eatdrink004ve62 về sg ăn thịt chó nhe,,,rũ thêm thằng con hư đốn nữa ayzzaeatdrink004
Printable View
Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái, hân hoan sanh, do hân hoan nên hỷ sanh, do hỷ sanh nên thân khinh an, do thân khinh an nên lạc thọ sanh, do lạc thọ sanh nên tâm được định tĩnh
Thành Sở Tác Trí là trí tuệ biết vận dụng năm trần: (sắc, thanh, hương, vị và xúc) mà không bị kẹt vào năm trần.
Diệu Quát Sát Trí là trí tuệ có thể quan sát tất cả các hiện tượng một cách mầu nhiệm mà không bị kẹt vào vô minh.
Bình Đẳng Tánh Trí là trí tuệ thấy được tính tương quan tương duyên của mọi sự vật, thấy cái ta và cái không phải ta là một
Đại Viên Cảnh Trí là trí tuệ làm một tác dụng chiếu soi như một tấm gương tròn sáng lớn, phản chiếu được bản chất của sự vật vô thường, khổ, vô ngã.
Vị Tỷ Kheo mà thân, lời và ý đã lắng dịu, người có định tâm và từ bỏ mọi bẩy mồi của cuộc sống, vị ấy được gọi là vị Tỷ Kheo tịch tịnh
Vị Tỷ Kheo đầy hỷ lạc trong giáo lý của Đức Phật sẽ đắc được Niết Bàn, hạnh phúc, giải thoát, chấm dứt các sanh y
Đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy nỗ lực Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau
Vị Tỷ Kheo mà thân, lời và ý đã lắng dịu, người có định tâm và từ bỏ mọi bẩy mồi của cuộc sống, vị ấy được gọi là vị Tỷ Kheo tịch tịnh
Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái, hân hoan sanh, do hân hoan nên hỷ sanh, do hỷ sanh nên thân khinh an, do thân khinh an nên lạc thọ sanh, do lạc thọ sanh nên tâm được định tĩnh
Cậu có thể diễn giải cho tớ hiểu thêm chút nữa không, tớ thật không hiểu đoạn này.
------------------
sự hiểu biết của pq chỉ có giới hạn.Ta có thể hiểu là, định sanh nhờ lạc thọ, lạc thọ nhờ thân khinh an, thân khinh an nhờ tâm hoan hỷ, tâm hoan hỷ sanh nhờ tâm hân hoan. Hân hoan, hỷ và lạc thọ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát khởi Thiền định. Nói khác đi, trạng thái hỷ, lạc là trạng thái tươi mát đưa đến Thiền định.
Trong Trung Bộ I, Tiểu Kinh Ví Dụ Lõi Cây số 30, Đức Phật dạy, Thiền là một cảm thọ, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ, chỉ cho Thiền thứ nhất; một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm, chỉ cho Thiền thứ hai; một trạng thái xả niệm lạc trú, chỉ cho Thiền thứ ba; và một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chỉ cho Thiền thứ tư. Từ Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư gọi là Bốn Thiền Sắc Giới; kế đó là Bốn Thiền Vô Sắc Giới, tức là Tứ Vô Sắc Định.
Định thứ nhất là không Vô Biên Xứ. Đối tượng của định này là hư không, không có biên giới. Hư không là một trong sáu đại : địa, thủy, hỏa, phong, không và thức thứ sáu. Chúng ta lấy hư không làm đối tượng, nhưng quán chiếu để thấy mối tương quan giữa hư không với năm yếu tố còn lại: địa, thủy, hỏa, phong và thức.
Định thứ hai là Thức Vô Biên Xứ. Định này có đối tượng là thức, nhưng thức này có tương quan với năm yếu tố kia: địa, thủy, hỏa, phong và không.
Định thứ ba là Vô Sở Hữu Xứ; vô sở hữu xứ là không có gì cả, nhưng không phải là hư không. Tri giác của chúng ta nhận thấy các sự vật độc lập với nhau. Đối tượng của tri giác (tưởng) là tướng. Đi sâu vào tính tương quan tương duyên của sự vật, chúng ta thấy mỗi sự vật đều chứa đựng cả vạn hữu và vũ trụ. Cái này có vì cái kia có, cho nên chúng ta vượt khỏi tướng, thấy rằng không sự vật nào hiện hữu riêng biệt, gọi là vô sở hữu xứ.
Định thứ tư là Phi Tường Phi Phi Tưởng xứ. Tưởng này là tri giác. Mọi hiện tượng phát hiện qua tưởng và tri giác của chúng ta, nhưng tri giác ta biết không phản chiếu sự thật. Muốn thoát khỏi vọng tưởng, để có thể tiếp xúc với thực tại, ta không nương vào tưởng nữa. Nhưng nếu bỏ hẳn tưởng, ta trở thành vô tri vô giác như gỗ đá ở trạng thái phi tưởng. Cho nên không dựa vào tưởng mà cũng không ở trong phi tường gọi là phi tưởng phi phi tưởng. Ở mức Thiền thứ tám, người ta gạt bỏ hết tất cả những tri giác có tác dụng chia cắt ra từng phần nhỏ. Nhờ thế ta không còn bị lừa gạt bởi tướng sanh, diệt, nhiều, ít, có, không và vượt khỏi tưởng gọi là phi tưởng. Nhưng ta biết rằng đó không phải là trạng thái vô tri vô giác, cho nên ta gọi đó là phi tưởng và phi phi tưởng không phải tưởng cũng không phải phi tưởng.
Cuối cùng hành giả đạt tới một trạng thái diệt thọ tưởng định, tức là diệt tận định. Diệt được hiểu theo nghĩa của Tứ Thánh Đế. Diệt là diệt khổ, tức là vắng mặt khổ đau và có mặt an lạc và hạnh phúc. Đến giai đoạn này, thọ và tưởng vẫn còn, nhưng không do vô minh chi phối, thọ và tưởng này hoàn toàn được soi sáng trong Tứ trí đúng ý nghĩa Duy Thức học.
Với Tứ trí, trạng thái diệt thọ tưởng định lấy tứ trí làm căn bản. Tất cả các thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na và a lại da vẫn còn và vẫn còn thọ và tưởng. Song thọ và tưởng này không bị vô minh chi phối, tức là không còn vọng thọ và vọng tưởng nữa, vì tất cả các khối vô minh trong mạt na thức và tàng thức đã bị quét sạch. Tâm hành giả khởi lên giác ngộ, đưa đến an lạc và hạnh phúc.
Với tâm định tĩnh thuần tịnh siêu nhiên, không phiền não lậu hoặc, hướng tâm đến Túc Mạng Minh, hành giả thấy và nhớ được nhiều kiếp sống trong quá khứ rõ ràng; hướng tâm đến Thiên Nhãn Minh, hành giả thấy và biết được sự sống và sự chết của chúng sanh; và hướng tâm đến Lậu Tận Minh, hành giả như thật tuệ tri: “Đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt.” Nhờ thấy và biết như vậy, tâm hành giả thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Đối với tự thân, hành giả đã giải thoát và thốt lên rằng : “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.” Vị ấy chứng đắc Niết Bàn - hạnh phúc tối thượng và hoàn toàn giải thoát khổ đau.
Qua cách trình bày ở trên, chúng ta thấy Thiền định là sự giáo dục về tình cảm, cảm thọ và tâm lý.
Về tình cảm, Thiền định giúp hành giả thoải mái, hân hoan, phấn khởi, yêu thương và buông xả.
Về cảm thọ, Thiền định giúp hành giả nuôi dưỡng các cảm thọ tốt đẹp như hỷ, lạc, xả và loại trừ các cảm thọ không tốt như khổ, ưu. Ở giai đoạn này hành giả có được hạnh phúc.
Về tâm lý, Thiền định giúp hành giả chuyển hóa các tâm lý xấu như năm triền cái và tham sân si, thành các tâm lý tốt như năm thiền chi và vô tham vô sân vô si.
Cuối cùng, Thiền định giúp hành giả đoạn trừ các phiền não lậu hoặc dục vọng và sợ hãi, đưa tâm hành giả đến an lạc và hạnh phúc theo đúng con đường Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và giải thoát tri kiến. Đây là điểm then chốt của Thiền định Kinh Pháp Cú số 378 và 381, Đức Phật dạy:
Thành Sở Tác Trí là trí tuệ biết vận dụng năm trần: (sắc, thanh, hương, vị và xúc) mà không bị kẹt vào năm trần.
Diệu Quát Sát Trí là trí tuệ có thể quan sát tất cả các hiện tượng một cách mầu nhiệm mà không bị kẹt vào vô minh.
Đại Viên Cảnh Trí là trí tuệ làm một tác dụng chiếu soi như một tấm gương tròn sáng lớn, phản chiếu được bản chất của sự vật vô thường, khổ, vô ngã.
Bình Đẳng Tánh Trí là trí tuệ thấy được tính tương quan tương duyên của mọi sự vật, thấy cái ta và cái không phải ta là một
Kính Đạo Hữu
Phật Pháp rộng lớn
Thực tiễn nhìn nhe
Ông Cha khi đi tu Cha theo công giáo đêu đi tu mình ênh
Thầy Chùa khi đi tu cũng vậy
còn nữa....
“Con đường Đạo là con đường Buông Bỏ. Buông bỏ chứ không buông thả. Buông bỏ là buông cái muốn. Buông thả là để trí óc đi như thế nào thì đi, ta lại càng lầm lạc. Tu học không bao giờ nên buông thả mà phải thức giác luôn luôn, thức giác trong sự bình an không mong cầu, trong sự buông bỏ. Biết nhưng không giữ, không kềm chế cái biết để đi đến Cái Biết thật sự.” (Trích bài Tâm Pháp, trong quyển Nhật Ký Tâm Linh I: Lời Thầy Dạy, Cửu Long xb 2006 2005)
Kính Đạo Hữu
Tha lức do hằng hà Đức Phật luôn hướng vào chúng sanh
do vậy chúng sanh luôn là Đức Phật thành tựu... ....
Đức Phật luôn yêu thương chúng sanh
không lẽ loi đơn độc mà ngài luôn ở cạnh chúng sanh
luôn chúc phúc cho chúng sanh