-
Ý nghĩa thủ ấn Phật – Buddha mudrā
[23/02/2017]
Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu về ý nghĩa các thủ ấn (Muddà) Phật, mà chủ yếu là Phật giáo Nam Truyền đó chính là Tích Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Thái Lan và được sử dụng chính thống trong việc tạc tượng thờ kể cả những trường phái Phật giáo phát triển cũng dùng thủ ấn cơ bản này để tạo nên hình tượng đức Bổn Sư.
Ý nghĩa thủ ấn Phật – Buddha mudrā
Ý nghĩa thủ ấn Phật – Buddha mudrā
Ths. Nguyễn Hoàng Lai (Hoài Lan) – Thiện Phước
Như chúng tôi đã giới thiệu về nguồn gốc hình tượng đức Phật để hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển các trường phái nghệ thuật hình tượng đức Phật “sự phát triển của nghệ thuật hình tượng Đức Phật đã phát triển qua hai thời kỳ chính:
- Thời kỳ phi thánh tượng khoảng thế kỷ thứ V – I TCN
; - Thời kỳ thánh tượng thế kỷ thứ I TCN – ngày nay.
Thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật hình tượng Đức Phật là thời kỳ thánh tượng, đặc biệt là hệ thống nghệ thuật Phật giáo phát triển đã làm nên sự bứt phá ngoạn mục trong nghệ thuật Phật giáo, đáng chú ý nhất là những hình tượng Đức Phật được khắc trong chùa hang Ajanta và Ellora, khu vực động Đôn Hoàng (Trung Hoa) và khu vực Đông Nam Á”[1]
Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu về ý nghĩa các thủ ấn (Muddà) Phật, mà chủ yếu là Phật giáo Nam Truyền đó chính là Tích Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Thái Lan và được sử dụng chính thống trong việc tạc tượng thờ kể cả những trường phái Phật giáo phát triển cũng dùng thủ ấn cơ bản này để tạo nên hình tượng đức Bổn Sư.
Từ Muddà hay mudra được sử dụng trong Phật giáo và Ấn giáo, nghĩa ban đầu là dấu hiệu, ấn tướng hay dấu ấn, có thể dấu hiệu thể hiện qua động tác thân thể, thường là cử chỉ của tay, (stamp, seal, countting on fingers)[2] hay chính xác hơn vị trí và tư thế của bàn tay và ngón tay.
Như vậy từ Mudra (muddà) đã được sử dụng như là một biểu trưng về các tư thế trong Phật giáo và Ấn giáo trong truyền thống văn hoá Ấn Độ, “như cử chỉ chào Namaste (Namas + te, Devanagari: नमस् + ते = नमस्ते)”[3] và những tượng đất nung được các nhà khảo cổ học khai quật có niên đại từ 3000 – 2000 năm TCN trong tư thế này[4], và một số thủ ấn chủ yếu là các tư thế cơ thể, trên bàn tay như Một trăm lẻ tám (108) mudra được sử dụng trong các nghi thức Tantra (Đát-đặc-la) thường xuyên.
Trong phạm vi nghiêm cứu của bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu 25 thủ ấn của Phật (mudda of buddha in dailly life), ta có thể hiểu nôm na là các tư thế chính của Phật được sử dụng trong đời sống hàng ngày và miêu tả một cách sống động về hình tượng đức Phật, ở đây chỉ thuần tuý là các tư thế của Phật (theo truyền thống Phật giáo Nam Truyền)[5] trong đời sống thường ngày chứ không phải mang ý nghĩa dùng trong việc bắt ấn (108 ấn) trong nghi thức Tantra.
1. Abhaya Mudrā (Vô Uý thủ ấn)
Abhaya Mudrā (Vô Uý thủ ấn)
Abhaya: nghĩa là không sợ hãi
Tư thế của thủ ấn này là tay phải đưa lên ngang tầm ngực, lòng bàn tay xoay ra phía ngoài, các ngón tay hướng thẳng lên trên, tay còn lại để xuôi theo tư thế toạ thiền (đối với tượng ngồi) tay trái duỗi hướng xuống đất (đối với tượng đứng).
Có nhiều cách giải thích khác nhau về ý nghĩa, nguồn gốc của thủ ấn này, dựa theo sử liệu về cuộc đời đức Phật thì những dữ kiện như đức Phật hàng phục voi say Nālāgiri, khi Đề-bà Đạt-đa (Devadatta) âm mưu làm hại Ngài, hoặc Ngài đứng với cả hai tay theo thủ ấn Vô Úy là dựa theo truyền thuyết Ngài từ cung trời Đâu-suất (Tavatimsa) trở về địa cầu sau 3 tháng giảng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Có tài liệu giải thích đó là để chỉ Ngài đã ngăn chặn nạn dịch, nạn đói và chiến tranh xảy ra tại thành Vesāli (Chú giải Ratana Sutta, kinh Châu Báu). Có tài liệu giải thích đó là dựa theo câu chuyện Ngài đã hóa giải, ngăn chặn cuộc chiến giữa hai quốc gia láng giềng (bộ tộc Sakya và Koliya) tranh chấp về việc sử dụng nguồn nước sông Rohini.
2. Saddassana Mudra (Thập độ thủ ấn)
Saddassana Mudra (Thập độ thủ ấn)
Tư thế này tay phải xoay ra ngoài ngón tay cái và ngón trỏ chạm vào nhau, lòng bàn tay trái xoay ra ngoài và hơi hướng xuối dưới ngón trỏ và ngón cái duỗi ra, các ngón còn lại hơi cong lại.
Thập độ tức ám chỉ công hạnh thực tập để đạt đến quả vị giải thoát (pāramī) hay dịch là đáo bỉ ngạn (pháp thực hành đến bờ bên kia, bờ giải thoát) gồm có:
1) Dānaṃ: Thí, là đem của cải hoặc Phật Pháp mà cho chúng sanh.
2) Sīlaṃ: Giới, là không phạm điều luật của đức Phật đã răn cấm hoặc gìn giữ thân và khẩu được trong sạch.
3) Nekkhammaṃ: xuất gia, là sự đi tìm đạo đức cao thượng hoặc dứt bỏ vợ con, của cải mà đi tu hành.
4) Paññā: Trí tuệ, là thông suốt tất cả các pháp.
5) Viriyaṃ: Tinh tấn, là một lòng cố gắng tu hành tấn tới.
6) Khantī: Nhẫn nhục, là gắng chịu những điều sỉ nhục.
7) Saccaṃ: Chân thật, là không gian tà, giả dối.
8) Ādhitthānaṃ: Quyết định, là quyết định không thay đổi chí hướng.
9) Mettā: Bác ái, hiền lành, nhân từ, mong cho tất cả mọi loài được vui.
10) Upekkhā: Xả, là không vui, không buồn, thờ ơ không để ý, có tâm bình đẳng.
3. Dukkhasacca mudra (khổ đế thủ ấn)
Dukkhasacca mudra (khổ đế thủ ấn)
Tư thế này bàn tay phải úp xuống, ngón giữa tay phải chạm và ngón giữa của tay trái, lòng bàn tay trái hướng ra ngoài, các ngón tay hướng lên trên.
Để giải thích cho ý nghĩa của thủ ấn này, trong cuộc đời đức Phật sau khi ngài thành đạo dưới cội cây bồ đề ngài đã ngự tới vườn Lộc Uyển xứ Isipatana, gần Benares (Baranasi ngày nay) và giảng giải bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammcakkappavattana sutta) về Tứ Diệu Đế (khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế).
Khổ đế là phần mở đầu của bài kinh Chuyển Pháp Luân và như thế nào là sự thật về khổ “Sanh là khổ, già là khổ, bịnh là khổ, tử là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ, tóm lại chính thân ngủ uẩn là khổ”[6], đây là bài pháp đầu tiên được đức Phật thuyết giảng sau khi ngài thành đạo.
4. Addhacandra mudra (Tam Bảo Thủ Ấn)
Addhacandra mudra (Tam Bảo Thủ Ấn)
Tư thế của bàn tay phải lòng bàn tay hướng lên trên, ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau, các ngón tay hơi cong lại theo thình cánh hoa nở; còn tay trái trì duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng lên trên.
Thủ ấn này ám chỉ đối với ba ngôi tam bảo Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo và sự quan trọng của đại chúng tăng liên quan đến dữ kiện Di Mẫu Gotami cúng dường y lên đức Phật nhưng ngài không nhận, ngài bảo nương nương cúng dường đến tăng để cho được phước báu trọn vẹn.
5. Patahattha mudra (Trì Bình Thủ Ấn)
Patahattha mudra (Trì Bình Thủ Ấn)
Thủ ấn này vị trí hai bàn tay chồng lên nhau tay phải để trên tay trái hai bàn tay duỗi ra để nâng bình bát.
Trong hoạt động hằng ngày của Đức Phật chia làm năm thời đó chính là buổi sáng, buổi trưa, canh đầu, canh giữa và canh cuối.
Buổi sáng đó chính là lúc ngài trì bình hóa duyên tế độ những người hữu duyên và thọ thực.
Đây là tư thế thủ ấn trì bình mà các nhà nghệ thuật điêu khắc sử dụng để mô tả về đời sống thường nhật của Ngài.
6. Dhammacakka mudra (Chuyển Pháp Luân thủ ấn)
Dhammacakka mudra (Chuyển Pháp Luân thủ ấn)
Dhammacakka mudra (Chuyển Pháp Luân thủ ấn)
Sau khi Bồ Tát thành đạo tại cội cây Bồ Đề, Ngài thân hành đến vườn Lộc Uyển xứ Isipatana, gần Benares (Baranasi ngày nay) và giảng giải bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammcakkappavattana sutta) và đây là bài pháp đầu tiên được Đức Phật thuyết giảng trong cuộc đời 45 năm hoằng pháp của ngài bài pháp này được thuyến giảng đến năm vị Kiều Trần Như (Aññakoṇḍañña).
Tư thế thủ ấn này cả hai bàn tay ngón cái và ngón trỏ cong lại, chạm nhẹ vào nhau, tạo thành một hình tròn. Hai cánh tay xếp lại và đưa lên khoảng tầm ngực. Lòng bàn tay phải xoay ra phía trước, thẳng đứng, mu bàn tay trái xoay ra ngoài, nằm ngang, hay để nghiêng. Những ngón tay còn lại của bàn tay trái chạm nhẹ vào lòng bàn tay phải.
7. Varada mudra (Thí Nguyện thủ ấn)
Varada mudra (Thí Nguyện thủ ấn)
Ấn thí nguyện cũng được gọi là Dữ nguyện ấn hay Thí dữ ấn. Thí nguyện là cho phép được toại nguyện, lòng tay mặt hướng về phía trước, bàn tay chỉ xuống. Nếu ở tượng Phật Thích Ca đó là biểu hiện gọi địa thần (xem ấn xúc địa) chứng minh Phật quả. Trong một dạng khác, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn. Ấn vô úy và ấn thí nguyện hay được trình bày chung trong một tranh tượng. Thường tay mặt bắt ấn vô úy, tay trái ấn thí nguyện. Tượng đứng của các vị Phật hay có hai ấn này.
8. Karana mudra (Lìa Xa Ác Nghiệp thủ ấn)
Karana mudra (Lìa Xa Ác Nghiệp thủ ấn)
Thủ ấn này cả hai lòng bàn tay trái và phải đều hướng ra ngoài, ngón trỏ và ngón cái của cả hai bàn tay chạm vào nhau, bàn tay hướng lên trên.
9. Tinakirana mudra (Bát Chánh Hộ Trì thủ ấn)
Tinakirana mudra (Bát Chánh Hộ Trì thủ ấn)
Thủ ấn này hai lòng bàn tay ngửa lên trên, hai ngón cái hướng xuống đất và 8 ngón tay còn lại cong lại để biểu thị tám con đường giác ngộ đó là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
10. Vyākhyāna Mudrā (Giáo Hóa thủ ấn)
Vyākhyāna Mudrā (Giáo Hoá thủ ấn)
Tư thế của thủ ấn này là lòng bàn tay xoay ra trước, thường là ở bàn tay phải, ngang tầm ngực. Ngón tay cái và ngón tay trỏ chạm vào nhau thành một vòng tròn, các ngón còn lại hướng lên trên. Cánh tay cong nơi khuỷu tay và cổ tay.
Thủ ấn Thuyết Pháp hay còn gọi là Giáo Hóa thủ ấn thường thấy ở các tượng với oai nghi ngồi.
11. Sihakanna mudra (Tinh Tấn thủ ấn)
Sihakanna mudra (Tinh Tấn thủ ấn)
Tư thế của thủ ấn này là lòng bàn tay phải hướng xuống đất, ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau các ngón còn lại hướng xuống đất, bàn tay trái duỗi và lòng bàn tay hướng lên trên.
12. Katakakattha mudra (Giải Thoát thủ ấn)
Katakakattha mudra (Giải Thoát thủ ấn)
Tư thế thủ ấn này là bàn tay phải hướng lên trên lòng bàn tay hướng ra ngoài ngón cái chạm vào ngón trỏ, bốn ngón tay còn lại cong lại hướng vào lòng bàn tay.
13. Padumatattha mudra (Liên Hoa Tịnh Chỉ thủ ấn)
Padumatattha mudra (Liên Hoa Tịnh Chỉ thủ ấn)
Thủ ấn này phổ biến nơi hình tượng Đức Phật ngồi bán già hoặc kiết già, bàn tay phải hướng lên trên lòng bàn tay xoay ra ngoài, ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa cong lại đỡ lấy cánh hoa sen, các ngón tay còn lại cũng hơi cong theo, với hoa sen tượng trưng cho sự giác ngôn, tịch tịnh không còn phiền não bùn nhơ.
14. Attha dhamma mudra (Bát Chánh Đạo thủ ấn)
Attha dhamma mudra (Bát Chánh Đạo thủ ấn)
Bát Chánh Đạo thủ ấn với tư thế hay lòng bàn tay hướng ra ngoài, hai ngón tay cái cong lại và tất cả tám ngón còn lại thẳng và hướng lên trên để ám chỉ 8 con đường đi đến giác ngộ.
15. Samābhita mudra (Thiền Định thủ ấn)
Samābhita mudra (Thiền Định thủ ấn)
Hình tượng với tư thế Đức Phật ngồi hành thiền, chân xếp tréo kiểu bán già hay kiết già, hai bàn tay đặt đùi, để ngửa, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái (đôi khi, bàn tay trái đặt trên bàn tay phải). Hai đầu ngón tay cái chạm nhẹ vào nhau, hoặc để song song đan xen.
Có thể nói đây là hình tượng và thủ ấn phổ biến nhất trong truyền thống nghệ thuật hình tượng Đức Phật Nam truyền và là thủ ấn phổ biến nhất.
16. Dāna mudra (Bố thí thủ ấn)
Dāna mudra (Bố thí thủ ấn)
Thủ ấn này được các nghệ nhân tạc tượng mô tả với hình thái hai lòng bàn tay hướng ra ngoài các ngón tay buông xuống hướng về phía mặt đất, như là thể hiện sự buông xả, xả thí.
17. Tripattakahattha mudra (Thập Độ Chỉ Định thủ ấn)
Tripattakahattha mudra (Thập Độ Chỉ Định thủ ấn)
Thủ ấn này được mô tả lòng bàn tay phải hướng ra ngoài áp út và ngón giữa chạm vào ngón tay cái, lòng bàn tay trái hướng vô trong ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau như đang chỉ định về những công hạnh thập độ mà Ngài đã thực hành trong vô lượng kiếp.
18. Ñàna mudra (Nhất Thiết Chủng Trí thủ ấn)
Ñàna mudra (Nhất Thiết Chủng Trí thủ ấn)
Tư thế thủ ấn này biểu trưng cho việc Đức Phật đang sử dụng trí tuệ với lòng bàn tay phải hướng ra ngoài ngón trỏ và ngón tay cái chạm vào nhau, các ngón còn lại hướng lên trên, lòng bàn tay trái hướng vô trong ngón trỏ và ngón cái của tay phải hơi chạm vào ngón út của tay trái.
19. Canda mudra (Hương Vị Pháp Bảo thủ ấn)
Canda mudra (Hương Vị Pháp Bảo thủ ấn)
Canda mudra (Hương Vị Pháp Bảo thủ ấn)
Đây là thủ ấn kết hợp với hình tượng Đức Phật ngồi bán già hoặc kiết già và thuyết giảng, giáo giới hàng đệ tử trong tư thế lòng bàn tay phải hướng ra ngoài ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau, các ngón còn lại hướng lên trên, lòng bàn tay trái hướng lên trên, tay trái duỗi dọc theo chân trong tư thế bán già hoặc kiết già.
20. Mahā karunà mudra (Đại Bi thủ ấn)
Mahā karunà mudra (Đại Bi thủ ấn)
Đây là thủ ấn Đức Phật sử dụng tứ vô lượng tâm, trong đó tâm đại bi được thể hiện qua việc tay phải đặt ngang ngực, lòng bàn tay hướng vô trong và ngón tay hướng qua trái hơi lên trên, lòng bàn tay trái hướng lên trên, tay trái duỗi dọc theo chân trong tư thế bán già hoặc kiết già, ở giữa có cảm giác như một khoảng không để thể hiện tâm đại bi.
21. Vinayahattha mudra (Xiển Dương thủ ấn)
Vinayahattha mudra (Xiển Dương thủ ấn)
Trong thủ ấn này lòng bàn tay phải hướng lên trên ngón trỏ chỉ ra ngoài, ngón cái thẳng và ba ngón còn lại hơi cong vào bên trong, lòng bàn tay trái hướng lên trên, tay trái duỗi dọc theo chân trong tư thế bán già hoặc kiết già.
22. Byākhyāna mudra (Thuyết Giảng thủ ấn)
Thuyết giảng thủ ấn với lòng bàn tay hướng ra ngoài ngón giữa chạm vào ngón cái ngón áp út và ngón út con lại ngón trỏ hướng lên trên, đây là hình tượng mô tả việc Đức Phật giáo giới và thuyết giảng đến chúng đệ tử.
Byākhyāna mudra (Thuyết Giảng thủ ấn)
23. Uttarabodhi mudra (Tối Thượng Bồ Đề thủ ấn)
Uttarabodhi mudra (Tối Thượng Bồ Đề thủ ấn)
Thủ ấn với lòng bàn tay phải hướng ra ngoài, lòng bàn tay trái hướng vô trong, ngón tay cái và ngón trỏ của tay phải chạm nhẹ vào ngón giữa của tay phải.
24. Prātihāriya mudra (Sanh Diệt Tuệ thủ ấn)
Prātihāriya mudra (Sanh Diệt Tuệ thủ ấn)
Thủ ấn Sanh Diệt tuệ với các ngón tay phải bao bọc các ngón tay trái, lòng bàn tay hướng vô trong và các ngón tay trái hướng lên trên, để thể hiện việc Đức Phật chỉ các tuệ giác trong các mức độ thiền tập.
25. Cảm Thắng Ma Vương thủ ấn (Maravijaya Mudra) hay còn gọi là Xúc Địa thủ ấn (Bhūmisparśa Mudra)
Cảm Thắng Ma Vương thủ ấn (Maravijaya Mudra) hay còn gọi là Xúc Địa thủ ấn (Bhūmisparśa Mudra)
Cảm Thắng Ma Vương thủ ấn (Maravijaya Mudra) hay còn gọi là Xúc Địa thủ ấn (Bhūmisparśa Mudra)
Trong thủ ấn nầy, Đức Phật ngồi kiết già hay bán già, với bàn tay trái trong ấn Thiền Định. Bàn tay phải duỗi xuống, lòng bàn tay xoay vào trong, mu bàn tay đưa ra ngoài, các ngón tay hướng xuống đất. Thủ ấn này được tìm thấy rất phổ biến trong việc tạc hình tượng Đức Phật.
Thủ ấn nầy dựa theo sự tích ghi trong Chú giải Phật sử. Khi Bồ-tát ngồi hành thiền trong đêm rằm tháng Vesak, Ma vương (Māra) xuất hiện quấy nhiễu Ngài. Ma vương có ý định đuổi Ngài ra khỏi chỗ ngồi dưới cội bồ-đề và hỏi: “Ai là chứng nhân để biết chỗ ngồi này là của Ngài?” Đức Phật từ tư thế thiền định, đặt bàn tay phải chạm đất và tuyên bố: “Mặt đất này là chứng nhân, đã chứng kiến qua nhiều kiếp, ta đã hoàn thiện hạnh Bố thí ba-la-mật, hạnh Trì giới ba-la-mật, và các ba-la-mật khác.” Ngay lúc đó, mặt đất rung chuyển, với âm thanh vang dội khắp vũ trụ. Ma vương run sợ, thất bại, và rút lui.
Trên đây là 25 thủ ấn được dung rất phổ biến trên hình tượng Đức Phật, việc kết hợp các thủ ấn là sự kết hợp tuyệt vời giữa văn hoá và nghệ thuật, các nghệ nhân đã thổi hồn vào hình tượng Đức Phật cho chúng ta cảm giác sống động, như làm sống lại hình tượng của Ngài, mô tả những sinh hoạt thường nhật, như tái hiện lại Đức Phật một còn tại thế đang hoằng hoá độ sinh. Đó cũng là những điều người viết trăn trở khi bắt gặp đâu đó các tư thế thủ ấn của Phật Thích Ca Mâu Ni mà không hiểu được. Hy vọng qua bài viết này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về hình tượng đức Phật.
[1] Nguồn gốc hình tượng đức Phật, Ths.Hoài Lan, Tạp Chí Phật Giáo Nguyên Thuỷ
[2] Pali-English Dictionary, -Thomas William Rhys Davids, William Stede, first edition Delhi 1993, P .538
[3] https://vi.wikipedia.org/wiki/Thủ_ấn
[4] Sharma & Sharma (2004), Panorama of Harappan Civilization, ISBN 978-8174790576, Kaveri Books, page 129
[5] 25 thủ ấn được trình bày trong bài nghiên cứu này chủ yếu được chuyển ngữ và sưu tầm từ tại liệu Myanmar
[6] Mahavagga tr. 10, Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ), quyển V, trang 420.
Mha.
Bình luận
Gửi Bình luận...
Chưa có bình luận nào cho nội dung này.
Bài viết khác
[05/02/2019] Bốn Pháp Chúc Mừng
[02/02/2019] Quét sạch mê tín đón xuân mới
[28/01/2019] Năm Hợi kể chuyện về lão Trư
[16/01/2019] Tọa đàm Phật giáo - Xuôi theo dòng Mêkong
[21/10/2018] Ý Nghĩa Lễ Tự Tứ Trong Phật Gíao Nam Truyền
[10/01/2017] Thành tựu lòng tin vào Tam bảo và ngũ giới
[26/05/2015] Phật Đản – Vesak, Đản Sanh Và Đức Phật Xuất Hiện
Tiêu biểu
Đọc nhiều
Quán tưởng tứ vật dụng a
The Buddha and his teachings
Caravan Hoa Biển 2018: “Kết nối - Thể thao - Từ thiện”
Thông báo - Đại giới đàn Trí Tịnh 2018 tại Giới trường Bửu Quang
Tổng Lãnh sự Ấn Độ tại TP.HCM thăm Văn phòng II Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Tịnh thất Giác Minh-Cần Thơ
Chùa Phước Long - Trà Vinh
Thăm dò ý kiến
Bạn biết www.phatgiaonguyenthuy.com qua:
Công cụ tìm kiếm (Google, Bing...)
Bạn bè, người thân
Quảng cáo (tạp chí, băng dĩa...)
Lựa chọn khác
Xem kết quả
thu-vien-phat-giao-nguyen-thuy.png (70 KB) tap-chi-pgnt.jpg (53 KB)
quy-an-tong-tri-tue.png (33 KB)
ung-ho-website.png (42 KB)
ung-ho-xay-chua-dai-tho-phan-lan.png (66 KB)
banner-youtube.gif (32 KB)
banner-facebook.gif (95 KB)
http://phatgiaonguyenthuy.com/articl...ddha-mudr.html
-
-
Nghi thức phóng sinh
Nghi thức này căn cứ theo bản văn cũ
của Pháp sư Lễ1
ở Tứ Minh, có đôi
chút thêm bớt cho giản tiện, dễ thực hành. Về
cuối có thêm vào phần thay cho những con vật
được phóng sinh mà phát nguyện vãng sinh,
lại thêm phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa
Nghiêm vào để kết thúc, lấy ý nghĩa là trước
hết cầu sinh về thế giới Cực Lạc của đức Phật
A-di-đà, sau đó thể nhập vào Hoa tạng huyền
môn của đức Phật Tì-lô-giá-na.2
Thêm nữa, vào mùa nắng nóng thì vừa bắt
đầu lễ phóng sinh có thể tụng niệm theo nghi
thức này, vừa xong thì phóng sinh. Khi có người
1
Tức Tổ sư đời thứ 17 của tông Thiên Thai, thường được
tôn xưng là Tứ Minh Tri Lễ Đại sư (四明知禮大師), Tứ
Minh Tôn giả (四明尊者) hay Tứ Minh Đại Pháp sư (
四明大法師). Ngài sinh năm 960, viên tịch năm 1028,
quê ở Tứ Minh thuộc huyện Ngân, tỉnh Chiết Giang.
2
Phiên âm từ Phạn ngữ Mahā Vairocana Buddha, danh
xưng dịch nghĩa là Đại Nhật Như Lai.
79
Nghi thức phóng sinh
tiếp tục đến phóng sinh nữa, chỉ cần niệm chú
Đại bi một lần, chú Vãng sinh ba lần, rồi vừa
xưng niệm hồng danh Phật A-di-đà vừa thả
vật đi, không cần phải hết sức nghiêm túc theo
nghi thức chỉnh tề, kéo dài thời gian sẽ tổn hại
vật mạng. Nếu có người lại tiếp tục đến, cũng
thực hiện giản lược như vậy.
Tại nơi phóng sinh, bày hương án trang
nghiêm, có cành dương và nước sạch. Những
người tham gia phóng sinh đều phát khởi tâm
từ, dùng ánh mắt từ hòa mà nhìn những con
vật được phóng sinh, trong tâm quán niệm đến
sự chìm đắm luân hồi của chúng, liền khởi lòng
thương xót sâu xa, rồi lại quán niệm Tam bảo
có oai lực hết sức lớn lao, có thể cứu thoát khổ
nạn cho chúng.
Quán niệm như vậy rồi, tay bưng chén nước,
trong tâm thầm niệm:
“Nhất tâm phụng thỉnh Thập phương Từ
phụ Quảng Đại Linh cảm Quán Thế Âm Bồ
Tát, xin giáng lâm đạo tràng, gia trì cho chén
nước này có đủ công năng lớn lao, vừa rảy lên
Cẩm nang phóng sinh
80
thân thể chúng sinh vật loại liền khiến cho
chúng đều được thanh tịnh thân tâm, đủ sức
lắng nghe Chánh pháp nhiệm mầu.”
Nguyện thầm như vậy rồi, liền bắt đầu tụng
thần chú Đại bi một lượt, sau đó dùng nước
sạch trong chén ấy rảy lên thân thể những con
vật được phóng sinh ba lần. Tiếp đến hai tay
nâng lư hương cung kính bạch rằng:
“Ngưỡng bạch Thập phương Tam bảo, Bổn
sư Thích-ca, Từ phụ Di-đà, Như Lai Bảo
Thắng, Bồ Tát Quán Âm, Trưởng giả tử Lưu
Thủy, Thiên Thai, Vĩnh Minh cùng các bậc Đại
sĩ... xin nguyện các ngài từ bi chứng biết và hộ
niệm cho. Hôm nay có các loài chúng sinh hoặc
bay trên không trung, hoặc sống trên đất liền,
hoặc lặn dưới sông nước, bị người khác đặt bẫy
giăng lưới bắt được, sắp phải rơi vào chỗ chết,
chúng con là tỳ-kheo (hoặc tỳ-kheo ni)... ...
(khấn pháp hiệu)... cùng các thiện nam tín nữ
là... ... (khấn tên họ, pháp danh những người
tham gia phóng sinh)... ...nhìn thấy như vậy
liền khởi tâm tu theo hạnh Bồ Tát, phát tâm
81
Nghi thức phóng sinh
từ bi, gieo nhân lành trường thọ, thực hành
phóng sinh, bỏ tiền chuộc lấy thân mạng của
những chúng sinh này, trả chúng về đời sống
tự do, cùng vâng làm theo Kinh điển Phương
đẳng Đại thừa, giúp cho chúng được thọ pháp
Tam quy, xưng niệm mười danh hiệu Phật,
lại vì chúng giảng thuyết Giáo pháp Mười hai
nhân duyên. Chỉ vì các loài chúng sinh này tội
chướng sâu nặng, thần thức si mê hôn ám, nên
ngưỡng cầu Tam bảo oai đức gia trì, xót thương
tiếp độ.”
Tiếp đó lại bạch rằng:
“Hôm nay những chúng sinh có mặt ở đây
đều xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.”
(Lặp lại ba lần)
“Hôm nay những chúng sinh có mặt ở đây
đều đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y
Tăng.” (Lặp lại ba lần)
“Từ nay về sau, những chúng sinh hôm nay
đã quy y Tam bảo, trở thành Phật tử, thờ Phật
làm thầy, vĩnh viễn không quy y tà ma ngoại
đạo.” (Lặp lại ba lần)
Cẩm nang phóng sinh
82
“Hết thảy các Phật tử1
đã quy y Tam bảo,
nay chúng tôi sẽ vì quý vị mà xưng tụng mười
danh hiệu của đức Như Lai Bảo Thắng, nhờ
công đức ấy khiến cho quý vị sau khi được nghe
rồi sẽ giống như mười ngàn con cá [trước đây
được Trưởng giả tử Lưu Thủy cứu sống, sau khi
mạng chung sẽ được] sinh về cõi trời, không hề
khác biệt.”
Tất cả những người tham gia phóng sinh
đồng niệm:
“Nam mô Bảo Thắng Như Lai, Ứng cúng,
Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế
gian giải, Vô thượng sĩ Điều ngự trượng phu,
Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn.” (Lặp lại ba lần)
Sau đó, [vị chủ lễ] thuyết pháp với những
con vật được phóng sinh:
“Này các Phật tử, hôm nay tôi sẽ vì quý
vị mà thuyết giảng giáo pháp Mười hai nhân
duyên, chỉ rõ các tướng sinh, tướng diệt, giúp
cho quý vị thấu hiểu được pháp sinh diệt,
1
Nói với tất cả những con vật được phóng sinh, vì vừa rồi
đã giúp chúng thọ Tam quy, trở thành Phật tử.
83
Nghi thức phóng sinh
chứng ngộ được pháp không sinh diệt, đồng
như chư Phật, chứng Đại Niết-bàn. Đó là: Vô
minh duyên theo hành, hành duyên theo thức,
thức duyên theo danh sắc, danh sắc duyên theo
sáu nhập, sáu nhập duyên theo xúc, xúc duyên
theo cảm thụ, cảm thụ duyên theo ái luyến,
ái luyến duyên theo chấp thủ, chấp thủ duyên
theo hữu, hữu duyên theo sinh, sinh duyên
theo già chết, ưu bi khổ não. Như vậy, khi vô
minh diệt mất thì hành diệt theo, hành diệt
mất thì thức diệt theo, thức diệt mất thì danh
sắc diệt theo, danh sắc diệt mất thì sáu nhập
diệt theo, sáu nhập diệt mất thì xúc diệt theo,
xúc diệt mất thì cảm thụ diệt theo, cảm thụ
diệt mất thì ái luyến diệt theo, ái luyến diệt
mất thì thủ diệt theo, thủ diệt mất thì hữu diệt
theo, hữu diệt mất thì sinh diệt theo, sinh diệt
mất thì già chết, ưu bi khổ não đều diệt theo.”
Thuyết pháp xong, lại nói:
“Này các Phật tử, nay tôi y theo Kinh điển
Đại thừa, đã trao cho quý vị Tam quy, đã vì quý
vị xưng niệm Mười danh hiệu Phật, cũng đã
thuyết giảng cho quý vị nghe xong giáo pháp
Cẩm nang phóng sinh
84
Mười hai nhân duyên. Bây giờ tôi sẽ vì quý vị
mà đối trước Tam bảo phát lộ mọi tội lỗi trong
quá khứ, chí thành cầu xin sám hối, nguyện
cho bao nhiêu tội lỗi nghiệp chướng của quý
vị, trong một niệm đều hết thảy tiêu trừ, được
sinh về cảnh giới lành, được gần Phật nhận
lời thọ ký. Quý vị nên hết sức chí thành cùng
nương theo những lời sám hối sau đây.”
Tiếp đọc lời sám hối:
“Xưa nay con tạo bao nghiệp ác,
Đều do muôn kiếp tham, sân, si.
Từ thân, miệng, ý khởi sinh ra,
Hết thảy con nay xin sám hối.”
(Lặp lại ba lần)
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (Ba lần)
“Nguyện cho tất cả quý vị từ sau khi được
phóng sinh rồi, vĩnh viễn không gặp ác ma,
không bị ăn nuốt, không sa vào lưới bẫy, được
sống đời thong dong tự tại, hưởng trọn tuổi
trời. Sau khi mạng chung thì nương nhờ oai
lực Tam bảo cùng nguyện lực từ bi của đức
Như Lai Bảo Thắng, hoặc sinh về cõi trời Đao
85
Nghi thức phóng sinh
Lợi, hoặc sinh ra trong cõi nhân gian, đều biết
tu hành, giữ theo giới luật, không quay trở lại
làm việc ác như xưa, đem tâm thành tín niệm
Phật, được tùy nguyện vãng sinh.”
Tiếp đó cầu nguyện cho những người phóng
sinh:
“Lại nguyện cho các đệ tử tham gia việc
phóng sinh hôm nay là... ... (khấn tên họ, pháp
danh những người tham gia phóng sinh)...
...từ nay về sau hạnh nguyện Bồ-đề được tăng
trưởng, sáng suốt trong từng niệm tưởng, cứu
khổ chúng sinh như cứu chính mình. Nhờ nhân
duyên ấy được sinh về Tây phương Cực Lạc,1
được gặp đức Phật A-di-đà và các vị Thánh
chúng, chứng đắc pháp nhẫn vô sinh, hóa hiện
phân thân nhiều như số hạt bụi nhỏ, rộng độ
hết thảy chúng sinh hữu tình đều được thành
Chánh giác.”
Tất cả đại chúng đồng thanh tụng niệm
phẩm Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm,
cùng thần chú Vãng sinh Tịnh độ.
1
Nguyên tác dùng An Dưỡng, là một tên khác của cõi
Tây phương Cực Lạc.
Cẩm nang phóng sinh
86
“Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm,
phẩm Thập Hồi Hướng. Tùy thuận kiên cố hồi
hướng hết thảy căn lành.1
“Phật tử, Đại Bồ Tát, khi sinh làm vị Đại
quốc vương, đối với Chánh pháp thông hiểu tự
tại, rộng làm theo lời dạy của Phật, khiến cho
trong cõi nước được dứt trừ nghiệp giết hại.
Khắp trong cõi Diêm-phù-đề, những nơi thành
ấp, xóm làng, đều ban lệnh cấm hết thảy mọi
sự giết mổ. Đối với muôn loài chúng sinh dù là
những loài không có chân, hoặc có hai chân,
bốn chân hoặc nhiều chân, đều ban cho sự
an ổn không sợ sệt, không hề khởi tâm muốn
cướp đoạt [mạng sống của chúng]. Rộng tu hết
thảy hạnh nguyện Bồ Tát, ban rải đức nhân
từ đến muôn loài vật, không làm những việc
1
Nội dung từ sau đoạn này trở xuống cho đến phần tụng
thần chú Vãng sinh được trích nguyên văn từ kinh Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (大方廣佛華嚴經),
quyển 27, phẩm Thập hồi hướng (phẩm thứ 25), phần
thứ 5, bản Hán dịch của ngài Thật-xoa-nan-đà. Kinh
này được xếp vào Đại Chánh tạng thuộc Tập 10, kinh
số 279. Phần kinh văn trích dẫn này bắt đầu từ trang
149, tờ b, dòng thứ 16.
87
Nghi thức phóng sinh
xâm hại não loạn, phát khởi tâm nhiệm mầu
quý báu đem sự an ổn đến cho mọi chúng sinh.
Đối trước chư Phật khởi tâm mừng vui sâu xa
cùng cực, thường tự mình trụ yên trong ba loại
giới hạnh thanh tịnh, lại cũng khiến cho tất cả
chúng sinh đều được trụ yên như vậy.
“Đại Bồ Tát khiến cho chúng sinh trụ yên
trong Năm giới, vĩnh viễn dứt trừ không làm
việc giết hại, lại dùng căn lành đó hồi hướng
như sau:
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh đều
phát tâm Bồ-đề, được đầy đủ trí tuệ,
vĩnh viễn giữ được thọ mạng, không có
lúc chấm dứt.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh sống
lâu vô lượng kiếp, cúng dường hết thảy
chư Phật, chuyên cần cung kính tu tập,
cuối cùng càng được tăng thêm tuổi thọ.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh tu tập
hành trì trọn đủ, lìa khỏi các pháp già
chết, hết thảy tai nạn, chất độc đều
không làm hại đến sinh mạng.
Cẩm nang phóng sinh
88
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh thành
tựu đầy đủ thân không tật bệnh, phiền
não, được thọ mạng tự tại, có thể tùy ý
sống trên đời.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh được thọ
mạng vô tận, đến cùng kiếp trong tương
lai, trụ yên trong hạnh nguyện Bồ Tát,
giáo hóa điều phục hết thảy chúng sinh.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh luôn
được tăng trưởng căn lành Thập lực
trong suốt đời sống của mình.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh được
trọn đủ căn lành, được đời sống vô tận,
thành tựu trọn vẹn đại nguyện.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh đều
được gặp chư Phật, cúng dường phụng
sự, an trụ trong đời sống vô tận mà tu
tập căn lành.
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh từ chỗ
của đức Như Lai khéo học được các môn
học của mình, đạt được niềm vui từ Phật
pháp, thọ mạng vô tận.
89
Nghi thức phóng sinh
- Nguyện cho hết thảy chúng sinh được
căn mạng thường còn không già, không
bệnh, dũng mãnh tinh tấn thể nhập trí
tuệ chư Phật.
“Như thế là Đại Bồ Tát trụ yên trong ba tụ
tịnh giới, vĩnh viễn dứt trừ nghiệp giết hại, hồi
hướng căn lành cho tất cả chúng sinh đều được
đầy đủ Mười sức của Phật.”
Tiếp theo trì tụng thần chú Vãng sinh ba
lần. Tụng xong, vị chủ lễ tác bạch rằng:
“Chúng con hôm nay làm việc phóng sinh
được bao nhiêu công đức, xin dùng để báo đáp
rộng khắp bốn ơn nặng, lợi lạc đồng đều trong
Ba cõi, nguyện cho hết thảy chúng sinh trong
pháp giới đều được thành tựu trọn vẹn trí tuệ
giải thoát. Nam-mô Thập phương tam thế nhất
thiết chư Phật, nhất thiết chư Đại Bồ Tát, Maha
Bát-nhã ba-la-mật.”
Lời nguyện sau khi phóng sinh
Sau khi hoàn tất việc phóng sinh, đến trước
bàn thờ Phật, chí tâm lễ bái hình tượng Phật
rồi khấn nguyện như sau:
“Đệ tử tên là ... (khấn tên họ, pháp danh)...,
xin đem hết tâm thành quy y đức Phật A-di-đà
ở thế giới Tây phương Cực Lạc. Đệ tử vâng theo
lời Phật dạy trước đây, hôm nay thực hành việc
phóng sinh, được số lượng vật mạng là... ...(kể
ra số lượng)... ...
Nhờ công đức này, xin nguyện cho đệ tử được
tiêu trừ tội lỗi nghiệp chướng, giải trừ mọi oán
thù oan trái, căn lành tu tập ngày càng tăng
trưởng, đến phút lâm chung được thân tâm
an ổn, chính niệm rõ ràng, nhờ ơn Phật tiếp
dẫn sinh về cõi nước Cực Lạc, hóa sinh từ giữa
91
Nghi thức phóng sinh
hoa sen trong ao bảy báu, hoa nở liền được gặp
Phật, chứng đắc pháp nhẫn vô sinh, được đầy
đủ trí tuệ Phật, dùng thần lực lớn lao có thể
khiến cho những chúng sinh được con phóng
sinh, cùng tất cả vô số chúng sinh trong khắp
mười phương, thảy đều được cứu độ giải thoát,
thành đạo Vô thượng. Nay phát lời nguyện
này, xin đức Phật từ bi xót thương tiếp nhận.”
Phát nguyện như trên rồi, tiếp đó niệm
danh hiệu Phật một trăm lần, hoặc ngàn lần
hay vạn lần, nhiều ít tùy ý.
http://tinhtonghochoi.org/kinhSach/n...gPhongSanh.pdf
-
https://upanh1.com/images/Untitled811ebd9c69b01f04.png
https://issuu.com/hvpgnguyenduc/docs/thichnhatthien
==============
Thichnhatthien by Học Viện Phật Giáo Huế - issuu
https://issuu.com/hvpgnguyenduc/docs/thichnhatthien
Translate this page
113. 七寶如來. 七寶如來. 114. 次與汝等皈依三寶. 皈依佛。 皈依法。 皈依僧。 ... 次結無量威德自在光明如來印 ...... Thủ ấn chấp trì Thiên phúc luân (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ ...... Thất bảo Như Lai Nam Mô Đa Bảo Nhƣ Lai.
https://issuu.com/hvpgnguyenduc/docs/thichnhatthien
-
-
-
-
https://img.alicdn.com/imgextra/i7/T...x400Q50s50.jpg
唵 啞 吽 (嗡阿吽)
ÁN-A-HỒNG ( Úm A Hum )
ÁN-Á-HỒNG ( Úm Á Hồng )
ÁN-DÀ-HỒNG
ÁN-DẠ-HỒNG
https://upanh1.com/images/Untitled7b5dc239ae0b6e30.png
https://issuu.com/hvpgnguyenduc/docs/thichnhatthien
https://tangthuphathoc.net/an-a-hong/
http://buddhism.lib.ntu.edu.tw/BDLM/...0/T21n1320.pdf
https://www.tuvienquangduc.com.au/ma...0N%20NG%C3%94N
http://www.tuvienquangduc.com.au/kin...a-diemkhau.pdf
=
Thichnhatthien by Học Viện Phật Giáo Huế - issuu
https://issuu.com/hvpgnguyenduc/docs/thichnhatthien
Translate this page
113. 七寶如來. 七寶如來. 114. 次與汝等皈依三寶. 皈依佛。 皈依法。 皈依僧。 ... 次結無量威德自在光明如來印 ...... Thủ ấn chấp trì Thiên phúc luân (Án mọ ni hồng), Chúng đẳng chí tâm (Án dạ ...... Thất bảo Như Lai Nam Mô Đa Bảo Nhƣ Lai.
https://issuu.com/hvpgnguyenduc/docs/thichnhatthien
===================
1. Nhất Tự Chân Ngôn:
a) Kinh Bất Không Thần Biến, quyển 28 chép: “Biến Giải Thoát Nhất Tự Chân Ngôn là: “Án, ác, sa phạ ha” (Om, Ah, svaha). Nếu có kẻ sáu thời theo đúng pháp trì tụng đủ số một lạc xoa (100 ngàn lần) thì nghiệp (1) này thành tựu. Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân kim sắc, sẽ diệt được hết thảy trọng tội căn bản từ vô thỉ. Nếu Bồ Tát chẳng hiện thì càng tinh tấn tụng niệm bội phần, đủ số hai lạc xoa hoặc ba lạc xoa thì nghiệp này sẽ thành tựu, Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ hiện thân, cầm tay chỉ bày đức Phật A Di Đà ngồi trên tòa sư tử hoa sen báu nơi cõi Tây Phương Tịnh Độ, lại được A Di Đà xoa đầu”.
Tác giả/Dịch giả:
Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp Dịch
Tên sách:
A Di Đà Kinh Hợp Giải
Mục lục:
Phụ Lục : A Di Đà Chân Ngôn
http://vnbet.vn/a-di-da-kinh-hop-gia...gon-12154.html
-
-
. PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ CỦA VIỆC
. CÚNG DƯỜNG KHÓI HƯƠNG
. (RIWO SANGCHOD)
* Ý NGHĨA
Là pháp tu tịnh trừ nghiệp chướng. Giản dị và mau chóng thành tựu.
Đây là thời khóa tu hàng ngày của các hành giả. Chỉ cần dùng bột hương và thực phẩm.
Đốt hương để tỏa mùi thơm, nhờ chân ngôn màu nhiệm và sự gia trì của chư Phật Bồ tát khiến cho hành giả luôn giữ được tâm thanh tịnh.
- Trên cúng chư Phật Bồ tát mà được tăng trưởng phúc tuệ.
- Thứ cúng hết thảy hộ pháp thiện thần hoan hỷ thụ dụng phẩm vật dâng cúng, luôn luôn phù hộ cho được cát tường.
- Dưới cúng cho lục đạo hữu tình, ngạ quỷ súc sinh, oan thân trái chủ, khiến cho những mong muốn của họ đều được như ý, dần dần diệt hết oán thù nghiệp chướng, hết đói khát luôn được no đủ.
Đây là pháp môn cúng dàng giản dị mau chóng thành tựu, cát tường viên mãn.
* LỢI ÍCH & CÔNG ĐỨC
1. Hóa giải oán thù.
Do đời trước gây ra nghiệp chướng sâu nặng, tạo thành nhiều chướng ngại trong việc tu hành.
- Bên ngoài có chướng ngại oan thân trái chủ.
- Bên trong chướng ngại bởi tập khí phiền não.
Do hàng ngày tu tập pháp môn này trên các oan thân trái chủ được hưởng sự cúng dàng vô biên.
Hành giả khởi tâm thương sót oan thân trái chủ còn nơi đường ác mà tu pháp này.
Nhờ sự gia trì của chư Phật sẽ được vãng sinh tịnh độ.
Như thế, bên trong khởi tâm đại bi, bền ngoài giải trừ thù oán.
Mà diệt trừ phiền não tập khí, xa lìa chướng ngại.
Sinh thêm được nhiều công đức tu hành thế gian và xuất thế gian.
2. Rộng kết thiên duyên
Do hàng ngày thực hành pháp này, nên các thiện thần hộ pháp và lục đạo chúng sinh nhớ ơn hành giả mà sinh tâm hoan hỷ, giúp cho hành giả được vạn sự cát tường.
3. Phúc tuệ tăng trưởng
Có nhiều hành giả còn chưa chứng ngộ là do kiếp trước nghiệp chướng nặng nề nên kiếp này lại bị vô minh phiền não che lấp tạo thành nghiệp quả nghịch duyên.
Bởi vậy, trên bước đường tu tập và trong cuộc sống luôn gặp nhiều chướng ngại, vì thế khó có thể yên tâm tu hành.
Do tu tập pháp này nên trong tâm luôn khởi được cái tính từ bi.
Vì vậy ngày ngày đều phải hành pháp bố thí cúng dàng, dần dần sẽ hóa giải được cái vô minh và nghiệp quả của mình, mà chồng được cái quảng đại phúc đức cùng chủng tử bồ đề, lại diệt trừ được mọi tội lỗi ác nghiệp, như thế phúc đức- trí tuệ ngày càng tăng trưởng.
4. Phú quý tăng trưởng
Do trên cúng dàng chư Phật, mà trồng được nhiều ruộng phúc.
Do dưới bố thí chúng sinh mà được cái lòng từ bi rộng lớn, bởi chồng nhân mà được quả.
Mặc dù cuộc đời này chưa được phú quý giàu sang thì kiếp sau nhất định sẽ được gặt hái quả lành.
5. Thân tâm thanh tịnh
Trong đời sống tu hành của chúng ta còn nhiều chướng ngại bởi còn nhiều tập khí xấu tạo thành, gặp phải quả báo bất luận là tốt hay xấu chúng ta không nên oán trời trách đất, chỉ có triệt để chuyển hóa được ngã chấp trong đời sống của chúng ta thì mới có thể diệt trừ được cái gốc của sự chướng ngại đó.
Bởi có lòng từ bi hòa nhập vào đời sống hàng ngày, luôn quan tâm đến mọi người, đây là phương pháp tốt nhất để diệt trừ ngã chấp.
Mục đích chủ yếu của pháp cúng này là làm cho chúng ta khởi được lòng từ bi, luôn thương xót cái sự đói khát và cùng khổ của ngạ quỷ, súc sinh.
Đem lòng từ bi mà tu, trì pháp này thì mới mở rộng được sự cúng dàng và làm xa lìa được sự cơ cực của chúng sinh.
Người luôn giữ được cái tâm từ bi như vậy sẽ được các chư Thiên hộ pháp thường theo và ủng hộ, xa lìa được phiền não chướng ngại mà được hết thảy cát tường tự tại.
Tất cả các phương pháp tu trì của từng người nếu xa lìa cái tâm từ bi sẽ mất đi ý nghĩa việc tu trì của Phật pháp.
6. Thanh tịnh đàn tràng
Trong nghi thức cúng khói hương, vì bột hương được làm từ rất nhiều vị thuốc bởi vậy khi đốt:
- Bên ngoài: Nhờ vào sự gia trì của chư Phật và Bồ tát khiến cho hương này càng trở nên trang nghiêm thanh tịnh, lại khiến cho môi trường xung quanh càng thêm trong sạch mà hiển lộ được sự cát tường.
- Bên trong: Khiến cho oan thân trái chủ được thụ dụng đầy đủ, không còn gây chướng ngại cho hành giả nữa.
Cũng vì việc cúng dàng hộ pháp chư Thiên sẽ được các vị ủng hộ cho gia đình được an vui hạnh phúc.
Trong lúc cúng, nhờ mùi hương này sẽ khiến cho hành giả được thân tâm thanh tịnh, tiêu trừ mọi chướng ngại. Do ba công đức viên mãn nói trên, hành giả nên tu theo pháp môn này.
7. Siêu độ vong linh
Có rất nhiều vong linh tâm còn oan uổng, do vô minh che mất mà phải chịu cái đói khát, cơ cực.
Còn có những vong linh không có thân tướng, nên không có cách nào mà thụ hưởng được sự cúng dàng. Cho nên trong pháp cúng này những vong đang còn trong thân trung ấm sẽ được sự giúp đỡ lớn lao, khiến được thụ dụng sự bố thí.
Pháp tu này 1 ngày có thể cúng từ 1 đến 3 lần khiến mang lại lợi lạc cho chúng sinh.
Khi nhân duyên tích tụ đầy đủ sẽ được chư Phật Bồ tát cứu độ về chốn thanh tịnh Tây phương cực lạc.
8. Khai mở vận may
Bởi tu pháp này không những hóa giả được mọi thù địch oan trái mà còn tích tụ được rất nhiều phúc đức, trí tuệ, dần dần sẽ hóa giải được những vận xấu, hết thảy những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mình sẽ được đầy đủ.
Những việc đến với hành giả trong cuộc sống hàng ngày đều được thuận lợi cát tường, nhiều nhà tu hành đi trước đã chứng nghiệm được sự linh ứng của pháp tu này.
Nơi nào cúng khói hương nơi đó (trong phạm vi 7 km) luôn luôn có chư thiên , thiện thần , long vương hộ trì.
Sưu tầm
https://www.facebook.com/permalink.p...Of8&__tn__=K-R
-
-
http://hunyuan.tw//file/cht_wxway_figure_020.jpg
金剛大法印貼紙使用原則- 妙法普傳- 大家學易經複習網hunyuan.tw
大家學易經
六) 入宅門上呈佛普照,加持有效。 (七) 神明佛爐呈佛普照,加持有效。 (八) 機械生產系統,呈佛普照,加持有效 (九) 行車平安,呈佛普照,加持 有效。
https://hunyuan.tw/m/?disp=wxway&pid=184
=
http://hunyuan.tw//file/cht_wxway_figure_021.jpg
金剛大法印符化煞法- 妙法普傳- 大家學易經複習網hunyuan.tw
大家學易經
3待新門改好後,再將此符咒在門前 化,將新旺氣引進門來。(用符三張 壽金七只,燒化後把門打開,人跨過 金紙,直入家門即成。) (三)豎柱:
https://hunyuan.tw/m/?disp=wxway&pid=185
-
-
-
-
-
-
-
https://img.ruten.com.tw/s1/4/9a/a5/...240293_834.jpg
免費結緣品
自付超商取貨之60元運費即可
CD封面是金剛藏大圓滿尊勝咒輪集合
~~曲目如下~~
1.醒來
2.金剛薩埵百字明
3.掃心地
4.地藏王菩薩心咒
5.大悲咒
6.二十一度母贊
7.六字真言頌
8.准提咒
9.佛頂尊勝陀羅尼
10.七朵蓮花開
11.梵語心經
12.願做菩薩那朵蓮
13.懺悔歌
14.藥師琉璃光如來灌頂真言
15.阿彌陀佛聖號
16.大悲咒(DJ版)
狀如寶蓮金剛藏
尊勝集合大圓滿
緣出佛陀足尊下
一念讚歎人天報
遇影蒙光除眾苦
神州處處轉經輪
此【金剛藏大圓滿尊勝咒輪合集】出 佛陀腳下,於定中所得!一念讚歎, 人天果報!如有疑惑請自行入定觀見 !
恭請十方三世一切諸佛菩薩龍天金剛 法慈悲加持!願隨喜發願印、貼、燒 撒、佩戴、使用、聞見此【金剛藏大 圓滿尊勝咒輪集合】者,生生世世, 此咒輪護持攝受,常聞正法,正知正 ,成佛乘願,廣度眾生!願此咒輪盡 虛空遍法界,利益一切諸眾生!我願 盡,諸佛菩薩加持無盡,此咒輪利益 生無盡,念念相續無有間斷,身語意 業無有疲厭!
吽 吽 吽 呸 呸 呸 呸 呸 梭哈
此【金剛藏大圓滿尊勝咒輪集合】,39 個咒語真言,蘊藏了宇宙中的大能量 大智慧、大慈悲,是慈悲與加持的體 ,殊勝不可思議!
咒輪上真言分別是:
1《楞嚴咒全咒》
2《大寶廣博樓閣善住秘密陀羅尼》
3《普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能 大明王大隨求陀羅尼》
4《佛頂尊勝陀羅尼》(又稱《淨除一 惡道佛頂尊勝陀羅尼》)
5《雨寶陀羅尼》(又稱《能獲一切財 伏藏陀羅尼》)
6《般若波羅密多心經》
7《具足水火吉祥光明大記明咒》
8《地藏菩薩心咒》
9《地藏菩薩滅定業真言》
10《一切如來心秘密全身舍利寶篋印陀 羅尼咒》
11《開咽喉真言》
12《甘露水真言》
13《藥師佛灌頂真言》
14《穢跡金剛咒》(又稱《大圓滿陀羅 尼神咒穢跡真言》)
15《往生神咒》(又稱《拔一切業障根 本得生淨土陀羅尼》)
16《文殊菩薩心咒》
17《綠度母心咒》
18《白度母心咒》
19《黃財神咒》
20《破地獄真言》
21《金光明真言》
22《變食真言》
23《摩利支天心咒》
24《補闕圓滿真言》
25《防誤跨咒》
26《金剛手菩薩心咒》
27《文殊八字大威德心真言》
28《大悲咒》(全稱《千手千眼觀世音 菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼》)
29《大白傘蓋心咒》
30《准提神咒》
31《金剛薩埵百字明》
32《不空摩尼供雲咒》(又稱《不空摩 尼供養咒》)
33《有情決定成佛真言》
34《六道金剛解脫咒輪》
35《六字大明咒》
36《一字佛頂輪王咒》
37《月光如來咒》
38《金剛薩埵心咒》
39《心陀羅尼》
咒輪使用有三種,一種是貼在過往人 的門上方或建築上方,每天從底下走 ,生起恭敬之心,即有無量功德;二 是單獨供放或與佛菩薩像一起供放進 供養;三是隨身攜帶!咒輪戴身上貼 上,身體車體成佛塔,周圍有形無形 眾生都受益,跟他們結下善緣法緣! 可隨身攜帶咒輪,或貼於房門、窗戶 人流聚積處、菜市場大門或裡面、超 市、醫院、肉鋪、魚檔、高山、叢林 處,貼在塔、房子、大樹、大門、柱 、燈柱上、電線杆上、樓房最高層、 火車隧道上方、過街天橋側面等處。 得稍高些,貼在一般人不會注意不易 掉的隱蔽處。如果選的位置得當,咒 輪可貼在上面幾年十年甚至二十年都 掉,將利益無量無邊眾生,與無量眾 結下善緣法緣。
https://goods.ruten.com.tw/item/show?21725568240293
-