TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018
30
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN
Ở SA ĐÉC, ĐỒNG THÁP
Dương Thanh Tùng1
FEATURES OF GODDESS WORSHIP IN SA DEC, DONG THAP PROVINCE
Duong Thanh Tung1
Tóm tắt – Bài viết trình bày về tín ngưỡng
nữ thần ở thành phố Sa Đéc, thuộc tỉnh Đồng
Tháp được thể hiện qua bốn dạng thức thờ phổ
biến gồm: bà Chúa Xứ, bà Thiên Hậu, bà Ngũ
Hành và bà Cố Hỷ. Bên cạnh những đặc điểm
chung được chia sẻ rộng rãi giữa các nữ thần
thờ phượng trên toàn quốc, tín ngưỡng nữ thần ở
Sa Đéc đã thể hiện mạnh mẽ qua hai đặc điểm
nổi bật: tính dung hợp đa văn hóa và tính khoan
dung. Vì vậy, công tác bảo tồn, phát huy giá trị
văn hóa của loại hình tín ngưỡng này trong bối
cảnh hội nhập hiện nay là một việc làm cần thiết
và ý nghĩa cho cả nhà nước và cộng đồng.
Từ khóa: tín ngưỡng, Nữ thần, Sa Đéc,
dung hợp, khoan dung.
Abstract – The paper presents the goddess
worship in Sa Dec city, Dong Thap province,
which is presented in four main goddess cults:
The Lady of the Realm, Thien Hau Goddess,
the Five Elements deities and Co Hy Goddess.
Beside the common characteristics shared widely
among goddess worship nationwide, the goddess
beliefs in Sa Dec have strongly expressed two outstanding
characteristics: hybridity and tolerance.
Therefore, the preservation and promotion of the
values of goddess beliefs in the context of global
integration are currently becoming necessary and
meaningful tasks for both governmental agents
1Khoa Văn hóa - Du lịch, Trường Đại học Đồng Tháp
Ngày nhận bài: 25/5/2018; Ngày nhận kết quả bình
duyệt: 5/7/2018; Ngày chấp nhận đăng: 21/7/2018
Email: duongtung.dthu@gmail.com 1Faculty of Culture - Tourism, Dong Thap University
Received date: 25th May 2018; Revised date: 5th July
2018; Accepted date: 21st July 2018
and public communities.
Keywords: beliefs, Goddess worship, Sa Dec,
hybridity, tolerance.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng văn hóa Nam Bộ với điều kiện tự nhiên
trù phú là đồng bằng nhiều phù sa, kênh rạch đan
xen, đồi núi thấp tạo điều kiện tốt cho canh tác
nông nghiệp lúa nước và nuôi trồng thủy sản phát
triển. Trong quá trình di cư và khai hoang vùng
đất Nam Bộ còn nhiều hoang sơ đến nỗi “con
chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh” (Ca
dao Nam Bộ), trong một môi trường sinh sống
nhiều bất trắc và khó khăn, đời sống tâm linh của
người dân luôn ước vọng được che chở, cầu mong
vạn vật sinh sôi nảy nở. Các loại hình tín ngưỡng
ở Nam Bộ đã tồn tại không phân biệt ranh giới
rõ ràng mà thường dung hòa với nhau, phù hợp
với nền tảng truyền thống văn hóa và các giá trị
nhân văn của cộng đồng, tạo nên một bức tranh
văn hóa đa sắc màu. Ở đó, một số loại hình tín
ngưỡng sẽ bị “khúc xạ”, “dân gian hóa” hoặc là
“Việt hóa” để thích ứng với đời sống tâm linh
của cộng đồng là hiện tượng dễ dàng tìm thấy
trong các loại hình tín ngưỡng ở Nam Bộ, trong
đó có tín ngưỡng nữ thần.
Còn tại Sa Đéc, một vùng đất có đặc thù lối
sống cư dân mang tính mở thoáng, chan hòa, sự
hội nhập cộng cư giữa các tộc người khá mạnh
mẽ, tục thờ cúng các Bà (theo cách gọi dân gian)
ở nơi đây là sản phẩm của quá trình dung hợp đa
văn hóa hết sức phong phú và có những nét giá
trị đặc sắc riêng, trong khi việc tìm hiểu nguồn
gốc hình thành và nhận diện giá trị tín ngưỡng
nữ thần trong đời sống tâm linh của người dân
vẫn còn mờ nhạt và chưa đầy đủ. Để hiểu và
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
tận dụng lợi thế của tính đa dạng trong văn hóa
Việt Nam, đặc biệt là văn hóa dân gian, việc tìm
hiểu tín ngưỡng nữ thần ở Nam Bộ nói chung, ở
Sa Đéc nói riêng, cần được quan tâm khảo cứu
sâu hơn. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung
giới thiệu diện mạo, đặc trưng, tác động và ý
nghĩa của tín ngưỡng nữ thần ở vùng Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp.
Bài viết được thực hiện bằng cách kết hợp các
phương pháp điền dã, quan sát tham dự, phương
pháp phỏng vấn thuận tiện cá nhân người dân
đến vía tại không gian thờ nữ thần và phỏng vấn
sâu đối với đại diện ban quản lí các nơi thờ tự để
biết được vai trò của văn hóa tín ngưỡng nữ thần,
nhận thức của người dân và chính quyền về việc
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng
nữ thần tại địa phương. Cùng với thủ pháp phân
tích - tổng hợp, tác giả phân tích các tư liệu khoa
học về văn hóa tín ngưỡng, tín ngưỡng nữ thần và
mẫu thần, lễ hội dân gian và các tư liệu liên quan
để hệ thống hóa, hình thành ý tưởng nghiên cứu
trên cơ sở phát hiện những vấn đề chưa được khai
thác trong các tư liệu thu thập được. Bên cạnh
đó, để có cách nhìn toàn diện và thấu đáo hơn đối
với vấn đề nghiên cứu trong bài viết này, chúng
tôi đã vận dụng thuyết chức năng của Bronislaw
Malinowski (1884 - 1942) để giải quyết vấn đề
về sự hình thành văn hóa tín ngưỡng, cụ thể là
tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc ra đời vừa đáp ứng
nhu cầu tâm linh của mỗi người dân vừa đáp ứng
nhu cầu cho cả cộng đồng.
II. TÍN NGƯỠNG VÀ VĂN HÓA TÍN
NGƯỠNG NỮ THẦN - MẪU THẦN
Theo nghĩa từ nguyên Hán - Việt, “tín ngưỡng”
(信仰) được ghép bởi từ “tín” (信) hiểu là “tin
tưởng/ tin theo”, “lòng tin/ đức tin”, “niềm tin”
hoặc hiểu theo nghĩa sâu xa hơn nữa là sự trông
cậy vào một đối tượng nhất định nào đó, có thể
là con người hoặc thần linh, và từ “ngưỡng”
(仰) hiểu là “ngưỡng mộ/ngưỡng vọng”, “ngưỡng
lên/ngẩng lên” hoặc cũng được hiểu theo nghĩa
xa hơn là “sự kính mến”. Tác giả Ngô Đức Thịnh
đưa ra quan điểm rõ ràng hơn:
“Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con
người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu
nhiên hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng
vào “cái thiêng”, đối lập với “cái trần tục” hiện
hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều
loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín
ngưỡng, niềm tin của “cái thiêng”. Do vậy, niềm
tin của cái thiêng thuộc về bản chất của con
người, là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm
linh của con người” [1, tr.16]
Trong công trình Ma thuật, khoa học và tôn
giáo, Bronislaw Malinowski (1884 - 1942) cho
rằng tín ngưỡng ra đời khi cuộc sống của con
người có nhiều sự trở ngại và bất trắc. Cụ thể
hơn, ông đưa ra một thí dụ thú vị về sự tồn tại
của ma thuật (tín ngưỡng) ở nghề đánh cá của
ngư dân đảo Trobriand:
“Vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ đối với việc
đánh bắt cá ở phá, khi con người hoàn toàn dựa
vào kiến thức và kĩ năng của mình, ma thuật
không tồn tại, trong khi đối với việc đánh bắt cá
ngoài khơi, đầy nguy hiểm và bất trắc, người ta
sử dụng hệ thống nghi lễ ma thuật với phạm vi
rộng lớn để đảm bảo an toàn và kết quả cao” [2].
Theo nghĩa thuật ngữ chung về tín ngưỡng và
trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này, chúng
tôi nhận định rằng: “Tín ngưỡng là hệ thống niềm
tin mang đặc trưng tâm linh do con người tạo ra
nhằm gửi gắm những nguyện vọng, mong ước
đến một đối tượng được thần thánh hóa hay thế
lực siêu nhiên để được che chở, cứu rỗi tránh khỏi
những bất trắc, tai họa hay những nỗi sợ hãi về
tinh thần trong hiện thực khách quan nhằm mục
đích hướng con người đến những giá trị đạo đức
tốt đẹp”. Về văn hóa tín ngưỡng, theo Nguyễn
Đăng Duy [3]:
""Tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh
(niềm tin thiêng liêng) thì văn hóa tín
ngưỡng có thể được hiểu là văn hóa biểu
hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc
sống đời thường và biểu hiện niềm tin
thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng
tôn giáo" [tr.29].
Tác giả Ngô Đức Thịnh [4] cho rằng:
"Văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ hiện tượng
và giá trị văn hóa được sản sinh, tích
hợp, bảo lưu trong môi trường tôn giáo tín
ngưỡng, thỏa mãn nhu cầu về nhận thức,
lối sống, ứng xử và thẩm mĩ của con người.
Chúng là hiện tượng phái sinh gắn bó với
tôn giáo và lễ hội. Đó là những hiện tượng
văn hóa như múa nghi lễ, múa thiêng, tranh
thờ, lễ hội, một số hiện tượng văn học dân
31
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
gian gắn với tín ngưỡng" [tr.215].
Như vậy, văn hóa tín ngưỡng chính là sự gắn
kết từ một đức tin nhất định, rồi tích hợp các
giá trị văn hóa khác như: di tích, lễ hội, truyền
thuyết dân gian, diễn xướng, nghệ thuật có liên
quan. Từ góc độ tiếp cận những giá trị văn hóa
vật thể, văn hóa phi vật thể thông qua cơ sở thờ
tự, nghi thức thờ cúng, các giai thoại dân gian,
địa danh và lễ hội có liên quan đến các hình thái
tín ngưỡng sùng bái con người; tín ngưỡng phồn
thực; tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. . . , văn
hóa tín ngưỡng hiểu theo tác giả Nguyễn Ngọc
Thơ [5]:
"Là hệ thống giá trị về cung cách ứng xử
của con người đối với môi trường sống (tự
nhiên và xã hội) nhằm đạt được những ước
vọng tốt lành cho cuộc sống của mình. Sản
phẩm của những cung cách ứng xử ấy vừa
phản ánh các điều kiện tương ứng với môi
trường sống vừa hàm chứa tri thức dân gian
được đúc kết qua lịch sử được thể hiện dưới
một cấu trúc đa tầng của những ý nghĩa ẩn
thị và hiển thị" [tr.21].
Theo quan niệm dân gian, nữ thần là những
lực lượng sáng tạo ra vũ trụ, sáng tạo ra loài
người hoặc là những vị nữ tướng hi sinh vì dân
vì nước, những người nữ có công giúp dân khai
mương, xây cầu, lập chợ, truyền dạy kinh nghiệm
sản xuất, những người bà, người mẹ, người chị có
tài năng hoặc đức cao vọng trọng. Từ đó, người
dân đã sáng tạo ra những điều kì vĩ nhằm nâng
các vị nữ lên thế giới tâm linh như một giao thức
thần thánh hóa tôn vinh lên hàng nữ thần. Do vậy,
nữ thần là những nhân vật lịch sử hay nhân vật
truyền tích/huyền thoại hoặc vạn vật được người
dân nhân cách hóa mang tính nữ và thần thánh
hóa để thờ phụng với đức tin, ngưỡng vọng của
mỗi người hoặc của cộng đồng. Trong đó, có vị
được tôn vinh là mẫu thần - thánh mẫu. Như
vậy, “mẫu thần có xuất thân từ nữ thần nhưng
không phải nữ thần nào cũng đều là mẫu” [6,
tr.93-94]. Theo cách hiểu của chúng tôi, mẫu có
nghĩa là đấng sinh thành ra mỗi người, có công
ơn nuôi dưỡng, chở che và theo khía cạnh tín
ngưỡng phồn thực thì “mẫu” để chỉ sự sinh sôi
nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật, ảnh
hưởng trực tiếp tới đời sống con người. Vì vậy,
mẫu thần là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh
và thờ phụng những vị nữ gắn liền với các hiện
tượng tự nhiên, vũ trụ, được con người cho rằng
có quyền năng như Mẹ làm sinh sôi nảy nở, che
chở, phù hộ cho người yên vật thịnh, mưa thuận
gió hòa, mùa màng tốt tươi, giúp con người thoát
khỏi thiên tai, địch họa. Cùng với đó, ta có thể
hiểu rằng tín ngưỡng nữ thần là một bộ phận
của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị
tộc mẫu hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có
công với nước, với cộng đồng, là đại diện tiêu
biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn
hóa, đạo đức xã hội và được tôn thờ lên hàng
thần - thánh để người ta gửi gắm niềm tin vào
sự che chở, giúp đỡ, phù hộ, độ trì của các lực
lượng siêu nhiên này.
Hiện nay, việc nghiên cứu về tín ngưỡng nói
chung, tín ngưỡng nữ thần nói riêng đã được khá
nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đề cập đến, có thể
điểm ra đây một vài công trình có nét tương đồng
với đề tài nghiên cứu của bài viết này. Các công
trình nghiên cứu của tác giả Ngô Đức Thịnh về
Đạo thờ Mẫu ở Việt Nam xuất bản năm 2012;
Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ xuất bản năm 2014;
Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam
xuất bản vào năm 2012, đều có đề cập đến cơ
sở lí luận về tín ngưỡng mẫu thần và văn hóa
Đạo Mẫu, quá trình phát triển từ nữ thần đến
tam tòa thánh mẫu và vị trí của Đạo Mẫu trong
hệ thống tín ngưỡng của người Việt, cùng với các
dạng thức thờ nữ thần, mẫu thần và mẫu tam phủ,
tứ phủ ở ba miền Bắc - Trung - Nam của Việt
Nam [7], [8]. Còn trong công trình nghiên cứu
của Nguyễn Minh San, quyển Lễ hội về nữ thần
của người Việt xuất bản năm 2011 đã cho thấy
nguồn gốc, đặc điểm và miêu tả khái lược về một
số lễ hội nữ thần của người Việt và đây đều là
những nội dung cần tham khảo [9]. Nhà văn Sơn
Nam, một trong những nhà nghiên cứu đi đầu và
có công khai phá các giá trị lịch sử - văn hóa ở
vùng đất Nam Bộ, đã cho ra đời quyển Đình miếu
và Lễ hội dân gian miền Nam, cho thấy cách tiếp
cận vấn đề thiết thực bằng phương pháp điền dã,
tham dự và phỏng vấn với người dân địa phương,
cung cấp cho thế hệ đi sau một cái nhìn đặc sắc
về đình, miếu và lễ hội ở miền Nam, các lễ nghi,
tín ngưỡng của người dân địa phương cùng với
việc phân tích các nghi thức của tín ngưỡng [10].
Trong cuốn Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây
Nam Bộ năm 2017, Nguyễn Ngọc Thơ đã có
32
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
những phân tích, đánh giá chi tiết về lai lịch,
hành trạng của bà Thiên Hậu, đồng thời, tác giả
cũng nhận diện đầy đủ những đặc trưng và giá trị
của tín ngưỡng Thiên Hậu trong sự tương quan
với bối cảnh lịch sử - xã hội và tộc người ở vùng
văn hóa Tây Nam Bộ. Những kết quả nghiên cứu
về tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ của
Nguyễn Ngọc Thơ là nguồn tài liệu tham khảo
có giá trị quan trọng cho việc khảo sát, nghiên
cứu tục thờ Thiên Hậu tại Thất Phủ Thiên Hậu
Cung ở Sa Đéc và mối tương quan với các địa
phương khác như Tiền Giang, Vĩnh Long, An
Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng v.v.. Từ đó, tác giả
có thêm cơ sở để nhận diện những đặc trưng và
giá trị của loại hình tín ngưỡng Thiên Hậu tại
vùng đất Sa Đéc.
Để bổ sung cơ sở nhận diện về đặc trưng và giá
trị của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc, tác giả cũng
đã tham khảo các công trình, bài viết khác. Tác
giả Phan An viết về “Tích hợp và dung hợp trong
tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ”, in
trong Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ - Bản sắc
và giá trị [11]; Cuốn Tìm hiểu văn hóa tâm linh
Nam Bộ của Nguyễn Hữu Hiếu [12]; bài viết “Tín
ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa - Vũng Tàu” của
Nguyễn Thanh Lợi, in trên Tạp chí Nghiên cứu
và Phát triển [13, tr.34-42]; Phan Thị Yến Tuyết
viết về “Tín ngưỡng thờ mẫu và nữ thần từ chiều
kích văn hóa biển của vùng biển đảo Kiên Hải,
Kiên Giang”, in trong Tuyển tập Việt Nam học và
đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội [14, tr.61-69];
và các bài viết của Nguyễn Ngọc Thơ mà tác giả
đã tham khảo như: “Tín ngưỡng tôn giáo ở Thoại
Sơn, An Giang” in trên Tạp chí Phát triển Khoa
học và Công nghệ [15, tr.77-97]; “Dấu tích tục
thờ Tam Phủ trong tín ngưỡng Thiên Hậu của
người Việt vùng Tây Nam Bộ” in trên Tạp chí
Văn hóa Dân gian [16, tr.24-34] cùng với một số
bài viết khác có liên quan. Qua các bài viết nói
trên, tác giả đã có được cái nhìn tổng quan và
đối sánh về đối tượng nghiên cứu (tín ngưỡng nữ
thần) ở một địa phương cụ thể (Sa Đéc) so với
phạm vi nghiên cứu mở rộng liên vùng (tại các
địa phương khác trong vùng Tây Nam Bộ).
Bên cạnh đó, để đi sâu vào văn hóa vùng
Sa Đéc, tác giả đã tham khảo các công trình
nghiên cứu liên ngành về lịch sử - văn hóa, tộc
người, địa lí như: Hồ sơ Lục Châu học của tác
giả Nguyễn Văn Trung [17]; Bản Monographie
de la province de Sa-Dec (chuyên khảo tỉnh Sa
Đéc) của Imprimerie L. Menard [18]; Description
historique de la Cochinchine (miêu tả lịch sử xứ
Nam Kì) của Jean Koffler [19]; Văn hóa, tín
ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt của
Léopold Cadière [20]; La Cochinchine religeuse
(tôn giáo xứ Nam Kì) của L. Louvet [21] v.v.. Các
tác phẩm trong nước chuyên khảo tả và phân tích
đánh giá lịch sử văn hóa và tộc người Nam Bộ
mà bài nghiên cứu cũng có tham khảo đến như
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức
[22]; Thần Người và đất Việt của Tạ Chí Đại
Trường [23]; Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
của Huỳnh Lứa [24]; Lịch sử khẩn hoang miền
Nam của Sơn Nam [25]; Văn minh miệt vườn của
Sơn Nam [26]; Văn hóa và cư dân Đồng bằng
sông Cửu Long của nhóm tác giả Nguyễn Công
Bình và cộng sự [27]; Văn hóa dân gian người
Việt ở Nam Bộ của nhóm tác giả Thạch Phương
và cộng sự [28]; Sa Đéc Xưa và Nay của Huỳnh
Minh [29]; Đồng Tháp 300 năm của nhóm tác
giả Nguyễn Hữu Hiếu và cộng sự [30]; Địa chí
tỉnh Đồng Tháp do Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Đồng
Tháp xuất bản năm 2014 [31]; Lịch sử hình thành
và phát triển vùng đất Nam Bộ (từ khởi thủy đến
năm 1945) của Trần Đức Cường (chủ biên) [32],
cùng các bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu
in trên Tạp chí Đồng Tháp Xưa và Nay. Bài viết
kế thừa những kết quả đạt được về mặt khoa học
và thực tiễn của các công trình nghiên cứu về
văn hóa tín ngưỡng và tín ngưỡng nữ thần - mẫu
thần ở Nam Bộ và Bắc - Trung Bộ. Tuy nhiên, các
công trình đi trước hoặc nghiên cứu về tín ngưỡng
nữ thần ở phạm vi khu vực (Tây Nam Bộ, Nam
Bộ) hoặc ít nhiều đề cập trên bình diện rộng, khái
quát, bao hàm các yếu tố lịch sử, ngôn ngữ, tự
nhiên, dân cư v.v. ở nhiều địa phương khác nhau,
hoàn toàn chưa tập trung đề cập đến tín ngưỡng
nữ thần hoặc mẫu thần ở một địa phương cụ thể
của tỉnh Đồng Tháp. Trong bài viết này, tác giả
sẽ tập trung từ việc mô tả diện mạo đến nhận
diện đặc trưng và giá trị của tín ngưỡng nữ thần
ở địa phương cụ thể là thành phố Sa Đéc, tỉnh
Đồng Tháp.
33
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
III. ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ CƠ SỞ
TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở SA ĐÉC
Xét về đặc điểm đối tượng, tác giả căn cứ vào
sách Địa chí tỉnh Đồng Tháp, đồng thời dựa trên
kết quả các chuyến điền dã khảo sát thực tế của
bản thân từ năm 2015 – 2018. Toàn địa bàn thành
phố Sa Đéc hiện nay có tổng cộng 48 cơ sở tín
ngưỡng với các đối tượng nữ thần được người
dân thờ cúng phổ biến là: Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ
Hành, Bà Thiên Hậu, Bà Cố Hỷ và một số nữ
thần khác như: Diêu Trì Kim Mẫu, Quan Âm
Bồ tát, Kim Hoa Nương Nương, bà Tổ Cô, Cửu
Thiên Huyền Nữ,... cũng được thờ ở một số ngôi
miếu tại các xã, phường.
Đầu tiên là tục thờ bà Chúa Xứ. “Lai lịch nhân
thân” của bà Chúa Xứ (主處) là hiện thân tiêu
biểu của quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa
giữa các tộc người trên vùng đất Sa Đéc nói riêng
và Nam Bộ nói chung. Bà Chúa Xứ, gốc là nữ
thần Pô Inư Nagar - bà Mẹ xứ sở của người Chăm,
qua quá trình Việt hóa lâu dài mới hình thành. Từ
thế kỉ XI, tín ngưỡng này đã theo chân lưu dân
người Chăm du nhập vào Đồng bằng sông Hồng,
nhưng không bén rễ sang người Việt, vì thế lực
của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo thời kì này
đang tác động mạnh mẽ vào đời sống người dân
nơi đây.
Với truyền thống thờ Bà, thờ Mẹ, người Việt
đã tiếp nhận và Việt hóa vị nữ thần Chăm này
bằng cái tên mới - Thiên Y A Na Diễn Ngọc
Thánh phi, mà dân gian gọi ngắn gọn là bà Chúa
Ngọc hay cô Hồng. Dân gian còn có một truyền
thuyết khác, đã được Phan Thanh Giản khắc thuật
vào năm 1856, và được triều đình nhà Nguyễn
đưa vào hệ thống thần linh của đất nước, với
danh xưng “Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng
đẳng thần”. Hồng nhân ở đây là liên quan đến
bà mặc áo đỏ ngồi trên đỉnh gò, hiện ra trong
giấc chiêm bao nói rằng sẽ có vị chân chúa đến
đây xây chùa để tụ khí thiêng, tạo bền cho long
mạch, mà dân làng kể cho Nguyễn Hoàng vào
năm 1601, khi ông tìm nơi xây chùa làm nơi
nương tựa cho quyền lực. Vì thế, chùa dựng xong
được đặt tên là Thiên Mụ, danh xưng này có lẽ
do “Yang” (trong tổ hợp Pô Yang Inư Nagar) là
Giàng = Trời = Thiên; Ino là Mẹ = Mụ. Còn
Thiên Y A Na, có giải thích cho rằng: bắt nguồn
từ chữ Phạn “Devayana”, trong đó tổ hợp Deva
là Trời = Thiên, ghép với phần còn lại là Yana
thành Thiên Y A Na [33, tr.28-31].
Theo quan niệm dân gian người Chăm, Pô
Nagar là bà Chúa tạo ra vương quốc, là một nữ
thần được thờ dưới dạng thần Ũma (tức nữ thần
Shakti, vợ của thần Shiva, nữ thần Ũma là nữ
thần Bảo Tồn của đạo Bà-la-môn). Nữ thần Ũma
được dân tộc Chăm tiếp biến thành Pô Inư Nagar,
lại được người Việt biến thành chúa Ngung Man
Nương - chủ Ngung Man Nương là nữ thần cai
quản một góc trời, một vùng đất; có khi bị nói
trại thành Chủ Ma Vương. Văn tự “Mãi thổ/Tá
thổ” trong tục cúng đất đầu năm ở vùng Nam
Trung Bộ thường đề cập đến bà chúa này. Loại
hình tín ngưỡng này vào phía Nam cho đến Bình
Thuận thì miếu thờ bà xuất hiện ngày càng nhiều
hơn, mang các tên khác nhau như: Bà Pô Pô (từ
Pô = Đấng, Bà trong tổ hợp Pô Yang Inư Nagar);
Bà Phường Chào/Giàng Chào (từ Giàng = Yang
= Trời trong tổ hợp Pô Yang Inư Nagar); Bà Thu
Bồn/Chợ Được (Quảng Nam); Bà Giàng Lồi/Cổ
Giàng (thành phố Hội An); Bà Giàng Lồi/Chúa
Lồi; bà Giàng Phi/Hồng Phi phu nhân; Bà Giàng
Rân/Giàng Què (Đà Nẵng) [34, tr.41-42]. Vào
đến vùng đất Nam Bộ, bắt gặp tục thờ nữ thần
Néang Khmau (Bà Đen) - một nữ thần Đất - của
người Khmer, bà Mẹ xứ sở của người Chăm đã
hóa thành bà Pô, bà Giàng, và từng bước trở thành
bà Chúa Xứ với tên gọi Chúa Xứ Nương Nương
hoặc Chúa Xứ Thánh mẫu. Riêng Bà Chúa Xứ ở
núi Bà Đen được triều đình nhà Nguyễn phong
là Linh Sơn Thánh Mẫu. Lưu dân ở Nam Bộ có
thói quen, khi khai khẩn được một khu vực, một
vùng đất thì việc đầu tiên là dựng miếu thờ bà
Chúa Xứ với ước mong được phù hộ, độ trì cũng
đồng thời tạ ơn trong quá trình khẩn hoang được
bình yên không gặp bất trắc, hiểm họa đến tính
mạng. Trong Địa bạ Nam Kỳ năm 1836, điều này
được thể hiện rõ thông qua ghi chép như “thôn
nầy gồm hai xứ”, “thôn kia gồm ba xứ”. Chính
vì thế, ngày nay, chúng ta không có gì phải ngạc
nhiên khi thấy miếu bà Chúa Xứ nằm ở rải rác
khắp nơi, xóm ấp nào cũng có miếu thờ. Bà Chúa
Xứ trở thành vị nữ thần có phạm vi ảnh hưởng
rộng khắp vùng sông nước Nam Bộ nói chung
và tại vùng đất Sa Đéc có tổng số 14 cơ sở thờ
bà Chúa Xứ.
34
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
Thứ hai là tục thờ bà Thiên Hậu. Cùng với tục
thờ Quan Công, thờ Ông Bổn và thờ Đức Quảng
Trạch Tôn Vương, tín ngưỡng Thiên Hậu là một
dạng tín ngưỡng do cộng đồng người Hoa mang
theo khi đến vùng đất Sa Đéc cư trú và làm ăn.
Hiện nay, địa bàn thành phố Sa Đéc có hai cơ sở
thờ bà Thiên Hậu, một là miếu Thiên Hậu của
người Quảng Đông xây dựng, hai là miếu Thiên
Hậu do người Phúc Kiến xây dựng với tên gọi
đầy đủ là “Thất Phủ Thiên Hậu Cung”, người dân
địa phương hay gọi là Thiên Hậu Cung, được xây
dựng vào giữa thế kỉ XIX trên nền khu đất trước
đó đã có miếu thờ bà Thiên Hậu.
Đúng như tên gọi Thất Phủ Thiên Hậu Cung,
nơi đây có kiến trúc tích hợp cả năm tiểu loại
phong cách người Hoa (Quảng Đông, Phúc Kiến,
Triều Châu, Hải Nam và Khách Gia), chính điện
có gờ nóc mái bằng và nhiều tượng thần thánh
mang phong cách Quảng Đông, hai bên đông -
tây lang thì mang kiểu dáng và phong cách Phúc
Kiến, Triều Châu. Cấu trúc thờ tự cũng thể hiện
sự tích hợp, hỗn dung, nếu như sự có mặt của
Kim Hoa Nương Nương (phối thờ trong khám
bên phải trang thờ Thiên Hậu) mang màu sắc
Quảng Đông thì Thiên Hậu, Phúc Đức Chính
Thần (phối thờ trong khám bên trái trang thờ
Thiên Hậu) và Quan Công (phối thờ bên cánh
đông sương/đông lang) là các hình tượng được
chia sẻ bởi tất cả các nhóm người Hoa.
Theo Nguyễn Ngọc Thơ, tín ngưỡng Ma Tổ
(hay Thiên Hậu) hình thành tại đảo Mi Châu,
huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến vào thời Tống
ở Trung Quốc. Bà tên thật là Lâm Mặc Nương
(林默娘 Lin Moniang), sinh ngày 23 tháng 3
năm 960, là một nữ Shaman nổi tiếng. Bà vốn là
người Đản Dân (Tangka), còn gọi là Long nhân
(龙人 người rồng) hoặc Giao nhân (鲛人) chuyên
sống bằng nghề đánh bắt cá và trao đổi hàng hóa
trên sông, biển. Thư tịch Trung Quốc Đại Thanh
hội điển sự lệ, Bồ Tát ngoại truyện và các sách
địa phương có ghi chép và tương truyền bà Lâm
Mặc Nương rất thông minh, tháo vát, giúp dân
vượt hoạn nạn và dạy dân cách sống văn minh,
thoát bệnh tật. Một ngày nọ, khi đang ngủ trưa,
bà thấy cha và anh trai gặp bão biển, nên dùng
năng lực đặc biệt cứu được anh trai. Trong khi
đang cố gắng cứu cha thì bà bị mẹ lay dậy nên
không cứu được cha. Về sau, bà thường dùng
năng lực thần thánh của mình để cứu giúp dân,
bao gồm dạy dân dùng rau rong biển cứu đói, cầu
mưa, treo chiếu làm buồm, hàng phục hai thần
Thuận Phong Nhĩ và Lí Thiên Nhãn, giải trừ thủy
tai - quái phong, thu phục nhị quái, chữa bệnh
cứu dân, nhận bùa dưới giếng, thăng thiên ở đảo
Mi Châu. Bà qua đời vào ngày 9 tháng 9 năm
987 ở tuổi 28. Người đời tin rằng bà là con gái
Ngọc Hoàng, ban đầu dân ở đảo Mi Châu dựng
miếu thờ bà, gọi là miếu Ma Tổ. Tương truyền bà
thường hiển linh cứu giúp người đi biển nên dân
gian ví bà như vị hải thần. Đến năm 1086, nhà
Nam Tống chính thức cổ xúy cho tín ngưỡng này,
nhờ vậy phạm vi ảnh hưởng ngày càng được mở
rộng. Đến thời Nguyên, năm 1354, Ma Tổ được
phong làm Thiên phi (天妃), từ đó tín ngưỡng Ma
Tổ phát triển lên vùng hạ lưu Dương Tử, bán đảo
Sơn Đông. Từ thời Minh trở về sau, do nhu cầu
giao thương hàng hải với khu vực Đông Nam Á,
tín ngưỡng này truyền bá xuống vùng Lĩnh Nam,
Đài Loan và khu vực Đông Nam Á. Đời Thanh
Khang Hy (1682), bà được gia phong với mĩ tự
Thiên Hậu Thánh Mẫu. Tên gọi đặc khu hành
chính của Macau được cho là bắt nguồn từ danh
từ “Ma Các” (妈阁 miếu Ma Tổ). Cuốn Ma Tổ
Cung Tập Thành (《妈祖宫集成》) ghi chép tại
Trung Quốc có hơn 450 huyện, thị, thành phố
có miếu Thiên Hậu. Người Mân Nam (nam Phúc
Kiến) và Hải Nam thích gọi bà là Đại Mẫu hoặc
Ma Tổ (妈祖 Mazu), người Quảng Đông gọi là
Đức Bà hay Thiên Hậu [5, tr.51-52].
Tín ngưỡng Thiên Hậu du nhập vào Nam Bộ
theo dòng di dân người Hoa vào thời Minh -
Thanh, đặc biệt là cuối Minh - đầu Thanh. Đợt
thứ nhất vào khoảng thập niên 1660, có khoảng
700 người Hoa do Dương Ngạn Địch và Trần
Thượng Xuyên (người Quảng Đông) dẫn đầu vào
định cư tại vùng Đồng Nai, Đề Ngạn (Chợ Lớn)
và Mỹ Tho. Đợt thứ hai do Mạc Cửu dẫn đầu
khai phá vùng đất Hà Tiên, sau phát triển dần
xuống Cà Mau. Từ cuối thế kỉ XVII cho đến đầu
thế kỉ XX, nhiều dòng di dân người Hoa tiếp tục
đến vùng đất Nam Bộ, đặc biệt là vào cuối thế kỉ
XIX, Việt Nam bị làm thuộc địa của Pháp, các
hiệp ước Pháp - Thanh năm 1885 - 1886 đã mở
ra nhiều cơ hội cho người Hoa di dân đến Việt
Nam. Từ đó trở đi, tộc người Hoa đã chung sống
chan hòa cùng với các tộc người Việt, Khmer,
35
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
Chăm, cùng tạo dựng nên văn hóa Nam Bộ nói
chung và văn hóa vùng đất Sa Đéc nói riêng.
Hiện tại, tín ngưỡng Thiên Hậu được người dân
Sa Đéc thờ phụng ở hai cơ sở (gồm Thất Phủ
Thiên Hậu Cung (chính thời), và miếu Chúa Xứ
(phối thời) ở xã Tân Quy Tây) với niềm đức tin bà
sẽ phò trợ cho những người đi sông nước, đồng
thời cũng trở thành vị phúc thần, thần độ mạng
cho gia đình, đặc biệt là nữ giới.
Thứ ba là tục thờ Bà Ngũ Hành. Tín ngưỡng
Ngũ Hành (五行), Ngũ Hành Nương Nương (五
行娘娘) hay Ngũ Hành Tiên Nương (五行仙娘)
là dạng tín ngưỡng dân gian cổ xưa của người
Hoa từ quan niệm dịch học cho rằng:
“Vũ trụ và mỗi bộ phận của nó được tạo ra
từ hai nguyên lí cùng tồn tại vĩnh hằng, vô hạn,
tuy khác nhau, nhưng không tách khỏi nhau như
một nguyên lí chuẩn mực - lí, và một nguyên lí
vật chất - khí. Nguyên lí thứ nhất, các giác quan
không cảm thấy được; nguyên lí thứ hai thì mang
một hình thức có thể cảm thấy; sự kết hợp của
chúng tạo thành thái nhất (một lớn) mà người ta
còn gọi là thái cực (đỉnh lớn), một thực thể vô
hạn, hoạt động được bằng sự tồn tại của lí ở bên
trong nó, và nhờ đó mà tự nó có thể tạo ra mọi
vật. Thái cực trong khi tạo ra mọi vật, luôn phải
đi qua hai giai đoạn: hết tĩnh thành động, hết
động thành tĩnh. Tĩnh là âm, động là dương; sự
luân phiên vĩnh hằng này của âm và dương lại
tạo ra Ngũ hành - 五行 (金 Kim; 木 Mộc; 水
Thủy; 火 Hỏa; 土 Thổ) nối tiếp nhau thành một
chu kì vô tận. Từ ngũ hành mà thành trời đất, từ
trời đất mà sinh sôi vạn vật” [35, tr.138-139].
Có lẽ những khái niệm mang tính triết học cổ
xưa vừa nêu, khi đến với thực tế trong tư duy
dân gian thì chúng biến đổi để phù hợp và gần
gũi, thân thiết hơn. Dân gian cụ thể hóa chúng
thành những thế lực siêu hình, tác động trực tiếp
và đem lại kết quả bình yên, no ấm của cuộc
sống thường ngày và tất nhiên là trong các thế
lực đó, thế lực nào càng thân thiết thì càng được
tiếp nhận một cách tích cực hơn. Chúng ta có thể
thấy, mọi hiện tượng thiên nhiên trong vũ trụ này
đều gắn liền với cuộc sống đời thường của con
người, đều có liên quan đến sự chuyển dịch của
ngũ hành mà đặc biệt gần gũi với cư dân nông
nghiệp trồng lúa nước là sự tương tác dưới góc
độ vật chất xuất phát từ quan niệm âm - dương,
khiến cho mọi đối tượng trong xã hội đều quy
về âm - dương và xem đó là thứ quyền lực tối
thượng của năm vị nữ thần với nhiều tên gọi (Ngũ
Hành Nương Nương, Cổ Nương Thần Nữ, Ngũ
Hành Thượng Giới) đã ảnh hưởng gián tiếp đến
phúc đức hoặc tai họa cho từng cá nhân lẫn cộng
đồng. Hình thức tín ngưỡng Ngũ Hành là kết quả
của quá trình giao lưu, hòa trộn giữa tín ngưỡng
thờ các vị nhiên thần cổ xưa của người Việt với
quan niệm về ngũ hành của người Hoa. Trước
khi có sự tiếp nhận quan niệm ngũ hành, các vị
nhiên thần này được thờ tương đối độc lập, theo
từng vùng, thờ từng vị. Cùng với tâm thức coi
trọng nữ tính của cư dân gốc nông nghiệp, các
vị thần trở thành các nữ thần, các mẫu (đối với
miền Bắc, miền Trung). Sau khi tiếp nhận quan
niệm ngũ hành từ phương Bắc, các bà được tập
hợp lại, hệ thống hóa để trở thành Ngũ Vị Thánh
Nương hoặc Ngũ Hành Nương Nương.
Ngũ Hành Nương Nương ở Sa Đéc thường
được thờ cúng trong những ngôi miếu nhỏ có tên
gọi là “miếu Ngũ hành” với bài vị viết bằng chữ
Việt hoặc chữ Hán - “Ngũ Hành Nương Nương”
(五行娘娘). Về sau, các Bà được đưa vào cả
trong đình, chùa với những ngôi miếu to đẹp hơn.
Đồng thời, người dân cũng đúc tượng xi măng
thay cho bài vị, tô màu cho tượng và khoác y
phục cho các Bà với các màu khác nhau tương
ứng với năm hành: Kim Đức Thánh phi (金徳聖
妃) - màu trắng, Mộc Đức Thánh phi (木徳聖妃)
- màu xanh, Thủy Đức Thánh phi (水徳聖妃) -
màu đen hoặc tím, Hỏa Đức Thánh phi (火徳聖
妃) - màu đỏ, Thổ Đức Thánh phi (土徳聖妃) -
màu vàng. Trên thực tế ở Sa Đéc, tuy phổ biến
mô thức hợp nhất năm Bà trong một ngôi miếu
hoặc năm Bà trong một hình tượng thông qua
bài vị “Ngũ Hành Nương Nương” nhưng vẫn có
nơi người dân thể hiện mối quan tâm hàng đầu
đến từng Bà cụ thể. Đối với cư dân sống trên
sông nước hoặc sống ven sông rạch thì thường
gắn liền với Thủy Đức Thánh Phi - vị nữ thần
cai quản thế giới huyền bí của nước, còn đối với
những hộ gia đình sống ở những nơi đông đúc,
khu vực mua bán ở chợ hoặc thường lao động
những nơi dễ cháy, trong khu vực bếp nấu ăn
thì thờ bà Hỏa với nguyện vọng được Bà phù hộ
không để xảy ra hỏa hoạn. Qua quá trình khảo
sát thực tế, chúng tôi thống kê địa bàn thành phố
Sa Đéc hiện có 30 miếu thờ Ngũ Hành, trong đó,
36
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
đặc biệt có miếu Ngũ Hành ở ấp Phú Thuận (Tân
Phú Đông, Sa Đéc) thờ sáu vị: ông Tà (Neak Ta),
Thổ Thần, chúa Sơn Lâm, bà Nữ Oa, bà Chúa
Ngọc, bà La Sát; miếu Ngũ Hành ở Phường 1,
Phường Tân Quy Đông, Xã Tân Khánh Đông có
diện tích tương đối rộng hơn so với các miếu thờ
Ngũ Hành còn lại trong vùng. Thứ tư là tục thờ
bà Cố Hỷ. Bà Cố Hỷ còn có tên gọi khác là bà
Cố, bà Thượng Động Cố Hỷ. Đây có lẽ là một
dạng tín ngưỡng bà Chúa Xứ biến thể, kết hợp với
tục thờ Mẹ xứ sở của người Chăm và tín ngưỡng
Thần đất - Neak Tà của người Khmer. Bà Cố Hỷ
có nguồn gốc từ nữ thần Devi trong văn hóa Ấn
Độ, kết hợp và chuyển hóa với nữ thần Mẹ xứ sở
- Po Inư Nagar của người Chăm và Thánh Anh
La Sát (hay La Sát Thượng Động) nên khu vực
cư trú và quản lí của bà trải dài từ miền rừng
núi xuống đến ven biển, ven sông. Ở vùng rừng
núi, Bà được gọi là Thượng Động Cố Hỷ. Ở vùng
biển, Bà được gọi là Hạ Động Thủy Long. Với
tính chất vừa là hung thần vừa là phúc thần, đồng
thời thể hiện đặc trưng cố hữu của hình tượng
Devi hay Shakti, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
bà Cố Hỷ là một dạng địa phương hóa trong quá
trình tích hợp thờ cúng nữ thần Po Inư Nagar.
Bà không chỉ là phúc thần của người buôn bán
mà còn là người phù trợ cho ngư dân và người
đi biển hay hoạt động trên vùng sông nước. Sa
Đéc hiện có hai miếu thờ bà Cố Hỷ, trong miếu
có bài vị ghi “Thất Vị Nương Nương”, lệ cúng
trải dài từ tháng Giêng đến tháng Sáu, khi cúng
thường có múa bóng rỗi.
Ngoài ra, Sa Đéc còn có sự hiện diện của một
số nữ thần khác được thờ trong phạm vi nhà ở
của mỗi hộ gia đình bằng những trang thờ/khánh
thờ hoặc miếu thờ như: Quan Âm Bồ tát; bà Mụ;
Mẹ sanh - Mẹ độ; Kim Hoa Nương Nương; Cửu
Thiên Huyền Nữ; Diêu Trì Kim Mẫu, Tổ Cô.
Xét về không gian thờ tự, sau quá trình khảo
sát thực địa tại vùng đất Sa Đéc với kết quả 48
cơ sở thờ, chúng tôi nhận thấy tục thờ bà Chúa
Xứ, bà Ngũ Hành, bà Thiên Hậu và thờ Thổ thần,
thờ Quan Công là những đối tượng được người
dân thờ cúng phổ biến, hầu như ở làng xóm nào,
gia đình nào cũng có cơ sở để thờ, đó có thể là
những ngôi miếu nhỏ hoặc trang thờ/khánh thờ.
Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến tín
ngưỡng nữ thần nên yếu tố thờ Thổ Thần và thờ
Quan Công xin được phép chưa nhắc đến và sẽ
trình bày trong các bài viết tiếp theo. Căn cứ vào
kết quả thu thập được, dựa vào tầm ảnh hưởng,
niềm tin của dân gian thể hiện qua các hoạt động
hành hương, lập miếu thờ, nghi thức cúng tế, các
đối tượng trên có thể phân ra các dạng cơ sở thờ
nữ thần như sau:
- Trong khu vực nội thành Sa Đéc: tín ngưỡng
Thiên Hậu với cung thờ to lớn theo lối kiến trúc
truyền thống của tộc người Hoa, tên gọi là Thất
Phủ Thiên Hậu Cung (府七天后宫) tọa lạc tại
Khóm 1, Phường 1, Thành phố Sa Đéc.
- Trong phạm vi xóm ấp, với điện thờ nhỏ bé
chỉ từ vài mét đến năm mười mét vuông, nhưng
lại hiện diện khắp các ấp, xã ở nông thôn, phổ
biến nhất là hai loại miếu thờ bà Chúa Xứ và
bà Ngũ Hành. Tiếp đến là miếu thờ các vị Thất
Thánh Nương Nương, Cửu Vị Tiên Nương... với
đồ từ khí đơn giản, chỉ có chân đèn, bát nhang,
li nước, lọ bông và bài vị viết chữ Hán hoặc chữ
quốc ngữ Chúa Xứ Thánh Mẫu (主處聖母) hoặc
Ngũ Hành Nương Nương (五行娘娘) hoặc có
thêm tranh tượng (loại có bán sẵn ở chợ). Lệ cúng
tế thường diễn ra vào mùa thu hoạch lúa cuối năm
hoặc tháng 2, tháng 3 âm lịch trùng khớp với thời
gian cúng Thượng Điền ở các đình làng, với tâm
nguyện đền đáp ơn bà và cầu nguyện mong được
phù hộ cho vụ mùa tới.
- Trong khuôn viên các đình chùa, hai nữ thần
Chúa Xứ và Ngũ Hành với tư cách thần bảo hộ
của cuộc đất nơi đình chùa tọa lạc. Còn trong
chính tẩm, một số vị có hoặc không có sắc phong
tùy theo từng địa phương được thờ với tư cách
tùng tự hay phối tự, phổ biến là các vị Chúa Tiên,
Chúa Ngọc, Chủ Ngung Man Nương, Tứ Vị Đại
Càn Thánh Nương...
- Trong phạm vi từng hộ gia đình: Phật mẫu
Diêu Trì, bà Nữ Oa, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thánh
Anh La Sát, Lục Cung Thánh Mẫu, Quan Âm Bồ
tát, bà Tổ Cô, Mẹ Thai Sanh... tùy theo tuổi của
người thờ, thường là phụ nữ đứng tuổi với tư cách
thần độ mạng nữ giới. Không gian tín ngưỡng là
một cái trang (khánh) thờ có bài vị hoặc tượng
ảnh của nữ thần, bình hoa, bát nhang, ba chung
nước. Người thờ thắp nhang cầu nguyện vào mỗi
ngày, có thể là một lần hoặc hai lần, hằng năm
có lệ cúng tạ trang, đối với gia chủ có gia cảnh
khá giả đều có thuê hầu bóng đến trợ tế lễ.
Xuất phát từ tính cách phóng khoáng, chan
37
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
hòa, không cầu kì của người dân ở vùng Sa Đéc,
quyền năng của các nữ thần trong tục thờ không
phân biệt rõ ràng, mà đan xen, chồng chéo nhau,
thường vị nào cũng cho là có chức năng bao quát
là phù hộ độ trì cho chúng sanh, mưa thuận gió
hòa, người yên vật thịnh, bảo vệ xóm ấp, sản vật
sung mãn, độ mạng nữ giới v.v. bên cạnh quyền
năng riêng thể hiện qua danh xưng. Từ thời khai
hoang đến nay, hầu như miếu thờ đơn giản vẫn
chỉ là miếu, vai trò, vị trí của các nữ thần ở miếu
cũng không được nâng lên, không đưa vào đền,
phủ để khang trang, thần bí hóa, hệ thống hóa.
Trên thực tế, cũng có một số điện thờ nữ thần
được nâng lên thành phủ, thành dinh hoặc cung
như trường hợp Thất Phủ Thiên Hậu Cung, một
số vị nữ thần được triều đình sắc phong là trung
hoặc thượng đẳng thần, nhưng trong dân gian
không có sự phân biệt “đẳng cấp” giữa các nữ
thần. Tất cả đều được trân trọng gọi là “Bà”, dù
là nữ thần hay mẫu thần, có khi tâm thức ở miếu
lại to lớn hơn dinh, phủ. Lí do được tôn vinh
thường là sự linh ứng của thần, thu hút nhiều
khách thập phương đến chiêm bái, tin tưởng hơn
là do thần được nâng bậc hay được xếp vào hệ
thống cao hơn.
Hình 1: Thất Phủ Thiên Hậu Cung, Phường 1 -
Thành phố Sa Đéc
(Nguồn ảnh: Tác giả, 2018)
Thông qua đặc điểm về đối tượng cũng như
vị trí và quy mô của các cơ sở tín ngưỡng nữ
thần ở Sa Đéc, có thể thấy việc thờ bà Chúa Xứ,
bà Ngũ Hành, bà Cố Hỷ gắn liền với nghề nông
nghiệp vùng sông nước (sông Cửu Long), trong
khi thờ bà Thiên Hậu gắn với nghề thương mại
vùng đô thị. Trong tâm thức người dân, bà Chúa
Xứ, bà Ngũ Hành, bà Cố Hỷ thiên về vai trò của
Hình 2: Miếu Bà Ngũ Hành, Phường Tân Quy
Đông - Thành phố Sa Đéc
(Nguồn ảnh: Tác giả, 2018)
Hình 3: Miếu Bà Chúa Xứ, Xã Tân Phú Đông -
Thành phố Sa Đéc
(Nguồn ảnh: Tác giả, 2018)
các thần đất, thần xứ sở, trong khi đó, bà Thiên
Hậu mang nhiều đặc điểm của vị thần tài. Tuy
nhiên, cả bốn nhóm nữ thần trên đây đều có đặc
điểm chung là “phúc thần” đối với đời sống tinh
thần của người dân ở địa phương.
IV. ĐẶC TRƯNG GIÁ TRỊ CỦA TÍN
NGƯỠNG NỮ THẦN Ở SA ĐÉC
Qua quá trình tìm hiểu về tín ngưỡng nữ thần
ở Sa Đéc hiện nay, có thể khái quát lại một vài
đặc trưng giá trị của loại hình tín ngưỡng này
như sau:
Một là, tính tích hợp đa văn hóa, là hệ quả
của quá trình kết hợp, hấp thu lẫn nhau giữa một
hoặc một vài thuộc tính hay bình diện của hai
38
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
hay nhiều đơn nguyên văn hóa dưới tác động của
hoàn cảnh tự nhiên hoặc lịch sử xã hội. Trong
quá trình giao thoa, tích hợp, một số thuộc tính
văn hóa thẩm thấu, cộng gộp với các thuộc tính
gần gũi của đối phương để chỉnh hợp thành một
khối mới thường mang tính định hướng cao hơn.
Trong văn hóa Á Đông, tính tích hợp văn hóa
ngầm thể hiện ở cấp độ vi mô trong khi chỉnh
hợp văn hóa được dùng để đề cập các hiện tượng
tích hợp mang tính tổng thể. Quá trình tích hợp
ấy bao giờ cũng có một bên là yếu tố “cơ tầng”
(thường là văn hóa bản địa) và một bên là yếu
tố “du nhập” vào được “sàng lọc”, cộng hợp và
thẩm thấu vào yếu tố cơ tầng văn hóa bản địa.
Mọi nền văn hóa của các quốc gia trên thế giới
đều trải qua quá trình này, trong khi đó, bối cảnh
của văn hóa vùng đất Sa Đéc, nơi có sự cộng cư
của nhiều tộc người khác nhau, khi đứng ở góc
nhìn của tộc người chủ thể là người Việt thì cơ
tầng văn hóa Việt đã sàng lọc và tích hợp yếu tố
du nhập tức là các dòng văn hóa của tộc người
Hoa, Khmer; còn nếu đứng ở góc nhìn của tộc
người Hoa thì yếu tố cơ tầng, tức là văn hóa tín
ngưỡng dân gian vùng Hoa Nam (khu vực phía
Nam của Trung Hoa) được du nhập vào vùng đất
Sa Đéc và cả Nam Bộ, một mặt đã vận động,
điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện bối cảnh
đặc thù lịch sử - xã hội của vùng đất Sa Đéc,
mặt khác đã chịu tác động của văn hóa Việt, văn
hóa Khmer để tiến tới hiện tượng tích hợp đa văn
hóa.
Hai là, tính bao dung - mở thoáng, theo Trần
Ngọc Thêm [36]:
"Tính bao dung là phẩm chất của con người
biết dung nạp những gì khác mình, có lòng
vị tha để bỏ qua và châm chước các lỗi lầm
của người khác, với cái nhìn thông thoáng
và tấm lòng rộng mở trong mối quan hệ
giữa con người với con người, con người
với xã hội, con người với thế giới tự nhiên”;
“tính mở thoáng là thái độ không bảo thủ,
ủng hộ cái mới, khả năng tiếp nhận cái mới
(nhưng không đánh mất đi cái bản sắc của
mình). Tư duy mở thoáng không có chỗ
cho sự bảo thủ, trì trệ. Chính nhờ cách nghĩ
mở thoáng mà người ta dễ nhận ra tính ưu
việt của cái mới và ngược lại" [tr.736,794].
Những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống
của con người Việt Nam vốn mang đậm tính tổng
hợp và tinh thần bao dung vừa được thừa hưởng
truyền thống dân tộc từ xa xưa, vừa được bồi đắp
trong bối cảnh tự nhiên và đặc thù lịch sử xã hội,
song mức độ bao dung giữa các địa phương thì
có phần đậm nhạt khác nhau. Trải qua quá trình
cộng cư hơn ba trăm năm trên vùng đất Sa Đéc,
các tộc người ở đây đã tôn kính và thờ phụng
một cách không phân biệt nguồn gốc xuất thân
và quyền năng của các nữ thần đã làm cho tín
ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc trở nên phong phú và
đa dạng.
Biểu hiện tính bao dung, mở thoáng của người
dân không chỉ dung nạp sự đa dạng về thành
phần tộc người trong xã hội, mà còn thể hiện
ở việc dung nạp sự đa dạng về văn hóa, điển
hình là sự chấp nhận một cách nhẹ nhàng, sự
chuyển hóa một cách mượt mà các vị nữ thần du
nhập trở thành những vị thần được đông đảo cư
dân Sa Đéc chấp nhận thờ cúng. Sự chuyển biến
từ nữ thần phù trợ cho người đi biển của người
Hoa thành thần độ mạng cho phái nữ hoặc phúc
thần của người Việt bởi vì khi người Việt tiếp
nhận hình tượng bà Thiên Hậu cũng là lúc họ
bắt đầu quá trình Việt hóa vị thánh mẫu này của
người Hoa dưới các dạng cấu trúc mới để tiếp
nhận. Khi chuyển hóa từ nguồn gốc văn hóa Hoa
sang văn hóa Việt thì dường như chức năng hải
thần của Thiên Hậu cũng chuyển thành chức năng
phúc thần đối với người Việt. Song hành cùng
quá trình ấy cũng là sự chuyển đổi hoàn toàn từ
vị thế Thiên Hậu là nhân thần của người Hoa
sang vị thế nhiên thần của người Việt vì trong
tâm thức của người Việt ở Sa Đéc, bà Thiên Hậu
là vị nữ thần của người Hoa, ban phúc lành cho
người Hoa làm ăn thành đạt, thịnh vượng nên
người Việt cũng vì vậy mà tín ngưỡng theo mặc
dù chưa biết rõ về nguồn gốc xuất thân và chức
năng của bà Thiên Hậu [5, tr.297]. Đồng thời,
sự kết hợp từ các vị nhiên thần cổ sơ của người
Việt (phương Nam) với quan niệm về ngũ hành
của người Hoa (phương Bắc) đến hình thành tín
ngưỡng Ngũ Hành. Bên cạnh đó, tín ngưỡng Cố
Hỷ có nguồn gốc từ nữ thần Devi trong văn hóa
Ấn Độ, kết hợp và chuyển hóa với nữ thần Mẹ
xứ sở Po Inư Nagar của người Chăm và Thánh
Anh La Sát (hay La Sát Thượng Động), đây là sự
chuyển hóa từ tín ngưỡng Chúa Xứ biến thể, kết
hợp với tín ngưỡng Mẹ xứ sở của người Chăm và
39
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
tín ngưỡng Neak Tà của người Khmer đã chứng
minh cho tính bao dung và mở thoáng trong giao
lưu, tiếp biến văn hóa của các tộc người sinh sống
tại vùng đất Sa Đéc này.
Chính vì, các tộc người đã tôn kính và thờ
phụng một cách bao dung, mở thoáng, không
phân biệt đó là nữ thần của tộc người nào, đối
với tín đồ không phân biệt người già hay trẻ nhỏ,
sang hay hèn, nam hay nữ, mới hay cũ, lạ hay
quen đến vía các nữ thần đều có chung một niềm
đức tin mong muốn nhận được sự ban phúc lành
của các nữ thần và thỏa mãn nhu cầu tâm linh,
từ đó đã tạo nên một bức tranh tín ngưỡng nữ
thần phong phú, đa dạng về thể loại, đa màu sắc
về giá trị như những lời chia sẻ của Ban Tế tự và
cộng đồng tín ngưỡng ở các cơ sở thờ bà khi tác
giả “nhập thân văn hóa” để thực hiện phỏng vấn
sâu. Đối với tín ngưỡng Thiên Hậu, ông L.Q.C
thành viên Ban Tế tự Thất Phủ Thiên Hậu Cung,
Sa Đéc cho biết: “Vào mỗi dịp tổ chức lễ vía bà
Thiên Hậu thì người Hoa ở đây ai ai cũng đều
sắp xếp thời gian đến vía Bà và phụ tiếp Ban
Tế tự trong việc tổ chức lễ vía và tiếp khách.
Bên cạnh đó, cũng có sự tham gia của rất nhiều
người dân ở xung quanh đây mặc dù họ không
phải người Hoa nhưng mỗi khi tổ chức lễ thì mọi
người lại náo nức, vui tươi, tất cả người dân cả
Việt lẫn Hoa đều cùng nhau chăm lo cho buổi lễ,
ngoài việc đến vía Bà để cầu nguyện phúc lành
thì bà con còn thăm hỏi và nói chuyện với nhau
mà không ai phân biệt là thuộc tộc người nào
và ở đâu đến. Vì vậy mà năm nào tổ chức lễ vía
Bà thì Ban Tế tự cũng đều có chuẩn bị khoảng
trên dưới 20 bàn cơm chay dành để tiếp khách
hành hương ở xa, các thành viên của Ban Tế tự
ở đình, chùa, miếu khác đến vía và bà con trong
vùng này, bên cạnh đó cũng dành ra khoảng 20
bàn cơm cho Ban Tổ chức”. Và khi tác giả tìm
hỏi một số người dân đến vía bà thì dường như
đều nhận được câu trả lời giống nhau, đại ý như
lời của cô Bảy Cúc và chị Thảo cho biết: “Nhà
tôi làm ăn buôn bán cách đây khoảng hơn hai
chục cây số nhưng năm nào đến dịp lễ vía Bà thì
tôi và con gái của tôi cũng đến đây để cúng vía
Bà để cầu bình an cho gia đình và mong Bà phù
hộ việc buôn bán được phát tài”, và chị Thảo
nói tiếp “Còn chị thì đến đây trước là cúng vía
Bà và sau là cầu mong Bà phù hộ cho gia đình
được khỏe mạnh, việc làm ăn của gia đình được
thuận lợi, và cũng cầu mong Bà ban phước lành
cho bản thân và ông xã của mình” (Tài liệu điền
dã 2017). Tương tự như vậy, trường hợp một kì
lễ vía bà Ngũ Hành ở Phường Tân Quy Đông,
Sa Đéc mà tác giả được trực tiếp tham gia và
được nghe ông N.V.L, Trưởng Ban Quản lí Miếu
Bà chia sẻ: “Con thấy đó, mỗi khi tổ chức cúng
Bà như thế này rất là vui và rộn ràng cả xóm vì
Bà được người dân ở đây tin tưởng lắm, khoảng
hai trăm người là thường xuyên túc trực để phục
vụ bà con và trên dưới vài trăm lượt khách vãng
lai đến thắp nhang. Mọi người dân ở đây, trai
gái, già trẻ, lớn nhỏ, làm ăn trên bờ hay làm ăn
trên ghe và xà lan, không phân biệt giàu nghèo
gì cả, tất cả mọi người đều đến thắp nhang cho
Bà, cầu mong Bà ban phước đức cho bản thân
và gia đình. Đặc biệt, năm nay tổ chức lễ vía
Bà ngay dịp gia đình kia sống ở nước ngoài mới
về nước cũng dắt theo chàng rể nước ngoài đến
thắp nhang cho Bà” (Tài liệu điền dã 2018).
Như vậy, có thể thấy nét độc đáo của loại hình
tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc chính là sự hội tụ,
ngưng đọng của nhiều dòng văn hóa, nhiều nét
đẹp văn hóa và kết tinh những hương vị riêng của
các tộc người tạo nên một bức tranh tín ngưỡng
nữ thần phong phú, đa dạng về thể loại, đa màu
sắc về giá trị. Bên cạnh đó, ta còn tìm thấy trong
văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc nhiều giá
trị truyền thống của dân tộc về giá trị đạo đức
nhân văn, giá trị nhân sinh quan sâu sắc, đó là
quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành; ở
hiền gặp lành; nghiệp báo - luân hồi; gieo nhân
lành gặt quả lành; uống nước nhớ nguồn; ăn quả
nhớ kẻ trồng cây; tâm thức hướng về cội nguồn
tôn vinh những người có công với dân với nước”.
Đó là truyền thống đề cao vai trò của người phụ
nữ, người mẹ đã trở thành biểu tượng của dân
tộc Việt mà nhân dân ta đã thần thánh hóa để trở
thành nữ thần - mẫu thần. Vị trí của người phụ
nữ luôn được đề cao như câu tương truyền “mồ
côi cha ăn cơm với cá, mồ côi má liếm lá đầu
đường”. Mặt khác người Việt luôn tâm niệm rằng
con cái được hưởng phúc đức từ người Mẹ nên
có câu “phúc đức tại mẫu”. Vì vậy, tín ngưỡng nữ
thần đã góp phần vào việc giáo dục lòng hướng
thiện cho con người, hướng con người vươn tới
những giá trị chân - thiện - mĩ, nhắc nhở thế
40
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
hệ trẻ hướng về cội nguồn “một lòng thờ mẹ
kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, và
từ truyền thống đó nhân lên thành tình yêu quê
hương đất nước. Những giá trị văn hóa của tín
ngưỡng nữ thần góp phần xây dựng nét đẹp đặc
trưng trong kho tàng văn hóa dân gian của xứ sở
Sa Đéc, phát huy những giá trị tích cực góp phần
xây dựng đời sống văn hóa của người dân trong
cộng đồng và trong bản thân của tín ngưỡng nữ
thần ở Sa Đéc.
V. KẾT LUẬN
Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Bà Thiên Hậu,
Bà Cố Hỷ là các nữ thần được thờ phổ biến
trong hệ thống tín ngưỡng dân gian ở vùng đất
Sa Đéc. Bên cạnh đó, còn một số nữ thần khác
cũng được tôn thờ như: Diêu Trì Kim Mẫu, Cửu
Thiên Huyền Nữ, Kim Hoa Nương Nương, Quan
Âm Bồ tát. Hệ thống 48 cơ sở tín ngưỡng nữ thần
được người dân gọi là miếu thờ/cung thờ bà đã
góp phần tạo nên sự phong phú trong hệ thống
tín ngưỡng dân gian ở Sa Đéc. Những miếu thờ
nữ thần thường có quy mô nhỏ gọn, được xây cất
ven đường, ven sông, bên cạnh hoặc phía trước
đình, chùa. Tuy nhiên, cũng có những nơi thờ nữ
thần có quy mô khá lớn như Thiên Hậu Thất Phủ
Cung. Tính chất của các nữ thần ở Sa Đéc bao
gồm nhiên thần, nhân thần, và cả Quan Âm Bồ
tát trong Phật giáo, Phật Mẫu Diêu Trì trong Cao
Đài cũng được người dân nơi đây xem như những
vị thần gần gũi trong đời sống tâm linh của mình.
Chức năng của các vị nữ thần cũng khá đa dạng
trong hệ thống tín ngưỡng dân gian địa phương,
các vị nữ thần đảm nhận nhiều nhiệm vụ trong
sinh hoạt tâm linh của cộng đồng xã hội cho đến
yếu tố hạt nhân là gia đình từ việc sanh đẻ, nuôi
dưỡng con cái đến việc lao động sản xuất, chăm
lo cái ăn, bảo trợ nghề nghiệp, cai quản đất đai
và không gian vũ trụ.
Vùng đất Sa Đéc được cư dân các tộc người
Việt, Hoa, Khmer đến đây khai hoang, cư trú và
làm ăn từ khá sớm góp phần làm cho nơi đây trở
thành một vùng thị tứ giao thương buôn bán nhộn
nhịp, phồn hoa của Nam Bộ. Tín ngưỡng nữ thần
ở Sa Đéc - Đồng Tháp cùng với tín ngưỡng nữ
thần ở các tỉnh, thành khác ở vùng Nam Bộ là kết
quả thể hiện sự bảo tồn văn hóa truyền thống của
cư dân các tộc người ở đây. Đồng thời, đó cũng
là kết quả của quá trình giao lưu - tiếp biến văn
hóa giữa các tộc người Việt, Hoa, Khmer trên cơ
sở cộng cư với lối sống chan hòa, san sẻ, bao
dung để hình thành nên những yếu tố mới trong
sinh hoạt tâm linh, phù hợp với đặc điểm của
vùng đất Sa Đéc. Trong đó, giá trị tín ngưỡng
Thiên Hậu, tín ngưỡng Chúa Xứ và tín ngưỡng
Ngũ Hành đã trở thành bản sắc văn hóa của cả
cộng đồng được nhiều tộc người khác nhau cùng
thờ phụng, cúng bái và gửi gắm ước nguyện./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ngô Đức Thịnh. Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội;
2001.
[2] Malinowski B. Magic, Science and Religion. In:
Dương Bích Hạnh, Đức Hạnh Hiệu Đính, editors.
Magic, Science and Religion and other Essays. Garden
City, N.Y.: Doubleday Anchor; 1954. p. 17–92.
[3] Nguyễn Đăng Duy. Văn hóa tâm linh. Hà Nội: Nhà
Xuất bản Hà Nội; 1997.
[4] Ngô Đức Thịnh. Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hóa
dân gian. TP. Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Thời đại;
2012.
[5] Nguyễn Ngọc Thơ. Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây
Nam Bộ. Hà Nội: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia
- Sự thật; 2017.
[6] Ngô Đức Thịnh. Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà Xuất bản Trẻ; 2012.
[7] Ngô Đức Thịnh. Đạo Mẫu ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà
Xuất bản Thời đại; 2012.
[8] Ngô Đức Thịnh. Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ. Hà
Nội: Nhà Xuất bản Dân trí; 2014.
[9] Nguyễn Minh San. Lễ hội về nữ thần của người Việt.
Hà Nội: Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc; 2011.
[10] Sơn Nam. Đình miếu và Lễ hội dân gian miền Nam.
TP. Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Trẻ; 2015.
[11] Phan An. Tích hợp và dung hợp trong tín ngưỡng
thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ. Trong: Tín ngưỡng
thờ mẫu ở Nam Bộ - Bản sắc và giá trị. TP. Hồ Chí
Minh: Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí
Minh; 2016. tr.13-16.
[12] Nguyễn Hữu Hiếu. Tìm văn hóa tâm linh Nam Bộ.
TP. Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Trẻ; 2004.
[13] Nguyễn Thanh Lợi. Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà
Rịa - Vũng Tàu. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển.
2007;1(60):34–42.
[14] Phan Thị Yến Tuyết. Tín ngưỡng thờ mẫu và nữ
thần từ chiều kích văn hóa biển của vùng biển đảo
Kiên Hải, Kiên Giang. Tạp chí Khoa học xã hội.
2010;5(141):61–69.
[15] Nguyễn Ngọc Thơ. Tín ngưỡng tôn giáo ở Thoại Sơn,
An Giang. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ.
2015;4(16):77–97.
41
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 30, THÁNG 6 NĂM 2018 VĂN HÓA - GIÁO DỤC - NGHỆ THUẬT
[16] Nguyễn Ngọc Thơ. Dấu tích tục thờ Tam Phủ trong
tín ngưỡng Thiên Hậu của người Việt vùng Tây Nam
Bộ. Tạp chí Văn hóa Dân gian. 2015;6:24–34.
[17] Nguyễn Văn Trung. Hồ sơ Lục Châu học. TP. Hồ
Chí Minh: Nhà Xuất bản Trẻ; 2015.
[18] Imprimerie L Menard. Monographie de la province
de Sa-Dec. Hà Nội: Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội;
1903. Sài Gòn: Publications de la société des études
Indo-Chinoises : Géographie physique, economique
et historique de la Cochinchine VIIIe fascicul.
[19] Jean Koffler. Description historique de la Cochinchine.
Revue Indochinoise 15; 1911.
[20] Léopold Cadière. Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành
tôn giáo người Việt. Nhà Xuất bản Thuận Hóa; 2015.
[21] Louvet L. La Cochinchine religeuse. Paris; 1858.
[22] Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí. Lý
Việt Dũng, Tới HV, editors. Đồng Nai: Nhà Xuất bản
Tổng hợp Đồng Nai; 2004.
[23] Tạ Chí Đại Trường. Thần Người và đất Việt. Hà Nội:
Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin; 2006.
[24] Huỳnh Lứa. Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ. TP.
Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản TP. Hồ Chí Minh; 1987.
[25] Sơn Nam. Lịch sử khẩn hoang Miền Nam. TP. Hồ
Chí Minh: Nhà Xuất bản Văn Nghệ; 1994.
[26] Sơn Nam. Văn minh miệt vườn. TP. Hồ Chí Minh:
Nhà Xuất bản Văn hóa; 1992.
[27] Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường. Văn
hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long. TP. Hồ
Chí Minh: Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội; 1990.
[28] Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Vinh"" NQ. Văn
hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ. TP. Hồ Chí Minh:
Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội; 1992.
[29] Huỳnh Minh. Sa Đéc xưa và nay. Sài Gòn: Nhà Xuất
bản Cánh Bằng; 1971.
[30] Nguyễn Hữu Hiếu, Ngô Xuân Tư, Lê Đức Hòa,
Nguyễn Đắc Hiền. Đồng Tháp 300 năm. TP. Hồ
Chí Minh: Nhà Xuất bản Trẻ; 2004.
[31] Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp. Địa chí tỉnh
Đồng Tháp. TP. Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Trẻ;
2014.
[32] Trần Đức Cường. Lịch sử hình thành và phát triển
vùng đất Nam Bộ (từ khởi thủy đến năm 1945). Hà
Nội: Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội; 2014.
[33] Nguyễn Thế Anh. Thiên Y A Na hay sự tiếp nhận
Bà Chúa Chăm Pô Nagar của vương triều Nho giáo
Việt Nam. Tạp chí Xưa & Nay. 2001;98:28–31.
[34] Nguyễn Hữu Hiếu. Tục thờ bà Chúa Xứ - Ngũ Hành
và nghi lễ bóng rỗi Nam Bộ. Hà Nội: Nhà Xuất bản
Mỹ thuật; 2017.
[35] Henri Maspero. Đạo giáo và các tôn giáo Trung
Quốc. Lê Diên, editor. Hà Nội: Nhà Xuất bản Khoa
học Xã hội; 2000.
[36] Trần Ngọc Thêm. Văn hóa người Việt vùng Tây Nam
Bộ. TP. Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Văn hóa - Văn
nghệ; 2013.
42
=========
[PDF]một số đặc điểm của tín ngưỡng nữ thần ở sa đéc, đồng tháp
tckh.tvu.edu.vn › default › files › magazine-pdfs › 4.duongthanhtung.pdf
viết bởi FOFGWIN SA - Bài viết có liên quan
6 thg 5, 2018 - th n đư c th dư i d ng th n Ũma (t c n th n. Shakti, v c a th n Shiva, n th n Ũma là n th n B o T ..... Devi hay Shakti, nhi u nhà nghiên c u cho r ng.
http://tckh.tvu.edu.vn/sites/default...gthanhtung.pdf
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)