xin chào các huynh tỉ muội trong diễn đàn . đệ đang mún tìm 1 ngôi chùa để tu hành vậy các huynh tỉ muội có bit ngôi chùa nào thu nhận đệ được ko. xin cám ơn và hok có hậu tạ nha
Printable View
xin chào các huynh tỉ muội trong diễn đàn . đệ đang mún tìm 1 ngôi chùa để tu hành vậy các huynh tỉ muội có bit ngôi chùa nào thu nhận đệ được ko. xin cám ơn và hok có hậu tạ nha
tâm bạn cũng là 1 ngôi chùa ,vậy ta còn đi đâu xa nữa , hãy lấy intenet làm kiến thức , sách vở mà tu hành
nam mô a di đà phật
Trước tiên phải biết công quả rồi là một phật tử quy chùa ,xong quá trình tu tập mới vào xuất gia ,tôi biết rất nhiều chùa hiện đang cần người vào hỗ trợ chăm sóc chùa .
1=CHÙA GIÁC VƯƠNG ở chợ QUANG TRUNG đường hướng về HÓC MÔN
2=CHÙA HÔNG LIÊN thầy trụ trì mới mất năm ngoái .
Muốn liên hệ người nên liên hệ hội phật giáo ,sẽ giúp cho người phân bổ về chùa , phải có giấy tùy thân như:
Giấy chứng nhận sự đồng ý của người thân như vợ ,chồng ,con cái ,cha mẹ thân thuộc đồng ý cho người được xuất gia .
Giấy đồng ý hội PHẬT GIÁO thu nhận người vào xuất gia
Giấy chứng minh nhân dân ,giấy phát nguyện xin xuất gia và xin được tuân thủ nội quy giới luật từ hội phật giáo .
Nếu là nam thì vào các chùa tăng ,nếu là nữ hãy liên hệ chùa ni ở chùa gần đài mộ các nghệ sĩ cũng đang cần người vào để tiếp nối trụ trì chùa .
Người muốn xuất gia nên chịu khó tầm gần gũi sư tăng để được hướng dẫn
đồng thời phải lựa chọn chùa NAM TÔNG hay BẮC TÔNG ,hòa hảo ....v vv...mỗi nơi đều có quy luật nơi đó
bạn liên lạc vời mình di co gì mình hường dẩn thêm cho sdt 01216989958
Mời bạn tham khảo
Các giai đoạn để đi Tu
Bất cứ vị tu sỹ Phật giáo nào, sau khi bỏ cuộc sống thế tục, cạo tóc xuất gia để bắt đầu một nếp sống tu hành, đều phải trải qua một giai đoạn học và hành hạnh Sa-di. Những người này trong chùa thường được gọi là chú tiểu hay chú điệu.
Tập sống trong cửa thiền
Giai đoạn làm tiểu có khi 5 năm, 10 năm, cũng có khi là 2 năm, 3 năm tùy thuộc vào tuổi đời lúc xuất gia cũng như khả năng cố gắng học hỏi của những người tập tu.
Đại đức Thích Minh Trí, trụ trì chùa Phúc Lâm (Biên Hòa) cho biết: "Người mới vào tu, để được đăng đàn thọ Cụ túc giới làm thầy trong Phật giáo, ngoài việc hàng ngày phải thức khuya dậy sớm lễ Phật, tụng kinh, và làm việc trong chùa, họ phải học nằm lòng và thực hành bốn quyền luật căn bản dành cho Sa-di, đó là Tỳ-ni, Sa-di, Oai nghi và Cảnh sách."
Tỳ-ni đó là những bài kệ chú giúp người tập tu tự huấn luyện tinh thần tự giác, tự biết, tự trách nhiệm, sự chú tâm, lòng từ ái và thái độ sống thanh thản, chấp nhận một đời sống giản dị.
Còn việc học thuộc lòng mười giới Sa-di nhằm để các chú tiểu loại bỏ tâm ác, tránh gây tổn hại đến chúng sinh, bảo vệ hạnh phúc, niềm tin giải thoát cho đời; ngoài ra còn giúp loại bỏ tham, sân, si của tự tâm, chế ngự dục vọng hầu tăng trưởng định và tuệ (tịnh tâm và trí tuệ – PV) hướng đến sự giải thoát.
Những người mới vào chùa để tập tu thường được gọi là chú tiểu
24 bài học về oai nghi dạy cung cách hành xử của Sa Di. Trong đó, xây dựng cho Sa Di lối sống và xử sự của một người xuất gia như: thể hiện lòng cung kính Tam bảo; khao khát giải thoát; tế nhị trong các việc nói năng, đi, đứng, nằm, ngồi; chân thật và lịch sự đối với người đời; tránh tranh cãi phải trái; tránh các ngộ nhận và phiền phức có thể xảy đến cho người tu.
Riêng đối với Cảnh sách, đây là những lời sách tấn, khuyến khích và cảnh tỉnh người mới tu cần thấy rõ nếu đã vì mong cầu giải thoát mà xuất gia thì không vì lý do gì mà lại không siêng năng tu tập; biết hổ thẹn về những việc cần làm mà không làm; cảnh báo cho họ thấy nếu vụng tu (tu không tốt - PV) thì sẽ nhận lấy hậu quả đau khổ trong hiện tại và khuyên nên tinh cần thực hiện giải thoát tự thân qua thiền định.
"Bốn quyển luật trên là để dạy cho người tập tu các kỹ năng sống, tu tập hướng đến sự thăng tiến tâm linh và cách đối nhân xử thế trong môi trường nhà Phật. Ngày xưa, những quyển luật này do các bổn sư truyền dạy trực tiếp cho đệ tử nhưng hiện nay có rất nhiều trường Phật học tại các tỉnh, thành nên các bổn sư thường gửi đệ tử của mình đến đó nhờ các giáo thọ giảng dạy." - thầy Minh Trí chia sẻ.
Người tập tu ngoài việc thức khuya dậy sớm lễ Phật, tụng kinh, làm việc trong chùa
còn phải học nằm lòng và thực hành bốn quyền luật căn bản
Tập tu để có sự sàng lọc
Thời Đức Phật còn tại thế, đối với người đến xin Ngài xuất gia, Ngài chỉ cần nói "lành thay, Tỳ kheo!" là người đó đã trở thành vị Sa-môn.
Nhưng, theo thầy Minh Trí, ngày nay trong đạo Phật không có chuyện người vừa cạo đầu xuất gia là đã trở thành nhà sư được, mà phải trải qua giai đoạn làm chú tiểu - là giai đoạn thử thách và uốn nắn suy nghĩ, lời nói, hành vi theo lối sống của nhà Phật cho người mới vào tu, dù người đó xuất gia lúc trẻ tuổi hay lớn tuổi.
Lý giải về vấn đề này, thầy Minh Trí cho rằng người khởi tâm đi tu cũng có nhiều lý do khác nhau, hoặc do thất tình, hoặc do sa cơ thất thế, hoặc do gia đình nghèo khó, hoặc do trốn tránh pháp luật, hoặc do thực tâm muốn tìm sự giải thoát v.v.
Giai đoạn làm chú tiểu là khoảng thời gian thử thách và uốn nắn suy nghĩ, lời nói, hành vi theo lối sống của nhà Phật
Vì thế, cũng giống như sàng gạo để chọn những hạt gạo chắc, tốt, nhà Phật bắt buộc người tập tu muốn trở thành một thầy Tỳ-kheo phải có thời gian làm chú tiểu/ hành điệu để thầy bổn sư sàng lọc, theo dõi xem người đó có thích nghi được với môi trường cửa Phật, có thực tâm cầu đạo hay không?
Trên thực tế, vị Sa di nào không thích nghi được với môi trường nhà Phật trong giai đoạn tập tu đều trở về lại với cuộc sống đời thường. Còn vị nào có căn tu, tức thực tâm xuất gia thì sẽ vượt qua giai đoạn làm tiểu để tiến đến hiến trọn đời mình cho lý tưởng giải thoát.
"Hơn nữa, nhờ trải qua giai đoạn này mà từ lời nói, suy nghĩ và hành động của vị chân tu khác hẳn với người giả sư. Nhìn người chân tu thì ta dễ phát sinh tâm cảm mến, tin tưởng. Nhìn kẻ giả sư, tự nhiên ta sinh tâm nghi ngờ họ" - thầy Minh Trí cười nói.
Sa-di, tiếng Pāli là Sāmanera hay Samanuddesa, nghĩa là con của bậc Sa-môn (Tỳ-kheo), hay người đang tập tu để trở thành vị Sa-môn. Trung Quốc dịch Sa-di là ’tức từ’, nghĩa là dừng làm các việc xấu ác, thực hành các hạnh từ bi.
Theo Quần Anh - Hoài Lương Chùa Phúc Lâm
Bạn phải nói rõ b ở tỉnh thành nào, là nam hay nữ thì mọi ng mới tư vấn c.xác đc chứ.
Ngày 13,14,15 tháng 7 có mở lớp Pháp hội tại huyện Bình Chánh - TP HCM. Trước ngày 12/7 bạn cứ liên lạc với mình để đi dự 3 ngày Pháp hội để nhìn nhận rõ chân tâm Phật tánh của chính mình, còn được học hỏi nhiều điều hay lẽ phải nữa. Sau đó bạn có quyết định đi tu nữa hay không vẫn chưa muộn ! SĐT liên lạc: 0123.675.00.88
tu đâu cho bằng tu nhà , thờ cha kính mẹ mới là chân tu .
bạn có thể nói bạn ở đâu để được tư vấn rõ hơn
sẵn đây cho mình hỏi : mình muốn làm 1 hành giả , nhưng mình chẳng biết phải đi về phương nào , ở nhà ba mẹ ko hiểu , toàn bị chữi suốt thôi , mình nản lắm
Đêm nào cũng nghe 1 câu và lầu bầu dưới nhà vọng lên khi trì chú niệm Phật
" Cho nó ăn học cao để giờ nó niệm Phật đi tu" cứ thế nhằn mãi, nhằn thì cứ nhằn, ta tu thì ta tu , ăn nhập gì đâu. Cứ tinh tiến nhé bạn nguoithichtu.
k hiểu chủ topic vội quá hay là chỉ là phát sinh ý định này trong phút chốc nên ngắn gọn quá. cảm giác như việc xuống tóc đi tu thật đơn giản. pháp môn nào, ở đâu, thầy nào, chúng ra sao, tự mình đi và chiêm nghiệm bạn ạ. và quan trọng nữa là có đủ tín, đủ nguyện, đủ hạnh mà dù chướng ngại nào cũng vượt qua được không. ở trong chúng, có nhiều vấn đề lắm. tìm thầy cho ra thầy, để mình cho ra trò. không dễ. bạn cứ xin làm công quả ở các chùa một thời gian
hic miền bắc cơ ạ
thấy chủ topic chưa có định hướng j nhiều. thử tới các thiền viện "nghỉ dưỡng" kết hợp tập tu ít tuần xem sao. hê thống thiền viện Trúc Lâm của thầy Thích Thanh Từ (mọi người đăng nhiều rồi, chủ topic tự search đi. cầu đạo mà cũng ngại khoản này thì thua luôn rồi). nhiều nơi nhưng t k biết rõ nên k chỉ, chỉ biết chỗ này thì luôn welcome cư sĩ. sáng 3h dậy, ngày ngồi thiền 2 lần, mỗi lần tiếng rưỡi, không ăn quá ngọ. tùy từng nơi mà có khi phải lao tác rất vất vả, có khi lại khá nhàn hạ. khi t là cư sĩ ở Tây Thiên, đi nhặt củi, bốc mùn cưa, đẩy xe bò là chuyện bình thường (dù ở nhà thì bê cái nồi cũng kêu mỏi tay nhưng lên đó làm hết).
Làm ơn chọn thầy, xác định con đường cho thật rõ
Ở Việt Nam chỉ có một vài chỗ thôi đạo hữu ạ ^^ Nhưng còn tùy rằng đệ thích tu theo đường lối nào. Vì rằng đi tầm bậy là vào cửa ma chứ không phải là cửa phật đâu.
Nếu như ba mẹ hông hiểu bạn mà bạn đi tu thì bạn chưa thể tu được đâu ^^ còn nếu như ba mẹ không hiểu đường lối tu học của bạn, thì bạn phải kiên nhẫn và tinh tấn, thử nhìn xung quanh xem có ai minh chứng được cho bạn Niết Bàn, hay Giái thoát là gì đâu, toàn là khổ đau, dối gạt, bản năng sống còn không thôi, thế thì bạn bảo ba mẹ bạn tin làm sao được ? Thế thì muốn tin thì chỉ còn cách là tự mình chứng đạt không còn khổ nữa thì mới giúp ba mẹ bạn tin được.Trích dẫn:
sẵn đây cho mình hỏi : mình muốn làm 1 hành giả , nhưng mình chẳng biết phải đi về phương nào , ở nhà ba mẹ ko hiểu , toàn bị chữi suốt thôi , mình nản lắm
Vậy bạn ạ, bạn phải vui vẻ lên nhé, đó là bạn đang tu tâm hỷ đấy. Hãy từ từ tìm cho được chân sư, nơi nào bạn vào là để tu, để giái thoát chứ không phải là đi lao động công ích cho thiên hạ, và cũng không phải tu để cầu tài lộc, bình an nhé ^^ Và trong khi tìm kiếm như vậy, mong bạn hãy thường xuyên rèn luyện tâm mình cho an tịnh, trừ đi chường ngại tham sân si từ từ trước đi, và đợi khi duyên đến thì sẽ xuất gia nhé
Chúc bạn luôn vui vẻ ( Bạn và mình cùng cảnh ngộ, nên hãy động viên nhau nha )
tu đâu cho = tu nhà
trọng cha kính mẹ như người đi tu
Đọc bạn NHP kể buồn cười và dễ thương thiệt. :D
@ HoasencungPhat: Bạn ở ngoài Bắc hả, theo QN là nếu quyết định xuất gia nhất định phải chọn Chùa và chọn Minh sư cho đàng hoàng, không thể chọn chơi chơi. Đôi khi "nhầm chùa" thì thật tiếc cho kiếp tu hành, vì mình đã dứt bỏ gia đình, bạn bè, người thân... để quyết theo con đường giải thoát mà gặp chùa và Thầy "không phải là minh sư" thì thật phí đời tu, phí sự dứt bỏ tình thân.
Nếu xuất gia, QN khuyên bạn nên vào miền Nam xin xuất gia, dù gì thì Phật giáo trong Nam cũng phát triển hơn và "thuần Phật giáo" hơn. Vì ngoài Bắc, các chùa đôi khi bị nhiễm phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian thành ra "không được thuần Phật giáo lắm". Đó là nhận định của QN, mong các bạn ngoài Bắc đừng ném đá. ;)
Còn nếu muốn tu ngoài Bắc, không biết bạn ở tỉnh nào. Nếu Hà Nội thì có các Thiền Viện tu học khá tốt đó, như là Thiền Viện Sùng Phúc nè. Nếu bạn ở Bắc Ninh thì có chùa Diên Quang (chùa Guột). ĐT: 0982722244, chùa này cơ sở của Chùa Hoằng Pháp. Hoặc chùa Từ Xuyên (Thái Bình). Đây cũng là những địa điểm tu học khá lí tưởng.
Nhưng trước khi xuất gia bạn phải suy nghĩ thật chín chắn, xem là mình xuất gia vì điều gì. Nếu vì chúng sanh, nếu vì sự giải thoát giác ngộ thì được. Chứ chỉ xuất gia vì "chán đời" hay "ở đời khó tu" thì trước sau cũng lui sụt hoặc hoàn tục khi gặp nghịch duyên đến.
Trước khi đi tu, bạn thử chuyên tu đi, bằng cách nhập thất thử 1 tuần. Nếu được, bạn hãy đến địa chỉ nhập thất lý tưởng này nha => http://diendan.daitangkinhvietnam.or...hp?f=81&t=8675
Chúc bạn sáng suốt.
A Di Đà Phật.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, thật là phước đức vô lượng vô biên, chúc bạn sớm được gặp được chùa lành và minh sư chân chánh. Bạn nên xem qua Kinh Công Đức Xuất Gia này sẽ thấy, bạn nên bỏ chút thời gian xem qua lời Phật dạy sau đây nhé.
Phật thuyết kinh công đức xuất gia
Viết bởi Thích Tâm Nhãn
Dẫn nhập:
Thuở xưa tại xứ Ấn, có một người vương tử quên mình đang tuổi thanh xuân, từ bỏ ngai vàng điện ngọc, quay lưng với quyền uy, danh vọng, thoát tục ly hương, ẩn sâu trong rừng già, sáu năm khổ hạnh… Rồi một hôm, ánh sao mai mờ hẳn trước bình minh bừng dậy, dưới cội Bồ-đề, người vương tử ấy đã tìm ra con đường hạnh phúc miên viễn cho chư thiên và thế giới loài người. Có quyết chí xuất gia người vương tử ấy mới làm được như vậy!?
Nhân ngày khánh đản đức Phật Thích-ca Mâu-ni, chúng tôi xin giới thiệu đến qúy Phật tử kinh “Công đức xuất gia” 1 quyển, không rõ tên người dịch, phụ lục thời Đông Tấn (Tam Tần), Đại Chánh 16, số hiệu 707, trang 813.
Toát yếu nội dung kinh:
Kinh kể về một vương tử tên là Dũng Quân (tên phiên âm Tỳ-la-tiễn-na) thuộc giai cấp qúy tộc Lê-xa, cư ngụ tại thành Tỳ-xá-ly. Ví như ở cõi trời, chư thiên và thiên nữ vui chơi thì đời sống chàng vương tử này cũng vậy, ngày đêm sống hưởng lạc, vui chơi đam mê sắc dục cùng các mỹ nữ.
Nhân một hôm đến giờ thọ trai, đức Phật vào thành khất thực, Ngài dùng Nhất thiết trí mà nghe được âm thanh vui đùa của vương tử Dũng Quân và các mỹ nữ đang vui chơi trên lầu. Đức Phật biết vương tử Dũng Quân sau bảy ngày nữa thì mạng chung sẽ đọa địa ngục. Ngài mới dạy A-nan đến nhà Dũng Quân khuyên bảo nên sớm giác ngộ xuất gia để lúc mạng chung tránh sự đọa lạc. Vâng lời chỉ dạy của Phật, A-nan đến gặp vương tử Dũng Quân khuyên: “Này bạn! Sau bảy ngày nữa bạn sẽ chết. Nếu bạn ở trong ngũ dục không giác ngộ, không xuất gia, thì lúc mạng chung bạn sẽ đọa địa ngục. Phật là bậc Nhất thiết trí, chánh ngữ chánh thuyết đã nói về bạn như thế. Ví như ngọn lửa thiêu đốt mọi vật, thảy đều không sai. Bạn nên suy nghĩ cho kỹ.” Vương tử Dũng Quân nghe nói vậy quá lo sợ, buồn rầu, sầu muộn không vui rồi nói: “Theo lời chỉ dạy của Tôn giả, tôi phải xuất gia nhưng tôi muốn thọ hưởng khoái lạc thêm 6 ngày nữa, đến ngày thứ 7 tôi sẽ giã từ người thân, quyết định xuất gia.”
Đến ngày thứ 7, vương tử Dũng Quân xin Phật xuất gia. Qua một ngày một đêm Dũng Quân tu trì tịnh giới rồi mạng chung. Sau khi hỏa thiêu hương khói xong, A-nan cùng thân quyến của Dũng Quân đến hỏi Phật, thần thức của vương tử Dũng Quân đi về đâu? Phật dạy: vương tử Dũng Quân trong một ngày một đêm tu trì tịnh giới xả bỏ cõi đời này sinh về trời Tứ thiên vương… vui chơi thọ 500 tuổi, rồi mạng chung sinh về cõi trời Ba mươi ba… tuổi thọ kéo dài 1000 tuổi; số tận sinh về Diệm thiên… thọ 2 ngàn tuổi... sinh về cung trời Đâu-suất… thọ 4 ngàn tuổi. Sinh lên Tự tại thiên… thọ 8 ngàn tuổi. Hết 8 ngàn tuổi mạng chung sinh về trời Tha hóa tự tại… thọ một vạn sáu ngàn tuổi. Thọ lạc như vậy qua lại 7 lần trong 6 cõi trời dục. Do một ngày một đêm xuất gia nên mãn 20 kiếp, không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; thường sinh thiên, nhơn, thọ phước tự nhiên. Trong loài người kiếp cuối cùng sinh vào nhà giàu có sung sướng, tài sản phong phú, chân bảo đầy đủ… song Dũng Quân nhàm chán ở đời, xuất gia cạo bỏ râu tóc, thân khoác pháp phục, siêng tu tinh tấn, giữ 4 oai nghi, thường hành chánh niệm, quán ngũ ấm, khổ, không, vô ngã, hiểu pháp nhân duyên, thành Bích-chi Phật, hiệu là Tỳ-lưu-đế; lúc ấy Ngài phóng hào quang lớn có nhiều người, chư thiên được thiện căn và giúp các loài chúng sanh trong ba thừa được giải thoát.
A-nan lại thưa hỏi đức Phật, nếu có người độ người xuất gia, người ấy xuất gia gánh vác mọi việc thì được bao nhiêu phước đức? Và nếu có người gây trở ngại người khác xuất gia thì thọ tội báo gì?
Phật dạy, công đức của người xuất gia không thể nói hết, nếu họ sinh thiên, hay trong loài người thường làm quốc vương, thọ hưởng hạnh phúc nhơn, thiên. Nếu ai giúp người xuất gia vào trong pháp Sa-môn thì dù ở trong sinh tử người ấy vẫn hưởng an lạc, hạnh phúc… Còn nếu gây trở ngại phương hại chuyện người khác xuất gia thì người đó bị cướp mất kho tàng vô tận thiện tài phước báu… thọ vô lượng tội.
Phật lại bảo A-nan:
Nếu có các bậc A-la-hán trong 4 cõi nhiều như lúa cỏ, rừng rậm, rồi có người nào ở trong đó đủ 100 tuổi tận tâm cúng dường những vị A-la-hán này những thứ như: y phục, thức ăn, nước uống, thuốc thang… cho đến sau khi các vị ấy niết-bàn, lại xây dựng tháp miếu, dùng đủ loại chân bảo, hoa hương, châu ngọc… cúng dường, và dùng kệ tụng tán thán, thì công đức này không bằng người xuất gia thọ giới dù chỉ một ngày một đêm tu trì. Công đức xuất gia được 16 phần, công đức trước chỉ một phần.
Khi ấy, cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp không ai mà không nhàm chán cảnh đời; họ xuất gia trì giới, có người đắc Tu-đà-hoàn, thậm chí có người đắc quả vị A-la-hán, có người gieo hạt giống Bích-chi Phật, có người phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Mọi người rất vui mừng đảnh lễ phụng hành.
Lời kết:
Về công hạnh xuất gia, đức Phật khen ngợi, tán thán bàng bạc khắp trong Kinh tạng, như kinh Hiền ngu: “Công đức của sự xuất gia cao hơn Tu-di, sâu hơn biển cả, rộng hơn hư không. Tại sao như vậy? Vì xuất gia quyết định thành Phật”. Kinh Úc-già trưởng giả: “Tại gia thì ô nhiễm, xuất gia thì thanh tịnh; tại gia neo buộc, xuất gia giải thoát…” Kinh Văn-thù-sư-lợi vấn: “Tại gia thì tăng thêm phiền não, xuất gia thì giải thoát. Tại gia là vào trong rừng chông gai gươm giáo, xuất gia là ra khỏi rừng chông gai gươm giáo…”
Những lời ấy từ kim khẩu Thế Tôn nói ra thì chúng ta không còn gì để luận bàn. Nhưng chúng ta nên hiểu, ở đây đức Phật không phủ nhận đời sống tại gia tu không giải thoát, chỉ có điều người tại gia tu dưỡng vô dục, vô ngã là một việc khó khăn, và quả vị chứng đắc đến quả Bất hoàn mà thôi, không thể đạt được Hiện pháp niết-bàn. Đồng thời đứng trên quan niệm “triết học xuất gia”, đức Phật muốn chứng minh cho chúng ta thấy rằng, ái ân, tiền của, quyền lực, danh vọng… khó vĩnh hằng trước định luật vô thường; cho nên Ngài đã dạy A-nan khuyên vương tử Dũng Quân xuất gia.
Vương tử Dũng Quân xuất gia tu hành một ngày một đêm, rồi mạng chung sanh về các cõi trời, tuổi thọ kéo dài, mãn 20 kiếp không đọa địa ngục, ngạ quỷ… Vì sao vương tử Dũng Quân được phước báo như vậy? Vì vương tử Dũng Quân giữ giới trọn vẹn trong một ngày một đêm. Kinh Tâm địa quán nói: “Sự xuất gia khó nhất là giữ giới. Giữ giới được mới gọi là xuất gia.” Luật Thiện kiến cũng nói: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp. Giới luật còn thì Phật pháp còn.” Giới là cửa ngõ đi đến giải thoát, là năng lượng duy trì, bảo vệ cộng đồng Tăng-già. Một vị xuất gia giới hạnh thanh cao là hình ảnh, là tín hiệu cho sự sống còn của Giáo đoàn dù bất cứ nơi đâu, hay ở xứ sở nào.
Song, tâm nguyện của người xuất không phải dừng ở đó mà “Thế giới độc ác đầy cả ngũ trược con thề bước vào trước hết; nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật, thì con thề không bao giờ hưởng lấy niết-bàn.” Vì thế, kiếp cuối cùng của vương tử Dũng Quân nói lên tâm đại bi của người xuất gia “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, nên Dũng Quân tu hành thành Phật Bích-chi, hiệu Tỳ-lưu-đế, phóng hào quang cứu độ chúng sanh trong ba thừa.
Luận bàn công đức một vị xuất gia chân chính tức luận bàn công đức một vị Phật tương lai, công đức ấy không thể nghĩ bàn, trí phàm nhân không thể thẩm thấu. Chúng tôi xin mượn lời Thế Tôn diễn đạt lại:
“Người xuất gia là người tôn quý cao nhất, là người vô thượng, người không ai sánh bằng, người không ai ngang vai: người ấy là bậc đại hùng lực giữa thế gian, độc bộ vô lữ.” (Kinh Diễn đạo tục nghiệp).■
Thích Tâm Nhãn
(nguồn: TS Pháp Luân 50)
PHẬT THUYẾT KINH CÔNG ĐỨC XUẤT GIA
Hán dịch: Vô danh, phụ lục thời Tam Tần.
Việt dịch: Thích Tâm Nhãn
Trường Cơ Bản Phật Học Khánh Hoà.
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong nước Tỳ-xá-ly, đến giờ thọ trai đức Phật vào thành khất thực.
Bấy giờ, trong thành Tỳ-xá-ly có một Lê-xa tên Tỳ-la-tiễn-na (ý dịch Dũng quân); ví dụ như trời và các tiên nữ đồng nô đùa, thì vương tử này và các thể nữ ở trên lầu vui chơi, đắm đuối trong sắc dục cũng như vậy. Khi ấy, đức Thế Tôn dùng Nhất thiết trí nghe âm thanh ấy rồi bảo A-nan:
- Ta biết người này tham đắm ngũ dục lạc, sau bảy ngày nữa thì mạng chung. Như vậy, anh ta sẽ xa lìa hạnh phúc bên người thân, nhất định phải chết. A-nan! Nếu người này không bỏ dục lạc, không xuất gia thì khi mạng chung có thể bị đọa địa ngục.
Bấy giờ, vâng lời chỉ dạy của Phật, muốn lợi ích cho vương tử này, nên A-nan đi đến nhà anh ta. Vương tử nghe A-nan ở bên ngoài liền đi ra nghinh đoán, với lòng tôn kính thỉnh A-nan vào nhà an tọa. A-nan vừa an tọa thì vương tử khởi tâm cung kính thưa với A-nan:
- Quí thay, người bạn tốt đã đến đây! Hôm nay, thật đúng lúc, tôi gặp được tôn giả hết sức vui mừng. Nếu tôn giả hoan hỷ có thể dạy bảo cho tôi về giáo pháp của Phật, giúp cho tôi được an lạc.
Vương tử thưa thỉnh như vậy ba lần. A-nan muốn vương tử được nhiều lợi ích nên im lặng không nói. Vương tử lại thưa:
Tỳ-na-a-mâu-ni-đại-tiên, lợi ích cho tất cả chúng sanh, có hiềm hận gì mà mặc nhiên không nói? Không thấy nói gì đến lần thứ ba. Thầy là người giữ Phật Pháp lợi ích cho thế gian.
A-nan đau buồn nói:
- Hãy lắng nghe đây, sau bảy ngày nữa bạn sẽ chết. Nếu bạn ở trong ngũ dục không giác ngộ, không xuất gia, thì mạng chung bạn sẽ đọa địa ngục. Phật là bậc Nhất thiết trí, chánh ngữ chánh thuyết đã nói về bạn như thế. Ví như ngọn lửa thiêu đốt mọi vật, thảy đều không sai. Bạn nên suy nghĩ cho kỹ.
Vương tử nghe nói vậy quá lo sợ, buồn rầu, sầu muộn không vui nói: “Theo lời chỉ dạy của A-nan tôi phải xuất gia nhưng tôi muốn thọ hưởng khoái lạc thêm 6 ngày nữa, đến ngày thứ 7 tôi sẽ giã từ người thân quyết định xuất gia”. A-nan hài lòng. Đến ngày thứ 7 Tỳ-la-tiễn-na sợ sinh tử cầu Phật xuất gia, đức Phật liền đồng ý. Qua một ngày một đêm Tiển-na tu trì tịnh giới rồi mạng chung. Sau khi hỏa thiêu hương khói xong, A-nan cùng họ hàng của Tiển-na đến hỏi Phật:
- Kính thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiễn-na ấy nay đã mạng chung thần thức sinh về đâu?
Đức Phật Thế Tôn thầy của chư thiên, nhân loại, bậc Nhất-thiết-trí dùng đại phạm-âm vang dội hơn tiếng trống sấm, hơn âm thanh vi-diệu chúng chim Ca-lăng-tần-già. Ngài đem tám loại âm thanh bảo A-nan:
- Này A-nan! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiễn-na ấy sợ chết sinh vào địa ngục khổ nên đã xả dục xuất gia, trong một ngày một đêm trì tịnh giới xả bỏ cõi đời này sinh về trời Tứ thiên vương, làm con Tỳ-sa môn Thiên-vương ở phương Bắc. Tâm phóng túng thọ ngũ dục khoái lạc, tham thọ ngũ dục với các thể nữ, cùng chung vui chơi thọ 500 tuổi; khi Tiển-na hết 500 tuổi mạng chung sinh về cõi trời 33 làm con Đế-thích hưởng thụ đầy đủ ngũ dục, sung sướng nhất cõi trời. Tiển-na cùng thể nữ đẹp trên trời tuổi thọ kéo dài 1000 tuổi, tận số sinh về Diệm-thiên làm vương tử Diệm-thiên, tự phóng túng thọ hưởng sắc, thanh, hương, vị, xúc trên trời, tâm khoái dục lạc, thọ 2 ngàn tuổi trên trời, mạng chung sinh về cung trời Đâu-suất làm vương tử. Tâm thoải mái thọ ngũ dục khi mắt thấy tướng dục, tâm tự nhàm chán, thường nói pháp ngữ, trí tuệ giải thoát. Ở trong cõi trời tuổi thọ hơn hết, mãn 4 ngàn tuổi mạng chung sinh lên Tự-tại-thiên làm con Thiên-vương, thọ hưởng đủ loại ngũ dục khoái lạc ở trong các thể nữ, ứng hóa kéo dài 8 ngàn tuổi thọ. Hết 8 ngàn tuổi mạng chung sinh về trời Tha-hóa-tự tại, làm con Thiên-vương. Cõi trời thứ 6 này, dục lạc trong đó năm tầng trời phía dưới không thể so sánh. Sinh vào trong đó rồi, trong những cái vui thọ cái vui tối diệu. Khi thọ dục lạc ở đó tâm quá say mê, hưởng đầy đủ dục lạc thắng diệu thọ một vạn sáu ngàn tuổi. Thọ lạc như vậy qua lại 7 lần trong 6 cõi trời dục. Tỳ-la-tiễn-na này do một ngày một đêm xuất gia nên mãn 20 kiếp, không đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; thường sinh thiên, nhơn, thọ phước tự nhiên. Trong loài người kiếp cuối cùng sinh vào nhà giàu có sung sướng, tài sản phong phú, chân bảo đầy đủ. Khi tuổi tráng niên đã qua, các căn đau yếu lo sợ họa hoạn sinh lão bệnh tử nên Tiển-na nhàm chán ở đời, xuất gia cạo bỏ râu tóc, thân khoác pháp phục, siêng tu tinh tấn, giữ 4 oai nghi, thường hành chánh niệm, quán ngũ-âm, Khổ, Không, Vô ngã, hiểu pháp nhân duyên, thành Bích-chi Phật hiệu là Tỳ-lưu-đế, lúc ấy Ngài phóng hào quang lớn có nhiều chư thiên, nhân loại sinh thiện căn và giúp các loài chúng sanh trong ba thừa được giải thoát.
Bấy giờ, A-nan chắp tay bạch Phật:
Kính thưa Thế Tôn! Nếu có người độ người xuất gia, người ấy xuất gia gánh vác mọi việc thì được bao nhiêu phước đức? Nếu lại có người hủy phá chuyện người khác xuất gia thì thọ tội báo gì? Xin thỉnh Thế Tôn chỉ bảo cho con được tường tận.
Phật bảo:
Này A-nan! Nếu ông có sống đủ 100 tuổi để hỏi Ta việc này, thì Ta cũng lấy trí tuệ vô tận vì ông nói rộng theo đúng 100 năm, trừ giờ ăn uống. Người này công đức không thể nói hết, họ hằng sinh thiên, hay trong loài người thường làm quốc vương, thọ hưởng hạnh phúc nhơn, thiên. Nếu họ giúp người xuất gia vào trong pháp Sa-môn này, vì chuyện giúp đỡ cuộc sống xuất gia đó, thì họ dù ở trong sinh tử cũng hưởng khoái lạc. Dù Ta có đủ 100 tuổi để nói công đức người đó cũng không hết được. Như vậy, A-nan! Ông có mãn trăm tuổi kéo dài tuổi thọ để hỏi Ta, còn ta sống đến khi Niết-bàn, nói công đức này không bao giờ hết.
Phật lại bảo A-nan:
- Nếu lại có người phá hoại chuyện người khác xuất gia thì người đó bị cướp mất kho tàn vô tận thiện tài phước báu, và hủy hoại nhân 37 trợ Bồ-đề Niết-bàn. Nếu có ý muốn phá hoại nhân duyên xuất gia phải khéo quán sát chuyện như vậy. Vì sao, vì tội báo đó sẽ đọa địa ngục, thường bị mù mắt, thọ khổ cùng cực. Nếu làm súc sinh, khi sinh ra cũng bị mù mắt bẫm sinh.
Nếu sinh trong ngạ quỉ, sinh ra cũng mù bẩm sinh, đọa trong 3 đường ác khổ không biết bao giờ giải thoát. Nếu sanh làm người, ở trong bụng mẹ thọ thai lại bị mù. Ông có sống một trăm tuổi thường hỏi nghĩa đó, còn Ta có đủ một trăm tuổi lấy trí tuệ vô tận giải thích tội báo cũng không thể hết. Người ấy ở trong tứ đạo sinh ra thường mù mắt. Ta cũng không biết được người này bao giờ mới giải thoát được. Vì sao, vì do phá hủy người xuất gia đã thành tựu vô lượng vô biên công đức. Do phá thiện duyên ngăn cản người xuất gia như vậy, nên thọ vô lượng tội. Nếu họ ở trong “kính trí tuệ” thanh tịnh này thì giúp họ được thiện pháp giải thoát vậy. Nếu thấy người xuất gia tu trì tịnh giới hướng đến chỗ giải thoát, phá công việc xuất gia của người ấy, làm việc ngăn cản, có nhân duyên đó sinh ra bị mù, không thấy Niết-bàn là do hủy hoại người xuất gia.
Như quán vô-minh…12 nhân duyên sẽ được giải thoát. Do phá người xuất gia, hủy hoại con mắt trí tuệ của họ nên mắt tuệ của mình bị che mờ, từ đời này qua đời khác sinh ra bị mù mắt, không thấy tam-giới là do ngăn cản người xuất gia vậy. Người xuất gia đã thấy ngũ-ấm, 20 ngã-kiến, nhân gian, chánh-đạo, mà cái nhân phá xuất gia như là hủy hoại chánh-kiến, do đó sinh ra thường mù mắt, không thấy chánh-đạo. Người xuất gia đã thấy tất cả pháp tu thiện, pháp trú xứ, đã thấy pháp thân thanh tịnh chư Phật, mà phá chuyện người khác xuất gia nên sinh ra bị mù mắt, không thể trông thấy pháp thân Phật. Do người xuất gia đã đầy đủ tướng mạo Sa-môn, hạt giống Phước điền Phật đạo, và giữ gìn giới thanh tịnh, nên nguyên nhân phá người xuất gia thì ở trong thiện pháp bị đoạn tất cả hy vọng. Do tội duyên phá hủy người xuất gia, đời đời thường mù mắt.
Người xuất gia đã khéo quán sát tất cả thân tâm đều khổ, vô-thường, vô-ngã, bất-tịnh, mà phá người xuất gia ấy, làm việc ngăn cản, thì như phá con mắt của người đó, phá con mắt ấy thì mình không thấy Tứ-đạo, Tứ-niệm-xứ, Tứ-chánh-cần, Tứ-như-ý-túc, Ngũ-căn, Ngũ-lực, Thất-giác-phần, Bát-chánh-đạo, và đường đến cung thành Niết-bàn, do tội duyên như vậy sinh ra thường bị mù, cho đến không thất Không, Vô-tướng, Vô-tác thanh tịnh, thiện pháp hướng đến cung thành Niết-bàn. Người có trí tuệ là biết người xuất gia sẽ thành tựu thiện pháp như thế, không nên phá hoại nhân duyên thiện pháp đó, như vậy sẽ không bị tội. Ai hủy phá chuyện người khác xuất gia là vị Sa-môn chánh kiến, thì mãi mãi không thấy cung thành Niết-bàn, sinh ra thường bị mù.
Nếu có người nào trong một cõi khác xuất gia tu trì tịnh giới hơn 100 kiếp; lại có người khác ở trong cõi Diêm-phù-đề xuất gia trì giới một ngày một đêm, dù khoảnh khắc, thì được 16 phần. Còn người xuất gia trì giới kia chỉ bằng 1 phần 16 người xuất gia ở Diêm-phù-đề. Người nào điên đảo hành dâm chị em nữ, không phải chỗ hành dâm, bị chống cự rồi sinh ra căm ghét, thì tội báo đó không thể tính hết. Nếu lại có người tư duy đúng, có tâm xuất gia, có người khác phá hoại chuyện xuất gia người này không để họ mãn nguyện, thì nhân duyên tội báo đó bắt đầu tăng trưởng cho đến trăm kiếp.
A-nan bạch Phật:
Kính thưa Thế Tôn! Tỳ-la-tiễn-na này nhờ hạt giống thiện căn sinh chỗ tôn quí, thọ hưởng phước lạc vì quá khứ cũng có hành thiện. Hôm nay chỉ nhờ công đức xuất gia một ngày một đêm mà thọ hưởng nhiều phước như thế.
Phật bảo A-nan:
- Ông không cần quan sát nhân duyên quá khứ, đối với một ngày một đêm ấy thanh tịnh xuất gia được thiện căn, trong 6 cõi trời dục bảy lần qua lại thọ phước. Trong 20 kiếp thường chịu cảnh sanh tử. Trong loài người sau cùng ở thế gian hưởng cảnh hạnh phúc nhất, sinh trong nhà giàu có. Khi tuổi tráng niên qua, các căn yếu dần, thì sợ cái khổ sinh lão bệnh tử nên Tỳ-la-tiễn-na xuất gia trì giới thành Bích-chi Phật.
Phật lại bảo A-nan:
Ta sẽ nói ví dụ ông khéo lắng nghe. Thí như thiên hạ: Đông-phất-bà-đề, Nam-diêm-phù-đề, Tây-cù-da-ni, Bắc-uất-đan-việt, các bậc A-la-hán trong 4 cõi ấy nhiều như lúa cỏ rừng rậm. Nếu có người nào ở trong đó đủ 100 tuổi tận tâm cúng dường những vị A-la-hán này những thứ như: y phục, thức ăn, nước uống, thuốc thang trị bệnh, phòng xá, ngọa cụ; cho đến sau khi các vị ấy Niết-bàn, lại xây dựng tháp miếu, đủ loại chân bảo, hoa hương anh lạc, tràng phan, bảo cái, treo các loại chuông báu, quét rưới nước hương, dùng những câu kệ tụng tán thán, cúng dường thì đắc được công đức. Còn người nào vì Niết-bàn mà xuất gia thọ giới, chỉ một ngày một đêm tạo công đức, thì công đức này được 16 phần, công đức trước chỉ một phần. Theo nhân duyên như vậy, thiện nam tử nên xuất gia tu trì tịnh giới.
- Này các thiện nam tử! Những người cần công đức, cầu thiện pháp, tự thọ pháp thì không được ngăn cản chuyện người xuất gia ấy phải cầu phương tiện khuyến khích giúp họ thành tựu.
Khi ấy, cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp không ai mà không nhàm chán cảnh đời. Họ xuất gia trì giới, có người đắc Tu-đà-hoàn, thậm chí có người đắc quả vị A-la-hán, có người gieo hạt giống Bích-chi Phật, có người phát tâm Vô-thượng Bồ-đề. Mọi người rất vui mừng đảnh lễ phụng hành.
Kinh Công Đức Xuất Gia
Các bạn cứ bảo tu ở nhà, nhưng cứ lần quẩn trong đời thế tục, kiếp này tu tập, kiếp sau chưa chắc gặp duyên lành, mà gặp ác duyên thì lại tạo nghiệp, lại lẩn quẩn. Nếu bạn xuất gia là bạn gieo chủng tử rồi, những kiếp sau bạn vẫn sẽ được tu tiếp.
Mình ủng hộ bạn xuất gia, nhưng bạn nên suy nghĩ kỹ càng, xuất gia vì yêu thương chúng sanh chứ không nên xuất gia vì muốn lánh phiền phức, rắc rối hay lười lao động. Thọ dụng của bá tánh mà tu không rốt ráo thì trả nợ đã luôn đấy bạn. Nếu vân còn ba mẹ, mà ở nhà không còn anh chị em nào khác để có thể phụng dưỡng song đường, bạn nên dời lại, ở nhà hoàn thành nghĩa vụ của ng con trước đi đã :D . Như HT Tuyên Hóa ngài cũng đợi song đường khuất mới xuất gia mà. Trong thời gian đó thì niệm Quan Thế Âm, xin cho mình được gặp Minh sư, vì nếu không gặp đúng thầy thì uổng lắm bạn