-
Chùa Phật 4 mặt four-faced Brahma God,
San Phra Phrom (tiếng Anh: Erawan Shrine,tiếng Thái: ศาล พระ พรหม, phiên âm tiếng Việt: Sản - Prạc- Prom) là một đền thờ Hindu giáo ở Bangkok, Thái Lan. Nó là một nhà tượng Phra Phrom, bên trong chứa bức tượng Brahma – tượng trưng cho vị thần Sáng tạo. Nơi đây còn là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo lớn và là điểm trình diễn dance Thái và là điểm tham quan hấp dẫn tại Bangkok.
Vị trí : Đền thờ nằm trong khách sạn Grand Hyatt Erawan (do đó còn được gọi là điện thờ Erawan), tại Ratchaprasong giao điểm của đường Ratchadamri, quận Pathum Wan, Bangkok, Thái Lan. Nó gần ga Chitlom thuộc BTS, mà có một con đường đi bộ riêng nhìn ra đền thờ. Khu vực có nhiều trung tâm mua sắm gần đó, bao gồm cả Gaysorn, Central World và Amarin Plaza.
Lịch sử :Erawan Shrine được xây dựng vào năm 1956 như là một phần của cơ quan chính phủ. Nó được xây dựng khi các truyền thuyết mà các tín đồ thêu dệt nên và nó được xây dựng đồng hành với khách sạn và được tu bổ nhiều lần.
Miêu tả : Bức tượng Brahma chính trong đền thờ được xây dựng bởi Hội Mỹ thuật Thái vào ngày 9 tháng 11 năm 1956. Bức tượng có 4 mặt, tay cầm binh khí và nó đã được làm bằng plaster, trộn với một hỗn hợp của vàng, đồng và các kim loại. Ban đầu tượng được đúc khuôn và được làm hoàn toàn kim loại. Tượng kim loại gốc này được lưu giữ trong Bảo tàng quốc gia. Bốn mặt của thần Brahma tượng trưng cho: Thần Brahma, đầy ơn, thương xót, và vô cảm.
Giá trị : Đền thờ được rất nhiều tín đồ tới cúng bái và chiêm ngưỡng, hiện tại, đền còn là nơi tham quan của du khách khi đến mua sắm tại các khu trung tâm.
http://duongdieumd.blogspot.com/2017/01/thai-lan.html
-
Tượng thần Tứ Diện
Giá: Liên hệ
9 triệu
ĐẶT HÀNG
THÔNG TIN CHI TIẾT
.
Bùa Phật mà Bạn nào thỉnh Bùa Thái Lan cũng nên có đeo bên mình hoặc thờ trên bàn để nhà.
Nhất là có Kumanthong cũng nên có Phật để trấn yểm bé cho tốt nhé.
Phra Phrom MaHa Setthi
( Phật 4 Mặt Maha Setthi- Giàu sang Siêu lộc):
Phật Bốn Mặt Erawan ( như người VN mình hay gọi) nhưng thực sự Phật Bốn Mặt có tên thực sự là Brahma Và Người Thailand gọi ngài là พระพรหม - Prá Phôm.
Chuyện kể về Prá Phôm có rất nhiều. Nói sơ về ngài thì Hình Hài như ta thấy Ngài có Bốn Mặt, Bốn Tay. Mà mỗi mặt đều có một ý nghĩa vô cùng to lớn.
- Trong 4 tay: Một tay cầm vương trượng. Tay thứ 2 Ngài cầm quyển sách. Tay thứ 3 cầm một chuỗi tràng hạt được gọi là "tràng hạt của những con mắt" là vật được Ngài dùng để tính thời gian của vũ trụ. Tay còn lại của Ngài cầm kinh Vedas.
Bốn cánh tay của Pra Phôm đại diện cho bốn hướng: đông, tây, nam, bắc.
Bàn tay phải phía sau biểu thị cho tâm trí, bàn tay trái phía sau biểu thị cho trí tuệ, tay phải phía trước là bản ngã và bàn tay trái phía trước là sự tự trọng.
Nói sơ sơ thì như vậy và nghe Ba mình kể thêm thì Prá Phôm bốn mặt bốn hướng, mỗi hướng tượng trưng cho một nguyện cầu nhất định:
- Cầu Tri Thức, Trí tuệ
- Cầu Kinh doanh, Buôn Bán.
- Cầu quyền lực, danh vọng.
- Cầu Sức khỏe, bình an.
Prá Phôm được cho là Đức Phật nắm quyền lực và thiêng linh nhất trong số tất cả các Trư Phật của Thailand. Cả nhà mình từ trước giờ đều Thờ ngài.
Ba kể hồi xưa, có chuyện này, khi Prá Phôm mới đc mời về và tọa lạc ở Khách sạn Erawan ngày nay, có một người phụ nữ ko tin vào sự linh nghiệm của Ngài liền niệm với PráPhôm thế này: " nếu Ngài thiêng thật như ngta nói, thì cho con Trúng vé số giải độc đắc đặc biệt đi. Con sẵn sàng dải vải trắng, cởi truồng đi xung quanh Prá 3 vòng".
Bài Khấn Niệm Phá Phrom:
Nam Mô Thạ Sạ Phá Kha Goa Tô, A Rá Hả Tô, Sắm Ma sắm Phút Thạ Sạ (3 Lần)
Ông Can Phin Thụ Na Thẳng
Ụp Păn Năng
Phôm Ma Sạ , Hạ Pạ , Ti Na Mạ
Ạ Thi Cặp Pê
Sụ A Kha Tô
Păn Chạ Pạ Thăm Măng
Thi Sạ Goạ
Nam Mô Phút Tha Dá
Wăn Thá năng ( 2 lần )
http://buathaishop.com/tuong-than-tu-dien-p697.html
-
Thailand Amulet Thần Hộ Mệnh agregó 4 fotos nuevas.
6 de septiembre de 2016 ·
TỔNG QUAN NHẤT VỀ PHẬT BỐN MẶT Ở THÁI LAN
TỪ THUỞ KHAI THIÊN LẬP ĐỊA ĐẾN VỤ NỔ BOM 17/08/2015 TẠI ERAWAN – BANGKOK
Chúng ta ai đã từng đi Campuchia hay Thái Lan, hoặc đã từng nghe đến Nụ Cười Bayon nổi tiếng đều biết đến hình ảnh một bức tượng có bốn mặt. Thường thường chúng ta hay nghe người ta gọi đó là Tứ Diện Phật (Phật Bốn Mặt) thậm chí còn nghe nói Bốn Mặt đó tượng trưng cho bốn phẩm chất quý báu của Phật Giáo là Từ Bi Hỷ Xả. Vậy Phật Bốn Mặt là ai? Đọc hết bài này bạn sẽ có được câu trả lời cho riêng mình.
Phật bốn mặt ở campuchia
🙏PHẬT BỐN MẶT (TỨ DIỆN THẦN) LÀ AI?
Trong truyền thuyết Phật Giáo Nguyên Thủy thì Đại Phạm Thiên tức là một vị Đại Thiên Thần Hộ Trì Chính Pháp nên có bốn Đại Đức Quý Báu là Từ Bi, Nhân Ái, Bác Ái và Công Chính.
🙏VẬY PHẠM THIÊN LÀ AI?
Phạm Thiên (Brahma): người sáng tạo và lèo lái vũ trụ, là cha của các thần và của cả loài người. Brahma cùng với Shi va và Visnu hợp thành bộ ba gọi là Trimurti. Visnu và Shiva là hai thế lực đối lập, còn Brahma là thế lực cân bằng.
Brahma tạo ra nữ thần Satarupa từ chính cơ thể mình. Nàng đáng yêu đến nỗi Brahma nhìn nàng đăm đăm. Mỗi khi nàng nhích qua một bên để tránh thì Brahma lại mọc ra một đầu khác để nhìn. Cuối cùng Brahma đã chinh phục được Satarupa. Họ lui về sống ở một nơi bí mật trong 100 năm thiên giới. Và, MANU – con người đầu tiên được sinh ra…
Thần Brahma thường được thể hiện với bốn đầu và bốn tay, mỗi tay cầm một cuốn kinh Vệđà. Các biểu trưng khác là lọ nước sông Hằng, vòng hoa, ấn thí vô uý…( Hình Tứ diện Phật (Phật bốn mặt) của Thái Lan cũng là hình tướng hoá thân của Brahma).
🙏DẤU HIỆU NHẬN DIỆN?
Phật bốn mặt gồm bốn khuôn mặt quay ra bốn hướng với đầy đủ mắt tai mũi miệng, có tám cánh tay và bàn tay, mỗi tay Ngài lại cầm một Pháp khí riêng biệt. Mỗi thứ lại có ý nghĩa khác nhau:
Tứ Diện Thần gồm bốn khuôn mặt quay ra bốn hướng với đầy đủ mắt tai mũi miệng, có tám cánh tay và bàn tay, mỗi tay Ngài lại cầm một Pháp khí riêng biệt. Mỗi thứ lại có ý nghĩa khác nhau.
Một tay cầm Lệnh Kỳ biểu hiện cho “Vạn Năng Pháp Lực“; cầm Phật Kinh biểu hiện cho Trí Tuệ; cầm Pháp Loa (Ốc báu) biểu hiện cho ban phúc; cầm Minh Luân (Bánh xe ánh sáng) biểu hiện cho thiêu hủy phiền não; cầm quyền trượng biểu hiện cho Thành Tựu tối thượng;cầm bình nước biểu tượng cho giải khát khao tức có cầu tất ứng; cầm Niệm Châu biểu hiện cho làm chủ Luân Hồi. Tay còn lại bắt ấn trước ngực biểu hiện cho sự che chở.
🌟THỰC HÀNH LỄ CÚNG BÁI NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG?
Theo nghi lễ thì mặt chính diện chính là biểu tượng cho Từ, sau đó thuận theo chiều kim đồng hồ là Bi, Hỷ và Xả.
Hiểu được hàm ý này cũng tức sẽ giúp chúng ta có sự chuẩn xác trong việc tế bái cầu nguyện. Vì thông thường chúng ta khi có dịp du lịch Thái Lan Giá Rẻ hay CamPuChia vì không hiểu ý nghĩa nên không biết tiến hành cầu nguyện ra sao. Chính Diện đại biểu Từ chính cũng đại biểu cho Học Nghiệp, Chức Nghiệp, Danh Tiếng và Địa Vị, mặt thứ hai (Thuận kim đồng hồ) đại biểu Bi là chuyên về Ái Tình, Hôn Nhân và quan hệ giao tiếp, mặt thứ ba biểu hiện cho Hỷ là về thu nhập và phú quý, mặt thứ tư biểu hiện cho Xả là sức khỏe và tiêu tai giải nạn.
Hiểu đúng, có Tâm nguyện chính xác ngoài việc giúp cho chuyến đi việc làm của ta thêm ý nghĩa, cũng là cái mà cha ông ta dạy “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” …Đừng mơ mơ hồ hồ mà đánh rơi mất một cơ hội Chiêm Bái Thánh Tượng và suy ngẫm lại chính mình. Phật dạy “Chính Niệm – Chính Tư Duy“.
🙏🙏🙏🙏SƯ TRẢI NGHIỆM CỦA MÌNH TẠI THÁI LAN:
Trong khoảng thời gian Philip sống tại Thái Lan tôi thường hay đi cúng ông Phật bốn mặt. Và lễ vật thường nhất là NHANG + VÒNG HOA + NƯỚC DỪA + 1 BÀI MÚA THÁI LAN.
🌟🌟🌟SAU ĐÂY LÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN TÂM LINH DIỆU KỲ TRONG NHỮNG SỐ CÂU CHUYỆN TẠI THÁI LAN.
–👉Chuyện thứ nhất: Trong vụ tai nạn máy bay TU rơi tại Phnom Penh năm 1997 (tôi nhớ mang máng cái năm như vậy, không chính xác lắm), hầu như tất cả các nạn nhân trên máy bay đều bị chết, chỉ có duy nhất một em bé sống sót, em bị văng ra cách máy bay gần 100m mà hầu như không bị thương tích gì. Trên cổ em bé đeo một bức tượng Phật bốn mặt khi em cùng ba mẹ đến thăm chùa. Quốc vương Thái đã nhận em bé này về làm con nuôi.
– 👉Chuyện thứ hai: Trong vụ động đất và sóng thần tàn phá Phuket (miền Tây Thái Lan), một em bé con của nhân viên tòa đại sứ Tây Ban Nha đi du lịch, cũng bị sóng đánh quăng lên ngọn cây dừa, và đáng ngạc nhiên là em bé cũng không bị thương tích gì. Trên cổ em cũng đeo tượng Phật bốn mặt.
– 👉Chuyện thứ ba: Một cô gái đến chùa cầu khấn Phật cho cô được trúng số đề 5 lần. Nếu được vậy cô sẽ khỏa thân nhảy múa cho Phật xem (xin nhắc lại đây là Ông Thần bốn mặt, chứ không phải Phật). Cầu được ước thấy. Cô gái trúng số 5 lần liên tiếp, trở nên giàu có và nổi tiếng, nhưng cô quên mất lời hứa trên. Thế là hàng đêm cô luôn bị bất ổn, và cô mơ thấy một Ông Thần nhắc cô phải thực hiện lời hứa, nếu không lời cầu khấn của cô sẽ mất linh thiêng. Thế là cô gái sực nhớ lại lời cầu nguyện trước đây của mình, và tuyên bố sẽ thực hiện. Báo chí nghe tiếng kéo đến rần rần. Cô gái cũng khỏa thân nhảy múa đúng lời thề, nhưng phải mua vải mùng quay xung quanh để tránh những người hiếu kỳ.
– 👉Chuyện thứ tư: Một ông chủ người Đài Loan bị phá sản. Ông ta đến thuê một phòng khách sạn trên tầng cao, dự tính để đồng hồ reo đúng giờ đó sẽ nhảy lầu tự tử. Đêm ấy ông ta mơ thấy một ông thần bốn mặt đến gặp ông ta khuyên ông ta nên mua vé số như vầy, như vầy … Đêm ấy, cái đồng hồ reo cũng không reo chuông, nên ông ta ngủ quên đến sáng. Tỉnh dậy, nhớ đến giấc mơ kỳ lạ đêm hôm, ông ta mua vé số, và trúng độc đắc rất lớn. Tin vào thần linh, ông ta bèn thỏa thuận mua lại nguyên tòa khách sạn ấy, trả giá gấp 4-5 lần nên chủ khách sạn đồng ý bán (tất nhiên chủ KS không biết câu chuyện của ông ta). Và ông Đài Loan này dành nguyên một tầng lầu nơi ông ta đã ngủ để thờ Ông Phật bốn mặt.
VỤ ĐÁNH BOM 17/08/2015:
Tối Thứ Hai (17/8/2015), một vụ đánh bom khủng bố vừa xảy ra ngay tại thủ đô Bangkok, Thái Lan. Hiện có ít nhất 27 người thiệt mạng. Địa điểm mà bọn khủng bố chọn đó chính là nơi thờ Phật bốn Mặt linh thiêng nhất Thái Lan. Đó là đền Erawan, tọa lạc gần cầu vượt Ratchaprasong, trên một con đường chính đi qua khu trung tâm thương mại của Bangkok và bao quanh bởi ba trung tâm mua sắm lớn. Nơi mà đông đảo người Việt Nam đến khấn vái hàng ngày khi đến và đi Tour Du Lịch Thái Lan – Sa Wa Dee.
Nhìn lại cảnh hoang tang thì có thể dễ dàng nhìn thấy tượng PHẬT BỐN MẶT không bị ảnh hưởng của bom cũng như sức ép từ thuốc nổ. Nhiêu đó cũng đủ để minh chứng cho sự linh thiêng của ngài.
Cầu mong ngài hãy phù hộ cho những người đã mất sớm được siêu thoát và những người còn sống được an lành.
Theo gsTravel .
Om Brahma Namaha 🙏🙏🙏🙏🙏
https://es-la.facebook.com/ThailandA...3721091139197/
-
https://upanh1.com/images/Untitled9400a01902a115ab.png
k?
f-?-I-){-=v-:v-/v-.-9{-:s-dwk
OM.AH TRA TE.SU RU.PHU PA YE.SO HA.
嗡 阿扎喋 速如 普巴耶 梭哈
;,-#=v1k
(三次)
[PDF]大祈願法誦文程序, 首先在殊勝經依處, 頂禮入座, 唸誦 ... - Kagyu Library
http://www.kagyulibrary.hk/uploads/s...re/file/55.pdf
Translate this page
涅仁洽檔逆檔札威蕩紐倩波拉內巴久 ... 堆元南喀他釀秋. 化為妙欲等虛空 ?f-?r\fz_->->}-Osm\. OM.AH.HUNG.HA.HO.HRIH. ... 知瑟佳波拉嘎梭 .... DI NGO PE. ..... BENTSA DRI YA.AWA BODHA NA YE.SWAHA. 喋訝塔奔札諦訝阿哇玻達拿耶梭哈 ...
http://www.kagyulibrary.hk/uploads/s...re/file/55.pdf
-
8. 烟供咒(7遍):
烧香或者烟供专用咒:
嗡,阿扎地 苏鲁 普巴呀 梭哈。
(拼音:om,azadi suru pubaya svaha.
或者:ong, azadi sulu pubaye soha.)
http://s15805321995.blog.163.com/blo...1172310160187/
-
166. 放生咒
Phóng Sinh Chú
https://upanh1.com/images/Untitled6f25e86edacf9420.png
[PDF]目錄
wisdombox.org/mantra_bodhisattva.pdf
Dịch trang này
地藏菩薩經安胎咒(佛說護諸童子陀羅 經護諸童子陀羅尼) ................ 166. 放生咒. ..... aprati hata sāsane / mahābala parākrame /. 無障礙無能勝諸教示大威神力剛勇.
放生咒:(空海大日經開題:唵。薩嚩幡婆薩普吒 娜賀曩。嚩曰羅野。娑嚩賀)
(阿閦如來念誦供養法懺悔眞言:唵薩嚩 播引跛娑普吒二合娜訶曩嚩日囉二合 野娑嚩
二合引訶)
嗡 O3 湡薩斡 sarva 栝幌巴缽月思普吒 p2pa3sphu6a 惙茥卼盄達賀
囉 dah2n2 盻婍凐斡資囉耶 Vajraya 向忝愊娑婆訶 sv2h2.渢惃
http://wisdombox.org/mantra_bodhisattva.pdf
-
-
-
9.加持水
om date date ma hanate svaha
做宝手印以无名指弹水.
http://dq.tieba.com/p/5355508150
-
大毗卢遮那灌顶真言
om amogha vairocana maha mudra mani padma jvala pravata ya hum
做根本印然后以剑印指向供物,观白**am 字.
1.加持金杵
om vajra svaha
将右手贴在胸前然后以期克印持杵.观 金杵放光.
2.加持念珠
om rushi jama nicar vataya hum 7遍
吹气在念珠上.
3.加持新衣或土沙
om padmo snisam vimale hum phat
做莲开印.吹气在新衣或土沙上.观想新 衣成甲盔
4.加持贡品
om vajra amrita kundali ha
5.加持肉类
om avire kacare hum .
吹肉往生使.
6.加持五色线
om vajra dharma hrih hum.kili kila rava raudra hum phat
或是om vajra dharma braama vasha hum tistha sakmaham svaha
每念一次打一个结.
7.燃香加持
om gagana gagana sambhava hum vajra hoh.
拇指压小指食指压中指(左右手互相,交 叠)两无名指并排树立.观香成塔.
8.加持金刚身
om ah hum
om字将手印放在头顶,观想白色五股杵.a h字将手印放在喉部,观想红色三股杵.hu m字将手印心轮处,观想蓝色独股杵.
手印:两小指,两中指两拇指并立.二食 张开.两无名指和小指外缚.
9.加持水
om date date ma hanate svaha
做宝手印以无名指弹水.
10.加持酒类
om ah hum ha hoh hirh
观酒为赤火.
11.消除业障
om arolik svaha(莲花部心咒)
观自心佛塔形.做莲音.消除业障往生.
12.解除冲煞
om agani agani avila mantala male svaha
今日所得罪各路神祗......等一切过犯 皆清净.避免方位日月星冲.
13.解除染秽
om suri mari mamari mari susuri svaha(秽迹解秽咒)
凡接触不洁,行一切仪轨前必颂此真言.
http://dq.tieba.com/p/5355508150
-
3. Gia trì TÂN Y hoặc THỔ SA ( Gia trì ÁO MỚI hoặc ĐẤT CÁT )
3.加持新衣或土沙
om padmo snisam vimale hum phat
做莲开印.吹气在新衣或土沙上.观想新 衣成甲盔
http://dq.tieba.com/p/5355508150
-
Gia Trì,加持, Adhisthana (skt)—Địa Sắt Vĩ Năng—Gia trì có nghĩa là nhờ vào Đức Phật, người đã dùng sức của chính mình để gia hộ và trì giữ cho chúng sanh yếu mềm đang tu hành; gia trì còn có nghĩa là cầu đảo, vì mong cầu Phật lực hộ trì cho tín giả. Nói chung gia trì có nghĩa là “hộ trì’—To depend upon—Dependence on the Buddha, who confers his strength on all who seek it and upholds them; it implies prayer, because of obtaining the Buddha’s power and transferring it to others. In general it means to aid or to support.
http://vinhnghiemvn.com/tudienphatho...?yy=2019&mm=10
-
-
Lễ Tháng Bảy Cho Những Oan Hồn Phiêu Bạt
Tác giả: Tuệ Sỹ - Phật Việt
Trong các sinh hoạt nhân gian của truyền thống ta, tháng bảy là tháng đượm nhiều sắc thái văn chương nhất. Tháng bảy, mưa ngâu, nhịp cầu ô thước bắc qua giải Ngân-hà; hai tâm hồn lẻ loi cô độc, hằng đêm tư lự trong nỗi sầu ly biệt thiên thu giữa bầu trời cao rộng, chọn mùa mưa sụt sùi để gặp nhau, chỉ trong một thoáng chốc, rồi đời cũng như con nước trôi xuôi… Đây đó, giữa những cụm rừng khuya u tịch, vẫn còn có những oan hồn cô độc, lần mò tìm lại nẻo sống của một thời xa xưa. Kẻ chết và người sống, khéo hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình đã từng chôn sâu dưới lòng đất. Khi đêm càng về khuya, âm hưởng trầm buồn của người sống phảng phất trong lễ cúng thí cô hồn chen lẫn với tiếng trùng nỉ non, thì tình tự của kẻ sống và người chết càng nghe ra khúc điệu tha thiết vô cùng:
Dấu người thập loại biết là đâu
Hồn phách mơ màng trải mấy thu
Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới
Những mồ vô chủ thấy mà đau[1]
Trong các lễ cúng thí cô hồn, trai đàn chẩn tế được tổ chức quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật giáo Đại thừa Mật tông được gói trọn vào đây.
I
Về hình thức, trai đàn này dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn-đà-la (maṇḍala)[2]. Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn này là căn bản vũ trụ luận của Mật giáo. Thông thường, có hai bộ mạn-đà-la. Kim cang giới mạn-đà-la (vajradhātu-maṇḍala) biểu tượng cho trí tuệ sở chứng của Phật. Thai tạng giới mạn-đà-la (garbhadhātu-maṇḍala) biểu tượng cho phương tiện độ sinh của Ngài[3]. Mỗi mạn-đà-la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo. Chủ điểm đáng ghi nhớ nhất, đại lược như sau.
Trước hết, chúng ta nên biết rằng theo quan điểm truyền thống của Phật giáo, vũ trụ gồm hai thành phần. Một đằng là nhân cách, tức lấy con người hay các loài hữu tình làm bản vị, mà trên hết, lấy nhân cách của Phật làm biểu hiệu cho bản thể tuyệt đối. Đằng khác nữa, là thế giới của nhân cách, là những pháp sở chứng và thọ dụng bất khả tư nghị của Phật. Nhân cách có năm yếu tố, gọi là năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chúng tập họp thành một bản ngã giả tưởng nên được gọi là uẩn. Thế giới của nhân cách được cấu tạo bởi năm yếu tố, gọi là năm đại[4]: địa, thủy, hỏa, phong và không.
Trên cơ sở giáo nghĩa này, trước hết mạn-đà-la của Kim cang giới được thiết lập để biểu hiện trí tuệ sở chứng của Phật. Kim cang là loại chất rắn không bị bất cứ gì hủy hoại được. Do đó kim cang được vận dụng như một khái niệm cụ thể hoá yếu tính tồn tại của Phật thân, gọi là Kim cang bất hoại thân (vajrasaṃhatanakāya). Thân ấy, cũng như thân của tất cả mọi loài chúng sinh, đều do năm uẩn, và năm đại cấu thành. Nhưng tồn tại của Phật thân không khác biệt với hoạt dụng của Phật trí. Do đó, năm đại tương ứng với năm trí (pañca jñānāni). Và nhân cách của Phật, như là chỉnh thể thống nhất của tồn tại và nhận thức, được biểu hiện thành năm đức Như lai tương ứng, tức là Ngũ trí Như lai, hay năm vị Thiền Phật (pañca dhyānibuddhāḥ)
Kim cang giới mạn-đà-la thuyết minh hoạt dụng của trí tuệ sai biệt trong lý tính không sai biệt, do đó Ngũ trí Như lai là trọng tâm của mạn-đà-la này. Hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân (candra-maṇḍala). Bên trong hình tròn này thiết lập các biểu tượng của năm vị Như lai. Chính giữa là vị trí đức Đại Tỳ-lô-giá-na, hay Đại Nhật Như-Lai (MahāVairocana-Tathāgata). Đó là Pháp thân Phật (DharmakāyaBuddha), như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp cả vũ trụ. Trong năm đại, Ngài biểu tượng cho không đại (ākāśadhātu), và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn (vijñāna-skandha). Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh trí (dharma-dhātu-svabhāva-jñāna).
Bốn phương chung quanh Đại Nhật Như lai là vị trí của bốn đức Như lai, theo thứ tự từ Đông qua Nam cho đến Bắc như sau:
A-Súc-Bệ Phật (Akṣobhya), hay Bất-Động Như Lai với các biểu tượng: Phong đại (vāyu-dhātu), nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn (saṃskāra-skandha), động cơ tạo tác của các loại hữu tình; đại viên cảnh trí (ādarśa-jñāna), như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế giới.
Bảo Sinh Phật (Ratnasambhava) với các biểu tượng: hỏa đại (tejo-dhātu), khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sinh và thế giới; tưởng uẩn (saưjñā-skandha), khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; bình đẳng tánh trí (samatā-jñāna), khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và pháp.
A-di-đà Phật (Amitabhā): thủy đại (ab-dhātu), khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn (vedana-skandha), khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; diệu quán sát trí (pratyavekśaṇā-jñāna), nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy diệt.
Bất Không Thành Tựu Như lai (Amoghasiddhi): địa đại (pṛthivī-dhātu), khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn (rūpa-skandha), tác thành thế giới hữu tình; thành sở tác trí (kṛtyānuṣṭhāna-jñāna), thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sinh.
Mỗi đức Như lai đều có bốn Bồ tát thân cận. Tất cả là mười sáu Đại bồ tát. Ngoài ra, nội đàn có bốn cúng và ngoại đàn bốn cúng; tất cả tám cúng dường bồ-tát. Cùng với bốn Nhiếp bồ tát nữa. Cơ bản, Kim cang giới mạn-đà-la có tất cả ba mươi bảy tôn vị.
Thai tạng giới biểu hiện đại bi tâm của Phật, từ đó lưu xuất tất cả các phương tiện độ sinh. Từ Thai tạng giới, vạn pháp được thai nghén và dưỡng dục, cho đến thành tựu các phẩm chất siêu việt của đại trí và đại bi. Do đó, đàn tràng của Thai tạng giới được hình dung là một đóa sen có tám cánh. Đóa sen tám cánh này chính là hình ảnh trái tim bằng thịt của chúng sinh. Đại bi tâm không phải là một khái niệm trừu tượng, nhưng là sự rung động của trái tim bằng thịt ấy. Hoa sen, theo ý nghĩa nhân quả đồng thời, nghĩa là khi chúng sinh vừa phát tâm bồ-đề, ngay lúc ấy Phật quả đã được thành tựu. Bởi vì, trong thể tính tuyệt đối, ý niệm về thời gian và không gian không tồn tại. Từ ý nghĩa đó, tám cánh sen gồm bốn Đại Bồ tát, và bốn đức Như lai, biểu hiện nhân cách của nhân và quả; tất cả đều phát xuất từ thể tính của Đại Nhật Như lai vốn là đài sen, ở trung tâm của mạn-đà-la.
Bốn đức Như lai, theo thứ tự từ Đông qua Bắc như sau:
Phương đông, Bảo Tràng Phật (Ratnaketu). Ngài là hình ảnh của bồ đề tâm (bodhicitta). Bảo tràng làm tiêu xí cho sự phát bồ đề tâm. Dưới cội bồ đề, Như lai đã dương cao tiêu xí này mà đánh bại binh chúng Ma, thành tựu Vô thượng Chánh giác.
Phương nam, Khai Phu Hoa Vương Như lai (Kusumita-rāja), an trụ trong ly cấu tam-muội (vimala-samādhi), bằng hạt giống bồ-đề tâm mà vun trồng và phát triển thành vô số hành động của đại bi, như đóa hoa nỡ rộ.
Phương tây, Vô Lương Thọ Như lai (Amitayus), biểu hiện Báo thân hay Thọ dụng thân của Phật (Sambhoga-kāya), kết quả của vô số công đức tu tập, với hình ảnh hoa sen hàm tiếu.
Phương bắc, Thiên Cổ Lôi Âm Phật (Divyadundubhi), biểu hiệu phẩm tính của Niết bàn; được ví dụ như chiếc trống trời, vốn không hình tướng nhưng âm vang rền xa. Đó là pháp âm của Như lai được công bố.
Ở bốn phương góc là bốn Đại Bồ tát. Phương đông nam, Phổ Hiền Bồ-tát (Samantabhadra). Đông bắc, Quán Tự Tại Bồ-tát (Avalokiteśvara). Tây nam, Diệu Cát Tường Đồng tử (Mañjuśrì-kumàra). Tây bắc, Từ Thị Bồ-tát (Maitreya).
Chung quanh trung đài bát diệp viện gồm bốn lớp, mỗi lớp có bốn viện. Mỗi viện biểu thị một phương diện độ sinh của Phật.
Cả hai bộ mạn-đà-la cũng có thể tượng trưng như hai bàn tay. Bàn tay mặt là Kim cang giới. Từ ngón út cho tới ngón cái, theo thứ tự: Về năm uẩn, ngón út là sắc uẩn, và lần lượt là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Về năm đại, năm loại trí, và năm vị Như Lai cũng theo thứ tự tương xứng đó. Về các ba-la-mật, tính từ ngón út: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn cho đến ngón cái là thiền định ba-la-mật.
Bàn tay trái là Thai tạng giới; cũng tính từ ngón út cho đến ngón cái theo thứ tự, với năm đại, năm uẩn, v.v… như bàn tay mặt. Về các ba-la-mật: huệ, phương tiện, nguyện, lực và trí.
Như vậy, khi hai bàn tay hiệp lại, trọn vẹn cả bi và trí của Phật. Đàn tràng chẩn tế được bố trí dựa trên căn bản vũ trụ luận khái lược, với một ít thay đổi. Đơn giản mà nói, đàn tràng được bố trí như là thâu gọn thế giới vũ trụ thành một thực tế hiện hữu cụ thể trước mắt. Lời chú trong Du già tập yếu của Bất Không Tam tạng[5], dưới đoạn nói về kết ấn hiện đàn (ấn kết theo thế kim cang quyền, mười ngón tay móc tréo vào) có ghi; “Đặt ấn này trước mình, tức khắc cả hư không giới đều trở thành đại mạn-đà-la[6].”
Mục đích của sự bố trí này là cốt khai triển năng lực gia trì hổ trợ của Phật (adhiṣṭhānādhiṣṭhita). Mật giáo nói: Phật thể hiện phương tiện độ sinh của Ngài bằng vào uy lực gia trì. Gia trì về ba phương diện, mà thuật ngữ gọi là “tam mật du-già”, tương xứng theo ba hành nghiệp của một chúng sinh: thân, miệng và ý. Sự gia trì, tức uy lực hỗ trợ của Phật, được thể hiện nơi thân của một chúng sinh qua các tư thế ngồi và các thủ ấn, nghĩa là các ngón tay của hai bàn tay giao nhau trong một tư thế nào đó đã quy định. Gia trì nơi miệng được thể hiện qua sự tụng niệm các chân ngôn. Ý mật gia trì nhờ sự quán tưởng về hình tướng Phật, hay các văn tự theo lối viết Brahmì, mà trong Phật giáo gọi là tự mẫu tất-đàm (siddhaṃ).
II
Sau khi thiết trí đúng pháp đàn tràng mạn-đà-la, và thể hiện đầy đủ tam mật du-già, người chủ trì, gọi là Gia trì sư, được coi như hóa thân của Phật, thay Ngài thuyết giới cho chúng hữu tình. Bài thỉnh sư do sư thị giả hay người trợ lễ đọc trước khi đăng đàn chẩn tế, nói:
寶座高高無礙 Bảo tọa cao cao vô ngại
上有天垂寶蓋 Thượng hữu thiên thùy bảo cái
請師那步登亶 Thỉnh sư na bộ đăng đàn
代為孤魂說戒 Đại vị cô hồn thuyết giới
(Bảo tọa cao vời không ngại, trên có trời giăng lọng báu. Thỉnh Sư dời bước lên đài, vì cô hồn mà thuyết giới).
Sư gia trì đứng dưới đàn đáp:
圓明一點本非空 Viên minh nhất điểm bổn phi không
了證無為向上宗 Liễu chứng vô vi hướng thượng tông
三世諸佛哪一步 Tam thế chư Phật na nhất bộ
權留寶座即吾登 Quyền lưu bảo tọa tức ngô đăng.
(Một điểm ngời sáng, tròn đầy, vốn không phải là không hư. Từ đó mà hoàn toàn chứng nhập vô vi, là tông chỉ siêu việt. Ba đời chư Phật không hề đến hay đi. Nhưng tôi sẽ bước lên bảo tọa được lưu lại nơi đây bằng phương tiện quyền xảo).
Đó là xác nhận bản thân và bản nguyện của Phật, rồi xác nhận sự tin tưởng về tam mật gia trì nơi mình. Sự xác nhận này là một phát biểu về tư tưởng triết lý của Đại thừa, không phải riêng của Mật giáo. Bản tánh của các pháp là Tánh không, vì do tương quan mà hiện khởi. Nhưng có hiện khởi tức không thuần là không hư. Cho nên hiệu là Như Lai, đúng như bản tánh của Pháp mà đến và cũng như các pháp mà đi. Trong tuyệt đối, Như Lai không đi cũng không đến. Vậy, bảo tòa cao vọi kia phía trên có chư thiên trương dù lọng ra che, là sự hóa hiện từ phương tiện đại bi tâm, Phật của Phật, cũng bằng vào đại bi tâm đó, gia trì sư sẽ bước lên bảo tọa vốn thiết trí dành cho ngài.
Sau khi bước lên bảo tọa, phần nghi lể mở đầu có bài tán khởi, nói:
會起蒙山最勝緣 Hội khởi mông sơn tối thắng duyên
覺皇垂範利人天 Giác hoàng thùy phạm lợi nhân thiên
經宣祕典超塗炭 Kinh tuyên bí điển siêu đồ thán
教演真乘救倒懸 Giáo diễn chân thừa cứu đảo huyền
難陀尊者因習定 Nan-đà tôn giả nhân tập định
救苦觀音示面燃 Cứu khổ Quan Âm thị Diện Nhiên
興慈濟物真三昧 Hưng từ tế vật chân tam muội
感果叨恩萬古傳 Cảm quả thao ân vạn cổ truyền.
(Do nhân duyên đặc biệt mà lễ hội Mông sơn được tổ chức. Đức Giác hoàng đã chỉ dạy một nghi thức làm lợi ích cho cả chư thiên và loài người. Lời Kinh nêu rõ pháp điển bí mật có khả năng siêu hóa từ chốn lầm than. Giáo thuyết diễn rộng ba thừa để cứu vớt khổ đau bị treo ngược. Tôn giả Nan-đà nhân bởi lúc tập định; lúc đó Bồ-tát Quan Âm, vì để cứu khổ, nên hiện thân làm quỷ Diện Nhiên (quỷ mặt lửa). Từ đó, nêu cao đức từ bi, cứu tế vật loại, là tam-muội chân thật. Quả được chiêu cảm, ân được ban cho, lưu truyền vạn cổ).
Hội khởi mông sơn chỉ cho khoa nghi chẩn tế được tập thành bởi ngài Mông Sơn. Nhưng khởi thủy vốn là do bi nguyện của đức Giác Hoàng, tức Phật. Ngài đã phương tiện thiết lập nghi thức này là làm lợi ích cho các cõi trời và người.
Khoa nghi thí thực này được truyền sang Trung hoa từ đời Đường do Bất Không Tam tạng, một truyền nhân của Mật giáo. Gọi đủ là Bất Không Kim Cang, tên dịch từ tiếng Phạn là Amoghavajra, người Bắc Ấn, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Trong số những kinh điển và khoa nghi của Mật giáo do ngài dịch, các tác phẩm liên hệ khoa thí thực cô hồn gồm có: Phật thuyết cứu bạt diệm khẩu ngạ quỉ đà-la- ni kinh[7], Thí ngạ quỉ ẩm thực cập thủy pháp[8], Du-già tập yếu cứu A-nan đà-la-ni Diệm khẩu quỉ nghi kinh[9] và Du-già tập yếu Diệm khẩu thí thực nghi[10].
Trong hai tác phẩm, Diệm khẩu kinh nói về nguyên nhân Phật dạy phép thí thực cô hồn. Bởi vì, vào một lúc nọ, giữa đêm khuya, ngài A-nan trong khi đang ngồi tu tịnh tại chỗ vắng, bỗng thấy một con quỉ gọi là Diệm Khẩu, miệng đỏ rực như lửa, thân hình quái dị ghê gớm, bảo A-nan ba ngày nữa ngài sẽ chết. A-nan nghe nói hoảng hồn, sáng hôm sau chạy tìm Phật hỏi phương tiện. Phật mới dạy phương pháp thí ngạ quỉ. Trước hết, phải theo một bậc thầy, mà Mật giáo gọi là A-xà-lê (ācāriya), đã chứng đến chỗ Du-già thậm thâm tam muội mà thọ pháp, học pháp vô thượng đại bồ-đề tâm, thọ tam muội giới, nhập Đại mạn-đà-la, chịu phép quán đảnh (tức phép truyền đạo bằng cách rưới nước lên đầu). Đàn tràng thì thiết trí theo Tam-muội-da mạn-đa-la (samaya-maṇḍala). Ở đây, Đại mạn-đa-la là tổng thể của các mạn-đà-la khác, an trí hình vẽ các Bổn tôn Du-già với các biểu hiệu cầm tay và thủ ấn, mỗi vị theo một dấu hiệu riêng nói lên bản thệ độ sinh của ngài; chữ tam-muội-da (samaya) nơi đây có nghĩa là bản thệ.
Về quyển Du già Tập yếu Diệm khẩu thí thực nghi, đoạn đầu có phần giới thiệu gốc tích, đại khái giống nhưDiệm khẩu kinh. Trong khoa nghi này, không nói cách bố trí đàn tràng nữa, mà chỉ trình bày các thủ ấn… các mật chú và các nghi thức tụng niệm. Đầu tiên là nghi thức sái tịnh đàn tràng, mặc niệm chú Đại luân minh vương và thủ ấn. Kế đó, thỉnh thập phương vô tận Tam bảo, Kim cang mật tích, Vệ pháp thần vương, vân vân, với thủ ấn “hiện đàn”. Mỗi phần về sau cũng đều có thủ ấn và mật chú như vậy. Phần cuối hết là văn tế thập loại cô hồn[11], phần này không có thủ ấn.
Trong một bài tựa cho Du già Diệm khẩu thí thực yếu tập, Bảo Hoa viết dưới thời vua Khang Hy, có dẫn sự lưu hành của khoa nghi này, nói rằng, nghi quỹ mà A-xà-lê Bất Không truyền, ngài Hải Thượng cho là quá đơn giản, nên soạn thêm. Về sau, ngài Thiên Cơ lại bớt đi những chỗ rườm rà, cho đến ngài Vân Thê hiệu đính lại lần nữa. Như vậy, sở dĩ không để quá đơn giản là muốn cho sự thực hành có vẻ long trọng. Nhưng cũng không quá rườm rà, bởi vì thời gian cúng thí không được kéo dài quá giờ hợi; vào giờ này, quỷ thần không ăn uống gì được nữa.
Tại Việt Nam, không rõ khoa nghi này được truyền vào lúc nào và do ai[12]. Nhưng gần đây cũng có ít nhất ba diễn nôm về phần văn thỉnh thập loại, dịch từ nguyên văn chữ Hán. Bản diễn Nôm được lưu hành nhất là của Hòa Thượng Bích Liên, suốt từ Nha Trang cho tới Bình Định, ai cũng coi bản Nôm này là hay nhất.
III
Đường bạch dương bóng chiều man mác
Ngọn đường đê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm
(Nguyễn Du, Văn tế thập loại)
Vào những năm đầu thập niên 70, do chiến tranh gây ra nhiều cảnh chết chóc hãi hùng, khoa nghi chẩn tế được thực hiện rất nhiều, nhất là tại Huế. Hầu như tháng nào ở đây cũng có ít nhất một đàn.
Sống lưng chừng giữa cái sống và cái chết, người sống đã không thể nói được những uất hận chính mình, thì mượn ẩn tình tha thiết của người chết mà nói thay:
Thương thay thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương khói đã không nơi nương tựa
Phận mồ côi lần lữa đêm đêm
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu.
(Nguyễn Du, đd.)
Nếu gác qua tính chất tôn giáo, cùng nền tảng triết lý của nó, khoa nghi chẩn tế được đem ra thực hiện ở nhân gian, một cách nào đó, là những tiếng than ai oán, và uất ức, của những con người cô khổ, sống kiếp lưu linh đày đọa. Tác dụng văn chương của nó có thể thấy rõ qua kiệt tác Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.
Nghi thức thực hành vẫn y nguyên chữ Hán[13], người không học chữ Hán tất nhiên không thưởng thức được khí vị văn chương trong đó. Tuy nhiên, khi đến đoạn thỉnh thập loại chúng sinh, bấy giờ thường gần khoảng giữa khuya tỉnh mịch, điệu thỉnh theo giọng ai của các kinh sư, mỗi người thay nhau đọc một đoạn, thì dù không hiểu lời văn, nhưng giọng văn vẫn có tác dụng truyền cảm đặc biệt. Cho nên, khi thiết lễ chẩn tế, không những người ta chỉ thỏa mãn một khía cạnh tín ngưỡng tôn giáo nào đó, mà còn là bị lôi cuốn bởi sức tác dụng văn chương và nghệ thuật qua giọng điệu thành khẩn thiết tha của nó.
Người nghe mà hiểu, thì có thể thấy cái đặc vị văn chương của nó là không lấy người sống làm đối tượng. Tình tự nồng nàn được phát tiết như là những tiếng ngậm hờn thiên cổ, sống không nói được, chết chôn vùi theo cát bụi. Văn chương điêu luyện và tao nhã[14], ý tứ thì thâm trầm mà nhiều ray rức. Người sống mà nghe được thì cũng có thể nghe ra một nỗi đời hư huyễn nào đó. Giấc mộng công hầu khanh tướng hay khát vọng trường sanh muốn đem sắc thân tứ đại giả hợp này mà vượt thoát ra ngoài cõi trần hoàn, tất cả rốt cuộc đều trở thành những nỗi oan khuất bị nhận chìm xuống đáy biển.
Dưới đây trích đoạn thỉnh:
Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những làm cất gánh non sông
(Nguyễn Du, đd.)
Đó là lời thỉnh những oan hồn lúc sống lăm le giấc mộng bá vương. Văn thỉnh chữ Hán nói:
(Sư gia trì đọc, giọng ai):
Lụy triều đế chúa, lịch đại hầu vương; cửu trùng điện khuyết cao cư, vạn lý sơn hà độc cứ.
累朝帝主歷代侯王九重殿闕高居萬里 河獨踞
(Một kinh sư bạch, cũng giọng ai):
Tây lai chiến hạm, thiên niên vượng khí nga thâu; bắc khứ loan dư, ngũ quốc oan thanh vị đoạn.
西來戰艦千年王氣俄收北去鸞輿五國 聲未斷
(Tất cả cùng xướng):
Ô hô!
(Vị kinh sư tiếp):
Đỗ quyên khiếu lạc đào hoa nguyệt
Huyết nhiễm chi đầu hận chánh trường
杜鵑嘯落桃花月
血染枝頭恨正長
Diễn Nôm của Hòa Thượng Bích Liên:
Trước thỉnh kẻ hoàng vương đế bá
Triều đại xưa trải quá biết bao
Đền đài chín lớp ở cao
Non sông muôn dặm chén vào một tay
Thuyền chiến phút đổi dời vượng khí
Xe loan còn rủ rỉ oan thanh
Hỡi ôi!
Đỗ quyên kêu suốt tàn canh
Máu hờn nhuộm mãi trên cành đào hoa
Mộng tranh hùng tranh bá, làm chúa làm vua, nay chinh Nam mai tảo Bắc. Nhưng rồi từng đêm suốt những canh dài, từng tiếng quốc kêu rủ rỉ, màu sương trăng lạnh phủ trên cánh hoa đào, giòng máu oan thiên hận sự bất thành nhuộm đỏ đầu cây ngọn cỏ. Vậy thì, giang sơn như họa còn đó, mà anh hùng hào kiệt một thời ở đâu, và đâu là ảo vọng của đời người?
Nói chi đương thuở thị hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau
Bỗng phút đâu lò bay ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rã rời
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỉ không đầu van khóc đêm mưa
Đã hay thành bại là cơ
Mà u hồn biết bao giờ cho tan
(Nguyễn Du, đd.)
Nhưng cũng có kẻ lúc sống đành cho thân và danh của mình cùng mục nát với cỏ cây, tìm những chỗ Đào nguyên hay Lãng uyển để tu chơn dưỡng tánh. Nhưng:
tam hoa cửu luyện, thiên tào vị hứa tiêu danh,
tứ đại vô thường, địa phủ nan dung chuyển hạn.
三花九煉天曹未許標名
四大無常地府難容轉限
Thuốc trường sinh đã mấy lần luyện, nhưng cung trời chưa ghi vào sổ trường sinh, mà cõi đời nông nỗi thì không khứng diên trì thời hạn:
Ô hô !
Lâm quán yên hàn đơn[15] táo lãnh
Tiếu đàn phong thảm hạnh hoa hi!
呜呼
臨觀煙寒蟬噪冷
焦壇風慘杏花希
Lò đơn lâm quán[16] lạnh sương
Tiếu đàn[17] gió thảm thổi tàn hạnh hoa
(HT. Bích Liên dịch)
Giấc mộng trường sinh bất tử, chẳng lẽ trong thoáng chốc chỉ còn ký thác cho ngọn gió gào thét hồn oan?
Chỗ khác là những bậc nuôi chí xuất trần, chống tích trượng phất phơ trên đỉnh núi cao vòi vọi. Nhưng rồi, “chuỗi hạt lần không mòn vách đá”, thì than ôi.
Hoàng hoa thúy trúc, không đàm bí mật chân thuyên,
Bạch cổ lê nô, đồ diễn khổ không diệu kệ.
Ô hô!
Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt
Thiền thất hư minh bán dạ đăng
黃花翠竹空談祕密真詮
白牯黎奴徒演苦空妙偈
嗚呼
經窗冷寢三更月
禪厔虛冥半夜燈
Làng hoa trúc nào câu mật đế
Nhà cổ nô[18] vấn kệ khổ không
Hỡi ôi!
Kinh song trăng thảm lạnh lùng
Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.
(HT. Bích Liên dịch)
Cuối cùng, người ta tự hỏi: ước mong muôn thuở của nhân sinh là gì? Mối hận mà lúc sống đã không xong, bấy giờ chôn vùi dưới đất nghìn năm, biết bao giờ mối hận mới đông thành một viên ngọc bích long lanh? Nhưng cũng có thể:
Nhờ phép Phật siêu sinh tĩnh thổ
Bóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.
(Nguyễn Du, Văn tế thập loại)
PHỤ CHÚ
MAṆḌALA
I. Ý NGHĨA
Tiếng Phạn, maṇḍala, Hán phiên âm thông dụng là mạn-đà-la 曼陀羅 Các phiên âm khác: mạn-tra-la 曼吒羅, mạn-đồ-la 曼荼羅, mạn-noa-la 曼拏羅, …Chỉ đàn tràng tác pháp, hay hành trì bí pháp của Mật giáo. Đó là khu vực cấm chế các qủy thần xâm nhập. Bên trong thiết trí các hình tượng hay biểu tượng, hay các ký tự tượng trưng một ý nghĩa nào đó. Đàn tràng có thể là hình vuông hay hình tròn. Nhưng thông thường được vẽ bằng hình tròn, nên Hán dịch nghĩa làluân viên 輪圓, hay luân viên cụ túc 輪圓具足. Đại nhật kinh sớ, quyển 4 giải thích:
“Mạn-đồ-la, có nghĩa là phát sinh. Tức là điều mà ở đây Kinh gọi là Phát sinh Chư Phật mạn-đồ-la 發生諸佛曼荼羅(Sarvabuddhasambhavamaṇḍa la). Gieo hạt giống Bồ đề (bodhibīja) vào trong mảnh đất tâm của Nhất thiết trí(sarvajñāna-cittabhāmi), rồi tưới nhuần bằng nước đại bi (mahākaruịavāri), soi rọi bằng mặt trời đại tuệ (mahāprajñāsūrya), cổ động bằng ngọn gió đại phương tiện (mahopāyavāyu), che bằng bầu trời đại không (mahāśūnyākāsa) bao la vô ngại, nuôi lớn dần chồi non của pháp tánh bất tư nghị (acintyadharmatākura) cho đến khi thành cây Phật cao lớn che phủ cả Pháp giới. Vì vậy, nói là phát sinh. (…) Mạn-đồ-la còn có nghĩa là tô lạc 酥酪, tức là chất béo tinh thuần của sữa đông lại và nổi lên mặt sữa. (…) Do đó, Kinh nói mạn-đồ-la là hương vị vi diệu tối thượng.(…) Bằng phương tiện của ba bí mật (trayāni guhyāni), khuấy đều sữa Phật tính của chúng sinh, cho đến trải qua năm vị mà thành chất đề hồ của diệu giác, hoà tan một cách thuần tịnh và vi diệu, nhưng không hề thêm bớt tự bản chất. Tập hội tất cả Kim cang trí ấn (Vajrajñānamudra) mà thành hương vị tối thượng đệ nhất trong cac vị cam lộ (amṛtarasa) chân tịnh bất biến.”
Tổng quát, theo giải thích trên, mạn-đà-la hay mạn-đồ-la có ba ý nghĩa: luân viên, hình tròn của bánh xe. Đây là từ dịch nghĩa tương đương chính xác với từ Phạn maṇḍala. Thứ hai, phát sinh, dịch nghĩa của từ Phạn udbhava hay sambhava. Thứ ba, đề hồ, coi maṇḍala như là từ phái sinh của maṇḍa. Từ ý nghĩa thứ ba này, về sau được chuyển thành ý nghĩatập hội. Theo nghĩa này, mạn-đà-la là chỗ tập hội của Phật, Bồ tát và Thánh chúng.
Phân loại theo hình thức, có bốn loại mạn-đà-la: Đại mạn-đà la, Tam-muội-da man-đà-la, Pháp mạn-đà-la và Kiết-ma mạn-đà-la.
Đại mạn-đà-la? 大曼荼羅(Mahà-maṇḍala): đàn tràng trong đó an trí hình tượng các Bổn tôn.
Tam-muội-da mạn-đà-la 三昧耶曼荼羅 (Samayamaṇḍala); tam-muội-da, tiếng Phạn, dịch là bản thệ ? 本誓. Đây là đàn tràn bố trí các biểu tượng của các Bổn tôn. Các biểu tượng này tượng trưng cho bản thệ và phương tiện độ sinh của các Ngài.
Pháp mạn-đà-la 法曼荼羅 (Dharmamaṇḍala) tức đàn tràng hay đồ hình trong đó bố trí các chủng tử tự (bījākṣara), tức các ký tự, hoặc nguyên âm hoặc mẫu âm. Mỗi ký tự ký hiệu tự tính của mỗi bổn tôn. Kiết-ma mạn-đà-la 羯摩曼荼羅 (Karmamaṇḍala), biểu tượng cho sự nghiệp độ sinh của các bổn tôn; thông thường, đây là đàn tràng an trí các hình tượng điêu khắc.
II. LƯỠNG BỘ MẠN-ĐÀ-LA, hay nói tắt:
KIM THAI LƯỠNG BỘ 金胎兩部
Hai bộ mạn-đà-la, gồm Kim cang giới (Vajradhātu) thuộc trí môn, và Thai tạng giới (Garbhadhātu) thuộc lý môn. Đó là từ trên một nhất tâm pháp giới (ekacitta-dharmadhātu) mà hiển thị thành hai môn: Lý (nyāya) và Trí (jñāna).
Lý, tức lý tính bình đẳng và phổ quát (samānatā); tất cả các pháp, hữu vi hay vô vi, thường nghiệm hay siêu nghiệm, duy là nhất thể vô phân biệt (aviśeṣatā). Khi trí tuệ nhận thức tồn tại từ lý tính, từ nhất thể vô phân biệt, thì tất cả tồn tại là chân không (śūnya). Nhận thức như thế là không nhận thức gì cả. Lý và trí là Tuyệt đối Bất nhị (advaitā). Nhưng tác dụng của trí là nhận thức, là khám phá ra tính đặc thù trong mỗi yếu tính tồn tại. Ở đây, trí tức là nhận thức sai biệt (viśeṣajñāna) về tính đặc thù hay sai biệt (viśeṣatā) của vạn hữu.
Để biểu thị ứng dụng vô cùng của lý tính bìng đẳng và trí tuệ sai biệt như vậy, Mật giáo thiết lập hai bộ mạn-đà-la. Căn cứ trên giáo nghĩa của kinh Đại nhật, tức Đại-tỳ-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh 大毘盧遮那成佛神變加持經 (Mahā-Vairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulya-sūtrendrarāja-nāma-dharmaparyāya)[19], Mật giáo thiết lập Thai tạng bộ, biểu hiện đại bi phương tiện cứu thế, phát xuát từ lý tính bình đẳng. Mặt khác, căn cứ trên giáo nghĩa của kinh Kim-cang đỉnh, gọi đủ là Kim cang đỉnh nhất thiết Như lai chân thật nhiếp Đại thừa hiện chứng Đại giáo vương kinh 金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教 經 (Vajraśekhara-sarvatathāgata-satya-saṅgraha-mahāyāna-pratyutpannābhisambuddha-mahātantrarāja-sūtra)[20], thiết lập Kim cang đỉnh bộ, thuyết minh sai biệt trí.
Kim cang giới (Vajradhātu) biểu thị ý nghĩa tùng bản thùy tích從本垂跡, nghĩa là, thuyết minh lịch trình hiện tượng hóa của vạn hữu. Tức là, từ lý tính bình đẳng, từ nhất thể vô phân biệt, vạn hữu chuyển hiện thành thiên sai vạn biệt. Nhưng sai biệt tính vẫn không tách rời vô phân biệt; đó là thể Tuyệt đối bất nhị. Thai tạng giới (Garbhadhātu) thuyết minh quá trình tu tập và chúng ngộ, đi từ nhân là đại bi, với vô số phương tiện độ sinh sai biệt, cho đến khi chứng nhập lý tính bất nhị.
Nói tóm lại, do căn tính sai biệt của chúng sinh mà sự hành trì cũng có những sai biệt. Tuy vậy, con đường dẫn đến giác ngộ vẫn được kinh qua trên cỗ xe hai bánh là đại bi và đại trí.
--------------------------------------------------------------------------------
Chú thích
[1] Nghi thức chúng cô hồn bằng nôm, HT Bích Liên, bản chép tay của Thich Nguyên Trạch, Bình định
[2] Xem phụ chú 1 ở cuối bài.
[3] Xem phụ chú 2 ở cuối bài.
[4] Trong Hiển giáo, sắc pháp dược phân tích thành 4 yếu tố cơ bản gọi là 4 đại chủng (mahābhūta). Trong Mật giáo, một yếu tố thứ năm được thêm vào, là không đại (ākāsadhātu), do tương đối với ngũ trí.
[5] Du-già tập yếu cứu A-nan đà-la-ni Diệm khẩu quỹ nghi kinh, Đường Bất Không dịch; Đại XXI, No. 1318.
[6] Về đại mạn-đà-la, xem phụ chú 1.
[7] Đại XXI. No. 1313. Tham chiếu, Phật thuyết cứu Diện nhiên ngạ quỷ đà-la-ni thần chú kinh, Đường Thật-xoa-nan-đà dịch; Đại XXI, No. 1314.
[8] Đại XXI, No. 1315. Tham chiếu, Phật thuyết cam lộ kinh đà-la-ni chú, vô danh dịch, Đại XXI, No.1316; Cam lộ đà-la-ni chú , Đường Thật-xoa-nan-đà dịch,Đại XXI, No. 1317.
[9] Đại XXI, No.1318. Tham chiếu, Du-già tập yếu Diệm khẩu thí thực khởi giáo A-nan-đà tự do, Đường Bất Không dịch, Đại XXI, No.1319.
[10] Vô danh dịch, Đại XXI, No.1320. Tham chiếu, Phật thuyết thí ngạ quỷ cam lộ vị đại đà-la-ni kinh, Đường Bạt-đà-mộc-a dịch, Đại XXI, No.1321.
[11] Về thập loại cô hồn, theo liệt kê của Du-già tập yếu Diệm khẩu thí thực nghi, Đại XXI, tr. 483b: 1. Thủ hộ quốc giới: những oan hồn “vị quốc vong than.” 2. Phụ tài khiếm mạng: chết vì oan gia trái chủ, nợ nần, trụy thai. 3. Khinh bạc Tam bảo: bất hiếu, bội nghịch vô đạo. 4. Giang hà thủy nịch: thương khách chết sông chết biển. 5. Biên địa tà kiến: những người sống tại biên ải hẻo lánh. 6. Ly hương khách địa: cô khổ phiêu bạt, chết đường chết xá. 7. Phó hỏa đầu nhai: tự tử, nhảy sông, nhảy núi, chết đâm, chết cháy. 8. Ngục tù trí mạng: chết trong ngục tù. 9. Nô tì kết sứ: nô lệ cùng khổ, chết vì đày đọa lao dịch. 10. Manh lung ám á: đui, què, câm, điếc, không người chiếu cố. Thập loại theo khoa nghi Mông sơn, và thập loại trong văn tế Nguyễn Du có vài chỗ không đồng nhất.
[12] Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 4: triều Lý Anh tông, niên hiệu Đại định 11 (1150), Đỗ Anh Vũ bị tội. Để cứu tình nhân của mình, Lê Thái hậu tổ chức nhiều pháp hội, và vua ban hành lệnh đại xá thiên hạ. Nhờ vậy, Anh Vũ được hưởng lây, và lần lần phục chức. Không hiểu các pháp hội này có lập trai đàn hay không. Thiền uyển tập anh: Tăng thống Huệ Sinh, tịch năm Gia khánh thứ 6 (1064), đời vua Lý Thánh tông, có để lại tác phẩm Pháp sự trai nghi, rất có thể có nói đến nghi thức chẩn tế. Nhà Nguyễn, các Chúa thường hay tổ chức các pháp sự hay trai đàn tại chùa Linh mụ. Theo tiểu sử chùa, năm giáp ngọ, dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, chùa được trùng tu, nhân đó, Chúa cho tổ chức đại trai đàn. Gia long năm thứ 2 (1803), Vua tổ chức trai đàn bạt độ cho các quan linh tử trận. Ngoài ra còn nhiều tư liệu khác để có thể viết được sự phát triển và phổ biến trai đàn chẩn tế. Nhưng việc ấy dành cho các nhà viết sử. Ở đây chỉ đề cập đại khái.
[13] Cũng có bản dịch nôm, như của HT Bích Liên. Nhưng các thầy vì sính chữ Hán nên ít ai chịu làm theo khoa nghi tiếng Việt.
[14] Thực tế thì văn thỉnh thập loại chữ Hán không phải là áng văn chương nổi tiếng của Trung hoa. Văn từ phần nhiều sáo rỗng, nhiều điển tích vô hồn. Nhưng được cho là hay, vì thói quen. Và cũng do trình độ thưởng thức văn chương của người nghe.
[15] Nguyên âm Hán là thiền (con ve), nhưng quen đọc là đơn.
[16] Đền hay miếu, nơi thờ tự của đạo sĩ.
[17] Chỉ đàn cúng tế của đạo sĩ.
[18] Bạch cổ lê nô: con bò trắng và nô lệ đen; chỉ chuông mõ nhà chùa.
[19] Tên tĩnh lược: Đại nhật kinh, hay Đại tì-lô-giá-na kinh; Skt. Mahāvairocanābhisambodhi. Đường Tam tạng Thiện Vô Úy dịch (Khai nguyên 13, AD.725), Đại XVIII, No. 848.
[20] Tên kinh gọi lược: Kim cang đỉnh, hay Nhiếp Đại thừa hiện chứng. Đường Bất Không dịch (Thiên bảo 3, AD.753), Đại XVIII, No.865.
http://www.phapvan.ca/web/Detail.asp...%20B%E1%BA%A1t
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=AaHpv8QWZPM
https://ruclip.com/video/AaHpv8QWZPM...-practice.html
密宗行者在和合石墳場施煙供Smoke Offering Practice
Xuất bản 13 Th04, 2009
密宗行者在和合石墳場施煙供Smoke Offering Practice
Smoke Offering Practice 煙供法
鬼道是十分痛苦
the Smoke Offering's principle deity is the Four-Armed Kuan Yin(Four Armed Chenrezig) 四臂觀音
the mantra chanting would be the Four-Armed Kuan Yin and Om Mani Padme Hum (108 times).
在密教裡的規定,這個煙裡一定要放 �些東西 的。第一種,是檀香粉。第二種是麵 �,炒過的,但是不加油;可以加上 � ��奶粉、糙米粉、花生粉、豆粉等 穀 的粉。第三種,是紅糖跟白糖混合的 �第四種是紅 色小塊的布、白色小塊的布、藍色小 �的布、綠色小塊的布、黃色小塊的 � ��剪成四方形小小的布。第五種是 種 或者是香枝,作為點燃用。
唸咒語「嗡。阿。吽」。「嗡」,還 �唸「讓。養。康」。
「嗡。阿不拉底。普巴呀。梭哈。」
灑甘露水
放金光明沙
-
https://www.youtube.com/watch?v=hqunKrd7yas
傳喜法師---《蒙山煙供施食儀軌》
==============
《蒙山烟供施食仪轨》(传喜法师整 ) (2011-10-10 14:42:47)转载▼
标签: 传喜法师 杂谈 分类: 火供、烟供、施食、火施
转自 http://www.chuanxi.com.cn/bbs/topicd...=4785&toPage=1
蒙山烟供施食仪轨
一、莲师祈祷文: (金刚七句祈请文)(三遍)
吽 邬金刹土西北隅 莲茎花胚之座上 稀有殊胜成就者 世称名号莲花生 空行眷属众围绕 我随汝尊而修持 为赐加持祈降临 格热巴玛悉地吽
二、加持咒: (三遍) (此咒摘于《噶当祖师问道语录》,为 母传与阿底峡尊者,其功德能使念诵 增一千万倍)
嗡 桑巴惹 桑巴惹 波玛纳萨惹 玛哈藏巴巴吽帕的 梭哈
三、 八圣吉祥颂:
嗡 现有自性清净任运成 安住十方吉祥刹土中 诸佛正法僧伽圣者众 顶礼一切愿我等吉祥(铃) 灯王佛贤勇义成就佛 慈严德佛善名胜德佛 一切义持广大名称佛 如须弥山圣力名德佛 垂念一切众生名德佛 威力吉祥名称遂愿佛 仅闻圣名增德增吉祥 吉祥八大善逝敬顶礼 文殊童子具德金刚手 圣观自在怙主慈氏尊 地藏菩萨并与除盖障 圣尊普贤菩萨虚空藏 青莲金刚白莲那伽树 如意摩尼宝剑日月轮 持善标帜吉祥殊胜德 八大菩萨勇士敬顶礼 殊胜宝伞吉祥黄金鱼 如意宝瓶悦意妙莲花 悦音海螺圆满吉祥结 不朽胜幢自在金轮宝 殊胜标帜八胜吉祥宝 供养十方三世一切佛 仅念嬉女圣众即增祥 八大吉祥天女敬顶礼 大梵大自在天遍入天 千目帝释与持国天王 增长天王龙王广目天 多闻天王各持天宝物 轮三叉戟短枪金刚杵 琵琶宝剑宝塔胜宝幢 三界增上善妙与吉祥 世间八大护法敬顶礼 我等如今所作诸事业 一切障难恼害悉消泯 顺缘增长所愿如意成 祈愿吉祥如意悉圆满
四、供养仪轨
一切人天内外胜资具 妙乐饰鬘美食华衣等 诸佛菩萨愿力所化现 祈以普贤云供作庄严
五、云供咒:(三遍)
南无惹纳札雅雅 南无巴嘎瓦得 班杂萨惹抓玛日达呢 达塔嘎达雅 阿哈得三雅桑波达雅 达雅塔 嗡 班贼日 班贼日 玛哈班贼日 玛哈得匝 班贼日 玛哈波雅 班贼日 玛哈波德泽达班贼日 玛哈波德曼卓巴桑札玛纳 班贼日 萨日瓦嘎日玛阿瓦惹纳波效达纳 班贼日 梭哈 (一遍)
一切有情之怙主 降尽魔众之天尊 万法如是遍知者 诸佛眷属祈莅临 悲悯我等众生故 以汝神通幻变力 乃至我作供养间 祈请诸佛常安住
六、大方广佛华严经入不思议解脱境 普贤行愿品:(七支供) 唐三藏般若 奉诏译(第四十卷偈颂)
所有十方世界中,三世一切人师子, 以清净身语意,一切遍礼尽无余。普 行愿威神力,普现一切如来前,一身 复现剎尘身,一一遍礼剎尘佛。于一 中尘数佛,各处菩萨众会中,无尽法 尘亦然,深信诸佛皆充满。各以一切 音声海,普出无尽妙言辞,尽于未来 切劫,赞佛甚深功德海。以诸最胜妙 鬘,伎乐涂香及伞盖,如是最胜庄严 具,我以供养诸如来。最胜衣服最胜 ,末香烧香与灯烛,一一皆如妙高聚 我悉供养诸如来。我以广大胜解心, 深信一切三世佛,悉以普贤行愿力, 遍供养诸如来。我昔所造诸恶业,皆 无始贪嗔痴,从身语意之所生,一切 我今皆忏悔。十方一切诸众生,二乘 学及无学,一切如来与菩萨,所有功 皆随喜。十方所有世间灯,最初成就 菩提者,我今一切皆劝请,转于无上 **。诸佛若欲示涅槃,我悉至诚而劝 ,唯愿久住刹尘劫,利乐一切诸众生 所有礼赞供养福,请佛住世转**,随 忏悔诸善根,回向众生及佛道。
七、破地狱真言:(七遍)
唵 伽啰帝耶 娑婆诃
八、普召请真言:(七遍)
南无 部部帝利 伽哩哆哩 怛哆誐哆耶
九、解怨结真言:(七遍)
唵 三陀啰伽陀 娑婆诃
十、开咽喉真言:(七遍)
唵 布布帝哩伽哆哩 怛哆誐哆耶
十一、皈依、发心:(三遍)
诸佛正法贤圣三宝尊 从今直至菩提永皈依 我以所修施等诸资粮 为利有情故愿大觉成
十二、四无量心:(三遍)
愿诸有情具乐与乐因 愿诸有情离苦与苦因 愿有情不离无苦之乐 愿有情离亲疏悉平等
十三、发菩提心:(三遍)
如昔诸善逝 先发菩提心 复此循序住 菩萨诸学处 如是为利生 我发菩提心 复于诸学处 次第勤修学
十四、赞叹:
今生吾获福 善得此人身 复生佛家族 今成如来子 尔后吾当为 宜乎佛族业 慎莫染污此 无垢尊贵种 犹如目盲人 废聚获至宝 生此菩提心 如是我何幸 今于怙主前 筵众为上宾 宴飨成佛乐 普愿皆欢喜
发愿次第:菩提心妙宝 未生者当生 已生勿退失 辗转益增长 愿不舍觉心 委身菩提行 诸佛恒提携 断尽诸魔业 愿菩萨如意 成办众生利 愿有情悉得 怙主慈护念 愿众生得乐 诸恶趣永尽 愿登地菩萨 彼愿皆成就
十五、文殊礼赞: 南无大智文殊师利菩萨摩诃萨 谁之智慧 离二障云 犹如净日极明朗 所有诸义 如实观故 胸中执持般若函 诸有于此 生死牢狱无明暗覆苦所逼 众生海中 悲同一子 聚足六十韵音语 如大雷震 烦恼睡起 业之铁索为解脱 无明暗除 苦之苗芽尽皆为断挥宝剑 从本清净究竟十地 功德身圆佛子最胜体 百一十二相好庄严 除我心暗 敬礼妙吉祥
唵 阿惹巴札那德 (三遍)
十六、现有自在摄受祈祷文(大加持云) :(三遍)
嗡阿吽舍 大乐炽然自在宫殿中 乐空圣妙观察智慧身 离欲具乐莲花自性中 金刚日尊大光明威德 法身无量光佛金刚法 世间自在大慈大悲身 驾御轮回涅槃莲花王 摧伏三有雄威黑如迦 秘密智慧金刚亥母尊 胜乐妙欲之王大乐藏 摄诸众生心识作明母 胜共手印自在乐空舞 怀柔金刚勇士空行聚 现空广大平等自性中 金刚身之游舞震三有 无碍语之笑声召三界 红光周遍轮涅一切处 撼动聚集有寂之精华 依于金刚大欲之意乐 赐予所欲二种胜悉地 施以金刚铁钩大绢索 万有显现摄缚大乐中 无边幻网之中游舞者 犹如芝麻荚开而安住 怀柔圣众浩瀚三根本 至诚恭敬祈祷垂加持 一切所欲胜共诸悉地 无碍自在成就祈垂赐 (铃)
十七、回向魔祟部多火施仪轨(解脱一 恶缘):(一遍)(将炒面与酥油、饼、 等食物《掺和少许甘露丸等圣物更佳 混合而烧,于洒少许水。自观为圣观 世音,于诸所缘众生,生起猛厉悲心 )
消除痛苦祈祷文 (三遍) 三宝功德真实光明云 普降大悲温润清凉雨 加持弟子令成威德者 步履之处顿空痛苦城 (观想大悲观世音菩萨,念六字大命咒) :唵 嘛 尼 贝 美 吽
十八、增广加持咒(即“变食真言” —明空版主注):(七遍)
嗡 阿 吽 南无 萨瓦 达塔嘎达 阿瓦洛格得 嗡 桑巴惹 桑巴惹 吽
十九、四如来圣号:(三遍)
南无多宝如来 南无妙色身如来 南无广博身如来 南无离怖畏如来 (如是念诵圣号,加持所烧食物,观想 所缘众生大乐性之无尽所欲受用品。 )
伙 具六妙欲烧施供 随其所欲成供云 充满天地虚空界 无尽安乐此大藏(铃) 六道一切悲客前 尤于此方漂游之 魔类债主怨敌众 谗鬼夺命凶死鬼 病主瘟神耗失主(铃) 驱使乡鬼家亲鬼 以诸贪欲吝啬心 随逐于人与财物 或以嫉妒嗔恨心 于诸有情损害者 寻香并与中阴身 饿魔耗财饿鬼类(铃) 为轮回业所驱使 种种身形常奔波 种种饮食遍寻觅 种种不同诸意行 遍作种种损恼事 种种大权小势之 一切魔祟部多前 不分胜败无偏私 如意回向无尽藏 随其所欲获得已 障害恶毒悉消除 愿皆具足菩提心 贪生爱命窃夺魂 贪婪财宝盗饮食 妨害吉祥诸部多 以此供施愿饱足 宿世怨债悉还清 仇恨罪障咸清净 痛苦烦恼愿息灭 以此供施我回向
愿诸部多皆饱足 我与一切诸有情 非时死与疾病等 一切违缘皆远离(铃) 诸所希欲恒满足 身处魔障悉解脱 所愿障碍尽消除 吉祥如意愿圆满 以彼等性菩提力 一切能害与所害 寂灭大乐法界中 愿获无别正觉果 一切如同虚空藏 愿诸受用无间断 无诤亦无诸损恼 愿自享用悉自在 具足无漏六妙欲 以无耽执受用已 即证无我平等义 愿得无生法性身 以我清净福德力 诸佛如来加持力 及与法界缘起力 为利一切有情故 一切所愿诸事业 于此无尽世间界 如其所有尽所有 无碍出生愿皆成 南无地藏王菩萨 (多念)
廿、莲师语:(三遍)
三界清净剎 三有大悲客 充遍无尽食 以证法性力 回向无尽藏 南无莲花生大士 (多念)
嗡阿吽
嗡 玛尼巴美吽 舍 (百遍以上)
廿一、常修回向替身朵玛之简略仪轨 (替身朵玛或烧食供以三字总持咒、桑 惹咒、四圣号作加持)
伙 具众妙欲替身食
伙 具众妙欲烧食供 于此漂游居住之 希求贪恋损恼者 各种身相遍寻觅 于此一切魔部众 回向令喜获满足 苦难违缘诸迷乱 愿解脱于大乐界 (丢食物) 大力鬼众速速取 欲望贪执与恋着 忆念爱染意乐触 愿获释然寂解脱(铃) 啊---------------
(如是念诵,能使死亡病痛等,灾难解 恼害息,恶缘消除所愿成。萨玛雅! 《密》木龙年月日,为德《麦彭仁波 》所造,愿增吉祥!)
附:食子简易作法 将面团揉匀,于左手心握成柱状,并 右手拇指,食指、中指于虎口处将上 揑尖,下端以拇指抵平,再揑一小团 球黏于中部,数量多多益善。于“且 且吉 ”或“阿阿阿阿 ”后,将食子掷于户外即可。
廿二、超脱轮回祈祷文:(三遍)
贤劫千佛心 响崖大德知 现后中救我 脱轮到菩提
南无白玛邓登大士 (多念)
廿三、往生净土神咒:(三至七遍)
南无阿弥哆婆夜 哆他伽哆夜 哆地夜他 阿弥利都婆毗 阿弥利哆 悉耽婆毗 阿弥利哆 毗迦兰帝 阿弥利哆 毗迦兰哆 伽弥腻 伽伽那 枳哆迦利 娑婆诃
廿四、经中偈:
以此广大布施力 愿诸众生自成佛 过去如来未度者 由此供施愿得脱 所有部多愿集此 或居地上或住空 于诸群生常行慈 愿于昼夜勤行法 平息八万魔部类 违逆害缘皆远离 顺缘成就且圆满 愿此吉祥如意成
廿五、普贤行愿品(发愿):(或念诵《 六、愿海经髓------普贤剎之杲日》)
「我随一切如来学,修习普贤圆满行 供养一切诸如来,及与现在十方佛。 来一切天人师,一切意乐皆圆满,我 愿普随三世学,速得成就大菩提。所 十方一切刹,广大清净妙庄严,众会 绕诸如来,悉在菩提树王下。十方所 有诸众生,愿离忧患常安乐,获得甚 正法利,灭除烦恼尽无余。我为菩提 行时,一切趣中成宿命,常得出家修 净戒,无垢无破无穿漏。天龙夜叉鸠 荼,乃至人与非人等,所有一切众生 ,悉以诸音而说法。勤修清净波罗密 ,恒不忘失菩提心,灭除障垢无有余 一切妙行皆成就。于诸惑业及魔境, 间道中得解脱,犹如莲华不着水,亦 如日月不住空。悉除一切恶道苦,等 一切群生乐,如是经于刹尘劫,十方 益恒无尽。我常随顺诸众生,尽于未 来一切劫,恒修普贤广大行,圆满无 大菩提。所有与我同行者,于一切处 集会,身口意业皆同等,一切行愿同 修学。所有益我善知识,为我显示普 行,常愿与我同集会,于我常生欢喜 。愿常面见诸如来,及诸佛子众围绕 ,于彼皆兴广大供,尽未来劫无疲厌 愿持诸佛微妙法,光显一切菩提行, 竟清净普贤道,尽未来劫常修习。我 于一切诸有中,所修福智恒无尽,定 方便及解脱,获诸无尽功德藏。一尘 有尘数刹,一一刹有难思佛,一一佛 处众会中,我见恒演菩提行。普尽十 诸刹海,一一毛端三世海,佛海及与 土海,我遍修行经劫海。一切如来语 清净,一言具众音声海,随诸众生意 音,一一流佛辩才海。三世一切诸如 ,于彼无尽语言海,恒转理趣妙**, 深智力普能入。我能深入于未来,尽 一切劫为一念,三世所有一切劫,为 念际我皆入。我于一念见三世,所有 切人师子,亦常入佛境界中,如幻解 脱及威力。于一毛端极微中,出现三 庄严剎,十方尘剎诸毛端,我皆深入 严净。所有未来照世灯,成道转法悟 群有,究竟佛事示涅盘,我皆往诣而 近。速疾周遍神通力,普门遍入大乘 ,智行普修功德力,威神普覆大慈力 。遍净庄严胜福力,无着无依智慧力 定慧方便威神力,普能积集菩提力, 净一切善业力,摧灭一切烦恼力,降 服一切诸魔力,圆满普贤诸行力。普 严净诸剎海,解脱一切众生海。善能 别诸法海,能甚深入智慧海。普能清 净诸行海,圆满一切诸愿海,亲近供 诸佛海,修行无倦经劫海。三世一切 如来,最胜菩提诸行愿,我皆供养圆 满修,以普贤行悟菩提。一切如来有 子,彼名号曰普贤尊,我今回向诸善 ,愿诸智行悉同彼。愿身口意恒清净 ,诸行刹土亦复然,如是智慧号普贤 愿我与彼皆同等。我为遍净普贤行, 殊师利诸大愿,满彼事业尽无余,未 来际劫恒无倦。我所修行无有量,获 无量诸功德,安住无量诸行中,了达 切神通力。文殊师利勇猛智,普贤慧 行亦复然,我今回向诸善根,随彼一 常修学。三世诸佛所称叹,如是最胜 大愿,我今回向诸善根,为得普贤殊 胜行。愿我离欲命终时,尽除一切诸 碍,面见彼佛阿弥陀,即得往生安乐 。我既往生彼国已,现前成就此大愿 ,一切圆满尽无余,利乐一切众生界 彼佛众会咸清净,我时于胜莲华生, 睹如来无量光,现前授我菩提记。蒙 彼如来授记已,化身无数百俱胝,智 广大遍十方,普利一切众生界。乃至 空世界尽,众生及业烦恼尽,如是一 切无尽时,我愿究竟恒无尽。十方所 无边刹,庄严众宝供如来,最胜安乐 天人,经一切刹微尘劫。若人于此胜 愿王,一经于耳能生信,求胜菩提心 仰,获胜功德过于彼。即常远离恶知 ,永离一切诸恶道,速见如来无量光 ,具此普贤最胜愿。此人善得胜寿命 此人善来人中生,此人不久当成就, 彼普贤菩萨行。往昔由无智慧力,所 造极恶五无间,诵此普贤大愿王,一 速疾皆消灭。族姓种类及容色,相好 慧咸圆满,诸魔外道不能摧,堪为三 界所应供。速诣菩提大树王,坐已降 诸魔众,成等正觉转**,普利一切诸 识。若人于此普贤愿,读诵受持及演 ,果报唯佛能证知,决定获胜菩提道 。若人诵持普贤愿,我说少分之善根 一念一切悉皆圆,成就众生清净愿。 此普贤殊胜行,无边胜福皆回向,普 愿沉溺诸众生,速往无量光佛剎。」
廿六、愿海精髓------普贤剎之杲日:
无边二资功德所成身 具足六十支分梵音语 十力功德周遍圆满意 天中胜天仁王祈垂念 极剧三苦摧残之众生 谁以广大慈悲近摄受
为欲二利所愿如意成 而发无上殊胜菩提心 我亦乃至等空众生尽 不贪自利寂乐之享受 依于利他如饰胜意行 从而趣入三有之大城
所有生世慧藏唯一父 文殊勇士欢喜而摄受 由从普贤大愿所开显 如海菩萨行处愿圆满 未来导师九百九十六 于此剎中示现成佛时
恒时随行愿成胜弟子 愿获广弘事业威猛力 一切贤劣业系众有情 此生命终往生极乐剎 获得无量光佛语授记 智悲力之威势愿圆满
无垢圣教兴盛常住世 无偏众生享受胜利乐 意中所愿恒时唯有此 祈赐加持成办圣谛语 吉祥谓之圆满四部藏 成就众生生存之妙药
遍寻不得违逆与衰败 善妙光明三地愿普照
廿七、回向 (一):
愿生西方净土中 九品莲花为父母 花开见佛悟无生 不退菩萨为伴侣
廿八、尊胜佛母心咒:(七遍)
嗡 普隆 梭哈 嗡 阿弥达 阿优达底 梭哈
廿九、药师灌顶真言:(七遍)
南无薄伽伐帝 啤沙社 寠鲁薜琉璃 跋喇婆 喝啰舍也 怛他揭多耶 阿啰喝帝 三藐三勃陀耶 怛侄他 唵 啤沙逝 啤沙逝 啤沙社 三没揭帝 梭哈
三十、成就所愿誓言:
以佛所获三身之加持 法性不变真谛之加持 僧众不退意乐之加持 如是回向发愿悉成就 (咒)
成就所愿咒:达雅塔 班赞哲雅 阿瓦波达呢耶 梭哈(三遍)
三十一、回向 (二):
火施功德殊胜行 无边胜福皆回向 普愿沉溺诸众生 速往无量光佛剎
三十二、吉祥偈: (三遍)
愿昼吉祥夜吉祥 昼夜六时恒吉祥 一切时中吉祥者 愿诸上师哀摄受 愿昼吉祥夜吉祥 昼夜六时恒吉祥 一切时中吉祥者 愿诸三宝哀摄受 愿昼吉祥夜吉祥 昼夜六时恒吉祥 一切时中吉祥者 愿诸护法常拥护
三十三、准提佛母心咒:(七遍)
唵 折戾 主戾 准提 娑婆诃 吉祥圆满
http://blog.sina.com.cn/s/blog_4fa9606f0102dul9.html
-
【成就所愿咒】或称【决定速急满愿 】---------达雅塔,班赞哲雅阿瓦波达呢耶梭哈
【成就所愿咒】或称【决定速急满愿 】---------达雅塔,班赞哲雅 阿瓦波达 呢耶梭哈 !!!
呢:ne ;呢耶(两个字连读) ——出自喇荣课诵集 这是愿五根完全得以清净的增变咒。
http://blog.sina.com.cn/s/blog_7fc074f201010c14.html
==========
14.成就所願咒
達雅塔 班贊哲雅 阿瓦波達 呢耶所哈
-
-