-
hi hi hi Cậu vẫn khỏe chứ ? hi hi
-
Dạ cám ơn, rh05 vẫn khỏe ạ! Hiii
-
QUẢNG KẾT THIỆN DUYÊN
Đời sống tu học của người Phật tử, trong cuộc sống nhân sinh điều quý giá nhất chính là sự “Quảng Kết Thiện Duyên”, tự mình biết gieo nhân thiện hành cho cuộc sống của chính mình. Nên việc kết thiện duyên rất quan trọng để kết nối việc thiện cảm và gieo duyên Phước lành cùng mọi người. Vậy làm thế nào để chúng ta cùng kết một Thiện Duyên có ý nghĩa ?… đối với cái nhìn của người có tâm từ bi, luôn khoan dung và độ lượng; biết tha thứ người khác chính là tha thứ cho chính mình.
Trong cuộc sống Nhơn Sinh chúng ta có duyên mới gặp nhau trong tình thân bằng quyến thuộc hoặc tình đạo hữu; dù là thiện duyên hay là nghịch duyên cũng không ngoài “Nhân Quả” của đời trước chúng ta đã từng (vay+trả) gieo duyên kết nối oan trái (thuận hay nghịch) nhiều đời; đều do sự vô minh tham ái, ích kỷ lợi danh che khuất “Bổn Tánh Diệu Mình” của chính mình. Khi các duyên hội đủ chúng sẽ đến với cái Quả mà mình đã từng gieo trong các Nhân “Thiện hay Ác” của quá khứ hoặc hiện tại.
Duyên lành cho người có thiện duyên gặp được giáo lý Phật và quý Thầy cùng các bạn đồng tu (Thiện Hữu Tri Thức) đã từng giúp đỡ trên con đường tu học đạo và đời; mới có được một đời sống an vui hạnh phúc; mới hoàn thiện được cuộc sống an cư lạc nghiệp.
Muốn tránh xa được các việc bất thiện (Chư Ác Mạc Tác - Chúng Thiện Phụng Hành) nên cần phải biết tìm cho mình một minh sư để dẫn dắt cho đời sống mình, biết đi theo Chánh Pháp, giúp mình tìm ra chân lý để tu tập hoàn thiện được đời sống con người. Chính là “quảng kết thiện duyên” mới có một đời sống an lạc hiện tại và vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 ĐẠO ĐỨC TRONG ĐỜI SỐNG 】
“Quan Niệm Đời Sống Thế Gian” có người cho rằng; mỗi người sinh ra trong đời này đều mang một số mạng riêng của mình (giàu hay nghèo do trời định, số phận con người sinh ra mang nhiều biến dạng khác nhau… người có trí tuệ, người thì ngu si, bệnh tật yểu mạng hay thọ mạng sống lâu..v.v…) vậy thứ hỏi ông trời hay thượng đế có công bằng chăng ?!…
“Quan Niệm Đời Sống Đạo Phật” mỗi người chúng ta sinh ra đều mang một cái Nghiệp (số phận) khác nhau… là do “Nhân Quả” nghiệp duyên bất đồng… tất cả mọi sự nghiệp thế gian (giàu nghèo, bệnh tật, yểu mạng hoặc tứ chi đầy đủ cường tráng sống lâu, trí tuệ minh mẫn, phước đức tràn đầy…) đều do Nhân Quả của chính mình mà ra.
“Đạo Đức Trong Đời Sống” chính là căn bản đời sống của con người biết gieo “Nhân” thiện duyên trong hằng ngày tích tụ các Thiện Nghiệp cho đời sống hiện tại và vị lai… để có được một “Quả Lành” trong kiếp người sinh ra thân tướng được trang nghiêm, tứ chi đầy đủ, trí tuệ minh mẫn, phước đức tuệ mạng lâu dài… sinh ra đời đời gặp được Phật pháp.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 TÂM CẢNH VIÊN DUNG 】
Hành giả tu hành Phật thừa; hằng sống trong Chánh Niệm Tỉnh Thức “6 căn” không phan duyên ô nhiễm theo ngoại cảnh "6 trần" thì “6 căn và 6 thức” tự nhiên thanh tịnh. Không cần chuyển hóa các pháp tạo tác gì cả; biết buông bỏ ngã chấp và pháp chấp làm dao động, mê mờ, che lấp "Chơn Tâm" (Phật Tánh) của chính mình mà thôi. Tu là để trở về sống với bản thể chơn tâm tự tánh của chính mình, tự thanh tịnh an lạc, tự sáng suốt chiếu soi (tự an định, an nhiên thanh tịnh) tuỳ duyên bất biến, tuỳ duyên vô nhiễm.
Tổ Đạo Tín dạy: 6 Căn không duyên theo (không chạy theo, không trụ vào các hình danh sắc tướng...) 6 Trần thì Trần Cảnh tự nhiên vắng lặng (trong tâm). Nếu Tâm ta không chấp vào mọi việc Thiện, Ác (không bám víu, không thụ, không dính mắc, không trụ... ...) cũng không bỏ (không diệt trừ) thì trọn ngày đối cảnh mà Cảnh vẫn lặng (tức là cảnh không chi phối được tâm ta) nên cũng chẳng cần diệt trừ hết muôn vật mới có vắng lặng. Tức là mình không mê mờ (không quên) Chơn Tánh (tánh không) thì tâm cảnh kia tự nhiên vắng lặng thanh tịnh.
Tổ Huệ Năng dạy: Gốc Tánh mình vốn sẵn có Tự Định, tự Tịnh nhưng vì (Mắt) thấy Cảnh (rồi Tâm chạy theo cảnh, đem cảnh vào Tâm) tưởng cảnh (Nhớ cảnh, dính mắc vào cảnh, chấp cảnh là thật) nên Tâm mới bị rối loạn (dao động). Nếu thấy cảnh (động tịnh, thuận nghịch) mà Tâm chẳng dao động, rối loạn (Tâm bất động, vẫn an định) thì mới thật là "Chơn Định" .
Tu Hành; chính là tịnh hoá “tam nghiệp thuần hòa - giữ gìn các giới hạnh thanh tịnh” (lục căn bất nhiễm lục trần) chuyển hoá nghiệp hoặc vô minh tích tụ nhiều đời làm ô nhiễm (tâm thức) tham, sân, si, mạn....tà kiến triền phược “thân tâm” tạo nghiệp thọ quả sinh tử luân hồi...(12 Nhân Duyên).. Hành giả khi giác ngộ các pháp duyên sinh huyễn hợp (biết huyễn lìa huyễn) là giải thoát... "Tu chính là chuyển hóa cái tâm sinh diệt - Quy về với tâm bất sinh-bất diệt"... Không nên lầm chấp vào các pháp huyễn hoặc làm chướng ngại Đạo Hạnh tiến hoá đời sống tự lợi, lợi tha; tuỳ nghiệp duyên cảm ứng của mình tu học nối tiếp “tuệ căn” vào đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(Sưu tầm)
-
BẢY ĐIỀU GIỚI HẠNH TẠI GIA TU HỌC
1- Phật tử khi đã “Quy y Tam Bảo” cần phải giữ trọn 5 giới (Thập Thiện) không làm các điều ác (tam nghiệp thuận hòa - lục căn thanh tịnh) phát “Bồ Đề Tâm” cần làm các điều thiện. Người Phật tử tu học hằng sống trong Chánh Niệm.
2- Tu học trong đời sống không ngoài “Nhân Quả” hằng sống trong chánh niệm tỉnh thức (nội tâm hỉ lạc) cần tịnh hoá được (3 nghiệp) thân khẩu ý vọng tưởng phiền não "nghiệp hoặc vô minh" (Tam Nghiệp hằng Thanh Tịnh) đời sống người tu mới có an lạc tự tại giải thoát.
3- Bạn tu (3 nghiệp) thân khẩu ý chưa thanh tịnh? "6 căn, 6 thức" còn đắm nhiễm "6 trần" liễu có giải thoát được về Cực Lạc không ?... tu "Thiền-Tịnh-Mật" cũng phải giữ Năm giới (Thập Thiện) không cho "6 căn" ô nhiễm duyên theo "6 trần" thì "6 thức" mới được Thanh Tịnh.
4- Cần xa lìa mọi sự tham ái danh lợi, buông bỏ mọi sự chấp trước vi ký dục lạc; đừng than số phận hận đời “vì gieo nhân thất đức” nên nghiệp mình cưu mang. Tội kia sám hối chưa tròn, duyên trần nay trả nghiệp mình đã vay.
5- Bổn phận làm Cha Mẹ nên gieo Phước lành để lại “Nhân Từ, Đạo Đức, trí Tuệ” cho con và chính mình. Không phải vàng bạc ngọc châu báu; là Đạo Đức làm Người Chánh trực Chơn Thiện Mỹ.
6- Dù bạn có học rộng THIÊN KINH VẠN QUYỂN cũng phải bắt đầu tu từ (THÂN KHẨU Ý) chuyển hoá được (3 Nghiệp) tất cả “Vô Minh Phiền Não” tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thụ kiến, giới cấm thủ kiến... tà kiến (thập triền) mới là người tu Chơn Chánh.
7- Người học Phật cần phải giữ trọn giới hạnh tu tập Tuệ Quán (quán xét lỗi mình - đừng xét lỗi người) lời nói có Lễ Nghĩa Nhân Từ, Đức Hạnh Khiêm Cung; có Lợi Lạc cùng mọi người và giữ “Nhân, Nghĩa, Lễ, trí, tín” làm tròn bổn phận đạo hiếu của người Phật Tử tại gia tu học giữ gìn chánh hạnh.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
12 ĐIỀU AN LẠC TRONG ĐỜI SỐNG
1. Biết xa lìa mọi tham ái, dục vọng, sân hận, si mê, ngã mạn triền phược gây nên vọng tưởng vô minh phiền não khổ đau. - là Phước Lành Cao Thượng Nhất dẫn đến An Vui và Hạnh Phúc trong đời sống.
2. Không kết giao với người ác, cần phải biết thân cận với bậc hiền trí, và tôn kính bậc sư đáng kính.
3. Tự chọn cho mình ở nơi thích nghi, đã có tạo công đức trong quá khứ, và tâm Chánh Niệm hướng về Chánh Đạo.
4. Học nhiều hiểu rộng, lão luyện tinh thông thủ công nghiệp, giới hạnh thuần thục trang nghiêm, có lời nói Lễ Nghĩa, Nhân Từ Đạo Đức.
5. Hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ, thương yêu tiếp độ vợ con đời sống an lạc, hành nghề Chánh hạnh.
6. Rộng lượng bố thí, tâm tánh trực giác, giúp đỡ họ hàng, và tạo nghiệp chân chánh.
7. Loại trừ và ngăn ngừa các nghiệp ác, biết thận trọng xa lìa các chất say mê, vững vàng giữ gìn phẩm hạnh đạo đức.
8. Đức hạnh biết tôn kính, khiêm tốn, biết sống thiểu dục tri túc, biết ơn đúng lúc và lắng nghe Giáo Pháp Phật.
9. Nhẫn nhục, biết vâng lời, thường gặp gỡ quý vị Thiện Tri Thức, bậc Sa Môn và tùy thời luận đàm về Giáo Pháp.
10. Tự kiểm soát mình, biết sống đời Thánh Thiện Nhân Từ, quán tri Tứ Thánh Đế, Chánh Niệm Tỉnh Thức, liễu ngộ Niết Bàn.
11. Người biết tu tâm không bám chấp phan duyên dao động khi tiếp xúc với thế gian pháp, Không Ưu Sầu Phiền Muộn, Vô Nhiễm và An Định.
12. Đối với ai đã thực hành viên mãn hoàn thiện các pháp trên, biết tuỳ duyên thuận pháp, xứng tánh tu tập không thất bại, đi khắp mọi nơi đều được Viên Dung Tự Tại, An Lạc và Hạnh Phúc.
Đó là Phước Lành An Lạc Hạnh Phúc Cao Thượng Nhất Của Đời Sống Nhơn Sinh.
Người Phật Tử Tu Học biết tuân theo 12 điều trên. Thực hành đúng lời Phật dạy... đời sống mới có an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ DI LẠC TÔN PHẬT
(sưu tầm)
-
ƯNG VÔ SỞ TRỤ - NHI SANH KỲ TÂM
Kinh Kim Cang: Nhất Thiết Hữu Vi Pháp, Như Mộng, Huyễn, Bào, Ảnh, Như Lộ Diệc Như Điện, Ưng Tác Như Thị Quán…
..."Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm" là không sanh Tâm Phan duyên bám víu vào các hình, danh, sắc, tướng và các Pháp...(Nhị Ngyên) KHÔNG chấp trước như: Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, Mũi ngửi mùi, Lưỡi nếm vị, thân xúc trạm, ý sanh Tâm Phân biệt.
Kinh Kim cang nói: Nhứt thiết hữu vi pháp như mộng, như huyện, như bào, như ảnh, như lộ diệc như điện.... tất cả đều do duyên sinh hòa hợp mà thành; không nên chấp trước Trụ nơi âm thanh sắc tướng sanh Tâm...
("Ưng Vô Sở Trụ" là Tâm không có bám víu, chấp trước, trụ vào nơi các pháp thiện ác; và các hình tướng sai biệt; vui buồn, giận ghét, có không, được mất, danh lợi. Không sanh Tâm hiếu kỳ, ích kỷ tị hiềm tham đắm vào các cảnh giới dục lạc,; sanh tâm si mê; được toại ý thì vui; không toại ý thì buồn; giận hờn oán trách; dẫn đến sự tà kiến tạo nghiệp thọ quả).
"Ưng Vô Sở Trụ" nghĩa là không trụ vào tất cả các Pháp tướng; thì Chơn tâm mới hiển lộ. Vì tất cả các pháp chuyển động, vạn vật biến đổi vô thường không ngừng trong vũ trụ. Cũng như tâm thức chúng ta niệm niệm không ngừng trong "Ngũ uẫn" hay là ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều do cả thảy duyên hợp thành... không có thật thể. Nên xa lìa không chấp thụ gọi là "vô sở trụ".
Kinh kim cang nói :
Nhược Dĩ Sắc Kiến Ngã
Dĩ Âm Thanh Cầu Ngã
Thị Nhơn Hành Tà Đạo
Bất Năng Kiến Như Lai.
Hành giả nếu giác ngộ được những nguyên lý duyên sinh như huyễn. xa lìa "tứ tướng" không bám víu trụ vào bất cứ một pháp nào cả thì Chơn Tâm mới tự hiện.
- "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" là tông chỉ của kinh Kim Cang, và hiểu được câu này là ta đã biết cách trụ tâm và hàng phục tâm. Phật dạy muốn trụ tâm và hàng phục tâm, hành giả không nên trụ chấp vào bất cứ ở một pháp tướng nào dù đó là Phật hay quả vị chánh giác. Hành giả trực nhận chơn tâm bằng tâm "vô trụ", như tâm vô trụ của các vị Thiền sư "đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền"....
..."Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" không chỉ là yếu chỉ tu hành chuyển hoá nghiệp thức "tam độc" chấp trước vào 4 tướng còn bị "sở tri chướng" làm chướng ngại thân tâm, giúp cho thường sống trong Tỉnh giác xã ly tham dục phan duyên theo ngoại cảnh...
... Hành giả biết tự tin nơi mình, làm chủ được bản thân, không chấp trước bám víu ô nhiễm theo bất cứ hoàn cảnh nào. Biết quay về sống với Phật Tri Kiến (bổn giác diệu minh) an trụ nơi Chơn Tâm, thường hằng tỉnh giác ứng hoá như nhiên, tuỳ duyên vô nhiễm an nhiên tự tại.
__ Tóm lại "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" là biểu thị các tính chất vô sở trụ không thể tưởng tượng nổi của tâm giác ngộ. Đó là tâm như hư không vô sở hữu, nhưng đó lại là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, nó biểu thị rằng không gian, thời gian và số lượng đều là ảo hóa, đều là không có thật. Trong tâm giác ngộ đó thì không có chỗ trụ, không chấp có, không chấp không, cũng chẳng phải không có, chẳng phải không. Tóm lại là không để lọt vào tứ cú. Tình trạng đó không thể dùng ngôn ngữ và lời nói để diễn tả được, mà phải chứng nghiệm, thiền Ấn Độ gọi là nhập niết bàn, hay chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác; các tổ thiền sư quy về với “bản lai diện mục” và thiền Trung Hoa gọi là kiến tánh thành Phật.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
HỌC PHẬT ĐỂ GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT
- Học Phật là để giác ngộ (thấy-biết) hiểu rỏ Nghiệp-Duyên và Nhân-Quả trong vũ trụ vạn hữu và giử trọn “5 giới hạnh” tu tập (10 thiện nghiệp) phát Bồ Đề Tâm tự độ và độ tha, giác hạnh mới viên mãn. Tu học đạo hạnh “giác ngộ giải thoát” không phải để tìm cầu cảnh giới lạc thú nơi an tịnh vắng lặng trong cảnh giới Phật hay cực lạc tịnh độ riêng mình.
- Học Phật để biết nương theo chơn lý thánh đế (Tứ Diệu Đế) giữ gìn các giới hạnh, trang nghiêm thân tâm, tu tập “tam nghiệp thuận hoà - lục căn thanh tịnh” tăng trưởng tuệ căn... để chuyển hoá các Nghiệp Thức vô minh phiền não (tam độc) tham, sân, si, mạn... tà kiến triền phược theo tập quán mê tín nhiều đời; để được an lạc trong đời sống hiện tại và vị lai.
- Học Phật để hoàn thiện “Tự Tánh Diệu Minh” của mình, để báo ơn Cha Mẹ nhiều đời và 10 phương chư Phật, Bồ Tát và các vị thánh hiền đem ánh sáng chơn lý đến khắp mọi nơi cho tất cả pháp giới chúng sanh. Biết nương theo tu tập giử tròn giới hạnh bổn phận của người Phật tử tu học theo đạo hạnh bồ Tát tự độ và độ tha, nguyện cùng pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo.
CHƯ ÁC MẠC TÁC
CHÚNG THIỆN PHỤNG HÀNH
TỰ TỊNH KỲ Ý
THỊ CHƯ PHẬT GIÁO.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 NHƯ LAI THANH TỊNH THIỀN 】
Phật dạy: Nên biết rỏ: “Thiền pháp” là yếu chỉ tu tập dẫn đến con đường “giác ngộ giải thoát” hợp với "lý Bát Nhã Trung đạo" còn gọi là Nhất thừa thiền, Phật thừa thiền, Như Lai Thanh tịnh thiền, hay "Tối thượng thừa thiền" nên không chấp trụ vào một thân tướng thiền nào Cố định hay đặc biệt nào cả; chỉ xem các tướng thiền ngồi, đi..vv... các pháp thiền là phương tiện trong một giai đoạn nhất định nào đó theo căn cơ, thói quen, sở thích và chọn lửa của người tu mà thôi.
"Thiền Tâm" cốt ý là luôn luôn Tĩnh thức giữ Tâm vắng lặng, Thanh Tịnh an Lạc trong mọi hoàn cảnh thuận nghịch, vui buồn, éo le, trớ trêu trong cuộc sống thực tế hằng ngày tức là không lúc nào quyên sống với Chơn Tâm vốn tự định, tự Thanh Tịnh sáng suốt thường trụ bản nhiên. - Phật Pháp không rời xa nhơn thế. "Thiền Tâm" không ngã mạn không tị hiềm (không sợ, không ngán) không rời xa thế sự.. viên dung tự tại tuỳ duyên vô nhiễm.
Hành giả Tu theo "Thiền Tâm" của Phật không câu nệ, không bị lệ thuộc vào một thân tướng Thiền nào nhất định cả như ngồi đi..vv..., không bị ràng buộc vào một hoàn cảnh đặc biệt nào cả như có học cao, giàu sang, mạnh khỏe, xuất gia, cảnh vắng..vv... vẫn sinh hoạt bình thường như mọi người nhưng họ biết cách Tâp luyện làm sao (như thế nào) để cho những sinh hoạt tầm thường đó có thể làm trống tâm họ không bị dính mắc, lôi cuốn và bị trói buộc bám víu vào những trần cảnh vui buồn, yêu ghét, tham, sân, si, mạn... tà kiến triền phược vào các hình, danh, sắc, tướng thuận nghịch; nên dể bị vướng mắc "trụ Tâm thức sanh diệt" vào một chỗ để có định theo thân tướng cố định lầm chấp sai biệt, do chưa được nghe, hiểu, đọc nghiên cứu về Pháp Môn "Thiền Tâm" của tâm pháp Bát Nhã Trung Đạo.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
TƯỞNG NIỆM ĐỨC PHẬT NHẬT NIẾT BÀN - VÔ NGÃ TRONG ĐẠO PHẬT
"Vô Ngã" là mục tiêu cứu cánh của đạo Phật dẫn đến con đường Trung Đạo hầu mong giúp cho chúng sinh vượt khỏi những trạng thái Tâm Thức hữu hạn, đi đến vô hạn “Niết Bàn” mặc dù là Đức Phật đã dọn sẳn con đường “giác ngộ giải thoát” lý tưởng ấy nhưng không phải ai cũng đủ thắng Phước, phá vỡ được mọi lớp vô minh nghiệp hoặc sinh diệt, để đi đến đích cuối cùng là "Vô Ngã" vị tha. Hầu hết phàm phu chúng ta đều chấp ngã rất sâu nặng, bị kẹt vào Ngã sở và Ngã ái.
Vô Ngã là gì ?... Vô là không, Ngã là cái Tôi, "Bản ngã hay Tự Ngã" như vậy “Vô Ngã” là không có cái (Tôi ) thực thể cố định ở trong mỗi con người. Thân thể con người là do duyên hợp của hai thành phần là: sắc thân (vật chất) và tâm linh (tinh thần). Sắc thân do Tứ Đại (đất nước gió lửa) hợp thành. Còn Tâm thì do các yếu tố "Thọ, Tưởng, Hành, Thức" chấp thủ. Đức Phật dạy: Cái gì do nhiều Duyên hợp thành thì không có thực thể của cái Ngã, chỉ là duyên sinh huyễn hợp.
“Ngã” (tôi) là hai thành phần “vật chất và tâm linh” luôn quyện vào nhau mới sinh ra ảo giác cái Tôi có thật, đồng thời bản tánh cố chấp vào đó rất mãnh liệt cho nên mỗi người đều có một cảm giác cái Tôi khác với mọi người và mọi vật bên ngoài. Cũng vì cái Tôi này mà sinh ra ích kỷ chỉ muốn lợi mình; không muốn lợi người, nên mới phát sinh Tâm bất thiện như: tham lam, sân hận, đố kỵ, kiêu ngạo, ác kiến v.v... Vì thế con người chúng ta ai cũng mang sẳn cái Bản Ngã trong mình một bản năng hưởng thụ, bướng bỉnh, cố chấp, thành kiến, chủ quan, hẹp hòi v.v... là do chú trọng vào cái Tôi.
Đức Phật đã dạy chúng ta diệt Bản Ngã để đi đến Vô Ngã hoàn toàn. Khi không hiểu được lẽ Vô Thường của cuộc đời, vạn vật, cây cỏ, con người nên ta xem trọng cái Ngã (tôi) của mình; trong (vũ trụ vạn hữu) trái đất, vạn vật, thực vật, động vật không tồn tại vĩnh cữu, tất cả đều theo sự tuần hoàn sinh diệt của vũ trụ.- Tất cả mọi chúng sinh, vạn hữu trên thế gian không ai có thể tự tồn tại độc lập một mình được mà đều có tương quan chặt chẽ với nhau. Sỡ dĩ chúng ta không nhận ra điều này bởi vì chấp ngã đã tạo ra cái Tôi riêng biệt khác với mọi người, tạo ra thành bức tường vô hình ngăn cách giữa người với người.
Tất cả những hạnh phúc, vui tươi hay đau khổ của con người, nó là sự kết quả sinh thành bởi những hành động của con người gây ra… là do Tâm làm chủ và ý vẫn hành tạo tác. Thật vậy tất cả chúng ta không ai muốn mình đau khổ. Nói đến "Vô Ngã" là nói đến mấu chốt vô cùng quan trọng trong tiến trình của người (Phật Tử) tu tập đạo hạnh cho những ai đi trên con đường tu học cầu đạo gíac ngộ giải thoát.
Hành giả; muốn đạt được "Vô Ngã" trước tiên phải biết buông bỏ hết ngã chấp và pháp chấp. Đức Phật đã tìm ra được con đường “giải thoát”, giác ngộ sau 6 năm khổ hạnh và 49 ngày nhập Đại Định dưới cội cây bồ đề. Ngài đã thoát khỏi Nghiệp thức sinh diệt luân hồi sanh tử; vì lòng Từ-Bi nguyện hoá độ chúng sanh, hòa nhập với vạn vật, sống một đời thánh thiện an lạc hạnh phúc cao thượng. Đức Phật đã tìm ra được con đường đi đến giác ngộ giải thoát…/ bài pháp đầu tiên được đức Phật khai thị giáo lý “Tứ Diệu Đế” về sau thành giáo đoàn Phật giáo.
Đức Phật là một Vị Giáo Chủ, một bậc Thánh tuyệt đối. Phật lấy việc giáo hóa chúng sinh từ nơi mê lầm trở về con đường giác ngộ, từ đau khổ đến an vui hạnh phúc, thoát khỏi trầm luân sanh tử, là mục tiêu tối thượng trong đời hành Đạo của Ngài. giáo lý "Vô Ngã" là thánh tánh Niết Bàn, dẫn đến con đường trung đạo. Đức Phật dạy cái Ngã (tôi) là đầu mối của mọi sự tranh chấp vì danh lợi; xung đột mâu thuẩn là do chấp Ngã mà ra… Vô Ngã là không chấp có cái Tôi, là cánh cửa dẫn đến an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
ĐẠO PHẬT KHÔNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN
Chúng ta đang sống trong thời gian dịch nạn, thế giới loạn ly… sanh diệt biến đổi vô thường. Không nên sợ hại, mọi sự việc đều có Nhân Quả của nó, nên bình tâm cẩn trọng giữ gìn sức khỏe biết tự phòng hộ cho mình và mọi người trong gia đình và xã hội, biết tu tâm tích đức mới có được sự bình an.
Mỗi người đều có một Nghiệp riêng của mình, cần phải biết chọn cho mình một đời sống an vui hạnh phúc; đừng nên để cho Nghiệp sở thích dẫn mình vào nơi ô nhiễm trước môi trường u mê (Vô Minh) đoạ lạc trong các cảnh phiền não trầm luân khổ hài.
Mọi sự việc “ưu, bi, khổ, não” do tự mình gieo nhân "thiện hay ác" đều bị Nghiệp lực chia phối trong quy luật “Nhân Quả” theo định mệnh (Nghiệp) riêng của chính mình. Không có Thượng Đế và Trời Phật nào giáng họa hay ban phước cho mình cả.
”Thượng Đế Bổn Mình Triết Từ Ái Hiện Ngã Thân”上帝本明哲 慈愛现我身
- Thượng Đế hay Trời Phật rất công bằng.
- Không ban phước và giáng họa cho ai cả.
- Mọi sự việc đều tất nhiên có “Nhân và Quả của nó.
Chúng ta muốn biết “Nhân” quá khứ hãy nhìn vào “Quả” hiện tại... muốn biết “Quả” vị lai. Nên nhìn vào mọi việc mình gieo “Nhân” của chúng ta hiện tại đang làm... mọi sự trong thế gian và xuất Thế gian không ngoài Nghiệp Duyên trong Nhân Quả.
Chỉ có “đạo đức chơn lý” con người biết tu nhân tích đức hướng thiện tu học, thực hành “Bát Chánh Đạo” thẹo con đường Thánh Đế mới giúp cho chúng ta có một đời sống giác ngộ an vui hạnh phúc... nối tiếp “Thiện Căn Phúc Đức” tăng trưởng trí tuệ trong đời sống hiện tại và đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
NHẨN LÀ CỘI NGUỒN TRĂM PHƯỚC
Tu tâm cần phải học chữ Nhẩn “một câu nhịn chín câu lành” Nhẩn là trăm phước sinh ra “Trí Tuệ” làm người không ai tránh khỏi sự sai lầm; tuỳ theo mọi sự việc làm của mình nặng nhẹ. Người biết hành vi lời nói lỗi lầm của mình làm sai; mới là người “Quân Tử” biết sữa sai lại lỗi lầm của mình. Người không biết nhẩn lỗi “sám hối” sữa lại những lỗi lầm mới là người làm sai. "tà không thể thắng được chánh". ngựa đi được đường dài mới biết con ngựa có sức mạnh hay không.
- Chúng ta tu đạo, tu tâm chì vì tu sữa lại lỗi lầm của mình từ quá khứ và hiện tại. Làm người không ai tránh khỏi sai lầm cả! đời sống phải có Từ tâm và Đức hạnh. Cuộc sống trong đời cần phải có “Nhân Từ” làm người không có “nhân từ đức hạnh” thì đạo quả khó mà viên thành. Tu không tròn đạo hạnh; thì đời sau phải trả “Quả”. - làm con cần phải biết hiếu dưởng Cha Mẹ và tôn kính yêu thương lẫn nhau cùng mọi người trong gia đình và xã hội... Mới là người có đạo nghĩa biết Tu tâm (tu đạo). Xây dựng cuộc sống hạnh phúc hiện tại và tương lai...
- Tu Hành giả; cần phải biết buông xã mọi sự biên kiến “Chấp Ngã và Chấp Pháp” dung hòa cùng mọi giới hạnh “Kiến Tánh KhởiTu” học tập và thực hành "Đức Nhẩn" viên dung cùng mọi người. Nhẩn là đứng đầu của Trăm Phước. "Nhẩn" là Mẹ chư Phật 3 đời sinh ra “Trí Tuệ". Bất luận Thuận cảnh hay Nghịch cảnh “Thiện hay Ác” đều là tấm gương cho chúng ta soi lại chính mình; để biết quy về với Chơn Tâm Thường Trụ "Tỉnh Giác" thấy biết tỏ tường các pháp duyên sinh như huyễn.
Không nên để chúng làm chướng ngại thân tâm và sự tiến hoá tu tập theo con đường Đạo Hạnh Bồ Đề.
Kinh Kim Cang nói :
"Nhất Thiết Hữu Vi Pháp,
Như Mộng, Huyễn, Bào, Ảnh,
Như Lộ diệc Như Điện,
Ưng Tác Như Thị Quán"...
Tạm dịch :
"Thấy, Biết" tất cả pháp thiện ác, đúng sai, phải quấy, vui buồn, được mất, khổ đau, và mọi hình tướng sai biệt (Có và Không) các pháp đều như giấc mộng, huyễn hoặc, như đầu xương trên ngọn cỏ, ánh trăng dưới đáy nước, như bóng mây thoáng qua, đồng như điện chớp. Quán xét được như vậy; hành giả sẽ được an lạc tự tại giải thoát".
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 VÔ NGÃ TRONG ĐẠO PHẬT 】
"Vô Ngã" là mục tiêu cứu cánh của đạo Phật dẫn đến con đường Trung Đạo hầu giúp cho chúng sinh vượt khỏi những trạng thái Tâm Thức hữu hạn, đi đến vô hạn Niết Bàn. Mặc dù là Đức Phật đã dọn sẳn con đường giải thoát lý tưởng ấy nhưng không phải ai cũng đủ thắng Phước, phá vỡ lớp vô minh nghiệp hoặc sinh diệt, để đi đến đích cuối cùng là "Vô Ngã" vị tha. Hầu hết phàm phu chúng ta đều chấp ngã rất sâu nặng, bị kẹt vào Ngã sở và Ngã ái.
Vô Ngã là gì ?... Vô là không, Ngã là cái Tôi, "Bản ngã hay Tự Ngã". Như vậy Vô Ngã là không có cái "Tôi" thực thể cố định ở trong mỗi con người. Thân thể con người là do duyên hợp của hai thành phần là: sắc thân (vật chất) và tâm linh (tinh thần). Sắc thân do Tứ Đại (đất nước gió lửa) hợp thành. Còn Tâm thì do các yếu tố "Thọ, Tưởng, Hành, Thức" chấp thủ. Đức Phật dạy: Cái gì do nhiều Duyên hợp thành thì không có thực thể của cái Ngã, chỉ là duyên sinh huyễn hợp.
Hai thành phần vật chất và tâm linh luôn quyện vào nhau mới sinh ra ảo giác cái Tôi có thật, đồng thời bản tánh cố chấp vào đó rất mãnh liệt cho nên mỗi người đều có cảm giác cái Tôi khác với mọi người, mọi vật bên ngoài. Cũng vì cái Tôi này mà sinh ra ích kỷ chỉ muốn lợi mình; không muốn lợi người, nên mới phát sinh Tâm bất thiện như: tham lam, sân hận, đố kỵ, kiêu ngạo, ác kiến v.v... Vì thế con người chúng ta ai cũng mang sẳn cái Bản Ngã trong mình một bản năng hưởng thụ, bướng bỉnh, cố chấp, thành kiến, chủ quan, hẹp hòi v.v... là do chú trọng vào cái Tôi.
Đức Phật đã dạy chúng ta diệt Bản Ngã để đi đến Vô Ngã hoàn toàn. Khi không hiểu được lẽ Vô Thường của cuộc đời, vạn vật, cây cỏ, con người nên ta xem trọng cái Ngã (tôi) của mình; trong (vũ trụ vạn hữu) trái đất, vạn vật, thực vật, động vật không tồn tại vĩnh cữu, tất cả đều theo sự tuần hoàn sinh diệt của vũ trụ.- Tất cả mọi chúng sinh, vạn hữu trên thế gian không ai có thể tự tồn tại độc lập một mình được mà đều có tương quan chặt chẽ với nhau. Sỡ dĩ chúng ta không nhận ra điều này bởi vì chấp ngã đã tạo ra cái Tôi riêng biệt khác với mọi người, tạo thành bức tường vô hình ngăn cách giữa người với người.
Tất cả những hạnh phúc, vui tươi hay đau khổ của con người, nó là kết quả trung thành bởi những hành động của con người gây ra mà Tâm là chủ và ý vẫn hành tạo tác. Thật vậy tất cả chúng ta không ai muốn mình đau khổ. Nói đến "Vô Ngã" là nói đến mấu chốt vô cùng quan trọng trong tiến trình tu tập đạo hạnh cho những ai đi trên con đường tu học cầu đạo gíac ngộ giải thoát.
Để đạt được "Vô Ngã" thì đầu tiên là phải buông bỏ được hết ngã chấp và pháp chấp. Đức Phật đã tìm ra được con đường giải thoát giác ngộ sau 6 năm khổ hạnh và 49 ngày nhập Đại Định dưới cội cây bồ đề. Ngài đã thoát khỏi Nghiệp thức sinh diệt luân hồi sanh tử; vì lòng Từ-Bi nguyện hoá độ chúng sanh, hòa nhập với vạn vật, sống một đời thánh thiện an lạc hạnh phúc cao thượng. Đức Phật đã tìm được con đường đi đến giải thoát; - đầu tiên được đức Phật khai thị giáo lý “Tứ Diệu Đế” về sau thành giáo đoàn Phật giáo.
Đức Phật là một Vị Giáo Chủ, một bậc Thánh tuyệt đối. Phật lấy việc giáo hóa chúng sinh từ nơi mê lầm trở về con đường giác ngộ, từ đau khổ đến an vui hạnh phúc, thoát khỏi trầm luân sanh tử, là mục tiêu tối thượng trong đời hành Đạo của Ngài. giáo lý "Vô Ngã" là thánh tánh Niết Bàn, dẫn đến con đường trung đạo. Đức Phật dạy cái Ngã (tôi) là đầu mối của mọi sự tranh chấp vì danh lợi; xung đột mâu thuẩn là do Chấp Ngã mà ra, Vô Ngã là không chấp có cái Tôi, là cánh cửa dẫn đến an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ 】
Trong toàn bộ giáo lý tu học theo các pháp môn trong đạo Phật tu hành chỉ là biết quy trở về với “Phật Tánh” của mình, quay về với tự tánh thanh tịnh "Bổn Thể Diệu Minh" viên dung bình đẳng trong mọi sự ý niệm, hành vi tạo tác nên giữ cho tâm tĩnh lặng; lời nói nhu hoà, lễ nghĩa khiêm cung (không làm các điều ác - nên làm các việc thiện) tâm không vọng tưởng tham ái dục lạc, vọng cầu các việc danh lợi, trong cuộc sống biết “thiểu dục tri túc” tâm thường an định. Hằng sống trong đạo đức nhân từ, giữ đúng giới luật là điều kiện để tu tập thành tựu “Chánh Niệm Tỉnh Thức” trang nghiêm đức hạnh, gieo nhân Phước lành cho hiện tại và đời vị lai.
Tu học đúng theo luật Nhận Quả “không làm điều ác - thực hành các việc thiện” người làm các điều ác… mà không biết hối cải thì nhất định sẽ rước lấy quả báo ác và đau khổ. Nhưng cái gì thúc đẩy chúng ta nói điều ác và làm điều ác? Đó chính là tâm chúng ta. Trái lại, khi chúng ta nói lời thiện, làm các điều thiện, do tâm chúng ta nghĩ thiện, thì không nghĩ tà, không làm các điều ác... thực hành “Bát Chánh Đạo” sẽ giúp cho chúng ta không tái sanh vào các cõi ác, được tái sanh vào các cõi lành. Nghĩa là, con người thiện vẫn luân hồi, nhưng chỉ luân hồi trong các cõi an lành. Thế nhưng, mục đích tối hậu của đạo Phật là siêu việt lên trên thiện và ác, đạt tới lý tưởng giác ngộ và giải thoát, đạt tới cảnh giới toàn giác như Đức Phật vậy.
Hành giả sống trong chánh niệm, tâm an định và thiền quán trong sự tĩnh lặng; gọi là Thiền, Nếu thực hành miên mật đúng pháp... giúp chúng ta đạt tới chỗ tâm hoàn toàn không còn vướng mắc sẽ được giải thoát. Kinh Kim Cang, một bản kinh Đại thừa nổi tiếng có câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Nghĩa là tâm vị Bồ Tát tuy đối diện với sắc, với thanh, hương, vị, xúc, pháp... tức là với mọi cảnh trần bên ngoài; không chấp thủ, không vướng mắc, thật sự buông xả mới giải thoát cái tâm vô trụ và không chấp thủ đó, cũng gọi là cái tâm vô niệm, cái tâm dứt bỏ các niệm, các ý nghĩ, cái tâm hoàn toàn bình lặng và thanh tịnh, lâu dài và an định, thì có thể nói đó là một bước tiến bộ rất lớn trên con đường tu tập đạo giác ngộ để thành tựu con người lý tưởng, tức là thành Phật.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 THIỀN VÔ TƯỚNG 】
Thiền giả; Tu Thiền bằng cách hợp nhất Tâm Tánh: là một lối Thiền không có một đối tượng gì để chuyên Tâm vào cả, tác động đột khởi của "Tâm Diệu Minh" tuyệt đỉnh; là cốt tủy của tất cả giáo pháp thiền.
Đối với những người chưa vào được cổng "không" thì đây là một pháp Tu khó nhất. Nhưng đối với những người đã vào được, thì đây là một pháp môn dễ nhất. Tất cả những luyện tập và tu tập khác chỉ là những phương tiện chuẩn bị cho "Nó". Điểm cốt yếu của pháp tu này là nhận ra được bản "Tánh Diệu Minh" (Chơn Tâm) của tâm mình, hoặc ít ra cũng thoáng thấy được "Nó" một khi đã nhận ra được Tâm Tánh này. Thiền giả sống được với "Nó" rất an nhiên tự tai.
Hành giả hẳn đã thâm nhập vào (bản lai diện mục) bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu không chút khó khăn. Trong động hoặc trong tịnh, cái ý thức của "Diệu Minh Chơn Tánh" hẳn luôn luôn chiếu sáng (Tịnh Minh ) trong hành giả. Mặc dù sau khi nhận ra hoặc thấy-biết “Tâm Tánh” vẫn còn một con đường dài để đi, cái thoáng (thấy-biết) đầu tiên được tất cả các hiền triết trong Phật giáo xem là điều quan trọng nhất, mà tất cả các hành giả mong cầu được.
Thiền giả; một khi đã vào được cái "cổng không cổng" này rồi. Thiền Định không còn là một tu tập hoặc một nỗ lực nữa. Bấy giờ "Nó" đã trở thành một tác động tự nhiên ngẫu phát của đời sống Tâm linh. Nhưng muốn để đạt được cái "cổng không cổng" này. Hành giả; phải tu tập chăm chỉ vào pháp môn "không có gì để tu này" sẽ có một người bạn "đồng hành" Chơn thật, luôn luôn sống làm bạn với chúng ta. Nó chính là (Bản Lai Diện Mục) nay ta đã gặp lại, theo con đường giác ngộ "tự giác, giác tha", tự lợi, lợi tha, giác hạnh mới viên mãn.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
【 Y PHÁP BẤT Y NHƠN - Y NGHĨA BẤT Y NGỮ 】
- Nguồn Giáo Lý Đạo Phật (Tứ Thánh Đế) và các giáo pháp trong Đạo Phật được phát triển từ "Đức Phật Thích Ca" và các vị Tổ Sư đến nay, đã hơn 2500 năm. Chúng ta chỉ là người hậu học. Bất luận là lời Phật hay Tổ hoặc chư vị Thánh hiền giáo thuyết... Chúng ta cần phải có "Chánh Tri Kiến" nếu quán xét đúng "Chơn Lý". Tu tập thực hành được an lạc, thì nên y pháp phụng hành... Không nên chấp trước phân biệt giáo môn hay chủng tộc, cần phải có tâm từ bi bình đẳng; buông bỏ mọi thành kiến bản ngã. Biết tuỳ duyên ứng dụng, để Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.
- Phật Pháp xiển dương các pháp “Vô Ngã, Vô Thường, Khổ” trong thế gian biến đổi sanh diệt chẳng dừng (thành trụ hoại không) “sinh trụ hoại diệt” là Phật khai thị cho tất cả chúng sinh hiểu rõ và thấy biết mọi pháp thế gian đều do cả thảy duyên sinh huyễn hoá hợp thành, không ngoài "Nhân-Quả". Đức Phật thuyết tất cả pháp đều là phương tiện, mục đích là cứu khổ ban vui (Như Ngón Tay Chỉ Trăng) giúp cho chúng sinh tuỳ duyên thuận pháp, lìa khổ được vui, chuyển hoá các Nghiệp thức vô minh của kiến-tư hoặc "ái, thụ, hữu" trong (12 Nhân Duyên) sinh, lão, bệnh, tử, để khai ngộ "Phật Tri Kiến" ứng dụng tu tập nối tiếp Huệ căn trong hiện tại và vị lai.
- Học giả, tu học Phật theo giáo lý (Tứ Thánh Đế) tu tập Chánh hạnh theo con đường "Bát Chánh Đạo" hằng sống với chánh niệm tỉnh thức trong Phật tánh của mình; Mọi ý niệm hành vi, thấy biết cần phải có chánh tri kiến; biết tuỳ duyên thuận pháp buông bỏ mọi sự chấp trước của "Ngã Kiến" bị (Thập Triền) tham ái, dục vọng, si mê... không phan duyên bám víu ô nhiễm theo trần cảnh "Thất tình, Lục đục" lôi cuốn "6 căn" đắm nhiễm "6 trần" làm cho "6 thức" đọa lạc (18 giới) không được an định nên mới tạo Nghiệp trầm luân vào các cảnh khổ. Hành giả muốn có được an vui, giải thoát các cảnh khổ; cần phải có Chánh tri kiến, hằng sống trong Chánh Niệm tỉnh thức; thì mọi sự suy nghĩ mới chân chánh trong "tuệ quán", niệm tưởng mới an định; trí tuệ sẽ hiện bày... mọi ý niệm hành động lời nói việc làm dù thiện hay ác mới không sai lầm; đời sống mới có được an lạc tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
NGUYÊN NHÂN KHỔ và PHIỀN NÀO
- Nguồn gốc của mọi sự khổ do Vô Minh Vọng Tướng sinh khởi "kiến tư hoặc" chấp trước sai lầm vọng tưởng si mê, tham ái dục lạc danh lợi triền phược che khuất “Bổn Tánh Diệu Minh” của mình; làm cho con người bị (thất tình- lục dục) tạo Nghiệp bị Phiền Não đau khổ đọa lạc trong tam giới lục đạo luân hồi... “NGUYÊN NHÂN là ở nơi mọi sự CHẤP TRƯỚC THẤY-BIẾT PHÂN BIỆT VỌNG TƯỞNG PHIỀN NÃO nguồn gốc nơi VÔ MINH".
- Trong đời sống hằng ngày của chúng ta thường xúc chạm với mọi sự việc "đời hay đạo" và biết bao nhiêu dục vọng tham ái sân hận si mê chìm sâu trong tiềm thức; hằng tiếp diễn trong đời sống vọng tưởng của chúng ta. Nên cần phải thấy-biết tỉnh thức chánh niệm "Tuệ Quán" nhìn thấu tỏ tường tất cả mọi sự việc Nghiệp Duyên của trần cảnh ô nhiễm theo kiến tư hoặc và trần sa nghiệp hoặc vô minh; hành giả mới có thể chuyển hoá được các vi tế nghiệp hoặc vô minh phiền não.
- Hành giả khi đã giác ngộ được các pháp vô ngã duyên sinh như huyễn. Không còn chấp trước vào các pháp nhị nguyên . Thất- Biết "tuỳ duyên thuận pháp - xứng tánh khởi tu” tâm cảnh hợp nhất thể nhập Chơn Như tự tánh vô sanh diệt; xa lìa được mọi dục vọng, tham ái, sân hận, si mê... tà kiến của các pháp sanh diệt ái dục nghiệp hoặc vô minh” ái biệt ly khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ, sinh lão bệnh tử khổ... làm chủ được sinh tử. Mới có được an lạc tự tại, vô ngại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
BÀI HỌC NGÀN VÀNG - PHƯỚC HOẠ VÔ MÔN - TỰ TÂM CHIÊU CẢM…
Trong đời sống thế gian (người tu học) trước khi muốn làm việc gì… cũng cần phải suy nghỉ đến hậu Quả của nó.!!! “một câu nhịn… chín câu lành” (nhẫn nhục sinh trí tuệ) phước họa vô môn - tuỳ tâm cảm ứng… … theo “Nghiệp Duyên và Nhân Quả” của mình.
“Tâm” là sự sống của muôn màu (vạn pháp tuỳ tâm sinh) thiên đàng hay địa ngục do tâm tác ý sinh khởi… … “ý dẫn đầu các pháp (thiện ác) tạo Nghiệp theo Nhân Quả hiện hành… trong đời sống Nghiệp Duyên dẫn đến an vui hay đau khổ. Người làm chủ được thân tâm mới có an lạc và hạnh phúc.
Hạnh Phúc không phải tự nhiên mà có… mỗi một tâm niệm cảm xúc và tri giác cần phải có tuệ quán “Chánh Tri Kiến” trong Chánh Niệm Tỉnh Thức cần có Chánh Tư Duy không phan duyên theo dục lạc danh lợi… vì Ngã mãn lợi lạc cho bản thân mình; làm tổn thương cho người khác… vô tình không hay biết mà nguy hại đến bản thân tạo Nghiệp mà không hay.
Hành giả; muốn có một đời sống an lạc hạnh phúc, cần phải biết giữ gìn đạo đức “Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín” giới hạnh thanh tịnh (không làm các việc ác - thực hành các điều thiện) theo lời Phật dạy… giữ trọn “năm giới” tu tập (thập thiện) trang nghiêm đạo hạnh mới có an lạc hạnh phúc ngay trong hiện tại và đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
-
huynh richard hieu dep trai, hoc gioi, con nha giau, de thuong, tam ly