-
【 NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN 】
Trong “Kinh Thủ Lăng Nghiêm” Đức Phật phân tích tỉ mỉ, giải thích rõ ràng thế nào là "Vọng Tâm" cũng gọi là tâm thức sanh diệt hay nhân tâm, phàm tâm hay tâm ma, tức là cái tâm chạy theo bám víu, dính mắc tham luyến, chấp trước vào âm thanh, và các hình, danh, sắc, tướng ... của Trần cảnh bên ngoài... và thế nào là "Chân tâm Bất Sanh Bất Diệt" cũng gọi là Tâm Thánh, Tâm Phật.
Sau khi Phật phân biệt rõ "vọng tâm sanh diệt" và "chân tâm bất sanh bất diệt", Phật mới dạy cho Phật tử và đại chúng hãy chọn Chân tâm "bất sanh bất diệt" làm Nhân căn bản tu hành để đạt diệu quả "Vô Thượng Bồ Đề" bất sanh bất diệt theo lý Nhân-Quả... là nhân và quả phải giống nhau.
Sau khi đã chọn "Chân tâm" bất sanh bất diệt làm Nhân căn bản để tu hành, Phật mới chỉ dạy xa lìa (buông bỏ) cái "Vọng", cái giả tạm hay thay đổi, cái hư vọng hay sanh diệt để trở về với cái "Chơn", cái thật tướng thường hằng sẵn có.
Sau khi có quyết tâm buông bỏ cái "Vọng" để trở về với cái Chơn, Phật mới chỉ dạy "gốc rễ phiền não" của vọng tâm nằm ở chỗ "6 Căn” tiếp xúc với "6 Trần" rồi, Phật mới đề ra phương pháp mở gút trói buộc của 6 căn để giải thoát tâm khỏi sự che lấp và ràng buộc của khách trần phiền não.
Để ngăn ngừa chúng đệ tử nhận lầm "Vọng Tâm và Chân tâm" là hai thực thể đối lập nhau nên sanh ý niệm diệt trừ vọng tâm để có chân tâm nên Phật lại ân cần nhắc nhở ... "Vọng Tâm" là hiện tướng của "Chân tâm” tức là "vọng tâm và chân tâm" đều cùng một gốc Như Lai Tạng sanh ra... cho nên chỉ trừ bỏ cái "vọng chấp” trong tâm mà thôi.
=>. PHẬT DẠY VỀ PHẦN CHÁNH LÝ ...
Học giả khi thông đạt sáng suốt được chánh lý Tâm Pháp Bát Nhã Trung Đạo của Phật rồi mới dạy phần thực hành. Nên biết kinh Thủ Lăng Nghiêm là Kinh dạy về pháp môn tu hành thành Phật như Ngài Anan đã nói trong phần "an lập đạo tràng độ sanh". (cuốn VI) là: "Nay tôi tỏ Ngộ" pháp môn thành Phật để thực hành, không còn nghi chấp nữa".
=> PHẬT DẠY VỀ PHẦN THỰC HÀNH ...
1) "Nhiếp Tâm" làm "Giới"... ... nhân (giữ) Giới sanh "Định" = nhân có Định mới phát "Huệ". Đây là Phật dạy rõ ràng là "nhiếp tâm" làm giới của tâm pháp.
2) Ba Tiệm Thứ Tu Hành:
a. Dứt trừ "trở nhân” tức là không ăn ngũ vị tân dù sống hay chín.
b. Dứt trừ "giới tánh” tức là Nghiêm Trì Giới Luật Thanh Tịnh, giữ trai tâm, hoàn toàn kiêng cử dâm, sát, đạo (trộm cướp, lường gạt) vọng, rượu thịt, tham đắm dục lạc ....
Hành giả thường trì tụng Phật chú Phật Đảnh Quang tụ "TẤT ĐÁT ĐA BÁT ĐÁT RA" (hay trì Niệm Phật Chú mình đã chọn để công phu tu tập).
c. Dứt trừ hiện nghiệp tức là Tâm không chạy theo tham luyến bám víu, dính mắc vào lục trần mà tự quay về với "Bổn Thể Chơn Như Viên Giác" (Chân tâm, Phật Tánh).
3) Tu Pháp "Nhĩ Căn Viên Thông" của Quán Thế Âm Bồ Tát trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Để bảo vệ người tu có công phu tu Định ít nhiều nhưng cái "Ngã" vi tế chưa sạch, Phật lại ân cần nhắc nhở cẩn thận... coi chừng những cảnh Ma trong 50 loại Ma để cho người ta nhận biết rõ mà khỏi lầm lạc sa vào Ma đạo, và nẻo tà.
Qua những lời ân cần thiết tha trong kinh, Phật tử chúng ta mới thấy rõ lòng Từ Bi của Bổn Sư Từ Phụ hết lòng dạy từng li từng tí cho chúng, đệ tử thực hành được kết quả thành tựu mỹ mãn như Ngài.
Để báo đáp ân sâu vô tận của Phật, Phật tử chúng ta nên đặt hết lòng tin vào Đức Từ Phụ mà thực hành nghiêm chỉnh "Tâm Pháp thành Phật" của Phật dạy cho thành tựu viên mãn; mới thật sự là báo ân, tán thán và cúng dường chư Phật.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 TRI ÂN LỜI PHẬT DẠY 】
Cây có cội nước có nguồn
Làm người phải nhớ ghi luôn điều này
Công cha, Nghĩa mẹ. Ơn thầy
Tri ân báo đáp lời thầy chớ quên.
Lời thầy ghi mãi trong lòng
Tình cha Nghĩa mẹ ơn đầy núi sông
Mang thân cốt nhục tình thâm
Giữ tròn hạnh hiếu mới là đạo nhân.
Buông đi thế sự duyên trần
Quay về cửa Phật mở lòng từ bi
Vạn duyên kiếp nợ oán gì
Xả ly lập hạnh hoàn đời an khiêm.
Làm người hiếu hạnh chưa tròn
Đừng mong giới Phật an thân tu hành
Lời Phật nhớ mãi chớ quên
Nương nơi Phật Tánh quy nguồn Chân tâm.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(sưu tầm)
-
【 KIẾN ĐẠO và NGỘ ĐẠO 】
Cảnh giới Kiến Đạo và Ngộ Đạo do nội tâm lưu xuất cảm ứng trong mọi sự (Thấy-Biết) của mỗi người bất đồng; nếu người phát tâm cầu đạo rộng lớn thì sự kiến đạo sẽ thông đạt cứu cánh viên mãn. Người cầu đạo trí lực yếu, phát Tâm nhỏ hẹp, thì sự kiến đạo chỉ đạt được phần cạn ở bên ngoài. Cho nên người tu học "Phật Đạo" phải phát từ bi tâm lập chí hạnh, Phát lời nguyện sâu rộng sớm gặp Minh Sư (nội tâm khai ngộ) khai thị mới được đạo tâm hiện lộ, quán chiếu Tâm Pháp tương ưng, tâm ý mới khế hợp, tâm cảnh nhất như, tùy duyên diệu dụng.
Tất cả kinh điển, giáo pháp của chư phật đều nhằm mục đích khai mở cho chúng sinh, "Ngộ Nhập Phật Tri Kiến" giúp cho chúng hữu tình buông bỏ những tà kiến và ác kiến hay biên kiến để thâm nhập vào cảnh kiến đạo. Khi được kiến đạo hoặc Ngộ đạo rồi, thì sự lý viên thông, Chánh trí hiện tiền. Ánh sáng đạo pháp thường trụ chiếu diệu nơi tâm, giải thoát khỏi sự vô minh và phiền não. Chuyển hóa được (Tam Nghiệp) "tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thụ kiến, giới cấm thụ kiến, tà kiến. Không còn bị các trần cấu nghiệp hoặc sanh tử luân hồi trói buộc nữa.
Học giả khi đã Ngộ đạo thể nhập "Chơn Như" (Phật Tánh) tự tánh, tùy nghi ứng dụng, dung hòa cùng tất cả mọi pháp, tuỳ duyên vô nhiễm, tuỳ phương tiện mà hoá độ, điều phục tâm mình, phát khởi tâm từ bi cùng các pháp bình đẳng bất thoái chuyển... Lập công bồi Đức cho Phước Huệ được Viên dung, Không ngoài "Giới, Định, tuệ" hành trì (tam tụ và lục hoà) cho đến khi đã giác ngộ được Chánh Tri Kiến; sống đúng với Chân lý trên con đường giác ngộ. Tu đạo và chứng đạo thì mình và người đều được cảm thông an vui lợi lạc, đời sống sẽ được "Chơn, Thiện, Mỹ" đạo hạnh viên thành.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 THIỀN TỊNH PHÁP YẾU 】
Thiền giả; tịnh niệm tu tập “Chỉ Quán” tâm không phóng dật, hằng biết an trú “Chánh Niệm Tỉnh Thức” sống với chánh hạnh “mặc nhiên thường chiếu” trong “tuệ quán” thấy, biết để thanh lọc thân tâm “an nhiên tịch tĩnh” đừng cho vọng tưởng (vọng niệm) sinh khởi... để tâm được an định sáng suốt tịnh lặng quay về với “bản lai diện mục” tức là Chân tâm của chính mình.
“Pháp Thiền” không phải để tu tập thành cái gì cả. !!!
Mục đích của “Thiền Pháp” là để tu tập tịnh hoá “nghiệp thức, vọng tưởng, vô minh” che khuất “tánh minh diệu giác” của mình; xưa nay chúng ta không hay biết đã bị mê hoặc lầm chấp “vọng tưởng tứ đại làm thân” sinh diệt (chấp ngã) duyên thành cái tôi chấp trước vào các pháp hữu lậu luân chuyển nghiệp thức trầm luân trong tam giới.
Hành giả tu tập tịnh hạnh “cần tịnh hoá nghiệp căn” (Tam Nghiệp thuần hoà- Lục Căn thanh tịnh) giới hạnh trang nghiêm trong tịnh niệm tương tục dụng câu “Niệm Phật hoặc quán tưởng Lục Tự Di Đà” để quay về với tự tính “Thường Tịch Quang” của chính mình, hằng sống trong “Chánh Niệm Tỉnh Thức” chuyển hóa các vọng tưởng nghiệp thức vô minh sinh khởi duyên theo bóng dáng 6 trần; tạo nghiệp từ xưa đến nay.
“Tu Thiền & Tu Tịnh” hay Thiền-Tịnh song tu... đều cùng chung một mục đích là “Tịnh hoá Nghiệp căn” tuỳ vào nhân duyên nghiệp cảm chúng ta thích ứng theo căn duyên mỗi người thấy-biết áp dụng phương tiện miên mật công phu tu tập (niệm Phật hay tham thiền) cùng mục đích là chúng ta làm chủ được (tình thức vọng tưởng) để hoàn thiện Bổn Tánh Diệu Minh (Phật Tánh) “Bản Lai Diện Mục” hay tự tính Thường Tịch Quang.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
KÍNH MỪNG LỄ PHẬT ĐẢN
...(TRI ÂN ĐỨC PHẬT)...
... Chư Phật ra đời chỉ vì cứu khổ ban vui cho khắp cả thảy chúng sinh...
...”Phật Pháp bất ly Thế Gian Pháp”... nơi nào có giáo lý Thánh Đế tu tập... giữ trọn (5 giới hạnh) “Thập Thiện Nghiệp” không còn Tham, Sân, Si, Mạn... triền phược; nơi đó có An Lạc (3 nghiệp thuần hoà) 6 căn thanh tịnh - bất nhiễm 6 trần... hằng giữ “Chánh Niệm Tỉnh Thức”... luôn sống trong “Bát Chánh Đạo” tuỳ duyên vô nhiễm.
“Tam Nghiệp hằng Thanh Tịnh - Đồng Phật vãng Tây Phương”.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 TU ĐỂ CHUYỂN NGHIỆP 3】
“Nghiệp” của mỗi chúng sinh có Biệt Nghiệp, Cộng Nghiệp, Chuyển Nghiệp và Định Nghiệp = mọi sự không ngoài Duyên Sinh trong quy luật NHÂN QUẢ của Nghiệp “Thiện và Ác” chi phối vào đời sống con người mang theo Định Nghiệp của mình. Nếu chúng ta không có “thiện duyên phước đức trí tuệ”, không có Tu tâm tích Đức thì dễ bị tham ái dục vọng vô minh che khuất “Bổn tánh Diệu Minh” (Phật Tánh) của mình. Nên bị các vọng niệm tà kiến chiếm hữu làm chủ sắc thân này. - Phật gọi là nhận lầm giặc làm con là vậy.
- Người Tu học luôn cần phải làm chủ được Thân-Tâm, hằng sống trong “chánh niệm tỉnh thức trong tuệ quán” mới có an lạc tự tại vô ngại. Không phan duyên bám víu theo “lục trần” vọng tưởng tham ái “ngũ dục lạc” (tài, sắc, danh, thực, thủy) theo tình thức sinh khởi mọi sự tham vọng dục lạc danh lợi. Khi thấy-biết tỏ tưởng các pháp bất thiện; không tham, sân, si, ngã mạn.... ác kiến tạo nghiệp bất thiện; tạm gọi là tu để chuyển nghiệp. Thì đời sống của chúng ta mới có an lạc tự tại vô ngại giải thoát.
- Hành giả; muốn có được đời sống an lạc hiện tại và vị lai được một thân tâm trang nghiêm và giác ngộ giải thoát, vô ngại tự tại. Thì bạn cần tin sâu vào “Nhân Quả”... (Chư Ác Mạc Tác - Chúng Thiện Phụng Hành - Tự Tịnh Kỳ ý - Thị Chư Phật Giáo). Thực hành đúng với giáo lý thánh đế, tu tập Bát Chánh Đạo (Văn Tư Tu) theo lời Phật dạy... lần hồi Nghiệp của mình mới được chuyển hóa (Chuyển Hoạ Thành Phước) trí tuệ mới được tăng trưởng nối tiếp “Nghiệp” Thiện Duyên vào đời vị lai theo “Nhân Quả” của chính mình.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 TÚC DUYÊN TÌNH ĐỜI 】
- Tình vợ chồng sống cùng bên nhau; phải biết thương yêu tôn trọng đùm bọc và bao dung cùng chung chia sẽ mọi sự việc trong đời sống vui buồn. Biết khoan dung tha thứ những điều lỗi lầm cho nhau; mới hoá giải được mọi sự chướng duyên khó khăn trong cuộc sống của gia đình.
- Vợ Chồng khi đã có duyên cùng nhau sống trong một mái ấm gia đình; cần phải biết tôn trọng với nhau và bao dung tha thứ cho nhau; vì mỗi người đều có một nghiệp riêng của mình.- “Nghiệp” có biệt-nghiệp, cộng nghiệp, bất định nghiệp và chuyển nghiệp; tuy nhiên khi bạn gặp nghịch duyên ở hoàn cảnh nào; bạn cần phải biết xử lý sáng suốt chuyển hoá Nghiệp của mình. Đừng để cho sóng gió nghiệp thức vô minh (khách trần) che khuất bổn tánh diệu minh (chủ nhân) Phật tánh của mình.
- Đời người như giấc mộng; Thân người khó được, có duyên với Phật, giác ngộ được Phật-Pháp càng khó hơn. Năm, tháng trôi qua, thấm thoát qua mau đã đi hết hơn một đời người. Tu học cần phải miên mật qua thời gian tinh tấn tu tập trải nghiệm vào đời sống mới chuyển hoá được Nghiệp của mình; khi xúc chạm vào mọi sự việc mới chuyển hoá giải thoát khỏi được mọi sự triền phược của phiền não, trần duyên ô nhiễm của cuộc sống Đời và Đạo.
- Tình yêu thương vợ chồng trong đời sống gia đình muốn có được một tình yêu thương hạnh phúc chân thật. Đôi bạn cần phải sống trong tình thương không vi kỷ thì đời sống của bạn mới có an vui hạnh phúc, tôn trọng hoà ái, yêu thương lẫn nhau trong tình đầm ấm cùng hy sinh cho nhau, không tham đắm vào tài vật vì tư lợi ích kỷ che giấu của riêng tư, thì tình yêu của bạn mới được hạnh phúc Chân, Thiện, Mỹ.
Kính Chúc Các Bạn An Lạc Hạnh Phúc
(sưu tầm)
-
【 4 ĐIỀU ĐẠO HẠNH TU HỌC 】
1- Tu học giới hạnh trang nghiêm “không làm các điều ác, thực hành các việc thiện” lời nói lễ nghĩa khiêm cung trong đời sống đạo hạnh nhân từ trong (Chánh Niệm Tỉnh Thức) tam nghiệp thuận hoà, lục căn thanh tịnh, làm hành trang cho đời sống tu hành.
2- Thực hành theo lời Phật dạy… áp dụng vào đời sống tu tập chánh hạnh, gieo duyên cùng thiện hữu tri thức, tu học tiến hoá tâm thức trong đời sống đạo hạnh “thiểu dục tri túc” không tham ái dục lạc danh lợi, cùng gieo nhân thiện duyên hiện tại và vị lai.
3- Hành giả luôn sống trong giới hạnh thanh tịnh trang nghiêm thân tâm trọng mọi sự thiện hành, cần có “Chánh Tri Kiến” thấy, biết tuỳ duyên thuận pháp xứng tánh tu tập chuyển hóa các nghiệp Thức vọng tưởng vô minh tham ái dục vọng danh lợi.
4- Cần phải biết buông bỏ các kiến thức chấp trước sai lầm “chấp ngã và chấp pháp” dung hoà cùng mọi giới tánh, không đối đãi các pháp (nhị nguyên) làm chướng ngại thân tâm; thực hành đúng theo con đường Bát Chánh Đạo mới có an lạc tự tại, vô ngại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 TU HỌC TRONG ĐỜI SỐNG 】
Học giả; muốn có một đời sống an lạc thì cần phải tinh tấn giữ gìn giới hạnh tu học (đạo giác ngộ) biết nương theo "Trí tuệ" làm sự nghiệp cho đời sống (phát Bồ đề tâm) trang nghiêm thân tâm; mới có an lạc và giải thoát. Người không giới hạnh, tâm sẽ phóng túng lầm lạc vào cảnh giới si mê tà kiến. Nếu không có trí tuệ, không có tri thức, con người dễ bị chấp lầm (Nhân Quả) tạo nghiệp trầm luân trong lục đạo luân hồi đọa lạc vào các cảnh khổ.
- Người có trí tuệ đối với mọi người và tất cả pháp giới chúng sinh đều dung hòa kính mến với tâm bình đẳng (Từ Bị Hỉ Xả) không phan duyên theo các tình thức bám víu trong danh lợi, không phân biệt giới tánh giàu nghèo, giai cấp chủng tộc, Chỉ tùy duyên hướng vào nội tâm an định sáng suốt, thường tỉnh thức giác ngộ. Mới có được an vui tự tại.
- Nguyên Nhân của mọi sự an lạc “Tự Tại và Hạnh Phúc” cần phải bắt nguồn từ một tâm thức tĩnh lặng sáng suốt thường tri, thường giác, Thấy, Biết mọi sự việc rõ ràng (giới hạnh thanh tịnh bình lặng trong nội tâm) không phan duyên theo lục trần ngoại cảnh...”ngũ dục lạc” (thất tình, lục dục). Thường an trú “chánh niệm tỉnh giác” trong giới hạnh tu học (lục căn thanh tịnh, tam nghiệp thuần hoà) trong cuộc sống nhân sinh.
Làm thế nào để có được một tâm thức tĩnh lặng ?
- Hành giả; muốn có được một tâm thức tĩnh lặng; đời sống cần phải có "Chánh Tri Kiến" và “Chánh Niệm Tỉnh Thức” phát Bồ Đề Tâm, giữ gìn giới hạnh trang nghiêm, biết “thiểu dục tri túc” trong cuộc sống không tham ái dục vọng theo dục lạc danh lợi, không chấp ngã và chấp pháp theo sở kiến của mình. Biết kính trọng mọi giới tánh như người thân trong gia đình, giữ trọn giới hạnh đạo đức nhân từ (Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín) mới có được An Lạc, Hạnh Phúc.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 CẢM TƯỞNG ĐỜI SỐNG CƯ SĨ 】
Người tu sĩ tại gia tu học đời sống đạm bạc, đạo hạnh khiêm cung, từ bi bình đẳng cùng mọi giới tánh, giữ gìn “5 giới”, thực hành “10 thiện” trang nghiêm giới hạnh thanh tịnh, đời sống biết “thiểu dục tri túc”, phát Bồ Đề Tâm giữ trọn giới hạnh trang nghiêm tự tính, không sinh tâm vọng tưởng tham ái dục lạc, si mê theo "lục trần", không phan duyên bám víu vào các trần duyên ngoại cảnh, ô nhiễm theo "thất tình lục dục” tạo nghiệp trầm luân vào các cảnh khổ. Biết yểm ly sắc dục, hoàn thiện tự tính.
Sống trọn đạo hạnh nhân từ, giữ trọn tình đạo nghĩa “trung hiếu” tri ơn sinh dưỡng cha mẹ, bổn phận đạo làm con phải biết hiếu kính công ơn sinh thành dưỡng dục của “Cha Mẹ” và làm tròn bổn phận tỉnh nghĩa (vơ chồng) người tại gia tu học. Trang Nghiêm “giới hạnh thanh tịnh” tu học theo giáo lý Thánh Đế, thực hành “Bát Chánh Đạo” tịnh tu tam nghiệp, phát Bồ Đề Tâm “từ bi bình đẳng” dung hòa cùng mọi người, gieo nhân tích đức cho hiện tại và đời vị lai.
Phát tâm từ bi bình đẳng, tinh tấn tu tập giữ vững niềm tin giới hạnh đạo đức, tu tập “Chánh Niệm Tình Thứ”, thực hành (Thập Thiện) “tam nghiệp thuận hoà. lục căn thanh tịnh” nương theo tuệ giác tu tập chuyển hoá các Nghiệp thức “vọng tưởng vô minh” tham, sân, si mạn... thực hành "Bát Nhã Ba La Mật" khắc phục mọi chướng duyên chuyển hoá dục vọng tham ái, không tạo nghiệp Phan duyên trầm luân vào lục đạo. Thường giữ gìn giới hạnh Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín” hằng sống trong chánh niệm tỉnh thức dung hòa cùng mọi người.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
Càng vội càng chậm
Một thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ:
- Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư?
- Có lẽ 10 năm.
- Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu?
Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp:
- Trường hợp này có lẽ phải 30 năm.
Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng:
- Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất.
- Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm - Vị sư phụ mỉm cười.
Lời bình
Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công.
(sưu tầm)
-
【 CHÂN TÂM 】
“Chân tâm” là bản nhiên thanh tịnh chu biến pháp giới, bất sinh bất diệt, tuỳ duyên vô nhiễm. Chỉ vì vọng niệm bất giác sinh khởi chuyển thành “Vọng Tâm” như sóng với nước cùng một bản thể “Diệu Minh Chân Tánh”. Do tâm vọng động sinh khởi cái tâm thấy biết (ý căn) duyên theo bóng dáng sáu trần chấp thủ bị ái nhiễm thành vô minh muôn màu sai biệt trong giác thể”... Ví như: “quặng lẫn trong thau vàng” khi nào vàng được lọc sạch không còn quặng nữa. Khi ấy vàng sẽ được nguyên trở lại, thì Chân tâm tự hiện bày.
- Kinh Thủ Lăng Nghiêm: Phật dạy cội nguồn của Tâm là nơi xuất sanh và cũng là nơi trở về (sanh hay diệt tùy theo các nhân duyên tụ tán) của vô lượng sanh thể, sanh khí, sanh tướng của chúng sinh, bao gồm tất cả dạng loài chúng sinh trong ba cõi (Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới), trong sáu đường (Trời, Người, thần A Tu La, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục), và cả mười pháp giới (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và sáu đường nêu trên).
- Như thế, gán ép cho “Tâm” nói riêng và cho đạo Phật nói chung bất kỳ một danh hiệu nào, một nhãn hiệu nào… đều không chuẩn xác và xứng hợp hoàn toàn. Bởi vì Tâm là nơi cứu cánh và chính là nguồn sống cả thảy thiên sai vạn biệt của tất cả chúng sinh mà ở tận cùng nguồn sống ấy lại là “Giác Thể Thanh Tịnh” (Bình đẳng Chân Như Pháp Giới Tánh) chu biến pháp giới bản thể chung cùng bình đẳng nơi mỗi chúng sinh, tuỳ nghiệp duyên ứng dụng.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
Thiên đường địa ngục
Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi:
- Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không?
- Thế ngài là ai?
- Tôi là tướng quân.
Bất ngờ, thiền sư cười lớn:
- A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt.
Tướng quân nổi giận, rút gươm:
- Tao băm xác mi ra !!!
Thiền sư vẫn điềm tĩnh:
- Này là mở cửa địa ngục.
Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy:
- Xin... xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
- Này là mở cửa thiên đường - thiền sư Ekaku mỉm cười.
Lời bình
Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ!
Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.
(sưu tầm)
-
【 THIỀN TÂM VIÊN CHÁNH ĐỊNH 】
"Thiền Tâm" là Thiền cốt tủy của (pháp Thiền thành Phật) cho nên không nhất thiết phải chuyên ngồi thiền tập định. Nếu có phương tiện thì ngồi thiền cũng tốt; nếu không có phương tiện ngồi thiền cũng không sao; miễn là luôn luôn giữ "Tâm" Chánh Niệm Tỉnh thức để sống với "Chân tâm thường trụ” tự định, tự Thanh tịnh an lạc, tự sáng suốt chiếu soi thường Tỉnh giác là được rồi. Cứ như thế mà thực hành bền bỉ, không gián đoạn, miên mật lâu ngày thành thục, nhuẫn nhuyễn, khi thời cơ đến thì tự mình sẽ biết, sẽ thấy trở lại Chân tâm (Phật Tánh) bất sanh bất diệt, thường trụ, bình đẳng -- Ông Phật của chính mình .
- Kinh Kim Cang Phật dạy:
Đừng trụ chấp vào một nơi nào (Vô Trụ) tức là đưa vọng niệm vào chỗ "Vô Sanh" (Vô Niệm). Đó là phương pháp "hàng phục Vọng Tâm". Đây là phương pháp "Chỉ " của Phật thừa. "Phải buông xả, đừng dính mắc vào 6 Trần (tức là đừng chạy theo bám víu vào Trần cảnh bên ngoài; đừng đem Trần cảnh vào Tâm) để "An Trụ Chân tâm" của hàng Đại Bồ Tát. Đây là pháp "Quán" của Phật thừa.
Phật dạy: "Độ chúng sinh", hành bố thí là "hữu vi pháp", chẳng trụ pháp là "vô vi pháp". Hành như vậy là can thiệp vào hữu (vi) mà chẳng Trụ vào hữu (vi) { không dính mắc, chấp trước vào hữu vi } . Quán cái "Không" (Vô Vi) mà chẳng Trụ "Không" (Vô Vi) { không bám víu, đam mê vào cái "Không" }. Đây gọi là "chẳng Trụ (Vô Trụ) sanh tử; chẳng Trụ (Vô Trụ) Niết Bàn . Tôn Chỉ của "Vô Trụ" ở đây rốt ráo là Viên Mãn (tròn đầy),
- Kinh Duy Ma Cật dạy:
"Tâm" không Trụ (Vô Trụ) trong (không bám víu, đắm say vào cái không tịch tĩnh mà quên đi các việc khác để giúp đỡ chúng sinh), không Trụ ngoài (Tâm không chạy theo bám víu, dính mắc vào Trần cảnh phiền não bên ngoài). Đây là lý "Vô Trụ".
- kinh Đại Niết Bàn dạy:
"Vô Trụ" là Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội (chánh định). Tam Muội (chánh định) này; biết tất cả pháp mà không chấp trước (không trụ vào sự biết đó) nên gọi là Thủ Lăng Nghiêm.
(Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội tức là Phật Tánh)
* Đây là Chỗ Bồ Tát Đại Thế Chí thưa với Phật:
"Tôi nguyên không lựa chọn Căn nào riêng mà chỉ một lòng Nhớ (Niệm) Phật mà nhiếp hết 6 Căn như (căn) Mắt chẳng thủ Sắc (chẳng giữ, dính mắc, Trụ vào sắc tướng khi thấy); đó là "Mắt Niệm Phật". Khi Tai (căn) chẳng thủ Tiếng (chẳng chạy theo, chẳng trụ vào âm thanh, tiếng động) thì là "Tai Niệm Phật" cho đến ý (căn) chẳng duyên nơi các Pháp (không trụ, không dính mắc, không chạy theo pháp); đó là "ý Niệm Phật". - Do 6 Căn nhiếp hết như vậy (tức là 6 Căn không Trụ vào đâu cả nên được vô trụ) Nên gọi là "một niệm thanh tịnh" (được vô niệm) cứ nối tiếp nhau luôn luôn nên Tôi được Chánh Định thứ nhất.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
Điều hoàn mỹ nhất:
Ngày xưa, có một vị đại sư muốn chọn một đệ tử làm người nối dõi.
Một hôm, ông bảo hai đệ tử rằng: "Các con hãy ra ngoài và chọn về đây cho ta một chiếc lá đẹp nhất, hoàn mỹ nhất."
Hai đệ tử vâng lời thầy đi tìm lá.
Thoáng chốc, người anh quay về và trình cho đại sư một chiếc lá không được đẹp lắm:
"Thưa thầy, tuy chiếc lá này không phải là hoàn mỹ nhất nhưng nó là chiếc lá hoàn mỹ nhất mà con thấy".
Người em đi cả ngày trời và quay về với hai bàn tay trắng, người em nói với vị đại sư:
"Thưa thầy, con đã tìm và thấy rất nhiều lá đẹp, nhưng con không thể nào chọn được chiếc lá hoàn mỹ nhất."
Cuối cùng, vị đại sư đã chọn người anh.
"Tìm một chiếc lá hoàn mỹ nhất", chúng ta vẫn cứ luôn nghĩ đến việc "hoàn mỹ nhất" nhưng nếu bạn cứ một mực đi tìm mà không nhìn vào thực tế, không so sánh với thực tế thì bạn cứ phải vất vả để rồi… trắng tay. Cho đến một ngày nào đó, bạn mới phát hiện rằng: Chỉ vì mãi đi tìm một chiếc lá hoàn mỹ nhất mà bạn đã bỏ qua biết bao cơ hội lớn một cách đáng tiếc!
Hơn nữa, thứ hoàn mỹ nhất của con người cuối cùng có được bao nhiêu?
Trên đời này đã xảy ra không ít chuyện đáng tiếc, đó cũng do một số người xa rời thực tế đi tìm "chiếc lá hoàn mỹ nhất", coi thường cuộc sống đạm bạc. Nhưng chính trong cuộc sống đạm bạc, vô vị đó mới chất chứa những điều kỳ diệu và to lớn.
Điều quan trọng là thái độ của bạn như thế nào khi đối diện với nó. Trong cuộc sống chúng ta, không nhất thiết cứ phải theo đuổi những thứ hoàn mỹ mà chỉ cần bình tâm lại, từng bước từng bước tìm thấy chiếc lá mà bạn cho rằng là hoàn mỹ nhất...
(Nguyễn Khoa Điềm gửi)
-
【 ĐỐN NGỘ TIỆM TU 2】
Pháp tuy có đốn ngộ
Nghiệp cần phải tiệm tu
Đừng chấp lầm nhân quả
Thức và trí không hai
Giáo lý tại nhãn tiền
Chư pháp bất khứ lai
Tuỳ nghiệp duyên cảm ứng
Đến đi vô chướng ngại
Chư pháp vốn vô sanh
Hà cố lai chấp thủ
Ngã bổn bất khứ lai
Dĩ nhật nguyệt thường chiếu.
Pháp bổn vô sanh diệt
Tự tâm sanh ái nhiễm
Thấy biết thường hằng hữu
Quy nguồn tâm chân như
Pháp tánh tự thanh tịnh
Bất khứ nhi bất lai.
Bản thể vô sanh diệt
Ưng tác như thị quán.
Tự tính năng lưu xuất
Quy nguồn tâm bình lặng
Xuân đến hoa tự nở
Bồ đề diệu tâm khai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
TU KHỔ HẠNH
1. VỮNG LÒNG TIN, TU KHỔ HẠNH
– Nhân sinh có bát Khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Cầu bất đắc (khổ do mong cầu mà không được toại ý), Ái biệt ly (khổ vì phải xa lìa người mình yêu thương), Oán tằng hội (khổ vì phải gần gũi người mình oán ghét), và Ngũ-ấm xí thạnh (khổ do bị tấm thân Ngũ-ấm này khống chế).
Nếu bạn có nguyện lực tu Khổ-hạnh thì sau này sẽ có chút thần thông, sẽ biết được chuyện này chuyện nọ. Lúc ấy, tự mình cảm biết, tự mình làm chủ.
– Nếu ai ai cũng có nguyện tu Khổ-hạnh, thì ai ai cũng có thể thành Phật, có thể được vãng sanh Tây Phương, được hóa sanh từ hoa sen. Các vị xuất gia thì tấm cà-sa chính là y áo Tây Phương đấy.
– Cơm của kẻ xuất gia phải đạm bạc; coi đây chính là một Khổ-hạnh.
– Tu hành cần phải chịu cực khổ. Càng chịu cực khổ thì càng có điều tâm đắc.
2. LÀM SAO TU KHỔ HẠNH
– Thế nào là tu Khổ-hạnh? Tức là không so đo, tính toán mọi sự. Ðối với chuyện hằng ngày, chớ khởi tâm phân biệt.
– Tu Khổ-hạnh tức là rửa sạch đầu óc, thay đổi chủng tử.
– Khổ-hạnh không phải là việc giản dị, vì tu Khổ-hạnh là tu tâm.
– Khổ-hạnh không phải là việc đơn giản, là cứ làm “bừa.” Làm “bừa” không phải là biện pháp đúng. Nếu làm “bừa” thì dù có đến hết kiếp, rồi đầu thai trở lại cũng chẳng tới đâu!
– Việc làm Khổ-hạnh không có nghĩa là làm cho nhiều.
– Làm việc Khổ-hạnh là để rèn luyện đầu óc suy nghĩ của bạn; phải thong thả; không được quá gấp gáp, hấp tấp; lâu ngày thì sẽ quen tay; khi ấy, bạn có thể khai trí huệ. Bấy giờ, công việc cần làm ra sao, bạn chỉ cần nhìn qua là tự nhiên biết ngay; không cần phải bóp trán, suy đi nghĩ lại mới biết.
– Muốn tu Khổ-hạnh, cần phải rèn luyện xem mình có khả năng xả bỏ thân này hay chăng.
Thân này là giả tạm, nhất định sẽ bị hủy hoại; dù muốn cứu vãn cũng không có cách gì khôi phục.
“Xả bỏ thân này” là thế nào? Tức là ăn cơm đạm, mặc áo thô, đắp ba lớp cà-sa; chẳng kể gì đến ăn ngon, mặc đẹp!
– Tôi dạy các bạn dựa vào Pháp-môn NIỆM PHẬT mà tu.
Xưa, tôi ở trên núi tu hành thì chỉ tùy duyên. Hễ thức gì mọi chúng sanh ăn được thì loài người cũng có thể ăn được; đó gọi là đồ cúng dường tự nhiên của trời đất. Nếu quá đói mà bạn cứ bướng bỉnh nhẫn chịu, thì thân thể sẽ hư hoại. Tu hành thì cần phải dụng tâm; không nên tu luyện những thứ cực đoan như không ăn uống như vậy.
– Tôi tu đến ngày nay, lòng cảm thấy rằng nếu vạn nhất, chẳng may mà tu trật tu sai, thì thật nguy hiểm. Duy có môn NIỆM PHẬT là tốt nhất.
– Thế nào là “mặc áo thô, ăn cơm đạm”?
Không phải là chẳng ăn cơm đâu! Mà là ăn để no, chứ chẳng phải ăn cho ngon; mặc đủ ấm đủ che thân, chứ chẳng phải mặc cho đẹp. Ngủ vừa để có đủ tinh thần là tốt rồi; chớ ham ngủ. Ngủ nhiều rất dễ bị hôn trầm, dật dờ, nặng nề.
Nếu bạn bày đặt không ăn cơm, nhịn đói, thì sẽ khiến thân thể suy nhược, rồi khó an tâm tu đặng. Vậy là uổng phí cho bạn tới đây tu hành.
Tôi xưa kia đã từng làm qua việc ấy (nhịn đói); nay già rồi mới biết là sai lầm.
– Rèn luyện ngủ ngồi là việc đòi hỏi thiện căn; nó không giản dị đâu. Ðừng nói tới phương pháp, cách thức luyện tập nó, làm sao đối trị, v.v… Nói ra, các bạn thêm chấp trước.
– Ðây là việc mà kẻ có thiện căn có lòng muốn tu. Khi thực hành, hễ có chánh niệm thì tự nhiên sẽ thành công. Tuy nhiên, nếu lầm đường trật bước, thì “thân người mất đi, khó phục hồi”! Ðã có rất nhiều người lầm lẫn rồi đấy!
–Các bạn không nên tham lam, đắm trước vào mọi thứ (ăn, mặc, ở); chỉ cần có thể sống qua ngày là tốt rồi. Ðừng nói rằng có thức ăn nhiều, rồi cắm đầu cắm cổ ăn, tự làm nô lệ cho cái miệng. Tuy nhiên, cũng không được ăn quá ít, để bụng đói lả. Bạn phải lượng bụng mình mà ăn, ăn đủ vừa no là tốt rồi. Chớ phân biệt đồ ngon, đồ dở!
Hiện tại, thực phẩm đều có chất hóa học, hoặc đã bị nhiễm hóa chất, thuốc sát trùng… Khi thức ăn thật sự là không thể ăn được, hoặc là hư hoại rồi, thì chớ ăn. Cứ ăn bừa, ăn cho nhiều vào, thì có thể chết đấy!
(lược trích Cẩm Nang Tu Đạo - Hòa Thượng Quảng Khâm)
-
NGUỒN SỐNG AN LẠC HẠNH PHÚC
- Hạnh Phúc An Lạc trong đời sống, không phải tự nhiên mà đến, mọi sự “an lạc hạnh phúc” trong gia đình, cần phải biết giữ gìn các giới hạnh thanh tịnh, trang nghiêm thân tâm, tu học đạo hạnh “Trí Tuệ” (nhân từ đạo đức) không vọng tưởng tham ái dục lạc danh lợi, cần biết sửa đổi những hành vi sai lầm bất thiện của mình, phát “Bồ Đề Tâm” thực hành “10 thiện nghiệp” chuyển hoá vô minh phiền não.
- Người không có trí tuệ, không có tri thức, dễ bị lầm đường lạc lối, tạo nghiệp bất thiện, dễ rơi vào dục vọng si mê tà kiến. Trí tuệ là nền thiết yếu để xây dựng một sự nghiệp an lạc hạnh phúc trong đời sống. Người có trí tuệ đối với vạn vật đều khoan dung, có tâm từ bi không bám chấp vào mọi cảnh giới... Chỉ hướng vào nội tâm an định sáng suốt, biết tỉnh thức và giác ngộ mới có được an lạc hạnh phúc chân thật.
“An Lạc Hạnh Phúc” cần phải có một tâm thức tĩnh lặng “thường hỉ lạc“ mọi sự bình lặng trong nội tâm rất quan trọng cho đời sống an định trong Chánh Niệm tỉnh thức. Vậy làm thế nào để có được một tâm thức an định tĩnh lặng?…Muốn có được một tâm thức an định tĩnh lặng; cần phải có trí tuệ sáng suốt, thấy biết mọi sự việc đúng với Chân Lý trong đời sống bình đẳng; biết kính trọng mọi giới tánh như người thân trong gia đình. Cần biết “thiểu dục tri túc” giữ trọn giới hạnh đạo đức "Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín" đời sống mới có an lạc hạnh phúc.
- Hạnh phúc không phải từ đâu mà có, khi mình cảm nhận được từng bước chân an lạc trong đời sống “nội tâm có hỉ lạc” thì bất luận ở nơi đâu đều viên dung bình đẳng; không phân biệt chủng tộc màu da (giàu hay nghèo) đều khoan dung từ ái... Biết tuỳ duyên tôn trọng yêu thương lẫn nhau trong mọi sư chân tình; “nhất là tình yêu thương vợ chồng cần phải hy sinh cho nhau cả cuộc đời của mình” thì tình yêu thương mới được chân, thiện, mỹ.
NAM MÔ AN LẠC HẠNH BỒ TÁT
(sưu tầm)
-
【 CẢM NIỆM CÔNG ƠN CHA MẸ 】
* Bổn phận người làm con “Khi cha mẹ mình lúc còn sống” cần phải biết kính mến Cha Mẹ cùng Ông Bà và thương yêu mọi người thân trong gia đình. Nên giữ trọn đạo nghĩa bổn phận người làm con. Cần phải biết tạo điều kiện trong những ngày lễ lộc đem niềm vui cho cha mẹ.
- Khi Cha Mẹ lúc già yếu hay ốm đau, bổn phận làm con nên biết quan tâm thưa hỏi tận tình, cần phải biết chăm sóc phụng dưỡng cho Cha-Mẹ bằng những món ăn tinh thần; đừng nên làm cho cha mẹ giận hờn oán trách tạo thêm nghiệp bất thiện cho cha mẹ trước khi vắng bóng lìa đời.
- Nếu bạn đủ Phước duyên được gặp mặt cha mẹ lần cuối trước ngày lâm chung; bạn nên biết dùng lời vấn an, kính mến và giải thích những điều có thiện cảm với cha mẹ để giác ngộ biết buông bỏ mọi sự oán hận, uất ức hay giận hờn còn chấp trước điều gì... nên khoan dung tha thứ cho mọi người chính là tha thứ cho mình.
- Đời sống làm người không ai tránh khỏi luật tạo hoá của “Sanh, Lão, Bệnh, Tử” sinh diệt trong quy luật Nhân-Quả của sự “sống-chết” biến đổi vô thường. Không ai tránh khỏi trong đời sống Nhân sinh; đến tuổi về già rồi cũng phải từ bỏ thân này và tất cả những tài sản thế gian không thể mang theo được gì đi cả.
- Chỉ có cái “Nghiệp Thức” của mình “như bóng theo hình” tích tụ trong tạng thức (A Lại Da Thức) mang theo các việc "thiện hay ác" trong ký ức hiện hành của "Tâm Thức", khi cận tử nghiệp của mình đến như bóng theo hình không ngoài “Nghiệp Thức - Nhân Quả” mang theo nghiệp tái sanh vào đời vị lai theo các Nghiệp Duyên của mình.
* Phật tử tu học; nên biết khuyên Cha-Mẹ phát tâm “Niệm Phật” mở rộng lòng từ bi (Từ Bi Hỉ xã) khoan dung và tha thứ biết buông bỏ tất cả oán hận, uất ức mọi sự việc thế gian... quy về với tự tính thanh tịnh, an tâm NIỆM PHẬT đến lúc ra đi theo thiện nghiệp “Niệm Phật” (A DI ĐÀ PHẬT) để được tái sinh vào nơi cảnh giới an lạc.
Đó là Phước lành của người tu học biết trả ơn cho Cha Mẹ, làm tròn bổn phận của người con “hiếu đạo” mới là công đức cúng dường chư Phật (không nên mê tín theo tập quán mê tín) đến lúc Cha Mẹ lìa đời mới bày dựng cúng kính lễ nghi trang nghiêm bằng các thứ đồ vật quý giá giấy tiền vàng mã nhà to..v.v... chỉ vì danh lợi theo tập quán thế gian, không có lợi lạc gì cho đời sống nhân sinh. Nên khuyến tấn cho Cha Mẹ biết thành tâm niệm Phật quay về với tự tính thanh tịnh của mình, đến khi lâm chung sẽ được tái sinh theo Thiện Nghiệp vào cảnh giới an lạc tịnh độ.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)