Ở bất cứ đạo nào . Nếu bạn trả thù 1 người đã làm điều ác với bạn thì chẳng bao giờ bạn đc giải thoát. Nhưng ai sẵn sàng tha thứ tức là họ được giải thoát. Còn ai nuôi ý định trả thù thì .....
Printable View
------------------------------------------------------
"- Tại sao chúa tạo ra những chiến tranh, bệnh hoạn, đau khổ và không công bằng trong cuộc sống." << Tại sao bạn không đặt câu hỏi là loài người sao cứ thích chiến tranh để tranh giành ảnh hưởng, để chứng tỏ mình là cường quốc , chẳng hạn như vụ tàu Trung quốc cắt dây cáp của tàu Vn, thử hỏi nếu VN là nước mạnh thì TQ có dám làm vậy không? Chiến tranh là do đầu óc nông cạn của con người, không nên kéo Thiên Chúa vào những chuyện tranh giành của con người...bệnh hoạn và đau khổ là thử thách Thiên Chúa mang tới để con người quay trở về với Chúa cũng như để phân loại xem ai thực sự là con Chúa. Có những người mắc bệnh hiểm nghèo quay qua báng bỗ chữi bới Thiên Chúa nếu không khỏi bệnh. Sự không công bằng là do những kẻ không sống theo con đường Chúa dạy gây ra, tại sao lại đổ cho Thiên Chúa?
" Ai đó làm ác thì họ chỉ cần xin chúa tha tội còn không cần xin người mà họ gây đau thương tha tội" Thiên Chúa là tình yêu mà. Bạn có thể tống cổ đứa con ruột của bạn ra ngoài đường nếu nó rượu chè, ma túy, trai gái, giết người nhưng vì Thiên Chúa là tình yêu nên Ngài sẽ không tống cổ kẻ tội lỗi ra đường nếu nó biết hối cải ăn năn và làm việc đền tội , trở lại với Chúa
- Chúa chấm điểm thế nào để đưa người này lên thiên đàng người kia xuống địa ngục, người nào đó vào luyện ngục trong khi bất cứ con người nào cũng là sự hòa trộn tốt, xấu, thiện, ác hay kẻ tin chúa thì lên thiên đàng, không tin chúa thì xuống địa ngục bất kể hành động của họ thế nào. Chúa Jesus đã từng là người phàm trần nên Chúa biết rõ bản chất con người thế nào. Chúa dạy con người ta hãy trao phó cuộc sống cho Chúa để Chúa giúp đỡ họ nhưng có bao nhiêu người cầu nguyện và phó thác cho Chúa? Hầu hết đều cho mình có khả năng tự sống được , họ không cần Thiên Chúa dạy, họ chê bai bài bác tất cả những lời nói của Chúa trong kinh thánh nên chuyện lên thiên đàng hay địa ngục đối với những người đó có hề quan trọng đâu? Quan niệm chỉ tin Chúa không mà được lên thiên đàng là sai lầm, tin mà không sống đạo thì Chúa gọi những người đó là "kẻ giả hình" trong kinh thánh. Muốn được lên thiên đàng phải là những người có cuộc sống hoàn toàn thánh thiện, không được mắc 1 lỗi nào dù nhỏ nhặt nhất vì Thiên Đàng là nơi tòa cao chí thánh, giỏi lắm thì được vào luyện ngục đền tội 1 thời gian mới được vào thiên đàng. Lửa trong luyện ngục rất nóng nhưng không có thứ lửa nào khủng khiếp như lửa hỏa ngục.
"Luôn muốn dựa vào chúa, nghe lời chúa tuân theo chúa vì chúng con yếu ớt lắm, ngu lâu lắm nhưng chẳng thấy chúa nói gì bao giờ. Toàn nghe qua các bề trên, linh mục, cha xứ." Một người trần thế như thủ tướng VN mà bạn cả đời còn chưa có khả năng để gặp gỡ ,thì Thiên Chúa vĩ đại như vậy làm sao bạn gặp được? Ít nhất muốn gặp được Chúa thì phải kính trọng vâng lời người đại diện của Chúa là bề trên, linh mục, cha xứ , nhưng ngay cả sự vâng lời các vị này còn không có thì làm sao gặp được Thiên Chúa?
Bạn có nhớ chuyện Adam và Eva trong vườn địa đàng không? Thiên Chúa đã tạo ra 2 người đẹp đẽ khỏe mạnh sống no đủ sung sướng nhưng Eva không nghe lời Chúa mà nghe lời con rắn nên 2 người đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng...Vườn địa đàng này chính là Thiên Đàng đó, muốn trở lại đó sống thì rất tiếc bạn phải đọc lại tất cả các bài trích kia rồi... bạn chỉ nên đọc các trích đoạn đó khi đầu óc bạn không còn tư tưởng u ám về đạo CG , nếu bạn không tin rồi thì cho dù mọi nguoi trong này có copy cả cuốn kinh thánh vẫn làm cho bạn thấy bực bội mà thôi.Bạn chỉ nên đọc khi đầu óc bạn thực sự muốn hiểu , hãy đọc như em bé đọc truyên thì bạn sẽ hiểu thêm, còn neu dọc voi thành kiến cố hữu thì chắc chắn bạn sẽ không hieu ý nghĩa của nhung doạn trích đo', hay là bạn hãy tịnh tâm xong rồi hẵng đọc :idea:
http://only3minutes.wordpress.com/ch...u-kh%e1%bb%95/
http://only3minutes.wordpress.com/ch...u-kh%e1%bb%95/
Mời bạn tham khảo sách này nhé. Hy vọng qua đó sẽ THÔNG phần nào vướng mắc của bạn. Nhiều ng CG cũng có thắc mắc như bạn vậy đó, ai có thì cũng đọc luôn nha, để bớt đi nhưng kêu ca phiền trách Chúa.
Bạn này hay dùng chữ "xúc phạm tôn giáo". Bạn có bao giờ nghĩ rằng bạn cũng đã từng xúc phạm tôn giáo k? Qua những comment của bạn ở box này thì chúng tôi cũng nhận ra là có hay k đấy.
Bạn k biết ai thờ satan à?
Tôi tưởng bạn biết.
Người theo giáo phái satan thì có được gọi là ng thờ sa tan k? (giống như ng thờ Phật, ng thờ Chúa, ng thờ ông bà vậy)
Tôi nói "kẻ thờ satan" thì xúc phạm ai? Xúc phạm giáo phái satan hay xúc phạm bạn?
Phải nói thế nào đây, "người" thay cho "kẻ" hả bạn? hay là tuyệt đối k được nhắc đến "... thờ satan"
http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...RuJUxWkHvAlmWg
Mấy năm trước, tại Toulon (miền Nam nước Pháp), cảnh sát đã bắt được 4 học sinh gây ra vụ án kinh dị. Những học sinh này mang trên người nhiều đồ kỳ quái như biểu tượng số 666 (dấu hiệu của quỷ Satan), cây thập giá lộn ngược... và đột nhập vào một nghĩa trang. Chúng đào mộ và cạy nắp quan tài của người chết và múa may quay cuồng xung quanh, lấy thập giá cắm vào nơi quả tim của xác chết sau đó là chụp ảnh lưu niệm. Tại đồn cảnh sát, chúng đã tự xưng là đệ tử của quỷ Satan. Sau khi điều tra, cảnh sát đã phát hiện chúng là thành viên của giáo phái thờ quỷ Satan.
http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...n0QyQ4gC-o_bZA
Theo giáo sư Massimo Introvigne, là một tromg các chuyên viên xã hội học nổi tiếng Italia chuyên nghiên cứu các giáo phái tôn thờ Satan, có thể chia các giáo phái này thành 4 loại chính.
Loại thứ nhất là tôn thờ Satan có lý trí, coi Satan như là biểu tượng của sự dữ, của một quan niệm về thế giới phản Kitô, hưởng lạc và vô luân. Loại thứ hai là tôn thờ Satan huyền bí, chấp nhận quan niệm về thế giới như miêu tả trong Kinh Thánh, chấp nhận lịch sử tạo dựng, biến cố các thiên thần nổi loạn bị đuổi khỏi Trời, trở thành ma qủy, nhưng họ lựa chọn theo phục vụ ma qủy. Thứ ba là loại tôn thờ Satan ”chua cay”, có các lễ nghi trong đó các tham dự viên dùng các chất ma túy, hành lạc dâm dật, lạm dụng tâm lý và lạm dụng tính dục, nhưng nấp bóng sau chiều bài tôn thờ Satan. Loại thứ bốn là tôn thờ Lucifer, có nguồn gốc nhị nguyên hay ngộ đạo. Lucifer và Satan được thờ kính bên trong vũ trụ luận, và biến thành một khía cạnh ”tốt” hay cần thiết của sự thánh thiêng.
Từ bốn loại này phát xuất ra hàng ngàn giáo phái tôn thờ Satan khác nhau, nhưng không có sự phân biệt rõ ràng và các lễ nghi và lý do thường trộn lẫn với nhau.
Sao bạn? Tôi có được dùng chữ thờ satan k? Hay chỉ ông giáo sư trong bài viết này mới được dùng?
Hy vọng qua đây bạn hiểu là tôi chẳng xúc phạm ng của giáo phái satan.
Nhưng các bạn lại gộp chung tôn giáo của chúng tôi đối với giáo phái santa...đã vào đây...dù có viết ra hay không thì tôi biết bạn luôn có ý chống đối lại các đạo khác...Vấn đề là có viết ra hay không??? Tư tưởng trong đầu mà không nói ra mới là người đáng sợ đó bạn...
Và nói lại santa nữa...Các bạn không phải đã không ít lời chê bai giáo phái này trong các bài Topic hay sao mà còn bày đặt nói không chê bai???
Đạo Phật không thể đánh đồng với bất cứ tôn giáo nào khác...
1 đứa bé lỡ dẫm vào chân bạn nó, nó còn biết xin lỗi kia mà, sao chúng tôi lại k biết xin lỗi khi mình mắc lỗi?
Theo giáo luật thì chúng tôi có tội phải đi xưng tội, xưng tội để làm hòa với Chúa, với anh em mình.
Các linh mục, giám mục và giáo hoàng cũng đều phải đi xưng tội hết (xưng với 1 lm khác).
Chúng tôi không ai dám nhìn nhận mình vô tội đâu. Ai nói mình k bao giờ phạm tội thì ng đó mắc thêm tội kiêu ngạo, Chúa k thích ng kiêu ngạo, Ngài thích kẻ khiêm nhường. Ngài nói" hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường".
Trong các tội thì tội lỗi đức công bằng (trộm cắp, cân gian, bán thiếu, lừa đảo lấy tiền, ....) sau khi xưng tội thì còn phải đền trả cho xong mới đc tha. Bạn nghĩ xem, khi đền trả ng ta sẽ kèm theo lời xin lỗi hay cứ im im mà đưa tiền?
Trong quá khứ và hiện tại, GHCG đã có những tội lỗi lớn lao, giáo hội nhìn nhận thân phận thấp hèn yếu đuối của mình mà cậy xin lòng thương xót của Chúa.
(Chân phước JP II, khi còn tại thế (giáo hoàng JP II) ngài đã đứng ra thay mặt giáo hội để xin lỗi các cá nhân, các dân tộc mà giáo hội từ xưa đến nay, cách này hay cách khác đã làm tổn hại về vật chất và tinh thần và cả sinh mạng nữa (các cuộc thập tự chinh).
Noi gương chân phước JP II, GH Benedicto XVI cũng xin lỗi các nạn nhân các nước đã bị giáo sĩ lạm dụng tình dục.)
Có thể trong cuộc sống bạn thấy nhiều ng CG phạm tội, đi xưng tội nhưng k thấy xin ng bị mình xúc phạm tha tội, hoặc k thấy đền trả theo lẽ công bằng thì mình nghĩ như vầy:
1. K lẽ họ làm những việc đó phải cho nhiều ng thấy sao? K được phép làm giửa 2 ng có liên hệ với nhau hay sao?
2.Nếu họ chưa làm những việc đó thì bạn yên tâm, họ chưa trả đời này sẽ trả đời sau, mà trả đời sau mới là khủng khiếp, vì Chúa Jesus đã nói "Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"
Yên tâm nha bạn Quang, có Chúa lo liệu hết rồi
Xin bạn vui lòng đọc lại câu trả lời của tôi cho vấn đề bạn quangcom nêu ra. Ý bạn Quang nói là ý niệm về Chúa đôi khi trở nên buồn cười.
Nên tôi mới trả lời là buồn cười với ai, với .... ? Tức là người vô thần, ng thờ sa tan, ng Phật giáo sẽ buồn cười về ý niệm TC hả? Chứ với chúng tôi thì có cười nhưng mà là cười vui.
Chứ tôi có ý gì xúc phạm Phật giáo đâu! Cũng k hề đánh đồng PG với các tôn giáo khác. K lẽ vì tôi viết chung trên 1 dòng mà bạn nói tui đánh đồng sao? Bạn này buồn cười thật đấy!
Tôi cũng k xúc phạm giáo phái satan.
Hic, có lẽ nhiều ng hiểu và 1 ng k hiểu
Miệng thì nói không đánh đồng nhưng bạn viết ra để làm gì vậy???
Mình buồn cười ở chỗ nào vậy bạn???
Tôn giáo bạn dạy luôn luôn cười...đễu với mọi người hả...
Bạn cười thì lại giải thích là cười cho vui...Vậy tại sao bạn không nghĩ ban Quangcom đang cười nhưng cười cho vui...Sao bạn nghĩ ai cũng... " dễ tính " như bạn vậy ???
Mời bạn tham khảo:
VRNs (20.11.2011) - Sài Gòn – Suy niệm Lời Chúa lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ: Mt 25,31-46 (Chúa Nhật 34 Thường Niên A)
Đức Kitô là Vua vũ trụ. Chính Người sẽ xét xử muôn dân trong vinh quang và quyền uy tuyệt đối của Người. Đó là điều mà bài Tin Mừng hôm nay (Mt 25,31-46) muốn nhấn mạnh cách đặc biệt cho chúng ta.
Bấy giờ, Đức Giêsu nói: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người” (c.31).
Chủ đề về thời điểm và dấu hiệu của biến cố Con Người quang lâm đã từng được nói đến nhiều lần trong diễn từ cánh chung. Trước tiên là trong câu hỏi của các môn đệ ở phần nhập đề của diễn từ, khi các môn đệ tới gặp riêng Đức Giêsu và thưa: “Xin Thầy nói cho chúng con biết khi nào những sự việc ấy xảy ra, và cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế?” (24,3). Sau đó là trong một loạt những lời khẳng định của Đức Giêsu ở 24,27.30.37.39.44. Bây giờ, ở cuối diễn từ, vấn đề được quan tâm thực sự không phải là thời điểm hay dấu hiệu của biến cố nữa, mà là ý nghĩa của biến cố đó và những điều người ta cần chuẩn bị để đón biến cố đó.
Biến cố Con Người quang lâm được miêu tả bằng những chi tiết huy hoàng và hùng vĩ: “trong vinh quang của Người”, “có tất cả các thiên sứ theo hầu”, “Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người”. Trong 16,27 Đức Giêsu nói đến sự kiện Con Người sẽ đến trong vinh quang cùng với các thiên thần, nhưng ở đó là vinh quang của Cha Người chứ không phải là vinh quang của chính Người như ở đây. Sự thay đổi cách diễn tả này cho thấy có một sự tiến triển rõ ràng trong tư tưởng Kitô luận của tác giả Mátthêu. Cũng có một sự thay đổi khác nữa: hành động của Con Người ở 16,27 là “thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”, còn ở bài Tin Mừng hôm nay sẽ là tách biệt người của các dân thiên hạ như tách chiên ra khỏi dê và xét xử họ tùy theo cách sống của họ.
Một đoạn văn song song khác với 25,31 là 19,28: “Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel”. Ngữ cảnh cũng là cuộc phán xét, và biến cố cũng là “Con Người ngự tòa vinh hiển”. Sự kiện “có các thiên sứ theo hầu” cũng đã từng được đề cập trong 13,41; 16,27; 24,31. Rõ ràng tác giả Mátthêu muốn sử dụng các hình ảnh khải huyền xuất phát từ Đn 7,13-14 để làm hậu cảnh cho biến cố phán xét cánh chung của Con Người.
Khi Con Người đến trong khung cảnh vĩ đại như thế, “các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái” (cc.32-33). Tin Mừng đã được loan báo cho mọi dân: “Tin Mừng về Vương Quốc sẽ được loan báo trên khắp thế giới, để làm chứng cho mọi dân tộc được biết; và bấy giờ sẽ là tận cùng” (24,14; x. 28,19). Vì thế, các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Con Người. “Sẽ được tập họp” là một lối nói bị động thần học (passivum theologicum) có ý nói là chính Thiên Chúa tập họp họ lại. Đây không chỉ là cuộc tập hợp những hạt lúa tốt của ngày mùa cánh chung (x. 3,12; 13,30), mà còn là cuộc tập hợp cả cá tốt lẫn cá xấu (13,47), cả người xấu lẫn người tốt (22,10).
Các nhà nghiên cứu tranh luận khá nhiều về ý nghĩa của ngữ đoạn “các dân thiên hạ”. Trong số các cách lý giải, đáng chú ý là hai cách hiểu sau: (1) toàn thể nhân loại, và (2) toàn thể các Kitô hữu. Cách hiểu thứ hai dựa trên lập luận rằng sẽ là không hợp lý nếu những người không phải Kitô hữu lại bị xét xử theo những tiêu chí mà họ đã chẳng hề biết. Nhưng cách hiểu thứ nhất có vẻ tự nhiên hơn và phù hợp hơn. Đàng khác, trong những đoạn văn khác của Tân Ước nói về ngày phán xét cánh chung, những đối tượng phải bị đưa ra trước tòa phán xét cũng là tất cả mọi người. Ví dụ trong Rm 14,10-12; 2Cr 5,10; Kh 20,11-13.
Sự tách biệt chiên ra khỏi dê là sự tách biệt người công chính khỏi những kẻ bất chính. “Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính” (13,49). Chiên là hình ảnh ẩn dụ của những người công chính; dê là hình ảnh ẩn dụ của những kẻ tội lỗi. Ở bên phải là chỗ danh dự và quý trọng, còn ở bên trái nghĩa là ngược lại, mặc dù tự nó, ở bên trái không có nghĩa là bị coi thường. Thế là có hai nhóm phân biệt nhau.
Sự phân biệt thành hai tập hợp, và hai tập hợp này sẽ có số phận hoàn toàn khác nhau, là điều đã từng được trình bày trong một số đoạn văn khác của Mt. Thí dụ 13,40-43: “Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ”.
“Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (c.34).
Ở c.31, Đấng lên ngự trên ngai vinh hiển chính là Con Người. Vì thế, “Đức Vua” ở c.34 này chắc chắn cũng chính là Đấng ấy. Người nắm quyền thưởng phạt mọi người tùy theo việc lành dữ họ đã làm (x.16,27). Người sẽ tống khứ khỏi Nước của Người những kẻ làm điều gian ác, và cho những người công chính trở nên chói lọi như mặt trời, tức là được hưởng vinh quang của Thiên Chúa (x.13,40-43).
Những người công chính được Đức Vua gọi là “những kẻ được chúc phúc”, và là sự chúc phúc của “Cha Ta”, tức là có một mối liên hệ rất đặc biệt với Chúa Con trong Cha của Người. Những kẻ ấy được mời gọi: “Hãy đến”, trái ngược với những kẻ bất chính sẽ bị xua đuổi: “Đi đi”. Bây giờ, những người công chính sẽ được thừa hưởng Vương Quốc cánh chung trong vinh quang và phúc lạc vô tận của Vương Quốc. Tác giả Mt đã từng nói đến sự thừa hưởng “đất” (5,5) và sự thừa hưởng “sự sống đời đời” (19,29) như là những cách diễn tả khác của cũng một thực tại. Điều đáng chú ý là Vương Quốc mà những người công chính được thừa hưởng ở đây là thực tại mà Thiên Chúa đã dọn sẵn “từ thuở tạo thiên lập địa”, tức là từ lúc khởi đầu thời gian. Chương trình yêu thương đó của Thiên Chúa được hoàn tất viên mãn trong hạnh phúc vĩnh cửu của những người công chính.
Sở dĩ những người công chính được hưởng hạnh phúc lớn lao, đó là vì họ đã thực hiện những hành động tốt lành với chính Đức Vua. Người nói với họ : «Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước;Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (cc.35-36).
Có sáu tình cảnh khác nhau được kể ra : đói, khát, là khách lạ, trần truồng, đau yếu và bị tù. Điều đáng ngạc nhiên trước hết chính là việc Đức Giêsu kể ra rằng bản thân Người đã ở vào những tình cảnh cần được giúp đỡ đó. Người cũng khẳng định rằng những người công chính đang ở bên tay phải Người đây đã từng giúp đỡ Người trong những tình cảnh bi thương đó. Tất nhiên những tình cảnh được liệt kê ở đây chỉ mang tính minh họa cho những nhu cầu thiết yếu và sơ đẳng của con người trong những hoàn cảnh gặp gỡ hàng ngày giữa người với người trong cuộc sống.
‘Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?” (cc.37-39). Những người công chính ngạc nhiên trước những gì Đức Giêsu vừa nói với họ. Ba lần họ hỏi Người: “Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa… ? »
« Đức Vua sẽ đáp lại rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy » (c.40). Chính sự kiện những người công chính ngạc nhiên và thậm chí là hiểu lầm lời tuyên bố của Chúa Giêsu, đã là ‘cơ hội’ để Người đưa là lời minh định làm nền tảng cho phán quyết của Ngườii về số phận người lành kẻ dữ. Công thức ‘Ta bảo thật các ngươi’ cho thấy những điều được công bố ở đây có một sức nặng đặc biệt. Và điều đáng nói nhất, chính là sự kiện Đức Vua đang ngự trên ngai vinh hiển đã tự đồng hóa mình với những người bé nhỏ nhất mà Người gọi là anh em của Người. Những gì người ta đã làm cho những anh em bé nhỏ nhất đó, là đã làm cho chính Người.
Tuy nhiên, ai là ‘những anh em bé nhỏ nhất’ của Đức Giêsu. Đó là mọi người, nhất là những người bị bỏ rơi hơn cả ? Hay đó là các Kitô hữu ? Hay đó là các nhà thừa sai Kitô giáo như nhiều người đã từng hiểu ? Hay đó là những Kitô hữu gốc Do Thái như một vài người khác chủ trương? Cách hiểu cuối cùng này xuất phát từ lối giải thích hạn từanh em theo nghĩa chủng tộc. Cách giải thích thứ hai và thứ ba không khác nhau bao nhiêu, và thật ra, sự phân biệt hai tập hợp này với nhau là không cần thiết. Điều đáng ghi nhận là cách nói “anh em của tôi” trong Mt thường không quy chiếu về tất cả mọi người trong nhân loại, cho bằng quy chiếu về các anh chị em trong cộng đoàn Kitô hữu. Vì thế nhiều người muốn hiểu tập hợp những anh em ở câu 40 này theo nghĩa đó (x. 12,48-49; 28,10; 23,8…). Cách nói ‘một trong những kẻ bé mọn’ đã từng được Mt 18,6.10.14 dùng để chỉ các đồ đệ của Chúa Giêsu. Trong 10,42 chúng ta gặp một nội dung khá gần với những gì được nói ở đây: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Thậm chí ngay trước đó Chúa Giêsu còn khẳng định: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (10,40).
Tất nhiên cáh hiểu “những anh em bé nhỏ nhất” ở đây theo nghĩa là mọi người, nhất là những người hèn mọn và bị bỏ rơi hơn cả, vẫn luôn luôn là cách hiểu hấp dẫn nhất, nhưng rõ ràng cũng không thể coi thường cách hiểu thứ hai, quy chiếu về sự đồng hóa của Chúa Giêsu với các đồ đệ nam nữ của Người.
“Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (c.41). Những người ở bên trái, tức là những con dê theo cách xác định ở câu 33. Những người này bị tuyên một án phạt rất nặng nề và nghiêm khắc. Trước hết, họ bị gọi là “quân bị nguyền rủa”, cách dùng xuất hiện duy nhất một lần này trong Tân Ước để chỉ những người bất chính. Ngược với số phận của những người công chính trong câu 34, những người gian ác bị đuổi khỏi nhan Đức Vua và ném vào lửa đời đời. Độc giả Mt đã từng gặp khái niệm “lửa đời đời” trong 18,8 và “lửa không hề tắt” trong 3,12. Những kẻ gian ác bị kết án phải bị trầm luân đời đời trong lửa đó. Họ vĩnh viễn phải sống trong sự dày vò và đau đớn khôn cùng.
Lý do những người này bị kết án thì cũng phần nào giống với lý do những người bên phải được chúc phúc, tất nhiên là theo hướng ngược hẳn lại. Chúa nói: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (cc.42-43). Cũng sáu tình cảnh tương tự như ở cc.35-36, nhưng ở đây, sự ứng đáp luôn luôn là tiêu cực: “Các ngươi đã không…”. Họ không có lòng yêu mến đối với Đức Vua khi Người đang ở trong những hoàn cảnh cần sự giúp đỡ.
“Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?” (c.44). Phản ứng của những người bất chính ở đây cũng phần nào giống với phản ứng của những người công chính ở phía trên. Họ cũng thưa với Đức Giêsu: “Lạy Chúa”, y như những người công chính ở cc.37-39. Nhưng lời thưa này chẳng có giá trị, vì như Đức Giêsu đã từng nói: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! ” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (7,21-23).
“Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (c.45). Câu trả lời của Chúa Giêsu ở đây về bản chất cũng giốg như câu trả lời mà Người đã nói với những người công chính phía trên. Chỉ có một chi tiết nhỏ đáng chú ý: không có “những anh em của Ta”.
“Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời”(c.40). Câu cuối cùng này của bài Tin Mừng tóm tắt số phận hoàn toàn khác nhau của hai hạng người. Và đây là số phận đời đời.
Gợi ý suy niệm và chia sẻ
1. Con Người sẽ đến trong vinh quang của Người vào ngày quang lâm. Biến cố trọng đại và huy hoàng đó đồng thời cũng là biến cố quyết định về số phận chung cục của từng người và của toàn thề nhân loại. Tiếng nói cuối cùng về mọi thực tại, như vậy, là tiếng nói và quyết định của Chúa Kitô Quang Lâm. Ngài mới là Đức Vua đích thực của toàn thể vũ trụ.
2. Tất cả mọi dân nước trên trần gian đều bị xét xử, tùy theo cách hành xử của họ đối với những người anh em bé mọn của Đức Giêsu, những kẻ mà Ngài đã tự đồng hóa mình với họ.
3. Mối liên đới mật thiết đáng ngạc nhiên giữa Đức Kitô với những người anh em bé mọn nhất của Ngài làm nên căn bản và tiêu chí lượng giá của toàn bộ lịch sử cá nhân và tập thể. Điều quan trọng nhất, như thế, là được đi vào trong mối tương quan mật thiết với Chúa Kitô, được trở nên anh em của Ngài. Tất nhiên, một khi đã là anh em của Ngài, thì chúng ta sẽ không thể thấy Ngài đói mà lại chẳng cho ăn, hay thấy Ngài khát mà lại chẳng cho uống, hay thất Ngài mình trần mà lại không cho đồ mặc… Nói cách khác, vấn đề vẫn là đón nhận hay từ khước lòng tin và tư cách Kitô hữu đích thực.
LM. Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R
Bạn thấy sao? Tất cả đều dựa trên giới răn yêu thương phải k?
Đó là phán xét chung.
Phán xét riêng thì thế nào?
PHÁN XÉT RIÊNG
+++
I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
Chúng ta đọc : Mt 25,31-46; Rm 14,7-9.10b-12).
Qua bài Tin mừng vừa nghe, chúng ta thấy Chúa Giêsu loan báo sẽ có ngày phán xét chung trong ngày tận thế. Trong ngày đó, mọi người sẽ được sống lại để chịu phán xét. Chúa Giêsu sẽ ngự đến với tư cách là vị Vua Thẩm phán, có các thiên thần hầu cạnh, để phán xét mọi người. Ngài sẽ phân tách người ta thành hai loại : kẻ lành ở bên hữu, kẻ dữ đứng bên tả như người ta tách chiên ra khỏi dê. Ngài sẽ phán xét việc lành việc dữ của từng người trước mặt cả và thiên hạ. Sau đó, Ngài định đoạt cho số phận từng người : Kẻ lành lên thiên đàng cả hồn cả xác để hưởng vinh quang bên Chúa; ngược lại kẻ dữ thì phải vào hỏa ngục chịu hình phạt đời đời.
Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô nhắc nhở mọi người nhớ mình là người đã thuộc về Chúa, cho nên dù sống dù chết, không có gì ngoài Chúa. Chúng ta sẽ phải trả lẽ với Chúa, sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Chúa (Rm 14,10-12). Không có gì có thể che giấu được, mọi sự sẽ phải được đưa ra ánh sáng (2Cr 5,10). Như vậy, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta rằng sẽ có phán xét, nhưng ngài không xác định là phán xét chung hay phán xét riêng.
II. NÓI VỀ NGÀY PHÁN XÉT RIÊNG.
1. Theo quan niệm chung.
Người đời ai cũng tin tưởng rằng phải có thưởng phạt sau khi chết. Người Việt chúng ta tin theo thuyết quả báo :”Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” : tội phúc sau cùng phải có quả báo. Từ quan niệm quả báo đó, người ta đưa ra nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công phúc thì được thưởng, có tôi thì phải phạt. Như thế mới có sự công bằng, mới hợp lý.
Vì thế, phán xét là một quan niệm lâu đời trong các tôn giáo cổ xưa. Theo quan niệm này, thần minh xét xử con người và thưởng phạt tùy theo tội phúc họ đã làm.
Trong ý nghĩa thần học, phán xét là hành động chung quyết của Thiên Chúa, qua đó, số phận của các thụ tạo tự do được xác định vĩnh viễn.
2. Diễn tiến tư tưởng về phán xét riêng.
Từ ban đầu, các tín hữu đầu tiên ít quan tâm đến phán xét riêng. Mãi đến thế kỷ thứ 4, có một ý kiến phổ thông – như thánh Ambrôsiô – cho rằng có những nơi tạm trú (habitations provisoires) chờ sẵn các linh hồn sau khi lìa xác. Chỗ tạm trú không phải mọi người giống nhau. Có người phải chịu phạt, có người lại được thưởng công. Quan điểm cho thấy quan niệm phán xét riêng đã được manh nha, từ đây các giáo phụ nói nhiều về phán xét riêng như thánh Hilariô, thánh Basiliô, thánh Gioan Chrysostômô, thánh Augustinô…
Tới năm 1276, bản tuyên ngôn của Đức giáo hoàng Clêmentê II là bản kinh chính thức đầu tiên phân biệt phán xét chung và phán xét riêng. Từ đó phán xét riêng bắt đầu chiếm ưu thế trong giảng dạy và thần học.
Một tác giả thời danh của thế kỷ này là thánh Tôma Aquinô cũng dạy : mỗi người vừa là một ngôi vị riêng biệt, vừa là thành phần của toàn thể nhân loại, nên cần có 2 cuộc phán xét. Phán xét riêng liền sau khi chết và một cuộc phán xét khác vì là thành phần của cả nhân loại.
Theo công đồng Lyon II năm 1274 và công đồng Florence năm 1439, thì liền sau khi chết, kẻ lành vào ngay thiên đàng hay luyện ngục và kẻ dữ vào ngay hỏa ngục và như vậy là có phán xét riêng.
Sau cùng, năm 1964, trong hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, công đồng Vatican II dã dạy :”Thật vậy, trước khi ngự trị với Chúa vinh hiển, mọi người chúng ta đều phải trình diện trước tòa Chúa Kitô”(2Cr 5,10). Chỗ này nói về phán xét riêng, vì tiếp sau có viết :”Và ngày tận thế”, tức là có hai lần phán xét : trước tận thế và chính ngày tận thế.
III. NIỀM TIN CỦA CHÚNG TA NGÀY NAY.
Phán xét riêng chưa phải là một vấn đề được định tín chính thức, vấn đề này còn bỏ ngỏ để mọi người tìm hiểu thêm, bởi vì trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói rõ về một cuộc phán xét riêng liền sau cái chết của mỗi người.
Tuy phán xét riêng chưa phải là vấn đề buộc phải tin nhưng theo sự khôn ngoan và ích lợi cho cuộc sống, chúng ta – những người con của Giáo hội – cần tuân theo những chỉ dẫn của Mẹ Giáo hội để phần rỗi chúng ta được bảo đảm hơn.
Sách Giáo lý Công giáo số 1021 dạy :”Cái chết kết thúc đời sống con người, nghĩa là chấm dứt thời gian đón nhận hay chốâi bỏ ân sủng Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô. Khi đề cập đến phán xét, Tân ước chủ yếu nói về cuộc gặp gỡ chung cuộc với Đức Kitô trong ngày quang lâm, nhưng cũng nhiều lần khẳng định có sự thưởng phạt tức khắc ngay sau khi chết, tùy theo công việc và đức tin của mỗi người…”.
Nhưng sách Giáo lý Công giáo số 1022 nói rất rõ về vấn đề này :”Ngay khi lìa khỏi xác, linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời; tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Đức Kitô, linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện hoặc được hưởng phúc trên trời hoặc sa địa ngục vĩnh viễn”.
Chúng ta cũng nên hiểu thêm, trong việc phán xét riêng, phần thưởng hay hình phạt không áp dụng cách máy móc, tức là chắc chắn có sự phán xét của Thiên Chúa. Theo chiều hướng thần học nói chung, con người vừa mới chết được Thiên Chúa soi sáng nhận biết rõ ràng mọi sự trong giây lát và đánh giá tổng kết toàn bộ cuộc đời mình trên trần gian, qua đó, linh hồn nhận thấy rõ phần thưởng hay hình phạt tương ứng dành cho mình, nghĩa là chính mình quyết định nhận lấy phần thưởng hay hình phạt cho mình.
Về vấn đề này, Đức Hồng y Billot nói :”Ngay sau khi linh hồn lìa khỏi xác, trong phút chốc thì cuốn sách lương tâm liền mở ra , làm cho ta nhận thức ngay một trật toàn bộ các việc ta đã làm khi còn sống”. Và Linh mục Parvilliez giải thích thêm : Chính ta sẽ phán xét ta, bởi tình trạng quá hiển nhiên công khai không thể chối cãi được. Công trạng và lỗi lầm sẽ xuất hiện trước mắt ta trong ánh sáng chói lọi; đồng thời cũng cho thấy những phần thưởng và hình phạt tương xứng với ta. Như thế, chính ta sẽ tuyên án cho ta và quan tòa khoan dung hay khắc nghiệt không có gì ảnh hưởng đến bản án đó, thiên thần và quỉ dữ có trổ tài hùng biện cũng không thể thay đổi bản án đó (Parvilliez, Niềm vui trước sự chết, tr 57-58).
Trong giáo lý đạo Cao đài, ta thấy có một điểm cũng hay trong Minh Kinh Đài hay Minh Cảnh Đài, theo đó, sau khi ta lìa đời, linh hồn sẽ đến trước tấm gương này. Tất cả việc ta làm trong kiếp sống vừa qua sẽ lần lượt tái hiện không sót mảy may trên mặt gương, y hệt những thước phim được chiếu lại trọn vẹn. Không cần ai phán xét hết. Những việc làm tốt khiến lòng ta tự dưng khoan khoái, sung sướng. Những việc làm quấy sẽ bắt ta tự xấu hổ, đau đón, ăn năn…
Truyện : Phán xét nhà vua.
Người Ai cập cổ thời có một tục rất hay, khả dĩ nhắc cho các vị vua chúa biết rằng họ có nhiệm vụ, có bổn phận, họ không thể hành động theo sở thích hay lòng ham muốn riêng của mình; nhưng phải tự coi mình như là những người bảo vệ công lý và mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân.
Mỗi khi có một vị vua băng hà, người ta đem bầy xác vị vua đó bên bờ một cái hồ ở nơi ranh giới của cõi sống và cõi chết. Tại đó, một tòa án được thiết lập và gồm có 43 viên thẩm phán.
Một phát ngôn viên tiến ra và kêu lên trước xác chết :
- Xin ông cho chúng tôi biết lúc sống ông đã làm những gì.
Một ông bộ trưởng của vị vua quá cố, đứng lên than oan cho nhà vua và kể lại những công trạng của nhà vua lúc sinh thời, những luật lệ đã ban hành, những ích lợi đã đem lại cho dân.
Đoạn, một người dân có thể đứng ra kết tội nhà vua và tự do kể lể ở trước mặt 43 viên thẩm phán những điều mình oan ức muốn phàn nàn.
Tòa cân nhắc công và tội của nhà vua. Nếu xét ra tội nhiều hơn công, tòa kết án nhà vua. Người ta đem bôi lọ tên tuổi của nhà vua đó đi, ghi vào trong sử sách; còn xác nhà vua thì, trước kia được kính trọng như một vị thần minh, bây giờ không được chôn cất, sẽ đem vứt ra bờ bãi để cho diều tha, quạ mổ (Vũ Bằng, Đông tây cổ học tinh hoa, tr 18-19).
Trong cuộc sống trên trần gian này, người ta thường phải trải qua bốân giai đoạn sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng có người đi đủ 4 giai đoạn đó, có người chỉ có sinh và tử, chết yểu.
Còn trong cuộc sống mai hậu, chúng ta phải qua 4 điều sau cùng này mà chúng ta gọi là Tứ chung, gồm sự chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Sống chết là một điều bắt buộc, ai cũng phải qua, còn thiên đàng hay hỏa ngục do chính mỗi người chúng ta tự chọn.
Để kết luận về việc phán xét riêng, chúng ta nên theo nhận định này :”Phán xét riêng được thực hiện lập tức sau cái chết, trong đó số phận vĩnh cửu của con người được quyết định do việc luận xử của Thiên Chúa”. Đây là ý kiến chung của các nhà thần học, theo ngôn từ riêng của khoa thần học là : sententia fidei proxima, có nghĩa là ý kiến gần kề với đức tin, chứ chưa phải là một điều buộc phải tin, tức là chưa được định tín.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt
Xem thêm: http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...-Z2WJnP8i-SSGA
Còn đây, cảm nghiệm về phán xét riêng của 1 ng chết đi sống lại, mời bạn tham khảo.
K ai bắt bạn tin, Nhưng đọc để tham khảo nhé. http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...X0c9PO4sezrDlA
kẻ tin chúa thì lên thiên đàng, không tin chúa thì xuống địa ngục bất kể hành động của họ thế nào.
Câu này mình nghe nhiều bạn k phải CG nói.
Các bạn hiểu lầm rồi.
Hy vọng đọc xong mấy link mình gửi kèm các bạn sẽ có cái nhìn công bằng về Thiên Chúa, Thẩm Phán Chí Công nhưng cũng là Người Cha Nhân Hậu.
những đứa trẻ đầu đg xó chợ,trẻ nghèo lang thang ko đc bik Chúa là ai ? chưa một lần đc đọc kinh,cầu nguyện đặc bịt là ko đc rữa tội,.... thế thiên đàng có chờ đón họ ko ? trong khi ai tin vào Chúa thì được lên thiên đàng họ đâu bik Chúa đâu mà tin !
Vẫn là hồng ân đó bạn à, "Ngũ uẩn giai không" mà.
Bạn xem clip về anh chàng Nick Vujicic để hiểu "TẤT CẢ ĐỀU LÀ HỒNG ÂN"
Tất cả đều là KHÔNG.
I LOVE LIVING. I AM HAPPY :)
http://www.youtube.com/watch?v=EYaF4xe9LdE
Thỉnh thoảng tôi vẫn xem lại các đoạn clip này, để học cách ĐỨNG DẬY như anh ta.Thiên Chúa là Tình Yêu :), dangbao nói Thiên Chúa là Tình Ái cũng được hii.
Là người Kito hữu mà k dựa vào Chúa thì k còn là người Kito hữu nữa. (Nói như vầy k biết có ai bắt bẻ là: vậy nếu bị bệnh thì nằm nhà mà cầu xin Chúa đi, vậy k cần học, khi nào đi thi thì xin Chúa cho đậu đi, ... k ta?)
Đối với Ngài chúng tôi phải Tin Cậy Mến (Tin, Phó thác, Yêu mến).
ĐỨC CẬY
Nếu bạn hỏi một linh mục trẻ sau hai năm thực thi thừa tác vụ liệu ngài thích cử hành lễ rửa tội, hôn phối hay là an táng hơn, thì tôi chắc chắn rằng ngài sẽ trả lời là lễ an táng. Trong các lễ hôn phối, sự chú ý của các tín hữu bị phân tán : có cô dâu, áo cưới, chú rễ, các cha mẹ, etc. Trong lễ rửa tội, có em bé, cha mẹ, vú bõ đỡ đầu được hỏi những gì phải làm, etc. Trong cả hai trường hợp, thì sự kích thích đến độ người ta khó tập trung.
Đối với lễ an táng thì hoàn toàn khác. Sự chú ý của những người tham dự bị sự phiền muộn thu hút. Việc cử hành lễ và nghĩa trang là kết quả của một sự liên tiếp những ngày dài trong đó những người đang ở đó đã chịu đau buồn. Cử tọa thì mệt lử. Vào ở giữa thì có chiếc hòm, dấu rõ ràng của sự đau buồn của mọi người. Có một nhu cầu thúc bách và hiển nhiên về sự nâng đỡ và an ủi. Nhưng những người để tang chỉ sẽ nhạy cảm như thế trong chừng mực vị linh mục chú ý đến tình cảm mất mác mà họ nghiệm thấy.
Khi tôi là học sinh trung học, tôi nhớ rằng có một người láng giềng độ ba mươi mấy tuổi đã tự vẫn. Bà quả phụ và con cái đến nhà chúng tôi đêm hôm đó và một linh mục trong giáo xứ đã có mặt để an ủi gia đình. Ngài thực sự đã mong muốn bảy tỏ sự nâng đỡ của mình ; ngài đã đến ngay lập tức sau khi cảnh sát gọi cho ngài. Nhưng ngài đã tỏ ra vui vẻ. Ngài đã quá vui vẻ. Ngài mỉm cười, cười, vui đùa. Ngài muốn mang đến niềm hy vọng, nhưng chỉ đi đến kết quả là bị từ chối.
HÃY ĐỂ CHỖ CHO SỰ PHIỀN MUỘN
Nhiều nhà phụng vụ đã hành động thiếu cân nhắc như nhau đối với các nhu cầu của những người có tang khi họ đã sửa đổi nghi thức thánh lễ an táng. Nói chung, họ đi từ thái cực này đến thái cực khác. Trước Công đồng, Giáo Hội tham dự bằng lời cầu nguyện vào thánh lễ cho người qua đời. Sau Công đồng, người ta bắt đầu cử hành thánh lễ phục sinh. Người ta đã hoàn toàn chuyển từ phiền muộn sang niềm vui, từ màu đen sang màu trắng. Các nhà phụng vụ có lý khi muốn đưa vào màu sắc của sự phục sinh, nhưng lẽ ra họ nên làm như thế mà vẫn lưu tâm đến kinh nghiệm của cử tọa vừa mất đi một người thân yêu. Lúc lễ an táng, cử tọa đang ở trong sự đau buồn sâu xa. Yêu cầu họ vui mừng về sự phục sinh không chỉ là phi thực tế, đó đúng là phi nhân.
Phụng vụ lễ an táng được tập trung vào niềm hy vọng, đó không phải là một cử hành niềm vui. Không phải ở cái chết của Chúa Giêsu mà Đức Maria và các môn đệ đã cảm thấy niềm vui, nhưng ở sự phục sinh của Ngài. Niềm vui, đó là những gì mà các bậc cha mẹ nghiệm thấy lúc con mình chao đời. Niềm vui, đó là những gì chúng ta cảm thấy khi chúng ta thực sự có điều gì đó. Niềm hy vọng là những gì mà chúng ta nghiệm thấy khi chúng ta không còn sở hữu gì nữa. Vào lúc diễn ra nghi thức an táng, theo cách tốt nhất là có niềm hy vọng.
Ở những lễ an táng, nhiều tín hữu trải qua một thời điểm khó khăn. Đối với những ai có đức tin cũng như đối với những ai không có, thì sự phiền muộn bao trùm. Nhưng những tín hữu có thể cảm thấy một cảm giác bối rối. Họ hẳn muốn biết tại sao họ không cảm thấy sự xác tín về sự phục sinh hơn. Họ ngạc nhiên rằng đức tin của họ yếu kém đến độ họ có thể cảm thấy mình bất hạnh như những người không tin.
Thường xảy ra là những người tin, bị đảo lộn bởi cái chết của người thân yêu, cảm nghiệm rằng đức tin của họ không nâng đỡ họ nhưng đúng hơn là đè nặng họ, khi họ dự một nghi thức an táng. Chính khi người ta tự vấn về sự yếu kém của đức tin của mình mà niềm hy vọng mang lấy tất cả ý nghĩa của nó. Vì đức cậy là sự sẵn lòng không từ bỏ đức tin vào lúc mà, có thể nói như thế, người ta không còn rút ra được bất kỳ sự an ủi nào từ đó nữa.
VÀ CÁI CHẾT ĐỐI VỚI MỘT TÍN HỮU ?
Bây giờ cần phải xem xét lời khẳng định nực cười này, theo đó, cái chết sẽ dễ dàng được chấp nhận bởi các tín hữu hơn là bởi những người vô thần và những người theo thuyết bất khả tri. Cái chết cướp đi mạng sống của một người thân yêu theo cùng một cách thức đối với mọi người, với cùng một sự hiển nhiên, thể lý và tinh thần. Đối với người vô thần và những người theo thuyết bất khả tri, cái chết là điểm sau cùng : cánh cửa sự sống khép lại. Ý nghĩa của cái chết là vô phương vãn hồi. Các tín hữu cũng cảm thấy cái chết như là kết thúc ; họ không cảm nghiệm về cái chết cách ít thảm thương hơn. Tuy nhiên, họ không sẵn sàng nuôi dưỡng cùng một xác tín như những người không tin về vấn đề sự chết. Bất chấp sự mất mác, bất chấp sự yếu kém của đức tin của mình, họ chọn để cho cánh cửa sự chết mở ra. Rất thường, đối với những ai khóc lóc, thì đức tin không phải là một sự an ủi, đúng hơn nó làm cho chưng hửng. Niềm hy vọng đích thực, đó là giữ gìn đức tin. Đối diện với cái chết, với tư cách là người tin, chúng ta quyết định đứng vững trước lời hứa phục sinh, cho dầu đầu gối của chúng ta run rẩy. Nơi đâu không có mối nghi ngờ nào, sự thiếu xác tín nào, sự bối rối nào, ước muốn nếm thử hơn ân ban đức tin nào, thì ít cần nhu cầu hy vọng ở đó. Nhưng chúng ta vẫn sống trong niềm hy vọng, niềm hy vọng về những gì mà chúng ta không sở hữu – tức là kinh nghiệm chắc chắn về sự phục sinh.
Mỏ neo được xem như là một hình ảnh về niềm hy vọng. Khi chúng ta cảm thấy bị lắc lư bởi những làn sóng, chúng ta đi lạc hướng, chúng ta bị mất phương hướng, thì chúng ta tìm thấy nơi đức cậy, cái mỏ neo mà cho phép chúng ta kiên vững trong đức tin. Chính khi chúng ta bị lay động bởi những cơn gió mà niềm hy vọng có thể giúp chúng ta. Như đức can đảm, đức cậy là nhân đức của sự kiên trì, của sự bền bỉ.
Quan niệm về niềm hy vọng này đã được khai triển trong Chrétiens, demain : Le visiteur[15], một cuốn tiểu thuyết hay được Brian Moore viết cách đây một thời gian. Vào một thời kỳ tương lai sau Công đồng Vatican III, có một sự bất bình nào đó dường như xảy ra trong một cộng đoàn đan tu. Vatican gởi một vị kinh lược đến điều tra. Trên đường đi, người ta biết rằng cha viện trưởng, con người tốt lành và lương thiện, không còn cầu nguyện được nữa từ nhiều năm nay. Khi ngài cố gắng, không có gì diễn ra. Sự gay go của những chiến đấu của ngài, mà ngài giải thích cho vị kinh lược, là rõ ràng trong suốt câu chuyện. Và ở đoạn kết, trong phiên bản quay phim, người ta thấy viện phụ đang kinh sợ, quỳ gối một mình trong đêm tối, thử phát âm những từ của Kinh Lạy Cha.
Cuốn tiểu thuyết này dẫn đến những lời nói của thánh Phaolô trong Thư gởi tín hữu Rôma của ngài. Ở chương VIII, một trong những đoạn về niềm hy vọng, ngài nhận xét rằng chúng ta hy vọng những gì chúng ta vẫn còn chưa thấy : nếu ta có thể thấy, thì đó sẽ không còn là hy vọng nữa. Ngài viết, niềm hy vọng giúp chúng ta chính khi chúng ta yếu đuối. Ngài nói thêm rằng sự yếu đuối của chúng ta có thể đến độ thấm chí đôi khi chúng ta không còn biết cầu nguyện như thế nào. Nhưng, ngài nói, chính vào lúc mà chúng ta muốn có thể cầu nguyện (hãy lưu ý kỹ : không phải là khi chúng ta cầu nguyện, nhưng là khi chúng ta muốn có thể cầu nguyện) mà Thánh Thần nói với Chúa Cha xuyên qua những tiếng rên siết của chúng ta. Trong sự bất khả cầu nguyện của chúng ta, chính Thánh Thần cầu nguyện cho chúng ta, nhưng bằng cách thông qua chúng ta.
Trong những tiếng rên siết của chúng ta, chúng ta hy vọng. Vì rên siết tự nó là một ước muốn, một niềm hy vọng. Tiếp tục cuộc đối thoại ngay cả khi chúng ta đối diện với những sợ hãi dữ dội nhất của chúng ta là một hành vi hy vọng. Đức cậy hệ tại ở chỗ vẫn tiếp tục đối thoại, ngay cả khi chúng ta không nói được lời nào nhưng ước muốn phát âm chúng vẫn hãy còn. Như viện phụ quý gối, bị đè nặng bởi nổi kinh sợ, chúng ta cũng hy vọng khi không còn gì khác phải làm hơn là bày tỏ ước muốn tin của chúng ta. Chính ước muốn này rất thường cư ngụ nơi tâm hồn của những ai khóc than một người thân yêu.
ĐỨC CẬY NHƯ LÀ ÂN BAN
Chính ở đây mà chúng ta phải xem đức cậy như là một ân ban của Thiên Chúa. Vì nếu chúng ta nghĩ rằng những người có tang mà bám lấy lời cầu nguyện trong một lễ an táng, hay cha tu viện trưởng của Brian Moore, hay những độc giả của Thư gởi tín hữu Rôma, chỉ hy vọng vào những sức lực riêng của mình, thì chúng ta bị nhầm lẫn về những gì là đức cậy. Như đức tin và đức ái, hai nhân đức đối thần khác, đức cậy không phải là điều gì đó mà ta có thể thủ đắc hay làm cho lớn lên bằng chính bản thân của ta. Đức cậy, cũng như đức tin và đức ái là những ân ban, những ân ban thuần túy, là chính biểu lộ của ân sủng.
Đức cậy, đó là Thánh Thần mà, khi trở về trong con người mệt mỏi, kiệt sức, sợ hãi của chúng ta, đang ban cho chúng ta phương tiện tiếp tục cuộc đối thoại, đứng vững trước nhan Thiên Chúa hằng sống. Tất cả những gì cho phép chúng ta tiếp tục tin tưởng trước cái chết, sự nghi ngờ, sự thiếu xác tín hay sự sợ hãi đều thuộc về đức cậy. Khả năng đứng vững không nao núng, mỏ neo mà củng cố chúng ta khi chúng ta bị đánh bởi những cơn gió, làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta.
Nếu chúng ta xem đức cậy như là một ân ban, thì chúng ta thấy nó như là một biểu hiện cụ thể của mối quan tâm mà Thiên Chúa mang đến cho chúng ta. Nhưng chính ở chỗ trống rỗng cực độ của sự yếu đuối của chúng ta mà mối quan tâm này trở nên có thể nhận thấy được. Khi chúng ta là những người dễ bị tổn thương nhất, thì Thiên Chúa ban cho chúng ta Thánh Thần hy vọng. Đức cậy thực sự là ân ban của Thiên Chúa cho sự tổn thương của chúng ta. Chính khi chúng ta bị kiệt sức, câm lặng, bất lực, nói cách khác là đối diện với sự tổn thương của chúng ta, trong bóng tối của cuộc đời chúng ta, mà Thiên Chúa đến trong chúng ta để ban lại cho chúng ta sức mạnh.
Nhưng sự hiện diện của niềm hy vọng không phải là căng thẳng, tàn nhẫn, cũng không ầm ĩ. Nó không đột nhiên biến bóng tối thành ánh sáng, thinh lặng thành hùng hồn. Đức cậy nhẹ nhàng như cơn gió nhẹ. Nó tôn trọng sự tự do của chúng ta, trí tuệ của chúng ta, các cảm xúc của chúng ta. Đức cậy không tước mất chúng ta khỏi óc phê bình, khỏi những kinh nghiệm sa mạc của chúng ta, khỏi những sợ hãi sâu xa của chúng ta. Nó thâm nhập nhẹ nhàng, bảo đảm cho chúng ta sự hiện diện của Thánh Thần ngay giữa lòng đau buồn. Sự hiện diện êm dịu này lại đầy sức mạnh, không phải bằng cường độ nhưng bằng chiều sâu. Chính hơi thở của Chúa Thánh Thần đang đến khi chúng ta rên siết, đảm bảo cho chúng ta rằng khi chúng ta biết đến những giây phút yếu đuối lớn lao nhất, khi chúng ta kiệt sức, thì Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta.
***
[15] Brian Moore, Chrétiens, demain : Le visiteur, roman, Villeneuve d’Ascq, Université de Lille III, 1997, 85 p. Một cuốn phim đã được rút ra từ cuốn tiểu thuyết này
Tác giả Võ Xuân Tiến, Lm.
Trông cậy nơi Chúa k có nghĩa là phó mặc hết cho Ngài mà chúng tôi k cố gắng.
Đau bệnh chúng tôi xin Ngài cho gặp thầy gặp thuốc rồi đến bác sĩ, khám bệnh, uống thuốc, làm theo lời bác sĩ dặn, k chỉ riêng ng bệnh cầu nguyện mà cả gia đình, họ hàng, bạn bè và hàng xóm đều chung lời cầu nguyện (nếu là bệnh nặng) cho ng bệnh mau khỏi, chúng tôi cũng k quên xin nếu Ngài định cho chúng tôi ra đi thì xin cho chúng tôi được chết lành (được sạch tội trọng, được chịu các bí tích Hòa Giải, Thánh Thể và Xức Dầu)
Ai đi học thì phải lo học và xin ơn Chúa soi sáng cho mau thuộc, mau nhớ, mau hiểu. Đi lễ thì được cha dặn k được quay bài, vì quay bài cũng là 1 hình thức gian dối. (Nhưng hs CG có quay bài nhiều hay ít là chuyện khác, nhé)
Cháy nhà thì lo gọi cứu hỏa rùi bà con hàng xóm giúp nhau chạy đồ đạc ra, trong lúc đó cũng k quên xin Chúa gìn giữ chúng con bình an.
Ai cũng lo làm ăn trước hết để đủ ăn, sau mong có dư chút cho con cái ăn học, chữa bệnh khi cần thiết. Và cầu nguyện hằng ngày "Lạy Cha chúng con...xin Cha cho chúng con lương thực hàng ngày..."
Đây là tâm tình ở xứ đạo của mình. Mình nghĩ các xứ đạo khác cũng thế thôi. Nhưng những xứ mà người CG ở lẫn và chiếm tỷ lệ dân số ít hơn thì có lẽ sẽ hay có chuyện đua theo xem bói, thậm chí cầu bùa ngải. Có thể là do họ không biết là có 1 số LM có thể trừ quỷ. (Ở xứ mình và các xứ khác vùng Lâm Đồng thì sẽ đến cha Hoàng ở xứ Thanh Bình (Đức Trọng) và cha Truyền xứ Tân Hóa (Bảo Lộc) để nhờ trừ ma quỷ ám hoặc quấy phá. Các LM có năng quyền trừ quỷ như xưa Chúa Jesus đã trừ quỷ, nhưng k phải ai cũng trừ được, vì còn phụ thuộc vào sự thánh thiện, sự luyện tập nữa. Xem thêm Nhà trừ quỷ kể truyện http://www.google.com.vn/url?sa=t&rc...7PZyQ2NUSslLPA)
nhưng chẳng thấy chúa nói gì bao giờ
Chúa nói với chúng tôi qua kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước đó. Nhất là Tân Ước, có rất nhiều câu nói của Chúa Jesus, ai tin vaò lời Ngài và sống giới răn yêu thương của Ngài thì sẽ chẳng hư mất bao giờ.
À, nhắc đến đây mới nhớ, bạn nói rằng kinh thánh là do Vatian tự biên tự chế phải k nhỉ? Mình đã trả lời bạn rồi nhé. kèm theo mấy đường link nữa đó
Bạn thấy mình hay trích dẫn lời Chúa và các bài chia sẻ hay sách của các LM chứ? Mình đang dựa vào các ngài đấy, chứ sức mình làm được gì.
Bề trên, linh mục, cha xứ, cha phó, giám mục, giáo hoàng k phải tự nhiên mà có. Chúa Jesus đã lập bí tích truyền chức thánh trong bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng với các tông đồ trước khi Ngài bước vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh.
Do đó, chức LM là chức thánh (vì do Chúa thiết lập, để các ngài thay Chúa ở trần gian để chăm sóc đàn chiên Chúa trao phó cho các ngài là chúng tôi đây, các ngài sẽ là thầy dạy đức tin cho chúng tôi, chứ k phải có chức thánh thì các ngài sẽ làm thánh sống. Chúng tôi tôn trọng các ngài vì chức thánh đó, chứ các ngài cũng là con người, cũng yếu đuối mỏng giòn như tất cả chúng tôi, các ngài cũng phải đi xưng tội. Còn khi chúng tôi xưng tội thì k phải các ngài tha tội mà là Chúa tha tội, các ngài chỉ là thừa tác viên của Chúa, tội lỗi chúng tôi xưng được giữ bí mật, k được tiết lộ cho bất cứ ai, dù có bị kề dao vào cổ thì các ngài cũng k đc nói cho ng ta biết.
Dù là giáo hoàng, hồng y, hay giám mục thì trên hết các ngài phải là linh mục, là linh mục chính là mục tử thay Chúa Jesus là Mục Tử Tốt Lành để chăm sóc đoàn chiên.
Mình nhớ có bạn nào đó ở box này đã nói đại ý là sao chúng tôi làm người k muốn mà lại muốn làm vật cho ng khác chăn dắt?
Là ng CG thì ai cũng nhận mình là con chiên của Chúa, còn các LM chỉ là ng thay Chúa chăm sóc tâm linh cho đoàn chiên mà thôi, chính các LM,GM và GH cũng là con chiên của Chúa
Và chính Chúa Jesus, Ngài là Chiên Thiên Chúa, Đấng Gánh Tội trần gian
ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA!
ĐÂY ĐẤNG XOÁ BỎ TỘI TRẦN GIAN!
(Ga 1,29-34)
Tuần trước với lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, ta đã được nghe Chúa Cha giới thiệu Đức Giêsu: "Đây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Con".
Chủ nhật hôm nay, ta lại được nghe thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu: "Đây là Chiên Thiên Chúa! Đây Đấng xoá tội trần gian."
Lời giới thiệu của Gioan làm cho người Dothái nói riêng và cho người Kitô hữu nói chung hiểu rằng:
Như máu con chiên bôi lên cửa nhà vào đêm Vượt qua cứu dân Israel khỏi chết như thế nào, thì máu thánh Đức Giêsu đổ ra trên thập giá cũng cứu nhân loại khỏi chết như vậy.
Như con chiên vô tội gánh lấy tội lỗi của dân Dothái trong ngày lễ Xá Tội hàng năm như thế nào, thì Đức Giêsu là Đấng vô tội chịu thương khó cũng gánh lấy tội lỗi nhân loại như vậy.
Như con chiên hiền hành vô tội bị dẫn đến lò sát sinh mà không hề mở miệng kêu ca như thế nào, thì Đức Giêsu vô tội cũng vui lòng chịu đóng đinh và chịu chết trên cây thập giá như vậy.
Như Con Chiên đã bị giết, nhưng đã chiến thắng khải hoàn như thế nào, thì Đức Giêsu chịu nạn chịu chết cũng Phục sinh sáng láng như vậy.
Nhìn vào cuộc đời Đức Giêsu, ta thấy: Người quả thật là Đấng gánh tội trần gian và xoá tội trần gian.
Người gánh tội trần gian khi Người nhập vào dòng người tội lỗi đến xin Gioan làm phép rửa. Người xoá tội trần gian khi Người tuyên bố: "Tôi đến không phải để kết tội, nhưng là để cứu độ."
Người gánh tội trần gian khi Người giao du, ăn uống với những người tội lỗi đĩ điếm. Người xoá tội trần gian khi Người nói với chị phụ nữ ngoại tình: "Ta không kết tội chị đâu. Chị hãy về bình an và từ nay đừng phạm tội nữa."
Người gánh lấy tội trần gian khi Người chịu đóng đanh và chịu chết cùng với hai tên trôm cướp trên thập giá. Người xoá tội trần gian khi Người cầu nguyện trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết."
Tóm lại, từ Belem cho đến Calvario, Đức Giêsu đã luôn luôn gánh tội trần gian và xoá tội trần gian.
Ngày hôm nay và cho đến mãi tận thế, Đức Giêsu vẫn luôn luôn gánh tội và xoá tội trần gian.
Người gánh tội trần gian và xoá tội trần gian khi Người yêu thương và tha thứ cho tôi, cho Giáo Hội và cho từng người một trong chúng ta.
Người gánh tội trần gian và xoá tội trần gian khi tôi và hết thảy mọi người chúng ta biết yêu thương và tha thứ những lỗi lầm cho anh chị em minh.
Người gánh tội trần gian và xoá tội trần gian khi Giáo Hội cử hành các bí tích.
Nơi bí tích rửa tội, thụ nhân được tha tội tổ tông và tội riêng.
Nơi bí tích Hoà giải, hối nhân gặp được tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa.
Nơi bí tích Xức Dầu, bệnh nhân được Thiên Chúa nâng đỡ và ủi an.
Nơi bí tích Thánh Thể, ta được nghe lời linh mục giới thiệu giống như lời Gioan Tẩy Giả giới thiệu: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian! Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.
Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin ban bình an cho chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu
[QUOTE
abbachaoi
Hic, có lẽ nhiều ng hiểu và 1 ng k hiểu
=california;514863]Hay cho câu này...1 tôn giáo đã làm nên một con người...Tôn giáo của tình thương ...:pig:[/QUOTE]
ý tôi là khi đọc xong có lẽ mọi ng hiểu tôi k xúc phạm bạn, và k xúc phạm ng thờ sa tan. Còn 1 ng hiểu lầm tôi chính là bạn? Giờ thì tôi đã rõ.
Cười vui vì hạnh phúc được làm con Chúa. chứ có phải cười đểu ai đâu.
Vậy tại sao bạn không nghĩ ban Quangcom đang cười nhưng cười cho vui
Tôi có thể mượn câu này của bạn để nói lại với bạn k? "Tại sao bạn k nghĩ là tôi cười cho vui?"
Ý bạn quangcom là buồn cười về ý niệm Thiên Chúa....
Tôi k chấp nhận suy nghĩ này khi nói về Cha của tôi.
Nên tôi mới trả lời, và nói là cười nhưng vui, để đối lập lại với "buồn cười" của Quang
Nếu ai nói mấy câu giống của Quang, nhưng thay từ Chúa bằng Phật thì bạn sẽ thế nào? Cũng trả lời chứ? hay là nghĩ Quang đang cười vui? (Đến một lúc nào đó, cái ý niệm về chúa tự nhiên trở thành buồn cười. Chúa cũng là một ý niệm và cũng thay đổi liên tục. Chúa theo ý niệm của người Hồi giáo khác chúa theo ý niệm của người công giáo khác chúa theo ý niệm của người chính thống giáo khác chúa theo ý niệm của người do thái giáo v.v. Các ý niệm này có tính cộng đồng và đều đúng cả. Chúa của thời la mã cũng khác so với chúa của ngày nay.)
Nói bạn buồn cười ý là tôi thấy bạn kỳ ghê, tôi đã nói rõ như vậy (tức là mấy câu trả lời lúc trc đó) mà bạn còn cứ cho là tôi xúc phạm này kia.
Nhóm bạn tôi hay dùng câu "buồn cười" với nhiều ng, khi tụi tôi thấy họ kỳ lạ, vậy thôi.
Mong bạn hiểu.
Mà tôi thấy cũng lạ, Quang chưa nói gì thì thôi, chứ sao bạn cứ nhạy cảm thế?
Bạn quên là Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng có thể làm được mọi việc sao? Bằng cách này hay cách khác trong đời CỦA MỖI NGƯỜI CHÚNG TA ĐỀU CÓ NHỮNG DẤU CHỈ CỦA THIÊN CHÚA KÊU GỌI CHÚNG TA qua những người xung quanh, hay chính Chúa sẽ làm cho họ nghiệm thấy được TÌNH YÊU CỦA CHÚA.
Và nhất là trong lúc người ta trước cái CHẾT. Chính Chúa sẽ cho họ chọn lựa. Cái này trong sách "Hãy Cứu Các Linh Hồn Ra Khỏi Luyện Ngục" có giải thích khá rỏ. :)