-
[PDF]Những Vấn Đề Cần Biết Khi Lâm Chung
ftp.budaedu.org/ebooks/pdf/VI151.pdf
Translate this page
mắc, sai lầm trong giờ phút lâm chung của người Phật tử tại gia. Chúng tôi là hàng ... Cấp Cô Ðộc đã thuyết Kinh A Di Ðà, Ngài ca ngợi tán thán sự trang nghiêm ... ngợi tán thán cái lợi công đức bất khả tư nghì của Phật A Di. Ðà, ở phương ... phút lâm chung chỉ sợ chết, như có bệnh mà chưa đến giai đoạn trầm trọng, tuy ...
http://ftp.budaedu.org/ebooks/pdf/VI151.pdf
-
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã
19:23 03/08/2016
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã. Người Việt Nam từ xưa tới nay đã coi nghi thức đốt vàng mã như một việc không thể thiếu mỗi khi lễ tết, rằm, mùng 1, giỗ...
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã. Người Việt Nam từ xưa tới nay đã coi nghi thức đốt vàng mã như một việc không thể thiếu mỗi khi lễ tết, rằm, mùng 1, giỗ chạp,... Người Việt coi việc đốt vàng mã không chỉ là nghi thức mà còn là cách con cháu thể hiện lòng hiếu thảo với cha mẹ, tổ tiên.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã
Đốt nhiều vàng mã trong Lễ vu lan và Xá tội vong nhân hay các ngày lễ tết, ngày rằm đã trở thành tập tục truyền đời của người Việt Nam. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nghiên cứu Phật học, các tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì trong giáo lý Phật giáo không có quy định đốt vàng mã.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (4)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Đốt nhiều vàng mã trong Lễ vu lan và Xá tội vong nhân hay các ngày lễ tết, ngày rằm đã trở thành tập tục truyền đời của người Việt Nam
Các tôn túc cho rằng, “Âm - dương là hai thế giới hoàn toàn khác nhau không thể cảm ứng được... Người phàm trần chỉ cần ăn chay, niệm Phật để tưởng nhớ”...
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Đốt vàng mã có từ bao giờ
Tập tục đốt vàng mã đã có từ rất lâu đời. Chuyện xưa kể rằng, đốt vàng mã là một tục lệ dân gian, xuất phát từ thời nhà Hán (Trung Quốc). Do nhà vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn. Vậy nên khi nhà vua băng hà, chúng thần và hậu cung đã phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để vua tiêu dùng.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (3)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Tập tục đốt vàng mã đã có từ rất lâu đời
Sau đó quan bắt chước vua, dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết thành một tục lệ. Bọn trộm cướp biết vậy nên đào trộm mồ những người giầu có, như mộ vua Hán Văn Đế bị trộm khai quật lấy hết vàng bạc châu báu.
Từ đó về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc thật quá tốn kém nên mới nảy sinh ra dùng giấy cắt ra làm tiền giả, vàng giả để thay thế. Chuyện đốt tiền giấy (vàng mã) ra đời từ đó và trở thành tập tục. Kể từ đó tập tục này được du nhập vào Việt Nam theo những người Trung Hoa.
TS Nguyễn Mạnh Cường, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cho rằng: “Việc đốt vàng mã là do ảnh hưởng của người Trung Hoa. Tích kể rằng: Vào đời Hán có đôi vợ chồng là Thái Mạc và Tuệ Nương học nghề làm giấy chưa thạo đã về quê mở xưởng. Giấy làm ra xấu và khó viết chữ nên bị ế không bán được. Tuệ Nương bèn giả chết để thực hiện phương kế bán giấy.
Ngày thứ 3, trước khi đi chôn, Thái Mạc đem một ôm giấy ra đốt bên cạnh quan tài vợ. Sau khi Thái Mạc đốt giấy xong thì Tuệ Nương ở trong quan tài kêu to gọi chồng, đẩy nắp quan tài bước ra hát rằng: “Dương gian tiền năng hành tứ hải. Âm gian chỉ tại tố mãi mại. Bất thị trượng phu bả chỉ thiêu. Thùy khẳng phóng ngã hồi gia lai”.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (1)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã
Nghĩa là: “Trên dương gian đồng tiền có thể làm được mọi việc ở mọi nơi, dưới âm phủ giấy cũng có thể dùng để mua bán. Nếu không phải chồng đốt cho giấy thì ai lại cho tôi quay về dương gian”. Nói rồi lại mang thêm 2 bó giấy nữa để đốt. Những người chứng kiến đều tin là đốt giấy thành tiền cho người âm phủ rất có lợi nên ai nấy đều về nhà lấy tiền đến nhà Thái Mạc mua giấy về đốt.
“Tin lành” đồn xa, người các nơi tranh nhau đến nhà Thái Mạc mua giấy. Không đến 2 ngày, bao nhiêu giấy ế của hai vợ chồng Tuệ Nương đã hết sạch”.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Ý nghĩa của việc đốt vàng mã
Theo các nhà khảo cổ cho biết khi tìm lại các tư liệu thì đúng ra việc đốt vàng mã có từ trước thời Nam Bắc triều, vào thời Ngụy Tấn (220-420 SCN). Họ có tìm thấy tiền âm dương tại di chỉ các nước Phật giáo như Vương quốc Cao Xương (Qara-hoja) tại Tây Vực (Vương quốc này bị nhà Đường hủy diệt vào năm 640 SCN).
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (7)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Việc đốt vàng mã cũng có liên quan với Phật giáo, cùng với việc Phật giáo truyền vào Trung Hoa, qua phương pháp làm lễ hỏa tịnh, đàn hỏa thực
Các tài liệu ghi chép lại như trong "Thanh Dị lục" của Đào Cấu người đời Tống thì từ thời kỳ Ngũ Đại (907 - 960), tiền giấy vàng mã đã khá thịnh hành, và bắt đầu phân biệt tiền màu vàng là thay thỏi vàng, tiền màu trắng dùng chung cho cõi âm gian.
Việc đốt vàng mã cũng có liên quan với Phật giáo, cùng với việc Phật giáo truyền vào Trung Hoa, qua phương pháp làm lễ hỏa tịnh, đàn hỏa thực (dùng lửa đốt đồ cúng) của tăng đoàn, việc chuyển sang đốt tiền giấy càng phổ biến.
Quan niệm từ thời đó cho rằng, có thể dùng lửa để chuyển đồ cúng cho thần linh, hay chư Phật. Trong Đạo Bà la môn, lửa có tác dùng truyền tải vật cúng dường; trong Phật giáo Mật tông, lửa kết hợp với mạn đà la cũng được coi là có "thần lực" "diệu kỳ".
Ngày nay, lễ Hỏa tịnh được dùng với mục đích cao đẹp hơn, như "tiêu trừ ác nghiệp và chướng ngại trên con đường tu tập hành trì", hoặc "tống khứ ma lực",... nhưng chất liệu cúng dường thì đa dạng, bao gồm nhiều loại đồ cúng ăn được, chứ không chỉ thuần túy là tiền giấy.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (6)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Quan niệm từ thời đó cho rằng, có thể dùng lửa để chuyển đồ cúng cho thần linh, hay chư Phật
Tôn giáo tín ngưỡng, và các quan niệm dần dần được thay đổi, tiền giấy ban đầu không dùng để đốt, mà chủ yếu chôn cùng, treo xung quanh, hoặc rải quanh mộ, nhưng khi đốt tạo ra khói, có cảm giác huyền hoặc hơn, nên rất nhanh sau đó đốt tiền vàng mã được sử dụng phổ biến, từ nghi lễ của vua quan, đến người dân thường.
Từ thời Ngụy Tấn, do ảnh hưởng của Phật giáo và các phong tục tập quán của người Ấn Độ truyền tới, các quan niệm "Tứ Đại đều không", không ham tài sản, sau khi chết cần hỏa thiêu để linh hồn sang thế giới cực lạc,... được phổ cập, quan niệm truyền thống của Trung Hoa là chôn tài sản theo người chết, đã nhuốm sắc màu Phật giáo, chuyển sang "hỏa thiêu" tài sản mang theo, để đưa đồ vật từ "thế giới thực" sang "cõi âm", "niết bàn", cũng dần dần được mọi người tiếp nhận và làm theo, bao gồm cả việc đốt tiền giấy.
Đến thời Đường - Tống, đồ tuẫn táng hay tùy táng (chôn theo) bằng gốm sứ hay kim loại ít dần, mà tang lễ người ta thay bằng ngựa giấy, bát giấy, người giấy, gia súc giấy,... vừa đáp ứng nhu cầu tuẫn táng cho người thân, vừa thông qua hỏa thiêu "thần thánh" để chuyển hóa được sang cho cõi âm sử dụng.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (3)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Việc đốt vàng mã đã thành tập tục lâu đời
Tiền giấy khai quật cho đến nay sớm nhất từ khu mộ cổ tại Turfan (Tân Cương, Trung Quốc), trong mộ có túi tiền giấy màu vàng, hình tròn có lỗ vuông, một số tờ tiền còn in chữ "卍" kiểu Ấn độ, với nghĩa cát tường như ý, đây chính là loại tiền âm dương đã nói ở trên.
Việc đốt vàng mã đã thành tập tục lâu đời. Có thể thấy, đốt tiền vàng mã có khởi nguồn từ quan niệm luân hồi của Phật giáo. Mọi người tin rằng, sau khi mất đi linh hồn vẫn tồn tại, để người âm bớt tội, bớt khổ nên mọi người thành tâm đốt tiền giấy để họ có thể sống tốt hơn.
Tất nhiên đốt tiền giấy linh hồn hay người âm không thể nhận được, nhưng người dân vẫn mong thông qua phương thức này để giải tỏa tâm lý cho bản thân, cũng như để báo hiếu công dưỡng dục, cũng là để mình yên tâm hơn.
Tốt nhất, chúng ta chỉ nê đốt một ít cho gia tiên vào ngày giỗ, hoặc gần cuối năm, cho yên tâm là chính. Tục hóa vàng đầu năm bản chất liên quan đến văn hóa đón Tài thần và Hỷ thần nhưng ở Việt Nam không ai còn để ý, chỉ còn thói quen hóa vàng vào mùng 3 mà không hiểu lý do.
Đúng ra là từ mùng 2, theo phong tục cũ là ngày đón Tài thần, lúc này dán ảnh Thần tài trong gia đình (lưu ý không dán lên bàn thờ), rồi làm lễ, và hóa vàng để đón thần Tài. Nhiều người nghĩ là lễ tiễn gia tiên sau khi về ăn Tết cũng không đúng.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (2)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Đốt vàng mã cho người đã chết, không bằng hiếu thuận khi cha mẹ còn sống
Một số trang web xuyên tạc ra mùng 10 là ngày vía thần Tài để bán vàng trang sức đầu năm cũng không đúng (không có tài liệu nào ghi chép, cũng như hoạt động tế lễ trong thực tế. Cụ thể vía thần tài vào 22 tháng 7, còn ngày đón thần tài là mùng 2 tháng giêng).
Đốt vàng mã cho người đã chết, không bằng hiếu thuận khi cha mẹ còn sống.
Không hiếu thuận với cha mẹ lúc sinh thời, đợi chết đi mới khóc thương ma quỷ. Hiếu thuận với cha mẹ lúc còn sống mới có giá trị.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Tại sao đốt vàng mã phải thành tâm
Nói về câu chuyện nhà nhà mua vàng mã, người người đốt vàng mã cho người chết, các bậc cao tăng Phật giáo mà đại diện là Thượng tọa Thích Thanh Duệ, Phó Trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: “Trong giáo lý nhà Phật không có việc đốt vàng mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (1)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: “Trong giáo lý nhà Phật không có việc đốt vàng mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này
Phật giáo chỉ khuyên trong ngày Lễ vu lan (báo hiếu cha mẹ) thì nên ăn chay niệm Phật để tưởng nhớ. Và làm Lễ xá tội vong nhân (cúng chúng sinh) – cúng những vong hồn lưu lạc một mâm cỗ chay để bố thí siêu sinh. Đồng thời, giúp đỡ những người nghèo khổ chốn trần gian, ăn chay niệm Phật và phóng sinh tích đức để siêu độ vong linh”.
Còn Thượng toạ Thích Thanh Nhã, trụ trì chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng khẳng định với rằng, kinh Phật không dạy đốt vàng mã cho người quá cố. Bản thân trụ trì cũng thường xuyên nhắc nhở Phật tử nên hạn chế đốt vàng mã. Theo ông thì nên dùng tiền mua vàng mã đốt để làm việc thiện cho đời sẽ tốt hơn rất nhiều.
Đại đức Thích Thiện Hạnh, trụ trì chùa Vinh Phúc (thôn Quang Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cũng cho rằng, việc đốt vàng mã là mê tín dị đoan và sai hoàn toàn. Đại đức Thích Thiện Hạnh giải thích: Chúng ta vẫn có câu: Dương sao âm vậy. Nhưng vàng mã của chúng ta về dưới đó có tiêu được không? Quần áo chúng ta đốt về có vừa với kích cỡ của ông bà chúng ta nữa không? Xe cộ, đồ dùng... có được gửi đúng địa chỉ không?
Thành thực trả lời những câu hỏi đó cũng đủ thấy đốt vàng mã là mê tín dị đoan, không hề phù hợp hay có cơ sở. Nếu cha mẹ cõi âm chỉ mong chờ ngày này để được miếng cơm, manh áo, căn nhà... thì những tháng ngày còn lại, tổ tiên ông bà, cha mẹ ăn, mặc, ngủ, nghỉ ở đâu?
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (5)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Cổ tục đốt vàng mã đã có từ lâu đời, ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam nên rất khó từ bỏ trong một sớm một chiều
Chúng ta vẫn thường nói “Dương thịnh âm siêu”. Người dương biết làm phúc, để người âm siêu thoát. Tôi nghĩ, chúng ta nên lên chùa, thành tâm cầu nguyện hồi hướng tâm đức. Nếu có tiền để mua sắm vàng mã đốt cho cha mẹ, thì nên dùng tiền đó để chia sẻ cho những người nghèo khó. Bởi “Cứu một người dương gian bằng ngàn người âm phủ”. Còn cầu nguyện, chỉ cần tấm lòng thành, nếu không thành tâm thì làm gì cũng vô ích”.
Cổ tục đốt vàng mã đã có từ lâu đời, ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam nên rất khó từ bỏ trong một sớm một chiều. Thậm chí, nhiều người coi đó là một trong những nét văn hoá của phong tục thờ cúng gia tiên. Nhưng sau khi biết rõ tích của việc đốt vàng mã, người dân liệu có nên gây ra những lãng phí như các cao tăng nói?
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Hóa vàng mã thế nào cho đúng cách
Ở nhiều nơi, việc đốt vàng mã đang bị người ta thực hiện một cách thái quá vì cho rằng, dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ. Thực chất, đây chỉ là sự “phô trương” với người trần, hơn thế nữa là để thỏa mãn thói thường “con gà tức nhau tiếng gáy”, dẫn đến sự lãng phí tiền của một cách không cần thiết, điều này đáng phê phán.
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã (4)
Đốt vàng mã và những nguyên tắc bắt buộc khi đốt vàng mã: Ở nhiều nơi, việc đốt vàng mã đang bị người ta thực hiện một cách thái quá vì cho rằng, dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ
Đồ mã ngày xưa đều làm nhỏ nhỏ xinh xinh, mỗi lễ gồm những loại tiền gì, bao nhiêu đều quy định rất cụ thể, chứ không phải cứ như bây giờ sính lễ hoành tráng, phải to như thật là không đúng, là tốn kém lãng phí.
Khi khách đến mua, đồ lễ đã được sắp sẵn theo đúng phong tục. Bộ đồ lễ cúng ông công ông táo gồm 3 chiếc mũ nhỏ, 3 đinh tiền, 3 thếp tiền vàng; hay lễ cúng giao thừa gồm 2 mũ áo cho quan hành khiển của năm cũ và năm mới và 2 lễ tiền; hoặc như lễ giải sao cũng chỉ vài nghìn.
Mỗi khi một người thân bốc mộ, chuyển về nhà mới thì mới hóa nhà cho họ. Nhà cũng nho nhỏ tượng trưng thôi, chứ không phải làm to như thật. Thêm vào đó, chỉ cần dâng cúng tiền vàng, tiền vàng đó có thể trao đổi và mua được các vật dụng cần thiết trong thế giới bên kia, chứ không phải hóa tủ lạnh, tivi, xe máy, ô tô như người ta vẫn làm. Hình thức hóa vàng giờ đây đã bị biến tướng so với cổ tục từ xa xưa đời đời đã truyền lại.
https://tintucvietnam.vn/dot-vang-ma...-vang-ma-14186
-
Hành Giả Kim Cương Thừa
18 tháng 12, 2018 lúc 17:23 ·
Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, trùng với văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ. Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12⁄10⁄1492 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos.
Thuốc lá du nhập vào Ấn Độ khoảng năm 1605 và được trồng đầu tiên ở quận Deccan. Ngay sau đó, Ấn Độ trở thành quốc gia sản xuất thuốc lá lớn và đóng góp đáng kể cho thị trường thuốc lá thế giới.
Thuốc lá đã được trồng ở Trung Quốc và Nhật Bản khoảng giữa thế kỷ 17 và nhanh chóng giúp các nước này trở thành những quốc gia sản xuất lớn với sản phẩm chủ yếu là thuốc lá sáng màu dành cho tiêu dùng nội địa. Cùng thời gian này, thuốc lá được người Hà Lan đưa vào Indonesia. Kể từ đó đất nước này được biết đến với sản phẩm thuốc lá cigar khá nổi tiếng được trồng ở quần đảo Sumatra.
Mặc dù thế các lời huyền kí về sự ra đời của loại độc chất chết người này ,đã xuất hiện từ khoảng thế kỉ thứ 8 đến thứ 10 do Đạo Sư Liên Hoa Sanh nói ra.Và giờ đây các nhà khoa học ngày càng tìm thấy những độc chất mới có trong chúng.Dường như Kim Cương thừa là tông phái duy nhất coi thuốc lá cũng như ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khoẻ thể chất mà còn làm tổn hại trầm trọng cho sức khoẻ tâm linh (tinh thần). Nó đặc biệt tác hại đối với hệ thống rTsa-rLung (nội hỏa) và làm cho mọi thực hành vô tướng trở thành vô ích. Có lần Ngak’chang Rinpoche nói: “Những người hút thuốc đi vào tọa thiền tĩnh lặng, họ chỉ ngồi một cách .Hãy đọc chúng và chia sẽ cho những người thân của bạn.Hy vọng đây là một nguồn động lực từ bỏ "cái chết treo trên đầu"
Thuốc lá:
‘kẻ dẫn đường dắt người mù trên con đường lầm lạc
kết thúc trong một vực thẳm’
OM SWASTI: Với sự cảm kích tối thượng và lòng tôn kính sâu xa đối với Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) – sự hiển lộ trí tuệ của tất cả chư Phật và sự hợp nhất của năm Phật bộ – tôi sẽ thuật lại lịch sử của thuốc lá. Khoảng một trăm năm sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, một con quỷ ở Trung Quốc, khi điên cuồng với nỗi ám ảnh đã thốt lên những lời trăng trối này:
“Với thân xác ta, ta muốn đưa chúng sinh trong trái đất này xuống những cõi thấp. Hãy chôn xác ta nguyên vẹn và cuối cùng một loại cây, khác biệt với tất cả những giống cây khác, sẽ mọc lên từ thi hài ta. Chỉ cần ngửi thấy nó là người ta sẽ kinh nghiệm sự khoái lạc trong thân và tâm, còn hỉ lạc hơn việc giao phối của người nam và nữ. Nó sẽ lan truyền xa rộng cho tới khi hầu hết chúng sinh trên trái đất này vui hưởng nó.”
Hiện nay, kết quả thực sự của nguyện ước này đã hết sức hiển nhiên. Thuốc phiện và những chất gây say có liên quan được sử dụng qua miệng hay mũi, không giúp người ta hết khát hay thoả mãn được cơn đói. Họ không thưởng thức được những mùi vị thơm ngon, và họ bị tước đi tất cả những gì giúp tăng cường sức khoẻ hay những gì làm kiên cố sinh lực của họ. Những chất này làm phát triển sự bồn chồn nóng nảy và làm tăng huyếp áp. Chúng cũng gây nên bệnh ung thư và bệnh phổi. Hiện nay, sự hấp dẫn không thể cưỡng lại được của chúng đã phát triển mạnh ở nhiều người trong mọi tầng lớp của xã hội, họ tiến tới việc tiêu thụ chúng mà không kiềm chế – và như thế sự chủ tâm ma quỷ này đã có kết quả.
Trong Terma của Chogyal Ratna Lingpa có nói:
“Đức Padmasambhava kết buộc Chín Anh em Quỷ ma phải giữ lời thệ nguyện, nhưng họ là những kẻ làm gãy bể samaya (giới nguyện), và người trẻ nhất trong số đó tìm ra một cách làm suy yếu dần hứa nguyện của họ trong việc bảo vệ chúng sinh. Hắn nói với các anh: “Các anh, đừng tuyệt vọng, hãy nghe em. Em sẽ tự hiện thân làm thuốc lá trong xứ Trung Quốc; tên của độc chất này sẽ là ‘thuốc độc đen’. Nó sẽ phát triển trong những vùng biên giới, từ nơi đó nó sẽ lan rộng tới Tây Tạng. Dân chúng Tây Tạng sẽ tiêu thụ chất sảng khoái này. Do sức mạnh của nó, năm chất độc ảnh hưởng tới thần kinh sẽ tăng trưởng. Khi ném bỏ mười thiện hạnh, người ta sẽ thực hành mười ác hạnh. Mạng sống của những vị nắm giữ dòng truyền thừa sẽ trở nên mong manh, và các ngài sẽ khởi hành tới các Cõi Phật. Khi thâm nhập trái đất, khói của chất độc này sẽ huỷ diệt hàng trăm ngàn thành phố của kLu. Mưa sẽ không đổ xuống, mùa màng và đàn thú nuôi sẽ không phát triển, trong dân chúng sẽ có sự rối loạn, những bệnh dịch, và các tai ương. Khói của chất độc bốc lên bầu trời sẽ huỷ diệt những chiều kích không gian, nhật (nguyệt) thực không đúng lúc và sao chổi sẽ xuất hiện. Các dịch chất trọng yếu và kinh mạch của những người hút thuốc sẽ bị mất nước. Nó khiến cho bốn trăm lẻ bốn bệnh tật xuất hiện. Bất kỳ ai hút thuốc cũng sẽ tái sinh trong những cõi thấp. Nếu một người hút thuốc và những người khác hít mùi thuốc thì như thể người ấy đang xé toạc trái tim của sáu triệu chúng sinh.”
Theo Terma của Sang-gyé Lingpa:
“Trong thời đại suy đồi này người ta sẽ đắm mình trong kành vi độc ác. Đặc biệt là hơn cả việc ăn thịt bổ dưỡng, người ta sẽ tiêu thụ những chất độc hại và có mùi vị khó chịu. Khi ngăn chặn những gì họ đang làm, họ sẽ tiêu thụ chất độc. Họ sẽ phải khạc nhổ, chảy nước mũi, sức khoẻ và sắc diện của họ tàn tạ.”
Terma của Rig’dzin Go’dem tiên đoán:
“Trong thời đại suy đồi sau cùng người ta sẽ hấp thu chất nôn mửa độc hại, thực phẩm của dri za’i. Chỉ cần ngửi nó, người ta sẽ đi tới Mar-med Myal-wa. Chính vì lý do này, hãy từ bỏ nó ngay lập tức.”
Từ những tiên tri được Dud’dul Dorje khám phá:
“Những hành giả sẽ vui thú khi hít chất khói của những thảo mộc này và hít bột của chúng, xứ sở sẽ bị những kẻ gãy bể samaya xâm lăng. Họ sẽ bị ảo tưởng lừa dối và sẽ kinh nghiệm sự xuất hiện của những tính chất đầy ám ảnh. Như một dấu hiệu của sự cạn kiệt công đức họ sẽ có những nguyên nhân làm cho nước mắt tuôn trào không ngăn lại được.”
Terma của Longsel cho biết:
“Lúc người ta hút những chất ghê tởm cũng là lúc những người bạn thân sẽ đầu độc tâm hồn những người khác.”
Terma của Thugchog Dorje nói rõ:
“Do bởi năm độc chất làm tổn hại thần kinh, những nỗi ám ảnh, thù hận, sự xung đột, tranh cãi, và nghèo khốn của chúng sinh sẽ bốc cháy dữ dội như một địa ngục. Bởi mười phẩm tính tốt lành bị loại bỏ, sự xấu xa tiêu cực sẽ hoành hành như một trận bão. Hành vi thiện lành sẽ bị xao nhãng, trong khi những thực hành hư hỏng sẽ được phổ biến. Trong thời đại xấu ác này những vị Bảo Trợ sẽ biến mất khi những loài quỷ ma củng cố thế lực. Người ta sẽ hút khói thuốc lá, và những kinh mạch mở trống của trí tuệ phân biệt (Diệu Quan sát Trí) sẽ bị bế tắc, trong khi sự lo âu và những cảm xúc méo mó trở nên cường liệt. Kinh mạch trung ương sẽ bị nghẽn lấp và sự quang minh của giác tánh tắt lịm. Sự cạn kiệt năng lực sẽ gây nên tâm trạng bất an khắp nơi trên thế giới. Những cơ sở tôn giáo, những đối tượng của sự tôn kính sẽ hư hoại; những ý thức hệ suy đồi và những tôn giáo lừa dối sẽ lan tràn. Những vị Bảo Trợ sẽ ngoảnh mặt đi và chỉ nhìn về hướng Núi Tu Di. Những người ngoại quốc sẽ xâm lăng Tây Tạng, và dân chúng Tây Tạng sẽ bị buộc phải lang thang trong những vùng biên giới. Giáo thuyết Ảo tưởng sẽ lan truyền và thế giới sẽ trở thành một chiều kích của địa ngục.”
Terma của Dro’dul Lingpa đã tiên đoán:
“Chỉ cần ngửi mùi hương phát sinh từ chất nhựa ma quỷ trong những cây cỏ và lá này, người ta sẽ thấy chính mình ở trong Địc ngục Kim Cương.”
Một tiên tri của Machig Labdron nói:
“Trong thời kỳ cuối cùng của sự tranh luận một chất thể sẽ xuất hiện mà người ta tiêu thụ qua miệng, và nó sẽ làm trầm trọng thêm cả năm chứng loạn thần kinh. Nó sẽ bắt nguồn từ Trung Quốc, phát triển sang Mông Cổ và Tây Tạng. Bất cứ nơi nào nó đi qua, nó sẽ được tiêu thụ, và bất kỳ nơi nào nó được tiêu thụ – lượng mưa sẽ trở nên không đều, kèm theo sương giá và mưa đá khắc nghiệt. Nếu hành giả tiêu thụ chất này, cho dù họ thực hành một trăm kiếp – họ sẽ không nhận ra được các Bổn Tôn của họ. Trong những đời tương lai, họ sẽ lang thang không dứt trong ba cõi thấp, ở đó ngay cả lòng bi mẫn của chư Phật cũng không đủ năng lực để cứu giúp họ.”
Có vô số những tiên tri khác liên quan tới thuốc lá – việc sử dụng nó được các Đạo sư thành tựu của các truyền thống Sarma và Nyingma đặc biệt ngăn cấm. Những lời chỉ dạy kim cương của Đức Padmasambhava không được ban cho những hành giả lọc lừa, vì thế đừng ấp ủ những mối hoài nghi: “làm thế nào có thể có quá nhiều vấn đề phát sinh từ việc hút một thảo mộc tự nhiên?” Cây phụ tử (aconite) cũng là một loại thảo mộc, nhưng chỉ cần ăn một lượng ít ỏi thì nó cũng làm chết người. Nếu đây là trường hợp xảy ra với một loại cây ở bình diện vật lý, thì tại sao hậu quả của một sự chủ tâm ma quỷ lại không thể gây nên cái chết về mặt tâm linh? Thấu hiểu điều này, người minh triết sẽ tự mình biểu lộ lòng từ bi vĩ đại của họ bằng cách từ bỏ thuốc lá và chất ma tuý. Khi hành động như thế, cầu mong người công chính và minh triết, là người xa lánh được con đường dẫn tới vực thẳm, có được may mắn ngơi nghỉ trong khu vườn tuyệt diệu của sự giải thoát.
Bài này được Dorje Yeshe (Đức Dudjom Rinpoche) viết theo lời cầu thỉnh của Gé-rTa Jig’med xứ Golok.
Sarva Mangalam.
Nguyên tác: “TOBACCO, ‘the guide that leads the blind on a false path which ends in a precipice’
By Kyabjé Jigdré Yeshé Dorje, Dudjom Rinpoche
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, trong nhà
https://www.facebook.com/permalink.p...xqg&__tn__=K-R
-
ĐÂY CÓ PHẢI HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI KHÔNG?
Bình Anson
có phải đức thế tônThỉnh thoảng tôi thấy hình này truyền bá trên Internet. Đây có phải hình Đức Phật không? Có người giải thích đây là do Ngài Phú Lâu Na vẽ khi Đức Phật còn tại thế (41 tuổi), được lưu giữ tại viện bảo tàng Anh quốc.
Tôi đã biết đến hình này khoảng 20 năm trước. Một đạo hữu ở Bắc Mỹ gửi cho tôi bản photocopy kèm lời giải thích. Về sau, tình cờ tôi thấy được hình nầy trong trang cuối của một cuốn sách Phật học cũ, xuất bản tại Việt Nam trước 1975 (tôi không nhớ tên cuốn sách này). Như thế, có thể nói tấm hình và lời giải thích về xuất xứ đã được truyền bá trong 30, 40 năm qua.
Tôi có vài nhận xét riêng - cá nhân, như sau:
1) Gương mặt giống như người Tàu, người Mông Cổ, không có vẻ là người Ấn Độ.
2) Râu tóc xồm xoàm, không giống như các tỳ-khưu Phật giáo phải cạo râu tóc.
3) Đeo bông tai, một loại trang sức, trái nghịch với giới luật tỳ-khưu.
4) Trong kinh điển, mặc dù có đề cập đến Ngài Phú Lâu Na, nhưng không thấy nói Ngài có tài hội họa, vẽ chân dung.
5) Ấn Độ vào thời đức Phật chưa chế ra giấy để viết hay vẽ (giấy là do người Tàu sáng chế).
6) Vào thời Đức Phật cho đến khoảng 500 năm sau khi Ngài nhập diệt, người Ấn Độ không có truyền thống vẽ hay tạc tượng các vị đạo sư. Để tưởng nhớ hay để tôn kính Ngài, họ chỉ nắn, tạc hoặc khắc vào đá hình bánh xe Pháp hoặc hình cây và lá bồ đề. Đến khi đoàn quân Hy Lạp xâm lăng và định cư tại miền Tây Ấn, nghệ thuật tạc hình của Hy Lạp mới được truyền vào Ấn Độ, và từ đó, có hình tượng đức Phật.
7) Tôi tìm tòi trên mạng, về các cổ vật Phật giáo trưng bày tại các viện bảo tàng Anh quốc, chưa bao giờ tìm thấy hình vẽ này. Thật ra, tôi chưa bao giờ tìm thấy một hình vẽ nào của đức Phật – trên giấy hay trên vải – trong thời kỳ cổ xưa đó tại Ấn Độ.
😎 Nếu quả thật đây là hình vẽ đức Phật, lại được lưu giữ tại viện bảo tàng Anh quốc, ắt hẵn đây phải là một di tích quan trọng mà nhiều học giả Phật giáo trên thế giới biết đến. Tuy nhiên cho đến nay, qua những sách báo tài liệu về lịch sử và văn hóa Phật giáo (bằng tiếng Anh) của các học giả Phật học và các chuyên san Phật học có uy tín, tôi chưa thấy ai đề cập đến tấm hình này.
Vì thế, cho đến khi nào tôi có được những bằng chứng, hay kiến giải, có tính thuyết phục, tôi vẫn cho rằng đây là một bức hình có xuất xứ nguồn gốc chưa rõ ràng, giải thích chưa có căn cứ. Chúng ta không nên tiếp tục truyền bá những thông tin chưa được kiểm chứng.
Bình Anson
Thư Viện Hoa Sen
https://upanh1.com/images/40139902_2...73671168_n.jpg
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
===========
Johnny Do ADiDa Phật. Bức hình này của bạn là bản được chép lại , không phải bản gốc. Chắc chắn nó được người trung hoa chép nên mắt ngài mới ti hí kiểu người trung hoa như vậy. Tôi có bản gốc, khuôn mặt của ngài đặc trưng Ấn Độ, đôi mắt ngài nhìn rất kỳ lạ, nó xa xăm vời vợi toát lên hình ảnh của 1 triết gia lỗi lạc nhưng có phần cô đơn.
Quản lý
12 tuần
Lê Nguyễn Quỳnh
Lê Nguyễn Quỳnh Lúc nhập thất, các vị hành giả không được cắt tóc, không cạo râu, thậm chí không tắm để không làm mất năng lực trên thân. Chuyện có râu tóc là bình thường. Đeo bông tai thì ai học kim cương thừa sẽ thấy có rất nhiều vị Đạo Sư đeo bông tai giống Bổn Tôn Mật tông. Và từng có câu chuyện Đức Phật giảng Đại Thừa, Mật thừa hơn 1250 các vị Tỳ kheo bịt tai, bỏ đi trong pháp hội nên không nhất thiết phải lấy giới Tỳ Kheo làm chuẩn với 1 vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài Phú Lâu Na ko cần đề cập biết hội họa hay không vì các hành giả thời xưa đẳng cấp đều biết Ngũ Minh: văn võ, đàn hát, kinh điển nội giáo, ngoại giáo, hội họa... các vị đều tinh thông. Ai thiền định sâu tự não bộ khai mở, các năng lực như thiên nhãn, thiên nhĩ còn khai thông, việc vẽ đẹp là rất bình thường. Nên việc tìm hiểu kĩ là cần. Nhưng cũng phải lưu ý lại là Phật có 3 thân: Pháp thân, Báo Thân và Hóa Thân. Báo Thân luôn có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, các thân đó ở trong các cảnh giới Tịnh Độ bằng ánh sáng. Khi nhập định hay thuyết pháp, các vị đó sẽ hiện thân đó. Còn Hóa thân ở cõi người, các vị cũng giống như con người, có tướng đẹp do công đức viên mãn nhưng không thể giống hệt hình xã hội loài người vẫn vẽ trong tranh ảnh có 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp được. Lịch sử các vị Tổ, các vị sau này còn tại thế không ai giống trong các tranh vẽ cả, các vị cũng như người bình thường. Vì các hình đó là ở các cõi Tịnh Độ, mô tả Báo Thân của các Ngài. Bổ sung vài ý kiến cá nhân vậy, còn mình ko quan tâm lắm bức tranh này có vẽ Ngài hay không bởi học Phật là tu tâm dưỡng tánh, Kiến nhập Phật tánh. Mọi đức hạnh, lời Pháp Ngài dạy để mình và cuộc đời tốt lên, giải thoát tam giới. Phật vốn vô tướng và tại tâm! Sửa mình, hiểu Tánh viên giác của mình là thấy Phật thật!
-
Pháp Hộ Ma
_ Ngoại Đạo có Pháp thờ thần lửa , từ lúc sanh cho đến lúc mất mọi tế nghi đều liên quan đến lửa . Vì thế mà chấp thủ cho rằng vạn vật đều sanh ra từ lửa .
_ Trong mật thừa chư Phật chỉ rõ 12 loại lửa dùng làm Pháp tu tập . Hành giả nương 12 loại lửa này giúp diệt tội sanh phước . Đây là Pháp phương tiện thể nhập Phật Tánh .
_ Dùng Pháp phương tiện không đúng thời , đúng lúc khiến hành giả xa rời chân tánh . Làm bạn với ngoại ma , chết đoạ địa ngục .
_ Mười hai loại lửa gồm : Bồ Đề Tâm ,hạnh mãn,bạt phong,huyết hoả,hoà hợp,điều phục , ôn phúc, trừ khiễn,ý sinh,thọ thực,tẩy uế ,hoàn mãn .
Lửa đầu tiên trong đây là ánh sáng tuệ của tâm Bồ-đề hình vuông sắc vàng tức là biểu thị cho tòa Kim cương, trang nghiêm là nội trang nghiêm. Nói lửa trí này là hình Bổn tôn, có tất cả công đức Phật. Tăng oai là ngoại sự, tức là mười lực dụng… Trí này tánh như thế. Công đức trong ngoài trang nghiêm đầy đủ, có khả năng cùng với lực nên gọi là tăng oai. Do biết lửa này đốt củi vô minh chứa từ vô thỉ đến nay khiến cháy không sót, như lửa kiếp thiêu, tro tàn đều, sạch mênh mông không bụi dơ, tất cả công đức Như Lai tự nhiên thành tựu. Nhưng thần lửa này tức gọi là trí, hình tướng trang nghiêm thành sắc Kim cương, dùng lửa tròn sáng để tự vây quanh, trong ánh sáng này là Tam-muội chánh thọ vắng lặng. Do trụ vào Tam-muội này mà trí tánh đầy đủ. Trí quang này là tên khác của Tỳ-lô-giá-na. Tức dùng tôn vị này để biểu thị cho trí này. Nếu trước quán tức quán thần lửa này, làm cho thành tựu tất cả việc. Nếu hiểu sâu tánh nó thì như trên nói. Đàn vuông trong đây tiếng Phạm là Ma-ha-nhân-đà-la là tên khác của Thích Tôn, lại là tên khác của Kim cương luân. Trí là nội chứng phát ra ngoài biểu thị cho hình chày Kim cương. Hình tòa vuông này cũng tương tự. Nhưng chỉ quán đàn bốn góc, trong có Bổn tôn. Trên nói tăng oai, nếu làm hình tượng, chỗ biểu thị mà nói tức là nói thể mạo phòng bị đầy đủ. Y cứ vào lý này mà nói thì tức là tâm pháp môn. Nhưng lửa có hai pháp. Nếu tu được Du-già, thì chỉ quán tướng, biểu thị cho tôn vị này mà tụng chân ngôn, gọi là pháp lửa nội tâm. Nếu thuận theo thế gian mà làm đàn thì phải làm lò vuông, chung quanh có lửa sáng. Thân mình thì đắp y vàng, tưởng trong lò lửa có bổn thần trụ ở Tam-muội như trên. Sau đó, mới làm sự thành, chẳng thế thì không thành. Pháp này tương ưng với tức tai là pháp bền chắc. Đây phối với sơ tâm Bồ-đề tự môn A, do nhân duyên này mà trí đầy đủ.
Om Ah Hum
https://www.youtube.com/watch?v=wZed...ature=youtu.be
Buddhist Fire Ceremony
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
https://upanh1.com/images/Untitled21d87b5f59fd0aa4.png
NỘI DUNG DI CHÚC NGƯỜI PHÁT NGUYỆN VÃNG SANH (NVS)
https://lienhoaquang.com/includes/download_hoasen.php?... - Translate this page
Có thể đắp sẵn mền QM, gắn Mạn đà la Shitro và dòng minh chú cho NVS, ... Cúng dường tu viện làm lễ SHITRO (quán đảnh cho hương linh vãng sanh.
-
LỊCH SỬ DÒNG TRUYỀN THỪA DRIKUNG PHOWA
Ngày xưa ở tại Tây Tạng có một vị Pháp Vương tên là Trisong Deutsen. Ngài cũng chính là Vua của nước Tây Tạng thời bấy giờ và là hiện thân của Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Vào lúc ấy, Ngài muốn xây dựng tu viện đầu tiên tại Tây Tạng mang tên Samye, nhưng Ngài đã phải đối đầu với rất nhiều chướng ngại. Vào ban ngày, mọi người cùng nhau xây dựng những tòa nhà, nhưng khi đêm xuống những vị thần địa phương đã phá hủy chúng đi. Họ mang gạch, đá, bùn, v.v… trả lại nơi mà người ta đã lấy nó. Vì thế, Pháp Vương Trisong Deutsen đã quyết định thỉnh cầu Đức Guru Liên Hoa Sanh sang từ Ấn Độ. Do bởi thần lực nhiệm mầu của Guru Rinpoche, những vị thần địa phương cũng như các chúng ma vương đã được hàng phục.
Họ đã hứa với Guru Rinpoche sẽ không tạo ra những chướng ngại cho Phật Pháp. Sau đó, công trình xây dựng tu viện Samye đã được hồi phục.
Vào ban ngày, mọi người lại tiếp tục xây dựng và vào ban đêm những vị thần địa phương cũng đã giúp cho đến khi hoàn tất. Đức Liên Hoa Sanh đã ban các giáo lý của Kim Cang thừa và Ngài đã lưu lại tại một hang động gần bên.
Vào lúc ấy, Pháp Vương Trisong Deutsen có một vị tể tướng tên là Nima. Vị tể tướng này có hai căn nhà. Một ngày kia, ông ta dọn từ ngôi nhà này sang ngôi nhà bên kia và vào một đêm ông ta cầm một ngọn đèn để đi tìm vật gì đó. Đốm lửa từ ngọn đèn đã rơi xuống và bốc cháy. Bên trong ngôi nhà là cha mẹ của ông, 13 người khác cùng toàn bộ đàn gia súc đã bị thiêu rụi.
Tể tướng Nima rất đau buồn bởi vì những người khác tỏ lòng kính trọng bằng cách cung cấp sự thoải mái và hầu hạ cha mẹ của họ, còn ông đã làm hại chết cha mẹ của ông. Giết chết cha mẹ là một trong những trọng tội mà người ta tạo tác. Vì thế, ông đã trải qua một nỗi thống khổ, tiếc nuối vô cùng tận. Sau sự kiện đó, ông đã không thể tiếp tục làm bất cứ công việc thế gian gì nữa cả. Nhìn thấy vậy, Pháp Vương Trisong Deutsen đã đến gặp Đức Liên Hoa Sanh và thỉnh cầu Ngài ban truyền cho tể tướng Nima một Pháp đặc biệt để có thể giải thoát ông ra khỏi ác nghiệp và đau khổ dày vò. Khi ấy, nương vào thần lực nhiệm mầu Đức Liên Hoa Sanh đã đến Cõi Tịnh Độ. Qua sự thỉnh cầu của Ngài, Đức Phật A Đi ĐÀ đã ban truyền giáo Pháp Phowa.
LyBui & Maithy
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
-
YOGA GIẤC MỘNG VÀ SỰ THỰC HÀNH VỀ ÁNH SÁNG TỰ NHIÊN - TÂM LINH VA ...
tamlinhvahanhphuc.forumvi.com/t240-topic - Translate this page
Jan 15, 2011 - Tôi đi vào và nhận thấy trên vách có một bức vẽ mạn đà la Shitro một ...... Trong nhập môn hay quán đảnh Mật thừa, có bốn quán đảnh bậc ...
http://tamlinhvahanhphuc.forumvi.com/t240-topic
-
AI MUỐN SẮM MỀN QUANG MINH THÌ ĐĂNG KÝ
Thảo luận trong 'TẤM LÒNG NHÂN ÁI - TỪ THIỆN CÙNG TÂM LINH VIỆT' bắt đầu bởi ngoalong, 1 Tháng bảy 2013.
ngoalong
ngoalong
T. Viên Chính Thức
Tham gia ngày:26 Tháng mười một 2012
Bài viết:94
Đã được cảm ơn:102
Một đạo tràng thiện nguyện đã nhập từ Đài Loan về Việt Nam một số mền Quang Minh bằng gấm rất đẹp, màu vàng, có đầy đủ cả sách chú giải, mandala và hướng dẫn cách sử dụng.
Đạo tràng có ý làm việc thiện nên mua giúp (không có tính chất kinh doanh) một số mền Quang minh để đạo hữu nào có nhu cầu thỉnh cho người thân. Giá mỗi bộ dao động khoảng 250.000 - 300.000 đồng (phụ thuộc vào cước vận chuyển, cước hải quan, và sẽ được tính tròn số, nếu còn dư thì ấn tống kinh sách).
Vậy đạo hữu nào có nhu cầu thỉnh cho người thân, hoặc chưa rõ thông tin thì liên lạc hoặc đăng ký qua số điện thoại: 0902 179 166.
Hoặc gửi lại email, số điện thoại ở đây. Chúng tôi sẽ cung cấp số tài khoản của đạo tràng để gửi tiền, hoặc thu trực tiếp và hẹn các bạn tới nhận mền.
VÀI NÉT VỀ MỀN QUANG MINH
Một trong 6 pháp giải thoát mà đức Liên Hoa Sanh đã giảng dạy, gồm có:
1. Giải thoát qua cái nghe.
2. Giải thoát qua cái mặc (ở đây ám chỉ áo mặc, hoặc phủ, hoặc đắp trên thân, mà cũng có thể là pháp bảo mà ta có thể đeo trên người.*)
3. Giải thoát qua cái thấy.
4. Giải thoát qua sự hồi nhớ.
5. Giải thoát qua vị nếm.
6. Giải thoát qua sự chạm xúc.
Ý nghĩa của “Giải Thoát Qua [Áo] Mặc:”
Người Tây Tạng gọi “Mền Quang Minh” đắp cho người đã qua đời là Tag-drol, nghĩa là “giải thoát qua cái mặc”. “Mền Giải Thoát” (hay “Áo Giải Thoát”) ở đây được kiến tạo dựa trên sự kết hợp của các câu chú nguyện, các biểu tượng và đồ hình. Trên thực tế, đây, là sự thiết lập của một mạn đà la tâm linh.
Người Việt gọi những chiếc “mền” đắp cho người quá cố là “Mền Quang Minh,” đó là vì ta muốn nhắc đến trạng thái tịnh quang chói sáng và trong suốt (Clear Light) của Chân Tâm khi đạt được giải thoát. Ta mong muốn người chết sẽ đạt được đến trạng thái này sau khi lìa đời, cho nên gọi bằng “Mền Giải Thoát” hay “Áo Giải Thoát” cũng mang cùng một ý nghĩa như gọi “Mền Quang Minh.” Cũng có những nơi, người Việt gọi “Mền Quang Minh” là “Áo Đà la ni.”
Đắp “Mền Giải Thoát” tạo được ba loại công đức và lợi lạc như sau:
1. Giúp bảo vệ người chết khỏi những chướng ngại hoặc những tai hại do các vong linh hiểm ác hoặc quỷ thần gây ra.
2. Trong tương lai, có thể giải thoát khỏi luân hồi và khổ não.
3. Trong cõi trung giới “Bardo,” có thể trực nhận được Tuệ Giác Nguyên Sơ, hoặc tái sinh vào cõi Tịnh Độ của đức A Di Đà, sau sẽ đắc được Phật quả.
Các giải thích về “Mền Giải Thoát” có nói về lợi lạc của việc “bảo vệ” người chết như trên, nhưng theo Garchen Rinpoche, ta nên hiểu rằng, “bảo vệ” ở đây không chỉ chú trọng vào việc bảo vệ thân xác của người đã qua đời theo nghĩa thế tục, mà chủ yếu là bảo vệ cho tâm của người chết không bị tán loạn, giúp cho họ giữ được sự sáng suốt, một mực hướng về mục đích cứu cánh là đạt đến giải thoát. Ở đây, giải thoát qua [áo] mặc, qua việc phủ đắp chiếc “Mền Quang Minh,” một phương tiện thiện xảo giúp cho người chết có thể chú tâm, không sao lãng, giữ vững ước nguyện muốn sinh vào cõi Phật, đạt được giải thoát.
Trong Mật điển cũng giải thích thêm như sau: Bất cứ ai có đủ phước duyên để nghe được, nhìn được, chạm được hoặc khoác được vào người tấm “Áo Giải Thoát” thì sẽ có thể được giải thoát xuyên qua Thân trung Ấm, hoặc tái sinh vào cõi Tịnh Độ. Ngoài ra, ngay cả loài súc sinh nếu có đủ phước duyên để đeo được giáo lý của “giải thoát qua cái mặc” quanh cổ cũng có thể sẽ được sinh vào các cõi cao, hoặc được giải thoát trong các giai đoạn chuyển tiếp. Ngay cả những kẻ đã tạo ác nghiệp khi còn sống và những kẻ đã qua đời mà không hề có được bất cứ ai trì chú, hay cầu nguyện hồi hướng cho, thì họ cũng vẫn có thể được tái sinh và cõi Tịnh Độ, và sau đó đạt được giải thoát.
“Mền Giải Thoát” là một phương pháp vô cùng thiện xảo của chư Phật để hoá độ chúng sinh. Khi mang trên người tấm “Mền Giải Thoát” thì người chết cũng có thể tịnh hoá được rất nhiều chướng ngại hoặc các che chướng.
Khi ta khoác trên người tấm “Mền Giải Thoát” hay “Áo Giải Thoát” thì những hạt mầm trong thân xác sẽ nhận được năng lực gia trì và năng lực chuyển hoá. Thân ta sẽ chuyển thành thân Phật. Những tư tưởng bất tịnh của xác phàm sẽ chuyển thành tâm tịnh khiết và trí tuệ của các vị Phật.
Thân ta có 9 khiếu (9 cửa thoát) là nơi mà thần thức sẽ thoát ra ngoài. Trong đó có 8 cửa thoát là 8 cánh cổng đưa đến luân hồi. Duy nhất cửa Phạm Thiên là dẫn đến Đại Thủ Ấn (Mahamudra).
Đắp “Mền Giải Thoát” có tác dụng che kín 8 cửa thoát - nơi ta không muốn thần thức thoát ra, mà chỉ chừa lại một cửa thoát duy nhất - cửa thứ 9 là cửa Phạm Thiên - để người chết sẽ được tái sinh vào cõi Tịnh Độ hoặc đạt được giải thoát.
Thần thức thoát ra cửa 1 (từ phía trên đầu tính từ đường chân tóc đo lên bằng bề ngang của bốn ngón tay chập lại), sẽ tái sinh vào cõi Trời thuộc Vô Sắc giới;
Cửa 2 từ mắt (kể cả mắt thứ ba), sẽ tái sinh vào cõi Trời thuộc Sắc giới;
Cửa 3 từ tai, sẽ tái sinh làm A-tu-la;
Cửa 4 từ mũi, sẽ tái sinh làm người hoặc làm yaksa (Dạ xoa);
Cửa 5 từ miệng, sẽ tái sinh làm ngạ quỷ;
Cửa 6 từ rốn, sẽ tái sinh làm chư Thiên trong cõi Dục giới;
Cửa 7 từ hậu môn, sẽ tái sinh vào địa ngục;
Cửa 8 từ bộ phận sinh dục, sẽ tái sinh làm súc sinh.
====
http://vietnalanda.org/Writings/Men%...hotos_2010.pdf
=
Gửi bạn Ngọc Long,
Mền Quang Minh dành đắp cho người sắp về cõi Tây phương cực lạc, có tác dụng chừa lại cửa thoát Phạm Thiên - để người chết sẽ được tái sinh vào cõi Tịnh Độ hoặc đạt được giải thoát, chứ không đơn giản là y phục, bạn ah. Nhà có người già có thể sắm mền này sẵn rồi nhờ được nhà chùa cho đặt gần Tam bảo, hoặc đặt ở gần ban thờ Phật ở nhà để hàng ngày mền được trì kinh niệm chú, đủ ngày tháng thì cất ngay dưới Tam bảo. Khi cần thì lấy ra dùng sẽ rất tốt cho người ra đi đấy bạn ah.
==
Theo giải thích của Ngài Hungkar Rinpoche, khi hộ niệm chúng ta nên làm như sau:
1. Đắp mền Giải thoát phủ kín suốt từ đầu tới chân thi hài.
2. Mạnđà la Shitro đặt nơi ngực, luân xa tim.
3. Gắn tấm giấy in dòng chữ Dzogchen (Đại Viên Mãn) tiếng Tây Tạng lên đỉnh đầu, nơi lỗ Phạm thiên, mặt có chữ quay xuống dưới.
4. Ngoài ra vẫn thực hiện các nghi thức hộ niệm khác như trì chú, trì danh hiệu Phật v. v.
Theo kinh nghiệm của một số đh thì mạn đà la Shitro nên in: hình màu, khổ giấy A 4 hoặc phân nửa khổ A 4, vì nếu in nhỏ quá các nét sẽ bị nhòe.
Bạn có thể vào đây tham khảo: http://kyduyenvn.vn/c6115/Men-Quang-Minh.aspx
http://hoibongsen.com/diendan/showthread.php?t=5147
http://www.thegioivohinh.com/diendan...ead.php?t=2761
Có cả ảnh mền rồi. Nhưng Ngoalong bận quá, chưa post lên được. Bạn chịu khó đọc ở các link trên nha. Cảm ơn bạn đã quan tâm tới bài viết của Ngoalong.
http://tamlinhhuyenbi.net/threads/ai...-k%C3%BD.2374/
-
Hành Giả Kim Cương Thừa
27 tháng 11, 2016 · Bình � ·
_Đây là một câu truyện tuyệt vời nhất nằm trong những kho tàng truyền miệng . Tôi đã đọc mẫu truyện này rất nhiều lần nhưng mỗi lần xem xong tôi đều cảm nhận sự tuyệt vời khác nhau. Guru Rinpoche dạy " Sự chí tâm chí thành cho phép lực gia trì thâm nhập . Khi tâm thoát khỏi mọi sự nghi ngờ , thì bất cứ điều gì các con mong muốn cũng có thể thành tựu ". Xin cúng dường câu truyện này đến chứ Hộ Pháp như một đảnh lễ đầy biết ơn .Chúc quý vị một ngày thực hành đầy ân sủng trong tình thương bao la của chứ Hộ Pháp . Om ah Hum
_Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát. Câu thần chú gồm có sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng.. có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng.
Tội nghiệp cho bà già thôn dã, không biết chữ, nên trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lôn cách phát âm trở thành Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Để khích lệ cho việc đọc câu kinh sám hối này bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại.
Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suốt 30 năm.
Lòng thành kính của bà đã ứng hiện cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh.
Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường và giai đoạn sám hối sắp sửa chấm dứt cho nên bà càng phấn khởi tụng niệm hăng say hơn.
Hôm nọ có một vị cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp xụp của bà, nhà sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ.
Vị cao tăng này lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo. Ông vội vã ghé vào thăm hỏi.
Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị cao tăng đến thăm, bà quỳ xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Vị cao tăng lấy làm ngạc nhiên vì không hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu ?
Ông lần lần hỏi thăm :
- Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi và ở đây còn có ai khác nữa hay không ?
- Thưa ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay.
- Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc hẵn rất buồn ?
- Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng kinh sám hối để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ. Nhất là từ lúc được một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có nhiều can đảm để sống hơn.
- Bà đang tu luyện kinh sách nào vậy ?
- Thưa ngài , tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Nhà sư thở dài tiếc nuối :
- Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát Âm là Án Ma Ni Bát Di Hồng mới đúng.
Đến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm.
Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông. Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà sư.
- Dù sao thì ngài cũng đã đính chính kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được.
Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông.
Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Án Ma Ni Bát Di Hồng.
Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung.
Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước. Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuôn rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú.
Nhà sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã. Nhà sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước. Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng :
- Lúc nãy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng.
- Nhưng tại sao sư phụ lại dối gạt tôi như vậy ?
- Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam Bảo như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi.
- Xin tạ ơn Đức Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, xin đa tạ sư phụ chỉ bày.
Sau khi nhà sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Án Ma Ni Bát Di Xanh được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh.
Nhà sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời.
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
SỰ GIẢI THOÁT KỲ DIỆU NHỜ GHI NHỚ THANGKA 100 VỊ BỔN TÔN AN BÌNH VÀ UY MÃNH
Trước kia, ở Tây Tạng, ở một thôn nhỏ, có một cụ bà, nhà của bà ở đầu thôn, còn phía cuối thôn là một hộ gia đình giàu có. Một ngày nọ, hộ gia đình giàu có kia có người mất, người mất chính là bạn thân của cụ bà, cụ bà biết tin đã tới tham gia lễ tang. Trong tang lễ, gia đình giàu có này đã thỉnh rất nhiều các vị Lama tới để làm đàn pháp “ Trung ấm văn võ bách tôn – Cứu độ trung ấm pháp”.
Trong đàn thành, các vị Lama treo rất nhiều thangka các vị Bổn tôn khác nhau. Khi ấy cụ bà trông thấy rất nhiều Pháp tướng Bổn tôn mà trước giờ cụ chưa từng nhìn thấy, cụ liền hỏi một vị Lama. Vị Lama liền nói với cụ bà, những vị Bổn tôn này đều là những vị Bổn tôn sẽ xuất hiện khi người mới lâm chung. Cụ bà hỏi lại vị Lama với lòng đầy hoài nghi: “Thật vậy sao? kì lạ thật, người mới mất, những vị Bổn tôn này sẽ xuất hiện sao? ”
Ba năm sau, cụ bà đó cũng qua đời. Sau đó, một người con trai của cụ đã mang rất nhiều vàng bạc đá quý đến cúng dường Đại Bảo Pháp Vương Karmapa...
Đại Bảo Pháp Vương nói: “Ba năm trước trong thôn của anh có người mất, mẹ anh đã tới tham gia lễ tang, đúng lúc các vị Lama đang làm đàn pháp, mẹ anh đã trông thấy ảnh rất nhiều vị Bổn tôn, có một vị Lama đã trả lời mẹ anh rằng, người mới mất sẽ được gặp các vị Bổn tôn này. Cho nên khi mới mất, mẹ anh đã gặp những vị Bổn tôn này, liền nhận ra, và đã được giải thoát rồi. Nếu anh không tin, khi trở về anh tìm gia đình đó, hỏi họ, hỏi vị Lama đó sẽ rõ thôi."
Sau khi về nhà, người con trai liền tìm gặp hỏi vị Lama làm đàn pháp năm ấy, thì biết rằng mọi lời Đại Bảo Pháp Vương nói là hoàn toàn đúng, trong lòng anh rất vui vì điều đó, vui vì mẹ mình quá may mắn, chỉ vì một lần được nhìn qua hình các vị Bổn tôn, ghi nhớ, khi lâm chung, nhận ra các vị Bổn tôn mà được giải thoát.
~ Đức Yongey Mingyur Rinpoche
Tôn ảnh: Shitro Mạn đà la
www.vietrigpabardo.org
https://scontent.fsgn5-1.fna.fbcdn.n...b8&oe=5CBFF9E5
https://vi-vn.facebook.com/shitro100/
-
SHITRO TERMA
Shitro là một Terma của Terton Karma Lingpa. Sự thực hành 58 hóa thần hung nộ và 42 hóa thần an bình, các vị này khởi lên như những cái nhìn thấy trong chonyid bardo. Shitro được phối hợp với tiến trình chết, đem đến sự sáng tỏ cho những người thực hành nó và chuẩn bị cho họ vượt qua những chướng ngại vào lúc chết. Nó cũng được người sống thực hành cho lợi lạc của những người vừa mới chết.
Trích từ "Yoga giấc mộng và sự thực hành ánh sáng tự nhiên" của Namkhai Norbu Rinpoche
Ảnh: Shitro Terma và Terton Karma Lingpa
https://vi-vn.facebook.com/shitro100/
=========
SHITRO - 100 BỔN TÔN AN BÌNH VÀ PHẪN NỘ
100 Bổn tôn An Bình và Phẫn Nộ (Shitro 100 Deities) gồm có 42 bổn tôn An bình và 58 bổn tôn Phẫn nộ.
https://scontent.fsgn5-6.fna.fbcdn.n...a8&oe=5CB7B41F
https://www.facebook.com/shitro100/p...type=3&theater
-
Nyongdrol
liberation by tasting (amrita) (Tib. nyongdrol, Wyl. myong grol)
嚐甘露得解脫
Giải thoát qua vị nếm.
=> THẬP CAM LỘ CHÚ
-
GIỚI THIỆU VỀ VIÊN THUỐC CẦU VỒNG (JASTUG RILBU)
31/08/2014 9:26 Sáng
TGPG.VN – Kính lạy Bồ-tát Quan Thế Âm, tâm từ bi của ngài đối với chúng sanh giống như tình thương yêu của người mẹ dành cho đứa con một của mình. Để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, ngài đã hóa hiện ra dưới nhiều hình dạng khác nhau – cả hữu tình lẫn vô tình. Những hành động yêu thương của ngài thật là vô biên. Ngài đã ban phúc lành cho chúng con để chúng con có thể phát triển tâm từ bi vô lượng vô biên, vô điều kiện nơi chúng con.
Dù cho mặt trăng có phản chiếu xuống hàng nghìn hồ nước khác nhau thì mặt trăng nguyên thủy của nó vẫn không rời khỏi bầu trời đêm. Tương tự như thế, từ quan điểm của thực tại tuyệt đối, các bậc giác ngộ vẫn sống trong pháp thân vi diệu của mình, dù là đang hóa hiện ra vô số báo thân hay ứng hóa thân để làm lợi ích cho chúng sanh. Đấy chỉ là sự hóa hiện tùy theo mong cầu tại những thời điểm khác nhau và tùy theo nghiệp lực cũng như khả năng của mỗi chúng sanh. Chư Phật và chư Bồ-tát đã phát nguyện rằng, các ngài sẽ hóa hiện không ngừng để làm lợi ích cho chúng sanh, thậm chí là nếu còn có một chúng sanh nào bị đọa đày trong biển khổ sanh tử thì vẫn hóa hiện ra để cứu độ chúng sanh đó. Cho nên, với tâm thức thường tình thì thật khó để chúng ta có thể hiểu được sự biến hóa vô biên trong thân hình, lời nói và tâm ý của các bậc giác ngộ.
http://www.thegioiphatgiao.vn/wp-con...ow-550x368.jpg
big_tibet_rainbow
Các ứng hóa thân thì không chỉ giới hạn ở hình dạng của chúng sanh hữu tình như là thân người hay chư thiên, mà còn hóa hiện thành những vật thể, những thứ thuộc vô tình chúng sanh và những thứ ấy có thể ban phúc lành hoặc truyền sức mạnh giác ngộ đến mọi người thông qua việc nhìn, chẳng hạn như những xá lợi, những pho tượng, nhục thân; hoặc thông qua việc nghe, chẳng hạn như Tâm thức Bardo; hoặc thông qua việc cảm nhận, chẳng hạn như năng lượng trị liệu.
Có một loại cỏ thiêng được gọi là Tsa Lu-du-dorjee, được tìm thấy tại vùng đất thiêng của Tsari (cõi tịnh độ của Ngài ChakraSamvara hay là Demchok Khorlo) ở vùng hẻo lánh của Tây Tạng. Loại cỏ này được cho là thiêng liêng nhất và quý giá nhất trong việc giải thoát qua việc nếm. Có một hiện tượng thường được chứng kiến tại vùng Tsari là khi những loài động vật hoang dã bị chết thì có một ánh sáng cầu vòng mầu nhiệm xuất hiện bên trên cơ thể của những con vật đó. Người ta cho rằng, những loài động vật hoang dã đó có phước duyên là đã ăn được loài cỏ thiêng liêng này và bây giờ được tái sanh về miền tịnh độ.
Trong dòng truyền thừa Dongyud Pelden Drukpa, loại cỏ thiêng giống như thế cũng đã được sử dụng như một trong những thành phần chính quan trọng để bào chế ra viên thuốc cầu vòng hay còn gọi là viên Jastug Rilbu (nghĩa là viên thuốc giúp đạt được thân cầu vòng). Truyền thuyết kể lại rằng, loại cỏ thiêng này chỉ có thể tìm thấy bởi những bậc tái sinh thuộc dòng truyền thừa Gyalwang Drukpa vì họ là những thân tái sinh của Bồ tát Quán Thế Âm. Vì thế, chỉ duy nhất dòng truyền thừa Drukpa mới có những viên thuốc cầu vòng.
Thành phần quan trọng khác được dùng để bào chế ra những viên thuốc cầu vồng là những hạt xá lợi còn lại từ thân của các Đức Phật và chư vị Bồ-tát. Trong quá trình thực hành sáu ba-la-mật, chư Bồ-tát đã tích lũy được những công đức vĩ đại thông qua nhiều phương tiện giáo hóa khác nhau, kể cả việc bố thí, cúng dường những vật sở hữu của cá nhân, bố thí thân thể và thậm chí là bố thí cả sinh mạng của mình. Chư Bồ-tát dùng công đức có được từ những việc bố thí, cúng dường vĩ đại ấy để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, không chỉ là ngay lúc các ngài còn tại thế mà cả sau khi các ngài đã viên tịch, qua những viên xá lợi được lưu lại từ thân thể của các ngài. Đấy là lý do tại sao chúng ta tìm thấy những viên xá lợi sau khi hỏa thiêu thân thể của các bậc đại sư. Những sự hóa hiện này tồn tại trong khuôn khổ của luật nghiệp báo và hỗ trợ cho sự phát triển lòng vị tha và trí tuệ của chư Bồ-tát trên lộ trình hướng đến sự giác ngộ vĩ đại.
Những viên thuốc cầu vồng được bào chế ra từ sự hòa trộn nhiều vật thể thiêng liêng khác nhau, như là: cỏ Tsa Lu-du-dorjee; xá lợi của các bậc giác ngộ, nước cam lồ của Đức Liên Hoa Sinh và nhiều thứ linh thiêng khác được hòa trộn với nhau. Những viên thuốc ấy được gia trì trong các khóa lễ về ChakraSamvara trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi thấy những dấu hiệu phước lành phát ra từ những viên thuốc ấy, chẳng hạn như là những tia sáng, hương thơm và ánh lửa.
Trong kinh điển có nói rằng, người nào uống hoặc đeo viên thuốc cầu vồng với tất cả sự thành tâm thì người đó sẽ chứng ngộ được chân lý tuyệt đối của Đại Thủ Ấn hay Tánh Không. Và việc uống hoặc đeo viên thuốc cầu vòng còn giúp chữa lành mọi bệnh tật, bảo vệ người đó khỏi bị xâm hại bởi những chất độc, các loại vũ khí, làm cho các giác quan của họ trở nên thanh tịnh và còn đem lại lợi ích cho họ trong nhiều phương diện của cuộc sống, bao gồm cả việc giúp người đó không bị đọa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh).
Hiệu quả của những viên thuốc cầu vồng là tùy thuộc vào mức độ thành tâm và sự hiểu biết của mỗi người. Sư ban phúc lành gia trì của những viên thuốc cầu vồng dựa trên chân lý duyên khởi. Người ta không thể nào đóng tất cả các cánh cửa mà vẫn mong những tia sáng mặt trời chiếu qua.
Theo truyền thống, những viên thuốc cầu vồng này chỉ dành cho những người đang hấp hối. Người ta làm thế với lòng thương xót rằng, người hấp hối cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng về những gì họ đã làm trong suốt cuộc đời. Những người gây ác nghiệp như vậy sẽ phát khởi niềm tin và lòng thành kính nếu họ được nghe giảng dạy giáo pháp và nhận được những vật thiêng liêng, khi kết hợp được cả 2 yếu tố này thì sẽ tạo ra thiện nghiệp rất mạnh. Và điều này có thể giúp người hấp hối tái sinh vào những cảnh giới thanh tịnh được hình thành từ những lời phát nguyện của chư Phật. Vì thế, ở Tây Tạng, người ta dù ở rất xa cũng đã tìm đến để xin cho được những viên thuốc cầu vồng ấy, còn được gọi là những viên thuốc cầu vồng của Drukpa. Người nào được uống viên thuốc cầu vồng này thì khi chết sẽ được chết trong sự thanh thản và tin chắc rằng người đó sẽ không bị đọa vào ba ác đạo.
Công đức của những viên thuốc này, là hiện thân của chư Phật (vì trong đó có xá lợi Phật), tương đương với công đức của việc đảnh lễ hoặc cúng dường chư Phật.
Những viên thuốc cầu vồng rất là thiêng liêng, hiện trên thế giới chỉ có vài trăm viên, trừ khi Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa quyết định điều chế thêm. Do tính chất thiêng liêng của viên thuốc và vì không thể nào kiếm được nhiều hơn nữa, cho nên chúng tôi không thể nào tặng nguyên cả viên thuốc. Để đảm bảo những lợi lạc có được từ những viên thuốc cầu vồng được phân phối một cách bình đẳng đến tất cả những ai đang tìm kiếm nó, chúng tôi đã lấy những phần nhỏ của viên thuốc hòa trộn vào trong những viên thuốc thiêng khác do dòng truyền thừa Drukpa bào chế. Những viên thuốc có một phần nhỏ tinh chất từ viên thuốc cầu vồng thiêng liêng thì có sẵn tại tất cả các trung tâm và các tu viên Drukpa trên khắp thế giới.
———
Đây chỉ là phần giới thiệu ngắn và chưa đầy đủ về những lợi ích của viên thuốc cầu vồng, bởi vì lợi ích của một vật thể thiêng liêng như thế thì không thể nào đo lường được.
Để biết chi tiết hơn về những xá lợi trong viên thuốc cầu vòng thì hãy đọc bài “Giới thiệu về Damzey Nyongdrol” (An Introduction to Damzey Nyongdrol) của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ 8, ngài Kunzig Choenang và được Dasho Karma Ura dịch qua tiếng Anh.
Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều được giác ngộ thông qua những phương tiện và những sự hóa hiện khác nhau.
Nhiếp chính vương Gyalwa Dokhampa
Minh Nguyên chuyển ngữ
http://www.thegioiphatgiao.vn/dactru...g-jastug-rilbu
-
Five practices of enlightenment without meditation無修成佛五法
204本覺維基 ‧ 藏密詞彙選譯
Five practices of enlightenment without meditation無修成佛五法
The five practices of enlightenment without meditation (Wyl. ma sgom sangs rgyas chos lnga) are sometimes given as:
(མ་སྒོམ་སངས་རྒྱས ཆོས་་ལྔ་):見解脫、聞解 、嚐解脫、配解脫、念解脫(頗瓦往 生法)
· liberation through seeing (chakras) (Tib. tongdrol; Wyl. mthong grol); 見咒輪得解脫
· liberation on hearing (mantras and dharanis) (Tib.tödrol, Wyl. thos grol); 聞咒音(咒語和陀羅尼)得解
· liberation by tasting (amrita) (Tib. nyongdrol, Wyl.myong grol); 嚐甘露得解脫
· liberation by touch[1] (mudra) (Tib. takdrol, Wyl.btags grol); and 觸手印得解脫
· liberation by recollection or thinking (which includes the practice of phowa) (Tib. drendrol)[2] 念(憶及或思及)得解脫,頗瓦法也 之
Alternative Lists
· liberation by touching (Tib. regdrol, Wyl. reg grol) is sometimes added to the list, making six methods that lead to liberation.[3]
https://blog.xuite.net/yeshi_tsogyal...BA%94%E6%B3%95
-
Snake Lake - Page 117 - Google Books Result
https://books.google.com.vn/books?isbn=1582436126
Jeff Greenwald - 2010 - Religion
We call this nyong drol: 'eating liberation.'” I raised my eyebrows. “I'm not joking! Liberation through eating. Meaning, it makes a karmic connection. So even if .
https://books.google.com.vn/books?id...ngdrol&f=false
-
In Tibet besteht die Auffassung von "Fünf Methoden zur Erlangung von Erleuchtung ohne Meditation (Wyl. ma sgom sangs rgyas chos lnga):
Befreiung durch Sehen (chakras) (Tib. tongdrol; Wyl. mthong grol) - durch Sehen eines großen Meisters oder eines heiligen Objekts (daher auch durch Lesen heiliger Bücher bzw. von Büchern der Meister)
Befreiung durch Hören (Mantras und Dharanis) (Tib. tödrol, Wyl. thos grol) - durch Tragen speziell gesegneter Zeichnungen von Mandalas mit heiligen Mantras (Tib. takdrol)
Befreiung durch Schmecken (Amrita) (Tib. nyongdrol, Wyl. myong grol) - durch Verkosten von heiligem Nektar, der von Meistern durch spezielle intensive Praxis geweiht wurde
Befreiung durch Berührung (Mudra) (Tib. takdrol, Wyl. btags grol) - durch Hören bestimmter tiefgründiger Lehren wie die Große Befreiung bzw. durch Hören im Bardo.
Befreiung durch Erinnerung oder Denken (einschließlich der Phowa - Praxis) (Tib. drendrol) - durch Erinnerung der Übertragung des Bewusstseins (phowa) im Augenblick des Todes
Eine weitere Methode ist das NangJang[4] des Dudjom Lingpa aus dem Nyingma.
Die wahre vollständige Erleuchtung ist neben vielen anderen Dingen wie 'Moksha' mit einem kosmischen Bewußtsein verbunden.
http://www.spiritwiki.de/w/Bodhi
-
-