-
Essence Of Devi Bhagavatha Purana Portrayal and
http://www.kamakoti.org/kamakoti/det...tpurana65.html
Vasundhara Devi or Earth too is a manifestation of Mula Prakriti, bearing the entire burden of humanity and sourcing countless boons even without asking for. She is the Great Provider including food, shelter, water, fruits, flowers, gems and jewels,metals, and the greatest support for all. Her patience is eternal and distinctive.
Twenty-Four Aspects of Mother Kali: - Google Books Result
https://books.google.com.vn/books?isbn=1891893173
Babaji Bob Kindler - 1996 - Religion
Finally, there is the Devi Vasundhara, the goddess of this earth, whosupplies food stuffs to all beings and creates jewelsand preciousoresas well. Fromtheseparts ofthe Mula Prakriti comethe issues fromthe parts. Names suchas Svaha, thewifeof fire,who allows andsanctions the act of offering oblations, andSvadha, ...
essence of pradhana tirthas - Sri Kanchi Kamakoti Peetham
studylib.net/doc/8237136/essence-of-pradhana-tirthas---sri-kanchi-kamakoti-peetham
Shankara Gauri Mandir at Patan near Baramulla, Bajaranga Das Mandir, Gautam Nag, Shiva Mandir at Varaha Mula or old Baramulla, Bheda Devi Tirtha, and various ...... Vasundhara/ (Those who reach Mathura is perform a parikrama are stated to have performed the same around Sapta Dwipas from Vasundhara or Earth).
25 best Sri,Kamala,Laxmi images on Pinterest | Goddesses, Hinduism ...
https://www.pinterest.ie/JikmedPhunt...rikamalalaxmi/
also known as Vasudhara,Vasundhara,Lakshmi,Padmini | See more ideas about Goddesses, Hinduism and Nepal. ... The fierce Siddha Lakshmi, a wrathful manifestation of the Hindu goddess Durga, was the protecting and guiding goddess of the Malla kings, who ruled ... Siddha Lakshmi Devi upheld by Mahakala Deva.
-
Bhūmi
From Wikipedia, the free encyclopedia
This article needs additional citations for verification. Please help improve this article by adding citations to reliable sources. Unsourced material may be challenged and removed. (November 2015) (Learn how and when to remove this template message)
Bhumi
Earth
Bhudevi.jpg
Metal Sculpture of Goddess Bhudevi
Other names Prithvi
Affiliation Devi, Adi shakti
Abode Vishnuloka/Vaikuntha
Planet Earth
Mantra Om Bhumaya namah
Mount Cow
Consort Vishnu and Dyaus Pita
Offspring Mangala, Sita
Bhūmi or Bhūmī-Devī is the Hindu goddess representing Mother Earth. She is the consort of the boar god Varaha, an avatar of Vishnu,.[1] Bhumi is the daughter of Kashyap Prajapati.
She is known by various names such as Bhuma-Devi, Bhuvati, Bhuvaani, Bhuvaneshwari, Bhuvanendri, Bhuvisha, Avaani, Avni, Avanendri, Prithvi, Dharti, Dhaatri, Dharani, Vasudha, Vasundhara, Vaishnavi, Kashyapi, Urvi, Urvisha, Urvishi/Urvishwari, Urvivati, Ira, Iravati, Iravaani, Ela, Elavati, Elavaani,Varahi, Vasumati, Dhanshika, Hema, Hemavati, Hemaalaya, Hemamaalini, and Hiranmaya.She is worshipped in patala and is depicted as seated on a platform which rests on the back of four elephants, representing the four directions of the world. She is usually depicted with four arms, holding a pomegranate, a water vessel, a bowl containing healing herbs and another containing vegetables.[2] She is also sometimes depicted with two hands, one holding a blue lotus known as Kumuda or Utpala, the night lotus, and in the right hand and the left hand may be in the Abhaya Mudra, fearlessness or the Lolahasta Mudra which is an aesthetic pose meant to mimic the tail of a horse.[3][4]
Bhoomadevi is also known to have been created from the three petals which came from the navel of Maha Vishnu( see creation of Brahma)
https://sv1.uphinhnhanh.com/images/2...itled9c061.png
============
Mother Earth: Holder and Giver of Wealth | Back to Godhead
btg.krishna.com/mother-earth-holder-and-giver-wealth
By Vishakha Devi Dasi. A life that allows us to reunite with mother earth and offer her products to Krishna favors our spiritual growth. Srila Prabhupada writes, "Whatever is .... Mother earth is called Vasundhara, meaning "the holder of wealth" (vasu means "wealth," and dhara, "one who holds"). Whatever is taken from her ...
http://btg.krishna.com/mother-earth-...d-giver-wealth
https://en.wikipedia.org/wiki/Bh%C5%ABmi
=========
Vasundhara = Daughter of the Earth
-
http://www.agiivideo.com/books/Book-7-Annaprasan.pdf
Full text of "The Chakra Samvara Tantra ( The Discourse Of Shri ...
https://archive.org/.../The+Chakra+S...+of+Shri+Heruk...
2 Each syllable is positioned through unifica- tion with the six heroes , 3 endowed with the syllables om f nanuth , svaha , vausat, hum hum, and phat. ...... v'irabhogyd vasum- dhara syiit / virah subhatas tasyaiva bhogyd virabhogyd / vaswni ratndni dharayanti vasumdhari / dkramya ratnapurna prthvi tena bhujyata iti bhdvah).
-
Vasudha : Earth.
Vasudharini : Bearer of the Burden of Earth.
Names Of Goddess Maha Lakshmi - Blessings on the net
blessingsonthenet.com/indianculture/hindugod.../names-of-goddess-maha-lakshmi
108 Names of Goddesses Lakshmi : Lakshmi has many names. She is known to be very closely associated with the Lotus, and her many epithets are connected to the flower, such as: Deepta : Flame-Like. Vasudha : Earth. Vasudharini : Bearer of the Burden of Earth. Kamala : Lotus. Kantha : Consort of Vishnu. Kamakshi .
-
https://www.youtube.com/watch?v=Af7HINAg72c
Hào Quang xuất hiện sau 7h Trợ Niệm
Phật tử Đỗ Thị Huân
Xuất bản 13 thg 1, 2017
ĐĂNG KÝ 120
Sau khoảng 7h được Đạo Tràng của gia quyến phật tử Đỗ Thị Huân Trợ Niệm - Niệm Phật thì có Hào Quang xuất hiện ngay phía đầu giường nơi phật tử nằm và đúng phía hình phóng quang tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà treo trên tường ngay sát giường của phật tử Đỗ Thị Huân. Đây là hiện tượng rất hy hữu và hiếm có trong các ca Hộ Niệm
-
DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP TỈNH
Di tích Đình thần Mỹ Xuyên (23/08/2010)
Theo sắc phong thần của vua Tự Đức (năm 1852) dưới triều Nguyễn, đình thần Mỹ Xuyên tọa lạc tại ấp chợ bài Xàu, làng Hòa Mỹ, Tổng Phong Nhiêu, thuộc tỉnh lỵ Ba Xuyên.
Theo sắc phong thần của vua Tự Đức (năm 1852) dưới triều Nguyễn, đình thần Mỹ Xuyên tọa lạc tại ấp chợ bài Xàu, làng Hòa Mỹ, Tổng Phong Nhiêu, thuộc tỉnh lỵ Ba Xuyên.
Thời Pháp thuộc theo Nghị định ngày 18/4/1893 thống đốc Nam kỳ quyết định sáp nhập 3 làng Hòa Mỹ, Vình Xuyên, Thạnh Lợi thành làng Mỹ Xuyên, thuộc Tổng Định Chí, tỉnh Sóc Trăng. Nay đình thuộc địa bàn ấp chợ cũ, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Đình cách trung tâm tỉnh lỵ Sóc Trăng (UBND tỉnh) 6 km về hướng Đông-Nam. Từ tỉnh lỵ theo con đường Lê Hồng Phong 5 km đến một ngã ba, du khách không rẽ trái vào trung tâm thị trấn Mỹ Xuyên mà đi thẳng theo hương lộ 12 thêm 1 km nữa là đến cổng Đình (nằm phía bên trái con đường). Phương tiện đi đến di tích thuận lợi nhất là đường bộ. Đình thần Mỹ Xuyên được xây dựng vào giữa thế kỷ XIX khi hương chức và nhân dân trong làng phấn khởi thỉnh sắc phong “Bổn cảnh Thành Hoàng” do Vua Tự Đức phê tặng vào ngày 29 tháng 11 năm 1852 (âm lịch). Từ đó đến nay đình đã trải qua 3 lần trùng tu, tu bổ.
Năm 1880, ông Phạm Bình Cân, một địa chủ có chân trong Hội đồng Quản hạt Ba Xuyên vận động nhân dân cùng ông đóng góp, trùng tu ngôi đình lần thứ nhất, chủ yếu là gia công trang trí bên trong và thay cột bằng gỗ căm xe mà ta còn thấy hiện nay.
Năm 1941, ông Lê Anh Quạnh, Hương chủ làng Mỹ Xuyên vận động bà con trong làng tu bổ lần thứ hai. Lần này ông cho xây một mặt dựng trước tiền đình bằng vật liệu nặng, bên trong Đình ông mời nghệ nhân đắp 4 con rồng quấn quanh 4 cột trụ ở gian thờ thần.
Đầu năm 2003 mái đình đã hư dột nặng, Ban trị sự đình vận động kinh phí cho dỡ ngói và một số vì kèo hư mọt nặng chất vào hậu đình, thay vào đó một số vì kèo mới, tạm lợp mái bằng tôl màu đỏ, sơn phết khang trang.
Qua nghiên cứu các nguồn tư liệu thời Nguyễn và thời thuộc Pháp còn để lại, cũng như qua lời kể của các vị bô lão cho biết đình thần Mỹ Xuyên xưa kia nằm ngay trung tâm chợ Bãi Xàu, nơi đây vốn là một trong những thương cảng lúa gạo nổi tiếng ở miền Tây Nam Kỳ với “loại gạo Bãi Xàu” được thương nhân người Hoa tín nhiệm: họ thích gạo này hơn tất cả các loại gạo khác và cũng là loại gạo được xuất cảng sang Trung Hoa với khối lượng lớn nhất”
Năm 1902, con kênh Bãi Xàu nơi bến chợ bị phù sa lắng cạn đã gây nhiều khó khăn cho tàu bè vô ra. Chủ tỉnh Sóc Trăng quyết định xây dựng chợ mới mà ta thấy hiện nay cách chợ Bãi Xàu chừng 2 km. Từ đó chợ Bãi Xàu cũ trở thành địa danh Chợ Cũ và người dân cũng gọi đình thần Mỹ Xuyên là “Đình Chợ Cũ”.
Năm 1904, một trận bão lụt lớn hoành hành các tỉnh miền Tây Nam bộ, chợ Bãi Xàu cũ bị cơn bão phá sập tan hoang nhưng ngôi đình vẫn đứng vững, nên ngày nay ở Sóc Trăng dân gian hãy còn truyền tụng hai câu ca dao:
“Gặp đây mới biết anh còn Năm Thìn giông bão em khóc mòn con ngươi”
Đầu Xuân Mậu Thân 1968, trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy của quân dân ta tại đây, bà con nhân dân sơ tán vào lánh nạn trong đình rất đông. Tên Quận trưởng Mỹ Xuyên cho đó là lực lượng quân giải phóng bèn gọi máy bay Mỹ đến trút 3 quả bom xuống ngôi đình, nhưng cả 3 quả bom đều bị lép, nhân dân đều được an toàn. Sau đó bọn Mỹ đến đình mang 3 quả bom ra cánh đồng trống thử lại thì cả 3 quả đều nổ tung. Từ sự kiện này, tiếng tăm thần đình càng thêm linh hiển…
Về lễ hội đình, ngày xưa trong làng tổ chức lễ cúng Kỳ Yên vào ngày rằm tháng 9 âm lịch, sau này vì tháng 9 âm lịch thường có mưa dầm nên lễ hội Kỳ Yên được đổi lại vào ngày rằm tháng 2 âm lịch, còn ngày rằm tháng 9 chỉ cúng nhỏ cho có lệ.
Theo phong tục ngày ấy, đến lệ cúng đình, Ban hội đình cùng bà con cô bác trong xã nhà tề tựu về đình, cầu nguyện mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu, cầu cho dân giàu nước mạnh, bà con cô bác đều được mọi sự bình yên và cầu siêu cho vong linh những vị anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc.
Về việc cúng lễ, nếu năm nào Ban hội đình có đủ khả năng tài chánh thì rước gánh hát bội về hát 3 đêm, còn năm nào không đủ tài chánh thì chỉ cúng 1 ngày đêm.
Sáng ngày rằm vào lễ, nếu có hát Bội thì 7 giờ sáng làm lễ thỉnh Thần, thỉnh Thần là đi thỉnh các chùa miếu trong làng xã. Cuộc rước lễ có khiêng Long đình theo, có lễ nhạc và lân múa, Ban hội thì khăn áo chỉnh tề, có 4 cô đào hát cùng đi thỉnh. Thỉnh xong về là khoảng 10 giờ, Hội đình sửa soạn cúng Bầu ông, tức cúng miếu Ông Hổ ở cạnh bên đình, trong lễ cúng cũng có lễ nhạc và đọc văn tế của Ông Hổ.
Đến chiều khoảng 15 giờ là tế Thần Nông, thờ trước sân đình. Lễ cúng Thần Nông thì tất cả mõ, trống, chuông đều khiêng ra trước sân đình. Ban hội đình khăn áo chỉnh tề, tề tựu trước bàn thờ Thần Nông, năm nào có tài chánh thì cúng một con heo trắng, không đủ tài chánh thì cúng đầu heo (thủ vĩ), trên bàn phải đơm hai mâm xôi thật vung và hương đăng trà quả. Cuộc lễ cúng rất long trọng và trang nghiêm, trong Ban hội đốt hương cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, làm mùa màng được trúng, bà con cô bác được sung túc, bình an. Học trò lễ xướng lên lời cho Ban hội rót rượu và quỳ lạy, xong tuần rượu thứ ba thì ông Hương Văn quỳ xuống, đọc một bài văn tế, tế Thần Nông, đọc xong thì cúng một tuần trà là xong cuộc lễ, cúng cỡ 1 tiếng đồng hồ, khi xong Ban hội sửa soạn cúng một mâm cho chiến sĩ trận vong đã hy sinh vì Tổ quốc.
Khoảng từ 16 giờ đến 18 giờ ngày rằm, những gia đình trước kia có Ban hội đình đã qua đời thì làm mộc chủ (là thanh gỗ khắc hoặc ghi tên họ người quá cố để thờ tại đình và bà con trong xã bưng nào mâm xôi, trái cây tấp nập đến cúng, mỗi mâm đều có ghi tên chủ nhân dán trên mâm. Đến sang ngày 16 bà con lần lượt đến lấy, có người hiến cả xôi, chỉ lấy mâm về thôi, đa số để lại một phần cho Ban hội đình đãi khách.
Đến 19 giờ, Ban hội bắt đầu cúng lễ Chúc Yết, là lễ những vị khách mời của ông Thần. Ban hội khăn áo chỉnh tề, có 8 em học trò lễ, ban nhạc tề tựu. Năm nào tài chánh khá thì rước hát bội hoặc hát Hồ Quảng, không thì chỉ cúng một đêm rằm, bên ngoài có lập một giàn Thay Đố, lễ cúng rất long trọng và trang nghiêm. Lễ cúng là con heo trắng (hoặc đầu heo), vị chủ lễ kiểm soát xong là về vị trí cũ, em học trò lễ xướng lên “Chấp sư giã, cát tư kỳ sự” thì ông Chánh Bái bưng khay lên, trong khay có để 3 cái dùi (trống, mõ và chuông) ông đưa lên vái, có 3 người trong Ban bước lên nhận mỗi người một dùi, mỗi dùi có quấn vải đỏ, mỗi người nhận xong đứng xá rồi về vị trí cũ. Kế đến em học trò lễ xướng “Khởi thát” là đánh mõ thì ông đánh mõ đánh chậm rãi 03 hồi lại 3 dùi rồi ngưng. Em xướng lên “Khởi chung” là đánh chuông, đánh giống như mõ. Tiếp theo em xướng “Trước tửu” là rót rượu, rót trong 2 cái ly của em đi sau, em xướng lên “Bình thân” thì 2 ông trong Ban hội và học trò lễ đứng lên và bước đi theo nhịp điệu của ban trống nhạc.
Làm như thế trong 3 lần rót rượu, kế đến em xướng “Đọc chúc” thì ông Hương Lễ quỳ xuống, 2 em quỳ hai bên, tay bưng đèn, nội dung bản đọc chúc là đình tọa lạc tại đâu, lai lịch vị Thần và được phong sắc năm nào, đời vua nào và sau đó là phong các vị có công với vua thuở đó.
Đọc chúc xong học trò đi một tuần trà nữa là xong cuộc lễ cỡ 2 tiếng đồng hồ. Khi cúng xong nếu có gánh hát thì hát cúng 6 lễ: lễ thứ nhất (Điền Hương, Điền Hoa), lễ thứ hai (Nhựt Nguyệt), thứ ba (Bát Tiên), thứ tư (Tứ Thiên Hương), thứ năm (Đại Bội), thứ sáu (Giao Hoan) ông Địa dâng liễn.
Sáu lễ xong gánh hát bắt đầu trình diễn trong khoảng từ 21 giờ đến 1 giờ khuya. Cỡ một tiếng đồng hồ sau, Ban hội đình sửa soạn cử cúng khuya, tục gọi là Chánh Tế, nghi lễ cúng giống lễ cúng đầu hôm: cũng học trò lễ, 4 cô đào thài, 4 em đứng hầu thần, cúng khoảng 2 tiếng là xong, lối khoảng 4 giờ sang Ban hội đi nghỉ.
Đến 9 giờ ngày 16/2 cúng Tiền Vãng, cúng những người có công với đình nay đã quá vãng và cúng một mâm cho các chiến sĩ trận vong hy sinh vì Tổ quốc.
Đến 11 giờ trưa, Ban hội mời tất cả Ban hội các chùa, miếu trong làng xã và bà con cô bác đến chung vui dùng bữa cơm thân mật, có khi gánh hát hát liền 2 đêm sau để cho bà con đến chiêm bái linh Thần thưởng thức.
Cũng như những đình khác, lễ hội Kỳ Yên là một sinh hoạt văn hóa của người Kinh đã có từ lâu đời. Đây là dịp để bà con dân làng tề tựu đông đủ sau một năm lao động và thu hoạch mùa màng, để có dịp ôn lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của tổ tiên và cũng là để dịp tình làng nghĩa xóm càng thêm thắt chặt.
Ngoài những lễ nghi cúng đình, thì đình thần Mỹ Xuyên còn là di tích kiến trúc nghệ thuật: Có thể nói so với các ngôi đình khác ở Sóc Trăng, Đình thần Mỹ Xuyên là một công trình kiến trúc nghệ thuật còn giữ được khá nguyên vẹn lối kiến trúc đình làng xưa của người Kinh Nam bộ. Một đặc điểm độc đáo là ngôi đình này nằm kế cận các công trình tôn giáo khác của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Trên một đoạn của Hương lộ 12 chừng 1 km từ hướng Sóc Trăng về ta bắt gặp lần lượt: Nhà thờ Mỹ Xuyên (thánh đường công giáo của người Kinh), Đình thần Mỹ Xuyên, Chùa Ông Bổn (của người Hoa), Miếu Ba Thắc (miếu thờ ông Ba Thắc - một viên chỉ huy nông dân tử trận ngày xưa), chùa Bãi Xàu (tức chùa “Bai Chhau” của người Khmer), Chùa Phước Lâm (chùa của người Kinh).
Du khách nơi khác đến đây ắt sẽ ngạc nhiên tự hỏi vì sao có sự hội tụ của quần thể kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng này nếu không biết được rằng nơi đây trước kia đã từng là một “Đô thị đệ nhất hạng” tức đô thị loại 1 theo nghị định phê chuẩn của Thống đốc Nam kỳ.
Đình tọa lạc tại một khuôn viên rộng khoảng 2.000 m2, dựng trên một nền có diện tích 800 m2, cổng nhìn về hướng Đông - Bắc. Từ cổng một khoảng sân rộng 20 m lát gạch Tàu, đi vào 15 m là đến mặt tiền đình là một mặt dựng được xây từ năm 1941. Giữa sân đình là bàn thờ Thần Nông, bên trái là miếu thờ Thần Hổ (Sơn Quân), bên trái thờ Ngũ Hành.
Kiến trúc đình phân bố ba gian theo hình chữ tam, hai bên lợp mái ngói bát vần che hai dãy hành lang suốt dọc chiều dài. Sườn mái được đỡ bởi 4 hàng cột dọc bằng loại gỗ căm xe đã có từ lần trùng tu đầu tiên (năm 1880). Đặc biệt trên 4 cột tròn ở gian thờ chính, nghệ nhân đã đắp hình 4 con rồng quấn quanh bằng một chất bột và keo hỗn hợp trông rất đẹp và sinh động. Dọc trên các thanh xà ngang dọc là các bức bích họa bằng vôi vữa vẽ phong cảnh, hoa văn và các thần tích từ năm 1941 đến nay mà màu sơn nét vẽ hãy còn tươi đỏ.
Bộ vì kèo được làm bằng gỗ tốt, được gia công bằng kỹ thuật bào trơn đóng bén, tuy không chạm trổ hoa văn nhưng được kết cấu rất vững vàng. Trên các xà ngang treo 6 bức hoành phi bằng gỗ tốt chữ khắc sơn son thếp vàng theo các kiểu đã có từ giữa cuối thế kỷ XIX góp phần làm tăng giá trị nội thất của ngôi đình. Giữa 3 gian đình được bày trí 8 bàn thờ với các chức năng bàn thờ binh tướng ở gian đầu, giữa là bàn thờ Hội đồng, gian sau được ngăn bởi bức vách, phía trước vách có khánh thờ Thành Hoàng ở giữa, hai bên là hai khánh thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền. Trước gian thờ thần là một khung cửa trám bằng gỗ tốt được trang trí chạm khắc khá đẹp, đặc biệt là khánh thờ Thành Hoàng, Tả Ban, Hữu Ban, Tiền Hiền, Hậu Hiền đều được làm bằng gỗ tốt, sơn son thếp vàng trang trí hoa văn sắc xảo và trang trọng.
Trước bệ thờ thần uy nghi, người ta cho đắp hai con hạc đứng trên lưng quy, một con ngựa bên phải và một cánh võng bên trái được làm lại từ năm 1984 sau khi các di vật cũ đã bị hư mục.
Đầu năm 2003, do một số vì kèo bị mối mọt hư hỏng nặng, mái ngói gian giữa bị hư dột nhiều, Ban trị sự đình phải dỡ vì kèo hư và cặp rồng trên nóc ngói tạm cất vào hậu đình, thay vào các vì kèo mới và tạm lợp bằng tôl màu đỏ.
Hiện nay đình còn giữ được các di vật có giá trị như: Long đỉnh rước sắc thần, hai con chim Hạc, một con ngựa, Bát bửu bằng đồng hai bộ, Lư đồng bảy bộ, Hoành phi sáu bức, giá võng một cái, Chiêng đồng một chiếc.
Đình thần Mỹ Xuyên là một công trình kiến trúc nghệ thuật tín ngưỡng dân gian được xây dựng từ thế kỷ XIX và còn giữ được khá nguyên vẹn mô típ kiểu kiến trúc đình làng xưa của người Việt ở Nam Bộ.
Ngày 12 tháng 5 năm 2004, Ủy Ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định số 655/QĐHC.04-CTUBT, công nhận đình thần Mỹ Xuyên là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh.
Đây là một di tích tiêu biểu nhất trong các đình làng ở Sóc Trăng. Cùng với các công trình tôn giáo tín ngưỡng lân cận khác, đình thần Mỹ Xuyên đã tô đậm thêm nét độc đáo nền văn hóa của ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa ở Sóc Trăng, xứng đáng góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.
Hồ sơ di tích - Bảo tàng tỉnh
https://www.soctrang.gov.vn/wps/port...inhthanmyxuyen
-
Miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu tại thị trấn Hưng Lợi, Sóc Trăng
Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông (Sóc Trăng): Di tích lịch sử cấp quốc gia
Nguồn: website dulichsoctrang
Cập nhật: 06/08/2013, 14:11:11
Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông hay còn được gọi là Miếu Bà Mỹ Đông, toạ lạc tại ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Qưới, huyện Ngã Năm, là một trong tám di tích cấp quốc gia của tỉnh, cách thành Phố Sóc Trăng 60 km về hướng Đông - Bắc, cách thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị khoảng 20km.
Ngôi miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là nơi lưu dấu sự ra đời Chi bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu tiên tỉnh Sóc Trăng - Chi bộ Mỹ Quới vào tháng 6/1930. Nơi đây được chọn làm điểm để chi bộ sinh hoạt, do có địa thế cách trở, đảm bảo được bí mật. Từ ngày thành lập chi bộ, đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Chi bộ Đảng của Mỹ Qưới luôn đi đầu trong phong trào cách mạng.
Khi đất nước hòa bình, bà con ở đây đã cùng nhau dựng lại ngôi miếu bằng tre gỗ và lợp lá để thờ cúng. Sau đó, tỉnh được Trung ương đầu tư kinh phí khôi phục lại ngôi miếu và xây thêm một số hạng mục khác. Hiện nay, nhà trưng bày hiện vật, cổng chính, hàng rào đã xây dựng hoàn thiện, đưa vào phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của người dân, cũng như tìm về với lịch sử của tỉnh Sóc Trăng của du khách gần xa. Cách ngôi miếu khoảng 200m về hướng Bắc là khu mộ của đồng chí Trần Văn Bảy-người đảng viên kiên cường, cũng là người lãnh đạo của Chi bộ Mỹ Quới (di hài được cải táng từ Côn Đảo về năm 1998) và song thân của Ông.
Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông mang ý nghĩa lịch sử cách mạng vô cùng to lớn. Những Đảng viên của chi bộ hoạt động nơi đây đã góp phần đưa ánh sáng cách mạng và đường lối chính sách của Đảng đến với mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên chọn nơi đây làm địa điểm tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng hàng năm, nhằm ôn lại truyền thống cách mạng và động viên giáo dục tinh thần cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Lễ vía Bà được tổ chức long trọng hằng năm vào ngày 16/2âl, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách các nơi về tham dự. Năm 2003, Bộ Văn hoá Thông tin, nay là Bộ VHTTDL ban hành Quyết định 62 công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là di tích lịch sử cấp quốc gia ./.
-
https://www.bookin.vn/hoi-thac-con-le-cung-dua
Hội Thắc Côn (Lễ cúng Dừa)
An Trạch, thị trấn Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
tên địa danh,địa điểm. Ví dụ: Hồ hoàn kiếm
TÌM ĐỊA DANH
Lễ hội Thác Côn còn được dân gian gọi là lễ hội Cúng Dừa, vì thức cúng chủ yếu trong lễ hội này là hàng ngàn trái dừa tươi. Lễ hội diễn ra được tính theo Phật lịch của người Khmer, nhưng thường tương ứng với rằm tháng Ba âm lịch. Lễ hội được tổ chức tại An Trạch, thị trấn Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Lễ hội Thác Côn đã tồn tại gần trăm năm, gắn với truyền thuyết về chiếc Cồng Vàng của vùng An Trạch xưa. Truyền thuyết ấy kể rằng: ngày xưa ở An Trạch tự nhiên nổi lên một cái gò hình dạng như chiếc cồng. Chân người dẫm lên phát ra âm vang như tiếng cồng. Được ít lâu, tiếng cồng trong gò đất nhỏ dần rồi mất hẳn.
Đồng bào Khmer xã An Hiệp huyện Châu Thành tổ chức lễ Cầu an Thác Côn, hay còn gọi là lễ Cúng Dừa, vì ai đến dự lễ này cũng phải mua một cặp dừa để cúng ông tà Thác Côn.
Nhân gian bèn lập một ngôi miếu thờ. Hàng năm, dân làng An Trạch cùng nhau tổ chức lễ hội cầu an ở miếu này và gọi đó là lễ hội Thác Côn. Trong tiếng Khmer, Thác Côn có nghĩa đạp cồng, gợi lại sự tích về tiếng cồng chiêng vang lên từ đất. Lễ hội Thác Côn có lệ cúng những chiếc bình bông làm bằng trái dừa. Nét độc đáo của vật cúng khiến người ta còn gọi lễ này bằng cái tên lễ Cúng Dừa.
Cho đến nay, vẫn chưa có ai khẳng định lễ Cúng Dừa xuất hiện từ thời điểm nào, bởi khi họ sinh ra thì lễ này đã được tổ chức hàng năm và bà con cứ làm theo truyền thống của người xưa. Tuy nhiên, theo các cụ trưởng bối kể lại, thì lễ này đã có niên đại trên 100 năm, vì khu vực này trước đây tàu, bè lưu thông được dễ dàng. Theo tục truyền có một nhóm trẻ khi đang chăn trâu, phát hiện có gò đất nổi lên, chúng lấy chân đạp thử lên mô đất ấy, bỗng nhiên có tiếng vang vọng từ trong lòng đất phát ra “keng, keng, keng” như tiếng đánh cồng chiêng. Thấy lạ, mọi người ai cũng đến đạp thử, thì đều nghe tiếng vọng. Thời gian sau này, có một phụ nữ bụng mang dạ chửa cũng muốn đạp xem có nghe tiếng cồng chiêng như mọi người nói hay không? Khi chị lấy chân đạp lên mô đất, thì không nghe thấy gì nữa. Trước hiện tượng này, đồng bào Khmer đặt tên địa danh này là “Thác Côn” theo tiếng Việt là “đạp cồng chiêng”.
http://www.phattuvietnam.net/thumbna...article_medium
Trước Miếu thờ Ông Tà Thác Côn, người ta thiết kế làm một cái vựa, được bao bọc bởi lưới sắt hình chữ nhật cao hơn đầu người. Cặp dừa đem cúng trong miếu đặt trước bàn thờ Ông Tà Thác Côn, cúng xong trái dừa được để vào trong lưới sắt để không tràn lan ra ngoài. Người ta cúng dừa với tín ngưỡng dân gian truyền thống, cầu cho “Tấm lòng trong trắng như nước ở trong trái dừa”.
http://www.tuyengiao.soctrang.gov.vn...dfb9597b37fc/1
Lễ hội Thác Côn cũng như lễ Cầu an, Cầu phước của đồng bào Khmer nên tính chất nông nghiệp của nó thể hiện ngay trong các lễ vật dâng cúng là những thứ hoa trái giàu sắc thái bản địa của cộng đồng các dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long như trầu cau, hoa sen và trái dừa. Các thứ hoa trái tượng trưng cho sự thanh khiết và thiêng liêng ấy tập trung trên một vật cúng hết sức đặc biệt mà đồng bào Khmer gọi là Slathođôn – bình bông làm bằng trái dừa. Phần cây bông được tạo thành bởi những lá trầu xanh và những bông hoa. Miếng trầu, lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức đám cưới, giỗ cúng tổ tiên của các dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long được cụm thành chiếc lá để trang trí cho Slathođôn.
Hoa sen với ý nghĩa cao khiết, thánh thiện đã trở thành phổ biến trong văn hóa dân gian, chiếm vị trí chủ đạo để làm nên hình tượng cây bông. Ngoài ra, người ta đôi khi cũng trang hoàng thêm bông huệ, bông cúc vạn thọ nhằm mục đích phối hợp màu sắc nhưng vẫn thống nhất về ý nghĩa Cúng Dừa. Phần đế cắm hoa được làm bằng trái dừa, loại quả có nước tinh khiết, ngọt lành chẳng những chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người Nam bộ, mà còn hiện diện trong hầu hết các lễ lộc, mang ý nghĩa cầu phước, cầu an. Trên cái đế cắm độc đáo bày hoa lá, nhang đèn, sắp xếp gọn ghẽ. Bình hoa Slathođôn giản dị, tiết kiệm và khá đẹp mang tính tượng trưng rất cao là lễ vật chủ yếu trong lễ cúng.
Có đến hàng chục giống dừa to nhỏ, màu sắc khác nhau thì cũng có đến hàng trăm kiểu phối hợp để tạo nên vô số Slathođôn đủ cỡ, đủ màu. Vào dịp lễ hội này, dân làng An Trạch, nhất là thanh niên nam nữ thu xếp việc nhà, sắm sửa trang phục để trẩy hội cầu phước và đây cũng là dịp gặp gỡ bè bạn, người thân. Theo lệ, người dân tự sửa soạn Slathođôn cho mình. Nhưng khách phương xa mỗi năm một đông nên nhiều gia đình khéo tay đã trở thành đầu mối cung ứng vật cúng cho các thiện nam, tín nữ. Tính ra mỗi kỳ lễ hội, An Trạch phải nhập hàng vạn trái dừa. Người dự hội thường cầu phước cho cả gia đình nên cũng sắm sửa luôn hương hoa, dầu gió, chỉ đỏ để lấy may, lấy phước về nhà. Dân gian quan niệm, đi lễ hội, viếng danh lam thắng cảnh là đem cái phước, cái lành về nhà. Người ta dâng cúng các vật phẩm như dầu gió, chỉ đỏ, cả hạt giống lúa, bắp, rồi mang về phòng khi trở trời trái gió có phương dược để khui phong; khi cưới xin có chỉ hồng buộc tay cho con cháu lấy hên; khi vào vụ có hạt giống lành gieo trồng để cầu cho mùa màng sung túc…
http://lephuong.jcapt.com/img1/store...ecungdua_1.jpg
Nghi thức cúng dừa làm cho lễ hội Thác Côn mang nét đặc trưng riêng với cảnh tượng ngoạn mục hiếm thấy ở bất kỳ lễ hội nào. Tuy nhiên, nhìn từ sự tích đến thời điểm tổ chức, từ lễ vật đến nghi thức cúng bái, Thác Côn là hình ảnh của một lễ cầu an, làm phước theo truyền thống văn hóa của đồng bào Khmer ở Nam bộ trong bối cảnh giao lưu về tập tục, tín ngưỡng của các dân tộc anh em trong khu vực.
Trong mỗi kỳ lễ hội, vùng An Trạch đón hàng vạn lượt khách từ khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về dự lễ. Họ đến đây vừa để trẩy hội vừa thành kính dâng hương khấn Phật cầu mong cho cuộc sống được bình an. Khách từ phương xa có đến lễ Cúng Dừa vào buổi tối cũng chẳng ngại lỡ độ đường, bởi đêm lễ hội Thác Côn là đêm thức trắng. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí diễn ra náo nhiệt, quán ăn, quán nước phục vụ tận sáng. Nam thanh, nữ tú của ba dân tộc có dịp giao lưu, kết bạn, An Trạch chan hòa không khí nô nức của đêm hội trăng rằm. Lễ Cúng Dừa kéo dài ba ngày, buổi chiều ngày thứ ba kết thúc lễ hội, nhưng dư âm vẫn còn đọng lại trên những trái dừa chất đống cao như núi trong sân miếu Thác Côn. Đó chính là lúc dân làng An Trạch thực hiện nghi lễ cuối cùng, nghi lễ đậm tính chất nông nghiệp, bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa mà những du khách ở phương xa ít có dịp chứng kiến.
-
[PDF]Download
repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/58194/1/Binder12.pdf
viết bởi KQ Trần - 2015
C. Cửa Trấn Dj (1). Vào khoảng năm 1970, Cửa sông Ba Thắc bị vùi lấp nên Sông Cửu Long hiện nay chỉ còn 8 cửa, nhưng miếu Ba Thắc ở đây hãy còn. Miếu Ba Thắc hiện nay tọa lạc trên một khuôn viên rộng lớn, Cây cối Sum Suê, thuộc khu vực Chợ Cũ, huyện. Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Trước đây, ngôi miếu này nổi.
-
-
-
PHÓNG SỰ ẢNH Người dân Sóc Trăng đi lễ chùa trăm tuổi ngày đầu năm
07:13 - 19/02/2018
(VOH) - Những ngày đầu năm mới, nhiều người dân Sóc Trăng đã đến lễ chùa Thiên Hậu Cổ Miếu - một trong những ngôi chùa lâu đời nhất tại Sóc Trăng. Thiên Hậu Cổ Miếu (hay còn gọi là chùa Thiên Hậu Triều Châu) có lối kiến trúc đặc trưng của người Hoa qua gam màu đỏ phối hợp cùng nhiều dòng chữ hán ánh kim, ngôi chùa này đã có lịch sử hơn 100 năm. Được lập nên bởi cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đến sinh sống, Thiên Hậu Cổ Miếu đã tạo thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương. Chùa tọa lạc tại đường Lý Thường Kiệt, thị trấn Mỹ Xuyên, cách trung tâm Thành phố Sóc Trăng 7km. (Phùng Hạo)
Thiên Hậu Cổ Miếu (hay còn gọi là chùa Thiên Hậu Triều Châu) có lối kiến trúc đặc trưng của người Hoa qua gam màu đỏ phối hợp cùng nhiều dòng chữ hán ánh kim.
Thiên Hậu Cổ Miếu (hay còn gọi là chùa Thiên Hậu Triều Châu) có lối kiến trúc đặc trưng của người Hoa qua gam màu đỏ phối hợp cùng nhiều dòng chữ hán ánh kim.
Ngôi chùa này đã có lịch sử hơn 100 năm.
Ngôi chùa này đã có lịch sử hơn 100 năm.
Được lập nên bởi cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đến sinh sống, Thiên Hậu Cổ Miếu đã tạo thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương.
Được lập nên bởi cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đến sinh sống, Thiên Hậu Cổ Miếu đã tạo thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương.
Ngôi chùa thu hút nhiều khách tham quan từ khắp nơi đổ về. Vào dịp Lễ Tết, đi chùa hái lộc, cầu may là một nét văn hóa không thể thiếu đối với bất kì ai.
Ngôi chùa thu hút nhiều khách tham quan từ khắp nơi đổ về. Vào dịp Lễ Tết, đi chùa hái lộc, cầu may là một nét văn hóa không thể thiếu đối với bất kì ai.
Bên cạnh đèn lồng, nhang vòng là điểm đặc biệt của mỗi ngôi chùa Hoa. Những cuộn nhang được xếp theo hàng, gọn gàng từ cao xuống thấp. Đến viếng chùa, người dân thường mua nhanh và ghi tên mình vào với hy vọng cầu may, phúc lộc trong năm mới.
Bên cạnh đèn lồng, nhang vòng là điểm đặc biệt của mỗi ngôi chùa Hoa. Những cuộn nhang được xếp theo hàng, gọn gàng từ cao xuống thấp. Đến viếng chùa, người dân thường mua nhanh và ghi tên mình vào với hy vọng cầu may, phúc lộc trong năm mới.
PHÓNG SỰ ẢNH Người dân Sóc Trăng đi lễ chùa trăm tuổi ngày đầu năm
07:13 - 19/02/2018
(VOH) - Những ngày đầu năm mới, nhiều người dân Sóc Trăng đã đến lễ chùa Thiên Hậu Cổ Miếu - một trong những ngôi chùa lâu đời nhất tại Sóc Trăng. Thiên Hậu Cổ Miếu (hay còn gọi là chùa Thiên Hậu Triều Châu) có lối kiến trúc đặc trưng của người Hoa qua gam màu đỏ phối hợp cùng nhiều dòng chữ hán ánh kim, ngôi chùa này đã có lịch sử hơn 100 năm. Được lập nên bởi cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đến sinh sống, Thiên Hậu Cổ Miếu đã tạo thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương. Chùa tọa lạc tại đường Lý Thường Kiệt, thị trấn Mỹ Xuyên, cách trung tâm Thành phố Sóc Trăng 7km. (Phùng Hạo)
Thiên Hậu Cổ Miếu (hay còn gọi là chùa Thiên Hậu Triều Châu) có lối kiến trúc đặc trưng của người Hoa qua gam màu đỏ phối hợp cùng nhiều dòng chữ hán ánh kim.
Thiên Hậu Cổ Miếu (hay còn gọi là chùa Thiên Hậu Triều Châu) có lối kiến trúc đặc trưng của người Hoa qua gam màu đỏ phối hợp cùng nhiều dòng chữ hán ánh kim.
Ngôi chùa này đã có lịch sử hơn 100 năm.
Ngôi chùa này đã có lịch sử hơn 100 năm.
Được lập nên bởi cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đến sinh sống, Thiên Hậu Cổ Miếu đã tạo thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương.
Được lập nên bởi cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đến sinh sống, Thiên Hậu Cổ Miếu đã tạo thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương.
Ngôi chùa thu hút nhiều khách tham quan từ khắp nơi đổ về. Vào dịp Lễ Tết, đi chùa hái lộc, cầu may là một nét văn hóa không thể thiếu đối với bất kì ai.
Ngôi chùa thu hút nhiều khách tham quan từ khắp nơi đổ về. Vào dịp Lễ Tết, đi chùa hái lộc, cầu may là một nét văn hóa không thể thiếu đối với bất kì ai.
Bên cạnh đèn lồng, nhang vòng là điểm đặc biệt của mỗi ngôi chùa Hoa. Những cuộn nhang được xếp theo hàng, gọn gàng từ cao xuống thấp. Đến viếng chùa, người dân thường mua nhanh và ghi tên mình vào với hy vọng cầu may, phúc lộc trong năm mới.
Bên cạnh đèn lồng, nhang vòng là điểm đặc biệt của mỗi ngôi chùa Hoa. Những cuộn nhang được xếp theo hàng, gọn gàng từ cao xuống thấp. Đến viếng chùa, người dân thường mua nhanh và ghi tên mình vào với hy vọng cầu may, phúc lộc trong năm mới.
-
PHƯỚC ĐỨC MIẾU (PHƯỜNG 9, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG ...
Biên soạn Gia Phả
PHƯỚC ĐỨC MIẾU (PHƯỜNG 9, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG)
-
-
Bảo Tạng Như Lai - Châu Phước Huy
chauphuochuy.com/bvct/hdvphuochuy/109/bao-tang-nhu-lai.html
Translate this page
Vua Vô Tránh Niệm xem thấy đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chânngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốtđẹp, chung quanh thân ...
=============
bảo tạng như lai
(寶藏如來) Còn gọi là Bảo tạng Phật. Là con trai của Phạm chí Bảo hải, sau khi xuất gia thành đạo, hiệu là Bảo tạng Như lai. Khi còn là vua Vô tránh niệm ở đời quá khứ xa xưa, Phật A di đà đã y vào đức Phật này mà phát tâm thành đạo. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.43 phẩm Mã huyết Thiên tử; kinh Bi hoa Q.8).
http://phatam.org/dictionary/detail/...ang-nhu-lai/12
bảo tạng
(寶藏) Có nghĩa là kho tàng cất chứa những vật trân quí. Có hai thí dụ: I. Bảo tạng. Thí dụ Diệu pháp huyền nhiệm có khả năng cứu giúp chúng sinh khổ nạn. Còn gọi là Pháp tạng. Kinh Vô lượng thọ (Đại 12, 269 hạ), nói: Kho báu vô lượng tự nhiên phát ứng, giáo hóa an lập vô số chúng sinh. [X. kinh Pháp hoa phẩm Tín giải; kinh Văn thù sư lợi hiện bảo tạng]. II.Bảo tạng. Thí dụ tự tính bản lai, cũng tức là Phật tính. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 (Đại 51, 440 hạ), nói: Kho báu của chính nhà ngươi đầy đủ hết thảy, tự do sử dụng, chẳng phải đi tìm ở ngoài.
http://anphat.org/dictionary/detail/...67/bao-tang/21
==========
BẢO TẠNG
Kho chứa trữ những của cải, tiền bạc, châu báu của một nhà đại phu hoặc của một nhà vua. Pháp vi diệu của Phật mà Phật thuyết ra trong một đời, gom trong ba Tạng kinh, hoặc chứa trong tâm trí của một đức Phật, một đức Bồ Tát, cũng kêu là Bảo tạng.
Cũng như bực quốc trưởng hay nhà giàu có dùng đồ châu báu trong kho đem ra mà cất nên nhà cửa xuê lịch hoặc bố thí cho kẻ nghèo, cũng như thế, bực Phật, Bồ Tát dùng biết bao pháp môn mà giáo hóa tế độ cho chúng sanh! Cho nên tất cả các Pháp của Phật, Bồ Tát gom lại kêu là Bảo tạng.
Bảo Tạng lại là tên một đức Phật quá khứ. Ngài là con ông Phạm Chí: thầy tu đạo Bà La Môn Bảo Hải. Ngài xuất gia, tu thành Đạo, lấy hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Đức Phật A Di Đà và đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều nương theo ngài mà phát tâm thanh thành Đạo.
Theo từ điển Phật học Hán Việt của Đoàn Trung Còn
http://www.hoalinhthoai.com/buddhist...har-2702/.html
==========
Nam-mô Thuần Bảo Tạng Như Lai của Thế Giới Nguyệt ở phương đông.
https://hoavouu.com/images/file/riNH...-niem-kinh.pdf
-
“THIÊN TỬ” VÀ “BẢO GIANG”… TRONG SẤM TRẠNG TRÌNH “XUẤT“ TỪ VÙNG HÀ NAM CHĂNG?
Bảo Giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành?
Chỗ ngã ba này là nơi giáp ranh 3 đơn vị hành chính: phường Lương Khánh Thiện của thị xã Phủ Lý, thôn Ba của xã Phù Vân, xóm Bắc Sơn của xã Châu Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam) nơi phát xuất của sông Châu Giang...
Đây là đoạn thơ nói về vị Thiên tử bằng chữ Hán nôm:
"Dục thức Thánh nhân xứ
Đa xuất ứng Bảo Giang
Dục thức Thánh nhân hương
Thủy lam bảo trung tàng
Dục thức Thánh nhân tính
Mộc hạ liên đinh khẩu
Dục thức Thánh nhân diện
Tu tầm chương trích cú
Giang Nam nhị thủy huyện
Tại sơn vô hổ lang
Thất thập nhị hiền tướng
Phụ tá Thánh quân vương
Phá điền thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành"
Và một đoạn khác, nhưng đã thất lạc mất những câu đầu, chỉ còn ba câu cuối:
".........................
.........................
Tư tâm dục thức thánh nhân diện
Lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối
Thủ túc chánh vương tam lương tự"
Đầu tiên chúng ta để ý đến câu sau:
"Dục thức Thánh nhân diện
Tu tầm chương trích cú"
Cụ Trạng đã chỉ ra rằng để nhận diện vị Thánh quân thì "tầm chương trích cú". Nghĩa là hãy tìm những đoạn trong bài Sấm có liên quan đến vị Quân vương và ghép lại với nhau...
Một trong những đặc điểm của đức Thánh quân được cụ Trạng nêu ra:
"Tư tâm dục thức thánh nhân diện
Lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối
Thủ túc chánh vương tam lương tự"…
Câu: "lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối". Hai bên "bàn ngạt" cùng một khối là sao? Có lẽ cần một ai giỏi Hán nôm giải thích giúp. Nhưng câu cuối thì khá rõ là trong lòng bàn tay "thủ túc" có chữ "vương 王" ("tam lương tự" là chữ Vương). Vậy chắc trong bàn tay của Thánh quân có các văn tạo thành chữ "Vương" với ba vạch ngang và một vạch sổ ở giữa. Và câu "lưỡng biên bàn ngạt tủy nhất khối" có lẽ chỉ ra rằng chữ "Vương" có cả ở hai bàn tay...
Đây là một đặc điểm để nhận diện ra vị Thánh quân.
Trong phần dịch ra chữ quốc ngữ có câu: "Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương" có lẽ xuất phát từ đoạn Hán nôm này và dùng chữ "Thủ" là "đầu". Trên đầu hay trên mặt mà hiện ra các nét có chữ "Vương" kể ra rất khó.
Tiếp nữa:
"Dục thức Thánh nhân tính
Mộc hạ liên đinh khẩu"
"Tính" ở đây là tính danh, nghĩa là tên của "Thánh nhân". "Mộc hạ liên đinh khẩu" là trong tên của Thánh nhân có chữ Mộc ở phía dưới và phát âm có vần "inh" (đinh). Chữ "khẩu" có nghĩa là "cái mồm", nhưng cũng có nghĩa là "phát âm".
Chúng ta cùng phân tích về địa danh "Bảo Giang" trong câu:
"Bảo Giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành"...
Chữ "Bảo" tiếng Hán nôm nghĩa là "châu báu"…
Có người cho rằng "Bảo Giang" là sông Cửu Long trong Nam. Nhưng cụ Trạng đã có câu khác:
"Quá kiều cư Bắc phương"…
Vậy thì dòng sông này phải ở phía Bắc, không phải là sông Cửu Long
Lại tiếp:
"Thần châu thu cả mọi phương vẹn toàn"
có chữ "thần châu"...
Tiếp nữa: "Việt Nam hữu Ngưu tinh"; "Ngưu tinh" là "thần Trâu", vẫn là chữ "châu" được nói lái.
Trong cuốn "Tích hợp đa văn hóa Đông Tây" của GS Nguyễn Hoàng Phương, ông có nhắc đến một người là nữ thiền tu có danh với ba chữ cuối là "Trúc Lâm Nương" . Bà có một am thiền ở quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Vào khoảng năm 1996, lúc đó bà đã hơn 90 tuổi nhưng trông vẫn rất mạnh khỏe. Bà thiền theo cách nhịn ăn rất lâu (chỉ ăn có 3 ngày trong tháng, 27 ngày kia bà chỉ uống nước lã). Bà có bài thơ thiền về dòng Bảo Giang như sau:
"Đố ai biết được Bảo Giang môn?
Là nơi Thánh chúa, Thiên tôn định phần
Xuất giang môn, hóa giang môn
Ly nơi đông thổ xoay vần tây phương"
Khi hỏi về bài thơ thì bà cho biết đó là thơ thiền, bà nhận được trong lúc thiền và chép lại, còn ý nghĩa thì bà không giải thích được. Chúng ta thấy với mấy câu thơ thiền này thì dòng Bảo Giang "xuất giang môn, hóa giang môn" là một dòng sông nhánh, bắt nguồn (xuất) từ một con sông và đổ ra (hóa) con sông khác và dòng chảy từ Đông sang Tây, khác hẳn với các dòng sông chính ở Việt Nam là luôn chảy từ Tây sang Đông.
Nếu xét theo địa lý thì chính dòng chảy ngược này cũng là một đặc điểm đem lại linh khí cho vùng đất nơi dòng sông chảy qua.
Tất cả những điều trên chỉ sáng tỏ khi trong một lần đi du lịch tôi (tức tác giả mà tôi không nhớ tên) gặp một dòng sông trong tên có chữ "Châu" và quả thật dòng sông rất đẹp, nước trong vắt và chảy hiền hòa từ Tây sang Đông, bắt nguồn từ một dòng sông lớn, đổ ra một dòng sông lớn khác. Hai bên bờ sông được trồng đầy tre. Trước kia chim về đậu rất nhiều hai bên bờ và dân đi săn chim hay thuê thuyền đi dọc sông để bắn. Điều lạ là dòng sông này có hai nhánh xuất phát rất xa nhau và chỉ gặp nhau ở chỗ gần cuối lúc đỗ ra dòng sông lớn thứ hai, ứng với câu:
"Giang Nam nhị thủy huyện"…
Sông Châu (màu đỏ) giờ là con sông đang thoi thóp thở vì nó không còn có thể gặp sông Hồng được. Nhưng cách đây nghìn năm thì sự thông thương trên sông là tất nhiên. Và thuyền nhà Lý đã theo sông Châu Giang ra sông Hồng có thể theo 1 trong 2 nhánh nói trên...
Theo tôi (tức tác giả gửi bài viết này cho nhà văn Phạm Viết Đào) Sông Phủ Lý (còn có tên gọi là sông Châu Giang – châu cũng có nghĩa là bảo, là quí ) là một con sông thuộc hệ thống sông Hồng, sông chảy qua địa phận tỉnh Hà Nam. Sông được tách ra từ sông Đáy, một con sông từ hướng tây bắc chảy tới thành phố Phủ Lý. Bắt đầu tại địa phận thành phố Phủ Lý, sông chảy theo hướng đông đến địa phận xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên, Hà Nam. Tại đây nó chia thành hai dòng. Dòng thứ nhất chảy theo hướng bắc (tức là chảy ngược so với hầu hết các con sông của Việt Nam), đến địa phận xã Hợp Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) thì sông tiếp tục đổi hướng chảy theo hướng đông đổ ra và hợp lưu với sông Hồng tại vị trí cách cầu Yên Lệnh khoảng 4 km về hướng nam. Dòng thứ hai cơ bản chảy theo hướng tây-đông, đổ vào sông Hồng tại điểm thuộc xã Hòa Hậu (Lý Nhân, Hà Nam).
Sông có tổng chiều dài hơn 30 km, đi qua và làm ranh giới giữa các địa phương như thành phố Phủ Lý, huyện Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân. Tôi cũng cho rằng ứng với câu “Bảo Giang thiên tử xuất” có thể là vị thánh nhân ấy sinh ra ở khu vực sông Châu giang Hà Nam hoặc ngài xuất binh từ khu vực này…
Mai Anh Tài.
Thông Tin Để Tư Duy
Theo: http://phamvietdao2.blogspot.com
Được đăng bởi Hoàng Lạc vào lúc 06:09:00
Gửi email bài đăng này
BlogThis!
Chia sẻ lên Twitter
Chia sẻ lên Facebook
Chia sẻ lên Pinterest
Thư mục: TIÊN TRI, TRẠNG TRÌNH
1.962 nhận xét:
1 – 200 trên 1962 Mới hơn› Mới nhất»
Nặc danh nói...
với câu "mộc hạ liên đinh khẩu" thực chất là chỉ tuổi của thánh nhân thì đúng hơn, trong bát quái đồ mộc hạ là chỉ cung tỵ, liên là chỉ đi cùng hay đi kèm, đinh là cung đinh, ghép lại ta có đinh tỵ, khẩu lả chỉ hướng cũng có nghĩa đinh tỵ là chỉ tọa mà hướng của đinh tỵ là quý hợi do vậy "mộc hạ liên đinh khẩu" có nghĩa là thánh nhân sinh tuổi quý hợi, cuối vận 6 đầu vận 7 là năm 1983. còn việc thánh nhân ở đâu tôi nghi cứ đi theo lời sấm là ok, tìm lên tới thạch bàn khê == tìm lên tới vùng sơn khê => thạch bàn là tên một ngọn núi, tìm rễ không qua google earth, núi thạch bàn là một trong đỉnh núi nổi tiếng nhất miền bắc việt nam, nó là một trong ba đỉnh núi của tam đảo phu nghia, thạch bàn và thiên thị, trên đỉnh núi thạch bàn có bàn thạch rất to do ông trời tạo ra lên mới gọi là núi bàn thạch
06:53 11 tháng 3, 2013
Nặc danh nói...
Đỗ Động lưu truyền xuất Thánh nhân
Cõi Nam mở nước Lạc – Long – Quân
Tiên rồng bọc trứng sinh trăm Việt
Hồng Lạc cháu con ức triệu dân
Đường Quếch thành xưa nền phát tích
Bảo - Đà mộ Tổ miếu tôn Thần
Trống đồng vang vọng hồn sông núi
Khói đỉnh, hương trầm vạn tuế xuân.
Mộ hoặc Đình thờ LẠ LONG QUÂN làm theo hình chữ ĐINH...
"Đình xây dựng theo kiểu hình chữ Đinh" (T)
10:41 1 tháng 6, 2014
Nặc danh nói...
Đình hay mộ của "LẠC LONG QUÂN" xây dựng theo kiểu chữ Đinh.
(T)
[BÌNH ĐÀ THANH OAI HÀ NỘI]
10:43 1 tháng 6, 2014
Nặc danh nói...
song lam o nghe tinh cung co ten goi la song lam giang .thanh long giang hay lam thuy ngoai la song con co cac song nhanh goi la song giang va song vu giang hoi xua tui nghe cha tui noi ca cha tui cau dc co nguon tu song giang la song nhanh cua song lam chay ve
07:44 9 tháng 3, 2015
Nặc danh nói...
1. Phân phân tùng ( + ) bách ( - ) khởi = Nửa tin, nửa ngờ, ông già, bà lảo hồi sinh ...
2. Nhiễu nhiễu, xuất đông chinh = Quê hương nhiễu nhương đi về hướng đông ( miền nam calif ) ...
3. Bảo giang thiên tử xuất = Thiên tử là bảo giang ... ( BGT Tử là 1 chử giống như nghịch thần tặc tử, giang hồ lãng tử, phá gia chi tử, loạn thần tặc tử ) ...
4. Bất chiến tự nhiên thành = không học y khoa ma lại chửa được bịnh ...
1 = nhập đề, 2, 3 = thân bài, 4 = kết luận.
Đồng thời, Cụ Trạng cũng chỉ người đó xuất hiện ở đâu " Cửu cửu ( 99 ) càn khôn dĩ định ".
Không nhừng vậy mà cụ Trạng cùng đà nói Tên , mặt mũi, tài năng và chí hướng của người đó. Xin đọc lại sấm Trạng.
Vài chia xẻ cùng các bạn
12:06 3 tháng 5, 2015
Nặc danh nói...
Thiên tử Bảo Giang (Nguyễn Tấn Dũng) ,Thiên Tử Bảo Sơn ( Nguyễn Thanh Nghị) Bất Chiến Tự Nhiên Thành! Nhìn vào thực tế mà suy luận hiện nay nằm trong BCH Trung Ương Đảng có hai cha con đều là hạt Giống Chiến Lược của Việt nam ! Bảo Giang là sông quý Cửu Long Giang hay còn gọi là Sông Cửu Long. Bảo Sơn là núi quý vùng Bảy Núi miền Tây => chín Sông ,bảy Núi => có Âm có Dương Là vùng đất Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hoà tất phải sinh ra Bậc Đế Vương Anh Hùng Hào Kiệt cho Đất Nước VN!
23:59 6 tháng 6, 2015
Phùng Truyền nói...
Bảo Định là một con sông nhỏ, rộng khoảng 30 mét và dài khoảng 25 km
Bảo Định nồi liền giữa sông Vàm Cỏ Tây (thị xã Tân An) đến sông Tiền Giang ( qua cầu Quay, tp Mỹ Tho) Bảo Định nằm trên địa phận của hai tỉnh Tiền Giang và Long An
.
Bảo Định giang được chia làm 2 phần:
1/-- Đoạn kênh đào dài khoảng 19 km, đi từ sông Vàm Cỏ Tây (km 1948, tại thị xã Tân An) đến cầu Bến Chùa ( tại km 1967, Quốc lộ 1A). Đoạn kênh này song song với Quốc lộ 1A, (hướng đi từ tp HCM về miện Tây)
2/-- Sau khi hợp nhất với con rạch Bến Chùa (đổ về từ Chợ Bưng). Nó rộng hơn và cùng chảy ra sông Tiền, qua cầu Quay, tp Mỹ Tho. Đây là đoạn sông tự nhiên dài khoảng 6 km
.
LỊCH SỬ
Ngày xưa cách nay hơn 300 năm, sông Bảo Định cong queo, uốn lượn như một con rồng nhỏ trên một vùng đất của tỉnh Định Tường
Thời vua Minh Mạng (1791 – 1841) đã cho đào một con kênh từ cầu Bến Chùa (km 1967, QL 1A) theo hướng Tân An để thuận tiện cho việc lưu thông và chuyên chở hàng hóa từ miền Tây về Sài Gòn. Ngày nay vị thế giao thông của Bảo Định giang không còn quan trọng, nó đã bị thay thế bởi kênh đào Chợ Gạo (được đào từ thời Pháp thuộc), Tuyến đường miền Tây về Sài Gòn qua kênh đào Chợ Gạo ngắn hơn phân nữa so với tuyến đường Mỹ Tho- Tân An (qua Bảo Định giang) rồi theo Vàm Cỏ Tây ra cửa Soài Rạp
https://www.facebook.com/photo.php?f...tal_comments=3
.
06:53 15 tháng 6, 2015
Nặc danh nói...
Luong bien ban ngat tuy nhat khoi.tat la bao tu hai ngan(boi vi Nguu xuat lam dien nhat chanh dong)tat la cam tinh con trau, con trau thi bao tu co hai ngan ./moc ha lien dinh khau.tat la vi thanh nhan nay thuyet giao khong ngan nghi ./Giang nam nhi thuy huyen.tat la noi con song o huong nam co hai huyen cung mot ten./Tai nui vo ho lang.tat la tai do co nui nhung khong co thu du./Thanh nhan sinh ra o tai song da.O noi nao la song da?????cac vi hay truy tim coins...
21:23 14 tháng 7, 2015
ha luong nói...
bảo giang là con sông thiên định không nhìn được bằng mắt thường đâu, nơi đây nước trong xanh tạn đáy, có 2 ngon núi đá, dưới chân có đền thờ, nước phun từ dưới chân núi lên đỉnh và xòe ra như cái lọng, dưới ánh nắng bình minh thì có màu xanh ngọc bích và sáng lấp lánh, con sông này là thành ngọc bích, hoàng thành Thăng Long chính là bắc thàn
12:03 18 tháng 11, 2015
Nặc danh nói...
trẫm rất buồn...
00:13 6 tháng 12, 2015
Nặc danh nói...
trẫm thực sự rất buồn...
thứ nhứt vì thân phận Chân Mệnh Thiên Tử của trẫm suốt 500 niên qua chưa ai tìm ra
thứ hai là hậu thế đoán mò về trẫm..
Vốn dĩ thiên tử như trẫm là kẻ sống gần với đạo, đâu có nhiều bạc tiền, đất đai mà các khanh tìm trẫm ở chốn phố thị? ngã ba ngã tư sông trù phú?
Trẫm không thèm ở đó.
00:18 6 tháng 12, 2015
Nặc danh nói...
Lại nữa, trẫm rất buồn vì "ha luong" đoán mò trật lất, trẫm là thiên tử! Dĩ nhiên thân trẫm các khanh gọi là "ngọc thế", chỗ trẫm ngồi, cho dù lót bằng lá khoai các khanh cũng phải gọi là "long ngai", đúng không ?
Chỗ trẫm đặt lưng nghỉ, cho dù làm bằng tre mọt các khanh cũng phải hô là "long sàng", vì sao? Vì trẫm là Chân Mệnh Thiên Tử!!!
Vậy mà các khanh đoán không ra Bảo Giang với Bảo hà thì trẫm botay!
Nước tiết ra từ trẫm dù dòng nhỏ như mồ hôi, hay dòng lớn như lỗ tiểu tiện, các khanh dĩ nhiẻn phải xưng tụng là "bảo".. là châu báu, là tịnh thủy! 500 năm qua tìm không ra là do vậy!
00:26 6 tháng 12, 2015
Nặc danh nói...
các khanh dẫn chứng vừa dài lại thiếu sáng tạo, thích lấy cái bản thân hiểu để ráp cho một Chân Mệnh như trẫm!
Chân Mệnh là gì?
là đúng mệnh rồi đó, là đích thị mệnh rồi đó!
Thiên tử là gì?
là con trời! Con trời thì sao? Thì sẽ hành động như cha trời(vì cha răng con rứa) cha trời thì sao?
Cha trời thì gieo mưa, gieo nắng, gieo phúc, gieo vạ.. gieo muôn ngàn xấu tốt, thiện ác thì đó là trời đó ! Trời chứa hết thảy, vì vậy trẫm rất buồn nếu các khanh chỉ biết tham cái tốt mà bỏ cái xấu!
lại nữa, trẫm từ thuở hạ phàm chọn cảnh bần hàn, bần hàn mới ló cái sự thiện lương, bần hàn mới sinh tâm thương xót và đồng cảm với những loài thấp bé nhất.
Trẫm nào sinh vào Bạch ốc-Chu môn? Vì vậy trẫm cũng không màng đến chính trị chính em, trẫm chỉ thích rong chơi mà thôi!
có người sẽ tự hỏi" thiên tử mà ham chơi!
Ô, điều đó là bình thường, thế gian làm việc cũng để hưởng thụ, trẫm hưởng thụ ngay lúc này và bây giờ. Điều đó chắc kô phải bàn cãi nhiều..
00:36 6 tháng 12, 2015
Nặc danh nói...
các khanh nghĩ thiên tử như trẫm Quyền Uy lớn lắm sao?
nếu nghĩ vậy thì các khanh đang nhầm giữa quyền lực thế gian và quyền năng của Thiên Đế rồi.
Trẫm không có quyền gì cả, ấy thế nhưng lại có quyền! vậy mới thú! ha ha ha
Trẫm đã giãi bày ra cả rồi.. Bảo giang bảo hà là gì nè, vì sao trẫm lại sinh chốn bần hàn nè (bần hàn bạch phát sinh- phú quí hồng trần mộng)
Trẫm có nhiều thiên thần bảo vệ, cũng làm bạn với ma quỷ nữa.
Với trẫm không có tội lỗi cùng tốt xấu.
Một người bạn đơn giản là một người bạn. Ai còn xen nghiệp quả vào thì không làm bạn đc với nhau đâu.
Phim trung quốc thường có cảnh thiên đế đấu với ma quỷ, toàn là xạo. Trẫm đã xem vạn pháp giai không thì Cha trẫm làm sao hành động với nhiều tâm chấp như vậy chớ!
rồi còn giả danh Thiên tử để ngu dân, aida, trẫm dĩ nhiên chẳng màng cái chức thiên tử ấy, nhưng lợi dụng để trục lợi quả là ...
thôi, trẫm thích đi chơi lắm! việc gì phải buộc mình vào bọn người hoang tưởng về bản thân như vậy? Trẫm là chân mệnh thiên tử còn bọn chuang chỉ là kẻ hoang tưởng tự phong.. ah hahaha.. nghĩ thật buồn cười!
Nhân gian cho trẫm hoang tưởng nhưng họ lại.. hahaha..
00:49 6 tháng 12, 2015
Nặc danh nói...
một ngày mới thật mát mẻ, còn gi tuyệt hơn lúc này, lòng không vương vấn chuyện gì và thảnh thơi nhàn nhã tản bộ dọc đường, chân khẽ đá những giọt móc hạt sương kết đầu ngọn cỏ dại, để rồi cái mát lạnh sảng khoái lan tỏa ở đầu ngón chân?
Các Khanh chắc chẳng bao giờ tận hưởng được cái tư vị ấy? Hahaha.. đó là cuộc sống của trẫm. Là hạnh phúc không hề đơn giản của Trẫm-Một chân mệnh thiên tử. Rồng giữa loài giun.
Ta phải học bao nhiêu đời kiếp để sống được cùng sự đơn sơ, mộc mạc, giản dị và thanh khiết đó?
Các khanh thích cảnh vật chất ngọc ngà vàng bạc cho nên mới mò không ra---> đau khổ.
vì bị tư duy vàng bạc che lấp mất cái chân thật đó mà.
Muốn cùng trẫm xây đời hạnh phúc vĩnh trường thì chỉ có thể học theo trẫm mà thôi..
Bỏ đi những lòng tham, ấy mới gần cái giải thoát.
Trẫm thường nghĩ, lòng tham của con người quá lớn. Vậy thì cứu họ làm gì?
Trẫm hạ sinh là cứu lấy chúng sinh, nó rộng lớn hơn con người.
Và các khanh phải thấy hổ thẹn khi bản thân được cứu.
Vì người ta thường chỉnh những thứ lỗi lầm, lệch lạc. Chứ ai chỉnh một thứ hoàn hảo bao giờ?
mà thôi. Trẫm còn phải chơi..bàn nhiều về đạo làm chi? học hành quả nhiên là vô nghĩa.
Vì sao à.. hồi sau sẽ rõ.
12:01 6 tháng 12, 2015
Nặc danh nói...
trẫm thường nghe các học giả bàn về việc trẫm(Chân mệnh thiên tử) sẽ giúp họ sống đời yên bình, hanh phúc. Vĩnh trường hơn 500!
Quả là hoang tưởng nếu các vị đó cứ nghĩ trẫm sẽ giúp ngư dân giết nhiều cá, chăn nuôi giết nhiều heo bò gà, sơn dân thì chặt phá được nhiều cây, khai mỏ dân thì đào thêm nhiều dầu than để làm giàu cho đất nước để tiến lên vượt các nước "vật chất"
Trẫm đọc xong cũng mắc cười.
Chân mệnh thiên tử là gần gũi đạo tự nhiên. Hài hòa cùng vạn vật. Không có tâm tư thiên vị cho bất cứ loài nào
chứ các khanh tưởng Trẫm sẽ độc ác trợ giúp cho họ đoạt xương máu chúng sinh hay sao?
Những việt làm chảy máu rơi đầu ấy một chân mệnh như ta nào có thể xúi dân gây nghiệp được.
Thế nên trẫm đọc xong mà ..
Lại bàn về công cuộc tìm ra trẫm. Vì sao thời này chân mệnh lại giáng sinh iwr hàn gia?
vì sao bồ tát thích ca lại giáng sinh ở nhà đế vương?
Vì thời xưa còn trọng quyền lực nên ngài sinh ở đó để những tháng năm đầu được trọn vẹn, và là một tấm gương từ bỏ quyền lực!
Còn trẫm, trẫm sinh ở nơi bần hàn vì sao? Vì thời này không còn chuyẻn quyền độc đoán nên ta chẳng việc gì biểu lộ mộy tấm gươnh xả bạc vàng quyền lực như thích ca để chúng sinh noi theo.
Ta sinh vào nhà bần hàn để làm tấm gương thúc đẩy sự công bình xã hội đó mà.
chư vị nào muốn sống hạnh phúc
thì chớ tìm trẫm nữa!
Hãy tự biến bản thân trở
nên đơn giản thì
đang bên trẫm, nghe trẫm nói
nghe hơi thở, ý nghĩ của trâcm
tỏa ra từ vạn vật.
12:26 6 tháng 12, 2015
https://hoangvanlac31.blogspot.com/2...sam-trang.html
-
Có bệnh thì đến Hưng Minh tự
16/08/2014 22:44
Bệnh nhân điều trị bằng nam y tại chùa Hưng Minh được miễn phí hoàn toàn. Nhiều ca bệnh tưởng như đầu hàng tử thần đã được các thầy thuốc ở đây cứu sống
Kiếp người trải qua bốn cửa sinh, lão, bệnh, tử. Ngày nay, bệnh nhân giàu có nằm bệnh viện tư như khách sạn hạng sao còn bệnh nhân nghèo không có khả năng tài chính thì đành “chịu trận” trước sự đắt đỏ. Duy chỉ tổ đình Hưng Minh tự (45 Lý Chiêu Hoàng, quận 6, TP HCM) thực hành Phật pháp từ bi hảo thí nam y cứu độ chúng sinh, giúp vượt qua cửa bệnh, được sống an lạc.
Cứu độ chúng sinh
Tổ đình Hưng Minh tự là trụ sở trung ương Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam - một giáo phái chủ trương dùng y đạo từ bi, bác ái cứu độ chúng sinh. Tông sư khai sáng Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam là đức Minh Trí, tục danh Nguyễn Văn Bông, SN 1886 tại Sa Đéc (Đồng Tháp), mồ côi cha từ nhỏ. Năm 29 tuổi, ngài chán ngán sự đời nên giác ngộ Phật pháp. Năm 33 tuổi, ngài từ bỏ gia đình vân du khắp nơi, dùng y học cổ truyền cứu độ bệnh nhân, truyền bá Phật pháp; kiếm sống bằng nghề buôn bán chiếu. Đức Minh Trí đề xướng tinh thần phước huệ song tu dùng y đạo thực hiện chủ nghĩa từ bi, bác ái của đức Phật.
https://nld.mediacdn.vn/2014/7-chot2-92e1b.jpg
Những người làm công quả sơ chế dược thảo tại chùa Hưng Minh Ảnh: HOÀNG TRIỀU
Hơn 80 năm nay, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam thực hành y đạo cứu độ chúng sinh vượt qua cửa bệnh. Phòng chẩn trị Nam y hảo thí tại chùa Hưng Minh khang trang, bảo đảm vệ sinh y tế. Ngoài phòng khám bệnh, chùa Hưng Minh còn có phòng châm cứu điều trị bệnh nhân bị các chứng tê bại, đau nhức, mất ngủ, thần kinh… Các cư sĩ trợ y thành thạo điện châm khơi thông kinh lạc, điều hòa âm dương cơ thể bệnh nhân, phục hồi sức lực. Bệnh nhân điều trị bằng nam y tại chùa Hưng Minh được miễn phí hoàn toàn. Cư sĩ lương y cao niên Nguyễn Văn Tuy, phụ trách phòng chẩn trị Nam y hảo thí tại tổ đình Hưng Minh tự, cho biết mỗi ngày nơi đây phục vụ hơn trăm bệnh nhân, cấp phát mấy trăm thang thuốc nam. Tất cả cư sĩ tại chùa đều tự nguyện phục vụ bệnh nhân theo tinh thần bất vụ lợi. Đội ngũ cư sĩ lương y có trí (kiến thức nam y) cùng huệ (lòng nhân ái) tận tâm chữa trị cho người bệnh. Cư sĩ giáo phái Tịnh độ thoát ly gia đình, ăn ở trong chùa, hạn chế tiếp xúc thân nhân, bạn bè. Họ không thí phát (cạo đầu) nhưng mặc đồ tu hành màu xám sáng, ăn chay trường và giữ giới luật đi đứng, nói năng, giao tiếp, thể hiện người có đạo đức. Các cư sĩ thường xuyên họp kiểm điểm khắc phục khuyết điểm, hướng tới ngày càng hoàn thiện bản thân hơn. Dù làm việc không có thù lao, chỉ được nhà chùa bố trí chỗ ở khiêm tốn, nuôi ăn chay trường đạm bạc song ai nấy đều vui vẻ, thể hiện tâm niệm dùng y đạo thực hiện chủ nghĩa từ bi, bác ái của đức Phật.
Công đức bá tánh
Nguồn thuốc nam trị bệnh miễn phí cho bệnh nhân được cung cấp từ nhiều nhà hảo tâm bên ngoài chùa. Nhiều người khai thác dược thảo hoang dại phụng cúng cho chùa Hưng Minh. Một số tiểu thương chợ nông sản Bình Điền không nỡ vất bỏ khối lượng lớn rau bán ế nên xuất tiền thuê xích lô hoặc xe ba bánh chở rau có dược tính phụng cúng đều đặn cho chùa. Nhà chùa thông bạch những vị thuốc thiếu hụt và những người thích làm việc công đức lập tức phụng cúng cho chùa Hưng Minh đầy đủ vị thuốc cần thiết. Một số người còn phụng cúng giấy báo cũ cho nhà chùa dùng gói thuốc thang. Một vài người tự nguyện dùng xe máy chở dược thảo chất đầy ba-ga tặng đều đặn cho chùa Hưng Minh.
Ngày ngày, nhiều phụ nữ lớn tuổi làm công quả sơ chế dược thảo. Họ chỉ được nhà chùa đãi cơm chay song vẫn vui vẻ tự nguyện làm công đức. Các vị thuốc như đỗ trọng, mướp gai, ráng bay, râu mèo, nhãn lồng, sài hồ, huyết rồng, chùm gửi, cỏ hôi, mắc cỡ, rau má, rễ tranh, nhàu ta, thảo nam… phơi khắp sân chùa. Dược thảo mộc mạc đa sắc, tỏa mùi thơm thiên nhiên dìu dịu. Kho thuốc treo bảng nội dung đề cao kho tàng di sản y dược học dân tộc chất ngăn nắp nhiều thang thuốc Nam, trên đó dán nhãn tên từng vị thuốc. Tổ đình Hưng Minh tự có xe tải chuyên dụng chở dược thảo chi viện cho một số phòng chẩn trị nam y thuộc hệ phái Tịnh độ ở các địa phương. Bá tánh dày công đức cho chùa Hưng Minh kẻ góp của - người làm công quả góp phần duy trì hoạt động phòng chẩn trị nam y hảo thí. Họ theo lời nhà Phật làm việc thiện nguyện góp phần cứu độ chúng sinh.
Tâm thành dược linh
Thời buổi kinh tế thị trường, bệnh nhân nghèo trĩu nặng mặc cảm bị hắt hủi. Ai mắc bệnh mà không tiền thì đành chịu chết. Rất may còn có phòng chẩn trị nam y hảo thí của tổ đình Hưng Minh tự và các phòng khám thuộc hệ phái Tịnh độ. Thuốc nam có vẻ sơ sài mà công hiệu. Vì vậy, xin có lời khuyên “ai ơi đừng theo Tây, Tàu mà khinh thuốc nam quê mùa! Ông bà ta ngày xưa chỉ dùng toàn thuốc nam mà sống khỏe mạnh, sinh con đàn cháu đống. Tâm thành dược linh!”. Người bệnh có tấm lòng thành tin tưởng thuốc nam thì hết bệnh. Thuốc chùa gửi gắm tình thương của cư sĩ lương y, cư sĩ trợ y, cư sĩ dược tá và những người dày công đức.
Bệnh nhân đăng ký khám bệnh ngồi chờ rồi nghe giọng cư sĩ hiền từ lễ phép gọi tên mời vào phòng chẩn bệnh. Các cư sĩ lương y lớn tuổi ân cần hỏi triệu chứng, bắt mạch tay bệnh nhân, chẩn bệnh chính xác. Cư sĩ lương y kê toa gồm các vị thuốc Nam giữ vai trị quân - thần - tá - sứ là mũi chủ công cùng ba mũi giáp công trị căn bệnh. Sau đó, bệnh nhân được cư sĩ mời sang dược phòng nhận những thang thuốc nam chữa trị căn bệnh trong vài ngày. Nhà chùa thiết trí một bàn thờ Thần Nông cho bệnh nhân thành tâm khấn vái mong dùng thổ sản dược thảo được hết bệnh. Bệnh nhân mang thuốc nam về nhà sắc uống, nếu chưa hết bệnh thì trở lại tái khám, được điều trị tới khi dứt hẳn. Theo ông Nguyễn Văn Tuy, thuốc nam không trị chứng (triệu chứng) của bệnh mà chủ trị căn (nguồn gốc) phát ra bệnh. Bệnh nhân dùng thuốc nam nguồn gốc dược thảo thiên nhiên không bị phản ứng phụ như uống thuốc tây có thành phần hóa chất. Ông cho biết thêm một vài bác sĩ tây y mắc bệnh cũng dùng thuốc nam do không độc hại cho cơ thể.
Phòng chẩn trị nam y hảo thí không chỉ chữa bệnh miễn phí cho bệnh nhân nghèo mà còn tiếp đón bệnh nhân nhà giàu đã chán ngán dùng thuốc tây. Ông Trần Văn Tỷ, chủ tiệm đồ điện ở quận 5, từ năm 30 tuổi phải đối đầu với nhiều việc, từ gia đạo bất an cho tới việc làm ăn rối ren nên động não suy nghĩ dữ dội khiến mất ngủ kinh niên. Ông không tiếc tiền chạy chữa chứng mất ngủ tại các phòng khám của bác sĩ tâm thần danh tiếng và phải lệ thuộc vào bác sĩ cùng những liều thuốc an thần để đêm đêm mới được thiếp vào giấc ngủ nhưng chập chờn toàn ác mộng. Ông chợt nhớ lại lúc nhỏ có theo bà ngoại ngồi xe thổ mộ chật chội từ Chợ Lớn vào chùa Hưng Minh ở Phú Định điều trị bệnh đau vú. Thuở ấy, hai bên con đường đất từ ngã tư Phú Định (ngã tư Hậu Giang - Nguyễn Văn Luông ngày nay) vào chùa Hưng Minh còn hoang vu. Bà ngoại vào phòng châm cứu vùng ngực còn đứa cháu trai một mình tha thẩn chơi trong sân chùa đang lên liếp trồng toàn thuốc nam… Thế là ông Tỷ liền tìm về chốn xưa, được cư sĩ lương y tại chùa Hưng Minh khám bệnh rất kỹ, kê toa gồm những vị thuốc nam kết hợp châm cứu vùng đầu. Một cư sĩ trợ y hướng dẫn ông Tỷ phương pháp ngồi thiền nơi yên tĩnh, tập trung không nghĩ ngợi gì cả. Cơn bệnh mất ngủ kinh niên nhờ may thầy phước chủ đã biến mất, chủ nhân tìm lại được giấc ngủ sinh lý sâu nồng sau hơn 20 năm chập chờn, mệt mỏi.
Ngày nay, một vài bác sĩ quên béng lời thề Hippocrates, hành nghề chạy theo đồng tiền, vì thế người nghèo không được chăm sóc y tế chu đáo. Trong bối cảnh đó, Nam y hảo thí của chùa Hưng Minh trị bệnh cho người nghèo thể hiện y đức cao cả. Nơi đây còn kế thừa phát huy di sản y học cổ truyền để không bị mai một.
Chữa hết tiểu đường
Ông Trương Văn Khôi - 56 tuổi, ngụ quận 8, TP HCM - đã nghèo lại mắc cái eo với bệnh tiểu đường type 2 không đủ tiền chạy chữa trường kỳ tại phòng khám Tây y. Được một người mách bảo, ông tìm tới phòng chẩn trị Nam y tại chùa Hưng Minh. Cư sĩ lương y tại chùa sau khi khám bệnh cho ông Khôi thông qua vọng (quan sát sắc mặt bệnh nhân), văn (nghe giọng nói của bệnh nhân), vấn (hỏi han triệu chứng), thiết (sờ nắn bụng bệnh nhân) đã chẩn đúng bệnh tiêu khát và kê toa thuốc gồm các vị dược thảo. Ông Khôi mang thuốc chùa về sắc uống, được một tuần nhận thấy không còn cơn đau thắt ngực (biến chứng tim mạch của bệnh tiểu đường); khi thử máu thấy đường huyết hạ về gần mức an toàn. Ông phấn chấn tái khám theo định kỳ nửa tháng, được cấp 15 thang thuốc nam mang về sắc uống cho tới khi khỏe hẳn.
https://nld.mediacdn.vn/2014/7-chot1-1afe2.jpg
Tổ đình Hưng Minh tự Ảnh: HOÀNG TRIỀU
https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuo...6224314936.htm
-
[PDF]Châu Đốc - An Giang - Tạp chí khoa học Việt Nam Trực tuyến
http://www.vjol.info/index.php/JSTD/...ad/33115/28194
Translate this page
by NĐ Triều
偉蹟靈祠 Vĩ tích linh từ (Đền thiêng ghi nhớ công trạng lừng lẫy) ... 4 Bản Thần tích được chép lại từ Đại Nam liệt truyện, Tiền biên, quyển 3 và đã ... 慨念我本社方其洪荒肇判,風氣始分 土地 ... triệu phán, phong khí thủy phân, thổ địa vị khai,.
-
Các bài văn cúng thông dụng của người xưa
13/8/2018 - Xem: 80
Thái Huy Bích
Giới thiệu một số bài văn cúng thông dụng của họ Nguyễn Huy, làng Trường Lưu (Can Lộc, Hà Tĩnh). Dòng họ này có Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, Tiến sỹ Nguyễn Huy Quýnh và 32 người đậu Hương Cống (triều Lê), Cử nhân (triều Nguyễn).
Upload
Văn cúng giỗ tiên thường
In sao chữ Hán:
忌日先嘗文
維皇號干 年月日 裔孫 厶仝族等 謹以盤饌金衣芙酒庶物之儀 敢恭告于
高曾祖考妣 諱號 府君位前 曰 歲序流易玆來日諱辰 謹具菲儀恭陳
先告 仰望尊灵尚其鍳止 尚饗 曁 翁曁婆 婆曁翁
接請上家先列位 下伯叔兄弟 如存如生 請來炤忌 敬薦本家五祀福
神仝來鍳格 謹誥
Phiên âm:
“Kỵ nhật tiên thường văn
Duy, Hoàng hiệu, can, niên nguyệt nhật.
Duệ tôn (khư) đồng tộc đẳng. Cẩn dĩ bàn soạn, kim y, phù tửu, thứ vật chi nghi. Cảm cung cáo vu:
Cao Tằng Tổ Khảo Tỷ (húy hiệu) phủ quân, vị tiền.
Viết: Tuế tự lưu dịch, tư lai nhật húy thần. Cẩn cụ phỉ nghi. Cung trần tiên cáo, ngưỡng vọng tôn linh, thượng kỳ giám chỉ. Thượng hưởng.
Ký (ông ký bà, bà ký ông).
Tiếp thỉnh: thượng gia tiên liệt vị, hạ bá thúc huynh đệ, như tồn như sinh thỉnh lai chiếu kỵ.
Kính tiến: Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần, đồng lai cách. Cẩn cáo”.
Dịch nghĩa:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1) năm thứ...
Hôm nay là ngày 15 tháng 7 năm (Mậu Tuất)
Duệ tôn… cùng mọi người trong họ.
Xin biện mâm cỗ: Tiền bạc áo quần, trầu rượu, thực phẩm…
Kính cáo: Cao tổ khảo, Tằng tổ khảo, Tổ khảo (hoặc Tổ tỉ, giỗ ai thì ghi húy hiệu của người đó).
Năm tháng vần xoay, mai đến ngày giỗ, xin dâng lễ vật, cáo trước tiên linh, kính mong gia tiên, rộng lòng chứng giám. Thượng hưởng.
Phối thỉnh (giỗ ông thì mời bà, giỗ bà thì mời ông)
Tiếp thỉnh: Trên là các vị gia tiên; dưới là các bác chú, anh em, đã mất vẫn như còn, cùng về cùng dự giỗ.
Kính thỉnh: Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần(2), cùng đến chứng giám.
Cẩn cáo!
Văn cúng giỗ chính
In sao chữ Hán:
正忌文
維皇號干 年月日 裔孫 厶仝族等 謹以盤饌金衣芙酒庶物之儀
敢恭告于 高曾祖考妣 諱號 府君 位前 曰歲序流易諱日復臨追遠感辰
謹具菲儀恭薦忌日 仰望尊靈尚其鍳止 尚饗 曁 翁曁婆 婆曁翁
接請上家先列位 下伯叔兄弟 如存如生 請來炤忌 仰其所望薄炤成心
化少爲多化無爲有收执金衣返回墓所 敬薦本家五祀福神仝來鍳格 謹告
Phiên âm:
“Chính kỵ văn
Duy, Hoàng hiệu, niên nguyệt nhật.
Duệ tôn (khư) đồng tộc đẳng. Cẩn dĩ bàn soạn, kim y, phù tửu, thứ vật chi nghi. Cảm cung cáo vu: Cao (Tằng, Tổ, khảo, tỷ ) phủ quân, vị tiền.
Viết: Tuế tự lưu dịch, húy nhật phục lâm, truy viễn cảm thần, cẩn cụ phỉ nghi, cung tiến kỵ nhật. Ngưỡng vọng tôn linh, thượng kỳ giám chỉ. Thượng hưởng.
Ký (ông kỵ bà, bà kỵ ông).
Tiếp thỉnh: thượng gia tiên liệt vị, hạ bá thúc huynh đệ, như tồn như sinh, thỉnh lai chiếu kỵ. Ngưỡng kỳ sở vọng, bạc chiếu thành tâm, hóa thiểu vi đa, hóa vô vi hữu, thu chấp kim y, phản hồi phần mộ sở.
Kính tiến: Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần, đồng lai cách. Cẩn cáo”.
Dịch nghĩa:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm thứ...
Hôm nay là ngày 15 tháng 7 năm (Mậu Tuất).
Duệ tôn… cùng mọi người trong họ.
Xin biện mâm cỗ: Tiền bạc áo quần, trầu rượu, thực phẩm…
Kính cáo: Cao (Tằng, Tổ, Khảo, Tỉ) (húy hiệu của người có giỗ).
Năm tháng vần xoay, đã đến ngày giỗ, lòng đầy thương nhớ, lễ vật kính dâng, tiến kính tiên linh, cầu mong chứng giám. Thượng hưởng.
Phối thỉnh (giỗ ông thì mời bà, giỗ bà thì mời ông)
Tiếp thỉnh: Trên là các vị gia tiên, dưới là bác chú, anh em, mất vẫn như còn, rộng lòng chứng giám. Biến ít thành nhiều, biến không thành có, thu nhận tiền vàng, trở về phần mộ.
Kính tiến: Bản gia Ngũ tự Phúc Thần, cùng đến chứng giám. Cẩn cáo!
Văn cúng Tết Đoan Ngọ
In sao chữ Hán:
端午文
維皇號干 年月日 嗣孫裔孫厶 仝家等 謹以 厶物之儀 敢恭告于
本家陰廟高祖考高祖妣曾祖曾祖妣顯 顯妣列位 位前 曰歲更迭序節
値夏天日逢端午謹具菲儀拜告 仰望列位家先尚其炤止尚饗 曁 本家
祖伯祖叔祖姑令伯令叔令姑兄弟姊妹 我宗親咸胥來格
敬請本家五祀福神仝炤 鍳 謹告
Phiên âm:
“ Đoan Ngọ văn
Duy, Hoàng hiệu... Niên nguyệt nhật.
Duệ tôn (khư) đồng gia đẳng. Cẩn dĩ khư vật chi nghi.
Cảm cung cáo vu: Bản gia âm miếu, Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ liệt vị, vị tiền.
Viết: Tuế cánh điệt tự, tiết trị hạ thiên, nhật phùng Đoan Ngọ, cẩn cụ phỉ nghi, bái cáo ngưỡng vọng, liệt vị gia tiên, thượng kỳ giám chỉ. Thượng hưởng.
Ký: Bản gia Tổ bá, Tổ thúc, Tổ cô, Lệnh bá Lệnh thúc, Lệnh cô, huynh đệ tỉ muội, phàm ngã tôn thân, hàm tư lai cách.
Kính thỉnh: Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần, đồng chiếu giám. Cẩn cáo”.
Dịch nghĩa:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm thứ...
Hôm nay là ngày 15 tháng 7 năm (Mậu Tuất)
Tự tôn (duệ tôn)… cùng mọi người trong chi họ, xin biện lễ vật (liệt kê).
Kính cáo: Các vị Cao tổ khảo, Cao tổ tỉ, Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỉ, Hiển tổ khảo, Hiển tổ tỉ, Hiển khảo, Hiển tỉ.
Năm tháng vần xoay, xuân qua hạ tới, tiết nhằm Đoan Ngọ, xin dâng lễ bạc, kính mong gia tiên, rộng lòng chứng giám. Thượng hưởng.
Kính thỉnh: Tổ bá, Tổ thúc, Tổ cô, Lệnh bá, Lệnh thúc, Lệnh cô, anh, chị, em cùng các vong linh phối thờ cùng tiên tổ cùng về hâm hưởng.
Kính thỉnh: các vị gia thần, cùng chiếu gám. Cẩn cáo!
Văn cúng Tết Trung Nguyên(3) (Tại nhà thờ họ)
In sao chữ Hán:
中元文
維皇号厶年厶月厶日 嗣孫阮輝...合仝族等 敢恭告于
六世祖考...府君 六世祖妣阮貴公正室...孺人
高祖考... 府君 高祖妣阮貴公正室... 孺人
曾祖考...府君 曾祖妣阮貴公正室... 孺人
曾祖伯...府君, 正室... 孺人
曾祖叔...府君, 正室... 孺人
顯祖考... 府君 顯祖妣阮貴公正室... 孺人
堂祖叔... 府君, 正室... 孺人
顯考... 府君 顯妣阮貴公正室... 孺人
堂叔... 府君, 正室... 孺人
祖姑...真灵
祖叔...真灵
早亡...正魂
曰今以秋天成物之候追遠報本礼不敢 謹以翰音粢盛腑內金銀芙酒之儀衹薦 事用伸奠獻 尚饗 曁本家陰廟列位先靈 及伯叔兄弟姑姊妺上殤中殤下殤陽童 童凡我尊親咸胥來格 謹告
敬以 本處龍脉土地之神 本家五祀福神 仝格享
Phiên âm:
“Trung nguyên văn
Duy Hoàng hiệu… Niên… nguyệt… nhật. Tự tôn… hợp đồng tộc đẳng, cảm cung cáo vu:
Lục thế tổ khảo... phủ quân. Lục thế tổ tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
Cao tổ khảo... phủ quân. Cao tổ tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
Tằng tổ khảo... phủ quân. Tằng tổ tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
Tằng tổ bá... phủ quân, chính thất... nhụ nhân.
Tằng tổ thúc... phủ quân, chính thất... nhụ nhân.
Hiển tổ khảo... phủ quân. Hiển tổ tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
Đường tổ thúc... phủ quân, chính thất... nhụ nhân.
Hiển khảo… phủ quân. Hiển tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
Đường thúc... phủ quân, chính thất... nhụ nhân.
Tổ cô... chân linh. Tổ thúc... chân linh.
Tảo vong... chính hồn.
Viết: Kim dĩ thu thiên, thành vật chi hầu, truy viễn báo bản, lễ bất cảm vong, cẩn dĩ hàn âm, tư thình, phủ nội, kim ngân, phù tửu chi nghi, chỉ tiến tuế sự, dụng thân tôn hiến. Thượng hưởng. Kỵ bản gia âm miếu liệt vị tiên linh, cập bá, thúc, cô, huynh, đệ, tỷ, muội, thượng thương, trung thương, hạ thương, dương đồng, âm đồng, phàm ngả tông thân, hàm tư lai cách. Cẩn cáo!
Kính dĩ Bản xứ long mạch thổ địa chi thần, Bản gia Ngũ tự phúc thần đồng cách hưởng”.
Dịch nghĩa:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm thứ...
Hôm nay là ngày 15 tháng 7 năm (Mậu Tuất)
Tự tôn... cùng mọi người trong gia tộc. Xin kính cáo:
- Lục thể tổ khảo... phủ quân.
- Lục thế tổ tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
- Cao tổ khảo... phủ quân.
- Cao tổ tỉ Nguyễn công chính thất... nhụ nhân.
- Tằng tổ bá... phủ quân, Chính thất... nhụ nhân.
- Tằng tổ khảo... phủ quân.
- Tằng tổ tỉ Nguyễn công chính thất... nhụ nhân.
- Tằng tổ thúc... phủ quân, Chính thất... nhụ nhân.
- Tằng tổ thúc... phủ quân, Chính thất... nhụ nhân.
- Hiển tổ khảo... phủ quân.
- Hiển tổ tỉ Nguyễn quý công chính thất... nhụ nhân.
- Đường tổ thúc... phủ quân, Chính thất… nhụ nhân.
- Đường tổ thúc... phủ quân, Chính thất... nhụ nhân.
- Hiển khảo... phủ quân.
- Hiển tỉ Nguyễn công chính thất... nhụ nhân.
- Đường thúc... phủ quân
- Tổ cô… chân linh.
- Tổ thúc... chân linh.
- Tảo vong... chính hồn.
Trời đã sang Thu, đến Tết Trung Nguyên, nhớ ơn tiên tổ, lòng thành kính dâng, các thứ lễ vật: thịt gà xôi nếp, trầu rượu tiền vàng,... dâng hiến tiên linh, lễ là báo đáp. Thượng hưởng.
Kính thỉnh: Bản gia âm miếu liệt vị tôn linh, cùng bá thúc huynh đệ cô di tỉ muội, thượng thương, trung thương, hạ thương(4), vong trai, vong gái, cùng phối hưởng. Cẩn cáo!
Kính thỉnh: Bản xứ Long Mạch Thổ Địa, Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần cùng hâm hưởng.
Chú thích
(1). Nguyên văn “Hoàng hiệu” là niên hiệu Vua tại thời điểm viết bài cúng, tương tự Quốc hiệu hiện nay. Ngày tháng năm dùng trong cúng tế theo âm lịch.
(2). Bản gia Ngũ Tự Phúc Thần là 5 vị thần của từng nhà gồm 3 vị Táo Quân, Thổ Chủ (cai quản đất vườn và đất ở) và Thổ Phủ (cai quản kho tàng). Tuy nhiên quan niệm này ở các vùng miền có khác nhau.
Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc, nhưng được Việt hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà”. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo. Thượng đế sắc phong chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc: Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp, danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân; Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa, danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần; Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa, danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.
Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phúc đức, do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Ông Táo (Táo Công) lên chầu trời nên có nơi gọi ngày này là “Tết ông Công, ông Táo”, lễ cúng có cá chép để ông Táo cưỡi lên trời.
(3). Văn tế họ Rằm tháng Giêng cũng tương tự văn tế Rằm tháng Bảy.
Những từ có tính chất riêng của họ Nguyễn Huy được lược bớt.
(4). Theo sách Thọ Mai Gia Lễ những người chết ở độ tuổi 16 - 19 tuổi gọi là Thượng thương; từ 12 - 15 tuổi gọi là Trung thương; từ 8 - 11 tuổi gọi là Hạ thương.
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Hội thảo khoa học Thoát nước đô thị Vinh - Thực trạng và giải pháp (3/10/2018)
Bàn giải pháp và chương trình phối hợp hoạt động KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp (27/9/2018)
Nâng cao hiệu quả hoạt động Khoa học và công nghệ cấp huyện (25/9/2018)
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
Nghệ An cần tập trung phát triển chợ đầu mối (20/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển thương mại - dịch vụ Nghệ An đến năm 2020, định hướng 2025 (20/8/2018)
Nghệ An cần làm gì để khoa học - công nghệ thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh phát triển mới? (15/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển khoa học và công nghệ Nghệ An đến năm 2030 (15/8/2018)
Các bài văn cúng thông dụng của người xưa (13/8/2018)
Hội thảo Hình thức trình bày Tạp chí theo chuẩn quốc tế (8/8/2018)
Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận và khung phân tích về biến đổi văn hóa, quản lý Nhà nước về văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam (8/8/2018)
Hội thảo phát triển nguồn nhân lực và xây dựng con người văn hoá Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển (6/8/2018)
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp
http://khxhnvnghean.gov.vn/m/?x=1144...-cua-nguoi-xua
-