Kính chào các Huynh trong Diễn đàn
Kính mong các huynh post giùm cho đệ bài Thần chú Thủ Lăng Nghiêm bằng tiếng Phạn. Đệ tìm đã lâu nhưng chưa gặp.
Xin thư về địa chỉ trannguyendn@yahoo.com nếu tiện.
Xin chân thành cám ơn Quý huynh
A Di Đà Phật.
Printable View
Kính chào các Huynh trong Diễn đàn
Kính mong các huynh post giùm cho đệ bài Thần chú Thủ Lăng Nghiêm bằng tiếng Phạn. Đệ tìm đã lâu nhưng chưa gặp.
Xin thư về địa chỉ trannguyendn@yahoo.com nếu tiện.
Xin chân thành cám ơn Quý huynh
A Di Đà Phật.
gởi bạn bài chú lăng nghiêm
Nam-mô tát đát tha tô già đa da a ra ha đế tam-miệu tam-bồ-đà-tỏa. Tát đát tha Phật đà cu-tri sắc ni sam.
Nam-mô tát bà bột đà bột địa, tát đa bệ tệ.
Nam-mô tát đa nẩm tam-miệu tam-bồ-đà cu-tri nẩm. Ta xá ra bà ca tăng-già nẩm.
Nam-mô lô kê a-la-hán đa nẩm.
Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.
Nam-mô ta yết rị đà già di nẩm.
Nam-mô lô kê tam-miệu già đa nẩm. Tam miệu già ba ra để ba đa na nẩm.
Nam-mô đề bà ly sắt nỏa.
Nam-mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt nỏa. Xá ba noa yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm.
Nam-mô bạt ra ha ma ni.
Nam-mô nhơn đà ra da.
Nam-mô bà già bà đế, lô đà ra da. Ô ma bát đế, ta hê dạ da.
Nam-mô bà già bà đế.
Na ra dả noa da. Bàn-giá ma-ha tam mộ đà ra.
Nam-mô tất yết rị đa da.
Nam-mô bà già bà đế, ma ha ca ra da. Ðịa rị bác lặc na già ra. Tỳ đà ra ba noa ca ra da. A địa mục đế. Thi ma xá na nê bà tất nê. Ma đát rị già noa.
Nam-mô tất yết rị đa da.
Nam-mô bà già bà đế. Ða tha già đa cu ra da.
Nam-mô bát đầu ma cu na da.
Nam-mô bạt xà ra cu ra da.
Nam-mô ma ni cu ra da.
Nam-mô già xà cu ra gia.
Nam-mô bà già bà đế, đế rị trà du ra tây na, ba ra ha ra noa ra xà dà, đa tha già đa da.
Nam-mô bà già bà đế.
Nam-mô a di đa bà da, đa tha dà đa da, a ra ha đế, tam-miệu tam-bồ-đà da.
Nam-mô bà già bà đế, a sô bệ da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam-miệu tam-bồ-đà da.
Nam-mô bà già bà đế, bệ sa xà da cu lô phệ trụ rị da, bát ra bà ra xà da, đa tha già đa da.
Nam-mô bà già bà đế, tam bổ sư bí đa, tát lân nại ra lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam-miệu tam-bồ-đà da.
Nam-mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu na duệ, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam-miệu tam-bồ-đà da.
Nam-mô bà già bà đế, lặc đác na kê đô ra xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam-miệu tam-bồ-đà da, đế biều nam-mô tát yết rị đa, ế đàm bà giá bà đa, tát đác tha già đô sắc ni sam, tát đác đa bác đác lam.
Nam-mô a bà ra thị đam, bác ra đế dương kỳ ra, tát ra bà bộ đa yết ra ha, ni yết ra ha yết ca ra ha ni, bạc ra bí địa da sất đà nể, a ca ra mật rị trụ, bát rị đát ra da nảnh yết rị, tát ra bà bàn đà na mục xoa ni, tát ra bà đột sắc tra đột tất phạp bát na nể phạt ra ni, giả đô ra thất đế nẫm, yết ra ha ta ha tát ra nhã xà, tỳ đa băng ta na yết rị, a sắc tra băng xá đế nẫm, na xoa sát đác ra nhã xà, ba ra tát đà na yết rị, a sắc tra nẫm, ma ha yết ra ha nhã xà, tỳ đa băng tát na yết rị, tát bà xá đô lô nể bà ra nhã xà, hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni, bí sa xá tất đác ra, a kiết ni ô đà ca ra nhã xà, a bát ra thị đa cu ra ma ha bác ra thiện trì, ma ha điệp đa, ma ha đế xà, ma ha thuế đa xà bà ra, ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nể, a rị da đa ra, tỳ rị cu tri, thệ bà tỳ xà da, bạc xà ra ma lễ để, tỳ xá lô đa, bột đằng dõng ca, bạt xà ra chế hắt na a giá, ma ra chế bà bác ra chất đa, bạc xà ra thiện trì, tỳ xá ra giá, phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa, tô ma lô ba, ma ha thuế đa, a rị da đa ra, ma ha bà ra, a bác ra, bạt xà ra thương yết ra chế bà, bạt xà ra cu ma rị, cu lam đà rị, bạt xà ra hắc tát đa giá tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca, khuất tô mẫu bà yết ra đá na, bệ lô giá na cu rị da, dạ ra thố sắc ni sam, tỳ chiết lam bà ma ni giá, bạt xà ra ca na ca ba ra bà, lô xà na bạt xà ra đốn trỉ giá, thuế đa giá ca ma ra sát xa thi ba ra bà, ế đế di đế, mẫu đà ra yết noa, ta bệ ra sám, quật phạm đô, ấn thố na mạ mạ tỏa.
ÐỆ NHỊ
Ô hồng, rị sắt yết noa, bác lặc xá tất đa, tát đát tha già đô sắc ni sam. Hổ hồng, đô lô ung chiêm bà na. Hổ hồng, đô lô ung tất đam bà na. Hổ hồng, đô lô ung ba ra sắc địa da tam bác xá noa yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, tát bà dược xoa hắt ra sát ta, yết ra ha nhã xà, tỳ đằng băng tát na yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, giả đô ra thi để nẫm, yết ra ha, ta ha tát ra nẫm, tỳ đằng băng tát na ra. Hổ hồng, đô lô ung, ra xoa, bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam, ba ra điểm xà kiết rị, ma ha ta ha tát ra, bột thọ ta ha tát ra thất rị sa, cu tri ta ha tát nê đế lệ, a tệ đề thị bà rị đa, tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà ra, đế rị bồ bà na, man trà na, ô hồng, ta tất đế bạc bà đô, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.
ÐỆ TAM
Ra xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ ni bà dạ, ô đà ca bà dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra chước yết ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà dạ, a ca ra mật rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ, ô ra ca bà đa bà dạ, lặc xà đàng trà bà dạ, na già bà dạ, tỳ điều đát bà dạ, tô ba ra noa bà dạ, dược xoa yết ra ha, ra xoa tư yết ra ha, tất rị đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu-bàn trà yết ra ha, bổ đơn na yết ra ha, ca tra bổ đơn na yết ra ha, tất kiền độ yết ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, ô đàn ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, hê rị bà đế yết ra ha, xã đa ha rị nẩm, yết bà ha rị nẩm, lô địa ra ha rị nẩm, mang ta ha rị nẩm, mê đà ha rị nẩm, ma xà ha rị nẩm, xà đa ha rị nữ, thị tỷ đa ha rị nẩm, tỳ đa ha rị nẩm, bà đa ha rị nẩm, a du giá ha rị nữ, chất đa ha rị nữ, đế sam tát bệ sam, tát bà yết ra ha nẩm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ba rị bạt ra giả ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, trà diễn ni hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha bát du bác đát dạ, lô đà ra hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na ra dạ noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, đát đỏa già lô trà tây hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma-ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ca ba rị ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, xà dạ yết ra, ma độ yết ra tát bà ra tha ta đạt na hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, giả đốt ra bà kỳ nể hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất rị tri, nan đà kê sa ra dà noa bác đế, sách hê dạ hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na yết na xa ra bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, a-la-hán hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ đa ra già hất rị đởm, tỷ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, bạt xà ra ba nể, cu hê dạ, cu hê dạ, ca địa bát đế hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ra thoa vỏng, bà dà phạm, ấn thố na mạ mạ tỏa.
ÐỆ TỨ
Bà già phạm, tát đát đa bác đá ra, Nam-mô tý đô đế, a tất đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca tát đát đa bát đế rị, thập Phật ra thập Phật ra, đà ra đà ra, tần đà ra tần đà ra, sân đà sân đà. Hổ hồng. Hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn, a ba ra đề ha đa phấn, ba ra bà ra đà phấn, a tố ra tỳ đà ra ba ca phấn, tát bà đề bệ tệ phấn, tát bà na già tệ phấn, tát bà dược xoa tệ phấn, tát bà kiền thát bà tệ phấn, tát bà bổ đơn na tệ phấn, ca tra bổ đơn na tệ phấn, tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn, tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc đế tệ phấn, tát bà thập bà lê tệ phấn, tát bà a bá tất ma lê tệ phấn, tát bà xá ra bà noa tệ phấn, tát bà địa đế kê tệ phấn, tát bà đát ma đà kê tệ phấn, tát bà tỳ đà da ra thệ giá lê tệ phấn, xà dạ yết ra ma độ yết ra, tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn; tỳ địa dạ giá lê tệ phấn, giả đô ra phược kỳ nể tệ phấn, bạt xà ra cu ma rị, tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn, ma ha ba ra đinh dương xoa tỳ rị tệ phấn, bạt ra xa thương yết ra dạ, ba ra trượng kỳ ra xà da phấn, ma ha ca ra dạ, ma ha mạt đát rị ca noa.
Nam-mô ta yết rị đa dạ phấn, tỷ sắc noa tỳ duệ phấn, bột ra ha mâu ni duệ phấn, a kỳ ni duệ phấn, ma ha yết rị duệ phấn, yết ra đàn trì duệ phấn, miệc đát rị duệ phấn, lao đát rị duệ phấn, giá văn trà duệ phấn, yết la ra đát rị duệ phấn, ca bác rị duệ phấn, a địa mục chất đa ca thi ma xá na, bà tư nể duệ phấn, diễn kiết chất, tát đỏa bà tỏa, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.
ÐỆ NGŨ
Ðột sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha ra, già bà ha ra, lô địa ra ha ra, ta bà ha ra, ma xà ha ra, xà đa ha ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha ra, kiền đà ha ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà tỏa ha ra, bác ba chất đa, đột sắc tra chất đa, lao đà ra chất đa, dược xoa yết ra ha, ra sát ta yết ra ha, bế lệ đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, tất kiền đà yết ra ha, ô đát ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, trạch khê cách trà kỳ ni yết ra ha, rị Phật đế yết ra ha, xà di ca yết ra ha, xá cu ni yết ra ha, lao đà ra nan địa ca yết ra ha, a lam bà yết ra ha, kiền độ ba ni yết ra ha, thập Phật ra yên ca hê ca, trụy đế dược ca, đát lệ đế dược ca, giả đột thác ca, ni đề thập phạt ra, tỷ sam ma thập phạt ra, bạc để ca, tỷ để ca, thất lệ sắt mật ca, ta nể bác đế ca, tát bà thập phạt ra, thất lô kiết đế, mạt đà bệ đạt lô chế kiếm, a ỷ lô kiềm, mục khê lô kiềm, yết rị đột lô kiềm, yết ra ha yết lam, yết na du lam, đản đa du lam, hất rị dạ du lam, mạt mạ du lam, bạt rị thất bà du lam, tỷ lật sắc tra du lam, ô đà ra du lam, yết tri du lam, bạt tất đế du lam, ô lô du lam, thường già du lam, hắc tất đa du lam, bạt đà du lam, ta phòng án già bác ra trượng già du lam, bộ đa tỷ đa trà, trà kỳ ni thập bà ra, đà đột lô ca kiến đốt lô kiết tri, bà lộ đa tỳ, tát bác lô, ha lăng già, du sa đát ra, ta na yết ra, tỳ sa dụ ca, a kỳ ni ô đà ca, mạt ra bệ ra, kiến đa ra, a ca ra mật rị đốt đát liểm bộ ca, địa lật lặc tra, tỷ rị sắc chất ca, tát bà na cu ra, tứ dẫn già tệ yết ra, rị dược xoa, đác ra sô, mạt ra thị phệ đế sam, ta bệ sam, tất đát đa bác đát ra, ma ha bạc xà lô sắc ni sam, ma ha bác lặc trượng kỳ lam, dạ ba đột đà xá dụ xà na, biện đát lệ noa, tỳ đà da bàn đàm ca lô di, đế thù bàn đàm ca lô di, bát ra tỳ đà, bàn đàm ca lô di, đác điệc tha.
Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng, đô lô ung phấn, ta bà ha. (câu chót, tụng 3 lần)
Các câu hỏi về chú Lăng Nghiêm
Xin vui lòng cho biết chú Lăng Nghiêm có phải đọc vào buổi tối hoặc bất cứ lúc nào trong ngày, và cần có Thầy chứng minh để đọc tụng thì mới không bị tội “trộm pháp”. Lại nữa, tụng chú Lăng Nghiêm thì có thể trừ ma quỷ, “không vào đạo tràng cũng như vào đạo tràng, dù có phạm giới cũng được các bậc Bồ-tát và quỷ thần vương coi như giữ giới, và cầu gì được nấy, bịnh tật tiêu trừ...” như trong phần giải thích của đức Phật Thích-ca.
Tôi có đôi điều thắc mắc trên đây, xin quý vị vui lòng giải đáp.
Cảm ơn rất nhiều và kính chúc quý vị được nhiều may mắn.
Trần Trung.
*******
Xin chào Phật tử Trần Trung,
Xin lần lượt trình bày từng vấn đề một mà Phật tử đã nêu:
1) Tụng chú Lăng Nghiêm có giờ giấc quy định không?
Không có giờ nào quy định để tụng chú Lăng Nghiêm, Ðại Bi, hoặc Thập Chú gì cả. Có thể tụng buổi sáng, tối hoặc bất cứ lúc nào trong ngày cũng được. Tuy nhiên trong Chùa thường tụng chú Lăng Nghiêm khi vừa thức giấc, nghĩa là bốn giờ sáng.
2) Tụng chú phải có Thầy chứng minh để khỏi tội “trộm pháp”?
Không cần có Thầy chứng minh khi đọc tụng. Không ai có thể “trộm pháp” của Phật. Nếu người nào “trộm pháp” đem phổ biến cho đời, đem lại nguồn an lạc cho quần sanh thì công đức thật vô lượng.
3) Tụng chú có thể trừ ma quỷ, không vào đạo tràng cũng như vào đạo tràng?
Không phải vậy. Trừ được tà ma quỷ mị hay không chủ yếu là do tâm của hành giả, chứ không phải do chú. Các bậc đại hành giả thì dù không tụng chú nhưng với tâm thanh tịnh, giữ giới đức nghiêm trang thì nhân thiên kính phục, quỷ thần phải sợ. Nhân gian còn nói: “Tài cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh” huống hồ các bậc Bồ-tát, Thánh Tăng hoặc các bậc chân tu. Còn các người phàm phu, tâm loạn động thì dù tụng đã mấy ngàn biến vẫn không điều phục nổi quỷ thần, mà ngược lại bị quỷ thần điều phục nữa là khác.
4) Tụng chú Lăng Nghiêm dù có phạm giới cũng như không phạm giới?
Không phải vậy. Nếu chú có công năng như vậy thì có lẽ đức Phật đã bảo chư Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni cũng như nam nữ Phật tử đã tụng chú hết rồi, cần gì phải giữ giới, tu thiền định?
5) Tụng chú Lăng Nghiêm, cầu gì được nấy, bịnh tật tiêu trừ?
Không phải vậy. Nếu chú Lăng Nghiêm mà linh ứng như vậy thì có lẽ chư Tỳ-kheo thời Phật không ai thiếu thực phẩm để độ nhật và không có ai bệnh hoạn nữa rồi, đặc biệt chúng sanh bao đời không còn đau khổ vì miếng cơm manh áo.
***
Quan điểm riêng của bản thân người trả lời: dù có chỗ nào ghi đó là lời dạy chân thực của đức Phật Thích-ca hay của chư vị Bồ-tát, thì riêng bản thân không dám nhận định, nhưng quyết không tin theo được. Vì chú cũng chỉ là một phương tiện xưng tụng các danh hiệu của chư Phật, chư Bồ-tát hoặc chư thiên, các vị thần linh có oai lực lớn mà thôi. Bản thân người viết thừa nhận năng lực của các loại thần chú, không riêng gì chú Lăng Nghiêm hoặc chú Ðại Bi mà bất cứ chú nào, dù đó là chú của tà ma ngoại đạo đi nữa. Nhưng phải nói thêm là năng lực của các loại thần chú cũng có giới hạn, đặc biệt không có giá trị trong quá trình thay đổi nghiệp quả của con người. Chú chỉ có thể trợ giúp một phần nào tinh thần của người đương niệm hoặc một phần nào sự gia trợ của chư thiên, chư thần, nhưng công năng của chúng tuyệt đối không thể nào như các trường hợp mà chúng ta đề cập ở trên.
Vấn đề có lẽ không đơn giản và khó lòng mà dứt điểm ngang ở đây. Do đó, chúng ta sẽ có dịp trở lại vấn đề này sau trong một câu hỏi của một Phật tử đã đặt vấn đề cho HTPH.
Chúc quý Phật tử thân tâm thường an lạc.
Bạn đọc tiếng Phạn, hay là đọc chú theo âm Phạn? NK post tặng bạn bản Chú Thủ Lăng Nghiêm - Âm Việt Nam theo bản tiếng Phạn:
ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM THẦN CHÚ́
-I-
1 - Nam mô sát tát tha, sô ga đa da, a ra ha tê, sam mya sam bô đa sê.
2 - Nam mô sát tát tha, bu đa cô ti, si ni sam.
3 - Nam mô sát va, bu đa bu ti, sát ta bê tê.
4 - Nam mô sát ta nam, sam mya sam bô đa cô ti nam.
5 - Sa sê ra pa ca, săng ga nam.
6 - Nam mô lu kê a ra han ta nam.
7 - Nam mô su ru ta pa na nam.
8 - Nam mô sa khít ri ta ca mi nam.
9 - Nam mô lu kê sam mya ca ta nam.
10 - Sam mya ca pa ra, ti pa ta na nam.
11 - Nam mô đê va li si nan.
12 - Nam mô si ta da pi ti da, ta ra li si nan.
13 - Sê pa nu, gơ ra ha, sô ha sa ra ma tha nam.
14 - Nam mô pát ra ha ma ni.
15 - Nam mô in đa ra da.
16 - Nam mô ba ga va tê.
17 - Ru đa ra da.
18 - U ma pun ti.
19 - Sô hê da da.
20 - Nam mô ba ga va tê.
21 - Na ra da, na da.
22 - Phun cha ma ha, sam mu ta ra.
23 - Nam mô si khít ri ta da.
24 - Nam mô ba ga va tê.
25 - Ma ha ca ra da.
26 - Ti ri pa ra na ga ra.
27 - Pi ta ra, pa na ca ra da.
28 - A ti mu tê.
29 - Si ma sa na ni, ba si ni.
30 - Ma tát ri ga na.
31 - Nam mô si khít ri ta da.
32 - Nam mô ba ga va tê.
33 - Ta tha ga ta cô ra da.
34 - Nam mô pát tâu ma cô ra da.
35 - Nam mô pát cha ra cô ra da.
36 - Nam mô ma ni cô ra da.
37 - Nam mô ga cha cô ra da.
38 - Nam mô ba ga va tê.
39 - Ti ri đa su ra si na.
40 - Pa ra ha ra na ra cha da.
41 - Ta tha ga ta da.
42 - Nam mô ba ga va tê.
43 - Nam mô a mi ta ba da.
44 - Ta tha ga ta da.
45 - A ra ha tê.
46 - Sam mya sam bô đa da.
47 - Nam mô ba ga va tê.
48 - A sô bi da.
49 - Ta tha ga ta da.
50 - A ra ha tê.
51 - Sam mya sam bô đa da.
52 - Nam mô ba ga va tê.
53 - Bi sa cha da, cu ru phi chu ri da.
54 - Pa ra bà ra cha da.
55 - Ta tha ga ta da.
56 - Nam mô ba ga va tê.
57 - Sam pu su pi ta.
58 - Sát lin nai ra si cha da.
59 - Ta tha ga ta da.
60 - A ra ha tê.
61 - Sam mya sam bô đa da.
62 - Nam mô ba ga va tê.
63 - Sê kê dê mu na dây.
64 - Ta tha ga ta da.
65 - A ra ha tê.
66 - Sam mya sam bô đa da.
67 - Nam mô ba ga va tê.
68 - Si tát na kê tu ra cha da.
69 - Ta tha ga ta da.
70 - A ra ha tê.
71 - Sam mya sam bô đa da.
72 - Ti piêu, nam mô sát khít ri ta.
73 - Ê đam, ba ga va ta.
74 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.
75 - Sát tát ta, pát tát lam.
76 - Nam mô a ba ra si đam.
77 - Paùt ra ti, dang ky ra.
78 - Sát ra ba, pu ta gơ ra ha.
79 - Ni gơ ra ha, khít ca ra ha ni.
80 - Pát ra, pi ti da, cha đa ni.
81 - A ca ra, mớt ri chu.
82 - Pát ri tát ra da, nang khít ri.
83 - Sát ra ba, pun đa na, mu sa ni.
84 - Sát ra ba, tát si cha.
85 - Tát si pháp, pun ma ni, phát ra ni.
86 - Chê tu ra, si ti nam.
87 - Gơ ra ha, sô ha sát ra nha cha.
88 - Pi ta pang sa na khít ri.
89 - A si cha pinh sê ti nam.
90 - Na sa sát tát ra nha cha.
91 - Pa ra sát tha na khít ri.
92 - A si cha nam.
93 - Ma ha gơ ra ha nha cha.
94 - Pi ta pang sát na khít ri.
95 - Sát va sê tu ru, ni ba ra nha cha.
96 - Hu lam tát si pháp, nan cha na sê ni.
97 - Pi sa sê, si tát ra.
98 - A kít ni, u đa ca ra nha cha.
99 - A pát ra si ta khu ra.
100 - Ma ha pát ra chên chi.
101 - Ma ha típ ta.
102 - Ma ha ti cha.
103 - Ma ha suê ta cha ba ra.
104 - Ma ha pát ra pun đa ra, ba si ni.
105 - A ri da ta ra.
106 - Pi ri cô ti.
107 - Si va pi cha da.
108 - Pát cha ra, ma ly ty.
109 - Pi sê ru ta.
110 - Pút tang mang ca.
111 - Pát cha ra, chi hô na a cha.
112 - Ma ra chi ba, pát ra chi ta.
113 - Pát cha ra sin chi.
114 - Pi sê ra cha.
115 - Sin ta sê, bê đê va, pu si ta.
116 - Su ma ru pa.
117 - Ma ha suê ta.
118 - A ri da ta ra.
119 - Ma ha ba ra, a pát ra.
120 - Pát cha ra, xương khít ra chê ba.
121 - Pát cha ra, cu ma ri.
122 - Cu lam ta ri.
123 - Pát cha ra, hốt sát ta cha.
124 - Pi ti da khin chê na, ma ri ca.
125 - Quát su mu, ba khít ra ta na.
126 - Vê rô cha na, cu ri da.
127 - Da ra thâu, si ni sam.
128 - Pi chi lam ba ma ni cha.
129 - Pát cha ra, ca na, ca pa ra ba.
130 - Rô cha na, pát cha ra, tân chi cha.
131 - Suê ta cha, ca ma ra.
132 - Sát sa si, pa ra ba.
133 - Ê tê di tê.
134 - Mu ta ra, kít na.
135 - Sô bê ra sam.
136 - Quát pham tu.
137 - In thâu na, ma ma sê.
- II -
138 - U hum,
139 - Ry si kít na.
140 - Pa ra, sê si ta.
141 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.
142 - Hu hum,
143 - Tu ru ung,
144 - Chim ba na.
145 - Hu hum,
146 - Tu ru ung,
147 - Si đam ba na.
148 - Hu hum,
149 - Tu ru ung,
150 - Pa ra si đi da, sam pát soa, na khít ra.
151 - Hu hum,
152 - Tu ru ung,
153 - Sát va dác sa, hát ra sát sa.
154 - Gơ ra ha nha cha.
155 - Pi tang pang sát, na khít ra.
156 - Hu hum,
157 - Tu ru ung,
158 - Chê tu ra, si ti nam.
159 - Gơ ra ha, sa ha sát ra nam.
160 - Pi tang pang sát na ra.
161 - Hu hum,
162 - Tu ru ung,
163 - Ra soa,
164 - Ba ga va.
165 - Sát tát tha, ga tu si ni sam.
166 - Pa ra tim, cha kít ri.
167 - Ma ha, sô ha sát ra.
168 - Bút su sa, ha sát ra, si ri sa.
169 - Cô ti, sô ha sát ni, ti lê.
170 - A pi đi si, ba ri ta.
171 - Cha cha ang ca.
172 - Ma ha pát cha ru ta ra.
173 - Ti ri bô ba na.
174 - Man ta ra.
175 - U hum,
176 - Sa si ti, bô ba tu.
177 - Ma ma,
178 - In thâu na, ma ma sê.
- III -
179 - Ra cha ba da.
180 - Chu ra pát da.
181 - A chi ni ba da.
182 - U đa ca ba da.
183 - Pi sa ba da.
184 - Sê sát ta ra ba da.
185 - Ba ra chước khiết ra ba da.
186 - Tát sít soa ba da.
187 - A sê ni ba da.
188 - A ca ra mơ ri chu ba da.
189 - Ða ra ni, pu mi kim, ba ga va ta ba da.
190 - U ra ca, ba đa ba da.
191 - Rát cha than đa ba da.
192 - Na ga ba da.
193 - Pi thiêu tát ba da.
194 - Sô pa ra na ba da.
195 - Dác soa gơ ra ha.
196 - Ra soa si gơ ra ha.
197 - Pê ri ta gơ ra ha.
198 - Pi sa cha gơ ra ha.
199 - Pu ta gơ ra ha.
200 - Cu ban đa gơ ra ha.
201 - Pu tan na gơ ra ha.
202 - Ca cha pu tan na gơ ra ha.
203 - Si kin tu gơ ra ha.
204 - A pa si ma ra gơ ra ha.
205 - U than ma ta gơ ra ha.
206 - Sa da gơ ra ha.
207 - Hê ri ba ti gơ ra ha.
208 - Sê ta ha ri nam.
209 - Khít ba ha ri nam.
210 - Ru ti ra ha ri nam.
211 - Mang sa ha ri nam.
212 - Mê ta ha ri nam.
213 - Ma cha ha ri nam.
214 - Cha ta ha ri nu.
215 - Si pi ta ha ri nam.
216 - Pi ta ha ri nam.
217 - Ba đa ha ri nam.
218 - A su cha ha ri nu.
219 - Chít ta ha ri nu.
220 - Ti sam sát bi sam.
221 - Sát va gơ ra ha nam.
222 - Pi đa da cha, san đa da mi
223 - Kê ra da mi,
224 - Pa ri pát ra chê ca, cát ri tam.
225 - Pi đa da cha, san đa da mi
226 - Kê ra da mi,
227 - Ða din ni, cát ri tam.
228 - Pi đa da cha, san đa da mi
229 - Kê ra da mi,
230 - Ma ha pát su pát tát da,
231 - Ru đa ra, cát ri tam.
232 - Pi đa da cha, san đa da mi
233 - Kê ra da mi,
234 - Na ra da na, cát ri tam.
235 - Pi đa da cha, san đa da mi
236 - Kê ra da mi,
237 - Tát toa ga ru đa si, cát ri tam.
238 - Pi đa da cha, san đa da mi
239 - Kê ra da mi,
240 - Ma ha ca ra, ma tát ri ga na, cát ri tam.
241 - Pi đa da cha, san đa da mi
242 - Kê ra da mi,
243 - Ca pa ri ca, cát ri tam.
244 - Pi đa da cha, san đa da mi
245 - Kê ra da mi,
246 - Cha da khít ra, ma tu khít ra.
247 - Sát va ra tha sa tát na, cát ri tam.
248 - Pi đa da cha, san đa da mi
249 - Kê ra da mi,
250 - Chư chát ra, ba ky ni, cát ri tam.
251 - Pi đa da cha, san đa da mi
252 - Kê ra da mi,
253 - Pi ri dang cát ri chi
254 - Nan đa kê sa ra, ga na phun ti.
255 - Sát hê da, cát ri tam.
256 - Pi đa da cha, san đa da mi
257 - Kê ra da mi,
258 - Na khít na sa ra ba na, cát ri tam.
259 - Pi đa da cha, san đa da mi
260 - Kê ra da mi,
261 - A ra han, cát ri tam, pi đa da cha, san đa da mi,
262 - Kê ra da mi,
263 - Pi ta ra ga, cát ri tam.
264 - Pi đa da cha, san đa da mi
265 - Kê ra da mi, pát cha ra pa mi,
266 - Cu hê da cu hê da,
267 - Ca đi pát ti cát ri tam.
268 - Pi đa da cha, san đa da mi
269 - Kê ra da mi,
270 - Ra soa mang,
271 - Ba ga va,
272 - In thâu na ma ma sê.
- IV -
273 - Ba ga va,
274 - Si ta ta, pa tơ ra.
275 - Nam mô suy tu tê.
276 - A si ta na ra chi ca.
277 - Pa ra va, si phu cha.
278 - Pi ca sát tát ta pát ti ri.
279 - Sập phật ra sập phật ra,
280 - Ða ra đa ra,
281 - Văn đa ra, văn đa ra, san đa san đa.
282 - Hu hum,
283 - Hu hum.
284 - Phun cha,
285 - Phun cha, phun cha, phun cha, phun cha.
286 - Sô ha,
287 - Hê hê phun.
288 - A mâu ca da phun.
289 - A pa ra đê ha ta phun.
290 - Ba ra pa ra ta phun.
291 - A sô ra, pi ta ra, pa ca phun.
292 - Sát va đê bê pi phun.
293 - Sát va na ga pi phun.
294 - Sát va dác sa pi phun.
295 - Sát va gan đa va pi phun.
296 - Sát va pu ta na pi phun.
297 - Ca cha pu ta na pi phun.
298 - Sát va tát lang chi ti pi phun.
299 - Sát va tát sít pi lây, cát si ti pi phun.
300 - Sát va sấp ba lay pi phun.
301 - Sát va a pa si mô lay pi phun.
302 - Sát va sê ra ba na pi phun.
303 - Sát va ti tê kê pi phun.
304 - Sát va tát ma ta ky pi phun.
305 - Sát va pi ta da ra si cha lây pi phun.
306 - Cha da khít ra, ma tu khít ra,
307 - Sát va ra tha sa đa kê pi phun.
308 - Pi ti da cha lây pi phun.
309 - Chê tu ra, phác ky ni pi phun.
310 - Pát cha ra, cu ma ri,
311 - Pi ta da, ra si pi phun.
312 - Ma ha pa ra tinh dang, soa ky ri pi phun.
313 - Pát cha ra sang khít ra da,
314 - Pa ra chang ky ra cha da phun.
315 - Ma ha ca ra da,
316 - Ma ha mút tát ri ca na,
317 - Nam mô sa khít ri ta da phun.
318 - Pi si na phi dây phun.
319 - Pu ra ha mâu ni dây phun.
320 - A ky ni dây phun.
321 - Ma ha khít ri dây phun.
322 - Khít ra than chi dây phun.
323 - Mít tát ri dây phun.
324 - Ru tát ri dây phun.
325 - Cha man đa dây phun.
326 - Khít la ra tát ri dây phun.
327 - Ca phun ri dây phun.
328 - A ti mu chít ta, ca si ma sa na,
329 - Ba su ni dây phun.
330 - Din kít chít,
331 - Sát tô va sê,
332 - Ma ma in thâu na ma ma sê.
- V -
333 - Tát si cha chít ta.
334 - A mút tát ri chít ta.
335 - U cha ha ra.
336 - Ga ba ha ra.
337 - Rô ti ra ha ra.
338 - Ba sa ha ra.
339 - Ma cha ha ra.
340 - Cha ta ha ra.
341 - Si pi ta ha ra.
342 - Pát lác da ha ra.
343 - Khin ta ha ra.
344 - Pu sư pa ha ra.
345 - Phô ra ha ra.
346 - Ba sê ha ra.
347 - Pún pa chít ta.
348 - Tát si cha chít ta.
349 - Lu ta ra chít ta.
350 - Dác sa gơ ra ha.
351 - Ra sát sa gơ ra ha.
352 - Pay lê ta gơ ra ha.
353 - Pi sa cha gơ ra ha.
354 - Pu ta gơ ra ha.
355 - Cu ban đa gơ ra ha.
356 - Si khin ta gơ ra ha.
357 - U tát ma ta gơ ra ha.
358 - Sê dê gơ ra ha.
359 - A pa sát ma ra gơ ra ha.
360 - Chác khu cát, đa ky ni gơ ra ha.
361 - Ri pút ti gơ ra ha.
362 - Cha mi ca gơ ra ha.
363 - Sa cu ni gơ ra ha.
364 - Mu ta ra, nan ti ca gơ ra ha.
365 - A lam ba gơ ra ha.
366 - Khin tu pa ni gơ ra ha.
367 - Sập phạt ra, in ca hê ca.
368 - Chuy ti dác ca.
369 - Tát lê ti dác ca.
370 - Chê tát thác ca.
371 - Ni đê sập phạt ra, pi sam ma sập phạt ra.
372 - Pô ti ca,
373 - Pi ti ca,
374 - Sít lê si mi ca.
375 - Sa ni pun ti ca.
376 - Sát va sập phạt ra.
377 - Sít ru kít tê.
378 - Mút đa bi tát ru chê kim.
379 - A y ru khim.
380 - Mu khu ru khim.
381 - Khít ri tát ru khim.
382 - Khít ra ha, khít lam.
383 - Khít na su lam.
384 - Tan ta su lam.
385 - Ngát ri da su lam.
386 - Mát ma su lam.
387 - Pát ri si ba su lam.
388 - Pi lát si cha su lam.
389 - U ta ra su lam.
390 - Khít chi su lam.
391 - Pát si ti su lam.
392 - U ru su lam.
393 - Sang ca su lam.
394 - Hát si ta su lam.
395 - Pát ta su lam.
396 - Sa phang ang ca pát ra, chang kha su lam.
397 - Pu ta bi ta đa.
398 - Ða ky ni sấp ba ra.
399 - Ta tát ru ca, kin chát ru kít chi, ba lu ta pi.
400 - Sát pát ru ha lang ca.
401 - Su sa tát ra, sa na khít ra.
402 - Pi sa du ca.
403 - A ky ni, u ta ca.
404 - Mát ra bê ra, kin ta ra.
405 - A ca ra, mít ri chát, than lim pu ca.
406 - Ti lất chi cha.
407 - Pi ri sít chít ca.
408 - Sát va na khu ra.
409 - Si dan ga pi, khít ra ri dác sa, tát ra sô.
410 - Mát ra si, phê ti sam sa bê sam.
411 - Si ta ta, pa tơ ra.
412 - Ma ha pát cha ru, sít ni sam.
413 - Ma ha pa ra chang ky lam.
414 - Da pa tát đa sa du cha na.
415 - Pin tan ly na.
416 - Pi đa da, ban đam ca ru mi.
417 - Ti su, ban đam ca ru mi.
418 - Pát ra pi đa, ban đam ca ru mi.
419 - Ta đya tha.
420 - A ôm,
421 - A na lê,
422 - Bi su đê,
423 - Bê ra, pát cha ra, đa ri.
424 - Pun đa pun đa ni,
425 - Pát cha ra pang ni phun.
426 - Hu hum tu ru ung phun,
427 - Sô va ha.
(Âm Việt Nam theo bản tiếng sanscrit - chữ Phạn. Sư cụ Tuệ Nhuận xuất bản ở Hà Nội năm 1949)
Chào bạn tran nguyendn,
Mình tìm thấy những link liên quan đến chủ đề mà bạn cần đọc để biết:
http://www.tangthuphathoc.net/giangg...ngthong/00.htm
http://diendan.daitangkinhvietnam.or...php?f=40&t=476
Kính chào
Bạn quocbao mến!Trích dẫn:
Xin lần lượt trình bày từng vấn đề một mà Phật tử đã nêu:
1) Tụng chú Lăng Nghiêm có giờ giấc quy định không?
Không có giờ nào quy định để tụng chú Lăng Nghiêm, Ðại Bi, hoặc Thập Chú gì cả. Có thể tụng buổi sáng, tối hoặc bất cứ lúc nào trong ngày cũng được. Tuy nhiên trong Chùa thường tụng chú Lăng Nghiêm khi vừa thức giấc, nghĩa là bốn giờ sáng.
2) Tụng chú phải có Thầy chứng minh để khỏi tội “trộm pháp”?
Không cần có Thầy chứng minh khi đọc tụng. Không ai có thể “trộm pháp” của Phật. Nếu người nào “trộm pháp” đem phổ biến cho đời, đem lại nguồn an lạc cho quần sanh thì công đức thật vô lượng.
3) Tụng chú có thể trừ ma quỷ, không vào đạo tràng cũng như vào đạo tràng?
Không phải vậy. Trừ được tà ma quỷ mị hay không chủ yếu là do tâm của hành giả, chứ không phải do chú. Các bậc đại hành giả thì dù không tụng chú nhưng với tâm thanh tịnh, giữ giới đức nghiêm trang thì nhân thiên kính phục, quỷ thần phải sợ. Nhân gian còn nói: “Tài cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh” huống hồ các bậc Bồ-tát, Thánh Tăng hoặc các bậc chân tu. Còn các người phàm phu, tâm loạn động thì dù tụng đã mấy ngàn biến vẫn không điều phục nổi quỷ thần, mà ngược lại bị quỷ thần điều phục nữa là khác.
4) Tụng chú Lăng Nghiêm dù có phạm giới cũng như không phạm giới?
Không phải vậy. Nếu chú có công năng như vậy thì có lẽ đức Phật đã bảo chư Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni cũng như nam nữ Phật tử đã tụng chú hết rồi, cần gì phải giữ giới, tu thiền định?
5) Tụng chú Lăng Nghiêm, cầu gì được nấy, bịnh tật tiêu trừ?
Không phải vậy. Nếu chú Lăng Nghiêm mà linh ứng như vậy thì có lẽ chư Tỳ-kheo thời Phật không ai thiếu thực phẩm để độ nhật và không có ai bệnh hoạn nữa rồi, đặc biệt chúng sanh bao đời không còn đau khổ vì miếng cơm manh áo.
***
Quan điểm riêng của bản thân người trả lời: dù có chỗ nào ghi đó là lời dạy chân thực của đức Phật Thích-ca hay của chư vị Bồ-tát, thì riêng bản thân không dám nhận định, nhưng quyết không tin theo được. Vì chú cũng chỉ là một phương tiện xưng tụng các danh hiệu của chư Phật, chư Bồ-tát hoặc chư thiên, các vị thần linh có oai lực lớn mà thôi. Bản thân người viết thừa nhận năng lực của các loại thần chú, không riêng gì chú Lăng Nghiêm hoặc chú Ðại Bi mà bất cứ chú nào, dù đó là chú của tà ma ngoại đạo đi nữa. Nhưng phải nói thêm là năng lực của các loại thần chú cũng có giới hạn, đặc biệt không có giá trị trong quá trình thay đổi nghiệp quả của con người. Chú chỉ có thể trợ giúp một phần nào tinh thần của người đương niệm hoặc một phần nào sự gia trợ của chư thiên, chư thần, nhưng công năng của chúng tuyệt đối không thể nào như các trường hợp mà chúng ta đề cập ở trên.
Vấn đề có lẽ không đơn giản và khó lòng mà dứt điểm ngang ở đây. Do đó, chúng ta sẽ có dịp trở lại vấn đề này sau trong một câu hỏi của một Phật tử đã đặt vấn đề cho HTPH.
Chúc quý Phật tử thân tâm thường an lạc.
NK không rõ câu trả lời trên của vị nào vì bạn không ghi nguồn. Theo NK thì đây chỉ là quan điểm cá nhân của vị ấy mà thôi, không tin theo Kinh Phật và lời của chư Tổ, không có lập luận rõ ràng, nên không thể là câu trả lời chung cho tất cả mọi người. Vì vậy những câu trả lời bạn post trên chỉ nên để tham khảo mà thôi.
Khi một người nào đó hỏi về sự linh nghiệm của thần chú Phật thì rõ là người ấy thiếu lòng tin tưởng. Nếu đã tin cần gì hỏi ai có linh nghiệm này, linh nghiệm kia hay không, ai nói gì cũng mặc và cứ hành đúng theo Kinh thì tất sẽ linh nghiệm. Lời Kinh, lời chư tổ không tin, lại hỏi sự linh nghiệm từ một vị cũng không mấy tin tưởng thì câu trả lời sao có thể làm căn cứ được? Người học Phật ai cũng biết rằng mỗi người có sự linh nghiệm khác nhau phụ thuộc hoàn toàn vào chính người ấy.
NK tin rằng lời Kinh, lời chư tổ nói về sự linh nghiệm của chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi... quyết không sai, không phải giả dối. Vị nào tụng niệm thần chú Phật không thấy linh nghiệm điều này, điều kia như lời Kinh, lời tổ nói đáng ra phải tự trách mình chứ đi hỏi vị khác có linh nghiệm hay không để làm gì vậy. :confused:
Vài lời thô thiển có gì không phải mong bạn bỏ qua.
Nam mô A Di Đà Phật.
Phật pháp vô biên niệm phật trì chú đọc kinh điểm cốt lõi là tâm mình không xao động ghi nhớ từng lời Phật day trong kinh niệm Phật thì tránh được tạp niệm nghỉ tới hồng trần là nơi đau khổ nên tìm con đường giải thoát cho chính mình tự mình cứu láy mình
Mình có 1 câu chuyên xin kể cho các bạn nghe
mình có bà chị lúc nào cũng lo làm ăn không lúc nào nghỉ rồi chồng chị ấy cứ quạy phá chị ghen tuôn đủ điều chị thấy cuộc đời đầy đau khổ chị ấy ước là mình sống tới 40 thì chết là vừa nhưng khi mình nói cho chị ấy nghe về phật pháp chị ấy mới hiểu là mình đã tự làm khổ mình chị bắt đầy niệm phật chị thấy khá hơn nhiều không còn la nghỉ nhiều nử a chị đã quyết định bỏ tất cả để tìm nguồn giải thoát chị ko biết đọc thần chú nhưng nghe về 14 điều phật dạy và những câu chuyện về đức phật chị đã cố gắn làm theo lời phật dạy làm phước bố thí cúng dường bay giờ chị đã khá hơn nhiều
Mình hồi trước cũng tham sân si hận nhưng rồi khi gập phật pháp mình nghỉ tai sao mình phải buồn rầu lo phiền minh luôn tự an ủi mình bằng câu sắc tức là ko ko tức là sắc mọi thứ trên đời là hư ảo việc chi còn ở trần giang là điều quyển quoặt chớ mang nơi lòng
bay gời mình sống rất vui mình chỉ có 1 ước mong là sanh về cực lạc của đúc phật A Di Đà cuối sinh đức phật từ bi gia hộ
à mình không Giận Bạn Ngọc khanh đâu moi người đều có ý kiến riêng của mình cốt làm sao giữ được tâm bồ đề
Chúc các bạn tâm thanh tịnh sớm đắc A Nậu Đa La Tâm Miệu Tam Bồ Đề
Kính chư Huynh
Đệ rất chân thành cảm tạ các Quý huynh.
Nhưng các huynh kiếm giùm đệ bản chưa phiên âm Việt có được không?
Kính
qua câu hỏi và các câu trả lời giúp mọi người hiểu rỏ
cảm ơn các bạn rất giỏi và rất đáng khen
Chân thành cảm ơn các bạn rất nhiều.
tôi không phải là thành viên của diễn đàn nhưng lại là một phật tử. có một topic gửi lên bảo là không tin vào thần chú và chỉ cho thần chú là một phương tiện xưng tụng danh hiệu chư phật và chư bổ tát và chư thiện thần mà không tin vào năng lực cứu cánh của thần chú. tôi cảm thấy bức xúc quá nên đăng kí viết bài để quý vị tham khảo.
thứ nhất tôi cho rằng người nói điều này là phỉ báng chánh pháp và chư phật ba đời. tại sao lai thế? trong kinh đại bi tâm đà la ni. có nói thế này. một hôm đức thế tôn dùng thánh chúng tới phổ đà lạc già, đạo tràng của quán thế âm bồ tát. để mừng đón như lai và thánh chúng, ngài quán thế âm đã vận sức thần thông biến toàn bộ cung điện thành quách trở thành thất bảo lung linh và chói sắc vàng diêm phù đề. thấy thần thông vô ngại như thế ngàu xá lợi phất hỏi phật rằng. "bạch đức thế tôn do duyên gi mà có điềm lành này", đức phật bảo "đó là do thần lực của ngài bồ tát quán thế âm hóa thành", xá lợi phất lại hỏi "vậy ngài quán thế âm tu pháp môn nào mà được thần thông không thề nghĩ bản như thế". lúc đó ngài quán thế âm ra đón phật và đức như lai bảo ngài quán thế âm rằng "ông hãy vì hàng tứ chúng, bát bộ trời người mà nói về hạnh tu hành của ông". đức quán thế âm bảo với tứ chúng rằng "Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có đức Phật Thiện Quang Vương Tịnh Trụ ra đời, vì tôi mà ngài đã diễn nói chú đại bi tâm đà la ni, khi nghe xong tôi từ bật sơ địa chứng lên bát địa liền".
ngài thấy hiệu nghiệm như vậy nên đã phát lời nguyện rằng. "Nếu qua đời vị lai có thể đem chú này ra mà làm lợi ích cho chúng sanh, thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cái tay và ngàn con mắt v.v. Ngài nguyện vừa rồi thì quả nhiên tay mắt đều cụ túc tất cả, và chư Phật lại phóng quang soi đến thân Ngài và soi khắp vô biên thế giới .
Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng: Nếu người nào trì tụng chú này mỗi đêm 5 biến, thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi Tịnh độ. Bằng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác đạo và chẳng đặng sanh về cõi Phật, hay là chẳng đặng những pháp tam muội, biện tài và chỗ sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là "Ðại bi tâm đà la ni".
Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi, thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.
Quán Thế Âm Bồ tát lại bạch Phật: - Bạch đức Thế Tôn, nếu chúng sanh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào 3 đường ác, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sanh về các cõi Phật, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng tam muội biện tài, tôi thề không thành chánh giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi Tâm Đà Ra Ni.
đó là lời trọng nguyện của một bật đại bồ tát đã đi khắp ta bà phổ độ vô lượng vô biên chúng sanh, được chư phật ba đời hằng ngợi khen cha lẽ lại không đáng tin.
thứ hai, chú thủ lăng nghiêm là do chính đức Thích ca Mâu Ni phật diễn nói trong đại định. bài kinh lăng nghiêm có đoạn xin được nói ra
"bấy giời thế tôn từ trong tướng lông trắng chặn giữa chân mày phóng ra vô lượng ánh sánh báu đẹp lạ thường. từ trong ánh sáng ấy xuất hiện một đóa hoa sen ngàn cánh, trong dóa sen ngàn cánh đó xuất hiện hóa thân phật, hóa thân ấy lại phóng hào quang chói sáng khắp mười phương hằng ha sa các cõi phật, tất cả đại chúng đều hướng về hóa thân phật, trong lúc đó hóa thân phật ấy nói thần chú này" . chú thường do chính hiện thân đức như lai nói ra nhưng chú lăng nghiêm này lại do chính hóa thân phật trong ánh sánh trí tuệ của như lai đang nhập vào đại định. do đó, thần chú lăng nghiêm chính là hiện thân pháp tướng trí tuệ của như lai, tại sao có người lại không tin?
thứ ba, danh hiệu của chư phật, chưa đại bồ tát chứa đựng vô lượng vô biên công đức, nếu nhất tâm trì tụng hiện đời sẽ được chư thiện thần hộ niệm cho được an ổn tránh dược mọi tai nạn. trong kinh địa tạng cũng có nói "ai sắp mạng chugn mà thần thức nghe được danh hiệu của chu phật, chư bồ tát chư hiền thánh tăng nhận đến danh hiệu của một bích chi phật thì cũng được siêu việt tội trọng trong nhiều đời" huống hồ trì tụng chú lại có diệu dụng nhiều hơn cả thể.
niềm tin la mẹ đẻ của tất cả công đức, đó là lời chư phật nói ra. tất cả kinh điển, thần chú đều là chu phật chư bồ tát vì thương sót chúng sanh mà vận sức từ bi mà nói ra, hòng cứu độ chúng sanh trong đời mạt pháp. tôi nói ra không phải đề tranh luận thiệt hơn hay phô bày sự hiểu biết. mà tôi nói ra để những vị nào mới phát tâm tu học thì đừng vì những lời lẽ thiếu đúng đắn mà thối thất tâm bồ đề. hạnh tu nào cũng cao quý, biết rằng tội hay phước đều do chúng sanh gây tạo nghiệp lực mà ra. thế nhưng bản chất của chúng sinh la có phật tánh, nhưng bị vô minh che lấp nến không thấy được đạo giải thoát. nay có duyên lành học phật pháp dù chỉ một bài chú hay chỉ một câu niệm phật cũng phải giữ gìn và trân trọng như chau báu, bời nó là phương tiện dẫn ta đến an vui giải thoát và hiện đời an lac, giống như muốn lau tấm gương cho mau sáng thì cần phải có cái khăn sạch. nên ranh mà tu hành tinh tấn.
còn những ai còn nghi ngờ tất là đang mất sự lợi ích lớn, có tội với tam bảo, cần phải xem lai chỗ hiểu biết của mình đừng nói lung tung làm tổn thất tín tâm của người khác. và thiết nghĩ người đó cũng nên đối trước tam bảo mà phat tâm sám hối kẻo tội báng bổ chánh pháp là khó tránh khỏi.
vài ý kiến xin thô thiển mong quý vị lượng thứ
đaibatnha đừng phân tâm vì người không tin phật pháp nhiều như số cát sông hằng còn người tin phật pháp như ngọc trai dưới biển . những điều phật và bồ tát nói và làm đến ngày nay cả khoa học còn chưa hiểu hết nổi huống hồ chi là phàm phu.
chỉ đơn thuần phật thấy trong bát nước có 4 vạn 8 ngàn con vi trùng bằng mắt thướng mà khoa học ngày nay phải nhờ tới kính hiển vi mới thấy và tin được mà thới đức phật làm gì có kính hiển vi.
như vậy đức phật thấy xa hiểu rộng thế nào còn khoa học kỹ thuật thì phải đi từng bước 1 để chứng minh và lúc đó mới tin . đơn thuần nhất linh hồn là gì mà khoa học ngày nay tin nhưng tin rất lờ mờ . để quay về chủ đề nếu bạn nào không tin bởi vì các bạn muốn đi tìm thần thông khi đi tìm thần thông thì không bao giờ có chỉ có giới huyền thuật mà thôi .
phật pháp vốn dẫn dắt con người đi đến con đường giác ngộ và giải thoát chứ không phải đi tìm thần thông linh ứng. thần thông không thể cứu con người giải thoát được mà đó chỉ là phương tiện trên con đường tu đạo mà thôi.
cho nên tôi tóm tắt lại muốn có linh ứng thì bạn phải thiết tha với tâm vô cầu , vô cầu ắt hữu diệt tâm tham cầu thì sự việc điều thông những gì bạn mong muốn điều là phật pháp và những gì bạn làm điều là lợi ích cho mọi sanh linh vì sao vì tất cả vốn là không , ở tâm không bạn sẽ thấy ai ai cũng điều mong cầu nhưng ắc cầu thì sanh tham luyến mà tham luyến đó chính là địa ngục ngạ quỹ và súc sanh . tôi nói vậy không biết các bạn có hiểu không .
nên chọn 1 pháp tu và tu với tâm không mong cầu tất linh ứng , sự linh ứng không thể nghĩ bàn A di đà phật .
pháp quyền thừa kinh là phuong tiện
thí dụ ngưởi đào giếng đất khô cằn
gấn công trì trí dến được gần
lớp đất ướt đến dần mạch nước
ban hoadang nói rất hay! thần thông không thể cứu thoát con người mà nó chỉ là phương tiện. giống như thế này: người đi trong rừng sâu hiểm nạn cần có vũ khí chống lại thú dữ và các ác nhân. thần chú cũng vậy. khi ta bước trên đường tu hành thì có rất nhiều Ma theo phá phách (ma đây đừng hiểu theo nghĩa thông thường nha, nhiều bác bảo là em nói chuyện nhảm nhí tội em, ma đây chính là những ác nghiệp, ác duyên ngăn cản đường tu học). chư phật và thánh chúng là bậc giác ngộ, định huệ vững chắc, còn chúng sinh thì định huệ còn non kém chưa đủ sức chống lại nên để hỗ trợ chúng sinh trên đường thánh đạo chư phật và bồ tát đã tuyên nói thần chú. đó cũng đúng là phương tiên cứu cánh là trợ đạo cho chúng sanh trên đường tu học. nhưng bạn hoadang a`, mình nói cái này không biết bạn có đồng ý không?
thần chú ngoài diệu dụng như bạn và tôi đã hiểu thì theo tôi nó cũng là một phương pháp tu hành. nếu như thiền tông dựa vào tự tánh của mình để vào định, thâm nhập vào tri tuệ chư phật, quán chiếu duyên của vạn pháp sinh diệt vô thường trong thế gian. còn trì tụng chú lại vừa dựa vào tự thân vừa nhờ vào tha lực của đức phật. tự tha tức là chính bản thân mình, khi trì tụng chú thì phải nghiêm trì giới luật, giữ thân tâm thanh tịnh, khi tụng chú thì nhất tâm dần dần nhập vào chánh định, tâm không quán theo cảnh duyên mà quán theo câu trì tụng, tức đạt tới cảnh giới tam muội. còn tha lực thì như tôi với bạn đều đã biết, nhờ trì tụng chú mà được chư thiện thần hộ niệm cho công phu tu tập được thù thắng. hành giả nào thích sự linh diệu thần thông của thần chú mà vẫn thành tựu được đạo quả bồ đề thì có thể thực hành hạnh mật tông, trì tụng thần chú. tuy nhiên, mật tông hành trì công phu, phải có nhiều pháp trợ đạo, nhiều qui tắt khắc khe mà đặc biệt cần có minh sư đạo hạnh cao thâm dẫn dắt, nếu không dễ lạc vào ma đạo. do đó hành giả nào có y định này thì cần suy nghĩ kỹ càng. nhưng theo tôi hạnh mật tông khó tu, khó chứng, nên những hàng sơ phát tâm không nên theo hạnh này mà chỉ nương nhờ oai lực của thần chú tạo thắng duyên trên đường tu học mà thôi
Chân thành cảm tạ các huynh rất nhiều.
cảm ơn chiếc bánh pizza
ăn rất ngon
người ốm ăn thêm mập
người mập càng mập thêm
nhưng bánh sèo việt nam rất ngon
ăn không mập không ốm
ăn bánh sèo là ghiền
hạt mồng tơi tim tím đợi chờ
tình tím tái như môi ai tím mộng
lá mồng tơi nấu canh hội ngộ
vươm mầm xanh vui đón tình yêu
hỏng thèm yêu
trả lại tim yêu ai yêu tôi
dâng tặng cho đời mối tình đầu
nước mắt cười hoen mi nhỏng nhẻo
hỏng thèm yêu sao cứ liêu xiêu
trái tim yêu ai cho ai lấy
hỏng thèm sao quý giá vô chừng
người vô tình hay tôi vô tình
hỏng thèm đâu ...thế thích cái gì ?
tôi là cô gái đẹp trai
mi nhon hết ý
quậy vui tưng bừng
ai yêu xin chờ mừng thầm
hỏng thèm chỉ có trời già biết thôi
ac! cô gái đẹp trai? hiện tượng la
Hỏng phải hiện tượng lạ đâu huynh DBN, đây là lời tâm sự của một anh chàng Bê Đê. :)
Thân
NN
tình anh dậy sóng
như thác nước muôn đời tung tóe
cho cuộc đời tràn ngập yêu thương
thế anh người hùng thời đại
thế anh có yêu em không ?...
có bao nhiều nàng con gái xinh đẹp hỏi thế anh ....
anh chẳng biết trả lời sao ....
chỉ biết tình anh như thác đổ rừng sâu
tuôn chảy mãi cho muôn người hạnh phúc
Ooppss! Sorry nha.
Ai tu nấy chứng, ai ngẫm nấy hay!