OM TARA TURI SWAHA
Printable View
OM TARA TURI SWAHA
藥 師 如 來 琉 璃 光,
焰 網 莊 嚴 無 等 倫,
無 邊 行 願 利 有 情,
各 遂 所 求 皆 不 退.
一 心 頂 禮; 南 無 東 方 淨 琉 璃 世 界 消 災 延 壽 藥 師 如 來 琉 璃 光 王 佛.
Dược sư Như Lai Lưu Ly Quang,
Diễm võng trang nghiêm vô đẳng luân,
Vô biên hạnh nguyện lợi hữu tình,
Các toại sở cầu giai bất thối.
Nhất tâm đính lễ: Nam mô Đông phương Tịnh lưu ly thế giới Tiêu tai diên thọ Dược sư Như Lai Lưu ly quang vương Phật.
https://viengiac.info/2015/09/le-chu...-贊-三-寶/
https://garchen.net › 2020/09PDF
Kết quả tìm kiếm trên web
Bảy Đoạn Kệ Khẩn Nguyện Đấng Bảo Hộ Quan Âm Tara
góp ý hoàn thiện, để phù hợp với bản tiếng Anh do Ina ... học giả Atisha thốt ra. ... Tara,. Hóa hiện từ chủng tự TÂM. Trên đỉnh đầu ngài là Đức A Di. Đà,.
https://ratnashrivn.org › khan...PDF
Bình luận khẩn nguyện bảy mẹ hiền tara - Dharma / Giáo pháp
Tara xuất hiện trên bầu trời. Tổ Kyobpa ... bằng cả trái tim và niềm sùng mộ với đức Tara, tôi có thể đảm bảo rằng thực hành của bạn ... trong những trung tâm ra đời sớm nhất của dòng Drikung Kagyu, được thành lập
https://m.facebook.com/story.php?sto...25669694171770
CẢI MỆNH CHỮA BỆNH
Bằng Thần Chú - Bằng Niệm Chú
+ Tụng Mật Chú: Mật Chú có nhiều quyền lực trong việc chữa trị bệnh tật khi tụng bằng tâm chân thành, tập trung sâu sắc, và ý định chính đáng. Chú Đại Bi và Chú Phật Dược là hai ví dụ như vậy. Khi tụng, mỗi Mật Chú tạo ra số lượng công đức to tát và có tác dụng chữa bệnh và biến đổi tuyệt vời (Nguồn: Phật giáo với y học)
+ Chữa Bệnh Bằng Niệm Chú/ Thần Chú: Trong Phật kinh nói đến "niệm chú", đích thực đây là phương pháp rất cao minh. Khi bị bệnh, Phật dạy bạn niệm chú, chú vừa niệm thì bệnh liền khỏi. Chúng ta cảm thấy việc này rất thần kỳ, thần kỳ không ngờ, kỳ thật phương pháp này rất là khoa học, nó là dùng âm nhạc để chấn động, làm cho bộ phận không thông này của bạn được đã thông. Trong Phật kinh có rất nhiều chú ngữ dùng để trị bệnh, hiện tại chúng ta niệm không linh, là vì âm niệm không chính xác, cho nên việc này nhất định phải có truyền thừa, phải khẩu truyền. Âm không chính xác thì không đạt được hiệu quả. Ngoài ra âm lượng cần phải có lớn nhỏ, phải là lời rất chuẩn xác, thì nó sẽ chấn động một bộ phận nào đó trong nội tạng thân thể bạn. Phương pháp này của Phật còn cao minh hơn so với châm cứu Trung Quốc. Châm cứu còn phải dùng kim, còn phải dùng tay để xoa bóp, phương pháp của Phật không cần thiết như vậy, dùng âm thanh để chấn động. Phương pháp rất cao minh, rất đáng tiếc là văn tự chú ngữ này ghi chép còn ở trong Đại Tạng Kinh, nhưng không có người biết đọc, bị thất truyền, thế nhưng nó nói với chúng ta một chân lý, chân lý này chính là phải "quán thông" mới được.(Kinh Thập thiện- Tập 31 - PS Tịnh Không giảng)
+ Kết Ấn Trì Chú - THỦY CHÚ Chữa Bệnh:
+ Ví dụ Trì Chú: 6. Dược Sư Quán Đỉnh Chân Ngôn
namo bhagavate, bhaisaijya guru, vaiturya, prabha, rajaya tathagataya, arhate, samyak sambuddhaya, tadyatha. om bhaisạijye, bhaisaijye,
bhaisaijya, samudgate svàhà.
Âm Việt:
Nam mô Bạc-già-phạt-đế, bệ sát xả lụ-rô, thích lưu-li, bát lạt bà, hắt ra xà giã, đát tha yết đa gia, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà gia, đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tóa ha.
Dịch Nghĩa:
Quy mạng lễ Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác – Chân ngôn nói rằng: Xin Ngài hãy ban cho con thuốc diệt trừ bệnh Quả Báo, bệnh Nghiệp Ác, bệnh Kiến Tư, bệnh Trần Sa, bệnh Vô Minh để cho con mau chóng phát sinh được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
Trich Xuất Xứ:
Kinh Dược Sư: Theo truyền thuyết, nếu ai có bịnh, chỉ chuyên nhứt tâm đọc thần chú này 108 biến để chú nguyện vào ly nước sạch rồi uống thì các bệnh đều tiêu trừ. Còn người nào chuyên tâm trì tụng trọn đời thì được không đau ốm, đến lúc mạng chung được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly bên Đông Phương của Phật Dược Sư.(Nguồn: Kinh Dược Sư)
+ Gia Trì Chữa Bệnh Cho Người Khác:
Câu Hỏi 123: Làm thế nào để gia trì cho người bệnh?
Đáp: Nếu muốn trị bệnh cho người thì trước tiên hãy chữa bệnh cho chính mình rồi hãy nói? (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)
+ Chữa bệnh bằng Chú Đại Bi: Chú Đại Bi tức là đại chú của tâm đại bi. Nó có thể thông thiên triệt địa. Nếu bạn có thể mọi ngày trì tụng 108 biến, liên tục trong suốt ba năm, thì sau đó bạn có thể dùng Chú Đại Bi để trị bệnh.
Lúc ấy, tay tới là bệnh trừ. Tôi biết về công hiệu của Chú Đại Bi. Hy vọng các bạn mỗi người dùng sức mạnh của Chú Đại Bi để vãng cứu hạo kiếp (tai ương, đại nạn) của thế giới, khiến cho người ta vĩnh viễn không còn tai nạn, và chánh pháp vĩnh viễn ở mãi trong thế gian. (Nguồn: Facebook Palmlien - HT Tuyên Hóa giảng)
http://thanhdo.vn/bai-viet/449-ung-d...-benh-tat.html
一字水轮咒
唵鑁鑁鑁鑁鑁
《施饿鬼经》云:毗庐遮那一字水轮观 言印,于右手心中犹如乳色,变为八功 水,流出一切甘露醍醐,即引手临食器 ,观想乳等从字中流出,犹如日月,一切 鬼等皆得饱满无所乏少。
NHỨT TỰ THỦY-LUÂN CHƠN-NGÔN:
Án noan noan noan noan noan.
Thần chú Nhất tự thuỷ luân
Án tông tông tông tông.
Khi tụng thần chú đây, quán tưởng nước ấy lại đặng thanh tịnh diệu vị.
Kinh Thần chú Nhất tự thuỷ luân
Án tông tông tông tông.
Khi tụng thần chú đây, quán tưởng nước ấy lại đặng thanh tịnh diệu vị.
Kinh Thí Ngạ quỷ chép rằng: “với cái pháp ấn và thần chú “nhất tự tâmthuỷ lauan quán chân ngôn” của đức Tỳ Lô Cha Na là: ở nơi trung tâm tay hữu (thủ ấn) như màu sữa, biến hoá ra nước có tám chất công đức, (bát công đức thuỷ), chảy ra tất cả vị cam lộ, đề hồ, liền đưa tay đến trong những món đồ đựng thức ăn uống, quán tưởng sữa và các thức ăn kia từ trong chữ “tông” chảy ra, dường như mặt nhật mặt nguyệt tất cả qủy chúng đều được no đủ không thiếu một vật chi.
Thí Ngạ quỷ chép rằng: “với cái pháp ấn và thần chú “nhất tự tâm thuỷ luân quán chân ngôn” của đức Tỳ Lô Cha Na là: ở nơi trung tâm tay hữu (thủ ấn) như màu sữa, biến hoá ra nước có tám chất công đức, (bát công đức thuỷ), chảy ra tất cả vị cam lộ, đề hồ, liền đưa tay đến trong những món đồ đựng thức ăn uống, quán tưởng sữa và các thức ăn kia từ trong chữ “tông” chảy ra, dường như mặt nhật mặt nguyệt tất cả qủy chúng đều được no đủ không thiếu một vật chi.
=======
Cúng phóng sinh
Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua...tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình Phật tử, không bắt buộc.
Văn khấn cúng phóng sinh
Chúng sanh nay có bấy nhiêu
Lắng tai nghe lấy những lời dạy răn
Các ngươi trước lòng trần tục lắm
Nên đời nay chìm đắm sông mê
Tối tăm chẳng biết làm lành
Gây bao tội ác, lạc vào trầm luân
Do vì đời trước ác tâm
Nên nay chịu quả khổ đau vô cùng
Mang, lông, mai, vẩy, đội sừng
Da trơn, nhám, láng, các loài súc sanh
Do vì ghen ghét, tham sân
Do vì lợi dưỡng hại người làm vui
Do vì gây oán chuốc thù
Do vì hại vật, hại sanh thoả lòng
Do vì chia cách, giam cầm
Do vì đâm thọc chịu bao khổ hình
Cầu xin Phật lực từ bi
Lại nhờ Phật tử mở lòng xót thương
Nay nhờ Tăng chúng hộ trì
Kết duyên Tam bảo thoát vòng khổ đau
Hoặc sanh lên các cõi trời
Hoặc liền thức tỉnh về nơi cõi lành
Hoặc sanh lên được làm người
Biết phân thiện ác, tránh điều lầm mê…..
Chúng sanh quy y Phật
Chúng sanh Quy y Pháp
Chúng sanh Quy y Tăng….
Úm, ngâm ngâm ngâm (3 lần)
________
鑁măm
唵鑁鑁鑁鑁鑁
汪
唵 吟吟吟
https://m.guang5.com/fjrw/hcrw/qinfofashi/13273.html
https://phatgiao.org.vn/bai-cung-ram...at-d43214.html
https://hoavouu.com/p16a1392/nhi-khoa-hiep-giai
https://www.phatan.org/a693/nghi-thuc-mong-son-thi-thuc
吉祥喜金剛本續第二品2021-02-21 太極時輪
第二品 咒語
a 在本品中,我們要詳細說明各種咒語
【1】施食給一切精靈時所念的咒語:
嗡,啊(OMA)——這二個音是一切事 的起源,因爲它們基本上是「不生」 non-arisen)
——嗡•啊•哄•發吒•婆啊哈
(OM AH HUM PHAT SVAHA)
【2】佛的種子字
布姆•提瓦•畢庫•瓦甲羅•哄•哄 哄•發吒•婆哈
(OM•DEVA• PICU •VARJRA• HUM •HUM•HUM•PHAT •SVAHA)
【4】一切咒語的基本結構:
一切咒語皆以「嗡」字開頭,「娑哈 作爲結,在娑哈之前要加「哄•發吒 。
【5】使一座城市戰粟的咒語
嗡•阿•葛•拶•吒•巴•雅•設• 哈
(OM•A•KA•CA•TA•TA•PA•YA•SA•SVAHA )
【6】明妃的種字
遏•阿•壹•醫•溫•汙•哩•梨• •盧•伊•愛•鄔•奧•暗•惡
(A•A•I•I•U•U•R•R•L•L•E•AI• O•AU•AM•AH)
【7】二臂金剛咒語
嗡•揣愛摟克雅色波•哄•哄•哄• 吒•婆哈
(OM•TRAILOKYAKSEPA HUM HUM HUM PHAT SVAHA)
【8】四臂金剛咒語
嗡•甲瓦拉甲瓦拉布約•哄•哄•哄 發吒•娑哈
8
(OM•JVALAJVALABHYO HUM HUM HUM PHAY SVAHA)
【9】六臂金剛咒語
嗡•奇替•奇替•瓦甲•哄•哄•哄 發吒•婆哈
(OM•KITI•KITI•VAJRA•HUM •HUM•HUM •PHAT•SVAHA)
【10】加持身•語•意的咒語
嗡•阿•哄(OM•AH•HUM)
【11】清淨土地咒語
嗡•惹克沙•哄•哄•哄•發吒•娑
(OM•RAKSA•RAKSA•HUM•HUM•HUM•PHAT•SVA HA)
【12】禁制咒語
嗡 •哄•娑哈
(OM •HUM•SVAHA•)
【13】壓服咒語
嗡•啊姆•娑哈(OM•AM•SVAHA)
【14】發遣咒語
嗡•卡姆•娑哈
(OM•KHAM•SVAHA)
【15】引發忿怒的咒語
嗡•周瑞姆•娑哈
(OM•JRIM•SVAHA)
【16】迷人咒語
嗡•布姆•娑哈
(OM•BUM•SVAHA)
【17】鉤召咒語
嗡•哄•娑哈
(OM•HUM•SVAHA)
【18】誅殺咒語
嗡•枯•娑哈(OM•GHUH•SVAHA)
【19】咕嚕咕列佛母的咒語
嗡•咕嚕•咕列•呼瑞•娑哈
(OM•KURU•KULLE•HRI•SVAHA)
【20】求雨儀軌:嗡•啊•撲(OM•AH•P HUH)。吟誦這些咒音,作一個蛇的肖像 用五種甘
露來清洗肖像,用藍色的蓮花莊嚴之 塗上降龍汁,在它的頭上塗神血(ichor) ,將二個盤子
放在一起而成爲盒,再把蛇放進去; 後將從黑牛身上擠出的奶倒滿盒子, 用黑皮膚女子
剪裁好的布裹起來。在西北方做一個 池子,將蛇放進去,在它的邊緣是安 壇城之地。用
屍林中的木炭作黑色顏料,用人骨粉 白色顏料,用綠蟲膠作黃色顏料,用 林中的磚頭作
紅色顏料,用敢羅葉(度)和人骨粉作綠 色顏料。此外,人骨粉加屍林木炭作 暗藍色顏料,
用這些顏料畫出壇城,用屍林線來量 城、計三腕屍長、三英寸寬。在壇城 中央畫出喜金
剛在踐踏一條蛇;喜金剛有八面、四 、十六臂及二十四隻眼睛。然扣阿舍 心大忿怒,在
那個無人的地方歷聲持咒:
嗡,苦嚕苦嚕,苦枯鳥,苦枯鳥,噶 •噶吒•歌噬雅•歌吒雅
(OM•GHURU•GHURU•GHUDU•GHUDU•GHATA•GHAT A•GHO-TAYA•GHOTAYA)
噢!使蛇戰慄的龍王啊!喜•喜•汝•汝 •噶(he – he Ru – ru •Ka)——請把這些已經跑去七個較
低級的領域(Realms)的龍族拖回來、拖回 來、下雨!下雨!打雷!打雷!——
9
撲•撲•撲•撲•撲•撲•撲•撲• •哄•哄•發吒•娑哈
(PHUH• PHUH• PHUH• PHUH• PHUH• PHUH• PHUH• PHUH•HUM•HUM•HUM •PHAT•
SVAHA)如果現在還不下雨,那麼就把咒 語倒念,這些龍的頭就會裂成像麵包 粒一樣。
【21】裂雲咒語(止雨咒語)
坐位下墊著屍衣,念這個咒語就能止 :嗡,珍視屍林的高貴人——哄·哄· 哄·發
吒·娑哈。
【22】金剛刀儀軌:
我要宣說這個爲了摧毀敵軍而施行的 畫石儀軌」(chalk ritual)。搗碎畫石,加
上五甘露、斧斫草混合在一起,作成 顆小丸子。咒語是:
嗡、金剛刀——噢!喜金剛,哄·哄· ·發吒。要得到成就,就必須念一千 遍。
要摧毀敵軍就得念百萬遍。在修這個 軌時,應該將一個廣口瓶頸用布裹住 在裹好之後再
弄斷它,那麼所有敵人的頭就會斷掉
【23】摧毀神明的儀軌
想要摧毀神明行者必須在「斧頭標幟 (axe 一 mark)上作法,在 Pusya 下摘來的
palas』a 的種子和斧所草混合。在日蝕時將它 精一起搗碎。搗碎後,將碎粉作成一 斧頭,
用腳踐踏,念下面的咒語:
嗡、金剛斧——劈開、劈開、哄·哄· ·發吒·娑哈。念上一千萬遍。行者 禮敬這
斧頭標幟,這標幟貼近東西,東西就 焚燒。
【24】火供儀軌:
如果行者應在 arka 葉上,用毒芥未汁和焚燒中的 citraka 書寫敵人的名字,然後丟人火
堆,念下面的咒語一萬遍:
嗡·喜金剛——燒、燒這敵人、布魯姆 (BHRUM)哄·哄·哄·發吒·娑哈。念
一萬翹就能達到目的。
【25】噴吐儀軌:
如果行者要使酒精飲料湧出,就要觀 病人臍部有瑪姆(MAM,行者觀想 MAM
字變成滿腹的酒,觀想病人,然後病 吐出酒來。)
【26】得到年輕女子信愛的儀軌:
如果行者要降服年輕女子,就要在 asoka 月的第八天去無憂樹下,穿紅衣服、
madana 泉子,然後用斧草汁作一個斧頭標幟 他要念下面的咒語:
嗡·呼利(nni),希望她被我制服·娑 。
念一萬遍,你就能使她來到你面前。
【27】制止日月的儀軌:
如果你想要控制日月的話,用米的粉 成日月,擲人金剛水,念下面的咒語
嗡·日月、不要動、停住、停住——噢 !喜金剛·哄·哄·哄·發吒·娑哈。
行者必須念七千萬遍日月才會停住, 象會不辨晝夜。
【28】找尋失物的儀軌:
要使本法成功,行者必須在如處女眼 的晚上作法,念一百零八遍咒語:
嗡·那噶惹·那噶惹(NAGRA)
用五種供品:花、香、燈等等莊嚴那 女子,然後在第八天或第十四天的晚 放上
準備好的瓶子,瓶內要裝芝麻油及蟲 。如法而行,念咒一百零八遍,然後 作過法的蟲膠
塗自己的腳趾,用芝麻油洗之;行者 把大腳趾給那名女子看,並說:說! 誰拿走我的東
西?然後她會回答:是某某人、某某 !這就是金剛占星學。
【29】嗡·偉杜雅·偉杜雅(VEDUYA)— 念這個咒語大象就會避走。
【30】嗡·瑪姆瑪·瑪姆瑪
10
(MARMMA)——念這個咒語老虎就會避 。
【31】嗡·特里雅,特里雅
(TELIYA)——念這個咒語犀牛就會避 。
【32】伊利·迷利·撲·撲(ILI MILI PHUH PHUH)念這個咒語蛇就會避走。
【33】用手結守護財富及降伏力印,那 麼狗就會避走。
【34】在行者修威嚇法等時,它要配合 金剛明妃、高莉明妃、縛哩明妃、金 空行、
無我母、地居明妃(或作布卡端明妃 、空居明妃(或作克卡瑞明妃)等觀 修法。
【譯者的話】
上師灌頂、本尊加持、行者修爲就會 這些咒力發揮。似乎第二品最主要的 是放進了
許多個別獨立的咒語,但是和上卷第 一品、下卷第一、第九、第十,一起 看,是不是就
像一本完整的儀軌?
https://ppfocus.com/0/faee37cb4.html
불교기록문화유산 아카이브메뉴검색이전으로
전체메뉴
불교학술원
경명순 ㅣ 경번호순 ㅣ 분류체계별 ㅣ 주제별
한국불교전서
서명순 ㅣ 저자순 ㅣ 권번호순
신집성문헌
서명순 ㅣ 특성별 ㅣ 판종별 ㅣ 제별 ㅣ 발행년 ㅣ 발행자 ㅣ 소 자
변상도
서명순 ㅣ 내용분류 ㅣ 발행년 ㅣ 발행자
근대불교잡지
서명순 ㅣ 발행년
근대불교문헌
백용성대종사총서
통합대장경
경명순경번호순분류체계별주제별
無能勝大明陁羅尼經K1136
본문이미지서지확대축소
원문 번역문
단락보기경판보기
통합뷰어
무능승대명다라니경(無能勝大明陁羅 經)
법천(法天) 한역
백명성 번역
불보[正覺]와 법보[法]와 현성(賢聖)의 승보[僧]께
몸과 마음을 다하여 귀의하고 예배합니다.
보살님께서 이 진언[明]을 외우시니
모든 장애 쳐부수네.
볘다나(吠多拏)나 갈타포다나(羯吒布多曩)의 모든 근본주법(根本呪法)과 약차(藥叉)나 나찰사(羅刹娑) 무리의 요사스러운 수법을 이 명(明:무능승대명)이 쳐부수어 항상 바른 행업을 짓게 한다. 만약 어떤 중생이 간절한 정성과 성실하고 순일(純一)한 마음으로 이 명주(明呪)를 받아 지니는 자로서 비단에 베껴 쓰거나, 자작나무 껍질 등에 베껴 써서 두면, 저 모든 곳에서 모든 악귀들이 견고하여 흔들림 없는 자비를 내게 되고 재앙과 장애가 사라지며 최상의 일을 성취하게 된다. 사람들이 서로 죽이는 전쟁터에 이 주문을 머리에 이고 나가면, 그를 옹호하고 도와서 마음에 혼란과 두려움이 없게 하고, 머리카락 한 올도 다치지 않게 된다. 혹은 손이나 팔에 지녀도 쉽게 승리를 거둘 수 있다.
부처님께서 설하신 것과 같이 어떤 남자나 여인이 이 명을 수지하면, 원하는 일이 모두 성취되고, 국법으로 감옥에 갇히거나, 벌판을 가다가 사자나 호랑이를 만나거나, 길을 가다 도적이 쫓아오더라도, 이 대명력(大明力)이 잘 보호하고 도와서 모든 두려움을 벗어나 안락을 얻게 한다. 만약 어떤 여인이 이 주문을 머리에 이고 수지하면, 일가친척들에게 존경과 사랑을 받게 되고, 항상 재물과 보배를 획득하게 되며, 혹 아이 밴 여자가 해산이 순조롭지 못하여 고생하더라도 속히 평안(平安)을 얻게 된다.
보살이 설한 이 대명주(大明呪)를 밤낮으로 보호하여 지니고, 항상 보호하여 지녀라. 만약 어떤 슬기로운 사람이 한마음으로 수지하면, 길을 가거나 머무르거나 앉거나 눕거나, 귀신들의 재앙이 그를 해칠 수 없으며, 나아가 술에 취하여 잠들어도 악몽을 꾸지 않는다. 저 무능승대명다라니(無能勝大明陁羅尼) 를 지니고서 읽고 외우면, 국왕 소유의 마을에서 백성들이 싸우는 등의 모든 장애와 재앙이 소멸될 것이다.
그때 무능승(無能勝)보살이 모든 마군(魔軍)들에게 말씀하셨다.
“내 이제 주문을 외울 것이니, 너희 부다(部多)들은 내 말을 들으라.”
보살이 저 모든 마군들을 보니, 가지가지 모양과 빛깔로 차려 입고 앞에 늘어서 있었다. 보살은 저 마군들을 위하여 이와 같이 말씀하셨다.
“나는 구지(俱胝) 겁 동안 보리를 구하기 위하여 내 몸과 목숨과 아내와 자식과 재물과 보배를 버리고, 하기 어려운 것을 잘해내고서 크게 정진하여 일체 중생들을 이롭고 안락하게 하는 행(行)과 원(願)이 원만하여 보리수 아래에 머물며 진실한 법을 증득하고 은근히 아끼며 보전하고 있었는데, 마왕이 악한 군사들을 이끌고 와서 장애를 놓았다. 그때 이 명주(明呪)의 힘 때문에 저들을 다 항복시켰다. 내 생각으로는 과거의 모든 마군들이 항복하고, 저들이 따라 기뻐하였으니, 과거의 원수들이 저절로 무너졌을 것이니라. 내 이제 마군을 무너뜨리는 주문을 외우겠노라.”
대명주는 다음과 같다.
다냐타 호로호로잔나 례마 등예사바 하1)
怛▼(寧+也)他引護嚕護嚕贊拏引禮摩 鄧詣娑嚩二合引賀
무능승보살이 이 명을 외울 때, 자비로 가엾이 여기는 마음을 내어 천녀의 몸으로 변신하여 마군 앞에 서서 이마 위에 합장하고 이와 같이 말하였다.
보살의 청정한 마음
내가 설하는 수승한 도리와 같네.
대지혜 대광명이여,
길이 어리석음의 어둠 끊네.
옛적에 보리(菩提) 구하여
마군들 이미 항복시켰으니
저 마군들 항복받고 나서
대무외(大無畏) 얻었도다.
길이 세간을 벗어나
활연히 정각 이루고
저 천상과 사람의 스승 되어
속히 많은 중생 제도하니
너희들은 다 보고
마음으로 크게 환희하라.
마왕과 모든 권속들
니련선하 주변 짓밟지 못하고
이제 명주의 힘으로
저 번뇌의 덮개[煩惱蓋]를 파괴하네.
이때 무능승보살이 미묘하고도 맑고 깨끗한 음성이 시방에 두루하도록 곧 진언[明]을 외웠다.
다냐- 타 아이단자예 자연뎨아바라 뎨하뎨 마례 마라마라바뎨마
怛你野二合他引阿𡁠旦惹曳引惹演諦 鉢囉二合諦賀諦引麽隷引麽羅麽囉嚩 諦麽
하 마라바뎨미자연뎨비자예 살-바 싣다나마사가리 뎨 뉴- 뎨
賀引麽羅嚩諦尾惹演諦尾惹曳引薩哩 二合悉馱曩麽塞訖哩二合諦引你愈二 諦
니미다리 미라바나리 아마리 미닐 뎨 다니뎨 아이뎨 아나켸 아
你尾馱哩引尾囉婆捺哩二合引阿麽哩 尾▼(寧+吉)切身諦引哆尼諦引阿𡁠諦 引阿曩契引阿
바예 바라니마 라새니야 바라 말-나 니예 사바 하 마 라새
婆曳引嚩囉你摩引囉賽你野二合鉢囉 合摩哩那二合你曳引娑嚩二合引賀引 引囉賽
냐- 미나 사니예 사바 하 미니야 야사바 하 시밤갈-예
你野二合尾曩引娑你曳引娑嚩二合引 引尾你野二合引野娑嚩二合引賀引室 迦哩曳引
사바 하 션 뎨갈-예 사바 하 시리 야 예 사바 하 야슈
娑嚩二合引賀引扇引諦迦哩曳引娑嚩 合引賀引室哩二合夜引曳引娑嚩二合 賀引野戍引
마뎨시리 마뎨살-바 갈-마 가라니살-바 라타 사 다니살
摩諦室哩二合摩諦薩哩嚩二合羯哩摩 合迦囉尼薩哩嚩二合引囉他二合娑引 你薩
-바 라타 바라 바 다니살-바 몽가라사 다니마노 라뎨 마하
哩嚩二合引囉他二合鉢囉二合嚩引馱 薩哩嚩二合夢誐囉娑引馱你摩努引囉 引摩賀
마노 라뎨 살-바 닐 바나마사가리 뎨 살-바 사다바 혜다가
引摩努引囉替引薩哩嚩二合#▼(寧+吉) 嚩曩摩娑訖哩三合諦引薩哩嚩二合薩 怛嚩二合呬哆迦
라니살-바 혜다니만리다 니미 아미 아마하 미 아아리 나암바
囉抳薩哩嚩二合引呬哆你挽哩哆二合 尾引倪尾引倪摩賀引尾引倪仡哩二合 焰鉢
라 미사 미뎨 이디몌디마하 예례마몌 바션도살-바 바 바가사바
囉二合尾舍引弭諦引伊致迷致摩賀引 隷麽迷引鉢扇睹薩哩嚩二合播引波迦 嚩二
하 다가사바 하 다가티 다가바라디 다가다가니 가나바라니 하 리
合賀引吒迦娑嚩二合賀引吒迦致引吒 嚩囉致引吒迦吒迦抳引誐拏嚩囉抳引 引哩
뎨시리 마뎨디-따 디-따 구람자리 니마마달-마 가라셰 나야
諦室哩二合摩諦底瑟姹二合底瑟姹二 句囕惹哩引拏摩摩達哩麽二合迦囉細 曩寫
샤바리바 라야살-바 마혜단니바 라야사바 하 아예나예 다예 다
設波哩嚩引囉寫薩哩嚩二合摩呬旦你 引囉野娑嚩三合賀引阿詣曩詣引哆詣 哆
라예 다디사셰 이례미례혜례미례미례 례례미례처례비례미례 미례 례
囉詣引哆致娑細引伊隷弭隷呬隷弭隷 隷引隷隷尾隷凄隷卑隷尾隷引弭隷引
례 켸례지례 례례 닐 예아예 나예 다례 다라예 다디 사셰 바라니
隷引契隷喞隷引隷隷引▼(寧+吉)切身 阿詣引曩詣引哆隷引哆囉詣引哆致引 細引嚩囉抳
바뎨 인나로 라 자야모 라 자바로니조 라 아소모 라 자미자야
引嚩諦引印捺嚕二合囉引惹夜謨引囉 惹嚩嚕尼俎二合囉引惹蘇謨引囉引惹 惹野
반자모 라 자난나계라 자자가라 미자예라 자미자연도 라 자도리
半左謨引囉引惹難拏計囉引惹作羯囉 合尾惹曳囉引惹尾惹演睹引囉引惹度 二合
다라 -따라 라 자미로다구 라 자미로박가슈 라 자구미로 라 자
哆囉引瑟吒囉三合囉引惹尾嚕口茶俱 囉引惹尾嚕博乞芻二合囉引惹俱尾嚕 囉引惹
마나세라 자바소기라 자마라 하마 사하사라 디바뎨라 자마도
摩曩歲囉引惹嚩蘇枳囉引惹沒囉二合 摩二合娑賀娑囉二合引地鉢諦囉引惹 度引
바가밤 달-마 사바 미라 자나마사도 반자 도가 야례례사바
婆誐鑁引達哩摩二合娑嚩二合弭囉引 曩摩娑覩二合半左引覩迦引野隷隷娑 二合引
하 샤라 하미 마라 하마 사바 리 보라니 보라나 마뇩
賀引設囉二合憾弭二合引沒囉二合憾 二合娑嚩二合哩引布攞抳二合布囉拏 合摩褥引
라뎨 아디 바디 참계 다람계 가라가지 미잉 노마하 미잉 노아비
囉替引阿致引嚩致引站計引吒囕計引 囉迦喞引尾孕二合努摩賀引尾孕二合 阿鼻
사 로마하 비사 로조호마호호호소보사비 소바 싣싣다 람니 나 라
娑引嚕摩賀引鼻娑引嚕口祖護沒護護 蘇補瑟卑二合蘇嚩引悉悉哆引囕抳引 引囉
니 니미 니미 조라나 가 례마하 조라나 가례조라나 가 례볘다
泥引你弭引你弭引祖囉拏二合迦引隷 賀引祖囉拏二合迦引隷祖囉拏二合迦 隷閉哆
난뎨마가라난뎨이하마 나셰 미하마 나셰 이하하노미하하노바호바리
難諦摩迦囉難諦伊賀摩引曩細引尾賀 引曩細引伊賀賀努尾賀賀努嚩護波哩
바 리아리바리바 리 아난다바리바 리 다래 로기야 바리바 리
嚩引哩倪哩波哩嚩引哩引阿難哆波哩 引哩引怛賴二合引路枳野二合波哩嚩 哩引
람미 바라 람미 가람미 가라세 가라슈나리가라슈례바뎨 미례 미
覽弭引鉢囉二合覽弭引迦覽弭引迦羅 引迦羅戍那哩迦羅戍隷必諦二合弭隷 尾
례 지례살-바 로 가 만리다 니예 사바 하 살-바 로 가미만
隷引喞隷薩哩嚩二合路引迦引挽哩哆 合你曳引娑嚩二合賀引薩哩嚩二合路 迦尾挽
다니예 사바 하가 라자가리 자가라 만리뎨 디-따 디-따
馱你曳引娑嚩二合賀迦引羅作羯哩二 作羯囉二合挽哩諦二合底瑟姹二合底 姹二合
구람자리 나마마달-마 가라셰 나사사바리바 라야살-바 혜단
句囕惹哩引拏摩摩達哩麽二合引迦囉 引曩寫薩波哩嚩引囉寫薩哩嚩二合引 旦
니바 라야사바 하 아나예 아나야마뎨 보뎨 보단 뎨 계유리 사만
你嚩引囉野娑嚩二合引賀引阿曩曳引 曩野摩諦引部諦引部旦引諦引計愈哩 三滿
다바나리 나미 자라니혜례혜례사바 하 마하 가 로니가 샤사다
哆婆捺哩二合引那弭引左囉尼呬隷呬 娑嚩二合引賀引摩賀引迦引嚕抳迦入 娑哆
하사다 아리 나다라니연 사바리 세 다바리 톄미암
二合引賀娑哆二合引倪哩二合引拏馱 抳演二合娑必哩三合世引哆必哩二合 尾焰二合引
자가다 셥나살-바 마 라바라 자약다건뎨 다가바람뎨 아리 한난
左誐哆入攝那薩哩嚩二合摩引囉波囉 惹藥吒建諦引吒迦嚩囕諦引仡哩二合 赧二
뎨 아리 한나 바람뎨 시람뎨 시라바람뎨 디-따 디-따 다람
合諦引仡哩二合恨拏二合嚩囕諦引尸 諦引尸囉嚩囕諦引底瑟姹二合底瑟姹 合但囕
자리 나마마달-마 가라셰 나야사바리바 라야살-바 혜단니바 라
惹哩引拏摩摩達哩麽二合迦囉細引曩 薩波哩嚩引囉寫薩哩嚩二合呬旦你嚩 囉
야사바 하아아리 아아리 사다예 사다예 혜례혜례다니
野娑嚩二合引賀阿仡哩二合引阿仡哩 合引薩怛曳二合引薩怛曳二合引呬隷 隷馱你引
마니 난칙계 나난칙계 구조로모조로사바 하 작수잉 보 마하
摩你引難敕罽二合那赧敕罽二合引俱 嚕母祖嚕娑嚩二合引賀引作芻孕二合 入摩賀
작수잉 보 소로 다람 보 마하 소로 다람 보 가라 난보
引作芻孕二合普入蘇嚕二合怛囕二合 入摩賀引蘇嚕二合怛囕二合普入伽囉 合引赧普入
마하 가라 난보 이하밤 보 마하 이하밤 보 가 암보 마하 가
摩賀引伽囉二合引赧普入𡁠賀鑁二合 普入摩賀引𡁠賀鑁二合普入迦引焰 入摩賀引迦
암보 아리 나암보 마하 아리 나암보 인나리 라 자니 바 남
焰普入仡哩二合那焰普入摩賀引仡哩 合引那焰普入印捺哩二合引囉引惹泥 嚩引喃引
보 소 모 라 자나가사 다라 난 보 바로니구 라 자나 가 남 보
普入蘇引謨引囉引惹曩乞叉二合怛囉 合赧引普入嚩嚕尼句二合囉引惹曩引 引喃引普
야모 라 자바리 다구사만 나가 남 보
入野謨引囉引惹必哩二合哆俱瑟滿二 引拏迦引喃引普入2)
그때 무능승보살은 마왕과 권속들을 항복시키고 나서 이(理)와 사(事)를 완전히 하고, 뜻과 원(願)이 원만하여 대비(大悲)의 스승이 되었다.
그때 다라니를 외웠다.
다냐- 타 도보도보도로도로도모도모이로지 이로지 이로지 미로지
怛你野二合他引度布度布度嚕度嚕度 度母伊嚕喞引伊嚕喞引伊嚕喞引尾嚕
미로지 미로지 예로보로션 가 라비가례 나다나다리 도로도리 혜혜
引尾嚕喞引尾嚕喞引曀嚕布嚕詵引迦 羅賓誐隷引曩吒曩吒哩引睹嚕睹哩引 呬
혜혜니 바바리 니 바바리 오도자리오도자리 다니니아하미하미 카가
呬呬泥引嚩嚩哩引泥引嚩嚩哩引虞度 哩虞度左哩引怛尼你阿賀弭賀弭引佉
자리 계리계지계리계지보다아리 마마마사바 미달-미 달-미
左哩引計哩計喞計哩計喞部哆仡哩二 引摩摩末瑟婆引弭達哩弭二合引達哩 二合
달-미 나셰 나셰 나셰 나셰 나셰 다리다리도리도리하나미하미
引達哩弭二合引那細引那細引那細引 細引那細引達哩達哩度哩度哩賀曩弭 弭引
바람바리 바라야보자라보자리 자라보난나니예 구로구지 가니 가니
嚩囕嚩哩引嚩囉野普左囉普左哩引左 普難那你曳引俱嚕俱喞引迦抳引迦抳
가나바라니 호호호호구로군니구로사반 니 가사 리니가라셰 마라
誐曩嚩囉抳引護護護護俱嚕君抳俱嚕 伴二合泥引乞史二合哩尼伽囉細引摩
셰 오 리안다 리잔나 례마등예암오례보망 가셰마라 하마 니나
細引虞引哩巘馱引哩贊拏引隷摩鄧詣 虞隷布忙二合羯細沒囉二合憾摩二合 抳曩
다니 다리 나샤야니 다리 보라가사 리니사바 하 다리 나미
吒你引怛哩二合拏設野尼引怛哩二合 囉乞史二合哩尼娑嚩二合引賀引怛哩 合拏尾
나 라니싣다 예 사바 하다니야 타 혜례 혜례 나디사나다미보나
那引囉尼悉馱引曳引娑嚩二合引賀怛 野二合他引呬隷引呬隷引曩致寫曩吒 布曩
자람 비뎨 인나리 야미 바로니 소마아 니뎨 사바 하 야도 비
惹囕二合鼻諦引印捺哩二合引野弭引 嚕抳引蘇摩訶引泥諦引娑嚩二合賀引 覩引毘
유 놀가 다소리야 야다라 소리유 비유 놀가 다 잔나라
愈二合訥誐二合哆蘇哩野二合夜怛囉 合蘇哩喩二合引毘愈二合訥誐二合哆 贊捺囉二
소리요 나마셰 뎨 다디 보고 라다나 바리바 도 마라 하
合蘇哩要二合引曩摩細引諦引怛致引 告二合囉怛曩二合波哩嚩二合覩引入 囉二合憾
마 나 모혜단작수 작수린나리 예 나모 혜단아소리 모 혜단작수
摩二合拏引謨呬旦作芻入作芻▼(口+隣 )捺哩二合曳引拏謨引呬旦阿蘇哩引謨 呬旦作芻入
작수보대 사도 모 혜단라 가사 새 모 혜단작수 작수 싣태 시자
作芻部帶引娑覩二合謨引呬旦囉引乞 二合賽引謨引呬旦作芻入作芻入悉泰 室左二
모 혜단다다라 만다라 바나 니싣다 바라마나 로나 가 구 리나
合謨引呬旦怛怛囉二合滿怛囉二合播 引你悉馱引波囉摩那引嚕拏入引迦引 引哩那
바나산유가다 구 라마다야 다사 모달- 다 사만아 혜사
二合波那散喩訖哆二合引具引囉末達 二合引怛娑二合母達哩二合哆引娑滿 引呬娑
만아 혜사만아 혜사만아 혜미 뎨람아 혜미뎨람아 혜공구람산야디난
滿阿引呬娑滿阿引呬娑滿阿引呬尾引 囕阿引呬尾諦囕阿引呬供俱囕散野地
만조례 조례 단예 단예 단예 다미 다미 다미 암바니암바니모 하니
挽口祖隷引祖隷引旦詣引旦詣引旦詣 哆弭引哆弭引哆弭引昝婆你昝婆你謨 賀你
모 하니모 하야 미살-바 샤다로 난작수사바 하보라 마야 미
謨引賀你謨引賀夜引弭薩哩嚩二合設 嚕二合赧作芻娑嚩二合賀部囉二合摩 引弭
삼보라 마야 미살-바 샤다로 난 작수사바 하 니 션 다라가
三部囉二合摩野引弭薩哩嚩二合設怛 二合赧引作芻娑嚩二合引賀引泥引扇 哆囉誐
도 바 싣톄 도 바마라 자도 바샤야 노 바 자아라 도 바 소바
覩引嚩引悉體二合覩引嚩沒囉二合惹 引嚩捨野引努引嚩引惹仡囉二合覩
https://kabc.dongguk.edu/m/content/v...IT_K1136_T_001
Vasudharadharani (=Vasudharadharanisutra)
Based on the edition: Vasudhārādhāraṇīsūtra, Dhīḥ Journal 44 (2007),
eds. Ngawang Samten & S. S. Bahulkar, p. 129-147. =
Input by Klaus Wille (Göttingen)
STRUCTURE OF REFERENCES:
Vdh-DH_nn = pagination of Ngawand Samten/Bahulkar's edition
BOLD for references
THIS GRETIL TEXT FILE IS FOR REFERENCE PURPOSES ONLY!
COPYRIGHT AND TERMS OF USAGE AS FOR SOURCE FILE.
Text converted to Unicode (UTF-8).
(This file is to be used with a UTF-8 font and your browser's VIEW configuration
set to UTF-8.)
description:multibyte sequence:long aālong AĀlong iīlong IĪlong uūlong UŪvocalic rṛvocalic RṚlong vocalic rṝvocalic lḷvocalic LḶlong vocalic lḹvelar nṅvelar NṄpalatal nñpalatal NÑretroflex tṭretroflex TṬretroflex dḍretroflex DḌretroflex nṇretroflex NṆpalatal sśpalatal SŚretroflex sṣretroflex SṢanusvaraṃvisargaḥlong eēlong oōl underbarḻr underbarṟn underbarṉk underbarḵt underbarṯ
Unless indicated otherwise, accents have been dropped in order
to facilitate word search.
For a comprehensive list of GRETIL encodings and formats see:
http://gretil.sub.uni-goettingen.de/gretil/gretdiac.pdf
and
http://gretil.sub.uni-goettingen.de/gretil/gretdias.pdf
For further information see:
http://gretil.sub.uni-goettingen.de/gretil.htm
Vasudhārādhāraṇīsūtra
(Vdh-DH_131)
āryavasudhārādhāraṇīsūtra
oṃ namo bhagavatyai āryaśrīvasudhārāyai |
evaṃ mayā śrutam ekasmin samaye bhagavān kośāmbyāṃ mahānagaryāṃ viharati sma | kaṇṭakasaṃjñake mahāvanavare ghoṣitārāme mahatā bhikṣusaṃghena sārdhaṃ pañcamātrair bhikṣuśataiḥ saṃbahulaiś ca śrāvakair asaṃkhyayaiś ca bodhisattvaiḥ sarvabuddhaguṇasamanvāgataiḥ | tatra khalu bhagavāṃs tasyām eva parṣadi tair eva parivṛtaḥ puraskṛtaḥ sarvadāridryavyādhiduḥkhārṇavapariśoṣa aṃ nāma dharmaparyāyaṃ deśayati sma | ādau kalyāṇaṃ madhye kalyāṇaṃ paryavasāne kalyāṇaṃ svarthaṃ suvyañjanaṃ kevalaṃ paripūrṇaṃ pariśuddhaṃ paryavadātaṃ brahmacaryaṃ saṃprakāśayati sma |
tena khalu punaḥ samayena kauśāmbyāṃ mahānagaryāṃ sucandro nāma gṛhapatiḥ prativasati sma | upaśāntendriyopaśāntamānaso bahuputro bahuduhitaro bahubhṛtyajanasaṃpannaḥ śrāddho mahāśrāddhaḥ | tena khalu punaḥ samayena yena bhagavāṃs tenopasaṃkrānta upasaṃkramya bhagavataḥ pādau śirasā vanditvā bhagavantam anekaśatasahasraṃ pradakṣiṇīkṛtya ekānte nyaṣīdat | ekānte niṣaṇṇaḥ sucandro nāma gṛhapatir bhagavantam etad avocat | pṛccheyam ahaṃ bhagavantaṃ tathāgataṃ samyaksaṃbuddhaṃ kiñcid eva pradeśaṃ sacen me bhagavān avakāśaṃ kuryāt pṛṣṭapraśnavyākaraṇāya | evam ukte bhagavān sucandragṛhapatim etad avocat | pṛccha tvaṃ gṛhapate yad yad evākāṃkṣasyan te tatra praśnavyākaraṇena cittam ārādhayiṣye | evam ukte sucandro gṛhapatiḥ sādhu bhagavann iti bhagavato vacanaṃ pratiśrutya bhagavantam etad avocat | kathaṃ bhagavan kulaputro vā kuladuhitā vā daridro bhūtvā adaridro bhavati | vyādhitaś ca bhūtvā avyādhito bhavati | atha khalu bhagavān jānann eva sucandraṃ gṛhapatim etad avocat | kim iti tvaṃ gṛhapate daridratāyāḥ paripraśnaṃ pṛcchasi?
evam ukte sucandro gṛhapatir bhagavantam etad avocat | daridro 'haṃ bhagavan daridro 'haṃ sugata bahupoṣo bahuputro bahuduhitṛko bahubhṛtyaparijanasaṃpannaḥ tad deśayatu bhagavān dharmaparyāyaṃ yena daridrasattvā adaridrā bhaveyuḥ | vyādhitāś ca sattvā avyādhitā bhaveyuḥ | bahudhanadhānyakośakoṣṭhāgārasaṃpannāś ca bhaveyuḥ | priyā manāpāḥ paramamanojñāḥ darśanīyāś ca bhaveyuḥ | dānapatayo (Vdh-DH_132) mahādānapatayaś ca akṣīṇahiraṇyasuvarṇadhanadhānyakośako ṭhāgārāś ca bhaveyuḥ | maṇimuktivajravaiḍūryaśaṅkhaśilāpravāla jātarūparajatamarakatapadmarāgasamṛddhāś ca bhaveyuḥ | supratiṣṭhitagṛhaputradārakuṭumbāś ca bhaveyuḥ | gṛhapatibhāryāputradārakadārikādāsīkarmak arapreṣakajanasaṃpannaparivārāś ca bhaveyuḥ |
evam ukte bhagavān sarvāśāparipūrakena brahmasvareṇa sucandraṃ gṛhapatim etad avocat | asti gṛhapate bhūtapūrvam atīte 'dhvany asaṃkhyeyeṣu kalpeṣu yadāsīt tena kālena tena samayena bhagavān śrīvajradharasāgaranirghoṣo nāma tathāgato 'rhan samyaksaṃbuddho loka utpādi vidyācaraṇasaṃpannaḥ sugato lokavid anuttaraḥ puruṣadamyasārathiḥ śāstā devānāṃ ca manuṣyāṇāṃ ca buddho bhagavān, tasya tathāgatasyāntike mayā gṛhapate vasudhārā nāma dhāraṇī śrutā | śrutvā ca udgṛhītā dhāritā vācitā deśitā paryavāptā | anumoditā parebhyaś ca vistareṇa saṃprakāśitā | aham apy etarhi te kulaputra tān dhāraṇīṃ tathā bhāṣiṣye | yathā asyā dhāraṇyāḥ prabhāvena kulaputra mānuṣā na viheṭhayanti | amānuṣā na viheṭhayanti | devā na viheṭhayanti | nāgā na viheṭhayanti | yakṣāḥ na viheṭhayanti | asurā na viheṭhayanti | rākṣasā na viheṭhayanti | bhūtā na viheṭhayanti | pretā na viheṭhayanti | piśācā na viheṭhayanti | kumbhāṇḍā na viheṭhayanti | ostāḍakā na viheṭhayanti | apasmārā na viheṭhayanti | gandharvā na viheṭhayanti | kinnarā na viheṭhayanti | mahorāgā na viheṭhayanti | pūtanā na viheṭhayanti | kaṭapūtanā na viheṭhayanti | sarvagrahā na viheṭhayanti | sarvadevā na viheṭhayanti | kṣutpipāsā na viheṭhayanti | sarvāhārā na viheṭhayanti | evaṃ yāvat puṣpāhārāḥ phalāhārāḥ patrāhārāḥ tvacāhārāḥ skandhāhārāḥ mūlāhārāḥ gandhāhārāḥ dhūpāhārāḥ dīpāhārāḥ mālāhārāḥ āhutyāhārāḥ na viheṭhayanti | ojohārāḥ svedāhārāḥ rasāhārāḥ raktāhārāḥ māṃsāhārāḥ medāhārāḥ asthyāhārāḥ majjāhārāḥ rudhirāhārāḥ śukrāhārāḥ jīvitāhārāḥ sarve na viheṭhayanti | evaṃ yāvad viṣṭhāhārāḥ mutrāhārāḥ kheṭāhārāḥ siṃghāṇakāhārāḥ kledāhārā śleṣmāhārāḥ ucchviṣṭāhārāḥ anucchiṣṭāhārāḥ ucchiṣṭāhārā na viheṭhayanti | śasyāhārāḥ garbhāhārāḥ sarve na viheṭhayanti | sarve ḍākinyo na viheṭhayanti | chāyā na viheṭhayanti | jātā na viheṭhayanti | bhāvanāhārāḥ na viheṭhayanti | rūpāhārāḥ śabdāhārāḥ gandhāhārāḥ rasāhārāḥ sparśāhārāḥ āhutyāhārāḥ nānārūpāhārāḥ (Vdh-DH_133) virūpāhārāḥ anantarūpāhārāḥ kāmarūpāhārāḥ vicitrarūpāhārāḥ balāhārāḥ balyāhārāḥ aśucyāhārāḥ vicitrāhārāḥ yāvad ucchiṣṭāhārāḥ na viheṭhayanti | yāvat khecarāḥ bhūcarāḥ antarīkṣacarāḥ jalacarāḥ sthalacarāḥ sarve na viheṭhayanti | eteṣāṃ mama sarvasattvānāṃ mahāvajreṇa mūrdhnisphālanāya sphoṭanāya praharaṇāya hūṃ 2 phaṭ vajreṇa sarvaduṣṭān sarvaśatrūn māraya 2 śoṣaya 2 stambhaya 2 bandhaya 2 hana 2 daha 2 paca 2 mara 2 māraya 2 sarvaśatrūn nāśaya 2 hūṃ phaṭ svāhā | yasya ca kulaputra iyaṃ sā gṛhapate vasudhārā nāma dhāraṇī śrāddhasya kulaputrasya vā kuladuhitur vā hṛdayagatā gṛhagatā hastagatā pustakagatā śrutimātragatā paryavāptā manasā suparicintitā dhāritā vācitā likhitā anumoditā parebhyaś ca vistareṇa saṃprakāśitā ca tad bhaviṣyati | tasya kulaputrasya vā kuladuhitur vā dīrgharātram arthāya hitāya sukhāya kṣemāya subhikṣāya yogasaṃbhārāya bhaviṣyati | yaś cemāṃ vasudhārā nāma dhāraṇīṃ tathāgatebhyo 'rhadbhyaḥ samyaksaṃbuddhebhya udārāṃ pūjāṃ kṛtvā namaskṛtvā āvartayet | sarvatathāgatānāṃ sarvaśrāvakapratyekabuddhānāṃ sarvabodhisattvānāṃ sarvatathāgatasarvamudrāmantravidyādevatānā tebhyaḥ sarvapūjābhipūjayet | ardharātre tricaturvārāṇi tasya devatā āttamanasthā pramuditaḥ prītisaumanasyajāto vācayet | tadā bhagavatyā vasudhārayā svayam evāgatya dhanadhānyahiraṇyavṛṣṭiṃ pātayiṣyanti | prītyā tathāgataśāsane prītyā buddhaprajñaptyā prītyā dharmaprajñaptyā prītyā saṃghaprajñaptyā prītyā sarvaśrāvakapratyekabuddhaprajñaptyā prītyā pañcakulāvasthitamudrāmantravidyādevatā prajñaptyā prītyā dharmabhāṇakasyāśayena |
namo ratnatrayāya | oṃ namo bhagavatyai āryavasudhārāyai | oṃ bhagavate śrīvajradharasāgaranirghoṣāya tathāgatāyārhate samyaksaṃbuddhāya | oṃ namo bhagavate 'kṣobhyāya tathāgatāyārhate samyaksaṃbuddhāya | oṃ namaḥ sarvatathāgatāyārhate samyaksaṃbuddhāya | namaḥ sarvatathāgatebhyo 'tītānāgatapratyutpannebhyaḥ | namaḥ kṣemaṅkarasya tathāgatasya namo vajradharasāgaragambhīrasya tathāgatasya | (Vdh-DH_134) agrayugaprāptebhyo bhadrayugaprāptebhyo vipaśyādibhyaḥ śākyamunibhyo dānapāramitāparipūrṇebhyo bhagavadbhyaḥ vipaśyinas tejasā | ṛddhyā ca śikhinas tathā viśvabhukprajñayā caiva | krakucchandabalena ca kanakamuneḥ śikṣāyām | kāśyapasya guṇair api śākyasiṃhasya vīryeṇa | maitreyasya pratijñayā samṛddhyantu me tathāgatasya ime mantrapadāḥ | sarvasattvahito vidyā dāridryaḥ vyādhiduḥkhavyasanārṇavamocakebhyaḥ | iyaṃ vasudhārānāmadhāraṇī vidyārahasyaṃ pravakṣyāmi | tathāgatabhāṣitasyārthamantrapadāny anusmarāmi | tadyathā ḥ oṃ hūṃ hūṃ oṃ śrīdhane 2 dhanaiśvarye śukramāṇe(?) akṣayakośe cintitotpādani manasi sādhani | mano icchā sādhani | sādhanakari | koṭe 2 koṭāvare koṭīśvarye anantāparyantasarvaratnavastrālaṅkārābhara āni dhanadhānyavṛddhiṃkari cintitotpatti samohani | śakrasya kośakoṣṭhāgāradohani | bṛhaspater mantram apaharaṇi | buddhe 2 buddhasatye dharmasatye saṃghasatye sarvabuddhabodhisattvasatye bodhiprāgbhārasatye sarvaśrāvakapratyekabuddhasatye brahmasatye viṣṇusatye rudrasatye lokapālasatye dhanadājñākari hiraṇyasuvarṇamaṇimuktivajravaiḍūryaśa khaśilāpravālajātarūparajatamarakatapadmarā gaindranīlakarkketanasarvadravyasamṛddhaye | catuḥṣaṣṭībrīhisahasrāṇām ādhipatyaṃ kārayati | ehi bhagavati vajradharasāgaragambhīrabuddhasatye satyavādini | oṃ cara 2 ciri 2 curu 2 hulu 2 mulu 2 | lu lu lu lu lu | le le le le | iṭi 2 miṭi 2 sara 2 saṃsara 2 vigata sa ihāgacchāgaccha bhagavati vasudhāre mama sarvasattvānāṃ ca gṛhe sādhakānāṃ mano icchāgamaṃ paripūraya | bhagavati uttiṣṭha vidyāsarvabuddhā bhagavantaḥ samājñāpayanti svāhā | namas tryadhvikānām | namaḥ sarvatathāgatānām | tadyathā | oṃ namo ratnatrayāya | oṃ namaś caṇḍavajrapāṇaye | oṃ namo vajrakrodhāya | mahādaṃṣṭrotkaṭabhairavāya | asimuṣalaparaśupāśagṛhītahastāya | oṃ amṛtakuṇḍali kha kha khāhi 2 tiṣṭha 2 bandha 2 hana 2 daha 2 paca 2 mara 2 garjja 2 visphoṭaya 2 sarvavighnavināyakānāṃ mahāgaṇapatijīvitāntakarāya hūṃ 2 phaṭ svāhā | oṃ sumbhani sumbhani hūṃ gṛhṇa 2 gṛhṇāpaya 2 hūṃ ānaya ho bhagavan vidyārāja hūṃ 2 phaṭ svāhā | oṃ vajrayakṣa hana hūṃ phaṭ svāhā | oṃ āharite mahābale hūṃ svāhā | oṃ āḥ hūṃ svāhā | oṃ āḥ sitātapatre hūṃ svāhā | oṃ maṇipadme hūṃ svāhā | oṃ vajradharme hūṃ svāhā | oṃ sarvaviśuddhidharmatā vajrasiddhi hūṃ svāhā | oṃ sarvatathāgatajñānayogīśvari hūṃ svāhā | oṃ śrīsarvatathāgatabhavāya svāhā | oṃ prajñe 2 mahāprajñe śrutismṛtivijaye svāhā | oṃ cale cule cunde svāhā | tadyathā ḥ oṃ śrīsaubhāgyarūpe svāhā | oṃ śrīdivyarūpe svāhā | oṃ śrīdīptarūpe (Vdh-DH_135) svāhā | oṃ śrīsurūpe svāhā | oṃ śrīrūpamate svāhā | oṃ śrīrūpaśobhe svāhā | oṃ śrīrūpamati svāhā | oṃ śrīsuvarṇavapurūpe svāhā | oṃ śrījñānarūpe svāhā | oṃ śrīprajñāpāramite svāhā | oṃ śrīvajrasattvahṛdaye svāhā | oṃ śrībhadre svāhā | oṃ śrīsubhadre svāhā | oṃ śrīsubhadramati svāhā | oṃ śrīmaṅgale svāhā | oṃ śrīsumaṅgale svāhā | oṃ śrīmaṅgalamati svāhā | oṃ śrīālaye svāhā | oṃ śrīale 2 svāhā | oṃ śrīamale svāhā | oṃ śrīvimale svāhā | oṃ śrīnirmale svāhā | oṃ śrīmalanāśani svāhā | oṃ śrīacale svāhā | oṃ śrīcale svāhā | oṃ śrīacapale/śrīacalabale svāhā | oṃ śrīudghāṭani svāhā | oṃ śrīudbhedani svāhā | oṃ śrīudbhāṣiṇi svāhā | oṃ śrīudghoṣaṇi svāhā | oṃ śrīprīyaṅkari svāhā | oṃ śrīprītikari svāhā | oṃ śrīśriyaṅkari svāhā | oṃ śrīśivaṅkari svāhā | oṃ śrīśubhaṅkari svāhā | oṃ śrīśrīkari svāhā | oṃ śrīkīrtikari svāhā | oṃ śrīlakṣmīkari svāhā | oṃ śrīsatyavati svāhā | oṃ śrīśasyavati svāhā | oṃ śrīdhanavati svāhā | oṃ śrīdhānyavati svāhā | oṃ śrīdhanakari svāhā | oṃ śrīdhānyakari svāhā | oṃ śrīdhane 2 svāhā | oṃ śrīdhaneśvare svāhā | oṃ śrīśrīmati svāhā | oṃ śrīprabhāmati svāhā | oṃ śrīruru svāhā | oṃ śrīsurūpamale svāhā | oṃ śrīvigatamale svāhā | oṃ śrīvipulagarbhe svāhā | oṃ śrīakṣayamate svāhā | oṃ śrīakṣayakośe svāhā | oṃ śrīdharmadade mokṣaprade svāhā | oṃ śrīicchāprade svāhā | oṃ śrīsarvasukhaprade svāhā | oṃ śrīdhanade dhanapūjite (Vdh-DH_136) svāhā | oṃ śrīapacāyanīye svāhā | oṃ śrīajamukhe svāhā | oṃ śrīarccanīye svāhā | oṃ śrīarccanāste svāhā | oṃ śrīananante svāhā | oṃ śrīananaste vinanaste svāhā | oṃ śrīvinaste svāhā | oṃ śrīvinanaste svāhā | oṃ śrīviśvaste svāhā | oṃ śrīviśvakeśi svāhā | oṃ śrīviśuddhaśīle svāhā | oṃ śrīviśvaṛṣi svāhā | oṃ śrīviśuddharūpe svāhā | oṃ śrīviguṇi viguṇiṣe viguṇe svāhā | oṃ śrīviguṇiṣe svāhā | oṃ śrīaṅkure svāhā | oṃ śrīmaṅkure svāhā | oṃ śrīprabhaṅkure svāhā | oṃ śrīamoghāṅkuśe jaḥ hūṃ vaṃ hoḥ svāhā | oṃ śrīākarṣaṇi svāhā | oṃ śrīāveśani svāhā | oṃ śrīpraveśani svāhā | oṃ śrīririme svāhā | oṃ śrīrurume svāhā | oṃ śrīdhadhame svāhā | oṃ śrīdhidhime svāhā | oṃ śrīdhudhume svāhā | oṃ śrīkhakhame svāhā | oṃ śrīkhukhume svāhā | oṃ śrī tara 2 svāhā | oṃ śrī tatara svāhā | oṃ śrī tare taratare tāra tame merura virura tāraya 2 svāhā | oṃ śrī tārayantu māṃ bhagavati vasudhārānāma dhāraṇī mama sarvasattvānāṃ ca icchāgamane oṃ śrī bhagavati oṃ tāre tuttāre ture svāhā | oṃ śrī bhagavati vasudhārānāma dhāraṇī mama mahārakṣāvaraṇaguptiṅkari svāhā | oṃ śrīvajre 2 mahāvajre svāhā | oṃ śrīvajropame svāhā | oṃ śrīmahāvajropame svāhā | oṃ śrīāvartani svāhā | oṃ śrīpravartani svāhā | oṃ śrīniṣpādani svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīvasuṃ dade vasudhe kuru 2 svāhā | oṃ śrīṭakke 2 svāhā | oṃ śrīṭhakke 2 svāhā | oṃ śrīḍakke 2 svāhā | oṃ śrīḍhakke 2 svāhā | oṃ śrītukke 2 svāhā | oṃ śrībhukke 2 svāhā | oṃ śrībukke 2 svāhā | oṃ śrīḍhakke 2 svāhā | oṃ śrīdhakke (Vdh-DH_137) svāhā | oṃ śrīvarṣaṇi svāhā | oṃ śrīpravarṣaṇi svāhā | oṃ śrīutthāpini svāhā | oṃ śrīvajradharasāgaranirghoṣo nāma tathāgatasatyam anusmara 3 svāhā | oṃ śrīsarvatathāgatasatyam anusmara 3 svāhā | oṃ śrīsarvabuddhasatyam anusmara 3 svāhā | oṃ śrīsarvadharmasatyam anusmara 3 svāhā | oṃ śrīsaṃghasatyam anusmara 3 svāhā | oṃ śrītaṭa mama saparivārasya sarvasattvānāṃ ca sarvāśāparipūraya 2 mama sarvasattvānāṃ ca gṛhe ākāśagataṃ vā pṛthivīgataṃ vā jalagataṃ vā sthalagataṃ vā antarīkṣagataṃ vā bhūmigataṃ vā svargagataṃ vā martyagataṃ vā pātālagataṃ vā samudragataṃ vā saptadvīpāntagataṃ vā sarvatragataṃ vā parvatāntagataṃ vā | bhagavati vasudhāre asmin gṛhe maṇimuktivajravaiḍūryaśaṅkhaśilāpravāla jātarūparajatamarakatamusāragalbakarkketanapadm arāgaindranīlādyanekaratnāni sauvarṇarajatatāmralohadhātumūlajīvādīni ca anekadhanadhānyacatuḥṣaṣṭībrīhisahasrā ṇi ca mama sarvasattvānāṃ ca kośakoṣṭhāgārāṇi ca sarvopakaraṇāni bharaṇi 2 svāhā | oṃ śrīparipūraya svāhā | oṃ śrīmaṅgale svāhā | oṃ śrīsumaṅgale svāhā | oṃ śrīmaṅgalamati svāhā | oṃ śrīsumaṅgalamati svāhā | oṃ śrīśubhamati svāhā | oṃ śrīśāntamati svāhā | oṃ śrīśubhamati svāhā | oṃ śrīmahāśubhamati svāhā | oṃ śrīmahāmati svāhā | oṃ śrīmahārthamati svāhā | oṃ śrīprabhāvamati svāhā | oṃ śrībhadramati svāhā | oṃ śrīśubhabhadramati svāhā | oṃ śrījayamati svāhā | oṃ śrīvijayamati svāhā | oṃ (Vdh-DH_138) śrīsucandramati svāhā | oṃ śrīgurviṇīsukhena prasūtani mahātejaḥ śrī svāhā | oṃ śāntamati svāhā | oṃ śrīmahāpauṣṭamati svāhā | oṃ śrīsarvajanavaśaṃkari svāhā | oṃ śrīsarvaduṣṭanikṛntani svāhā | oṃ śrīsarvaśatruvināśani hūṃ phaṭ svāhā | oṃ śrīāgacchāgacchasamayam anusmara svāhā | oṃ śrīhṛdayam anusmara svāhā | oṃ śrīupahṛdayam anusmara svāhā | oṃ śrīāvaraṇam anusmara svāhā | oṃ śrīādhāram anusmara svāhā | oṃ śrīprabhāvam anusmara svāhā | oṃ śrīsvabhāvam anusmara svāhā | oṃ śrīdhṛtim anusmara svāhā | oṃ śrījayam anusmara svāhā | oṃ śrīvijayam anusmara svāhā | oṃ śrīsarvasattvasamayam anusmara svāhā | oṃ śrīsarvatathāgatavinayam anusmara svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīvasudhā svāhā | oṃ śrīvasudhe svāhā | oṃ śrīvasumukhi svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīvasudhe svāhā | oṃ śrīvasudhari svāhā | oṃ śrīvasumati priye svāhā | oṃ śrīvasudhāraṇiye svāhā | oṃ śrīvasumati śriye svāhā | oṃ śrīvasudhāre dharaṇī dhāraṇī vasudhāraṇīye svāhā | oṃ śrīlakṣmīye svāhā | oṃ śrīlakṣmīnivāsanīye svāhā | oṃ śrībhūtalanivāsinīye svāhā | oṃ śrīvasudhe svāhā | oṃ śrīśriye śrīkari dhanakari dhānyakari brī svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīsamaye saumyasamayaṃkari (Vdh-DH_139) mahāsamaye svāhā | oṃ śrīdhanadhānyasamaye śrīkari vasundhari vasudhe svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīvasudhāre ehy ehi bhagavti samayam anusmara siddhiṃ kuru me hūṃ svāhā | oṃ śrīvasudhārā dhāraṇyai varapradāyai sarvadhanadhānyasarvaratnavastrālāṅkārasarva brīhyādibhiḥ sarvopakaraṇaiḥ samṛddhiṃ me dehi sarvasattvānāṃ ca dehi me śāntiṃ puṣṭiṃ vaśaṃ siddhiṃ ca dadāpaya svāhā | oṃ śrīdhanadhānyāya vinmahe sarvaratnālaṅkārasarvopakaraṇāni dhīmahi tanno śrīvasudhāraṇī pracodayāt svāhā | oṃ āḥ svāhā | oṃ svaḥ svāhā | oṃ hrīḥ svāhā | oṃ svā svāhā | oṃ hoḥ svāhā | oṃ yānapātra vahe dūragāmini anutpannānāṃ dravyāṇām utpādani utpannānāṃ ca dravyāṇāṃ vṛddhiṃkari ṭili 2 ṭeli 2 iṭa 2 āgaccha āgaccha bhagavati mā vilamba mama sarvasattvānāṃ ca manorathaṃ paripūraya daśabhyo digbhyaḥ yathodakadhārāḥ paripūrayanti mahīṃ yathā bhāskaro raśminā vidhamayanti tamāṃ cittāntarāṇi tamastimiraṃ yathā sa śītāṃśunāpy āyati sarvoṣadhīḥ | yathā mahoṣadhīnāṃ sarvarogān nāśayanti | dhanado varuṇaś caiva indro vaivasvatas tathā tathā mahatī manonugāminī siddhiṃ cintayantu satataṃ sadyaḥ sarvā prayaccha yathākāmaṃ siddhyantāṃ mantrapadānīha | tadyathā ḥ oṃ kheṭe 2 khiṭi 2 khuṭu 2 chucu 2 muru 2 muruṇḍa (Vdh-DH_140) 2 tarpari dehi dadāpaya svāhā | oṃ uttiṣṭha hiraṇyasuvarṇadhāre svāhā | oṃ vastrābharaṇāya svāhā | oṃ annapānāya svāhā | oṃ vasunidhānāya svāhā | oṃ vasudhāre svāhā | oṃ vasudhādhipataye svāhā | oṃ vasudhe svā svāhā | oṃ gau svāhā | oṃ surabhe svāhā | oṃ indrāya svāhā | oṃ pāṃcikebhyaḥ svāhā | oṃ yamāya svāhā | oṃ varuṇāya svāhā | oṃ vaiśravaṇāya svāhā | oṃ viruḍhakāya svāhā | oṃ virupākṣāya svāhā | oṃ dhṛtarāṣṭrāya svāhā | oṃ kuberāya svāhā | oṃ agnaye svāhā | oṃ nairṛtye svāhā | oṃ vāyavye svāhā | oṃ īśānādhipataye svāhā | oṃ anantāya svāhā | oṃ kuliśapālāya svāhā | oṃ vāsukaye svāhā | oṃ śaṅkhapālāya svāhā | oṃ takṣakāya svāhā | oṃ padmāya svāhā | oṃ mahāpadmāya svāhā | oṃ aṣṭanāgādhipataye svāhā | oṃ jambhalajalendrāya svāhā | oṃ asurādhipataye svāhā | oṃ sūryagrahādhipataye svāhā | oṃ candranakṣatrādhipataye svāhā | oṃ diśi lokapālāya svāhā | oṃ vidiśi lokapālāya svāhā | oṃ sarvalokapālāya svāhā | oṃ sarvadhanadhānyasuvarṇanidhānāni māṃ dehi dadāpaya svāhā | oṃ vasudhe svāhā | oṃ vasudhādhipataye svāhā | oṃ sarvadevāya namaḥ svāhā | oṃ sarvanāgāya namaḥ svāhā | oṃ sarvayakṣādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvagrahādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvapiśācādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvarākṣasādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvabhūtādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvapretādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvamarutādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvamahāmarutādhipataye namaḥ svāhā | oṃ sarvaḍākinībhyo namaḥ svāhā | oṃ sarvamahākālāya namaḥ svāhā | oṃ sarvamātaribhyo namaḥ svāhā | oṃ sarvabhṛṅgaribhyo namaḥ svāhā | oṃ sarvabhūtanībhyo namaḥ svāhā | oṃ (Vdh-DH_141) sarvapiśācanībhyo namaḥ svāhā | oṃ sarvayakṣiṇībhyo namaḥ svāhā | eteṣāṃ mama sarvasattvānāṃ ca sarvadhanadhānyasuvarṇanidhānāni dehi māṃ dadāpaya svāhā | oṃ jambhalajalendrāya sarvadravyāṇi dehi māṃ dadāpaya svāhā | oṃ āryāvalokiteśvārāya hūṃ svāhā | oṃ maṇipadme hūṃ svāhā | oṃ vajrapāṇi sarvavajradhara hūṃ svāhā | oṃ jambhalajalendrāya jluṃ pluṃ saḥ svāhā | oṃ maṇibhadrāya svāhā | oṃ pūrṇabhadrāya svāhā | oṃ vaiśravaṇāya svāhā | oṃ dhanadāya svāhā | oṃ mahādhanadāya svāhā | oṃ nandādevī namaḥ svāhā | oṃ sunandādevī namaḥ svāhā | oṃ bhadrādevī namaḥ svāhā | oṃ subhadrādevī namaḥ svāhā | oṃ civikuṇḍaline svāhā | oṃ keli mālinīye svāhā | oṃ jambhalamukhendrāya svāhā | oṃ jambhalajalendrāya svāhā | oṃ namaḥ śrīāryajambhalajalendrāya svāhā | oṃ śrīsarvajambhalajalendrāya svāhā | oṃ jambhalajalendrāya svāhā | oṃ phūḥ śaṅkhapālanāgarājāya svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīvasudhāraṇīye svāhā | oṃ hūṃ svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śriye śrīkari dhanakari dhānyakari brīṃ svāhā | oṃ śrīilādevo svāhā | oṃ śrībalādevī svāhā | oṃ śrīvasudhārādevī svāhā | oṃ śrīvaruṇādevī svāhā | oṃ śrīdhanavati svāhā | oṃ śrīdhānyavati svāhā | oṃ śrīśrīmatī svāhā | oṃ śrīprabhāvamati svāhā | oṃ śrīcandramatī svāhā | oṃ śrītejamati svāhā | oṃ śrīsarvaguṇavati svāhā | oṃ śrīvasudhāre svāhā | oṃ śrīvasudhā svāhā | oṃ śrīvasundhari svāhā | oṃ śrījambhalajalendrāya svāhā | oṃ śrī jluṃ pluṃ saḥ svāhā | oṃ śrīguhyasakaṭike sarve ākarṣaya 2 oṃ śrī āharite mahābale hūṃ svāhā | oṃ śriguptādevī svāhā | oṃ śrīsuguptādevī svāhā | oṃ śrīsarasvatīdevī svāhā | oṃ śrīcandrakāntādevī svāhā | oṃ (Vdh-DH_142) śrīdhanadamahādhanado svāhā | oṃ śrīpadmamahāpadmakau svāhā | oṃ śrīcivikuṇḍalikelimālinau svāhā | oṃ śrīpūrṇasupūrṇau svāhā | oṃ śrīmahāratnanidhipātakau svāhā | oṃ svāha | oṃ jaṃ svāhā | oṃ bha svāhā | oṃ la svāhā | oṃ ja svāhā | oṃ le svāhā | oṃ ndrā svāhā | oṃ ya svāhā | oṃ svā svāhā | oṃ hā svāhā | oṃ vajrasamāja jaḥ hūṃ baṃ hoḥ | oṃ hūṃ svāhā | oṃ śrī svāhā | oṃ kṣīṃ svāhā | oṃ hrīṃ svāhā | oṃ prajñāśrī svāhā | oṃ āḥ svāhā | oṃ svaḥ svāhā | oṃ sūṃ hūṃ svāhā | oṃ āḥ hūṃ svāhā | eteṣāṃ mama sarvasattvānāṃ ca dhanadhānyasuvarṇanidhānāni māṃ dehi dadāpaya svāhā | oṃ jambhalajalendrāya sarvadravyaṃ dehi māṃ dadāpaya svāhā | oṃ svāhā | oṃ bhu svāhā | oṃ svaḥ svāhā | oṃ bhur bhuḥ svāhā | oṃ daśabhyo digbhyaḥ svāhā | utpādayantu me kāṃkṣim aviraham anumodayantu ime mantrapadāḥ siddhyantu | oṃ oṃ oṃ oṃ oṃ | hūṃ hūṃ hūṃ hūṃ hūṃ | hrīṃ hrīṃ hrīṃ hrīṃ hrīṃ | oṃ hūṃ hrīṃ | kṣemārogyaṃ dhanaṃ dehi dadāpaya svāhā | eṣa hṛdayo bhagavatyā mahāpāpakarmakāriṇo 'pi mantrapadāni siddhyanti | kiṃ punaḥ śraddhyādhimuktikasya puruṣasya puruṣapramāṇaṃ mahābhogaṃ dadāti | īpsitaṃ manorathaṃ paripūrayati | oṃ vajre 2 mahāvajre vajropame ṭake ṭhake hūṃ phaṭ svāhā | oṃ śriye śrīkari dhanakari dhānyakari ehi āgacchāgaccha brīṃ svāhā | oṃ śaṅkhanidhānāya svāhā | oṃ padmanidhānāya svāhā | oṃ aṣṭau yakṣiṇī (Vdh-DH_143) sarvapūjā hūṃ svāhā | oṃ yān yān sarvakāmaṃ iha kāmayati | tān tān sarvān īpsitān paripūrayati | siddhyantu mantrapadāni | tadyathā ḥ namo ratnatrayāya | oṃ namo devi dhanaduhite vasudhārāṃ pātaya 2 dhaneśvari ratnadehe huru 2 dhaneśvari ratnaṃ me dehi dadāpaya ratnasāgaramahānidhāne nidhānakoṭiśatasahasraparivāre ehy ehi bhagavati vasudhāre praviśya mama puraṃ mama bhavanaṃ mahānidhānaṃ pātaya 2 turu 2 kuru 2 hūṃ phaṭ kailāśanivāsini svāhā | iyaṃ sā gṛhapati vasudhārānāma dhāraṇīmantrapadā | asyā dhāraṇyāḥ prabhāveṇa rogadurbhikṣamarakādayo na prabhavanti | yas tu kulaputra imāni vasudhārānāma dhāraṇīmantrapadāni tathāgatānām arhatānāṃ samyaksaṃbuddhānāṃ pūjāṃ kṛtvā ṣaṇmāsān āvartayet | tataḥ siddho bhavati | yasyāṃ diśi iyaṃ vidyā dhāryate sā dik pūjyamānā bhavati | yasmin sthāne pūjyate pauṣṭikārthaṃ svagṛhe vā paragṛhe vā śraddhayā paramaśraddhayā vasudhārā pratimāṃ bhaṭṭārikāṃ vā paṭaṃ vā agrato 'nuprasārya candanena caturasraṃ maṇḍalakaṃ kṛtvā puṣpadhūpadīpagandhamālyavilepanacūrṇacīv aracchatradhavajaghaṇṭāpatākopaśobhite balinaivedyavividhopacārair yathāvibhavaṃ pūjāṃ kṛtvā dharmabhāṇakaś cāpi sugandhajalasnātaḥ sugandhāṅgaśucivastraṃ prāvṛtyamayūrāsenopari samupaviśya pratimāpaṭṭādikaṃ vā sthāpayitvā tam evānusmṛtya sūryodayavelāyāṃ paripūjayitvā pratyaham akhaṇḍasamādānato yāvad eva sakalāṃ rātriṃ dhāraṇīm avicchinnam āvartayet | tasya krameṇa sarvasaṃpattir bhavati | tataḥ prāktena pi divase niyamena (Vdh-DH_144) rātrim atināmayitvā punaḥ pratyuṣe sugandhajalasnātaḥ śuciramalavastrāvṛto brahmacārī bhūtvā śubhe sthāne sanidānadhāraṇīm avicchinnam āvartayet trīṇi vārāṇi | tataḥ kulaputro vā kuladuhitā vā mahāpuruṣamātrayā vasudhārayā gṛhaṃ paripūrayanti | sarvadhanadhānyahiraṇyasuvarṇaś ca sarvopakaraṇaiś ca sarvopadravāś ca nāśayati | yad vā tathaiva pratyuṣe sugandhajalasnātaḥ śuciramalavastrāvṛto madyapānarahito nirāmiṣālavaṇabhojī brahmacārī pauṣṭikārthaṃ svagṛhe vā paragṛhe vā śubhe sthāne kośakoṣṭhāgāre vā candanena caturasraṃ maṇḍalakaṃ kṛtvā bhagavataḥ śrīmadāryāvalokiteśvarasya tathāgatasya sarvaśrāvakapratyekabuddhabodhisattvānāṃ mahāmudrāmantravidyādevatāyāś cāgrato yathāvibhavam udārāṃ pūjāṃ kṛtvā susamāhitaḥ tām eva bhagavatiṃ bhāvayenn ekacittotpādena dānapatihitasukhāśayaḥ śraddhyā paramaśraddhyā sanidānām imāṃ dhāraṇīm ekamahorātraṃ saptāhorātrāṇi vā parikṣānālayann āvicchinnam āvartayet | ācāryas tathaiva niyamena rātres triṣkṛtvā divasasyāpi triṣkṛtvā sarvabalyupahāraiḥ pūjayet | tathaiva dānapatir api niyamena sarvam ācaret | pāṭhakāleṣu yathāśaktyā suvarṇādidānaṃ dadyāt | tataḥ paṭhitasiddho bhavati | tataḥ kṣaṇamātrayā gṛhapate vasudhārayā mahāpuruṣamātrayā vasudhārā dānapateḥ gṛhaṃ paripūrayati | sarvadhanadhānyahiraṇyasuvarṇaḥ sarvopakaraṇaiś ca sarvopadravāś ca nāśayati | tena hi tvaṃ gṛhapate sarvaprayatnīkṛtyodgṛhṇīṣvemāṃ vasudhārānāmadhāraṇīṃ dhāraya vācaya deśaya grāhaya paryavāpnuhi parebhyaś ca vistareṇa saṃprakāśayati sma | tato bhaviṣyati dīrgharātram arthāya hitāya sukhāya bhogāya (Vdh-DH_145) yogasambhārāya kṣemāya subhikṣāya ceti | tataḥ sādhu bhagavann iti | bhagavato vacanaṃ pratiśrutya bhagavataḥ sucandro nāma gṛhapatiḥ bhagavato 'ntikād imāṃ vasudhārānāmadhāraṇīṃ śrutā | śrutvā hṛṣṭatuṣṭa udagra āttamanā pramuditaḥ prītisaumanasyajāto bhagavataś caraṇayor nipatya kṛtakarapuṭo bhūtvā bhagavantam etad avocat | udgṛhītā me bhagavann iyaṃ vasudhārānāma dhāraṇī prahvīkṛtā dhāritā vācitā paryavāptānumoditā manasā suparicintitā parebhyaś ca vistareṇa idānīm ahaṃ saṃprakāśayiṣyāmīti | atha tatkṣaṇamātreṇa sa sucandro nāma gṛhapatiḥ paripūrṇakośakoṣṭāgāro 'bhūt | atha khalu sucandro gṛhapatir bhagavantam anekaśatasahasraṃ pradakṣiṇīkṛtya bhagavataḥ pādau śirasābhivandya bhagavantaṃ punaḥ punar avalokya bhagavato 'ntikāt svagṛhaṃ prakrāntaḥ | prakramya ca sa gṛhapatir ābhyantaraṃ praviśyādrākṣīt paripūrṇasarvadhanadhānyaratnajātasamṛddha sarvopakaraṇaiś ca kośakoṣṭhāgārāṇi ca paripūrṇāni dṛṣṭā ca vismito hṛṣṭatuṣṭa udagra āttamanā pramuditaprītisaumanasyajātaḥ paripūrṇamanorathaṃ parituṣyamāṇe kuśalamūlamṛdusnigdhahṛdaye buddhe bhagavati vasudhārānāmadhāraṇīṃ ca tīvrapremagurugauravaṃ prāsādikabahumāne citrikāraś ca bodhicittaṃ samutpādayati sma |
atha khalu bhagavān āyuṣmantam ānandaṃ āmantrayate sma | gaccha tvaṃ ānanda sucandrasya gṛhapater agāraṃ paśya paripūrṇasarvadhanadhānyasamṛddhaṃ sarvaratnasuvarṇaiḥ sarvopakaraṇaiś ca mahākośakoṣṭhāgārāṇi ca paripūrṇāni | atha khalv āyuṣmān ānando bhagavato vacanaṃ pratiśrutya yena kośāmbīmahānagarī yena sucandraniveśas taṃ gatvā tasyāgāraṃ tenopasaṃkrānta upasaṃkramyābhyantaraṃ praviśyādrākṣīt paripūrṇasarvadhanadhānyasamṛddhaṃ mahākośakoṣṭhāgārāṇi ca paripūrṇāni dṛṣṭvā hṛṣṭatuṣṭa udagra āttamanāḥ pramuditaḥ prītisaumanasyajāto yena bhagavāṃs tenopasaṃkrānta upasaṃkramyāyuṣmān ānando vismitaḥ prītisaumanasyajāto bhagavataḥ pādau śirasābhivandya bhagavantam etad avocat | ko (Vdh-DH_146) bhagavan hetuḥ kaḥ pratyayo yena sucandro nāma gṛhapatir mahādhano mahābhogo mahākośakoṣṭhāgāradhanadhānyahiraṇyasuv arṇaratnajātasamṛddho jātaḥ | bhagavān āha śrāddhānanda sucandro nāma gṛhapatiḥ paramaśrāddhaḥ kalyāṇāśayo dhāritā vācitā ca teneyaṃ vasudhārānāmadhāraṇī pravartitā udgṛhītā dhāritā vācitā paryavāptā anumoditā parebhyaś ca vistareṇa saṃprakāśiteti | tenoktā ānanda tvam apy udgṛhīṣvemāṃ vasudhārānāmadhāraṇīṃ dhāraya vācaya deśaya grāhaya paryavāpnuhi parebhyaś ca vistareṇa saṃprakāśaya bhaviṣyanti tadbahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāyair mahato janakāyasyārthāya hitāya sukhāya devānāṃ ca manuṣyāṇāṃ ca yasya gṛhapater ānandeyaṃ dhāraṇī hastagatā pustakagatā bhaviṣyati | hṛdayagatā dhāritā vācitā cintitā śrutimātragatā gṛhagatā pustakagatā pūjitā ca bhaviṣyati | tasya durbhikṣabhayaṃ na bhaviṣyati | krameṇa vibhavaṃ tasya saṃvardhate | bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāyair mahato janakāyasyārthāya hitāya sukhāya devānāṃ ca manuṣyāṇāṃ ca nāham ānanda taṃ dharmaṃ samanupaśyāmi | sadevake loke samārake sabrahmake saśramaṇabrāhmaṇikāyāṃ prajāyāṃ sadevāsuramānuṣyāṇāṃ ya imāṃ vidyāṃ anyathā kariṣyati atikramiṣyati vācā naitat sthānaṃ vidyate | tat kasya hetor abhedyāni hy etāny ānanda vasudhārānāmadhāraṇīmantrapadāni na cetāni kṣīṇakuśalamūlānāṃ śrutipatham āgamiṣyati | kaḥ punar vādo ye pustakagatāni hṛdayagatāni dhārayiṣyanti vācayiṣyanti | tat kasya hetoḥ sarvatathāgatair iyaṃ bhāṣitā dhāraṇī adhiṣṭhitā svamudrayā mudritā prakāśitā anumoditā prabhāvitā praśastā saṃvarṇitā vivṛtā uttānīkṛtā ārocitā ākhyātā daridrāṇāṃ sattvānāṃ nānāvyādhiparipīḍitānāṃ sarvaduṣṭasattvabhayopadrutānām arthāya hitāya sukhāya saṃbhogāya paribhogāya kṣemāya ceti | ānanda āha ḥ udgṛhītā me bhagavann iyaṃ vasudhārānāmadhāraṇī dhāritā vācitā paryavāptā anumoditā manasā suparicintitā ca sādhu bhagavann iti |
atha khalv āyuṣmān ānanda utthāyāsanād ekāṃsam uttarāsaṃgaṃ kṛtvā dakṣiṇajānumaṇḍalaṃ pṛthivyāṃ pratiṣṭhāpya yena bhagavāṃs tenāñjaliṃ praṇamya kṛtakarapuṭo bhūtvā bhagavataḥ mukham avalokya yadīdānīṃ tasyāṃ velāyām imāṃ gāthā abhāṣat |
acintayo dravyasamṛddhaye sadā anekaratnaṃ susamṛddhakāñcanam |
āpūrṇam asmin gṛheṣu maṇḍalaṃ namo 'stu te śrīvasudhāraṇī sadā ||
(Vdh-DH_147)
acintayo bhagavān buddho buddhadharmo 'py acintayā |
acintayeti prasannānāṃ vipākaś cāpy acintayā ||
śāstā jānaya sarvajña dharmarājaparaṃparā |
pāragāmiphalaṃ prāpto buddhavīraṃ namo 'stu te ||
atha khalv āyuṣmān ānando imaṃ dharmaparyāyaṃ bhagavato 'ntikāt śrutvā hṛṣṭatuṣṭa udagra āttamanāḥ pramuditā prītisaumanasyajāto bhagavantam etad avocat | ko nāmāyaṃ bhagavanta dharmaparyāyaḥ kathaṃ bhagavan dhārayāmy enaṃ dharmaparyāyam | bhagavān āha ḥ sucandragṛhapatiparipṛcchety api ānanda dhāraya sarvadhanadhānyahiraṇyasuvarṇaratnanidhānam ity api dhāraya sarvatathāgatapraśastety api dhāraya sarvatathāgatādhiṣṭhitā vasudhārādhāraṇīkalpam ity api dhāraya |
idam avocad bhagavān āttamanā āyuṣmān ānandas te ca bhikṣavas te ca bodhisattvā mahāsat
http://gretil.sub.uni-goettingen.de/...h/vadhdhdu.htm
https://commons.m.wikimedia.org › ...
File:Om Tare Tuttare Ture Svaha (Lanydza).svg - Wikimedia Commons
18 thg 1, 2014 — File:Om Tare Tuttare Ture Svaha ( Lanydza).svg. Language; Watch ... OṀ TĀRE TUTTĀRE TURE SVĀHĀ in Lanydza script. by: Christopher J.
https://commons.m.wikimedia.org/wiki..._(Lanydza).svg
75.98.173.244 › nom-tools › Tu-Di...
Thông tin về Hội Thông tin về Hội Công trình của chúng tôi Con ...
Quốc Ngữ hoặc Hán-Nôm: Phần giải nghĩa 𧹪. 𧹪son. #F2: xích 赤⿰侖luân. ◎ Như 𣗾son. 銀硃𧹪艚. “Ngân chu”: son Tàu. Nam ngữ, 85a. Lời dẫn · Thể lệ biên
http://75.98.173.244/nom-tools/Tu-Di...Ct=8&uiLang=vn
========
NGÂN CHU ( 銀硃 / 银朱 ) - NGÂN CHÂU ( 银珠 ) [ tức SON TÀU ( 珠艚 / 朱艚 / 朱汁 ) ]: Là từ CHU SA ( 硃砂, 朱砂 ) 1 thứ Đá Đỏ dùng làm Thuốc được, dùng THỦY NGÂN chế ra mà thành.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...RUYỀN/page10
======
NGÂN CHÂU / NGÂN CHU
( 銀硃 / 银朱 )
别名:水华朱、心红、猩红、紫粉霜。
BIỆT-DANH: Thủy-Hóa-Chu、Tâm-Hồng、Tinh-Hồng、Tử-Phấn-Sương
猩红 [xīnghóng]. màu đỏ tươi; đỏ tươi ( màu đỏ ổi; Đỏ ối )。
http://y.jintonghua.com/zhongyao/gdsczyy/1173.html
http://3.vndic.net/index.php?dict=hans_viet&word=安慰
Bên cạnh việc sửa sang lại các dãy phố, là các phẩm vật cúng nạp cũng được tuân theo hạn định, như: 土 龍 埕 五 件, 急 燒 貳 拾 件, 芳 泰北 茶壹 箱 计 拾 捌 斤, 豆 腐 鹹 拾 小 埕, 豆 鼓 漿 拾 五 小 埕, 豋 籠 肆 対, 金 祥 捌 対, 石 黄 壹 晏, 廣 蛛 弍 晏, 紅 丹 弍 . Phiên âm “Thổ long trình ngũ kiện, cấp thiêu nhị thập kiện, Phương Thái bắc trà nhất sương kê thập bát cân, đậu hủ hàm thập tiểu trình, đậu cổ tương thập ngũ tiểu trình, đăng lung tứ đối (do tạm sự thanh phát hồi dĩ hạ) kim tường bát đối, thạch huỳnh nhứt yến, huỳnh châu nhị yến, hồng sơn nhị cân”. Dịch nghĩa: 5 hủ thổ long, 20 chiếc cấp thiêu, trà tàu hiệu Phương Thái 1 thùng 18 cân, đậu hủ hàm 10 bình nhỏ, tương đậu nành 15 bình nhỏ, bốn cặp lồng đèn (mượn tạm sau rồi sẽ trả lại), 8 đôi kim tường, 1 yến thạch huỳnh (đá màu vàng), 2 yến quảng châu (đỏ), hồng đơn 2 cân.
Các vật phẩm sức cho các hương chức mua dùng cúng tại núi Tam Thai gồm: cước hương (脚 香), liệu hương (燎 香), giấy vàng bạc (金 銀 紙), giấy tiền (錢 紙), cùng giấy tàu ngũ sắc (五 色 艚 紙), dầu phụng (鳳 油), bạch lạp (白 镴), cùng 1000 bát chiết yêu (折 腰 碗 壹 千 口) là loại bát eo lại ở giữa, miệng loe, đáy nhỏ, 30 bát cô tô (姑 蘇 水 碗 叁 拾 口) là loại bát lớn hiện đang được sử dụng tại các địa phương.
https://hoianheritage.net/vi/trao-do...oi-an-828.html
Cái trỏ khấu vòng
https://www.wikihow.vn/Khai-mở-các-luân-xa
3 bài thuốc chữa gai cột sống bằng Đông y hiệu quả
https://syt.bacgiang.gov.vn/chi-tiet...Redirect=false
SON TÀU là NGÂN CHÂU / NGÂN CHU ( Còn gọi là: Tinh-Hồng )
「 珠艚 / 朱艚 / 朱汁 = 銀硃 / 银朱 ( 猩红 ) 」
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...RUYỀN/page10
http://75.98.173.244/nom-tools/Tu-Di...Ct=8&uiLang=vn
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...66#post1856166
SON TÀU là NGÂN CHÂU / NGÂN CHU ( Còn gọi là: Tinh-Hồng )
「 珠艚 / 朱艚 / 朱汁 = 銀硃 / 银朱 ( 猩红 ) 」
. Trong Quần-Chúng: SON TÀU
.Trong Đông-Y: NGÂN CHÂU / NGÂN CHU
.Trong Đạo-Thuật: TINH HỒNG
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...RUYỀN/page10
http://75.98.173.244/nom-tools/Tu-Di...Ct=8&uiLang=vn
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...66#post1856166
(Sanskrit) Namo tasya bhagavato arhato samyak sambuddhasya
NAMO TASYA BHAGAVATO ARHATO SAMYAKSAMBUDDHASYA
http://buddhistenglish.blogspot.com/2019/05/?m=1
https://docsplayer.com/23116690-Micr...彙編new.html
KINH DƯỢC SƯ
( Phạn Ngữ )
bhaiṣajyaguruvaidūryaprabharājasūtram |
oṃ namaḥ sarvajñāya | namo bhagavate bhaiṣajyaguruvaidūryaprabharājāya tathāgatāya ||
evaṃ mayā śrutam | ekasmin samaye bhagavān janapadacaryāṃ caramāṇo'nupūrveṇa yena vaiśālīṃ (lī) mahānagarīṃ (rī) tenānuprāpto'bhūt | tatra khalu bhagavān vaiśālyāṃ viharati sma vādyasvaravṛkṣamūle mahatā bhikṣusaṃghena sārdhamaṣṭabhirbikṣusahasraiḥ ṣaṭ-triṃśadbhiśca bodhisattvasahasraiḥ sārdhaṃ rājāmātyabrāhmaṇagṛhapatisaṃhatyā devanāgayakṣagandharvāsuragaruḍakinnaramahor agamanuṣyāmanuṣyaparṣadā ca parivṛtaḥ puraskṛto dharmaṃ deśayati sma | atha khalu mañjuśrīrdharmarājaputro buddhānubhāvenotthāyāsanādekaṃsamuttarāsa gaṃ kṛtvā dakṣiṇaṃ jānumaṇḍalaṃ pṛthivyāṃ pratiṣṭhāpya yena bhagavāṃstenāñjaliṃ praṇamya bhagavantametadavocat-deśayatu bhagavaṃsteṣāṃ tathāgatānāṃ nāmāni, teṣāṃ pūrvapraṇidhānavistaravibhaṅgam | vayaṃ śrutvā sarvakarmāvaraṇāni viśodhayema paścime kāle paścime samaye saddharmapratirūpake vartamāne sattvānāmanugrahamupādāya | atha bhagavān mañjuśriye kumārabhūtāya sādhukāramadāt-sādhu sādhu mañjuśrīḥ, mahākāruṇikastvaṃ mañjuśrīḥ | tvamaprameyāṃ karuṇāṃ janayitvā samādhesase (?) nānākarmāvaraṇenāvṛtānāṃ sattvānāmarthāya hitāya sukhāya devamanuṣyāṇāṃ ca hitārthāya | tena hi tvaṃ mañjuśrīḥ śṛṇu, sādhu ca suṣṭhu ca manasi kuru, bhāṣiṣye | evaṃ bhagavan, iti mañjuśrīḥ kumārabhūto bhagavataḥ pratyaśrauṣīt | bhagavāṃstasyaitadavocat -
asti mañjuśrīḥ pūrvasmin digbhāge ito buddhakṣetrād daśagaṅgānadīvālukāsamāni buddhakṣetrāṇyatikramya vaidūryanirbhāsā nāma lokadhātuḥ | tatra bhaiṣajyaguruvaidūryaprabho nāma tathāgato'rhan samyaksaṃbuddho viharati vidyācaraṇasaṃpannaḥ sugato lokavidanuttaraḥ puruṣadamyasārathiśca śāstā devānāṃ manuṣyāṇāṃ ca buddho bhagavān| tasya khaku punarmañjuśrīḥ bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūrvaṃ bodhisattvacārikāṃ carata imāni dvādaśa mahāpraṇidhānānyabhūvan | katamāni dvādaśa mahāpraṇidhānāni ? prathamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūtyadāhamanāgate'dhvani anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhyeyam, tadā mama śarīraprabhayā aprameyāsaṃkhyeyāparimāṇā lokadhātavo bhrājeraṃstapyeran viroceran | yathā cāhaṃ dvātriṃśadbhirmahāpuruṣalakṣaṇaiḥ samanvāgataḥ, aśītibhiścānuvyañjanairalaṃkṛtadehaḥ, tathaiva sarvasattvā bhaveyuḥ || (dvitīyaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate'dhvani anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbudhyeyam, tadā bodhiprāptasya ca me kāyaḥ anarghavaidūryamaṇiriva antarbahiratyantapariśuddho vimalaprabhāsaṃpannaḥ syāt | vipulakāyastadupamena śriyā tejasā ca pratyupasthitaḥ syāt | tasyāṃśujālāni raviśaśikarānatikrameyuḥ te ca ye kecit sattvā lokadhātau jātāśca, ye cāpi puruṣāḥ, te tamisrāyāṃ ratrāvandhakāre nānādiśaṃ gaccheyuḥ | sarvadikṣu mama ābhayāṃ spṛṣṭāḥ kuśalāni ca) karmāṇi kurvīran || tṛtīyaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate------tadā bodhiprātptasya ca me ye sattvā aprameyaprajñopāyabalādhānena aparimāṇasya sattvadhātorakṣayāyopabhogāya paribhogāya syuḥ | kasyaci(t) sattvasya kenacid vaikalyaṃ na syāt || caturthaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate --- tadā bodhiprāpto'haṃ ye kumārgapratipannāḥ sattvāḥ śrāvakamārgapratipannāḥ pratyekabuddhamārgapratipannāśca, te sattvā anuttare bodhimārge mahāyāne niyojayeran || pañcamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate --- tadā bodhiprāptasya ca me ye sattvā mama śāsane brahmacaryaṃ careyuḥ, te sarve akhaṇḍaśīlāḥ syuḥ susaṃvṛtāḥ | mā ca kasyaci(t) śīlavipannasya mama nāmadheyaṃ śrutvā kvacid durgatigamanaṃ syāt || ṣaṣṭhaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate --- tadā bodhiprāptasya ca me ye sattvā hīnakāyā vikalendriyā durvarṇā jaḍaiḍamūkā laṃgāḥ kubjāḥ śvitrāḥ kuṇḍā andhā badhirā unmattā ye cānye śarīrasthavyādhayaḥ, te mama nāmadheyaṃ śrutvā sarve sakalendriyāḥ suparipūrṇagātrā bhaveyuḥ || saptamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate --- tadā bodhiprāptasya ca me ye nānāvyādhiparipīḍitāḥ sattvā atrāṇā aśaraṇā bhaiṣajyopakaraṇavirahitā anāthā daridrā duḥkhitāḥ, sace(t) teṣāṃ mama nāmadheyaṃ karṇapuṭe nipatet, teṣāṃ sarvavyādhayaḥ praśameyuḥ, nīrogāśca nirupadravāśca te syuryāva bodhiparyavasānam || aṣṭamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate --- tadā yaḥ kaścinmātṛgrāmo nānāśtrīdoṣaśataiḥ saṃlkiṣṭaṃ strībhāvaṃ vijugupsitaṃ mātṛgrāmayoniṃ ca parimoktukāmo mama nāmadheyaṃ dhārayet, tasya mātṛgrāmasya na strībhāvo bhavet yāva bodhiparyavasānam || navamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate --- tadā bodhiprāpte'haṃ sarvasattvān mārapāśabandhanabaddhān nānādṛṣṭigahanasaṃkaṭaprāptān sarvamārapāśadṛṣṭigatibhyo vinivartya samyagdṛṣṭau niyojya ānupūrvyeṇa bodhisattvacārikāṃ saṃdarśayeyam || daśamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūta--yadāhamanāgate--- tadā bodhiprāptasya ca me ye kecit sattvā rājādhibhayabhītāḥ, ye vā bandhanabaddhāvaruddhāḥ vadhārhā anekamāyābhirupadrutā vimānitāśca kāyikavācikacaitasikaduḥkhairabhyāhatāḥ, te mama nāmadheyasya śravaṇena madīyena puṇyānubhāvena ca sarvabhayopadravebhyaḥ parimucyeran || ekādaśamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūta-yadāhamanāgate --- tadā bodhiprāptasya ca me ye sattvāḥ kṣudhāgninā prajvalitāḥ āhārapānaparyeṣṭyabhiyuktāḥ tannidānaṃ pāpaṃ kurvanti, sace(t) te mam nāmadheyaṃ dhārayeyuḥ, ahaṃ teṣāṃ varṇagandharasopetena āhāreṇa śarīraṃ saṃtarpayeyam || dvādaśamaṃ tasya mahāpraṇidhānamabhūt-yadāhamanāgate--- tadā bodhiprāptasya ca me ye kecit sattvā vasanavirahitā daridrāḥ śītoṣṇadaṃśamaśakrairupadrutā rātriṃdivaṃ duḥkhamanubhavanti, sace(t) te mama nāmadheyeṃ dhārayeyuḥ, ahaṃ teṣāṃ ca vastraparibhogamupasaṃhareyam, nānāraṅgai raktāṃśca kāmānupanāmayeyam, vividhaiśca ratnābharaṇagandhamālyavilepanavādyatūryatā lāvacaraiḥ sarvasattvānāṃ sarvābhiprāyān paripūrayeyam || imāni dvādaśa mahāpraṇidhānāni mañjuśrīḥ bhagavān bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhastathāgato'rhan samyaksaṃbuddhaḥ pūrvaṃ bodhicārikāṃ caran kṛtavān ||
tasya khalu punarmañjuśrīḥ bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya yat praṇidhānaṃ yacca buddhakṣetraguṇavyūhaṃ tanna śakyaṃ kalpena vā kalpāvaśeṣeṇa vā kṣapayitum | suviśuddhaṃ tad buddhakṣetraṃ vyapagataśilāśarkarakaṭhalyamapagatakāmado amapagatāpāyaduḥkhaśabdamapagatamātṛgrām am | vaidūryamayī ca sā mahāpṛthivī kuḍyaprākāraprāsādatoraṇagavākṣajālani ryūhasaptaratnamayī, yadṛśī sukhāvatī lokadhātustādṛśī | tatra vaidūryanirbhāsāyāṃ lokadhātau dvau bodhisattvau mahāsattvau teṣāmaprameyāṇāmasaṃkhyeyānāṃ bodhisattvānāṃ mahāsattvānāṃ pramukhau, ekakaḥ sūryavairocano nāma, dvitīyaścandravairocanaḥ, yau tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya saddharmakośaṃ dhārayataḥ | tasmāt tarhi mañjuśrīḥ śrāddhena kulaputreṇa vā kuladuhitrā vā tatra buddhakṣetropapattaye praṇidhānaṃ karaṇīyam ||
punaraparaṃ bhagavān mañjuśriyaṃ kumārabhūtamāmantrayate sma-santi mañjuśrīḥ pṛthagjanāḥ sattvāḥ, ye na jānanti kuśalākuśalaṃ karma | te lobhābhibhūtā ajānanto dānaṃ dānasya ca mahāvipākam, bālāgramūrkhāḥ śraddhendriyavikalā dhanasaṃcayakṣaṇābhiyuktāḥ | na ca dānasaṃvibhāge teṣāṃ cittaṃ kramate | dānakāle upasthite svaśarīramaṃsacchedane iva vā manaso (duḥkhaṃ) bhavati | aneke ca sattvāḥ ye svayameva na paribhuñjanti, prāgeva mātāpitṛbhāryāduhitṝṇāṃ dāsyanti, prāgeva dāsadāsīkarmakarāṇām, prāgevānyeṣāṃ yācakānām, te tādṛśāḥ sattvā itaścyutvā pretaloke upapatsyante tiryagyonau vā | yaiḥ pūrvaṃ manuṣyabhūtaiḥ śrutaṃ bhaviṣyati tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyam, tatra teṣāṃ yamalokasthitānāṃ tiryagyonisthitānāṃ vā tasya tathāgatasya nāma su(saṃ?) mukhībhaviṣyati | saha smaraṇamātreṇa ataścyutvā punarapi manuṣyaloke upapatsyante, jātismarāśca bhaviṣyanti | te te durgatibhayabhītā na bhūyaḥ kāmaguṇebhirarthikā bhaviṣyanti, dānābhiratāśca bhaviṣyanti dānasya ca varṇavādinaḥ | sarvamapi parityāgenānupūrveṇa karacaraṇaśīrṣanayanaṃ ca māṃsaśoṇitaṃ (ca) yācakānāmanupradāsyanti, prāgeva anyaṃ dhanaskandham ||
punaraparaṃ mañjuśrīḥ santi sattvāḥ ye tathāgatānuddiśya śikṣāpadāni dhārayanti, te śīlavipattimāpadyante, dṛṣṭivipattimācāravipattiṃ vā kadācidāpadyante | śīlavipannā ye punaḥ śīlavanto bhavanti, śīlaṃ rakṣanti, na punarbahuśrutaṃ paryeṣyanti, na ca tathāgatabhāṣitānāṃ gambhīramarthamājānanti| ye ca punarbuhuśrutāḥ, te ādhimānikā bhaviṣyanti mānastabdhāḥ, pareṣāmīrṣyāparāyaṇāḥ saddharmamavamanyante pratikṣipanti | mārapakṣikāste tādṛśā mohapuruṣāḥ svayaṃ kumārgapratipannāḥ | anyāni cānekāni sattvakoṭiniyutaśatasahasrāṇi mahāprapāte prapātayanti | teṣāmevaṃrūpāṇāṃ sattvānāṃ bhūyiṣṭhena narakavāsagatirbhaviṣyati | tatra yaistasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrutaṃ bhaviṣyanti, teṣāṃ tatra narake sthitānāṃ buddhānubhāvena tasya tathāgatasya nāmadheyaṃ sumukhībhaviṣyati | te tataścyutvā punarapi manuṣyaloke upapatsyante samyagdṛṣṭisaṃpannā vīryavantaḥ kalyāṇāśayāḥ | te gṛhānutsṛjya tathāgataśāsane pravrajitvā ānupūrveṇa bodhisattvacārikāṃ paripūrayiṣyanti ||
punaraparaṃ mañjuśrīḥ santi sattvāḥ ye ātmano varṇaṃ bhāṣante matsariṇaḥ, pareṣāmavarṇamuccārayanti | ātmotkarṣakaparapaṃsakāḥ sattvāḥ parasparasatkṛtvāḥ tryapāyeṣu bahūni varṣasahasrāṇi duḥkhamanubhaviṣyanti | te anekavarṣasahasrāṇāmatyayena tataścyutvā gavāśvoṣṭragardabhādiṣu tiryagyoniṣu upapadyante | kaśādaṇḍaprahāreṇa tāḍitāḥ kṣuttarṣapīḍitaśarīrā mahāntaṃ bhāraṃ vahamānā mārgaṃ gacchanti | yadi kadācit manuṣyajanmapratilābhaṃ pratilapsyante, te nityakālaṃ nīcakuleṣu upapatsyante, dāsatve ca paravaśagatā bhaviṣyanti | yaiḥ pūrvaṃ manuṣyabhūtaistasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrutaṃ bhaviṣyati, te tena kuśalamūlena sarvaduḥkhebhyaḥ parimokṣyante, tīkṣṇendriyāśca bhaviṣyanti paṇḍitā vyaktā meghāvinaśca | kuśalaparyeṣṭyabhiyuktā nityaṃ ca kalyāṇamitrasamavadhānaṃ lapsyante, mārapāśamucchidya avidyāṇḍakośaṃ bhindanti, kleśanadīmucchoṣayanti, jātijarāvyādhimaraṇabhayaśokaparidevaduḥkh adaurmanasyopāyāsebhyaḥ parimucyanti ||
punaraparaṃ mañjuśrīḥ santi sattvāḥ ye paiśunyābhiratāḥ sattvānāṃ parasparaṃ kalahavigrahavivādān kārāpayanti | te parasparaṃ vigrahacittāḥ sattvā nānāvidhamakuśalamabhisaṃskurvanti kāyena vācā manasā, anyonyamahitakāmā nityaṃ parasparamanarthāya parākrāmanti | te ca vanadevatāmāvāhayanti vṛkṣadevatāṃ giridevatāṃ ca | śmaśāneṣu pṛthag bhūtānāvāhayanti | tiryagyonigatāṃśca prāṇino jīvitād vyavaropayanti | māṃsarudhirabhakṣān yakṣarākṣasān pūjayanti | tasya śatrornāma vā śarīrapratimāṃ vā kṛtvā tatra ghoravidyāṃ sādhayanti kākhordavetālānuprayogeṇa jīvitāntarāyaṃ vā śarīravināśaṃ vā kartukāmāḥ | yaiḥ punastasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrutaṃ bhaviṣyati, teṣāṃ na śakyaṃ kenāntarāyaṃ kartum | sarve ca te parasparaṃ maitracittā hitacittā avyāpannacittāśca viharanti svakasvakena parigraheṇa saṃtuṣṭāḥ ||
punaraparaṃ mañjuśrīḥ etāścatasraḥ parṣado bhikṣubhikṣuṇyupāsakopāsikāḥ, ye cānye śrāddhāḥ kulaputrā vā kuladuhitaro vā āryāṣṭāṅgaiḥ samanvāgatā upavāsamupavasanti, ekavārṣikaṃ vā traimāsikaṃ vā śikṣāpadaṃ dhārayiṣyanti, yeṣāmevaṃpraṇidhānamevamabhiprāyam-anena vayaṃ kuśalamūlena paścimāyāṃ diśi sukhāvatyāṃ lokadhātau upapadyema yatrāmitāyustathāgataḥ | yaiḥ punastasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrutaṃ bhaviṣyati, teṣāṃ maraṇakālasamaye aṣṭau bodhisattvā ṛddhyāgatā upadarśayanti, te tatra nānāraṅgeṣu padmeṣūpapādukāḥ prādurbhaviṣyanti | kecid punardevaloke upapadyante | teṣāṃ tatropapannānāṃ pūrvakaṃ kuśalamūlaṃ na kṣīyate, na ca durgatigamanaṃ bhaviṣyati | te tataścyutvā iha manuṣyaloke upapatsyante | rājāno bhaviṣyanti caturdvīpeśvarāścakravartinaḥ | te anekāni sattvakoṭīniyutaśatasahasrāṇi daśasu kuśaleṣu karmapatheṣu pratiṣṭhāpayiṣyanti | apare punaḥ kṣatriyamahāśālakuleṣu brāhmaṇamahāśālakuleṣu prabhūtadhanadhānyakośakoṣṭhāgārasamṛdd heṣu ca kuleṣu upapatsyante | te rūpasaṃpannāśca bhaviṣyanti, eśvaryasaṃpannāśca bhaviṣyanti, parivārasaṃpannāśca bhaviṣyanti | yaśca mātṛgrāmaḥ tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrutvā ca udgrahīṣyati, tasya sa eva paścimaḥ strībhāvaḥ pratikāṅkṣitavyaḥ ||
atha khalu mañjuśrīḥ kumārabhūto bhagavantametadavocat-ahaṃ bhagavan paścime kāle paścime samaye teṣāṃ śrāddhānāṃ kulaputrāṇāṃ kuladuhitṝṇāṃ ca tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrāvayiṣyāmi, antaśaḥ svapnāntaramapi buddhanāmakaṃ karṇapuṭeṣu upasaṃhārayiṣyāmi | ye idaṃ sūtraratnaṃ dhārayiṣyanti vācayiṣyanti deśayiṣyanti paryavāpsyanti, parebhyo vistareṇa saṃprakāśayiṣyanti, likhiṣyanti likhāpayiṣyanti, pustakagataṃ vā kṛtvā satkariṣyanti nānāpuṣpadhūpagandhamālyavilepanachatradhvaj apatākābhiḥ, tat pañcaraṅgikavastraiḥ pariveṣṭya śucau pradeśe sthāpayitavyam | yatraiva idaṃ sūtrāntaṃ sthāpitaṃ bhavati, tatra catvāro mahārājānaḥ saparivārāḥ, anyāni ca anekāni ca devakoṭiniyutaśatasahasrāṇi upasaṃkramiṣyanti | tatredaṃ sūtraṃ pracariṣyati | te ca bhagavan idaṃ sūtraratnaṃ prakāśayiṣyanti | tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūrvapraṇidhānaviśeṣavistaravibhāgaṃ ca tasya tathāgatasya nāmadheyaṃ dhārayiṣyanti, teṣāṃ nākālamaraṇaṃ bhaviṣyati | na teṣāṃ kenacit śakyamojo'pahartum, hṛtaṃ vā ojaḥ punarapi pratisaṃharati | bhagavānāha- etametad mañjuśrīḥ, evametat, yathā vadasi | yaśca mañjuśrīḥ śrāddhaḥ kulaputro vā kuladuhitā vā tasya tathāgatasya pūjāṃ kartukāmaḥ, tena tasya tathāgatasya pratimā kārāpayitavyā, sapta rātriṃdivamāryāṣṭāṅgamārgasamanvāgat ena upavāsamupavasitavyam | śucinā śucimāhāraṃ kṛtvā śucau pradeśe (nānāpuṣpāṇi saṃstārya nānāgandhapradhūpite nānāvastracchatradhvajapatākāsamalaṃkṛte tasmin pṛthivīpradeśe susnātagātreṇa śucivimalavasanadhāriṇā nirmalacittena akaluṣacittena avyāpādacittena sarvasattveṣu maitracittena (upekṣācittena) sarvasattvānāmantike samacittena bhavitavyam | nānātūryasaṃgītipravāditena sā tathāgatapratimā pradakṣiṇīkartavyā tasya tathāgatasya pūrṇapraṇidhānāni manasi kartavyāni | idaṃ sūtraṃ pravartayitavyam | yaṃ cetayati, yaṃ prārthayati, taṃ sarvābhiprāyaṃ paripūrayati | yadi dirghamāyuḥ kāmayate, dirghāyuṣko bhavati | yadi bhogaṃ prārthayate, bhogasamṛddho bhavati | yadi aiśvaryamabhiprārthayate, tadalpakṛcchreṇa prāpnoti | yadi putrābhilāṣī bhavati, putraṃ pratilabhate | ye iha pāpakaṃ svapnaṃ paśyanti, yatra vāyasaḥ sthito bhavati durnimittaṃ vā, yatra amaṅgalaśataṃ vā sthitaṃ bhavati, taistasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūjā kartavyā | sarvaduḥsvapnadurnimittāmāṅgalyāśca bhāvāḥ praśamiṣyanti | yeṣāmagryudakaviṣaśasrapratāpacaṇḍahast isiṃhavyāghraṛkṣatarakṣudvīpikāśīvi avṛścikaśatapadadaṃśamaśakādibhayaṃ bhavati, taistasya tathāgatasya pūjā kartavyā | te sarvabhayebhyaḥ parimokṣyante | yeṣāṃ corabhayaṃ taskarabhayam, taistasya tathāgatasya pūjā kartavyā ||
punaraparaṃ mañjuśrīḥ ye śrāddhāḥ kulaputrā va kuladuhitaro vā ye yāvajjīvaṃ triśaraṇamupagṛhṇanti, ananyadevatāśca bhavanti, ye pañca śikṣāpadāni dhārayanti, ye ca bodhisattvasaṃvaraṃ caturvaraśikṣāpadaśataṃ dhārayanti, ye punarapiraṃ niṣkrāntagṛhavāsā bhikṣavaḥ, pañcādhike dve śikṣāpadaśate dhārayanti, yā bhikṣuṇyaḥ pañcaśataśikṣāpadāni dhārayanti, ye ca yathāparigṛhītācchisāsaṃvarādanyatarā cchikṣāpadāt bhraṣṭā bhavanti saced durgatibhayabhītāḥ, tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyaṃ dhārayeyuḥ, na bhūyasteṣāṃ tryapāyagamanaduḥkhaṃ pratikāṅkṣitavyam | yaśca mātṛgrāmaḥ prasavanakāle tīvrāṃ duḥkhāṃ kharāṃ kaṭukāṃ vedanāṃ vedayati, yā tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyamanusmaret, pūjāṃ ca kuryāt, sā sukhaṃ ca prasūyate, sarvāṅgaparipūrṇaṃ putraṃ (ca) janayiṣyati abhirūpaḥ prāsādiko darśanīyastīkṣṇendriyo buddhimān | sa ārogyasvalpābādho bhaviṣyati, na ca śakyate amanuṣyaistasya ojo'pahartum ||
atha khalu bhagavānāyuṣmantamānandamāmantrayate sma-śraddadhāsi tvamānanda pattīyasi yadahaṃ tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasyārhataḥ samyaksaṃbuddhasya guṇān varṇayiṣyāmi ? athavā te kāṅkṣā vā vimatirvā vicikitsā vā atra gambhīre buddhagocare ? athāyuṣmānānando bhagavantametadavocat-na me bhadanta bhagavan atra kāṅkṣā vā vimatirvā vicikitsā vā tathāgatabhāṣiteṣu sūtrānteṣu |tat kasya hetoḥ ? nāsti tathāgatānāmapariśuddhakāyavāṅbhanaḥsamu dācāratā | imau bhagavan candrasūryau evaṃ maharddhikau evaṃ mahānubhāvau pṛthivyāṃ prapatetām, sa sumerurvā parvatarājaḥ sthānāccalet, na tu buddhānāṃ vacanamanyathā bhavet | kiṃ tu bhadanta santi sattvāḥ śraddhendriyavikalāḥ | idaṃ buddhagocaraṃ śrutvāṃ evaṃ vakṣyantikathametannāmadheyasmaraṇamātreṇa tasya tathāgatasya tāvanto guṇānuśaṃsā bhavanti ? te na śraddadhanti na pattīyanti, pratikṣipanti| teṣāṃ dīrgharātramanarthāya na hitāya na sukhāya vinipātāy bhaviṣyati | bhagavānāha-asthānamānanda anavakāśaḥ, yena tasya tathāgatasya nāmadheyaṃ śrutam, tasya sattvasya durgatyapāyagamanaṃ bhavet, nedaṃ sthānaṃ vidyate | duḥśraddhānīyaṃ ca ānanda buddhānāṃ buddhagocaram | yat tvamānanda śraddadhāsi pattīyasi, tathāgatasyaiṣonubhāvo draṣṭavyaḥ | abhūmiratra sarvaśrāvakapratyekabuddhānāṃ sthāpayitvā ekajātipratibaddhān bodhisattvān mahāsattvāniti | durlabhaḥ ānanda manuṣyapratilābhaḥ, durlabhaṃ triratne śraddhāgauravam, sudurlabhaṃ tathāgatasya nāmadheyaśravaṇam | tasya bhagavatastathāgatasya bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya ānanda bodhisattvacaryāma(ryā a) pramāṇam, upāyakauśalyamapyapramāṇam, apramāṇaṃ cāsya praṇidhānaviśeṣavistaram | ākāṅkṣamāṇo'haṃ tasya tathāgatasya kalpaṃ vā kalpāvaśeṣaṃ vā bodhisattvacārikāyāṃ vistaravibhaṅgaṃ nirdiśeyam | kṣīyeta ānanda alpam, na tveva śakyaṃ tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūrvapraṇidhānaviśeṣavistarāntamadhigantum ||
tena khalu punaḥ samayena tasyāmeva parṣadi trāṇamukto nāma bodhisattvo mahāsattvaḥ saṃnipatito'bhūt saṃniṣaṇṇaḥ | utthāyāsanādekāṃsamuttarāsaṅgaṃ kṛtvā dakṣiṇaṃ jānumaṇḍalaṃ pṛthivyāṃ pratiṣṭhāpya yena bhagavāṃstenāñjaliṃ praṇamya bhagavantametadavocat-bhaviṣyanti bhadanta bhagavan sattvāḥ paścime kāle paścime samaye nānāvyādhiparipīḍitā dīrghavyādhinā (kṣīṇagātrāḥ) kṣuttarṣābhyāṃ śuṣkakaṇṭhoṣṭhā maraṇābhimukhā rorudyamānebhirmitrajñātisālohitaiḥ parivāritā andhakārāṃ diśaṃ paśyanto yamapuruṣairākarṣyamāṇāśca | tasya kalevare mañcaśayite vijñānaṃ yamasya dharmarājasyāgratāmupanīyate | yacca tasya sattvasya sahajānubaddhameva yatkiṃcit tena puruṣeṇa kuśalamakuśalaṃ vā kṛtaṃ bhavati, tat sarvaṃ sulikhitaṃ kṛtvā yamasya dharmarājasya upanāmyate | tadā yamo'pi dharmarājastaṃ pṛcchati, gaṇayati yathākṛtaṃ cāsya kuśalamakuśalaṃ vā tathājñāmājñāpayati | tatra ye te mitrajñātisālohitāstasyāturasyārthāya taṃ bhagavantaṃ bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhaṃ tathāgataṃ śaraṇaṃ gaccheyuḥ, tasya ca tathāgatasya pūjāṃ kuryuḥ, sthānametadvidyate yat tasya tadvijñānaṃ punarapi pratinivarteta, svapnāntaragata ivātmānaṃ saṃjānīte | yadi vā saptame divase yadi vā (ekaviṃśatime) divase yadi vā pañcatriṃśatime divase yadi vā ekonapañcāśatime divase tasya vijñānaṃ punarapi nivarteta, smṛtimupalabheta | tasya kuśalamakuśalaṃ vā karmavipākaṃ svayameva pratyakṣaṃ bhavati | jñātvā sa jīvitahetau na kadāpi pāpamakuśalaṃ karma kariṣyati | tasmācchrāddhena kulaputreṇa vā kuladuhitā vā tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūjā kartavyā ||
athāyuṣmānānandastrāṇamuktaṃ nāma bodhisattvametadavocat-kathaṃ kulaputra tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya pūjā kartavyā ? trāṇamukto bodhisattva āha-ye bhadanta ānanda mahato vyādhitaḥ parimocitukāmāḥ, taistasyāturasyārthāya sapta divasāni āryāṣṭāṅgasamanvāgatamupavāsamupavasita vyam, bhikṣusaṃghasya ca āhārapānaiḥ sarvopakaraṇairyathāśakti pūjopasthānaṃ kartavyam | bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya nāmadheyaṃ triṣkṛtvā rātryāṃ triṣkṛtvā divase manasi kartavyam | navacatvāriṃśadvāre idaṃ sūtramuccārayitavyam | ekonapañcāśad dīpāḥ prajvālayitavyāḥ | sapta pratimāḥ kartavyā | ekaikayā pratimayā sapta sapta dīpāḥ prajvālayitavyāḥ | ekaiko dīpaḥ śakaṭacakrapramāṇaḥ kartavyaḥ | yadi ekonacatvāriṃśatime divase āloko na kṣīyate, veditavyaṃ sarvasaṃpaditi | pañcaraṅgikāḥ patākāḥ ekonapañcāśadadhikāḥ kartavyāḥ ||
punaraparaṃ bhadanta ānanda yeṣāṃ rājñāṃ kṣatriyāṇāṃ mūrdhābhiṣiktānāmupadravā vā upasargā vā pratyupasthitā bhaveyuḥ, vyādhipīḍā vā svacakrapīḍā vā paracakrapīḍā vā nakṣatrapīḍā vā candragrahasūryagrahapīḍā vā akālavātavṛṣṭipīḍā vā avagrahapīḍā vā samutthitā, amāṅgalyā vā saṃkrāmakavyādhirvā vipad vā samupasthitā, tena rājñā kṣatriyeṇa mūrdhābhiṣiktena sarvasattveṣu maitracittena bhavitavyam, bandhanagatāśca sattvā mocayitavyāḥ | tasya ca bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya yathāpūrvoktapūjā karaṇīyā | tadā tasya rājñaḥ kṣatriyasya mūrdhābhiṣiktasya etena kuśalamūlena ca tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūrvapraṇidhānaviśeṣavistareṇa tatra viṣaye kṣemaṃ bhaviṣyati subhikṣam | kālena vātavṛṣṭiśasyasaṃpado bhaviṣyanti, sarve ca viṣayanivāsinaḥ sattvā ārogāḥ sukhitāḥ pramodyabahulāḥ | na ca tatra viṣaye duṣṭayakṣarākṣasabhūtapiśācāḥ sattvānāṃ viheṭhayanti | sarvadurnimittāni ca na paśyanti | tasya ca rājñaḥ kṣatriyasya mūrdhābhiṣiktasya āyurvarṇabalārogyaiśvaryābhivṛddhirbhavi yati |
athāyuṣmānānandastrāṇamuktaṃ bodhisattvamevamavocat-kathaṃ kulaputra parikṣīṇāyuḥ punarevābhivivardhate ? trāṇamukto bodhisattva āha-nanu tvayā bhadanta ānanda tathāgatasyāntikācchrutam-santi akālamaraṇāni | teṣāṃ pratikṣepeṇa mantrauṣadhiprayogā upadiṣṭāḥ | santi sattvā vyādhitāḥ | na ca guruko vyādhiḥ bhaiṣajyopasthāpakavirahitaḥ | yadi vā vaidyā (bhaiṣajyaṃ) kurvanti | idaṃ prathāmamakālamaraṇam | dvitīyamakālamaraṇaṃ yasya rājadaṇḍena kālakriyā | tṛtīyamakālamaraṇaṃ ye'tīva pramattāḥ pramādavihāriṇaḥ, teṣāṃ manuṣyā ojo'paharanti | caturthamakālamaraṇaṃ ye agnidāhena kālaṃ kurvanti | pañcamaṃ cākālamaraṇaṃ ye ca udakena mriyante | ṣaṣṭhakālamaraṇaṃ ye (siṃha) vyāghravyālacaṇḍamṛgamadhyagatā vāsaṃ kalpayanti mriyante ca | saptamamakālamaraṇaṃ ye giritaṭāt prapatanti | aṣṭamamakālamaraṇaṃ ye viṣakākhordavetālānuprayogeṇa mriyante | navamamakālamaraṇaṃ ye kṣuttṛṣopahatā āhārapānamalabhamānā ārtāḥ kālaṃ kurvanti | etāni saṃkṣepato'kālamaraṇāni tathāgateṇa nirdiṣṭāni | anyāni ca aprameyāṇyakālamaraṇāni ||
atha khalu tatra parṣadi dvādaśa mahāyakṣasenāpatayaḥ saṃnipatitā abhūvan yaduta kiṃbhīro nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, vajraśca nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, mekhilo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, antilo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, anilo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, saṇṭhilo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, indalo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, pāyilo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, mahālo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, cidālo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, caundhulo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ, vikalo nāma mahāyakṣasenāpatiḥ | ete dvādaśa mahāyakṣasenāpatayaḥ ekaikānucaraparivāritā ekakaṇṭhena bhagavantamevamāhuḥ-śrutamasmābhiśra bhagavatā buddhānubhāvena tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya nāmadheyam | na bhūyo'smākaṃ durgatibhayam | te vayaṃ sahitāḥ samagrā yāvajjīvaṃ buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmaḥ , dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmaḥ, saṃghaṃ śaraṇaṃ gacchāmaḥ | sarvasattvānāmarthāya hitāya sukhāya autsukyaṃ kariṣyāmaḥ | yo viśeṣeṇa grāme vā nagare vā janapade vā araṇyāyatene vā edaṃ sūtraṃ pracārayiṣyati, yo vā tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya nāmadheyaṃ dhārayiṣyati, pūjopasthānaṃ kariṣyati, tāvat taṃ sattvaṃ rakṣiṣyāmaḥ, paripālayiṣyamaḥ, sarvāmāṅgalyācca parimocayiṣyāmaḥ, sarvaeṣāmāśāṃ paripūrayiṣyāmaḥ | atha khalu bhagavāṃsteṣāṃ yakṣasenāpatīnāṃ sādhukāramadāt-sādhu sādhu mahāyakṣasenāpatayaḥ, yad yūyaṃ tasya bhagavato bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya kṛtajñatāmanusmaramāṇānāṃ sarvasattvānāṃ hitāya pratipannāḥ ||
athāyuṣmānānando bhagavantametadavocat-ko nāmāyaṃ bhagavan dharmaparyāyaḥ ? kathaṃ cainaṃ dhārayāmi ? bhagavānāha-tena hi ānanda dharmaparyāyamidaṃ bhaiṣajyaguruvaidūryaprabhasya tathāgatasya pūrvapraṇidhānaviśeṣavistaramiti dhāraya, dvādaśānāṃ mahāyakṣasenāpatīnāṃ praṇidhānamiti dhāraya ||
idamavocadbhagavāna | āttamanā mañjuśrīḥ kumārabhūtaḥ, āyuṣmāṃśca ānandaḥ, trāṇamukto bodhisattvaḥ, te ca bodhisattvāḥ, te ca mahāśrāvakāḥ, te ca rājāmātyabrāhmaṇagṛhapatayaḥ, sarvāvatī parṣat, sadevamānuṣāsuragandharvaśca loko bhagavato bhāṣitamabhyanandan ||
āryabhaiṣajyaguruvaidūryaprabharājaṃ nāma mahāyānasūtram ||
http://www.dsbcproject.org/canon-text/content/36/283
2. TIVIDHA CETIYA VANDANA
( SALUTATION TO THE THREE MAIN OBJECTS OF VENERATION)
VANDAMI CETIYAM SABBAM
SABBA THANESU PATIT THITAM
SARIRIKA DHATU MAHA BODHIM
BUDDHA RUPAM SAKALAM SADA
TIVIDHA CETIYA VANDANA ( SALUTATION TO THE THREE MAIN OBJECTS
OF VENERATION )
I SALUTE EVERY CETIYA THAT STANDS IN ANY PLACE, THE BODILY RELICS,
THE GREAT BODHI, AND ALL IMAGES OF THE BUDDHA.
13. PUNNANU MODANA ( TRANSFERENCE OF MERIT )
TO ALL THE DEVAS & DEVATAS
ETTAVATA CA AMHEHI
SAMBHATAM PUNNA SAMPADAM
SABBE DEVA NUMODANTU
SABBA SAMPATTI SIDDHIYA
TO THE DEVA OF THE BODHI TREE
ASMIM RUKKHE DHIVATTHO YO
DEVA RAJA BHAVEYYA CA
TASSA HOTU IMAM PUNNAM
SABBA SAMPATTI SADHAKAM
PUNNANU MODANA ( TRANSFERENCE OF MERIT )
TO ALL DEVAS & DEVATAS ( DEITIES)
MAY ALL DEVAS & DEVATAS (DEITIES) SHARE THIS MERIT, WHICH WE HAVE
THUS ACCUMULATED, FOR THE ACQUISTION OF ALL KINDS OF HAPPINESS
AND PROSPERITY.
TO THE DEVA OF THE BODHI - TREE
IF THERE IS A GREAT DEITY WHO TENANTS ON THIS BODHI TREE, MAY HE
SHARE THIS MERIT FOR HIS HAPPINESS AND PROSPERITY
=====
http://www.bdcu.org.au › pdfPDF
CHANTING SHEET
(OM) NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMASAMBUDDHASSA. VANDANA (SALUTATION TO THE BUDDHA). HONOUR TO HIM THE BLESSED ONE .
1. BÀI THỈNH CHƯ THIÊN
Sagge kāme ca rū pe girisikharatate cantalikkhe vimāne
Dīpe raṭṭthe ca gāme taruvanagahane gehavatthumhi khette
Bhummā cāyantu devā jalathalavisame yakkhagandhabbanāgā
Tiṭṭhantā santike yaṃ munivaravacanaṃ sādhavo me suṇantu.Dhammassavanakālo ayambhadantā.
Dhammassavanakālo ayambhadantā.
Dhammassavanakālo ayambhadantà.
Phiên âm:
Xắc ghê, ca mê, chă ru bê, gí rí sí khă ră tă tê, chăn tă lít khê, quí ma nê
Đi bê, răt thê, chă ga mê, tă rú voá nă gă hă nê, ghê hă voát thúm hí, khết tê
Phum ma, cha giăn tú, đê voa, chă lă thă lă quí xă mê, giắt khă găn-thắp bă na ga
Tít thăn ta, xăn tí kê, giăng mú ní voá ră voă chă năng, xa thă vô, mê xú năng tú.Thăm mach xă voă nă ka lô, ă dăm phă đăn ta.
Thăm mach xă voă nă ka lô, ă dăm phă đăn ta.
Thăm mach xă voă nă ka lô, ă dăm phă đăn ta.
Nghĩa:
Xin thỉnh Chư Thiên ngự trên cõi trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đảnh núi núi không liền, hoặc nơi hư không; ngự nơi cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận; ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vườn; Chư Dạ Xoa, Càn Thác Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ hoặc nơi không bằng thẳng, gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời nào là kim ngôn cao thượng của Ðức Thích Ca Mâu Ni mà chúng tôi tụng đây, xin các bậc Hiền Triết nên nghe lời ấy.Xin các ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp bảo.
Xin các ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp bảo.
Xin các ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp bảo. (lạy)*
16. LỄ BÁI XÁ LỢI
Vandāmi cetiyaṃ sabbaṃ
Sabbaṭṭhāmesupatiṭṭhitaṃ
Sārīrikadhātu mahābodhiṃ
Buddharū paṃ sakalaṃ sadā.
Phiên âm:
Oanh đa mí, chê tí dăng, xắp băng
Xăp băt tha mê xú pă tít thí tăng
Xa ri rí că tha tú, mă ha bô thing
Bút thă ru, păng, xă că lăng, xă đa.
Nghĩa:
Con xin thành kính làm lễ tất cả Bảo Tháp, ngọc Xá Lợi, đại thọ Bồ Ðề và kim thân Phật đã tạo thờ trong khắp mọi nơi.Con xin lễ bái các phần,
Bảo tháp Xá lợi kim thân Phật đà,
Bồ đề khắp cõi Sa bà,
Luôn luôn thành kính hương hoa cúng dường.
17. DÂNG HOA CÚNG PHẬT
Vaṇṇagandha – gunopetaṃ
Etaṃ kusuma santatiṃ
Pū jayāmi munindassa
Siripāda – sanoruhe.Pūjemi Buddham kusumenanena
Puññena me tena ca hotu mokkhaṃ
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.Pūjemi Dhammaṃ kusumenanena
Puññena me tena ca hotu mokkhaṃ
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.Pūjemi Saṅghaṃ kusumenanena
Puññena me tena ca hotu mokkhaṃ
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.
Phiên âm:
Voang nă găn thă gú nô bê tăng
Ê tăng, cú xú mă, xăng tă ting
Bu chă gia mí, mú nín đach xă
Xí rí pa đă, xă nô rú hê.Pu chê mí, Bút thăm, cú xú mê nă nê nă
Bun nhê nă, mê tê nă, chă, hôn tú, mốc khăng
Búp phăng , mí la gia tí, giă tha, í đăng, mê
Ca giô, tă tha, gia tí, quí na xă phă voang.
Pu chê mí, Thăm măng, cú xú mê nă nê năBun nhê nă, mê tê nă, chă, hôn tú, mốc khăng
Búp phăng, mí la gia tí, giă tha, í đăng, mê
Ca giô, tă tha, gia tí, quí na xă phă voang.Pu chê mí, Xăng khăng, cú xú mê nă nê nă
Bun nhê ná, mê tê ná, chá, hôn tú, mốc khăng
Búp phăng, mí la gia tí, giă tha, í đăng, mê
Ca dô, tă tha, gia tí, quí na xă phă voang.
Nghĩa:
Chúng con xin cúng dường “Phật bảo”,
Bao cành hoa toàn hảo hiến dâng.
Cầu mong thoát chốn mê trần,
Níp bàn chóng đến hầu gần Thế Tôn.
Hoa này sẽ bất tồn dương cảnh,
Ủ rủ dần hình ảnh còn chi,
Chúng con phải chịu thế ni!
Xác thân ngũ uẩn chuyển di bất thường!Chúng con xin cúng dường “Pháp bảo”,
Bao cành hoa toàn hảo hiến dâng.
Cầu mong thoát chốn mê trần,
Níp bàn chóng đến hầu gần Thế Tôn.
Hoa này sẽ bất tồn dương cảnh,
Ủ rủ dần hình ảnh còn chi,
Chúng con phải chịu thế ni!
Xác thân ngũ uẩn chuyển di bất thường!Chúng con xin cúng dường “Tăng bảo”,
Bao cành hoa toàn hảo hiến dâng.
Cầu mong thoát chốn mê trần,
Níp bàn chóng đến hầu gần Thế Tôn.
Hoa này sẽ bất tồn dương cảnh,
Ủ rủ dần hình ảnh còn chi,
Chúng con phải chịu thế ni!
Xác thân ngũ uẩn chuyển di bất thường!Dâng hoa cúng đến “Phật-đà”,
Nguyện mau giải thoát sanh già khổ đau.
Hoa tươi nhưng sẽ ứa sầu,
Tấm thân tứ đại khỏi sao điêu tàn.Dâng hoa cúng đến “Đạt-ma”,
Nguyện mau giải thoát sanh già khổ đau.
Hoa tươi nhưng sẽ ứa sầu,
Tấm thân tứ đại khỏi sao điêu tàn.Dâng hoa cúng đến “Tăng-già”,
Nguyện mau giải thoát sanh già khổ đau.
Hoa tươi nhưng sẽ ứa sầu,
Tấm thân tứ đại khỏi sao điêu tàn. (3 lạy)
18. KỆ TỤNG TRƯỚC CÁC THÁP THỜ XÁ LỢI PHẬT
Trước Xá Lợi uy linh lẫm liệt,
Dâng nén hương dạ nhiệt tín thành,
Cúng dường Phật Tổ cha lành,
Ngày xưa di tích Phật danh Cồ Ðàm.
Ðức từ bi chỉ đàng giác ngạn,
Ơn cứu khổ độ nạn mê tân,
Trời người thuần gội nguồn ân,
Duyên may được hưởng đôi phân chánh truyền
Phát tâm lành cần chuyên giữ đạo
Nguyện noi theo tôn giáo Thích Ca.
Lo phần tự giác, giác tha,
Y theo bổn hạnh Phật Ðà khi xưa:
Chốn rừng già muối dưa đạm bạc,
Giữa tuyết sương đói khát bao nài,
Chẳng màng lao khổ đắng cay,
Quyết lòng tìm đạo duyên may độ đời.
Dưới cội cây tứ thời tĩnh tọa,
Trên Bồ đoàn phấn tỏa tâm minh.
Thoạt nhiên ngộ đạo tự mình,
Ðắc thành Phật quả vô sinh Niết Bàn.
Rồi từ đó mở mang Giáo Pháp,
Bốn mươi lăm hạ giáp vẹn toàn,
Châu du cùng khắp bốn phang,
Hoằng khai Phật Ðạo chỉ đàng vô sanh,
Vườn Kusinara cha lành viên tịch,
Ngọc Xá Lợi di tích thế gian.
Bảy đoạn xương lớn huy hoàng,
Xương trán răng nhọn lại còn xương vai,
Lửa Chư Thiên hỏa đài phát cháy,
Không rã tan quả thấy nhiệm mầu.
Lại còn Xá Lợi đủ màu,
Chia ra ba cỡ khác nhau cân lường:
Chừng năm cân chỉ bằng hột đậu,
Ánh chiếu ngời huỳnh ngọc kim cương.
Cỡ hai đồng chạn khác thường
Lớn bằng hột thóc đã lường sáu cân,
Pha ly màu sáng trong ngần
Thủy xoàn ngọc quí trong trần nào hơn.
Cỡ ba hột cải trộng trơn,
Năm cân ngọc điệp trắng ngần như hoa [1]
Chúng sanh khắp cõi Sa Bà.
Dễ nào gặp được để mà suy tôn.
Duyên lành đưa đến điện môn.
Cúng dường Xá Lợi Thế Tôn di truyền:
Nhứt tâm thệ nguyện qui nguyên,
Ngưỡng cầu Phật Tổ chứng miên lòng thành.
Ðầu tiên tám nước phân tranh,
Công phân Xá Lợi sử sanh ghi rành;
Ðền thờ tiêu biểu: đức lành;
Tám nơi công cộng đô thành quốc vương [2]
Môn sanh từ khắp bốn phương.
Mai chiều chiêm bái cúng dường NhưLai.
Chúng con cảm mến dạ hoài,
Hướng chừng Thánh tháp Phật Ðài suy tôn.
Răng nhọn bốn cái di tồn,
Bốn nơi tạo tháp kiền khôn lưu đời:
Một là Ðạo lợi cung trời,
Hai là Thánh địa đương thời Lăn Ca [3]
Xứ Ganh Tha Rá thứ ba [4]
Bốn là Thủy Ðiện nguy nga Chúa Rồng. [5]
Chúng con ái mộ tâm đồng,
Cúng dường Xá Lợi kim thân Phật Ðà.
Phạm Thiên thượng giới một tòa,
Xương vai bên tả cùng là Tam Y,
Ðền thờ cao vọi cực kỳ [6]
Chúng con lễ bái thiên uy tháp này.
Tuần hoàn tuế nguyệt chuyển xoay,
Cỗ sơ tám tháp hằng ngày mòn hư, [7]
Hai trăm mười tám năm dư,
Nhờ vua A Dục tâm từ sùng hưng.
Tám phần Xá Lợi quân phân,
Tám muôn bốn ngàn tạo tân pháp thờ.
Ngàn năm muôn kiếp một giờ,
Trước đền Xá Lợi ước mơ phỉ nguyền.
Phần hương lễ bái điện tiền,
Cúng dường Xá Lợi gieo duyên Niết Bàn.
Nguyện cầu trăm họ bốn phương,
Thoát vòng tai ách, hưởng an thanh bình
Cầu cho tất cả chúng sinh,
Ðồng nhau tu Phật, đệ huynh một nhà.Ghi chú:1. Như hoa Bakula..
2. Tám kinh đô: Rajagaha, Vesāli, Alakappaka, Kapilavastu, Ramagrama, Vetthadipaka, Paveyyaka, Kusinara.
3. Thờ răng nhọn phía trên bên hữu.
4. Thờ răng nhọn phía trên bên tả.
5. Thờ răng nhọn ở phía dưới bên tả – Xứ Ganthararattha.
6. Cao 12 do tuần
7. Tám tháp đầu tiên, trong tám đô thành kể trên.
19. KINH TỤNG RẢI TÂM BÁC ÁI ĐẾN TẤT CẢ CÁC HƯỚNG
SABBADISASU METTĀPHARANAM
Sabbe puratthimāya disāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe puratthimāya anudisāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe dakkhiṇāya disāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe dakkhiṇāya anudisāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe pacchimāya disāya sattāaverā sukhī hontu.
Sabbe pacchimāya anudisāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe uttarāya disāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe uttarāya anudisāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe uparimāya disāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe hetthimāya disāya sattā averā sukhì hontu.Sabbe sattā averā hontu, sukhita hontu, niddukkhā hontu, abyāpajjhā hontu, anīghā hontu, dīghāyukā hontu, arogā hontu, sampatthīhi samijjhantu sukhī attānam pariharantu, dukkhappattā ca niddukkhā, bhayappattā ca nibbhayā, sokappattā ca nissokā hontu sabbepi pāṇino.
Phiên âm:
Xắp bê – bú rat thí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – bú rat thí ma giá – ă nu đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – đắc khí na giá – đí xa giá – xat ta – á quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – đắc khí na giá – ă nú đí xa giá – xat ta – ă vê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – bách chí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – bách chí ma giá – ă nú đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – ut tă ra giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – ut tă ra giá – ă nú đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – ú bă rí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tu.
Xắp bê – hêt thí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tu.Xắp bê xat ta ă quê ra hôn tu – xú khí ta hôn tú – nít đúc kha hôn tú – ă bi gia bach cha hôn tú – ă ni gha hôn tú – đí gha giú ca hôn tú – á rô ga hôn tú – xăm bat ti hí – xă mích chăn tú – xú khi – at ta năng – pă rí hă răn tú – đúc khắp bát ta – chă – nít đúc kha – phá giắp bát ta – chă – níp phă gia – xô cáp bát ta – chă- nít xô ca – hôn tú – xắp bê pí – pa ní nô.
Nghĩa:
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng đông, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng đông nam, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng nam, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cà chúng sanh trong hướng tây nam, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sựyên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng tây, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng tây bắc, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng bắc, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng đông bắc, đừng có oan tráI lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng trên, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướn dưới, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự yên vui.Nguyện cho tất cả chúng sanh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho đưỡc sự yên vui, đừng có khổ, đừng làm lại lẫn nhau, đừng hẹp lượng, hãy cho được sống lâu, đừng có bệnh hoạn, hãy cho được thành tựu đầy đủ, hãy giữ mình cho được sự yên vui. Tất cả chúng sanh đến khổ rồi, xin đừng cho có khổ, đến sự kinh sợ rồi, xin đừng cho có kinh sợ, đến sự thương tiếc rồi xin đừng cho thương tiếc.
(Khi có sự lo sợ hoặc tối, trứơc giờ ngủ nên thường tụng bài này, để rải tâm bác ái đến tất cả chúng sanh, ắt sẽ hết lo sợ, được yên vui).
20. KINH HỒI HƯỚNG CHƯ THIÊN
TILOKAVIJAYARĀJAPATTIDĀNAGĀTHĀ
Yam kiñchi kusalakammam
Kattabbam kiriyam mama
Kāyena vācāmanāsa
Tidase sugatam katam
Ye sattā saññino atthi
Ye ca sattā asannino
Katam puññaphalam mayham
Sabbe bhāgī bhavantute
Ye tam katam suviditam
Dinnam punnaphalam mayā
Ye ca tattha na jānanti
Devā gantvā nivedayum
Sabbe lokamhi ye sattā
Jīvantāhārahetukā
Manuññam bhojanam sabbe
Labhantu mama cetasāti.
Phiên âm:
Giăng, kinh chí, cú xă lă căm măng
Kat tăp păng, kí rí giăm, mă mă
Ca dê nă, voa cha mă na xă
Tí đă xê, xú gă tăng, că tăng
Giê xat ta, xanh nhí nô, at thí
Giê chá xat ta, ă xanh nhí nô
Cá tăng punh nhá phá lăng, mây hăng
Xắp bê, pha gi, phă voan tú tê
Giê tăng, cá tăng, xú quí đí tăng
Đin năng, punh nhá phá lăng, mă gia
Giê chă tat thă, nă cha năn tí
Đê voa, găn toa, ní quê đă dung
Xăp bê, lô căm hí, giê xat ta
Chi voăn ta ha ră hê tú ca
Mă nunh nhăng, bô chá năng, săp bê
Lă phăn tú, mă mă, chê tă xa tí.
Nghĩa:
Phước căn con đã tạo thành,
Do thân, khẩu, ý tu hành gieo nên.
Đều là phước báo vững bền,
Có thể tiếp chúng độ lên thiên đàng.
Cung trời Đạo Lợi thọ nhàn,
Chúng sanh hữu tưởng nhơn gian Sa bà.
Chư Thiên, Phạm Thiên cùng là,
Bậc trời Vô Tưởng được mà hưởng an.
Phước con hồi hướng dâng ban,
Chúng sanh hay biết hoàn toàn lãnh thâu.
Bằng ai chưa rõ lời cầu,
Xin cùng Thiên chúng đến hầu mách ngay.
Có người làm phước được rày,
Lại đêm hồi hướng hiện nay khắp cùng.
Chúng sanh hoan hỷ lãnh chung,
Hưởng được phước quí ung dung thanh nhàn.
Chúng sanh thế giới các hàng,
Bởi nhờ thọ thực sanh an mạng trường.
Xin thâu phước báu cúng dường,
Hoá thành thực phẩm mùi hương thoả lòng. (lạy)
ĀKĀSATTHĀ
Ākāsaṭṭhā ca bhummatthā
Devā nāgā mahiddhikā
Puññam no anumodantu
Ciraṃ rakkhantu
1. Sāsanam
2. Raṭṭhake
3. Ñātayo
4. Pāṇino
5 . No sadā.
Phiên âm:A ca xát tha, chă, bum mat tha
Đê voa, na ga, mă hít thí ca
Bun nhăng, nô, ă nú mô đăn tú
Chí răng, rắc khăn tú
1. Xa xă năng
2. Rát thă kê
3. Nha tă dô
4. Pă ní nô
5. Nô xă đa.
21. HỒI HƯỚNG PHƯỚC ĐẾN THÂN QUYẾN ĐÃ QUÁ VÃNG.
Idaṃ no (vo) ñātīnaṃ hontu
Sukhitā hontu ñātayo. (3lần)Phiên âm:Í đăm nô (vô) nha ti năng hôn tú
Xú khí ta hôn tú nha tă giô. (3 lần)Nghĩa:Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, xin hồi hướng đến thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, cầu mong cho các vị ấy hằng được sự yên vui. (3 lần 1 lạy)
*CÂU NGUYỆN GIẢI THOÁT
Sau khi làm xong việc tài thí hoặc pháp thí rồi, cần phải đọc Câu Nguyện sau đây để dứt bỏ lòng ham muốn và mong giải thoát khỏi Khổ sanh tử luân hồi:
Idaṃ vata me (puññaṃ) dānam āsavakkhayāvahaṃ hotu anāgate kāle.
Phiên âm:
Í đăng, voă tă, mê (punh nhăng) đa năng, a xă voăc khă gia voă hăng, hô tú, á na gá tê, ka lê.
=====
https://namo84000.wordpress.com/cate...tập/page/10/
Kinh Sám Hối Lỗi Lầm
Một thuở nọ, Đức Phật ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá, cùng với 1.250 vị Bhikṣu [bíc su] và 1.000 vị Bồ-tát.
Lúc bấy giờ vị đệ tử trí tuệ đệ nhất là ngài Thu Lộ Tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến ở trước Phật, hai gối quỳ, chắp tay và thưa hỏi Đức Phật rằng:
"Thưa Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào khởi tâm cầu Phật Đạo, nhưng ở đời trước đã làm ác thì họ phải nên sám hối như thế nào?"
Đức Phật bảo:
"Lành thay, lành thay, Thu Lộ Tử! Ông vì lo lắng cho hàng trời người nên mới khéo thưa hỏi như vậy."
❖
Đức Phật bảo:
"Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn cầu Đạo Ứng Chân, muốn cầu Đạo Độc Giác, hay muốn cầu Phật Đạo, hoặc muốn biết những việc quá khứ cùng vị lai, thì ngày đêm sáu thời, họ hãy thường xuyên tắm gội, súc miệng sạch sẽ, mặc y phục chỉnh tề, chắp tay lễ bái mười phương chư Phật, và thành khẩn sám hối như vầy:
'Từ vô số kiếp cho đến nay, do bởi tham sân si, chẳng biết Phật Pháp Tăng, và chẳng biết thiện ác, nên con đã trót tạo bao nghiệp ác.
Hoặc thân phạm nghiệp ác, ngữ phạm nghiệp ác, hay ý phạm nghiệp ác.
Hoặc khởi tâm muốn hại Phật, hủy báng Kinh Pháp, hay đánh đập chư Tăng.
Hoặc giết bậc Ứng Chân hay giết hại cha mẹ.
Hoặc thân phạm ba nghiệp ác, ngữ phạm bốn nghiệp ác, hay ý phạm ba nghiệp ác.
Hoặc tự mình sát sanh, bảo người sát sanh, hay thấy kẻ khác sát sanh mà vui theo.
Hoặc tự mình trộm cắp, bảo người trộm cắp, hay thấy kẻ khác trộm cắp mà vui theo.
Hoặc tự mình lừa gạt, bảo người lừa gạt, hay thấy kẻ khác lừa gạt mà vui theo.
Hoặc tự mình nói đâm thọc, bảo người nói đâm thọc, hay thấy kẻ khác nói đâm thọc mà vui theo.
Hoặc tự mình mắng chửi, bảo người mắng chửi, hay thấy kẻ khác mắng chửi mà vui theo.
Hoặc tự mình nói dối, bảo người nói dối, hay thấy kẻ khác nói dối mà vui theo.
Hoặc tự mình ganh ghét, bảo người ganh ghét, hay thấy kẻ khác ganh ghét mà vui theo.
Hoặc tự mình tham lam, bảo người tham lam, hay thấy kẻ khác tham lam mà vui theo.
Hoặc tự mình chẳng tin sự thật, bảo người chẳng tin sự thật, hay thấy kẻ khác chẳng tin sự thật mà vui theo.
Hoặc tự mình chẳng tin rằng làm thiện gặp lành, làm ác gặp dữ, hay thấy kẻ khác làm ác mà vui theo.
Hoặc tự mình ăn cắp đồ vật từ chùa tháp hay tài vật của chư Tăng, bảo người ăn cắp, hay thấy kẻ khác ăn cắp mà vui theo.
Hoặc tự mình chiếm lời người khác, bằng cách dùng thùng chứa nhỏ hay thước đo ngắn, hoặc với thùng chứa lớn hay thước đo dài, hoặc thấy kẻ khác chiếm lời mà vui theo.
Hoặc tự mình cố ý trộm cắp, bảo người cố ý trộm cắp, hay thấy kẻ khác cố ý trộm cắp mà vui theo.
Hoặc tự mình tạo tội ác ngỗ nghịch, bảo người tạo tội ác ngỗ nghịch, hay thấy kẻ khác tạo tội ác ngỗ nghịch mà vui theo.
Những nghiệp như vậy, khiến con đã luân hồi trong năm đường. Có lúc đọa địa ngục, có lúc làm ngạ quỷ, có lúc sanh vào chốn bàng sanh, có lúc sanh trong cõi trời hay nhân gian.
Những nghiệp ác đã tạo ở trong năm đường, như là bất hiếu cha mẹ, bất hiếu sư phụ, bất kính bạn tốt, bất kính Đạo Nhân, hay bất kính người lớn tuổi.
Khinh miệt cha mẹ, khinh miệt sư phụ, khinh miệt người cầu Đạo Ứng Chân, hay khinh miệt người cầu Đạo Độc Giác.
Hoặc phỉ báng ganh ghét họ, thấy Phật Đạo nói là sai, thấy đường ác nói là đúng, thấy chánh nói là tà, hay thấy tà nói là chánh.
Con nay xin sám hối tất cả nghiệp ác đã tạo và cầu mong mười phương chư Phật hãy thương xót, khiến con ở đời này và những đời sau sẽ không bao giờ tái phạm các nghiệp tội như thế.
Vì sao con cầu mong mười phương chư Phật hãy thương xót? Bởi chư Phật có thể nhìn xuyên và nghe thấu tâm con. Con không dám ở trước Phật mà dối gạt hay che giấu. Từ nay về sau, con sẽ không bao giờ tái phạm.'"
❖
Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào không muốn đọa địa ngục, ngạ quỷ, hay bàng sanh, thì họ cần phải sám hối lỗi lầm và không nên che giấu. Sau khi đã thọ giới, họ không được làm ác nữa.
Nếu không muốn sanh vào chốn biên địa--nơi chẳng có Phật Pháp Tăng, nơi chẳng có lý lẽ, và nơi chẳng có phân biệt thiện ác--thì họ cần phải sám hối lỗi lầm và không nên che giấu.
Nếu không muốn ngu si hay mù điếc câm ngọng, hoặc không muốn sanh vào nhà làm nghề mổ giết, đánh cá, săn bắn, gác ngục, hay gia đình bần cùng, thì họ cần phải sám hối lỗi lầm và không nên che giấu.
Nếu người nữ nào muốn chuyển sanh làm thân nam, thì họ cần phải sám hối lỗi lầm.
Nếu ai muốn đắc Quả Nhập Lưu và không bao giờ còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, hay bàng sanh, thì họ cần phải sám hối lỗi lầm.
Nếu ai muốn đắc Quả Nhất Lai và sanh lên trời, hoặc muốn đắc Quả Bất Hoàn và sanh lên 24 cõi trời, hoặc muốn đắc Đạo Ứng Chân và vào tịch diệt, hoặc muốn đắc Đạo Ứng Chân và trụ ở thế gian, hoặc muốn đắc Đạo Độc Giác, hay muốn biết những việc quá khứ cùng vị lai, thì họ cần phải sám hối lỗi lầm và không nên che giấu."
❖
Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Ở ba thời mỗi ngày, các thiện nam tử và thiện nữ nhân hãy đảnh lễ chư Phật hiện tại trong mười phương. Đó là bởi mười phương chư Phật đều dùng Chánh Pháp để giáo hóa hết thảy chúng sanh làm thiện, ví như ánh sáng của mặt trời và mặt trăng chiếu soi đến tất cả.
Phật thuyết Kinh giảng Đạo thấm nhuần chúng sanh, ví như trời mưa làm trăm loại hạt và cỏ cây đều tươi tốt.
Phật thuyết Kinh giảng Đạo thấm nhuần chúng sanh, để khiến họ sanh làm vua chúa, sanh lên trời Tứ Thiên Vương và cho đến trời Tam Thập Tam để thọ hưởng vui sướng giàu sang.
Phật cũng khiến cho họ đắc Quả Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Hoàn, hay Đạo Ứng Chân.
Các thiện nam tử và thiện nữ nhân nên thỉnh cầu mười phương chư Phật lắng nghe lời nguyện của họ rằng:
'Hết thảy mọi việc thiện của tất cả hàng trời người và cho đến các loài sâu bọ, như là bố thí, tinh tấn tu Đạo, đọc Kinh trì giới, từ tâm tưởng niệm chúng sanh, làm vô lượng việc lành, cúng dường Bồ-tát và chư Tăng, hay bố thí cho kẻ khốn cùng, và thậm chí khởi lòng thương xót động vật, con đều khuyên họ làm thiện và con cũng xin tùy hỷ.
Những ai đã được chư Phật quá khứ giáo hóa để đạt đến tịch diệt, con đều xin tùy hỷ.
Những ai sẽ được chư Phật vị lai giáo hóa làm thiện, rời xa năm đường ác của sanh tử, cho đến khiến họ đắc Đạo Ứng Chân và Độc Giác, con đều khuyên họ làm thiện và con cũng xin tùy hỷ.
Những ai đang được chư Phật hiện tại ở mười phương giáo hóa làm bố thí, đọc Kinh trì giới, từ mẫn chúng sanh và cho đến các loài sâu bọ, làm cho họ đều thoát khỏi địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, ngu si bần cùng, và thậm chí khiến họ đắc Quả Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Hoàn, Đạo Ứng Chân, Đạo Độc Giác, hoặc Đạo tịch diệt, con đều khuyên họ làm thiện và con cũng xin tùy hỷ.
Chư Bồ-tát ở quá khứ đã phụng trì và tu hành Bố Thí Độ, Trì Giới Độ, Nhẫn Nhục Độ, Tinh Tấn Độ, Thiền Định Độ, và Diệu Tuệ Độ, con khuyên họ tùy hỷ về sự hành trì Sáu Độ, và con cũng xin tùy hỷ.
Chư Bồ-tát ở vị lai sẽ phụng trì và tu hành Sáu Độ, con khuyên họ tùy hỷ, và con cũng xin tùy hỷ.
Chư Bồ-tát ở hiện tại đang phụng trì và tu hành Sáu Độ, con khuyên họ tùy hỷ, và con cũng xin tùy hỷ.
Hết thảy bao phước đức có được, con xin bố thí đến chúng sanh khắp mười phương--hàng trời người, cha mẹ trong nhiều đời nhiều kiếp, và cho đến các loài sâu bọ với hai chân, bốn chân, hay nhiều chân--khiến họ sẽ thành Phật hoặc đắc Đạo Độc Giác. Sự hồi hướng của con gấp hơn trăm lần, ngàn lần, vạn lần, và ức lần so với việc lấy vàng bạc và vật báu đầy khắp bốn đại thành để làm bố thí.'"
❖
Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Ngày đêm sáu thời, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào lễ bái mười phương chư Phật và nguyện rằng:
'Ngưỡng mong chư Phật hãy lắng nghe lời nguyện của con.
Sau khi thành Phật, giả sử mười phương chư Phật không muốn tuyên giảng Kinh Pháp, con đều thỉnh chư Phật thuyết Pháp cho hàng trời người và cho đến các loài sâu bọ, làm cho họ đều thoát khỏi địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, ngu si bần cùng, và thậm chí khiến họ đắc Đạo tịch diệt.
Giả sử mười phương chư Phật muốn vào Cứu Cánh Tịch Diệt, con tha thiết thỉnh cầu chư Phật chớ vào Cứu Cánh Tịch Diệt, mà hãy trụ thế để hàng trời người và cho đến các loài sâu bọ được phước lợi, khiến họ đều thoát khỏi địa ngục, ngạ quỷ, và bàng sanh.'"
Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Vào thuở xưa lúc vẫn còn là một vị Bồ-tát, ta luôn tha thiết thỉnh cầu chư Phật thuyết Pháp và chớ vào Cứu Cánh Tịch Diệt. Cho nên khi thành Phật, Trì Quốc Thiên Vương và Năng Thiên Đế từ cõi trời hạ xuống, chắp tay đảnh lễ, và tha thiết thỉnh cầu Ta thuyết Pháp cho vô số hàng trời người và chớ vào Cứu Cánh Tịch Diệt."
❖
Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Muôn loại chúng sanh như thế, hễ ai làm thiện tất được phước lành, ai làm ác tất gặp tai ương."
Ngài Thu Lộ Tử bạch Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn cầu Phật Đạo, thì họ phải lập nguyện như thế nào để chứng đắc?"
Đức Phật bảo:
"Ngày đêm sáu thời, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào lễ bái mười phương chư Phật và nguyện rằng:
'Ngưỡng mong mười phương chư Phật hãy lắng nghe lời nguyện của con.
Hết thảy bao phước đức có được từ vô số kiếp cho đến nay, như là bố thí, thọ trì Kinh Pháp, giữ gìn niệm thiện, hoặc làm lợi ích lành cho Phật Pháp Tăng, người thế gian, hay làm lợi ích lành cho động vật. Hễ ai làm thiện tất được phước lành, ai làm ác tất gặp tai ương. Con nay xin sám hối nghiệp ác đã tạo. Con nguyện đọc Kinh trì giới và chẳng dám hủy phạm, hoặc là thọ giới không gần gũi phụ nữ, thỉnh chư Phật và Bồ-tát làm lợi ích cho chúng sanh, hay tha thiết thỉnh cầu chư Phật chớ vào Cứu Cánh Tịch Diệt.
Hết thảy bao phước đức có được từ khi học Đạo cho đến nay, tất cả đều tụ hội lại và với lòng từ mẫn, con xin bố thí đến chúng sanh khắp mười phương--hàng trời người, cha mẹ trong nhiều đời nhiều kiếp, và cho đến các loài sâu bọ--khiến họ đều được phước đức này. Riêng con chỉ giữ một phần dư nhỏ để giúp con tuyên dương Phật Pháp. Những ai chưa hóa độ, con sẽ hóa độ. Những ai chưa giải thoát, con sẽ khiến giải thoát. Những ai chưa đắc tịch diệt, con sẽ khiến đắc tịch diệt.'"
❖
Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:
"Giả sử tất cả nam nữ trong thế gian đều thành bậc Ứng Chân hay Độc Giác, và nếu lại có người cúng dường hết thảy các vị Ứng Chân và Độc Giác kia suốt 1.000 năm, thì phước của họ có nhiều chăng?"
Ngài Thu Lộ Tử thưa rằng:
"Cúng dường cho một vị Ứng Chân hay Độc Giác chỉ một ngày thôi, thì phước đó là vô lượng rồi. Hà huống là cúng dường cho tất cả các vị Ứng Chân và Độc Giác ở thế gian suốt 1.000 năm."
http://ilearnbudha.blogspot.com/2014/04/?m=0
https://daitangkinh.net/?f=Kinh-Sam-Hoi-Loi-Lam
Phật thuyết kinh diệt trừ tối tăm trong mười phương
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hóa tại Ca Duy La Vệ cùng với đông đủ chúng đại Tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị và vô số các Bồ tát, trú dưới gốc cây Ni-câu-loại, nơi tinh xá Thích Thị.
Vào buổi sáng sớm, đức Phật đắp y, ôm bình bát cùng với các quyến thuộc Tỳ-kheo vây quanh, vào thành khất thực.
Bấy giờ có đồng tử thơ ấu dòng họ Thích, tên là Diện Thiện Duyệt, thắng xe tốt đẹp, sáng sớm ra khỏi thành, từ xa trông thấy đức Thế Tôn cùng các Thánh chúng, liền đi thẳng đến chỗ Phật, xuống xe, đi bộ đến, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, đi quanh Phật ba vòng rồi lui đứng một bên.
Bấy giờ Diện Thiện Duyệt cúi đầu buồn rầu. Phật biết nhưng cố hỏi:
- Đồng tử chắc có việc thưa hỏi nên sáng sớm ra khỏi thành, trong lòng lo buồn, sắc diện rầu rỉ?
Diện Thiện Duyệt bạch Phật:
- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Hiện nay song thân của con thân thể không được an hòa, luôn bị phi nhơn ngày đêm quấy nhiễu, ngủ nghỉ không được yên giấc ; vào ra lui tới đều bị bức bách khó chịu. Lại còn bản thân con tuy ngự trị một đất nước to lớn, nhưng gặp sự nguy khốn cùng khổ này, không giúp được gì, tự nghĩ mãi nhưng không biết phải dùng phương kế gì, không biết phải thiết lập những phương tiện gì. Giả sử gặp phải giặc giả oán thù hoặc phi nhơn, yêu quái, gian tà... thì không biết lấy gì để phòng hộ. Cúi xin đức Thế Tôn chỉ dạy cho con dùng phương pháp gì để tùy thời cứu giúp, để cho không còn bị nhiễu hại.
Phật bảo Diện Thiện Duyệt:
- Hãy lắng nghe kỹ, lãnh thọ kỹ, khéo ghi nhớ và hành trì, Ta sẽ vì ông thuyết pháp ủng hộ.
Khi ấy đồng tử thơ ấu họ Thích vâng theo lời dạy và lắng nghe. Phật bảo:
- Phương Đông, cách đây hơn tám ngàn vạn ức na-thuật cõi Phật, có thế giới tên là Bạt Chúng Trần Lao, đức Phật cõi đó hiệu là Đẳng Hành Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Đông, trước tiên nên cúi đầu quy y cúng dường Phật ở phương Đông, thì sẽ không còn sợ hãi và chẳng ai còn dám xâm phạm, nhiễu hại. Có ưa thích đi và có sự khởi hành thì chắc chắn sẽ được như nguyện, tâm chí chưa từng rối loạn và như tâm chí đã nghĩ liền được thành tựu.
Khi ấy, Phật thuyết kệ:
- Trước thờ Tối Chánh Giác
Bậc Đại Thánh đẳng hành
Sau đi về phương Đông
Mới được không khiếp sợ.
Phật bảo đồng tử:
- Phương Nam, cách đây hơn mười ức trăm ngàn cõi Phật có thế giới tên là Tiêu Minh Đẳng Yếu Thoát, đức Phật cõi đó hiệu là Sơ Phát Tâm Niệm Ly Khủng Úy Quy Siêu Thủ Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác, hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Nam, nên từ xa cúi đầu quy mạng đức Phật kia rồi mới khởi sự ra đi, một lòng nhớ nghĩ, ý không lìa Phật thì không còn sợ hãi, không gặp hoạn nạn.
Khi ấy, Phật thuyết kệ:
- Lìa xa các tưởng rồi
Đồng tử tu như vậy
Nếu đi đến phương Nam
Không còn gặp sợ hãi.
Phật bảo đồng tử:
- Phương Tây, cách đây hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Thiện Tuyển Trạch, đức Phật đó hiệu là Kim Cang Bộ Tích Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Tây, trước tiên nên giảng thuyết và tư duy về pháp Bổn tịnh, hoàn toàn không còn sở kiến, không khởi, không diệt, thanh tịnh, vắng lặng và trước hết nên cúi đầu đảnh lễ đức Phật cõi đó, nhất tâm quy y rồi mới khởi sự ra đi, thì chắc chắn không còn sợ hãi, không gặp hoạn nạn.
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Các pháp chẳng sanh ra
Và cũng không diệt mất
Người hiểu rõ như thế
Thì không còn sợ hãi.
Phật bảo đồng tử:
- Phương Bắc, cách đây hơn hai vạn cõi Phật có thế giới tên là Giác Biện, Phật hiệu là Bảo Trí Thủ, Như Lai, Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Bắc, bắt đầu ngay nơi nhà, cúi đầu đảnh lễ quy y đức Phật kia rồi mới khởi sự ra đi thì chắc chắn không còn sợ hãi và không gặp hoạn nạn.
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Nếu ngay trong nhà ở
Hay mọi nơi cư trú
Muốn đi về phương Bắc
Đều không còn sợ hãi.
Phật bảo đồng tử:
- Phương Đông-bắc, cách đây hơn trăm vạn ức cõi Phật có thế giới tên Trì Sở Niệm, đức Phật cõi đó hiệu là Hoại Ma Mạn Độc Bộ Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Lại Như Lai kia đi đến dưới gốc cây Bồ-đề, vừa mới ngồi, nhất tâm, liền khuyến hóa các ma quyến thuộc và các thiên ma ở thế giới tam thiên đại thiên, đều an lập họ nơi Bất thối chuyển, sẽ thành đạo Chánh chơn Vô thượng. Đây là khi Như Lai đến dưới gốc cây Bồ-đề cảm hóa được. Người nào đi đến phương Đông-bắc, nên từ xa cúi đầu quy y đức Phật kia rồi sau mới đi, thì ngay nơi chỗ ở đạt được an ổn, chắc chắn không còn sự sợ hãi.
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Từ đầu mới phát tâm
Hàng phục được binh ma
Tâm luôn nghĩ đến Phật
Lập tức không khiếp sợ.
Phật bảo đồng tử:
- Phương Đông-nam, cách đây hơn hai hằng hà sa các cõi Phật, có thế giới tên là Thường Chiếu Diệu, đức Phật đó hiệu là Sơ Phát Tâm Bất Thối chuyển Luân Thành Thủ Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Như Lai đó khi còn làm Bồ-tát thường chỉ dạy mọi người thực hành nghĩa "Bất thối chuyển luân” là: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định bất lọan, thành tựu trí tuệ. Đây là do Như Lai khi còn làm Bồ-tát cảm hóa được. Người nào đi về phương Đông-nam, trước hết nên cúi đầu, năm vóc gieo sát đất, nhất tâm quy mạng rồi sau mới đi thì không còn sợ hãi .
Khi ấy, Phật thuyết kệ:
- Trước năm vóc đảnh lễ
Rồi sau mới ra đi
Ở nơi muốn đi đến
Không gặp giặc làm hại.
Phật bảo đồng tử:
- Phương Tây-nam, cách đây hơn tám vạn cõi Phật có thế giới tên là Phú Bạch Giao Lộ, đức Phật đó hiệu là Bảo Cái Chiếu Không Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào đi về phương Tây-nam, trước hết nên cúi đầu đảnh lễ đức Như Lai kia, từ xa đem hoa rải dâng, niệm nơi tướng không, rồi sau mới đi thì không còn sợ hãi .
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Cúng dường Đẳng Chánh Giác
Dùng hoa để dâng cúng
Sử dụng tâm vô tướng
Thì không còn sợ hãi.
Phật bảo Đồng tử:
- Phương Tây-bắc, cách đây hơn sáu hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Trụ Thanh Tịnh, đức Phật đó hiệu là Khai Hóa Bồ-tát Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Quốc độ của đức Phật đó thanh tịnh trong sạch, cũng không có ái dục, không có người nữ, xa lìa năm món dục. Người nào đi đến phương Tây-bắc, trước hết nên đảnh lễ đức Phật kia, tự quay về sám hối lỗi lầm, tịnh tu phạm hạnh rồi sau mới ra đi thì không còn sợ hãi.
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Trước phải tu phạm hạnh
Sau mới ra khỏi nhà
An ổn không gặp giặc
Chỗ ở không tai nạn.
Phật bảo đồng tử:
- Phương dưới, cách đây hơn chín mươi hai cai cõi Phật, có thế giới tên là Niệm Vô Đảo, đức Phật đó hiệu là Niệm Sơ Phát Ý Đoạn Nghi Bạt Dục, Như Lai, Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào khi muốn ngồi, hoặc ban đêm khi nằm, niệm Như Lai kia, cúi đầu quy y, thường dùng niệm từ khắp cứu giúp chúng sanh rồi sau mới ngồi hay nằm thì không còn sợ hãi, nguyện cầu điều gì chắc chắn được kết quả.
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Thường nghĩ khắp chúng sanh
Ngồi thiền hay nằm ngủ
Trong mộng hay thức giấc
Chắc chắn không sợ hãi.
Phật bảo đồng tử:
- Phương trên, cách đây hơn sáu mươi hằng hà sa các cõi Phật, có thế giới tên Ly Chư Khủng Cụ Vô Hữu Xứ Sở, đức Phật đó hiệu là Tịnh Minh Đẳng Siêu Vương, Như Lai, Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào từ chỗ ngồi đứng dậy thường hay đảnh lễ đức Phật kia, quy y cúng dường, thường ôm ấp lòng từ, thương xót chúng sanh rồi sau mới đứng dậy đi thì không còn sợ hãi, tại chỗ đi đến được an lành vui vẻ. Do niệm như vậy nên thường được ủng hộ.
Khi ấy Phật thuyết kệ:
- Thường ôm lòng từ bi
Thương các loài chúng sanh
Do thương xót quần sanh
Nên không còn sợ hãi.
Phật bảo đồng tử:
- Ông nên lãnh thọ kỹ danh hiệu chư Phật này và phụng trì, tư duy, nhớ mãi trong lòng thì chỗ muốn đi đến chắc chắn không gặp nguy khó.
Diện Thiện Duyệt đồng tử họ Thích tiến tới trước Phật, bạch:
- Con đã lãnh thọ, phụng trì danh hiệu của chư Phật này và ôm ấp trong lòng, tư duy, phụng hành. Việc này con luôn luôn ghi nhớ trong lòng. Con thấy khắp mười phương không hề chướng ngại, như vừa rồi Thế Tôn giảng thuyết, truyền dạy kinh điển và danh hiệu chư Phật đều giống như con đã từng được nghe, xét kỹ không khác.
Khi ấy, chúng hội kia đầy đủ trăm ngàn người, nghe Phật giảng thuyết đều từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, quỳ thẳng bạch Phật:
- Lòng từ rộng lớn của Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác che khắp mới vì chúng con giảng thuyết kinh điển này. Con và tất cả đều được thấy chư Phật trong ngoài thông suốt, không còn tăm tối, giống như Phật đã giảng thuyết không sai khác.
Lúc ấy, tôn giả Xá Lợi Phất tiến tới trước Phật, bạch:
- Các tộc tánh tử này được mắt thanh tịnh, vì lẽ gì họ lại được nhanh chóng nhìn thấy chư Phật không bị trở ngại? Nhờ năng lực công đức mà được như vậy chăng? Hay do oai thần của chư Phật tiếp sức? Hay là do công đức tự huân tập ở kiếp trước đưa đến?
Phật bảo Xá Lợi Tử:
- Đây là do oai thần của Phật và cũng là do công đức từ trước vậy.
Bấy giờ, Phật phóng một luồng ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương, đất liền chấn động mạnh, trời rưới hoa thơm, nhạc khí không hầu không đánh tự kêu. Hiền giả A-Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, quỳ thẳng, chấp tay tiến tới trước Phật bạch:
- Kính bạch Thế Tôn! Hôm nay vì lẽ gì Thế Tôn hiện ánh sáng lớn chiếu khắp mọi nơi, đất lại chấn động mạnh và trời rưới hoa thơm?
Phật bảo A-Nan:
- Thầy có thấy đầy cả trăm ngàn người đang chấp tay hướng về trước Phật không?
A-Nan bạch:
- Kính bạch Thế Tôn! Con có thấy.
Phật dạy:
- Trăm ngàn người này là do phước đức đời trước đã từng tạo nên trong vô số kiếp không còn trở lại nẻo ác. Mỗi người lại trải qua hằng hà sa các thế giới làm Chuyển luân Thánh vương, làm chủ bốn thiên hạ. Mỗi một phen làm Thánh vương thường được thấy chư Phật. Do được như vậy nên chí nguyện như ý và sau này ở trong đời sẽ được thành Phật hiệu là Lập Nhãn Thanh Tịnh Như lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác, Minh hạnh thành, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Đạo pháp ngự, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn, đều đồng một tên, ở mỗi mỗi cõi khác nhau và đều thành Phật đạo.
Phật vừa thọ ký cho các tộc tánh tử này xong, ngay khi ấy thần đất và thần hư không bỗng nhiên cất tiếng khen ngợi rằng: "Các tộc tánh này công đức vô lượng” . Âm thanh đó thấu suốt đến cõi trời Tứ thiên vương, Đao Lợi thiên, Diệm Ma thiên, Đâu Thuật thiên, Bất Kiêu Nhạo (Lạc?) thiên, Hóa Tự Tại thiên, cho đến ma giới, trên thấu Phạm thiên và A Ca Nị Tra thiên thứ hai mươi bốn đều cùng ca ngợi, tán thán: "Thật khó bì kịp, khó bì kịp! Thật chưa từng có! Nhờ oai đức từ ân của chư Phật Thế Tôn cao vời rực rỡ, đường đường cứu giúp nên mới như vậy. (Các Ngài) mở bày, chỉ dạy, giáo hóa các tộc tánh tử và thọ ký sẽ thành đạo Chánh chơn Vô thượng, được trí tuệ không ngăn ngại, thấy khắp mọi nơi đều thông suốt” .
Diện Thiện Duyệt dòng họ Thích ở trước Phật, bạch:
- Kinh điển này gọi tên là gì và phụng trì như thế nào?
Phật bảo đồng tử:
- Kinh này tên là "Diệt trừ tối tăm trong mười phương” . Vì sao? - Vì người nào nghĩ đến chư Phật trong mười phương và nhất tâm quy y thì trong tâm sáng suốt, như tối thấy được ánh sáng, không còn sợ hãi, cho nên gọi là "Diệt trừ tối tăm trong mười phương” . Nên phụng trì kinh này! Lại còn có tên là "Như Lai khen ngợi” , nên phụng trì! Lại còn tên là "Rõ pháp không tướng” . Lại còn có tên "Không Vô Sở Hữu” . Hãy siêng năng phụng trì!
Phật bảo đồng tử:
- Giả sử có người lãnh thọ kinh điển này rồi, hành trì đọc tụng và giảng thuyết cho người khác đầy đủ hoàn toàn không thiếu sót thì sẽ mau được thành tựu sở nguyện. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thọ trì kinh này và đọc tụng thì hoàn toàn không còn sợ hãi. Nếu đến chỗ quan huyện không bị xâm tổn. Nếu đi giữa giặc giã oán thù không bị nguy hại. Nếu đi trong lửa dữ, lửa dữ liền diệt. Nếu đi trong nước, hoàn toàn không bị chết chìm. Trời, rồng, quỷ thần, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chơn-đà-la, Ma-hưu-lặc, ác thần, ác ma và các chúng quỷ thần, nhơn, phi nhơn khác không dám xúc phạm. Các loài sư tử, hổ lang, mãnh thú, hùng bi không dám đến gần. Ngạ quỷ Võng lượng và quỷ Phản túc, các quỷ Hổn biên không thể nhiễu hại, cũng không có sự sợ hãi. Nếu một mình ở chỗ vắng vẻ, đồng trống, dưới gốc cây, chỗ đất trống, tức là nơi Như Lai tạo lập và đang ủng hộ. Nếu tộc tánh tử, tộc tánh nữ nào lãnh thọ kinh điển này rồi thọ trì đọc tụng, biên chép quyển kinh thì đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, trồng các cội công đức và các công đức đã làm sắp hoàn thành.
Bấy giờ Phật bảo hiền giả A-Nan:
- Giả sử có người hiện đang đối diện trước Phật, chí tâm cúng dường các thứ đồ dùng như: y phục, thức ăn, giường nằm và thuốc thang chữa bệnh thì không bằng như có người thọ trì kinh này, biên chép, đọc tụng, chép lên thẻ tre, lên lụa và vì người khác giảng thuyết thì đó là người cúng dường Phật đầy đủ .
Khi ấy, Thiên Đế Thích cùng với vô số các chư thiên đồng đến, mỗi vị mang hoa trời rải cúng dường Phật và bạch Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Chúng con sẽ hộ trì kinh này.
Tứ thiên vương và chư thiên ở cõi trên đều mang hoa hương để cúng dường Phật và đều bạch Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Chúng con sẽ ủng hộ tộc tánh tử, tộc tánh nữ lãnh thọ kinh điển này thọ trì đọc tụng, vì người khác giảng thuyết hoặc biên chép lên thẻ tre, lên lụa. Người thọ trì kinh này thì ngay tại chỗ ở hay đi đến đâu, chúng con cũng đều vây quanh để ủng hộ, khiến cho không có ai có thể rình tìm được lỗi lầm của người đó một cách dễ dàng.
Phật thuyết như vậy xong, trời Đế Thích, Diện Thiện Duyệt đồng tử dòng họ Thích và trời Tứ Thiên vương, quỷ thần, A-tu-luân, nhơn dân thế gian nghe kinh hoan hỷ đảnh lễ và lui ra.
KINH PHẬT THUYẾT
DIỆT TỐI TĂM TRONG MƯỜI PHƯƠNG
Hết
https://www.chuabaidinhninhbinh.vn/p...oi-phuong.html
PHƯƠNG PHÁP SÁM HỒI LỖI LẦM
* * *
Dưới đây là NGHI THỨC SÁM HỐI ĐƠN GIẢN được biên soạn nhằm giúp mọi người trong nhà dễ nhớ, dễ thực tập, bất cứ ai có mang thân bệnh tật, có nhiều thói hư tật xấu, thân tâm đang vương mang những hậu quả nghiêm trọng do ác nghiệp gây nên từ kiếp này với nhiều đời trước đã tạo ra như:
Thân đau bệnh nặng, bác sĩ cũng phải đành buông tay không chữa trị, thuốc thang không cứu được. Bệnh giết hại phục vụ khoái khẩu mà chẳng tiếc thân mạng sinh vật. Bệnh uống rượu, nghiện ngập, phóng đảng. Bệnh tham lam, bỏn sẻn, không làm việc chỉ biết cờ bạc, cho vay nặng lãi tạo nhiều ác nghiệp, mưu cầu lợi dưỡng công danh làm lợi mình hại người. Bệnh tham sắc tướng, trêu hoa ghẹo nguyệt, trai gái say đắm dục lạc, ngoại tình. Bệnh nóng giận, ác khẩu ưa gây gỗ, mắng rủa nặng lời với mọi người. Bệnh điêu ngoa gian dối, lừa gạt, dùng nói hãm hại người, lưỡi đôi chiều…
Tất cả đều có thể thực tập và hành trì pháp sám hối để từ bỏ và diệt trừ mọi tật xấu này đã từng gây khổ đau người, chỉ làm tổn hại cho mình và gia đình thân tộc.
Vì vậy, mỗi người chúng ta hãy nên thường xuyên lễ lạy Phật và lập nguyện sám hối hàng ngày để chuyển hóa nghiệp chướng các việc làm xấu ác, tội nặng chuyển thành nhẹ, tôi nhẹ sẽ được tiêu trừ trong nhiều đời nhiều kiếp cho đến đời này.
PHƯƠNG PHÁP SÁM HỒI LỖI LẦM
Nên chọn giờ yên tĩnh trong ngày để thực hành pháp sám hối: Giờ tốt nhất là từ 4 giờ đến 7 giờ mỗi buổi sáng. Trước khi làm lễ sám hối nên tắm rửa thân thể sạch sẽ thay y phục mặc áo tràng, thắp ba cây hương thỉnh ba tiếng chuông quỳ gối nói lời phát nguyện.
Nam mô bổn sư thích ca mâu ni phật. (3 lần)
Đệ tử con tên….. pháp danh….. tuổi. sanh….. Ngày….. Tháng….. Năm….
Hôm nay trước bàn thờ trang nghiêm Phật và Ông bà Tổ tiên con xin thành tâm cử hành pháp sám hối. Cầu nguyện các nghiệp xấu ác của con nhiều nhiều đời nhiều kiếp cho đến đời nay, biết và không biết mà con đã tạo đều được tiêu trừ, tâm lành mỗi ngày thêm lớn và xin Tam Bảo chứng minh cho con có đầy đủ nghị lực, trí huệ sáng suốt. Con nguyện sẽ sám hối cả ngày lẫn đêm, niệm nịêm nối liền không dứt. Sám hối cho đến khi nào tâm trí được vắng lặng tịch tĩnh, không còn gì để sám hối. Vì những tội lỗi của con làm gây ra ác nghiệp không sao nhớ hết, cho nên con sẽ còn tiếp tục sám hối ở đời này, đời sau và nhiếu kiếp sau nữa, không bao giờ ngưng nghỉ. Con nguyện nương vào oai đức đại từ đại bi của chư Phật, chư Bồ Tát và tất cả hiền thánh chúng mà con có thể làm điều có lợi lạc cho con và cho hết thảy mọi người, mọi loài và cho những ai đau khổ. Cúi xin mười phương chư Phật, chư Bồ Tát chứng minh cho con.
Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật (xướng 3 lần)
Nguyện xong cấm hương lên lư và bắt đầu lạy sám hối, đứng thẳng chấp tay đọc lên những danh hiệu sau đây: Mỗi lần đọc lên 1 hồng danh Phật hoặc Bồ Tát, thì lạy xuống10 lạy thông thả với quán hơi thở đều đặn.
Đệ tử con tên là….. pháp danh…… từ trước đến nay do vì ba nghiệp tham sân si từ thân khẩu ý gây ra hôm nay đệ tử chí thành xin sám hối.
Xướng lên từng danh hiệu.
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Dá Ra Phật (10 lạy).
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Viên Mãn Báo Thân Lô Sá Ra Phật (10 lạy).
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Thiên Bách Ức Hóa Thân Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô A Di Đà Phật (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (10 lạy)
Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đạo Tràng Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát Ma Ha Tát (8 lạy)
Lạy đủ 108 lạy
* Quỳ xuống đọc lời hồi hướng và phát nguyện:
Sám hối phát thanh dịu,
Tạo công đức vô biên,
Đệ tử xin hồi hướng,
Cho chúng sanh mọi miền,
Pháp môn xin nguyện học,
Ân nghĩa xin nguyện đền,
Phiền não xin nguyện đoạn,
Quả phật xin chứng nên.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (xướng 3 lần, lạy 3 lạy)
Đứng lên xá 3 xá bốn hướng rồi lui ra.
Mỗi ngày sám hối một lần, trong vòng ba tháng nhất tâm và liên tục ta sẽ cảm nhận được sự mầu nhiệm của Phật pháp, thân tâm ta được an lành, lợi lạc.
Nếu sức khỏe yếu kém không đủ thì giờ để lạy dủ 108 lạy một lần thì mỗi ngày có thể thực tập 2 lần, mỗi lần có thể lạy 54 lạy thay vì 108 lạy nghĩa là khi niệm một danh hiệu Phật hoặc Bồ Tát ta có thể lạy 5 lạy thay vì lạy 10 lạy nếu tuổi lớn thân thể kiệt sức không đủ sức khỏe để lạy thì ngồi trên ghế chấp tay mà thành tâm mà đọc lời sám hối cũng có tác dụng, pháp sám hối quan trọng là thành tâm ăn năn sửa đổi mọi lỗi lầm, tội từ tâm tạo phải tha thiết đem tâm sám hối, tâm này trong sạch không còn phạm các lỗi lầm trước nữa. Tâm chí thành ăn năn tội cũng sẽ từ đó mà tiêu tan, tội tiêu tan rồi thì tâm thần an lạc, nhẹ nhõm, đó là công năng và lợi ích thiết thực của việc sám hối.
Tội tạo ra vô số từ các kiếp trước,
Một kiếp này nhất quyết trả quả cho xong,
Nếu không tội sẽ sinh lời
Chìm trong biển khổ đời đời khó ra,
Sám hối lòng phải thiết tha,
Sửa tâm bồi đức mới là hiền nhân.
KIM SƠN CÕI TỊNH
Kim sơn cõi tịnh trãi ngồn thân
Núi ngũ chân mây biển đợi chờ
Cổ thụ lên ngôi cung quế nguyệt
Đá kình đạp gió quét trời mơ
Bình minh lộ hiện chim hát ca
Không gian nắng ấm rọi Ta Bà
Thời gian hẹn ước về Vô Trụ
Tĩnh tọa bồ đoàn ta với ta
Cõi tịnh ai đào bảo tịch kiêu
Trăng thanh nhã ngọc dáng yêu kiều
Chuông ngân tĩnh mộng dài muôn kiếp
Đạo vàng gói trọn giọt thương yêu
Gác bỏ trần tâm nhẹ cõi lòng
Nợ đời vay trả trả cho xong
Kim Sơn cõi tịnh vui ngày tháng
Tự tại an nhiên bước ngược dòng.
(Sơn Cư)
* * *
http://www.daibi.vn/2012/05/phuong-p...m-hoi-loi-lam/
https://core.ac.uk › pdfPDF
インド密教における建築儀礼 : Vajravali-nama-mandalopayika ... - CORE
土地の使用を諸仏,諸尊,大地の女神ら にくり. かえし請願 ... (29) 關伽水のマントラとは “om ah hrih pravarasatkaram argham praticcha hum svaha' である。洗足水.
TADYATHA PENTSANDRIYA AWA BODHANI SOHA
TADYATHA: OM VAJRA DRIYA AWA BODHANIYE SVAHA.
=======
TADYATHA: OM VAJRENDRIYA AVABODHANAYE SVAHA
_
http://www.bodhimarga.org › ...PDF
Kết quả tìm kiếm trên web
Prayer Book - Bodhimarga
SAMPA LHUNGYI DRUBPAR JINGYI LOB. Guru Rinpoche, Buddha of the three times, ... PALDEN TSA WAI LAMA RINPOCHE. DAK GI NYING KAR PE ME TENG .
THIÊN TRÙ THẦN CHÚ
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ge20&styleid=4
Thiên Trù
(天厨): Bếp Trời. Từ này có nhiều nghĩa khác nhau.
(1) Tên gọi của một vì sao, như trong phần Thiên Văn Chí Thượng (天文志上) của Tấn Thư (晉書) có câu: “Tử Vi thản, đông bắc duy ngoại lục tinh viết Thiên Trù, chủ thịnh soạn (紫微垣、東北維外六星曰天廚、主盛 , trong khu vực sao Tử Vi, sáu ngôi sao ngoài phương đông bắc gọi là Thiên Trù, chủ quản về cỗ ăn uống).”
(2) Nhà Bếp của Thiên Đình, như trong bài thơ Đề Tuyên Luật Sư Họa Tượng (題宣律師畫像) của Lục Du (陸游, 1125-1210) nhà Tống có câu: “Bình sanh nhất ngõa bát, hà xứ hữu Thiên Trù (平生一瓦缽、何處有天廚, bình sanh một bình bát, nơi đâu có Bếp Trời).” Hay trong bài Mai Hoa Am Đồng Lâm Nhã Phủ Thoại Vũ Liên Cú (梅花庵同林若撫話雨聯句) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1672) nhà Thanh lại có câu: “Tiên lạc Thanh Thương thái, Thiên Trù pháp tửu triêm (仙樂清商奏、天廚法酒霑, tiên vui Thanh Thương rộn, Bếp Trời rượu thấm ngon).”
(3) Nhà Bếp của Hoàng Đế, như trong bài Nguyên Hựu Bát Niên Sanh Nhật Tạ Biểu (元祐八年生日謝表) của Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có đoạn: “Lão phùng đản nhật, khấp dưỡng thân chi vô tùng, tứ xuất Thiên Trù, quý quân tư chi mạc báo (老逢誕日、泣養親之無從、賜出天廚 愧君恩之莫報, già gặp ngày sinh nhật, khóc xót nuôi song thân không được toại nguyện, nhận ân sủng Nhà Bếp triều đình, thẹn ơn nhà vua chưa báo đáp).”
Trong Phật Giáo, có những câu chuyện của các vị thần tăng đã từng được trời cúng dường cho thức ăn như trong Ngọc Thanh Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh (玉清無極總眞文昌大洞仙經) quyển 6 của Đạo Giáo có đoạn rằng: “Tích hữu tăng tọa Thiền, văn Hương Tích chi khí, tâm niệm viết tất thị trai cúng, hoặc kiến thiên tiên lai thỉnh phó Thiên Trù cúng, tăng ư định trung tiện khứ, nhật mỗi như thị; hoặc nhật minh, nhãn sư kiến chi, vị viết: 'Nhữ đọa nhất xí trung hỉ'. Tăng bất tín, toại linh tái phó cúng, hồi, sư thủ xí trung nhất trùng sát chi, tăng phương ngộ (昔有僧坐禪、聞香積之炁、心念曰必 齋供、或見天仙來請赴天厨供、僧於 定中便去、日每如是、或日明、眼師 之、謂曰汝墮一廁中矣、僧不信、遂 再赴供、回、師取廁中一蟲殺之、僧 方悟, xưa kia có vị tăng đang ngồi Thiền, chợt nghe mùi thơm xứ Hương Tích, tâm niệm cho rằng đó là đồ chay cúng dường, hoặc có khi thấy tiên trên trời đến mời dự cúng dường trên Thiên Trù, vị ấy trong định mà đi; mỗi ngày đều như vậy; có hôm nọ lúc trời sáng, thầy ông thấy vậy, bảo rằng: 'Ngươi đọa vào trong nhà xí rồi !' Vị tăng chẳng tin, lại tiếp tục đi tham dự lễ cúng dường; đến khi trở về, thầy ông lấy trong nhà xí ra một con trùng và giết đi; khi ấy vị tăng mới tỉnh ngộ).” Hay như trong Thần Tăng Truyện (神僧傳, Taishō No. 2064) quyển 6, truyện Khuy Cơ (窺基) có đoạn kể rằng: “Sơ Nam Sơn Tuyên Luật Sư, dĩ hoằng luật danh chấn Ngũ Đại, cảm thiên trù cúng soạn; Cơ thường phỏng Tuyên, kỳ nhật quá ngọ nhi thiên soạn bất chí, cập Cơ từ khứ Thiên Thần nãi giáng, Tuyên trách dĩ hậu thời, Thiên viết: 'Thích kiến Đại Thừa Bồ Tát tại thử dực vệ nghiêm thậm, cố vô tự nhi nhập.' Tuyên văn chi đại kinh (初南山宣律師、以弘律名震五天、感 廚供饌、基嘗訪宣、其日過午而天饌 不至、及基辭去天神乃降、宣責以後 、天曰、適見大乘菩薩在此翊衛嚴甚 故無自而入、宣聞之大驚, lúc ban đầu Nam Sơn Đạo Tuyên Luật Sư truyền bá Luật Tông danh thanh vang khắp mọi nơi, cảm động khiến cho trời dâng cúng thức ăn; Khuy Cơ thường đến thăm Đạo Tuyên, có hôm nọ đến quá ngọ mà cơm trời vẫn chưa đến, khi Khuy Cơ chuẩn bị ra về thì Thiên Thần giáng xuống; Đạo Tuyên phiền trách vì sao đến trễ; Thiên Thần thưa rằng: 'Tôi thấy có các vị Bồ Tát Đại Thừa canh giữ nơi đây rất nghiêm mật, nên không tự tiện vào.' Đạo Tuyên nghe vậy rất kinh sợ).” Trong Thiền môn có các bài tán về Thiên Trù Cúng như “Thiên Trù cúng, Thuần Đà tối hậu lai, cơ xan ma mạch sung bì đại, tiên nhân hựu hiến trai thực tại, song song mục nữ hiến hương mi, Tứ Thiên Vương bổng bát, diêu vọng Linh Sơn bái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (天厨供、淳陀最後來、飢飡麻麥充皮 、仙人又献齋食在、雙雙牧女献香糜 、四天王捧鉢、遙望靈山拜、南無香 養菩薩, món trời cúng, Thuần Đà đến cuối cùng, đói khát mè thóc cũng no đủ, tiên nhân lại dâng thức chay đến, hai hàng mục nữ cúng cháo thơm, Tứ Thiên Vương nâng bát, xa hướng Linh Sơn vái. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát)”; hay “Thiền duyệt Tô Đà, tạo xuất Thiên Trù cúng, thành đạo đương sơ, mục nữ tiền lai tống Lão Mẫu, phó thác tại kim bàn, phụng hiến thượng Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát (禪悅酥酡、造出天厨供、成道當初、 女前來送老母、付托在金盤、奉献上 如來、賢聖無邊眾。南無禪悅藏菩薩, Thiền vui Tô Đà, tạo nên món trời cúng, thành đạo ban sơ, mục nữ đến trước dâng Lão Mẫu, phó thác tại bàn vàng, dâng cúng lên Như Lai, hiền thánh vô biên chúng. Nam Mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát)”, v.v. Từ đó, chúng ta thấy rằng Thiên Trù Cúng còn có nghĩa là món thức ăn trân quý do trời cúng, hay món thức ăn cao quý đem dâng cúng cho các bậc cao tăng, thạc đức.
http://phatam.org/dictionary/detail/...ru/5?key=trừ
====
Thiên Trù
Thiên trù cúng,
Tô đà tối hậu lai.
Cơ xang ma mạch sung bì đại,
Tiên nhơn hữu hiến trai thực thoại.
Song song mục nữ hiến huơng mê,
Tứ Thiên Vương phụng (bổng) bát.
Diêu Vọng Linh Sơn bái,
Tứ Thiên Vương phụng bát
Diêu Vọng Linh Sơn bái.
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Ngã Kim
Ngã kim phụng hiến cam lồ vị,
Lưỡng đẳng Tu Di vô quá thượng.
Sắc hương mỹ vị biến hư không
Duy nguyện từ bi ai nạp thọ.
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Thuyền Duyệt
Thuyền duyệt tô đà,
Tạo xuất thiên trù cúng
Thành đạo đương sơ
Mục nữ tiền lai tống
Lão mẫu tặng tương
Thác tại kim bàng phụng
Hiến thướng Như Lai
Hiền Thánh vô biên chúng
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát.
Thiên Trù Năng Trừ
Thiên trù năng trừ cơ
Thiên trù tứ vị tu
Bát cái thế gian chuyển
Minh chiếu quang thược thước
Thiên nữ hiến thiên y
Phổ cúng dường Như Lai tọa
Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ Tát.
https://www.khuongviettu.com/tuyen-t...-bai-tan-tung/
====
TÁN CÚNG NGỌ
THIÊN TRÙ DIỆU CÚNG.
THIỀN DUYỆT TÔ ĐÀ.
HỘ ÁN TÔ RÔ TÁT LỊ PHẠ
ĐÁT THA A NGA ĐA
ĐÁT ĐỂ DẢ THA.
TÔ LÔ TÁT PHẠ HA
NAM MÔ THIỀN DUYỆT TẠNG
BỒ TÁT MA HA TÁT!
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT!
http://www.pagodethienminh.fr/?page_id=1028
TIN KÍNH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT - HAI CHÂN HẾT BẠI LIỆT
Tiên sinh Kim Chí Kiên giữ chức trưởng phòng giáo vụ của trường cao đẳng Hạp Bắc Kiến Quốc thành phố Thượng Hải, là chuyên gia về ngành khoa học xã hội.
Do lúc nhỏ ăn chơi trác táng, cho nên bị bệnh bại liệt, hai chân không thể đi được. Khi lên lớp, cũng như làm bất cứ việc gì đều có người dìu đỡ.
Sau khi bị bệnh 4 năm, gia đình đưa ông vào bệnh viện Đức Nhật chữa trị, nhưng đều vô hiệu.
Năm 1935 thầy giáo của ông là Tra Mãnh Tể đến Thượng Hải, thầy cùng ở chung phòng với ông.
Thầy giáo Tra là Phật tử thuần thành, có tín tâm thanh tịnh đối với Tam Bảo, ông cũng phát nguyện ăn chay trường, cho nên đi đâu cũng mang tượng Phật đi theo, lần này đến Thượng Hải đương nhiên cũng mang theo, ông chọn một nơi cao ráo, thoáng mát trong phòng để an vị tượng Phật, ông thường đem những lời Phật dạy khuyên người học trò cũ.
Kim tiên sinh bình thường rất dị ứng với Phật pháp, nhưng trước tình nghĩa thầy trò thâm sâu ông không thể cự tuyệt, chính là mưa dầm thấm đất, Kim tiên sinh dần dần thâm nhập được những lời khuyên của thầy, ông bắt đầu ăn chay, trì giới.
Thầy giáo Tra rất quan tâm đến bệnh tình của người học trò cũ, thường an ủi, khuyên nhủ, động viên, khuyến khích, đặc biệt ông tặng cho người học trò cũ một thánh tượng đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, còn khuyên tiên sinh hãy thường xuyên lễ bái, cúng dường.
Sau đó, ông giảng kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức cho tiên sinh nghe, nghe xong ông phát khởi tín tâm thanh tịnh đối với Tam Bảo và dốc sức thực hành theo lời thầy giáo.
Nửa đêm ngày 23 tháng 04 năm đó tiên sinh mộng thấy đức Phật Dược Sư, hào quang chiếu sáng khắp thân, trang nghiêm đẹp đẽ lạ thường, khắp thế gian không ai có thể so sánh được, tiên sinh đang tán thán, thưa chuyện thì Ngài biến mất, tiên sinh cảm giác toàn thân khoan khoái nhẹ nhàng.
Khi thức dậy, ông không còn tin vào mắt mình nữa, không ngờ mới tối hôm qua vẫn còn là một phế nhân mà sáng ra đã có thể đi lại được, do đó ông liền phát nguyện suốt đời tin thờ Phật pháp.
Khi mọi người biết chuyện như vậy, thì không ai là không khen ngợi Phật lực không thể nghĩ bàn...
(Trích "Nhân Quả Báo Ứng, Những Điều Mắt Thấy Tai Nghe")
Cư sĩ Tịnh Tùng
NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT__()__
Kim Cang Thần Chú! (SươngManThien):
ÚM XỈ LÂM , ÚM BỘ LÂM , CHÚNG PHẬT HIỆN THÂN GIÀ LA THẦN , HỘ LA THẦN NIỆM VI TRẦN. DIỆC HỬU THẢO THẦN ĐÀ LA VU , DIỆC HỬU QUỶ THẦN ĐÀ LA NI.CHƯ ÁC QUỈ THẦN BÁNG BẤT ĐẮC , PHỤNG THANH THẬP ĐỊA KIM CANG DIỆT.NAM MÔ ĐỘNG ĐỊA KIM CANG NAM MÔ XUẤT SƠN TẨU THỦY KIM CANGNAM MÔ THIÊN GIÁNG TỨ HẢI KIM CANGNAM MÔ PHỤ MẨU KIM CANGHỬU NHÂN NIỆM ĐẮC KIM CANG CHÚ , MIỂN LIỂU THÂN TAI CHƯỚNG , THIÊN QUANG ĐỊA QUANG , THIỆN NAM TỬ THIỆN NỬ NHÂN , MỔi NHẬT CHÍ TÂM NIỆM NHẤT QUYỂN NHƯ TRUYỀN KIM CANG KINH TAM THẬP VẠN BIẾN , HỰU ĐẮC THẦN TẮC GIA HỘ. CHÚNG THÂN` TRÌ CUNG TRÍ TUỆ THÔNG THIÊN ĐỊA. HỬU NHÂN THƯ TẢ NHẤT BẢN , DỬ NHÂN LƯU TRUYỀN CÔNG ĐỨC CAO NHƯ TU DI SƠN , THÂM NHƯ ĐẠI HẢI . VÔ LƯỢNG CÔNG ĐỨC ,VỈNH TIẾN BẤT ĐẠP ĐỊA NGỤC MÔN. XỨ XỨ NĂNG THÍNH ĐẠI MA DA SA BÀ HA. (3 LẦN) ÚM MÔ LUÂN NI SA BÀ HA (108 LẦN)
KIM CANG THẦN CHÚ này trì tụng mổI ngày có chư thần, hộ pháp long thần theo bảo hộ người tụng trừ tất cả mọi tai họa ở đời, nhất là những kẻ dùng tà thuật, thư trù ếm đôí nguyền rủa mình v.v.....! kẻ đó sẻ bị phép trả ngược lại hoặc mất pháp không còn hại ai được nửa .ngoài ra cầu nguyện thường thì hiệp gia bình an, vạn sự an khương
http://www.0ngtho.xtgem.com/index.ht...c8wkln5y7.html
The Kṣitigarbha Bodhisattva Pūrvapraṇidhāna Sūtra (Sanskrit: क्षितिगर्भ बोधिसत्त्व पूर्वप्रणिधान सूत्र; Chinese: 地藏菩薩本願經) or Kṣitigarbhasūtra
https://en.m.wikipedia.org/wiki/Kṣit...idhāna_Sūtra
THẦN DƯỢC CỦA ĐỊA TẠNG BỒ TÁT: DIỆT ĐỊNH NGHIỆP ĐÀ RA NI
29 Tháng Tư, 2019
CHUYỆN LINH ỨNG CỦA TÔI.
(Thiện Như)
Khi bị bệnh mà đông tây y trả về, không trị được, chỉ còn cách ngồi chịu đựng đau đớn hoặc chờ chết, thì tại sao bạn không thử phương pháp cuối cùng, đó là tìm đến PHẬT PHÁP. Có rất nhiều trường hợp đã khỏi bệnh nhờ phương pháp này, và tôi là một minh chứng.
Khoảng đầu năm 2017 tôi (Thiện Như) bắt đầu công việc làm bếp cho một nhà hàng Hàn Quốc chuyên hải sản và các món nướng tại TP.Vũng Tàu.
Có lẽ vì công việc liên quan đến tôm, cua, cá, mực, thịt bò, heo .v.v.. nhiều nên dần dần tay của tôi bắt đầu lở loét, rồi bật máu, lột cả da tay, vô cùng đau rát, khó chịu.
Tôi đi khám bệnh viện và bác sĩ đã kết luận tôi bị bệnh “TRÀM KHÔ” chỉ cần bôi và uống thuốc một thời gian sẽ ổn.
Nhưng thật kì lạ! Mặc dù đã uống đủ, bôi đủ các loại thuốc mà căn bệnh này vẫn không thuyên giảm chút nào, cứ đêm đến tôi không ngủ được vì hai bàn tay của mình, nó ngứa hơn bình thường rất nhiều.
Thế là tôi ra sức gãi cho đã ngứa, cứ tay nọ gãi cho tay kia mà không hết, và tôi dùng hai tay của mình cứ thế trà sát vào nhau không ngừng… đến nỗi những vết đã bị nứt ở lòng bàn tay và đầu ngón tay bật máu nhưng vẫn không hết ngứa.
Chẳng đêm nào tôi được ngủ ngon giấc, tình trạng trên cứ lặp đi lặp lại và tôi chỉ biết nằm khóc… Thuốc uống và thuốc bôi của bệnh viện tôi đều ngưng hết vì quá chán nản (uống mãi, bôi mãi mà không có dấu hiệu thuyên giảm)
Có người chỉ tôi cách lấy quả chanh cắt ra, rồi chà sát lên chỗ bị ngứa (vì chanh có axit sẽ diệt được vi khuẩn, nấm gây bệnh, người đó đã làm như vậy và cũng khỏi) Tôi cũng làm theo nhiều lần nhưng không kết quả, và nói thật với mọi người rằng cái cảm giác khi đưa miếng chanh chà lên bàn tay đang bị ngứa, bị nứt chảy máu ấy thật sự muốn chết đi cho rồi…
Tôi liên tưởng ngay đến những chúng sanh bị tôi giết hại, băm chặt ra rồi dùng gia vị ướp chúng… Chắc lúc ấy chúng cũng đau xót như cảm giác hiện tại tôi đang chịu (tôi biết mình đang bị quả báo). Lúc này tôi vô cùng hối hận vì công việc của mình đã làm.
Dần dần trờ nên rất đau nhức, xuất hiện các vết nứt, thậm chí bật máu, lột cả da tay. ( Ảnh minh họa )
Sau một thời gian chạy chữa không kết quả, tôi ôm hai bàn tay khóc lóc hằng đêm, chịu đựng đau đớn và tuyệt vọng…
Và rồi chư Phật – Bồ Tát đã gia hộ cho tôi, may mắn tôi được Admin của nhanqua.com.vn hướng dẫn cách sám hối oan gia trái chủ và niệm Phật, đặc biệt là tụng chú Diệt Định Nghiệp Đà Ra Ni: “ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA”
Rồi hồi hướng tất cả công công đức cho các oan gia trái chủ gây nên bệnh ở tay của tôi (những con vật đã bị tôi hại ).
Tôi thực hành theo không ngơi nghỉ với niềm tin sâu chắc, khoảng vài tuần sau khi tôi bắt đầu tụng chú Diệt Định Nghiệp, thật bất ngờ tay của tôi có dấu hiệu lành bệnh: các vết nứt bắt đầu khép lại, máu không còn gỉ ra, da tay đã bớt lột, và da non bắt đầu hình thành…
Tôi vui mừng khôn xiết, lại cứ thế sám hối, niệm Phật kể cả lúc đang làm việc, đang đi đường, thậm chí nấu ăn tôi cũng niệm Phật luôn… cứ như vậy bệnh TRÀM KHÔ của tôi đã hoàn toàn khỏi tới tận bây giờ !!!
Sau sự việc này, tôi đã xin nghỉ việc mặc dù lúc đó cuộc sống rất khó khăn, nếu nghỉ việc trong thời gian chờ xin việc mới mọi chi phí trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng… Nhưng không lâu sau tôi đã tìm được công việc khác, bớt vất vả hơn, lương ổn định, đặc biệt là rất lợi lạc cho mọi người.
Tôi nghĩ:
” Có lẽ Phật – Bồ Tát đã che chở cho tôi, vì trong lúc bị bệnh tôi đã ngộ ra tội lỗi của mình, thành tâm ăn năn sám hối, tin tưởng tuyệt đối không chút nghi ngờ vào Phật pháp mà tụng chú, niệm Phật không ngơi nghỉ rồi hồi hướng cho oan gia để chuộc tội… Còn nữa, tôi đã dứt khoát chấm dứt công việc sát sinh đó mặc dù biết sẽ có nhiều khó khăn sắp tới.”
Nếu như ai rơi vào trường hợp giống như tôi, khi mà thuốc thang không còn hiệu quả gì. Hãy thử làm như tôi, bạn sẽ thấy được hiệu lực phi thường của PHẬT PHÁP, và câu thần chú của Địa Tạng Vương Bồ Tát : “ÔM PRA MA NI ĐA NI XOA HA”
https://www.nhanqua.com.vn/than-duoc...hiep-da-ra-ni/
A. Thần Chú Duyên Sinh hay Tâm yếu duyên khởi (The Heart of
Dependent Arising)
OM YÊ DHARMA HÊTU-PRABHAWA HÊTUN TESHAN
TATHAGATÔ HYA VAĐAT / TESHAN TSA YÔ NIRÔĐHA /
EHWAM-VADI / MAHA-SRAMANAH YÊ SVAHA (7 biến)
B. Kim Cang Tự Quyết
1. Các nguyên âm tiếng Phạn (Sanskrit vowels):
OM A AA I II U UU RI RII LI LII E AI O AU ANG AH SVAHA (x3)
2. Các phụ âm tiếng Phạn (Sanskrit consonants):
OM KA KHA GA GHA NGA / TSA TSHA DZA DZAHA NYA / TrA
ThrA DrA DraHA NrA / TA THA DA DAHA NA / PA PHA BA
BAHA MA / YA RA LA WA / SA SHA KA HA KSHA SVAHA (3 biến)
B. Kim Cang Tự Quyết:
1. Các nguyên âm tiếng Phạn (Sanskrit vowels):
OM A AA I II U UU RI RII LI LII E AI O AU ANG AH SVAHA (x3)
ÔM, AÀ, IÌ, UÙ, RIRÌ, LILÌ, ÊỀ, ÔỒ, ĂM À, SOA HA ( 3 lần )
2. Các phụ âm tiếng Phạn (Sanskrit consonants):
OM KA KHA GA GHA NGA / TSA TSHA DZA DZAHA NYA / TrA
ThrA DrA DraHA NrA / TA THA DA DAHA NA / PA PHA BA
BAHA MA / YA RA LA WA / SA SHA KA HA KSHA SVAHA (3 biến)
ÔM, CAKHA GAGÀ NGA, CHACHÁ GIAGIÀ NHA, TRATRÁ ĐAĐÀNA, TATHÁ ĐAĐÀNA, PAPHÁ BABÀMA, GIARALAVA.........
BẠCH-Y THẦN-CHÚ
ĐÁC CHỈ ĐÁ, ÁN DÀ LIỆP PHẠT ĐÁ, DÀ LIỆP PHẠT ĐÁ, DÀ HA PHẠT ĐÁ, LIỆP DÀ PHẠT ĐÁ, LIỆP DÀ PHẠT ĐÁ TÁ HA. Thiên-La Thần, Địa-La Thần、Nhân ly-Nạn, Nạn ly-Thân、Nhất-thiết tai-ương hóa vi-trần; MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...-kiến/page8
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...Mẫu-Bản-01
TỊNH XÁ LIÊN HOA
Thiền Sư An Lạc Hạnh| Thần Chú ngừa"dịch bệnh"-Phật chú ngừa gió độc
https://youtu.be/R2c_a10LRHo