôi nhảy xuống giường kinh hoảng, tìm áo quần mặc. Bộ đồng phục của tôi không nằm trên ghế. Tôi nhìn dưới, nhìn sau. Cái xắc cũng chẳng còn. Họ đã có thể để nó đâu ngoài cái tủ hốc tường này? Dưới gầm giường có lẽ? Tôi xoay một vòng và bỗng lạnh cứng: có ai đó nằm trên giường tôi...!". Ritchie vội phóng ra để xem áo quần có giữ nơi người gác không. Chỉ sau đó khá lâu, ông mới hiểu rằng thân thể nằm trên giường là thân thể ông, vậy thì ông đã chết...

    Nhưng liền sau đó, bắt đầu giai đoạn 2 mà những kẻ suýt chết đuối thường gặp, tức là điểm lại cuộc đời quá khứ. Ðây là một cuốn phim chiếu nhanh vô cùng, nhưng trong đó, các chi tiết dù nhỏ nhặt nhất cũng hiện lên một cách hết sức rõ rệt. Duy có điều là buổi chiếu phim này không mang tính trung lập, vì cùng lúc, một câu hỏi đau nhói đặt ra cho đương sự: cuộc đời này, ngươi đã sống ra sao? Và chính lúc ấy, đương sự nhận thấy bậc thang giá trị của thế giới bên kia ít giống đến độ nào so với bậc thang giá trị của thế giới chúng ta. Thành công, của cải, quyền lực chẳng là gì khi sánh với việc mở lòng ra cho kẻ khác, sánh với sự liên đới nhân loại, nói tóm lại là sánh với tình bác ái. Và thậm chí những gì ở trần gian ta có khuynh hướng xem là tội nặng có lẽ chỉ là những lỗi nhỏ so với một vài thái độ khước từ tha nhân hay khép kín trong chính mình.

    Giai đoạn thứ ba rất quan trọng: gặp gỡ ánh sáng, hay với "hữu thể ánh sáng" như nhiều người gọi. Hữu thể bí nhiệm này là gì? Ðối với vài người, đó là Ðức Kitô. Ðối với nhiều kẻ khác, đó chỉ là một trong những sứ giả của Ngài. Nhưng tất cả đều nhất trí nói đến một thứ ánh sáng rực rỡ như mặt trời, tuy vậy vẫn không làm lóa mắt; ở giữa ánh sáng đó, họ nhận ra một sự hiện diện phi thường, làm nên với tri thức và tình yêu. Ví dụ chuyện anh thợ máy người Mỹ, tên Tom Sawyer, như một nhân vật của Mark Twain, đã bị cán bởi chiếc xe anh đang sửa chữa, tất cả cuộc phiêu lưu của anh được kể lại trong cuốn "Nguồn bí ẩn". Khi kể lại kinh nghiệm của mình sau lúc trở về cuộc sống, anh không thể cầm nổi nước mắt cứ sau ba bốn câu.

    - Nhưng điều chủ yếu, anh thốt lên với một nụ cười bối rối, lại không thể nói bằng các ngôn từ.

    - Tại sao thế? Một nữ ký giả hỏi.

    - Vì đó là một cái gì mà bình thường ta không biết được trong cuộc sống.

    - Nhưng anh đã nói đến tình yêu, cô kia vặn lại, và cái đó người ta biết mà!

    - Cô thấy đây, Tom bảo, tôi say mê vợ tôi và có hai đứa con mà tôi yêu tha thiết. Vậy mà lấy tất cả tình yêu ấy ở cường độ tối đa cộng với tất cả tình yêu tôi đã cảm thấy suốt cuộc đời, cái đó chẳng làm nên được một phần trăm của tình yêu tôi đã cảm thấy khi đứng trước “ánh sáng”, một tình yêu toàn diện, vô biên.

    Và Tom Sawyer không bao giờ còn như trước nữa!

    Paris Match: Không còn như trước... phải hiểu điều đó thế nào?

    Francois Brune: Những ai từng trải qua những kinh nghiệm như thế và đã từ đó trở về thì từ nay chẳng còn có thể thấy mọi sự đời này với cặp mắt như trước. Nhưng còn hơn thế nữa. Theo nhiều cuộc nghiên cứu mới đây của người Mỹ, quả thật, hình như những ai trải qua kinh nghiệm ấy ở mức độ sâu xa nhất đều trở về với những năng khiếu mới: một sức sống lạ lùng hay có tài thấu thị, chữa bệnh.

    Paris Match: Và cái gì xảy ra sau cuộc gặp gỡ ấy với hữu thể ánh sáng? Người ta có thể đi xa hơn trong cuộc thám hiểm thế giới bên kia ấy không?

    Francois Brune: Người ta có thể đi xa hơn, thật vậy. Nhưng phải tìm các hướng dẫn viên mới. Vì những kẻ đã đi tới đó không bao giờ trở lại với cuộc đời, từ đây, chúng ta đã ở bên kia biên giới cái chết. Tuy nhiên, vẫn có nhiều hướng dẫn viên: đó là những kẻ qua đời mà đã tiếp xúc lại được với chúng ta, hoặc nhờ những bằng từ ghi âm, hoặc vì họ đã tìm được nhiều người dương gian đặc biệt nhạy cảm với tiếng nói của họ, có khả năng chuyển lại sứ điệp của họ. Thuật chiêu hồn là thế! Tôi xác tín rằng không nên phủ nhận tất cả các hiện tượng lên đồng và cầu cơ, trái lại là khác. Một vài hiện tượng kể lại trong sách của tôi có những bảo đảm chắc chắn. Hơn nữa, tôi nhận thấy các chứng từ này, trong những giai đoạn đầu, ăn khớp hoàn toàn với những gì ta đã biết được nhờ các kinh nghiệm cận tử. Và tôi thấy việc mô tả các giai đoạn sau đó, mà chúng ta sắp đề cập, tiếp nối một cách hoàn toàn.

    III. Một vài người quá cố tiếp tục sống giữa chúng ta một cách vô hình và đau khổ

    Francois Brune: Có hai nguyên tắc lớn chỉ đạo việc tổ chức thế giới bên kia. Nguyên tắc thứ nhất: mỗi kẻ qua đời được đặt ngay vào bậc (cảnh giới) tương ứng với mức độ tình yêu của mình. Nguyên tắc thứ hai: mỗi người đều được kêu gọi thanh tẩy không ngừng để làm sao luôn luôn yêu thương hơn nữa, và như thế, nâng mình lên những bậc cao hơn.

    Tôi xin giải thích. Dù gặp gỡ hữu thể ánh sáng, linh hồn không thể được biến đổi ngay nhờ một chiếc đũa thần thành một hữu thể hoàn hảo. Nó vẫn giữ nhiều di chứng do các lỗi lầm đã phạm (mặc dầu các lỗi lầm này đã hoàn toàn được tha thứ), vẫn gắn bó với một vài của cải trái đất. Chính Thiên Chúa cũng không thể cưỡng ép tình yêu của linh hồn ấy. Xin lưu ý kỹ: đây không phải là vấn đề đền tội, vì tất cả đã được tha thứ. Nhưng đây là lôgích của tình yêu: làm thế nào yêu mến trọn tình nếu người ta có con tim gắn bó chỗ khác? Và đó là tại sao các mức (cảnh giới) đầu tiên ở thế giới bên kia còn rất gần thế giới chúng ta.

    Giai đoạn đầu tiên là dành cho những ai chưa thể cất cánh. Những kẻ này tiếp tục ở giữa chúng ta - dĩ nhiên là vô hình - trong nhà chúng ta, sống như chúng ta; họ chưa thể tưởng tượng - nghĩa là ao ước - một điều gì khác. Những tay nghiện rượu kinh niên tiếp tục la cà các quán rượu, những kẻ dâm ô tiếp tục lai vãng các nơi trụy lạc. Và những kẻ, chắc hẳn nhiều hơn, đã bằng lòng với một cuộc sống tầm thường ở trần gian cũng chẳng được số phận ưu đãi hơn, ít nhất chừng nào họ vẫn còn tiếp tục thỏa mãn sự tầm thường của mình. Ðối với tất cả những người khốn khổ ấy, quá vương vấn những tục lụy trần gian, thì kỷ niệm về hữu thể ánh sáng sẽ mau chóng lu mờ. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại như một mũi gai, ngấm ngầm hành hạ họ như một niềm luyến nhớ, sẽ dần dần giúp họ gỡ mình khỏi nhựa dính trần gian mà họ đã mắc vào. Tuy nhiên cuối cùng, nếu ước vọng lưu lại dương gian này vẫn còn quá mạnh mẽ ở một kẻ đã qua đời, có lẽ sẽ xảy ra một cuộc luân hồi, đầu thai.

    Paris Match: Vậy cha tin vào việc luân hồi, đầu thai?

    Francois Brune: Tôi tin việc đó có thật, nhưng chỉ trong một vài trường hợp ngoại lệ thôi. Vả lại, nếu căn cứ vào một vài chứng từ, thì đây là một hiện tượng vô cùng phức tạp hơn người ta vẫn tưởng.

    Paris Match: Còn các "hồn ma" tiếp tục sống giữa chúng ta, tại sao ta không thấy họ?

    Francois Brune : Tôi đã bảo anh, họ ở trong một chiều không gian khác. Hay nếu anh thích, các tần số của họ khác với các với chúng ta. Vì chính chúng ta và tất cả thế giới vật chất quanh ta, như anh quá biết, chỉ được cấu tạo bằng các tần số, bằng các dao động. Tuy nhiên, đôi khi có giao thoa. Hãy nghĩ tới những chuyện ma; tôi tin các câu chuyện ấy có thể giải thích theo viễn tượng này: có lẽ có nhiều trường hợp, khi hội đủ một vài điều kiện, thì người sống có thể tri giác được kẻ chết. Trong những trường hợp khác, một vài người nhạy cảm hơn lại cho phép các hồn ma xúc tác các năng lực và ta có hiện tượng ngôi nhà ma hay ma gõ cửa chẳng hạn. Nhiều hiện tượng quỷ ám cũng có thể giải thích theo cách này. Tất cả trở thành mạch lạc, liên hệ với nhau; và nhiều tín điều lẫn truyền thống cổ xưa, vốn đã trở nên hoàn toàn nực cười trước mắt một nền khoa học duy vật tự phụ rằng giải thích được tất cả, thì nay lại tìm được ý nghĩa của chúng. Tôi nghĩ đến Saman, một tôn giáo châu Á (Chamanisme, tôn giáo của vài bộ lạc ở miền Sibêri và Mông cổ, thờ kính thiên nhiên và tin vào hồn ma người chết. Nd), Vật linh giáo châu Phi là những tôn giáo dựa trên việc tôn thờ các hồn ma và có hàng ngàn cách để tranh thủ sự che chở của các hồn này. Chung quy, đó không phải là những mê tín thiếu nền tảng, trái lại, chúng được biện minh theo cách nào đó, qua sự hiện diện đích thực của những người chết giữa chúng ta.

    Paris Match: Trong số các hồn ma, mà như cha nói, không thể cất cánh được, phải chăng có những hồn ma ta có thể xem như "yêu tinh"?

    Francois Brune: Chắc chắn. Và chính sự độc ác của họ hẳn sẽ kết án họ phải lang thang lâu dài. Tuy nhiên, họ cũng lờ mờ nhung nhớ hữu thể ánh sáng. Và ngay cả đối với họ, mọi hy vọng cứu rỗi cũng vẫn chưa mất hẳn.

    Paris Match: Vậy thì không có hỏa ngục?

    Francois Brune: Một điều xem ra chắc chắn: chẳng ai, dù xấu đến đâu, bị xô xuống hỏa ngục ngay ngày mình chết. Anh quá hiểu, sau khi "thấy lại cuộc đời" và gặp gỡ hữu thể ánh sáng, một cơ may mới được ban cho mỗi người trong ta. Nhưng nếu có những kẻ quyết liệt từ chối vận may ấy, điều gì sẽ xảy đến cho họ? Câu hỏi nghiêm trọng. Nếu phải dựa vào chứng từ các sứ giả của thế giới bên kia, tôi biết có hai câu trả lời:

    Ðối với một số, tự do của con người là tuyệt đối, ngay cả Thiên Chúa cũng không thể xâm phạm, thành thử có thể giả thiết rằng một vài hồn ma sẽ khăng khăng từ chối tình yêu cho tới cùng. Lòng nhân từ sau hết của Thiên Chúa lúc ấy hệ tại chỗ để họ rơi vào lại hư vô: đây là cái chết thứ hai mà Kinh Thánh đã nói.

    Trái lại, đối với một số khác, tình yêu cuối cùng sẽ chiến thắng mọi kháng cự, đến nỗi hết thảy, không trừ ai, kể cả Luxiphe và các thiên thần dữ, sẽ được cứu vớt. Thành thử theo giả thuyết này, chẳng có hỏa ngục, ngay cả dưới hình thức hư vô.

    Về phần tôi, tôi không dứt khoát chọn cái nào trong hai khả năng đó.

    Paris Match: Giờ ta hãy trở lại với những người quá vãng khác. Những kẻ cất cánh được khỏi thế giới chúng ta, họ đi đâu?

    Francois Brune : Trước tiên, họ nằm ở "mức độ thứ nhất". Ðây là một thế giới khác, nhưng giống thế giới chúng ta đến từng chi tiết. Nơi đó, những người quá vãng gặp lại các thói quen của họ, với một cuộc sống sánh được với cuộc sống họ đã trải qua trên dương gian. Nhưng rồi điều đó không đủ cho họ nữa, họ cần một cái gì khác, một lối sống khác phù hợp hơn với tình yêu mà họ ngày càng cảm thấy bị đòi hỏi. Thế nên họ từ bỏ tiện nghi của mình để cố gắng giúp các linh hồn khác ít tiến bộ hơn mình, hoặc còn đi xuống dương gian hầu giúp đỡ cho người trần thế. Và rồi từ thanh tẩy này sang thanh tẩy khác, từ tiến bộ này sang tiến bộ khác, họ bắt đầu một cuộc siêu thăng không bao giơ ngưng nghỉ.

    Vài "sứ giả" đã chứng tỏ điều đó một cách đáng kinh ngạc. Ví dụ Roland de Jouvenel, con trai của Bertrand de Jouvenel - triết gia thời danh và Marcelle de Jouvenel - tiểu thuyết gia và ký giả. Roland mất ngày 2-5-1946, lúc chưa được 15 tuổi. Mẹ cậu thoạt tiên thất vọng. Cho đến lúc ấy, bà không hành đạo, nhưng rồi bà bắt đầu cầu nguyện. Bấy giờ, bà bắt đầu cảm nhận thấy ảnh hưởng huyền bí của đứa con chung quanh mình. Cho đến ngày bà cảm thấy bị thúc đẩy phải cầm lấy giấy bút (hôm đó là 24-10-1946). Một cơn rung nhẹ chạy qua bàn tay bà và các dòng chữ bắt đầu xuất hiện: sứ điệp thứ nhất của Roland. Ban đầu, các sứ điệp ấy gởi đến mỗi ngày, rồi cách quãng dần cho đến buổi cuối cùng là hôm 16-2-1969. Thành thử trong hơn 22 năm trời, người ta có thể theo dõi sự tiến bộ thiêng liêng của Roland, một sự tiến bộ chóng mặt thật sự mà chỉ có tiến bộ của những nhà thần nghiệm vĩ đại nhất mới giúp ta hiểu nổi. Người ta cảm thấy anh hớn hở đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Cứ mỗi một lần, anh lại có cảm tưởng đã đến đích: "Xong rồi má ơi, con đã trút bỏ cái vỏ cuối cùng của con!" Nhưng cũng mỗi lần như thế, nhiều cuộc thanh luyện mới lại giúp anh tiến bộ hơn nữa. Ví dụ sau 5 năm, anh nói với mẹ mình: "Ðừng tìm cách hình dung tình trạng con đang ở... Thân thể con thực không còn hình dáng và quanh mình, con chỉ còn thấy vô biên trong vô biên".

    Quan niệm "tiến bộ không ngừng trong tình yêu" như thế thật sự khá xa lạ với đầu óc phương Tây của chúng ta. Chính tôi ngày xưa cũng đã nghĩ rằng một thời gian ở luyện ngục, dù ngắn đến đâu, vẫn có thể đủ để thanh luyện linh hồn. Sau đó, alê hấp, lên thẳng tầng trời thứ bảy. Giờ đây, tôi bắt đầu hiểu chính Thiên Chúa cũng không thể làm phép lạ đó, tức là hoàn toàn mở tung một linh hồn mà Ngài đã tạo dựng, có tự do để đón nhận tất cả tình yêu Ngài cống hiến cho nó. Ðiều đó chỉ có thể làm từ từ. Tôi cũng xin thêm rằng vì tình yêu của Thiên Chúa là vô biên, nên quá trình ấy chẳng bao giờ chấm dứt. Truyền thống kỳ cựu của Kitô giáo Ðông phương đã không khi nào lãng quên chân lý đó, theo gương thánh Grêgôriô thành Nysse, người đã nói ngay từ thế kỷ 4: "Chúng ta sẽ đi từ khởi điểm này đến khởi điểm kia, qua những bước đầu chẳng bao giờ chấm dứt!"

    IV. Vatican đã khuyến khích các nghiên cứu về việc ghi lại những tiếng nói của thế giới bên kia

    Paris Match: Tất cả chuyện đó gây chóng mặt thực sự. Dẫu sao, vẫn còn vấn đề là các chứng từ mà một linh mục công giáo như cha dựa vào để khẳng định, đâu phải tất cả đều rất... công giáo. Hình như Giáo Hội vẫn luôn ngờ vực những kẻ cho rằng mình trò chuyện được với các hồn ma, coi như bệnh dịch!

    Francois Brune: Sự việc không đơn giản như thế, vì có nhiều điều phải nói về vấn đề này. Trước tiên, hãy phân biệt các loại bằng chứng khác nhau. Về các kinh nghiệm cận tử, trước hết, tôi không tin rằng Giáo Hội đã có lúc nào đó tỏ ra dè dặt; vì dầu sao, đây chẳng phải là gì khác ngoài những cuộc điều tra có tính khoa học, phần lớn được các bác sĩ thực hiện nơi những kẻ hồi sinh.

    Về các cuộc ghi âm bằng băng từ thì cũng có điều lạ là Giáo Hội vẫn dè dặt không lên tiếng gì. Ai cũng biết người tiên phong trong công cuộc khảo cứu này, Friedrich Jurgenson, mặc dầu không theo đạo, vẫn rất thân cận với Vatican và đã thực hiện nhiều công trình khác nhau cho Tòa thánh. Ông đã có cơ hội trình bày cho Ðức giáo hoàng Phaolô VI các khám phá đầu tiên của ông và điều đó đã chẳng ngăn cản vị Giáo hoàng này ban thưởng cho ông huân chương thánh Gregerio. Năm 1970, Vatican còn đi đến chỗ lập một ghế giảng sư Siêu tâm lý học. Cũng năm ấy, nhóm chuyên viên trình bày các bằng chứng tiếng nói từ thế giới bên kia tại một hội nghị, đã được Vatican chính thức khuyến khích tiếp tục nghiên cứu! Từ thời ấy, nhiều giáo sư đại học Công giáo đã theo dõi sát sao các công trình của nhiều nhóm chuyên viên, mà như tôi đã nói, vẫn tiếp tục ghi lại tiếng nói từ thế giới bên kia. Theo như tôi biết, đã chẳng có ai tìm cách ngăn cản họ.

    Còn lại các bằng chứng khác được thu thập nhờ lên đồng hoặc cầu cơ, những phương pháp vốn trực tiếp thuộc về thuật chiêu hồn. Ở đây, tôi phải công nhận là các cấp giáo quyền, mà ngay từ thời Kinh Thánh, đã luôn tỏ ra rất ngờ vực - nếu không muốn nói mạnh hơn - đối với các thực hành này. Ðiều đó không có nghĩa là Giáo Hội chủ trương cấm đoán mọi cuộc tiếp xúc với các hồn ma. Ngược lại, Giáo Hội thường khuyến khích việc đó, ví dụ khi yêu cầu ta cầu nguyện cho người chết hay khi cho phép ta tin vào các cuộc hiện ra của Ðức Mẹ hay của các thánh. Nhưng Giáo Hội vẫn muốn giữ quyền kiểm soát. Phải chăng vì muốn nắm một độc quyền nào đó? Có lẽ. Nhưng đấy cũng là sự ngờ vực chính đáng trước vô số bằng chứng, trong đó ta có thể tìm thấy tất cả, cái tốt nhất cũng như cái xấu nhất.

    Ở đây, cho phép tôi kể lại một giai thoại. Chuyện này xảy ra tại Anh, tháng 5-1959. Một nhà khảo cứu đang ở trong tư thất của một ông đồng tại Luân đôn để ghi âm lời của ông này thì thình lình, một giọng khác chen vào: "Xin chào tất cả các quý vị, đức cha Lang đây!" Ðức cha Lang là một cựu Tổng giám mục ở Cantorbéry, mất từ năm 1945. Tiếng nói xem ra phát xuất từ bên phải ông đồng, cách đầu ông ta khoảng một mét. Lúc đầu chậm rãi và khó khăn, dần dần trở nên mạnh mẽ và lưu loát. Tại sao vị Tổng giám mục lại mất công như thế? Ðể đọc lên một sứ điệp, trong đó ngài nêu bật giá trị lẫn các nguy cơ của thuật chiêu hồn! Ðúng là ngài, ít nhất đúng là giọng nói ngài. Tất cả những ai từng biết Ðức cha Lang và sau đó được nghe băng ghi âm này đều có cảm tưởng nhận ra giọng nói của vị giám mục. Dẫu sao, đây hoàn toàn là lập trường của tôi: phải thừa nhận giá trị cũng như những nguy hiểm của thuật chiêu hồn.

    Paris Match : Nhưng nếu thế giới bên kia kỳ diệu như cha bảo, tại sao có nhiều nguy hiểm khi tiếp xúc với nó?

    Francois Brune : Tôi cũng đã bảo anh, có nhiều người quá vãng ít tiến triển, không cất cánh nổi khỏi thế giới chúng ta. Và ngay giữa họ, vẫn có nhiều kẻ ta có thể thẳng thắn coi như ác tà. Thế mà những người chết ta tiếp xúc dễ nhất lại chính là các hồn ma ấy, phần lớn họ vẫn tiếc nuối cuộc sống trần gian và chỉ có một ước vọng là chia sẻ nó với ta bằng mọi cách. Khi tiếp xúc với họ, ta hé mở cho họ cánh cửa linh hồn mình, đôi khi cả cánh cửa thể xác mình, đến nỗi có thể dẫn tới những hiện tượng ma ám thực sự. Tất cả mọi phương tiện tiếp xúc với thế giới bên kia đều có loại nguy hiểm trên. Ngay các cuộc ghi âm băng từ cũng vậy: cứ nghe mãi tiếng nói của kẻ đã chết, người ta phát triển dần dần một vài khả năng đồng bóng và rốt cục thường là nghe được trực tiếp các tiếng nói đó, chẳng cần qua trung gian một máy ghi âm nào cả. Lúc đó, các tiếng nói ấy đi đến chỗ theo đuổi anh ngày đêm, đôi lúc trở thành đe dọa, dẫn tới việc gây nên nhiều nỗi lo âu khủng khiếp: một cơn ác mộng thực sự vốn có thể đẩy những người yếu đuối nhất tới tự tử. Cầu cơ cũng có mối nguy gây ra các hiện tượng tương tự. Tôi xin lặp lại: dẫu phương thức tiếp xúc với thế giới bên kia là gì, thì điều đó vẫn luôn luôn nguy hiểm.

    Ngoài ra, cho dẫu các hồn ma ta tiếp xúc có dịu hơn chăng nữa, như những hồn ma đã có thể đạt đến bậc thứ nhất ta vừa nói lúc nãy, thì vẫn phải luôn quan tâm đề phòng. Dĩ nhiên không còn nguy hiểm thực sự, vì các hồn ma ấy chẳng muốn điều ác, nhưng các thông tin họ chuyển lại chớ nên luôn tin là thực. Một số chưa thoát khỏi vài định kiến, vài sai lầm nào đó mà họ đã công khai bày tỏ khi còn sống. Và dẫu sao, thế giới bên kia, như bây giờ anh đã biết, vô cùng phức tạp. Mỗi một chứng nhân chỉ có thể kể lại những gì mình đã thấy, ngang với mức độ thiêng liêng của mình. Thế mà rõ ràng còn lâu họ mới thấy tất cả. Chứng nhân ấy có lẽ tưởng mình đã đến cửa tầng trời thứ bảy, trong lúc mới ở những bước đầu chập chững của tình yêu...

    Tất cả các tường thuật đó có đủ để khiến ta từ chối mọi tiếp xúc với thế giới bên kia chăng? Ðâu phải vì trong thế giới chúng ta có lắm kẻ khó giao du hay ít lôi cuốn mà ta đi đến chỗ từ chối mọi giao thiệp với đồng loại, dĩ nhiên chúng ta sẽ chọn lựa. Cũng vậy, trong thế giới bên kia, có lắm người đầy những chuyện kỳ diệu để nói với ta; quả là thiệt thòi nếu không quan tâm tới họ. Chớ nên để cho các nguy hiểm thực sự của một vài cuộc tiếp xúc đó khiến ta bỏ đi những ích lợi lớn lao mà nhiều người khác có thể mang lại cho ta được.

    Paris Match: Vậy Giáo Hội hẳn nhìn các hiện tượng này với ít ngờ vực hơn?

    Francois Brune: Nói cho đúng, Giáo Hội vẫn năng tiến hành như thế. Một vài nhà thần học lớn mà ngày nay mọi người đều tôn kính cũng đã là những ông đồng bà cốt vĩ đại. Tôi nghĩ đến thánh nữ Anna Maria Taigi chẳng hạn, một bà mẹ của gia đình đã sống ở Roma đầu thế kỷ qua. Ðây là một người đàn bà rất thánh thiện, nhưng cũng có một khả năng thấu thị hết sức phi thường. Thật thế, bà thường xuyên thấy gần mình có một quả cầu ánh sáng, chói lọi hơn mặt trời nhiều lần, nhưng không làm bà bị thương tổn thị giác. Vùng trung tâm của quả cầu làm thành một vòng tròn, bao quanh bởi một triều thiên gai. Trong các tia sáng bên ngoài vòng tròn ấy, bà thấy toàn bộ những gì bà muốn biết: quá khứ, hiện tại, tương lai của chính bà, của Ðức Giáo hoàng, của Rôma và nhiều xứ xa hơn. Tất cả hiện ra cho bà trong từng chi tiết nhỏ nhặt. Vì vậy mà hàng giáo sĩ Roma, đứng đầu là Ðức Giáo hoàng và các Hồng y, không kể nhiều vị thánh đương thời, đã chẳng ngần ngại cho người đến xin bà ý kiến.

    Còn cha xứ Ars (thánh Vianê) nữa! Tiểu sử của ngài đầy dẫy những biến cố phi thường. Chẳng hạn, ngài có tài thấu thị và đêm nào cũng phải vật lộn với quỷ dữ.

    Gần đây hơn, có trường hợp của một nữ tu người Pháp, mẹ Yvonne-Aimée de Malestroit, người vừa được cha R. Laurentin nói đến trong một cuốn sách tuyệt vời (nhà xuất bản Oeil). Nữ tu sĩ này là một nhà thần học thực sự, bà cũng có những khả năng thấu thị và phân thân (có mặt ở nhiều nơi đồng thời) làm ta ngơ ngác, đến nỗi lúc đầu, Vatican lo sợ, cấm người ta không được nói gì về bà. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ lại, các cấp giáo quyền đã hiểu rằng các hiện tượng lạ lùng này chả hề gây hại cho đức tin và đã rút lại lệnh cấm.

    Paris Match: Vậy Giáo Hội nghĩ rằng các hiện tượng đó là một bằng chứng giá trị về sự hiện hữu của Thiên Chúa?

    Francois Brune: Chính Thiên Chúa đã chẳng cho phép có những cuộc bày tỏ về thế giới bên kia đó sao? Chúng ta đang sống vào một thời đại sa mạc hóa tinh thần, trong đó, thậm chí một số giáo sĩ hình như chỉ còn chút niềm tin rất mong manh về cuộc sống mai hậu và về thế giới bên kia. Tuy nhiên, đây là những thực tại chủ yếu đối với ai muốn là kitô hữu. Vì vậy mà chính những người chết đã đến để nhắc lại cho ta.

    Dẫu sao hãy an tâm! Cho dù khoa học từ nay cho phép đạt tới chứng cớ chắc chắn về thế giới bên kia, thì bao giờ cũng chỉ là những nấc đầu tiên của thế giới đó. Ðức tin đích thực về tính siêu việt của Thiên Chúa sẽ chẳng bao giờ bị lâm nguy. Ngay từ năm 1949, Roland de Jouvenel đã loan báo với mẹ của anh về những tiến bộ đã được thực hiện từ đó và đang là đối tượng cuộc nói chuyện của chúng ta. Nhưng anh ta cũng đồng thời xác định những giới hạn không thể vượt qua được: "Huyền bí học và siêu tâm lý sẽ trở thành một khoa học thực nghiệm dựa trên thực tại; một cái bàn tự nâng lên là một hiện tượng sóng, nhiều cuộc nói chuyện khi lên đồng là những cuộc tiếp xúc với các hồn ma còn gần gũi dương gian. Những cuộc đột nhập từ một bình diện (cảnh giới) này sang một bình diện khác như thế rồi đây sẽ trở thành quen thuộc như đi phi cơ. Tuy nhiên, không phải vì loài người đã làm được đôi cánh mà họ trở nên thiên thần, không phải vì đạt các đỉnh cao mà họ đến gần Thiên Chúa. Các người sẽ đi tới chỗ tiếp xúc với cái vô hình, nhưng cái vô hình này còn cách xa Thiên Chúa như chính các người xa cách một ngôi sao vậy..."

    Tôi có thể thêm gì vào những điều đó? Dẫu sao nếu ít nhất người đương thời chúng ta rốt cuộc chịu nhận những điều mới mẻ như trên là đúng thì đó đã là một tiến bộ lớn lao rồi. Vâng, có một đời sống mai hậu. Vâng, có một thế giới bên kia. Chúng ta đã gặp cả hai cái đó.

  2. #2

    Mặc định

    Bài phỏng vấn trên do báo Paris Match thực hiện, có những điểm cần lưu ý như sau:

    Thứ nhất: Thiên Chúa giáo không công nhận thuyết Luân hồi và cuộc sống sau cái chết. Người châu ÂU nói chung cũng quan niệm như vậy. Vậy mà linh mục Francois Brune đầy uy tín lại viết những cuốn sách liên quan đến những đề tài cấm kỵ này, nên chúng rất nổi tiếng.

    Thứ hai: Những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của những linh hồn sau khi thể xác đã chết không phải là lời thuật của các đồng bóng hoặc cầu cơ, mà chính là những đoạn băng ghi âm giọng nói của những linh hồn đó. Các linh hồn này hướng dẫn cho những người đang sống các kỹ thuật và cách thức hiệu chỉnh các thiết bị điện tử để có thể thu lại được tiếng nói của các lính hồn. Đó là những bằng chứng thực sự khách quan và không thể ngụy tạo.

    Thứ ba:
    Có nhiều nét tương đồng nhưng cũng không ít dị biệt giữa quan niệm Á-Đông so với những điều ghi nhận được của linh mục về cuộc sống sau cái chết và hiện tượng luân hồi. Điều đó cho thấy những quan niệm của các tôn giáo Á-Đông đúng ở nhiều điểm, nhưng cũng chưa hẳn tuyệt đối đúng.

    Thứ tư:Những linh hồn vẫn quanh quẩn bên cạnh chúng ta thường là mới từ giã cõi đời và trình độ chưa thực cao. Họ vẫn còn nhiều quyến luyến và nhận thức cũng có những giới hạn nhất định. Bởi vậy mà những điều họ nói cũng không có độ tin cậy lớn lắm, chúng ta cần có sự phân tích để rút ra những kết luận hữu ích.

    Thứ năm: Khoa học sẽ có ngày chứng minh được sự tồn tại của những thế giới khác song song với thế giới mà chúng ta đang tồn tại, với những bằng chứng không thể chối cãi. Tôi cho rằng ngày đó không còn xa nữa!

    Tất nhiên, những thông tin này chỉ để chúng ta tham khảo và suy ngẫm, để rồi mỗi người tự rút ra những kết luận cho chính mình!
    Last edited by DCL; 21-04-2010 at 02:23 PM.

  3. #3

    Mặc định

    Thứ nhất: Thiên Chúa giáo không công nhận thuyết Luân hồi và cuộc sống sau cái chết. Người châu ÂU nói chung cũng quan niệm như vậy. Vậy mà linh mục Francois Brune đầy uy tín lại viết những cuốn sách liên quan đến những đề tài cấm kỵ này, nên chúng rất nổi tiếng.
    ---------------------------------------------------------
    Trong cuốn "Những cuộc đời bí ẩn" viết về Edga Cayce nhà ngoại cảm nổi tiếng người Mỹ. Bản thân Cayce cũng là một tín đồ Kito, nhưng qua những cuộc soi kiếp cho nhiều người (cho đến nay vẫn còn lưu giữ những hồ sơ này), ông cũng phải công nhận và có lòng tin vào luân hồi chuyển kiếp.
    Bên cạnh đó hiện nay có rất nhiều sự kiện sau một biến cố nào đó, con người có khả năng nói được những ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ, thậm chí là cả những ngôn ngữ cổ, hoặc ngay như khả năng biết đọc biêt viết của những em bé mà không cần ai dạy. Phải chăng đó là sự khôi phục lại những trải nghiệm trong tiềm thức của con người từ những tiền kiếp. Có lẽ thuyết luân hồi là cách giải thích thích hợp nhất cho những hiện tượng này.

  4. #4

    Mặc định

    Chào bạn TuTam,

    Tôi cũng đồng ý với bạn rằng Edga Cayce là một trường hợp kỳ thú, một trong những nhà ngoại cảm đặc biệt mà hồ sơ của ông được lưu trữ rất cẩn thận tại Hoa Kỳ đã thu thập được rất nhiều sự kiện, giúp các nhà khoa học nghiên cứu về những đề tài tâm linh.

    Ông có khả năng xuất hồn khi bị thôi miên và có thể trả lời được rất nhiều câu hỏi liên quan đến những cá nhân ở cách xa nơi ông đang ngủ và có thể bắt bệnh và chữa bệnh cho họ như những nhà ngoại cảm tài năng nhất mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Điều kỳ lạ hơn và thú vị hơn nữa là ông thấy được nguồn gốc của bệnh tật hoặc tình trạng cuộc sống những người khác có nguyên nhân từ nhiều kiếp trước, tức là quả báo dưới hình thức những bệnh tật hoặc tình trạng cuộc sống nào đó. Đó là những bằng chứng hùng hồn về luật Luân hồi và Nhân Quả. Nhưng có lẽ điều tuyệt vời nhất mà đống hồ sơ Edga Cayce mang lại cho chúng ta chính là sự hiển hiện của luật Tiến hóa. Chính luật Tiến hóa vĩ đại đã chi phối và quyết định sự vận hành của Luân hồi và Nhân Quả; nói khác đi, các luật Luân hồi và Nhân Quả hoạt động với mục tiêu Tiến hóa.

    Những hồ sơ này cho chúng ta thấy Luân hồi nhằm giúp mỗi người có cơ hội thích hợp để trả quả. Chúng ta hiểu rằng gieo nhân nào sẽ gặt quả ấy, tuy nhiên thường thì không mấy khi "quả báo nhãn tiền", thậm chí cũng chưa hẳn ngay kiếp sau ta phải trả luôn cho nhân gieo kiếp trước mà sẽ chờ đến lúc thích hợp và không ai né tránh được. Chúng ta cũng thấy trong hồ sơ rằng Nhân Quả không nhằm trừng phạt cho những lỗi lầm như vẫn thường quan niệm. Lỗi lầm xuất phát từ sự vô minh và Nhân Quả chỉ nhằm mang lại minh triết; ta sẽ phải học đi học lại những bài đau khổ chỉ để hiểu để sáng, và nếu ta học xong sớm chừng nào thì bài học kết thúc nhanh chừng đó. Thậm chí, nếu ta biết rút ngay bài học từ sự trả quả của người khác, có nhiều khả năng ta sẽ không phải học bài đó nữa; vì như tôi đã nêu, Nhân Quả không nhằm trừng phạt mà nhằm giáo dục. Và đây chính là cơ sở cho khả năng cải thiện số mệnh mỗi con người.

    Tóm lại, đây là tài liệu mà tôi cũng rất tâm đắc và rất mong các bạn khác, nếu chưa biết, dành thời gian nghiên cứu và nghiền ngẫm!

  5. #5

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi DCL Xem Bài Gởi
    Bài phỏng vấn trên do báo Paris Match thực hiện, có những điểm cần lưu ý như sau:

    Thứ nhất: Thiên Chúa giáo không công nhận thuyết Luân hồi và cuộc sống sau cái chết. Người châu ÂU nói chung cũng quan niệm như vậy. Vậy mà linh mục Francois Brune đầy uy tín lại viết những cuốn sách liên quan đến những đề tài cấm kỵ này, nên chúng rất nổi tiếng.

    Thứ hai: Những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của những linh hồn sau khi thể xác đã chết không phải là lời thuật của các đồng bóng hoặc cầu cơ, mà chính là những đoạn băng ghi âm giọng nói của những linh hồn đó. Các linh hồn này hướng dẫn cho những người đang sống các kỹ thuật và cách thức hiệu chỉnh các thiết bị điện tử để có thể thu lại được tiếng nói của các lính hồn. Đó là những bằng chứng thực sự khách quan và không thể ngụy tạo.

    Thứ ba:
    Có nhiều nét tương đồng nhưng cũng không ít dị biệt giữa quan niệm Á-Đông so với những điều ghi nhận được của linh mục về cuộc sống sau cái chết và hiện tượng luân hồi. Điều đó cho thấy những quan niệm của các tôn giáo Á-Đông đúng ở nhiều điểm, nhưng cũng chưa hẳn tuyệt đối đúng.

    Thứ tư:Những linh hồn vẫn quanh quẩn bên cạnh chúng ta thường là mới từ giã cõi đời và trình độ chưa thực cao. Họ vẫn còn nhiều quyến luyến và nhận thức cũng có những giới hạn nhất định. Bởi vậy mà những điều họ nói cũng không có độ tin cậy lớn lắm, chúng ta cần có sự phân tích để rút ra những kết luận hữu ích.

    Thứ năm: Khoa học sẽ có ngày chứng minh được sự tồn tại của những thế giới khác song song với thế giới mà chúng ta đang tồn tại, với những bằng chứng không thể chối cãi. Tôi cho rằng ngày đó không còn xa nữa!

    Tất nhiên, những thông tin này chỉ để chúng ta tham khảo và suy ngẫm, để rồi mỗi người tự rút ra những kết luận cho chính mình!
    ----------------------------------

    Ở Việt Nam thì khác, các nhà tâm linh gần đây đã giao tiếp được các phần Vô Hình cấp cao, từ Thần trở lên, đến Thánh, Tiên, và hơn nữa...

    Hồ sơ lưu trữ của Tòa Thánh Tây Ninh từ những năm 1930 đã rất đầy đủ tư liệu chứng minh điều này.

  6. #6

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi Love_Tamlinh Xem Bài Gởi
    ----------------------------------

    Ở Việt Nam thì khác, các nhà tâm linh gần đây đã giao tiếp được các phần Vô Hình cấp cao, từ Thần trở lên, đến Thánh, Tiên, và hơn nữa...

    Hồ sơ lưu trữ của Tòa Thánh Tây Ninh từ những năm 1930 đã rất đầy đủ tư liệu chứng minh điều này.
    Chào bạn Love_Tamlinh,

    Với quan điểm riêng, tôi cho rằng những linh hồn (tạm gọi như thế để phân biệt với thể xác) thường tìm cách tiếp xúc với hạ giới - thế giới của chúng ta (tôi không thích cách gọi thế giới của vật chất mà chúng ta đang sống là "cõi dương" còn những cảnh giới khác là "cõi âm") thường từ trung giới và họ mới chỉ ở mức tiến hóa thấp hoặc chưa cao lắm. Ngay ở trung giới, những linh hồn đã phát triển hơn cũng ít tiếp xúc với chúng ta. Nhưng linh hồn ở cõi thượng giới thì đặc biệt tránh xuống hạ giới, họ có quá nhiều việc quan trọng hơn để làm.

    Việc các đấng cao cả tiếp xúc với chúng ta là những sự kiện rất vĩ đại và hiếm có, thường để định hướng hoặc điều chỉnh những chính sách lớn lao, đặc biệt là để khởi xướng những phong trào, trào lưu tư tưởng cho từng bộ phận lớn của nhân loại. Trường hợp mà bạn nêu ở Tây Ninh có thể cũng nằm trong số sự kiện này, do chưa có điều kiện cũng như khả năng để nghiên cứu và bản thân còn thiếu hiểu biết rất nhiều nên tôi không dám lạm bàn. Trong bài viết trên mà bạn trích dẫn, tôi chỉ đề cập tới những trường hợp mà ta hay thấy trong việc lên đồng hoặc áp vong bình thường thôi.

    Vì thế mà rất cám ơn bạn đã lưu ý!

  7. #7

    Mặc định

    Thần Thách nói làm gì, có Pháp có thể nói chuyện với Phật :D

  8. #8

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi VôPháp Xem Bài Gởi
    Thần Thách nói làm gì, có Pháp có thể nói chuyện với Phật :D
    Chào bạn VôPháp,

    Tôi chưa hiểu ý bạn, có phải bạn muốn nói rằng: nói chuyện với Thần Thánh chỉ là việc nhỏ, ngay cả nói chuyện với Phật cũng có thể thực hiện được, miễn là có "Pháp"?

    Tôi thực sự không hiểu về vấn đề này, dù không dám mạo nhận nhưng tôi tạm tự xếp mình vào nhóm những người "duy vật", một cách tự hào. Những vấn đề thuộc về tâm linh mà gần đây có xu hướng nở rộ khiến tôi có những suy nghĩ theo chiều hướng tạm gọi là "duy tâm", với thái độ cầu thị thực sự. Bởi thế, tôi rất tôn trọng và luôn chú ý lắng nghe những người có tầm hiểu biết sâu rộng và sẵn lòng cởi mở trong lĩnh vực tâm linh. Nhưng như bạn đề cập, phải chăng Phật giáo chỉ dành cho những người có "Pháp"? Thú thực là tôi không hiểu về danh từ "Pháp" mà bạn nêu ra ở đây có nghĩa là gì!

    Dù không hiểu biết như đã trình bày, nhưng tôi đoán số lượng người có "Pháp" trên thế giới cũng không phải là quá ít, có lẽ không dưới vài chục người và họ đều có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với Phật, như bạn khẳng định. Phải chăng vì thế mà hiện nay có không dưới vài chục môn phái Phật giáo trên thế giới (nếu không muốn nói rằng thực tế còn lớn hơn con số đó nhiều)? Vậy thì đâu là chân lý, ai cũng nhận rằng mình là "chân truyền" và những kẻ khác là "giả truyền"? Nếu những thông tin này mà đến từ những đấng tối cao thì tại sao chúng lại mâu thuẫn với nhau và thậm chí là bất hợp lý so với quan niệm sơ đẳng của trần thế đến độ như vậy?

    Từ thực tế này, với tư duy "duy vật", tôi cho rằng cơ hội để những cá nhân trong số chúng ta thực sự có thể tiếp cận được với những đấng cao cả (bạn muốn gọi là Thần, Thánh, Phật, Chúa... gì cũng được) là rất hãn hữu và phải trong những điều kiện thực sự cần thiết, ngoài khả năng quan niệm của người thường như chúng ta. Do đó, tôi nghĩ rằng các vong linh mà ta có thể tiếp cận thông qua những thủ tục đồng cốt hoặc áp vong chỉ là những linh hồn bình thường, của bà con, bạn bè hoặc chính chúng ta sau khi đã từ giã cõi đời này. Vì vậy mà chúng không có đủ độ tin cậy cần thiết, khiến cho những người có chút lý trí có thể tin được.

    Rất mong được trao đổi thêm với bạn.

  9. #9

    Mặc định

    Nguồn: http://thienviendaidang.net/news.php?readmore=361

    Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới
    Nguyên Phong

    Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết:

    "Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được".

    Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La revue spirite:

    Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết, vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh, khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại.

    Một hôm, khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử. Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: "Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?" Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này, nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con".

    Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.

    Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: "Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến, vì tôi là cha cậu ấy và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi". Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy, nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cơ bút này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau, cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành một bức thư như sau:

    Các con thân mến,

    Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến, nhưng không có cơ hội.

    Như các con đã biết, hôm đó, sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mỏi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau, cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao, cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết, cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó, cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì.

    Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt, cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ, trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao, cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con, nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên, cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó, mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi.

    Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái, dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên, cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt, cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.

    Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu, cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ, không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó, nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao.

    Một lúc sau, cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết, tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với "tần số rung động" (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng.

    Người nọ cho biết thêm rằng, ở cõi bên này, tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước ; thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú, vì như vậy quả là có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.

    Khi xưa, cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục, nhưng hiện nay, cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến.

    Cha bèn đặt câu hỏi về khả năng tri thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng khả năng tri thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn, mà ở bên này, ai cũng có thể học hỏi được.

    Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi.

    Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ, viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó, cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.

    Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng.

    Lúc đầu, cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau, cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này, vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh, khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.

    Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra, tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh, nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú v.v....

    Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến cho lắm, nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với những điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên, khoa học phát triển tùy theo khả năng tri thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là "khuôn vàng thước ngọc" thì đời sau lại bị coi là "cổ hủ, lỗi thời"; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải.

    Tuy nhiên, cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi, cha càng thấy, chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi nhũng giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.

    Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên, khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này.

    Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy ráng làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.

    Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ, cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang nhũng thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vất chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng?

    Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự kinh nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối âm u đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình, hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.

    Khi còn sống, cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại ; nhưng hiện nay, cha biết mình đã lầm. Cha đã không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác, trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên, nhân cách của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia, mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa.

    Cha nghiệm được rằng, sự sống giống như một giòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau, nó sẽ bị ảnh hưởng bởi những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sự của nó. Cũng như sóng biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục; nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăn tăn trên mặt biển đâu!

    Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó, các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng, chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn, chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi.

    Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, mà là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất yếu phải đến, một cách thoải mái, ung dung. Vì nếu khi còn sống, các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay, cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.

  10. #10

    Mặc định

    Có một số lý do mà người có trách nhiệm không thể công nhận vấn đề tâm linh một cách công khai:
    1- Đa số chúng ta nhận thông tin cõi âm là thông tin về gia đình chúng ta, người trong cuộc thì có thể tin hay không còn người vô sự thì dễ gì tin. Nhiều khi thông tin đúng nhưng với ý thức che giấu sự việc nghe thì tin nhưng khi ra về thì nói không đúng. Có khi sợ đây là một phương pháp để tìm ra sự thật xấu về ai đó rồi từ đó thông tin lan truyền làm hỏng sự nghiệp của họ. Vì vậy cần thì vẫn lén đi nghe nhưng bề ngoài thì cho đó là mê tín,chụp mũ cho dư luận.
    2 - Thông tin có tính chất quan trọng phải chuyển cho người có trách nhiệm và có tâm, có khả năng giải quyết được công việc. Những người đáng nhận được thông tin lại không biết đâu là chỗ có thể nhận được thông tin. Vì nơi nhận thông tin đúng không chắc có hơn một địa điểm. Đa số là nơi phát thông tin tầm thấp. Là các thông tin từ vong, giả chân thần chứ chưa phải là thông tin của Phật,Tiên,Thánh,Thần. Ngay cả nơi phát thông tin chuẩn thì lại còn phải đúng người đúng việc. Các phần căn thấp không dám nói phần trách nhiệm của phần cấp cao hơn. Như vậy chỗ phát thông tin chuẩn nhưng phải đúng đối tượng nghe, đối tượng truyền lại phải đúng nữa. Các vị không xuất hiện khi không đúng đối tượng nhận. Việc gì cũng phải có tâm mới có linh. Việc này mà mang ra hội nghị thảo luận thì chả có cái gì dễ thống nhất cả. Vậy đừng mong trong thời hiện tại chính quyền công nhận vấn đề tâm linh là một giải pháp có tính khoa học, nó chỉ là tham khảo.
    3-Chuyện thiên cơ thì chỉ dành cho bậc chân tu có trách nhiệm và cho người lãnh đạo chính quyền cao nhất cùng nghe và cùng thống nhất phương án giải quyết một việc gì đó. Như vậy gọi là âm dương đồng nhất lý. Nhưng biết bao giờ người có trách nhiệm có tâm và người chân tu cấp cao cùng gặp nhau và cùng tin một cửa tâm linh nào đó. Cửa tâm linh đó có đúng là nơi để các bậc Tiên,Thánh ngự để giải quyết vấn đề không. Phật không mượn ghế để truyền thông tin. Một khi chưa đồng bộ thì có thể hiểu là cộng nghiệp của chúng ta chưa đưa chúng ta tới thời thịnh.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Quyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •