Chào khoatin6, cám ơn khoatin6 nhé. Lúc nào rảnh kết bạn zalo với mình nhé! Hiii
(Trích bản tụng Hán Việt - Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh)
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
:53::53:
Tâm vốn không ( không là 1 nghỉa của Vô )
Điểm Tâm ???
ăn lót lòng :21::21:
đói với no > ăn !!
Nhất thời ???
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường .
:53::53:
Tâm không thời gian không không gian. Không chấp không, rõ cái có. :53:
:53::53:
Dụ ( hinh dung )
chỉ
U+6307, tổng 9 nét, bộ thủ 手 + 6 nét
phồn & giản thể, hình thanh & hội ý
Từ điển phổ thông
1. ngón tay
2. chỉ, trỏ
Từ điển trích dẫn
1. (Danh) Ngón (tay, chân). ◎Như: tay có năm ngón, ngón tay cái gọi là “cự chỉ” 巨指 hay “mẫu chỉ” 拇指, ngón tay trỏ gọi là “thực chỉ” 食指, ngón tay giữa gọi là “tướng chỉ” 將指, ngón tay đeo nhẫn gọi là “vô danh chỉ” 無名指, ngón tay út gọi là “tiểu chỉ” 小指.
Chi Ai ???
chỉ Tâm hay chi trăng ???
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập .
cát tường.
:53::53:
:53::53:
hihihih
Chẳng chi = không ngón tay
Bàn tay không ngón > bàn tay cụt
:4::4:
Đưa đến cái bịnh gọi là binh hủi .......
Bịnh truyền nhiêm ......... cách ly .
:24::24:
Thiền chi còn gọi là thiền bịnh :13::13:
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường .
:8::8:
:53::53:
:53::53:
Công án nổi tiếng :
* Tàu : Ngón tay chỉ trăng .
* Nhật : Âm thanh bàn tay.
* Ấn Độ : Cây bồ đề .
* Việt Nam : Lủy tre làng = Trúc lâm thiền tự .
hay còn gọi là Quán Âm .
( đốt tay hay đốt tre ?? )
Thật tiếc quá giờ chỉ bị
Người Việt Nam cái gi củng cười !!!
Thật tiếc ...Ôi thật tiếc !!!!!
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường .
:53::53:
TÁNH KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO
Posted on 18/01/2011by Duy Lực Thiền
Tánh Không với hàm ý bản thể của thế giới, vạn vật đều là không, nghĩa là không có thật, không có thực thể, không có tự tánh riêng biệt, tất cả các pháp, dù là vật chất hay tinh thần đều chỉ là nhân duyên giả hợp, chỉ là ý thức (Vạn pháp duy thức), đều là do Tâm tạo ( Tam giới duy tâm) chứ không phải là thật. Tánh Không có ý nghĩa cốt tuỷ trong Đạo Phật, nó khiến cho Phật giáo khác với các tôn giáo khác, cũng không giống với Khoa học và nhiều trường phái triết học khác. Đến đây hẳn độc giả cảm thấy rất thắc mắc, rất nghi ngờ vì cảm thấy quá đỗi phi lý, không thể hiểu nổi, không thể tin nổi. Chẳng lẽ cái nhà ta đang ở, cái xe ta đang sử dụng, cơm ăn áo mặc hàng ngày là không có thật sao ?
Chữ Không được đề cập tập trung nhất trong Bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh 般若波羅蜜多心經 là Hán dịch từ Phạn ngữ Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, đây là một bộ kinh Đại Thừa rất ngắn, bản chữ Hán do Pháp sư Huyền Trang dịch chỉ có 260 chữ. Nguyên bản có lẽ ra đời từ khoảng năm 100 trước Công nguyên đến thế kỷ II CN. Trích đoạn đầu :
觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。 見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。 不異空。空不異色。色即是空。空即 是色。受想行識亦復如是。舍利子。 諸法空相。 不生不滅。不垢不淨不增不減。是故 中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌 意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至 無意識界。無無明。亦無無明盡。乃 無老死。亦 無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得 以無所得故
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.
Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác với không, không chẳng khác với sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.
Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, không có sắc, không có thọ tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
Chúng ta chưa cần vội hiểu nghĩa của các câu trên, chỉ cần chú ý rằng trong đoạn kinh ngắn trên có rất nhiều chữ Không và Vô, cả hai chữ đều có nghĩa là không có thật. Không phải tuyệt đối không có, có nhưng không phải thật, Giống như các trò chơi (games) trong thế giới ảo, có đấy nhưng không phải thật. Long Thọ Bồ Tát, (zh. 龍樹; sa. nāgārjuna) vị Tổ thứ 14 của Thiền Tông Ấn Độ có viết cả một bộ sách Trung Quán Luận để giảng giải chữ Không này. Nhưng chúng ta sẽ không theo cách diễn giải của ngài Long Thọ vì nó rất trừu tượng, khó hiểu, bởi vì ngày xưa chưa có hiểu biết nhiều về khoa học, do đó chỉ dùng lý luận trừu tượng rất khó hiểu, chỉ cần biết Long Thọ Bồ Tát đã nói rằng “Tâm như hư không vô sở hữu” (Tâm giống như hư không không có thật). Chúng ta nên theo Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đương đại, dùng Vật lý lượng tử (Quantum Physics) hay thường nói hơn là Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics) hiện đại để tìm hiểu tánh Không thì dễ hiểu hơn. Nhưng trước khi đi sâu vào cơ học lượng tử, nên xem kỹ lại thuyết Thập nhị nhân duyên của Đức Phật.
Sơ đồ thập nhị nhân duyên cổ xưa vẫn được giữ nguyên, nhưng cần thiết phải giải thích thêm, cho thêm ví dụ để hiểu rõ hơn.
Chúng ta biết rằng : Thế giới vật chất do nhiều nguyên tử của khoảng hơn 100 nguyên tố mà người ta tìm thấy trên địa cầu và trong vũ trụ cấu thành. Nguyên tử có hạt nhân ở trung tâm và đám mây electron chuyển động bên ngoài. Hạt nhân nguyên tử cấu tạo bằng một hoặc hai loại hạt là proton và neutron. Ví dụ nguyên tử đơn giản nhất là hydrogen, hạt nhân hydrogen chỉ có một hạt proton. Còn hạt nhân nguyên tử của helium thì có 2 proton và 2 neutron. Hạt proton lại được cấu tạo bằng 2 hạt quark up + 1 hạt quark down. Hạt neutron thì cấu tạo bằng 1 hạt quark up + 2 hạt quark down. Đó là mô tả nguyên tử vật chất của vật lý học hiện đại.
Nguyên tử Hydrogen chỉ có 1 proton và 1 electron
Nguyên tử Helium có 2 proton, 2 neutron và 2 electron
Hạt Proton trong nhân nguyên tử cấu tạo bởi 2 quark up +1 quark down
Hạt Neutron trong nhân nguyên tử cấu tạo bởi 1 quark up +2 quark down
Nguyên tử vật chất thật ra là trống rỗng, hạt quark và hạt electron không thể độc lập tồn tại, chúng chỉ nương tựa vào nhau mà tồn tại dưới hình thức nguyên tử. Nguyên tử gồm có hạt nhân ở trung tâm và các hạt electron xoay chung quanh. Nhân nguyên tử chỉ có kích thước bằng 1/10.000 (một phần mười ngàn) đường kính nguyên tử. Đường kính của một nguyên tử, chẳng hạn carbon, là 0,5nm (nanomét, 1nm = một phần tỉ mét) Mà nhân nguyên tử lại được cấu tạo bởi những hạt proton và neutron, các hạt này có kích thước 0,00000001 nm (một phần trăm triệu nanomét). Như vậy hạt proton nhỏ hơn nguyên tử 50 triệu lần. Kích thước của hạt quark còn cực kỳ nhỏ hơn nữa. Để hình dung, ta lấy nguyên tử carbon vốn đã rất nhỏ (0,5 nm -nano mét,), phóng đại bằng kích thước quả địa cầu (phóng đại cỡ 24 triệu tỉ tức 24×1015 lần) thì thấy hạt quark có kích thước chưa tới 5 ly (mm). Mô tả rõ ràng như vậy để thấy rằng nguyên tử là hoàn toàn trống rỗng, vật chất làm nên nguyên tử là các hạt quark và electron cũng không phải là thực thể vì chúng không thể độc lập tồn tại.
Một hạt quark riêng lẻ không tồn tại, phải có 3 hạt quark hợp lại mới thành hạt proton hoặc hạt neutron. Còn hạt electron thì không thể đứng yên một chỗ, nó luôn chuyển động không ngừng và không thể cùng lúc xác định động lượng (bằng cách đo xung lượng của hạt electron khi nó va chạm với hạt proton do người làm thí nghiệm bắn vào) và vị trí của nó theo nguyên lý bất định do Heisenberg tìm ra. Ý nghĩa của nguyên lý bất định Heisenberg là người ta không thể nắm bắt, xác định được hạt electron một cách dứt khoát. Theo cái nhìn Phật giáo thì hạt quark (không thể độc lập tồn tại) và hạt electron (không thể xác định dứt khoát) chỉ là hoa đốm trong hư không, không có thật, chỉ vì nhất niệm vô minh mà thấy có nhân duyên kết hợp để xuất hiện nguyên tử vật chất và từ đó cấu thành ngân hà, tinh tú, sơn hà đại địa, vạn vật, con người, đó chỉ là cảm giác đồng bộ của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chứ thực ra không có gì cả. Vì vậy mới có câu tổng kết trong tác phẩm Thành Duy Thức Luận mà ngài Huyền Trang đã dịch từ tác phẩm của ngài Hộ Pháp (Dharmapàla) : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Các nhà tu hành theo Phật giáo ngộ đạo là ngộ cái “Tâm như hư không vô sở hữu” chính là thực tướng vô tướng của vũ trụ vạn vật vậy.
Khoa học ngày nay có thể phá vỡ được hạt nhân của nguyên tử Uranium 235 để tạo thành 3 nguyên tử khác là Uranium 236, Barium và Kripton,
Nguyên tử Uranium 235
Biểu đồ phản ứng phân hạch Uranium 235
Trong biểu đồ, hạt nhân U235 bị phân rã thành U236, Kripton và Barium nhưng khoa học không có khả năng phá vỡ được hạt proton hoặc hạt neutron vì phải cần tới một năng lượng vô hạn, họ gọi hiện tượng các hạt quark bị giam giữ trong hạt proton hoặc neutron là hiện tượng giam hãm (confinement) vĩnh viễn không bao giờ tách rời ra được. Còn Phật giáo gọi hiện tượng giam hãm đó là Tâm cố chấp hay còn gọi là trước tưởng sau khi đã khởi nhất niệm vô minh. Vì nhất niệm vô minh nên mới thấy có nguyên tử và vũ trụ vạn vật. Điều này đã được giải thích tường tận qua bài giảng Thập nhị nhân duyên. Kinh Phật nói rằng Tâm là vô lượng vô biên không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, vì vậy nên Tâm có khả năng phá vỡ hiện tượng giam hãm. Sự kiện Trương Bảo Thắng đi xuyên qua tường là thực nghiệm minh chứng cho năng lượng vô biên của Tâm linh, nó dư sức tách rời các hạt quark khiến vật chất (bức tường và thân xác của Trương Bảo Thắng) biến mất, trở lại với cái không vốn là (Tâm như hư không vô sở hữu). Chính vì nhất niệm vô minh nên mới thấy có nguyên tử vật chất và thế giới, vạn vật, con người. Nếu không có nhất niệm vô minh thì thế giới ảo hóa biến mất vì không có thật, giống như khi ta tắt máy vi tính thì mọi thứ trên màn hình vi tính đều biến mất vì chỉ là ảo không phải thật. Trạng thái vô niệm tức không có nhất niệm vô minh, thì thế giới chỉ là không, không có thật, không hiện hữu, tuy nhiên vẫn có một cấu trúc ảo, ảo thì không phải là có thật, khi vô niệm thì nó không hiện hữu, nhưng khi khởi niệm thì thế giới vật chất xuất hiện, cấu trúc ảo đó, Phật giáo gọi là vô thủy vô minh. Ở trạng thái vô niệm thì không còn phân biệt giữa Ý thức và Vật chất. Nguyên tử vật chất thật ra chỉ là một hình thức của tâm linh bị sơ cứng do cố chấp (chấp thật) do cái thấy biết bị che khuất, bị hạn chế vì nhất niệm vô minh. Vô thủy vô minh là trạng thái vô tri vô vật, không có không gian, không có thời gian, khi các hạt quark và electron chỉ ở dạng tiềm ẩn chưa được định hình, chúng rời rạc dường như không hiện hữu, chỉ là lượng tử của một dạng năng lượng vô hình. Nhưng khi có nhất niệm vô minh khởi lên, chúng liền xuất hiện thành nguyên tử vật chất.
Vô thủy vô minh là cấu trúc ảo khi các hạt quark và electron chỉ ở dạng tiềm ẩn, chưa được nhận thức, chưa biết là gì. Nhà triết học người Đức, Immanuel Kant (1724-1804) gọi cấu trúc đó của vật chất là vật tự thân hay vật tự thể (Das Ding an sich) là cái bất khả tri, không thể biết được là cái gì, bởi cái biết đã qua ý thức là lầm lạc, không còn đúng với nguyên bản sự thật. Ngày nay thì các nhà khoa học hàng đầu của nhân loại đã xác nhận. Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (1) (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì chỉ là hạt ảo trừu tượng).
Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức, giải Nobel vật lý 1932, người phát minh ra nguyên lý bất định _không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay xung lượng của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (2)(Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).
Cái thế giới tiềm thể (world of potentialities) mà Heisenberg đề cập, còn phải đợi điều kiện gì để trở thành hiện thực ? Nó phải đợi một cái vô minh thứ hai, đó là nhất niệm vô minh, nói theo thuật ngữ PG, còn thông thường ta gọi đó là thức hay ý thức. Cấu trúc vật chất tuy ảo nhưng nó vẫn tương đối vững bền và tiếp tục phát triển thành những cấu trúc mới. Tính chất vững bền của cấu trúc ảo, ngày nay chúng ta hiểu rõ qua máy vi tính. Các files tin học vẫn ổn định và có thể gởi đi xa qua mạng internet, kể cả qua sóng vô tuyến như blue tooth, wifi, 3G v.v… Khi cấu trúc vật chất phát triển thành sinh vật với các giác quan : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ. PG gọi chung là lục căn. Lục căn tiếp xúc với các đối tượng của nó : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. (Pháp là thuật ngữ tổng quát để chỉ chung tất cả sự vật -tiếng Anh là things-. PG gọi các đối tượng này là lục trần) thì sinh ra lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó, ý thức). Ý thức là nhận thức tổng hợp mà cơ sở của nó là lục căn tiếp xúc với lục trần. Từ đó phát sinh ý niệm. PG cho rằng vật chất chỉ là ảo không có thật, nhưng khi não tổng hợp và phát sinh một niệm thì vật chất được nhận thức một cách lầm lạc là có thật. Cho nên PG gọi đó là nhất niệm vô minh. Rồi niệm này kế tiếp niệm kia liên tục phát sinh thành ý thức, thành nhận thức cho rằng có một thế giới khách quan, độc lập, bên ngoài ý thức. Nhưng khi các nhà khoa học nghiên cứu về lượng tử thì họ mới phát hiện rằng không có một thế giới độc lập, khách quan, ngoài ý thức, mà chỉ có thế giới chủ quan của ý thức, biến ảo thành thật. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (3)(Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật). Một nhà khoa học khác cũng cùng nhận thức. Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (4) (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).
Người tu Thiền khi đến được thoại đầu tức là trạng thái vô thủy vô minh, lúc nghi tình đã tràn lấp vũ trụ, không còn biết gì nữa, nhưng đó chưa phải là kiến tánh (giác ngộ), hành giả còn phải tiến thêm một bước nữa mà kinh gọi là ” bách xích can đầu cánh tiến nhất bộ” (đầu sào trăm thước bước thêm một bước) lấy hình ảnh của người leo một cây sào cao một trăm thước, đã leo đủ 100 thước rồi nhưng còn phải một bước nữa mới tới giác ngộ, tức là không còn chỗ bám víu ( Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm). Bước đó là gì ? chính là trở lại nhất niệm vô minh. Vì mê muội nên mới tu, đến kiến tánh lại trở về mê muội hay sao ? Thật ra đó chỉ là trở lại với thế giới đời thường thế lưu bố tưởng để thấy núi là núi, nước là nước, thấy mọi vật cũng đều bình thường như bao người khác, tuy nhiên tâm thái đã thay đổi, không còn cố chấp nữa vì đã ngộ tánh không, ngộ bản lai diện mục. Đây chính là chỗ mà Bát nhã Tâm kinh nói “Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.”
Do đó người kiến tánh chỉ có thế lưu bố tưởng (giống như phàm phu) mà không có trước tưởng (chấp thật), và không bị hiện tượng giam hãm của hạt nhân nguyên tử trói buộc. Hiện tượng giam hãm của các hạt quark trong hạt proton và neutron chính là biểu hiện của tâm cố chấp, của sinh diệt luân hồi. Phá được hiện tượng giam hãm tức là giải thoát sinh tử, có thể sinh tử tự do, sống trong pháp giới Hoa nghiêm lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Lục tổ Huệ Năng và vài Thiền sư khác như Hám Sơn, Đơn Điền đã để lại Nhục thân bất hoại tại chùa Nam Hoa tại Thiều Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Dưới đây là video thể hiện đôi nét về chùa Nam Hoa và nhục thân của các ngài.
Tóm lại tánh Không trong Phật giáo được đề cập một cách rõ ràng trong Bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh và trong Trung Quán Luận của Long Thọ Bồ Tát, được chứng minh trong Vật lý lượng tử với 3 loại hạt cấu tạo nên nguyên tử vật chất ( quark up, quark down và electron) chúng chỉ là hạt ảo, không thể độc lập tồn tại, chúng phải dựa vào nhau mà tồn tại (nhân duyên hay duyên khởi) dưới hình thức nguyên tử. Nguyên tử thực ra là trống rỗng, cái mà chúng ta cảm nhận là vật chất, rắn, đặc chỉ là cảm giác do đám mây electron chung quanh hạt nhân tạo ra. Tánh Không cũng được chứng minh rất rõ ràng qua việc phát minh máy vi tính. Các hiện tượng mà ta thấy trên màn hình chỉ là ảo, là trùng trùng duyên khởi của hạt electron (điện tử) lưu chuyển thành dòng điện, được qui thành số 0 và 1 của hệ đếm nhị phân. Chúng ta thấy chữ viết, hình ảnh, âm thanh, video, các sự vật này đều có thể tương tác như thật, thế mà bản chất của chúng là không, không có gì cả, bởi vì hạt electron nói cho cùng cũng không phải là một thực thể có thể độc lập tồn tại. Vậy tánh Không của vũ trụ vạn vật là rõ ràng minh bạch, không còn nghi ngờ gì nữa. Vật chất chỉ hiện hữu trong tâm cố chấp, trong nhất niệm vô minh. Tâm cố chấp là vô cùng kiên cố, kể cả lúc thể xác chết đi, tâm cố chấp vẫn còn, nó đi đầu thai vào một thân khác, một kiếp sống khác. Chỉ khi nào giác ngộ triệt để, quét sạch hoàn toàn các thói quen sai lầm (tập khí) thì tâm mới hết cố chấp. Ngộ tánh Không không phải để chấp Không, bởi vì nếu chấp Không sẽ dẫn tới vô dụng, trái lại Không là nền tảng của tất cả diệu dụng, của vạn pháp, vì Không nên vạn pháp có chỗ hiển bày vô ngại, không mâu thuẫn nhau, không tranh đoạt nhau. Ví dụ, vì mọi sự vật trên không gian điều khiển học đều là ảo, khi đủ nhân duyên nó hiện lên màn hình (do ta mở file chẳng hạn), khi hết nhân duyên (ta đóng file ) thì nó biến mất không để lại dấu vết, như thế mới vô ngại. Giả dụ chúng đều là thật cả, thì khi một file hiện lên màn hình, nó tồn tại dính mắc ở đó luôn thì file khác làm sao có chỗ hiện ra. Trong cuộc sống cũng thế, vì vạn vật là ảo, là không, nên vô số thế giới chồng chất lên nhau đều vô ngại, quá khứ, hiện tại, vị lai đều tự do hiển bày trong tâm thức của ta. Thế nhưng trong ngoại cảnh đời thường mọi việc không xảy ra như vậy. Đáng lẻ khi ta nghĩ tới một ngôi nhà khang trang thì ngôi nhà ấy phải hiện ra ngoại cảnh, nhưng nó không hiện ra, ngoại cảnh vẫn chỉ là một túp lều tồi tàn rách rưới. Muốn có ngôi nhà khang trang, ta phải làm lụng vất vả, tích luỹ tiền bạc lâu ngày mới xây dựng được ngôi nhà ấy. Đó là vì cuộc sống đời thường là tương đối, bị hạn chế về không gian, thời gian và số lượng. Từ ý nghĩ tới hiện thực phải mất thời gian, không gian mặt bằng có hạn, vật chất, năng lượng cũng có hạn. Nguyên nhân của những hạn chế ấy là sự chấp trước (trước tưởng) vướng mắc vào hình thức (nguyên tử vật chất), tâm linh không có sức mạnh. Giả sử có được sức mạnh tâm linh giác ngộ như Đức Phật, thì có thể tác động vào hạt nhân nguyên tử, biến đổi nước biển thành cái nhà, thành mọi thứ vật dụng cần thiết cho cuộc sống trong nháy mắt. Nhưng trong thực tế lịch sử, Đức Phật không làm như vậy, vì điều đó không có ý nghĩa, ngài chỉ giáo hoá cho con người biết nguồn gốc của đau khổ và con đường thoát khổ. Nhưng đệ tử của Phật là Đại Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) thì có làm. Một lần có đại hội Phật giáo tổ chức tại thành Xá Vệ dưới sự chủ trì của vua Ba Tư Nặc, nhưng muốn vào thành dự lễ phải qua sông A Kỳ, mà hôm đó nước sông A Kỳ dâng cao, sóng to gió lớn, thuyền nhỏ không thể qua sông được. Mục Kiền Liên bèn biến ra một chiếc cầu vững chắc để các phái đoàn PG đi qua cầu vào thành dự lễ. Theo Kinh Thánh Thiên Chúa giáo thì Chúa Jesus cũng có làm một lần trong một hoàn cảnh đặc biệt cần thiết. Trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilea, có năm ngàn đàn ông tham dự, chưa kể đàn bà và trẻ con, họ đói, nhưng người thân cận của Chúa Jesus chỉ có 5 cái bánh và 2 con cá, Jesus đã bẻ bánh, chia cá cho tất cả những người tham dự buổi giảng đều được ăn no bụng rồi mà vẫn còn dư lại 12 giỏ bánh. Ngay trong thời hiện đại cũng có những nhà khí công có công năng đặc dị, họ có thể dùng tâm lực để di chuyển vật thể qua không gian, và khi di chuyển như thế, vật có tính chất vô ngại, có thể dễ dàng đi xuyên qua tường, qua vật thể rắn một cách dễ dàng, giống như sóng điện từ mang tín hiệu radio và truyền hình có thể đi xuyên qua tường đến máy thu của ta.
Một số nhà khoa học cũng đã nghiên cứu phương thức vô tuyến vận tải (Télétransport), người ta biến đổi một vật thể thành lượng tử rồi truyền chúng qua không gian, tại nơi đến, người ta biến lượng tử trở lại thành vật thể như ban đầu. Người ta đã thực hiện thành công với photons (hạt ánh sáng) và electron (điện tử) mà ngày nay đã sử dụng phổ biến với các bit thông tin điện tử qua các mạng viễn thông và internet. Nhưng với vật thể thì gặp khó khăn, bởi vì phải cần tới một năng lượng vô hạn để biến hoàn toàn một nguyên tử vật chất thành lượng tử, một điều mà khoa học hiện nay không thể làm được. Do đó trong thực tế chỉ có các nhà khí công thực hiện được vô tuyến vận tải bằng phương pháp tâm linh vì tâm linh đích thực là một dạng năng lượng vô hạn.
Nhận thức được tánh Không của vạn vật không phải để chấp Không mà để điều hoà hoạt động và ứng xử phù hợp với chân lý. Hiểu tánh Không thì biết rằng chư hành vô thường (các hiện tượng không có thật, chỉ hiện hữu nhất thời, không tồn tại mãi mãi), chư pháp vô ngã (các pháp, các sự vật không có tự tánh, không có bản ngã) thì con người sẽ quý trọng cuộc sống mong manh này, quý trọng sinh mạng của muôn loài, không quá coi trọng cái tôi dẫn đến hại người lợi ta, không ham lừa dối tranh đoạt để được lợi, như thế thế giới sẽ có trật tự và hoà bình. Nhược bằng trong đời có nhiều kẻ tham lam, ích kỷ, tàn ác, cũng không vì thế mà sợ hãi vì đã có luật nhân quả, kẻ làm ác sẽ bị quả báo. Hiểu tánh Không là vô hạn, có vô lượng công dụng, có đủ chỗ để dung nạp tất cả mọi chúng sinh, không nhất thiết phải tranh giành, đó là cơ sở để xây dựng hoà bình và hạnh phúc cho toàn thế giới.
Truyền Bình
:53::53:
Khi nói đến lưởng tử là nói đến :
Bức xạ - phóng xạ - nhiểm phóng xạ.
Giác và tri ở đâu ta ??
ngay trên thân thể có cuốn tự điển đó !
nhin được hay không nhin được ???
Khó tìm .... ôi .... khó tim....
Tầm hay tìm ????
chúc các huynh tỉ tịnh tấn trong tu tập.
cát tường.
:53::53:
DUY TÂM QUYẾT
(Đại Tạng)
Nói đến chữ tâm chẳng phải chơn, vọng, hữu, vô có thể phân biệt được ; chẳng phải văn tự. Lời nói có thể diễn tả được. Nhưng các bật thánh ca ngợi, các hiền triết giải thích, ngàn lối khác nhau, chỉ là tùy theo đương cơ mà giả lập phương tiện, cuối cùng đều quy về một pháp mà thôi.
Nên kinh Bát Nhã nói Bất Nhị, Pháp Hoa nói Nhất thừa, Tư Ích nói Bình đẳng Như như, Hoa nghiêm nói Thuần chơn pháp giới, Viên Giác kiến lập tất cả, Lăng Nghiêm bao gồm Mười phương, Đại Tập Nhiễm tịnh dung thông, Bảo Tích Căn trần hòa hợp, Niết Bàn An nơi bí tạng, Tịnh Danh Đạo tràng khắp nơi… tất cả tống nhiếp bao gồm, tỏ hết sự và lý chẳng có thiếu sót. Cho nên một pháp ngàn tên, tùy duyên lập hiệu, người học đạo chớ nên mê lầm việc tùy sự lập danh, kẹt vào lời nói phương tiện mà cho chúng sanh là giả. Chư Phật là thật ! Nếu ngộ được nhất pháp thì vạn pháp viên thông, sự mắc kẹt của nhiều kiếp ngay đó tan rã, vô biên diệu nghĩa nhất thời đều không, thấu triệt nguồn gốc của tâm pháp, rõ hết phương tiện của chư phật, chẳng tốn mốt chút công lực, chẳng dời một bước mà du lịch hằng sa thế giới, không một Phật sát đạo tràng nào mà chẳng đến, không một pháp hội nào mà chẳng dự, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng phải viên nhân (cái nhân tròn đầy bao gồm tất cả tâm pháp), hằng sa Như Lai rõ ràng ngay trước mắt, mười phương phật pháp sáng tỏ trong bàn tay, núi sông cao thấp cùng chuyển căn bản pháp luân, hàm linh lớn nhỏ phổ hiện sắc thân Tam muội. Ở một chỗ mà mười phương cùng hiện giảng một âm mà pháp giới cùng nghe, nói huyền nói diệu mà chẳng hoại pháp thế gian, muôn ngàn biến hóa mà chưa dời chổ thật tế. Cùng tam thế chư phật nhất thời hành đạo, với mười loài chúng sanh đồng chứng Niết Bàn, đánh trống Phật pháp nơi cung ma, sấm xét Phật pháp nơi sứ tà, đi ngược mà tự thuận, nơi cương mà tự nhu, lên cao mà chẳng nguy, nước đầy mà chẳng tràn, ở yên trên đất tuyệt học, sâu vào nguồn gốc vô vi, nhập cửa huyền của chúng diệu, dạo cảnh giới của thật tướng.
Chẳng một pháp vốn có, chẳng một pháp mới thành, diệt trung biên, tuyệt tiền hậu, ấn đồng dị (đồng và dị cùng trong một pháp ấn), nhất khứ lai. Muôn cảnh cùng quán, nhất tâm bình đẳng, tiếng Phật thường nghe, huệ quan thường chiếu, đây là Đại Tịch Tam Muội Kim Cang định môn Thánh phàm bằng nhau, cổ kim đều vậy. Như tánh ướt của giọt nước với biển cả vốn đồng, sự dung nạp của cái lổ nhỏ bằng hạt cải so với hư không chẳng khác, kẻ tin được thì công siêu nhiều kiếp, kẻ ngộ được thì rõ trong sát na.
Cái pháp môn của nhất tâm này thật là đại đạo chẳng có phương sở, tu tập bụi trần mà chẳng phải hợp, tan rã quốc độ mà chẳng phải phân (phân tán), hòa quang mà bất quần (chẳng phải nhiều chúng hợp lại), đồng trần mà chẳng nhiễm, siêu xuất mà chẳng lìa, dung hợp mà chẳng tụ, nuôi dưỡng Thánh phàm mà chẳng có hình tướng thật chất để thấy, kiến tạo pháp giới mà chẳng có tên họ để gọi, che khắp cỏ cây, phủ khắp kim cổ, cùng khắp hư không pháp giới, bầu trời chẳng thề che lấp bản thể , thường chiếu thường hiện, địa ngục chẳng thể ấn dấu ánh sáng, vô trụ vô y, trần lao chẳng thể đổi cái tánh, phi thuần phi tạp, muôn pháp chẳng thể dấu cái chơn, vắng lặng mà âm thanh khắp nơi, vô tướng mà hình tượng đầy trời, dung hợp lẫn nhau mà cảnh vật muôn ngàn sai biệt, hình tướng sum la chỉ là một, chẳng tụ chẳng chia, chẳng vì việc hỏng mà mất bản thể, cũng đồng cũng khác, tùy duyên mà chẳng cần giữ tánh, tức tướng là tánh nên chẳng ngại kiến lập ; tức lý là sự nên chẳng ngại chơn thường. Dùng cái không của hữu đâu ngại đủ thứ sanh khởi ; dùng cái động của tịnh, đâu ngại muôn cảnh tịch lặng, nói một thì lớn nhỏ khác nhau, nói khác thì cao thấp đều bằng, nói có thì chơn lý tịch diệt, nói không thì sự dụng chẳng bỏ, dù sanh mà thường tịch, tướng thế gian trống rỗng, dù động mà thường trụ, muôn pháp chẳng dời, dù ẩn mà thường khởi, thích ứng tùy cơ. Chẳng giả mà ảo tưởng hòa hợp, chẳng thật mà chơn tánh trạm nhiên, chẳng thành mà đủ loại cùng sáng, chẳng hoại mà các duyên tự diệt. Cảnh dù hiện mà chẳng có tánh hiện, trí dù chiếu mà chẳng có công chiếu, tịch mà dụng chẳng khác, năng và sở chỉ một. Đồng như gương sáng mà vạn tượng chẳng giấu mình, tánh như hư không mà tướng chẳng rời bản thể, làm tạng thường trụ, là cửa biến thông, trạm nhiên kiên cố mà thường tùy vật biến hóa, lăng xăng tạo tác mà chẳng động được chơn như, thân nam ẩn, thân nữ hiện, phương Đông nhập, phương Tây xuất, đang còn mà thường diệt, đang nắm mà thương buông, phổ biến mà ánh sáng chẳng động, khắp nơi mà một vật chẳng có, một hạt buội gồm vô biên quốc độ, một niệm tưởng lập vô tận cổ kim. Tức tịnh thường nhiễm ở thật tướng mà chẳng phải thăng (cấp bật cao), tức đục thường trong, vào lục đạo mà chẳng phải đọa.
Nhìn vào ngoài chẳng dư, nhìn vào trong chẳng thiếu, đầy mắt mà chẳng thấy đầy tai mà chẳng nghe, đầy lòng mà chẳng biết, đủ lượng mà chẳng hay, đã thành mà chẳng phải cũ, nay hiện mà chẳng phải mới, chẳng mài mà tự sáng tỏ, chẳng chùi mà tự trong sạch, chơn tánh độc lập, diệu thể thường trụ, linh quang xán lạn, công đức đầy tràn.
Diệu dụng của hàm linh phổ hội, làm vua của muôn Pháp, Tam thừa và Ngũ tánh (năm thứ chủng tánh : tam thừa, ngoại đạo và bất định chủng tánh) qui tụ, làn mẹ của ngàn Thánh, độc tôn độc quý, chẳng gì sánh bằng, là chơn pháp yếu, là thật đại đạo, tông tích nhiệm mầu chẳng định, tùy theo tánh vật mà vuông tròn, diệu dụng thích ứng tự nhiên, tùy theo căn cơ mà ẩn hiện, cho nên gốc sanh ngọn mà ngọn tùy gốc, thể dụng lẫn nhau ; chơn thành tục mà tục lập chơn, Thánh phàm cùng tỏ ; chính ta giúp người mà người lại giúp ta chủ bạn cùng tham.
Chúng sanh thành phật mà phật độ chúng sanh, nhân quả rõ ràng. Cảnh chẳng tự tánh mà người khác thành tự kỷ tâm chẵng tự tánh mà tự kỷ thành người khác, lý chẳng thành tựu mà một tức nhiều sự chẳng thành tựu làm nhiều tức một, tướng dù giả mà âm thầm một thể, tánh dù thật mà thường nơi vạn duyên. Dù hiểu lộ mà tìm cầu rất khó, dù siêu tuyệt mà đại dụng chẳng ngại, hiện ra ảo tượng nơi một tánh mà dung chơn (dung hợp chơn đế), Tịch diệt linh thiêng, nhờ sum la mà hiển tướng. Đế và Trí (Đế : Chơn đế, Tục đế, Trí : Quyền trí, Thật trí) phát minh lẫn nhau, nhiễm và tịnh huân tập lẫn nhau, tùy sức yếu mạnh mà chìm nổi vô thường, tùy duyên tụ tán mà nắm buông chẳng định, nhiếp nhau thì vi trần chẳng hiện , giúp nhau thì muôn cảnh đều sanh, đến như bóng trăng bỗng hiện trong nước, đi như đám mây bỗng tan trên trời, động tịnh vô ngại, trống rỗng thấu nhập, tương sanh tương khắc, linh thông khó lường, chẳng trong chẳng ngoài, diệu tánh khắp nơi.
Biển trí mênh mông, dung nạp tất cả chẳng kẻ thiết sót, linh châu (tự tánh) sáng tỏ, chiếu khắp mười phương chẳng từng mảy may ẩn giấu. như vàng thiệt tùy theo đồ dùng làm ra đủ thứ khuôn hình, muôn ngàn sai biệt mà chẳng ngại, như nước trong lặng nổi nhiều làn sóng, hiển tướng mà bản thể chẳng chút mất mát. Đều đúng đều sai, cũng tà cũng chánh, chẳng có mà thị hiện có, mơ hồ như trong mộng, chẳng thành mà tựu như thành, thấm thoát như huyễn hóa. Tùy nguồn không mà sanh diệt, pháp pháp vô tri, theo biến ảo mà thịnh suy, duyên duyên tuyệt đối (đối đãi). Cho nên, đĩnh núi chót vót mà chẳng vực thẩm, biến rộng không đáy mà chẳng thâm sâu, tam độc, tứ đảo (điên đảo) mà chẳng phải phàm, bát giải lục thông mà chẳng phải Thánh, đồng ở đất chơn như tịch diệt, cùng vào cửa bất nhị vô sanh. Tạo tác trong đại giải thoát, trùng trùng vô tận hiển hiện trong bất tư nghì, mỗi mỗi khó tìm, đâu thể kiến lập thủy chung, chỉ định xứ sở ! Đâu cần sùng chơn chê vọng, chán dị ham đồng !
Lại muốn hoại thân thể huyễn hóa, muốn dứt ý thức chiêm bao mà chẳng biết mỗi niệm đều là Thích Ca ra đời, mỗi bước đều là Di Lặc hạ sanh, phân biệt là hiện cái tâm của Phổ Hiền, mọi cửa đều là cam lồ, mọi vị đều là đề hồ, thật chẳng ra ngoài vườn bồ đề, thường ở nơi thế giới Liên Hoa Tạng. Chói rọi không vật nào chẳng soi thấu, rõ ràng sáng tỏ đầy mắt, khỏi nhờ biện tài diễn tả, chẳng cần thần thông hiển thị , động tịnh thường gặp, sáng tối chẳng lìa, chẳng phải xưa thạnh nay suy, đâu phải ngu chìm mà trí hiện !
Nói nín thường khế hợp, đầu đuôi thầm dung thông, Đạt Ma đâu cần đến Đông Độ, bảy Phật đâu cần thị hiện trên đời ! Hễ tâm không thì trời đất hư tịch, tâm hữu thì quốc độ sum sê, niệm khởi thì sơn nhạc lay động, niệm lặng thì song ngòi yên tịnh, ứng cơ cao tột thì lời lời liễu nghĩa, trí huệ sáng tỏ thì niệm niệm hư huyền, căn khí lớn thì pháp pháp đầy đủ, độ lượng rộng thì trần trần vô tận, ý địa trong thì thế giới sạch, tâm thủy đục thì cảnh tượng tối, đề ra một mà bao gồm toàn bộ, khang trang bình đẳng, sẳn sàng cụ túc, chỉ ở nơi chánh quán mà thôi.
Muôn pháp vốn do người tạo, chơn như tự đủ nhiều đức, vô niệm mà công đức chẳng có, vô tác diệu hạnh đều viên. Chẳng tạo mà thành, linh trí sẳn sàng, chẳng tìm tự đắc, diệu tánh thiên chơn, mới biết lý trí viên dung, đại đạo chẳng ở bên ngoài, tuyệt một hạt bụi mà độc lập, có tướng nào để tung hoành ? Vì vậy, ngay nơi âm thanh tức là nghe, ngoài sự thấy chẳng có pháp khác (bản văn cũng là bản kiến, cùng khắp không gian và thời gian) sắc đẹp chẳng thể mê hoặc, âm điệu chẳng thể lôi chìm, như nước biển hổi đủ mùi vị của ngàn sông, như núi tu di nuốt hết sắc tướng của quần đảo, không một tên chẳng hoằng danh hiệu Như Lai, không một vật chẳng tỏ hình tướng của chư Phật, cây cối nhà cửa tự tỏ diệu tướng vô biên, khỉ kêu chim hót đều nói diệu âm bất nhị, si ái thành nguồn chơn giải thoát, tham sân tỏ đại dụng Bồ đề, vọng tưởng khởi mà Niết Bàn hiện, trần lao sanh mà Phật đạo thành. Từ bản thể làm nên mà Hóa thân, báo thân tịch lặng, tùy nhân duyên hiển hiện mà Phật pháp đầy đủ khắp nơi, thật là chỗ quy về của giáo pháp, linh ngộ của Thánh Hiền, thực tế của chúng sanh, căn bản của vạn vật, đại cương của chánh pháp, bản ý của xuất thế, đường lối của Tam thừa, bến đò của Phật đạo, linh nguyên của Bát Nhã, quê nhà của Niết Bàn.
Bởi vì diệu lý mầu nhiệm sâu xa, huyền chỉ hy hữu khó lường, kẻ cường huệ uổng nhọc tinh thần, kẻ si thiền chỉ có thể tự trói. Kỳ thật thì con đường của ngôn ngữ cắt tuyệt, ý thức phân biệt dứt bặt, tinh thần trong sạch, trí huệ tự nhiên, không hữu song dung, căn trần trống rỗng như nhìn thấu trời xanh, như ở dưới mặt trời chói chang, không một pháp môn nào hiển hiện, không một chí lý nào chẳng rõ. Chẳng động tình thức, dưới ao sâu mà lượm nhầm thất bảo, chẳng phí tâm lực, trong nước đục mà tự được huyền châu, quán đại thiên thế giới ngay trước mắt, chỉ hằng sa quốc độ nơi bên cạnh, nắm chúng sanh trong bàn tay, ôm vạn vật ở trong lòng, chẳng tốn chút công, thành tựu Lăng Nghiêm đại định, chẳng nhìn một chữ, xem hết tất cả kinh điển, nghĩa của Tứ cú thông, đường của Bách phi tuyệt. Dọc xuyên tam tế, ngang thấu mười phương, duy nhất tổng trì (Tổng nhất thiết pháp, Trì nhất thiết nghĩa hiệu Đại Tự Tại)
Thần quang hiển hách, oai đức lừng lẫy, ngoại đạo kinh hồn, tà ma sợ hãi, phiền não tan rã, sanh tử bay mất, tình ái rửa sạch, ngạo mạn sụp đổ, thông thả vô ngại, đạm bạc rộng rãi, vô đắc vô cầu, khoáng đạt tự tại, cao rộng quá hư không, ánh sáng hơn nhật nguyệt, vậy thì huyền trí và thật trí đi đôi, từ bi, trí huệ song hành, cứu thế như huyễn, độ sanh đồng không, vào hữu mà chẳng trái vô, hành chơn mà chẳng ngại tục, như trời che đất chở, như nhật nguyệt cùng sáng, thị Thánh hiện phàm, xuất sanh nhập tử, đem thật tướng tâm ấn,dựng đại pháp tràng tạo một ánh sáng mà cứu tế muôn loài, khiến tro lạnh bừng lên sức ấm, hạt giống cháy sống lại làm thuyền. Từ nơi biển khô, làm đạo sư cho kẻ lạc đường. Che và chiếu tự động, nắm buông tùy trí, dù vô tri mà muôn pháp viên thông, dù vô kiến mà tất cả rõ ràng. Chỉ cần khế hợp ý chỉ này thì bản thể vốn tự nhiên, như mùa xuân nẩy mầm, như đất sanh vạn vật, Thập thân bỗng hiện, Tứ trí đồng khởi, là như ý tràng (cây lọng), là Thất bảo tụ, pháp tài phong phú, lợi sanh chẳng cùng, nên gọi Vô Tận Tạng, hiệu rừng công đức,đâu thể có ánh nắng mà chẳng chiếu, có đèn đốt mà chẳng sáng!
Chớ nên dùng tâm có giới hạn mà sanh kiến giải có ngằn mé, đo lường rộng hẹp của hư không, xác định biên thùy của pháp giới, khiến cho tình thức phân biệt, chẳng siêu việt được cảnh trần, vọng tâm bừng dậy nơi đất chơn như, đánh lên làng sóng ý thức trong biển tịch diệt, hạn chế sự thấy trong ống dòm, trộm cấp ánh sáng nơi kẻ vách, vọng lập cái tri của năng sở, lầm khởi cái kiến giải của tốt xấu, đuổi theo lời nói văn tự để định đoạt tông chỉ, cũng như con muỗi muốn bay theo đại bàng, đom đóm muốn so với mặt trời vậy !
Tự tánh khởi dụng dung nạp mười phương hư không trong một lỗ chân lông, hiện muôn ức Phật sát trong một sát na, mỗi mỗi thân cùng khắp mỗi mỗi Phật sát, mỗi mỗi Phật sát bao gồm vô biên thân, rút nhiều kiếp trong khoảnh khắc, quăng quả đất ra ngoài vũ trụ, trong một lỗ chân lông phóng ra vô tận quang minh, trong một lời nói tỏ hết tất cả giáo pháp, ấy là bổn phận của chúng sanh, sức bằng với chư Phật, không một pháp nào mà chẳng phải vậy, hễ có tâm là sẳn sàng, chẳng nhờ sức của thần thông, chẳng do tu chứng mà được, đức lượng như như, tất cả đầy đủ, nếu bỏ biển mà nhận bọt, ý chí thấp kém mà tự khinh mình, cũng như cầm hạt châu như ý mà đi xin, có kho vàng lại nghèo khổ, cô phụ tánh linh của chính mình, chôn vùi gia tài mà không biết xài !
– Người học đạo chẳng tin tự tâm hoặc muốn bỏ vọng mà giữ chơn,hoặc cho mình chẳng có phần mà cam chịu trần lao, hoặc nhận vọng làm chơn mà hành theo tà đạo, hoặc chấp phương tiện mà khổ tu tiện hạnh, hoặc chấp cao vị mà suy tôn cực Thánh, hoặc tích chứa công đức, hy vọng mãn ba A tăng kỳ kiếp để thành Phật, chẳng biết toàn thể hiện tiền, lại cầu mong cầu diệu ngộ, chẳng biết xưa nay vốn đầy đủ mà chẳng đợi sự thành công. Nếu chẳng nhập viên thường ắt phải chịu luân hồi !
– Chỉ vì mê muội nơi đức tánh, chẳng phân biệt được chơn tông, buông thả theo trần, bỏ gốc tìm ngọn, theo lưới ma của hữu vô, vào rừng tà của đồng dị, mổ xẻ chơn không, phân chia pháp tánh, sanh diệt theo trần, hữu vô tùy cảnh, chấp đoạn mê thường, lấy duyên bỏ tánh, vọng khởi tri giải, lầm lẫn tu hành.
– Hoặc hòa thần dưỡng khí mà chấp tự nhiên, hoặc cho khổ thân hủy hình là hành theo chí đạo, hoặc chấp lấy cái cột vô trước để dựng lên thành cảnh trước mắt, hoặc cầu tịnh lụ mà đè nén vọng tâm, hoặc gọi tình diệt pháp để kết thành không, hoặc theo hình bóng của nhân duyên pháp trần mà ôm thành tướng, hoặc bỏ mất chơn chiếu của linh tâm, hoặc hủy hoại chánh nhân của Phật pháp.
– Hoặc kết tụ tinh thần cắt tuyệt tâm thức, thọ báo thành loài vô tình, hoặc tĩnh tâm bặt sắc trụ quả nơi cỏi trời tứ không, hoặc chấp thật có lạc vào thành huyễn hóa, hoặc chấp KHÔNG lại đồng như sừng thỏ, hoặc tuyệt kiến giải đọa vào nhà đen tối, hoặc lập chiếu soi trở thành chấp sở tri, hoặc nhân HỮU GIÁC là hình của chơn Phật hoặc nhận VÔ TRI như loài gỗ đá, hoặc chấp vọng bằng với quả cứu cánh, cũng như nhận đất làm bình, hoặc bỏ duyên để vào cửa giải thoát cũng như vạch sóng tìm nước.
– Hoặc đuổi theo ngoại cảnh, vọng tạo việc trong chiêm bao, hoặc trong giữ u nhàn ở yên nơi ngu si, hoặc chấp đồng cho vạn vật đều bằng nhau, hoặc chấp dị mỗi mỗi tự lập pháp giới, hoặc cam chịu ngu si cho chẳng có phân biệt làm đại đạo, hoặc ham không kiến (tri kiến chấp không) bài xích thiện ác cho là chơn tu, hoặc hiểu lầm tánh bất tư nghì lọt vào ngoan không, hoặc cho diệu tánh chơn thiện là thật có, hoặc trầm cơ tuyệt tưởng (cơ: linh động)đồng như cõi trời hữu lậu, hoặc giác quán tư duy đọa nơi tình lượng (tình thức suy lường), hoặc chẳng cứu xét vọng tánh cho ấy là thời hỗn độn sơ khai của trời đất, hoặc mê muội nơi ảo thể lấy “tuyệt không” làm Tông chỉ.
– Hoặc nhận bóng làm chơn, hoặc lấy vọng để tìm thật, hoặc nhận tánh kiến văn cho là loài hữu tình, hoặc chỉ cảnh huyễn hóa cho là loài vô tình, hoặc khởi ý trái với tịch tri, hoặc dứt niệm phế bỏ phật dụng, hoặc mê tánh công đức khởi tri kiến của tâm sắc, hoặc căn cứ lời “Tất cánh không” sanh tâm đoạn diệt, hoặc chấp chí lý liền bỏ trang nghiêm,hoặc mê tiệm thuyết (đốn tiệm tương đối) luôn luôn tạo tác, hoặc chiếu theo “Bản thể lìa duyên” kiến cố ngã chấp, hoặc tiêu diệt tất cả giữ lấy tự kỷ, hoặc quyết định “Người và pháp tự nhiên” thành ngoại đạo vô nhân, hoặc chấp cảnh và trí hòa hợp đọa vào cộng kiến, hoặc chấp tâm và cảnh lẫn lộn thành pháp năng sở, hoặc chấp sự phân biệt chơn tục bị buộc nơi ngu xuẩn của tri chướng.
– Hoặc giữ “nhất như bất biến” lọt vào thường kiến, hoặc thấy tứ tướng dời đổi chìm vào đoạn kiến, hoặc chấp vô tu lìa bỏ Thánh vị, hoặc nói có chứng trái ngược thiên chơn, hoặc đam mê y báo, chánh báo, theo thế tục luân hồi ; hoặc chán sanh tử, lạc mất chơn giải thoát ; hoặc mê chấp chơn không, sùng nhân trước quả ; hoặc mê muội thực tế, ham Phật ghét ma, hoặc chấp thuyết phương tiện tùy nghi, cho lời Phật Tổ là chơn.
– Hoặc bỏ mất thật tướng âm thanh, muốn lìa ngôn ngữ cầu nơi nín lặng; hoặc tuân theo giáo thừa, phá hoại định thể của tự tánh ; hoặc hoằng thiền quán, bài xích lời giải thích của kinh liễu nghĩa ; hoặc vì tranh đoạt danh lợi, đặt ra lời kỳ lạ, bị chìm vào biển ý thức ; hoặc muốn tịnh khiết tìm cầu huyền bí lại đọa vào thành Ngũ ấm ; hoặc khởi tri giải thù thắng, móc thịt đắp ghẻ ; hoặc trụ nơi bản tánh trong sạch mà chấp thuốc thành bệnh ; hoặc theo văn tìm nghĩa, thích ăn đàm dãi của người khác.
– Hoặc cố giữ thanh nhàn, ngồi nơi pháp trần; hoặc sanh tâm có sở đắc để bàn luận Đại thừa vô tướng ; hoặc dùng tư tưởng suy lường để tìm huyền chỉ bên ngoài vật ; hoặc phế bỏ ngôn thuyết sanh kiến giải tịnh khẩu ; hoặc chấp sự giải thích kỹ càng cho ngón tay là mặt trăng ; hoặc nhận lầm sự dụng làm nguồn gốc của sanh diệt ; hoặc chuyên ghi nhớ, trụ trong thức tưởng ; hoặc hay sắp đặt, đánh mất bản tánh của viên giác ; hoặc phóng túng đi lầm cửa đạo, hoặc muốn thân tâm tinh tấn kẹt nơi hữu vi.
– Hoặc chấp chơn tánh vô vật, bị trói nơi trí huệ ; hoặc siêng tu niệm, đánh nơi chánh thọ (chánhđịnh) ; hoặc bắt chước “tự tại vô ngại” bỏ sự tu hành ; hoặc ỷ “Bản tánh vốn không”, tùy thuận tập khí ; hoặc chấp “thật có ràng buộc” nên muốn dứt trừ.
– Đối với phật pháp, kẻ quý trọng thì sanh trưởng pháp ái, kẻ khinh mạn thì hủy hoại nhân Phật ; hoặc cầu tiến mà trái với bản tâm ; hoặc lui sụt trở thành buông lung ; hoặc thể và dụng khác nhau, trái với phật thừa ; hoặc trầm không trệ tịch, làm mất bản tánh của đại bi ; hoặc bặt duyên chán giả, vi phạm pháp môn sẵn đủ ; hoặc mê muội chơn ngã vốn không, mà chấp ngã kiến ; hoặc cố chấp phật pháp, mê lầm hiện lượng (pháp ngã vốn không) ; hoặc có giải chẳng có tín, mống lên tà kiến ; hoặc có tín chẳng có giải, sanh trưởng vô minh.
– Hoặc cho người đúng pháp sai ; hoặc cho cảnh sâu trí cạn ; hoặc chấp lấy nên mê pháp tánh ; hoặc xả bỏ thành trái chơn như ; hoặc chấp tánh lìa nên nghịch với nhân ; hoặc chấp thường trụ nên trái với quả ; hoặc chấp cái sai phỉ báng cái thật ; hoặc chấp cái đúng phá hoại sự tùy nghi ; hoặc chán vô minh, xa trái bất động trí môn ; hoặc ghét vọng cảnh, tổn thương pháp tánh tam muội ; hoặc chấp cái lý đồng, hành tăng thường mạn ; hoặc bác cái tướng dị, hoại cửa phương tiện.
– Hoặc chấp Bồ Đề là thật, phỉ báng chánh pháp luân ; hoặc chấp chúng sanh là giả ; hủy hoại chơn Phật thể ; hoặc chấp thật trí mà bỏ quyền trí ; hoặc chấp sự tùy cơ giáo hóa mà mê muội chánh tông ; hoặc kẹt trên lý, lọt vô hầm vô vi ; hoặc chấp nơi sự, nhảy vào lưới hư huyễn ; hoặc xóa bỏ dấu tích đối đãi, trái ngược với sự song chiếu (thể và dụng đi đôi) ; hoặc chấp nơi trung đạo, làm mất bản ý phương tiện ; hoặc có định mà chẳng huệ, làm mầm đạo bị cháy ; hoặc cố chấp hạnh nguyện, thành chốn vùi giống Phật ; hoặc tu hạnh vô tác mà trở thành bồ đề hữu vi ; hoặc chấp cái tâm vô trước nên thành bát nhã tương tự (chẳng phải bát nhã chân thật) ; hoặc ham tướng tịnh mà thành cáu bẩn của thật tánh ; hoặc trụ nơi chánh vị (ngôi pháp) làm mất cái tự tánh vốn Không ; hoặc kiến lập thiền quán vô tướng làm chướng ngại chơn như.
– Hoặc sanh khởi tâm liễu tri, thành phản bội pháp tánh ; hoặc chấp chơn thuyên (lời giải thích kỹ càng) sanh ngữ kiến (tà kiến chấp ngôn ngữ), như uống cam lồ mà chết sớm ; hoặc ôm chí lý tròn đầy, khởi tâm chấp trước, như uống đề hồ mà trúng độc vậy.
Một trăm hai mươi thứ tà tông kiến giải kể trên, đều là mê trái tông chỉ, lầm mất bản chơn, cũng như dụi mắt nên thấy hoa đóm trên không ; leo cây để tìm cá. Mùi đắng chẳng làm được giống ngọt ; đất cát đâu thể nấu thành cơm ! Ấy đều vì chẳng biết Pháp tánh dung thông, nên mê lầm lời phương tiện của chư Phật, Chư Tổ, chìm nơi kiến chấp, tự chướng bản tâm, chẳng nhập Trung đạo, bò lết trên đường thăng trầm, ràng buột trong lòng thủ xả, nơi vô tâm mà muốn đoạn trừ, nơi vô sự mà muốn lìa bỏ, lấy pháp không làm thành cảnh si ái, đem chơn trí lập thành tư tưởng chướng ngại, luôn luôn theo đuổi bát phong, khó ra khỏi lưới chấp trước. thật chẳng biết cái lý sanh tử âm thầm khế hợp với đạo, vọng vốn là bồ đề, xưa nay dung thông giác tánh, sáng thường trụ nơi tối, nước chẳng lìa băng, diệu dụng vô tận linh trí thường tồn.
Sao lại dứt niệm tưởng để cầu tịch lặng diệt phiền não để chứng chơn như ? Vọng tu vọng tập, tự khó tự dễ mà không biết bản tánh viên giác vốn chẳng bí mật, kho tàng Như Lai thật chẳng che giấu !
Nên biết, lý của viên thường chẳng thiếu, chỉ vì lòng tín giải khôgn đủ, cũng như thấy Bồ Tát đứng trên mũi kim, thấy chỉ mành treo núi Tu Di, chỉ biết tán thán hy hữu kỳ lạ mà chẳng biết tại sao ! Như trong kinh Pháp Hoa, con đi xin ăn mà chẳng biết cha (tự tánh) là triệu phú, chẳng dám thừa kế gia tài của mình, suốt ngày tìm cầu bên ngoài mà chẳng tự tỉnh ngộ, bỏ vàng lượm sỏi, cam chịu nghèo khổ.Cho nên, chư Phật thương tiếc, chư Tổ xót xa, đều nói chúng sanh chẳng chịu đi thẳng đến chổ thực tế, lạc mất bản tâm, chỉ theo vọng thức thăng trầm đuổi theo cảnh trần so đo chấp trước, chẳng biết muôn pháp vô thể, tất cả vô danh, tùy ý hiện hình, theo ngôn lập hiệu, ý tùy tưởng sanh, ngôn theo niệm khởi, kỳ thật, tưởng và niệm đều không, gốc ngọn phi hữu. Cho nên, tam giới vô vật, vạn hữu trống rỗng, tà chánh đồng nhau, thiện ác không khác. Chúng sanh vì ôm chặt tư tưởng chấp thật, bỏ hết đại nghĩa của Phật pháp, chẳng trở về được tự tánh, lại ở nơi vô tâm mà phân chia đồng dị, ở trong nhất thể và vọng lập ly hợp, vừa lập mình và người thì liền sanh sự thuận nghịch, dấy lên đầu mối đấu tranh, kết thành nghiệp quả mê hoặc, dệt thành lưới thị phi, tạo thành cái lòng của yêu ghét, nhìn bóng tượng trong gương phân biệt xấu đẹp, nghe tiếng dội trong hang mống khởi buồn vui, trách hạnh kiểm của người huyễn hóa, mà chẳng biết năng sở song tịch, lý sự đều không. Đã tạo cái nhân mê hoặc thì phải chịu cái quả huyễn hóa.
Muốn rõ diệu lý nên truy cứu tự tâm, một niệm chứng ngộ liên tiêu hàng sa ác nghiệp, một đèn đốt lên liên phá ngàn năm đen tối, muôn cảnh đối diện mà chẳng lập danh tướng, mê ngộ chẳng còn, trạm nhiên trong sạch, thân tâm thấy nghe tùy duyên dưỡng tánh, phóng khoáng tung hoành,tiêu dao tự tại, sự tiếp xúc hằng ngày đều là giải thoát bất tư nghì, cũng là Đạo tràng đại tịch diệtNay khuyên các vị hậu hiền nên đi theo đường lối này, dẫu cho nghe mà chẳng tin, cũng được gieo trồng giống Phật ; dẫu cho học mà chưa thành cũng được phước báo trời người, huống là chứng quả thành Phật, chẳng có gì bằng !
Những lời trên đây đều có ghi đủ trong kinh điển của Phật, chẳng phải khi không mà đặt ra,xin học giả hãy tự xem xét kỹ !
(trích Duylucthien.wordpress.com) :8:
Mac du de doc bai huynh khong hieu gi het, nhung cung xin cam on huynh da dang bai cho anh em hoc hoi a, de xin chao huynh nha huynh richard hieu hi hi
Hiii! Cám ơn khoatin6 tấm lòng rộng rãi phản hồi như thế nhé. Xưa nay đều có nhiều người trí tuệ siêu việt, viết ra những lời siêu việt cho chúng ta lần mò học hỏi tham khảo lắm. :1:
:53::53:
Chẳng chi = không ngón tay = không đầu .
( Con ngươi có đầu ,minh và tứ chi.)
Không đầu ???
* từ thi = xác chết.
* người gổ = mộc nhân.
* bại liệt .
*Người không chịu học ??
......
sao còn gọi : Ý Chỉ Phật môn !!
Bàn tay là Tâm ??
chúc các huynh ti tịnh tấn trong tu tập.
cát tường.
:53::53: