Printable View
KINH ĐỊA MẪU
( HÁN NÔM )
地母真經 • Địa mẫu chân kinh
R.3965 • NLVNPF-0152
http://lib.nomfoundation.org/collect...ume/197/page/1
Nhấn vào trang bên trái và phải để lùi hoặc tiến.
Hoặc nhấn vào thanh tiến trình để nhảy sang nơi khác.
===
http://hannom.nlv.gov.vn/hannom/cgi-...N%7CtxME------
http://s2.upanh123.com/2017/02/16/taixung35415.jpg
ĐỊA MẪU CHƠN KINH GIẢNG NGHĨA
( 地母真经經 講義 )
http://123doc.org/document/1569562-d...-chon-kinh.htm
Lễ hội “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” của đạo Mẫu
http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Le-...11/8132.vnplus
MỘT SỐ THÔNG TIN QUAN TRỌNG BỔ SUNG CHO AI ĐÓ CHƯA RÕ MỘT SỐ QUY ĐỊNH LẬP ĐÀN KỈNH MẪU
-Vừa rồi đệ có dịp đi tới Đình Ứng Thiên ( Còn có tên gọi là Chùa Láng ) nằm trên đường Láng Hạ Hà nội. Nơi đó được hiểu là nơi thờ vọng tại thành Thăng Long ngày xưa. Lý do Đền Tiên Kiều nơi thờ Phật Địa Mẫu nay thuộc Thôn Tam Sơn, Xã Xuân Sơn, Thị xã Sơn Tây( ngoại thành Hà nội) khá xa nên Vua Chúa các đời đã tới Đình Ứng Thiên cầu Mẫu giáng linh chỉ dạy các điều cần thiết cho việc trị quốc bình thiên hạ.
- Tại nơi đó ngày nay người ta tổ chức đọc Kinh Địa Mẫu khá đông người về dự vào các ngày mậu trong tháng, một tháng có 3 ngày mậu.
Việc đọc kinh khá quy mô, có tới vài trăm người dự, đa số là phụ nữ, số ít là nam giới và nam thanh niên.
- Lễ vật dâng lên tùy tâm, hương hoa, trái cây, đúng giờ đọc Kinh theo hướng dẫn của một vị nữ.
- Đệ tử thấy có khác với ở miền nam là ngày 8, 18, 28 AL hàng tháng lập đàn Kỉnh Mẫu, đọc kinh Địa Mẫu.
- Với thắc mắc này đệ đã lên Đền Tiên Kiều tuần đầu tháng Bảy năm Tân Mão vừa qua. Với thắc mắc đó đệ Kính thỉnh Mẫu linh giáng qua đồng tử về dạy bảo sao cho đúng.
Quả nhiên Mẫu đã cho biết:
Ngày 18 là ngày chính đản, 2 ngày phụ là 8 và 28 các Phật tử lập đàn Kỉnh Mẫu và đọc Kinh Địa Mẫu. Các ngày mậu trong tháng chỉ đọc Kinh Địa Mẫu không phải lập đàn theo quy định. Như vậy các Phật tử trong nam thường hay tụng kinh, lập đàn vào ngày 8,18,28 nay thêm 3 ngày mậu đọc kinh mới đủ. Còn các Phật tử ngoài bắc phải bổ sung 3 ngày 8,18,28 lập đàn theo quy định trên và đọc kinh Địa Mẫu cũng mới đủ.
- Lễ vật trong đàn gồm có:
+ 1 đĩa trái cây ngũ quả ( 5 loại quả) số lượng loại to 5 quả, loại nhỏ thì ngoài quy định 5 thứ quả còn số lượng bày theo số sinh như 5,9,13,...không dùng số 7.
+ Bông hoa tươi đẹp không quy định loại và số bông.
TRƯỚC KHI DÂNG CÚNG PHẢI RỬA LẠI BẰNG NƯỚC SẠCH HOA TRÁI, KHÔNG NÊN NGHĨ LÀ CÁC THỨ MUA Ở CHỢ VỀ LÀ SẠCH.
+ 1 đĩa trầu cau:1,3,5,9,13,...tùy hoàn cảnh, số là trầu bằng số quả cau. Không có vôi, thuốc, không dùng trầu đã têm.
+ Đèn cầy ( nến ) 6 cây.
+ Nước lọc chưa đun sôi 6 cốc
+ Trà khô 6 cốc đầy( không dùng nước trà)
+ Cơm trắng không để đũa, muổng: 6 bát
+ Lấy cốc chứa gạo làm bát nhang: Nhang 5 cây, trầm 1 viên, lấy chân hương cắm vào lỗ dưới viên trầm.
ĐÚNG 12 GIỜ BẮT ĐẦU CÚNG.
Hiểu ý là: Ngọc thực - Cơm dâng Mẫu để Mẫu chứng cho phép, ban cho cơm ăn áo mặc, cuộc sống no đủ. Bát cơm này được ăn thì rất tốt.
Nước, trà, trái cây, hoa, trầu cau được dâng lên Mẫu và được Mẫu ban cho năng lượng siêu linh của Mẫu ta có thể ăn uống như linh dược. Gạo trong cốc làm bát nhang nấu cơm ăn rất tốt vì có năng lượng truyền lưu trong gạo do Mẫu ban cho. Trà khô sau dâng Mẫu chứng uống hết ngay hay dùng dần rất tốt. Cau trầu ăn trầu như bình thường hoặc làm thuốc rất tốt. Nước cam lồ Mẫu ban nên uống...
Một số vị nhiều năm phụng sự nơi cửa Mẫu do chỉ nghĩ Mẫu chứng tâm là được không chú ý tới lễ vật thực là dâng Mẫu chính là phép để nhận Mẫu ban cho chúng sinh là Phật tử như chúng ta phúc lành thông qua phép tắc ấy. Khi nghe thông tin này đã thay đổi nhận thức và sẽ làm lễ dâng cúng vật thực theo nghi thức nói trên.
Phật tử cũng nhiều năm theo phép cúng trong Kinh nhưng chưa hiểu hết lời lẽ trong Kinh.
Ví như câu: "Tay dâng bát ngọc trà hương" thì phải hiểu ngọc đây là cơm, trà là trà, hương là hương chứ không phải bát bằng ngọc.
Trong Kinh không thấy nói đến trầu cau nhưng khi Mẫu giáng linh cho biết Trầu cau dâng Mẫu để nhận phép hòa thuận, hạnh phúc, biết trở về cội nguồn của chinh mình.
Tất cả vật thực nói trên đã được nêu trong Kinh Địa Mẫu và Mẫu linh giáng qua đồng tử mới đây.
Việc nghi thức có thay đổi so với Kinh không có nghĩa là Kinh sai mà là Kinh bằng thơ không thể diễn tả như văn nói. Còn người thỉnh Mẫu dạy chi tiết phải qua thực tế mới rõ ý và biết cách hỏi thêm cho rõ. Phật tử cũng phải nhiều năm thực hành và hầu Mẫu nhiều lần mới biết cách hỏi cho rõ. Cũng như có về Đình Ứng Thiên, có ở miền Nam mới có câu hỏi như trình bày trên.
Vậy trân trọng giới thiệu để các Quý Phật tử được biết và hoan hỷ phụng hành.
Ngày 18 tháng 7 vừa qua là ngày Chính đản Mẫu vương tổ chức tiệc chính tại chốn tổ Tiên Kiều. Còn ngày 18 tháng 10 là Mẫu truyền Kinh tại Trung quốc.
Tiên Kiều là chốn Trung ương của Quang Minh Tu Đức. Nơi Mẫu chọn làm chốn Tổ.
Ai tu theo Đạo Mẫu - Quang Minh Tu Đức nên phải về nơi đó mà trình diện thì tốt biết mấy
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...A%A3n-01/page2
================
Mấy năm trước tôi cũng tụng Địa Mẫu chân Kinh vào các ngày Mậu hàng tháng
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%E1%BA%A3n-01
KINH ĐỊA MẪU - BẢN SỐ 04
ĐỊA MẪU MINH TÂM CHÂN KINH
PHẬT ĐỊA MẪU PHI LOAN TRUYỀN KINH
“ Xe loan giá hạc giáng thiện đàn
Khen người thiện sỹ có nhân duyên
In kinh Địa Mẫu ngàn vạn quyển
Làm ruộng mùa màng trúng liên miên
Trời thanh dân thuận vui biết mấy
Đất tịnh nước hòa sướng bấy nhiêu
Ai muốn trong nhà thêm phúc hậu
Tụng kinh Địa Mẫu thọ dài lâu”
18 tháng 10
Ngày Vía Giáng sinh của Phật Địa Mẫu Hoàng – Đúng Ngọ ( 12 giờ trưa ) không được đổi dời qua giờ ngày khác. Đến ngày đó các con hãy lập đàn tràng, dâng hoa quả cho tinh khiết nghiêm chỉnh mà cúng.
Ngày ấy nhà nào trì niệm kinh “ Minh Tâm Địa Mẫu” này cả thảy mới là con nhà hiếu nghĩa. Người phương hướng nào thường trì kinh Địa Mẫu này thì có lo chi mùa màng không bội thu liên miên.
Lễ vật cúng Mẫu có 5 cây hương thơm, 6 ngọn nến, 6 chén nước lọc trong sạch, 3 đĩa hoa và quả trà khác là đủ.
Một tháng có 3 ngày Mậu mà thôi là mùng 8, 18, 28 – các con hãy thành tâm trì tụng kinh này – Cúng Vía Mẫu kỵ - Mẫu sẽ ban cho hạnh phúc.
Trì tụng “Minh Tâm Địa Mẫu” công đức phúc thọ vô lượng – vô biên.
Kinh này dùng để: Cầu an, cầu siêu, an trạch nhà mới … đều linh ứng nhiệm mầu.
Kinh này giáng bút tại Xóm Chài, ven Sông Cái , Bắc Hà ( thuộc Hà Nội ngày nay )
-------------------------------------------------------
Phẩm thứ nhất
ĐẠI HỘI LONG HOA
Ta nghe như vầy: Trong Đại Hội Long Hoa trên Thiên Đình ở tầng trời thứ 36 – Lúc ấy Đại Đức Phật Di Lạc Vương Phật ngồi trên đài thanh tĩnh cùng với vô lượng các vị Bồ Tát – Ma- Ha – Tát, Thinh Văn, Thiên Long, Bát Bộ vây xung quanh mà Ngài thuyết pháp.
Lúc ấy Đại Đức Đồng Bi Tôn Phật từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay cung kính bạch Phật:
- Bạch Đại Đức Thế Tôn Di Lạc Vương Phật: Nay thời hạ nguyên mạt pháp – mạt kiếp, con người ở trần gian quá tham mê vật chất, tiền bạc, làm mờ ám hết lương tâm, chạy đua theo vọng tưởng huyền ảo mà gây nên biết bao nghiệp chướng cao như núi, sâu rộng như biển, dài như sông…Họ phải trải qua bao quả báo thật thảm thương. Do lòng tham không đáy họ gây ra biết bao tội ác – làm uế khí ngập trời…Nên họ phải chịu biết bao cảnh “tam tai, tám nạn” rất đáng thương. Nào nắng hạn lửa cháy, mưa ra đá, mưa ra a xít. Nào động đất, núi lửa, bão lụt triền miên. Nào chiến tranh tàn khốc – nồi da nấu thịt. Nào sâu bệnh, cào rầy, …mất mùa đói rét khốn khổ. Nào bệnh tật ốm đau hành hạ thể xác lẫn tinh thần…Đã thế tử thần lại luôn rình rập tới bắt đi cái mạng sống vô giá ngắn ngủi của họ…
Tình thế ngày nay con người ở thế gian thật là đáng thương hại và mỏng manh như ngàn cân treo sợi tóc …Vì vậy tôi có “ Minh Tâm Địa Mẫu Chân Kinh” của Phật Địa Mẫu truyền cho từ đời quá khứ. Nay cần muốn nói cho tất cả chúng sinh để diệt trừ ba tai” Thủy – Hỏa – Phong”, chiến tranh, côn trùng sâu bọ hại. Diệt trừ tám vạn bốn ngàn thứ bệnh khổ ở thế gian. Giải phóng cho quần sinh khỏi ba đường dữ: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh.
Xây dựng một thế giới Cực lạc trên trái đất cho toàn thể thế giới quy về một mối. Đạo Phật của Đức Phật Địa Mẫu Hoàng. Nếu ai có công trì tụng kinh này đủ một nghìn biến hoặc biên chép, hay quyên góp in cúng ra một nghìn quyển cho mọi người nhật tụng thì công đức Phúc – Lộc – Thọ vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, mọi sự mong cầu đều được như ý – cầu của có của – cầu con có con – cầu khỏi bệnh tật được khỏi bệnh tật – cầu giải thoát được giải thoát.
- Bạch Đại Đức Thế Tôn: Nếu “ Địa Mẫu Minh Tâm Chân Kinh” này không trừ hết tất cả bệnh khổ trên thế gian, mang lại sự an vui cho tất cả chúng sinh – Tôi không thành Chánh Đẳng – Chánh Giác, cúi xin Đại Đức Thế Tôn từ bi thính hứa.
Vương Phật Di Lạc hoan hỉ dạy rằng: Thiện nam tử, lòng đại từ – đại bi của người thật là rộng lớn vì muốn an vui cho tất cả chúng sinh mà khéo nói “ Địa Mẫu Minh Tâm Chân Kinh “ nay thật phải thời, ngươi hãy nói đi – không những Như Lai hoan hỉ mà tất cả các Đại Đức Phật mười phương cũng vui mừng và hết lòng ủng hộ. Đức Đồng Bi Tôn Phật vâng lệnh Vương Phật Di Lạc liền đối trước chúng hội – Chắp tay đứng thẳng – khởi lòng vui cười thuyết pháp “ Địa Mẫu Minh Tâm Chân Kinh “ thu tất cả Kinh Trời – Nghĩa Đất – Tổng hợp tinh hoa của 8400 quyển kinh của thập phương chư Phật về Vũ Trụ.
Lúc ấy Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từ chỗ đứng dậy sửa áo chỉnh tề chắp tay cung kính: Bạch Đức Đồng Bi Tôn Phật “ Quý hóa thay thượng sĩ! Tôi từ xưa đến nay, trải qua không lường pháp hội của Phật nghe nhiều môn pháp môn Đà la ni mà chưa từng được nghe Ngài nói về pháp môn thần diệu “ Địa mẫu Minh Tâm Chân Kinh “. Cúi xin thượng sĩ vì tôi mà nói rõ tất cả các tên của pháp môn ấy. Tôi và tất cả đại chúng dậy đều mong muốn được nghe và thọ trì.
Đức Đồng Bi Tôn Phật nói: Kinh này có nhiều danh hiệu
1) Thất Bảo Chân Kinh
2) Bát Bộ Kim Cương Kinh
3) Cứu Khổ Cứu Nạn Địa Mẫu Kinh
4) Tổng Trì Đà La Ni Vũ Trụ Kinh
5) Long Hoa Đại Hội Chân Kinh
6) Diệt Ác Thú Phá Nghiệp Chướng Đà La Ni
Các danh hiệu như vậy đó chúng hội nên thọ trì. Đồng Bi Tôn Phật thuyết pháp xong trời rung đất chuyển – trên trời rải đầy hoa ban rơi xuống – Mười phương Phật Độ và ba ngàn đại thiên thế giới đều tỏa sắc vàng. Tất cả chúng hội các vị Bồ Tát Ma Ha Tát – các vị Thanh Văn, Thiên Long, Bát bộ, Quỷ , Thần nghe Đức Đồng Bi Tôn Phật tán thán “ Địa Mẫu Minh Tâm Chân Kinh” này đều tỏ lòng hoan hỉ – vâng lời Phật dậy để tu hành.
-------------------------------------------------------
Phẩm thứ hai
NGHI THỨC TRÌ TỤNG “ĐỊA MẪU MINH TÂM CHÂN KINH”
CÔNG ĐỨC THỜ PHỤNG ĐỊA MẪU MINH TÂM CHÂN KINH
Kinh này thờ phụng trong nhà
Bao nhiêu hung họa hóa ra phúc lành
Trời cao lồng lộng trong xanh
Có Phật Địa Mẫu an lành cứu dân
Quét tam họa dẹp phong trần
Sạch sành sanh quét… trong ngần đẹp tươi
Muốn cho linh ứng như lời
Thời tâm phải thiện lòng thời phải ngay
Nghĩ thiện – Nói thiện ngày ngày
Luôn luôn làm thiện – Thảo ngay – Vẹn toàn
Nam mô A Di Đà Phật ( 3 lần )
TỊNH PHÁP GIỚI CHÂN NGÔN
Án lam tóa ha ( 3 lần )
TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN NGÔN
Án ta phạ, bà phạ truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần )
• Dâng hương Phật Mẫu.
Vị chủ lệ quỳ: ( hai tay cung kính dâng hương ngang trán tụng lớn )
Năm hương thơm dâng lên Phật Mẫu
Ba sáu ngày mậu kỵ cầu an
Mẫu ban cho phúc lộc thọ tài
Mùa màng trúng muôn loài hạnh phúc
• Tâm hương nguyện
( Trước khi tụng phải phát nguyện thì tụng kinh mới linh ứng và nhiệm mầu )
Đốt năm nén hương thơm
Con kính dâng tâm hương
Lên Trời Cha – Đất Mẹ
Cho chúng con tấm lòng thành
Cúi đầu con lạy tạ từ ân
Nam mô Đại Đức Phật Hoàng Thiên
Nam mô Đại Đức Phật Hậu Thổ
Nam mô Đại Hội Đồng Phật Tổ
Chứng minh
Con xin phát đại nguyện
Miệt mài trì tụng Minh Tâm Chân Kinh
Minh Tâm Kiến Tính
Kiến tính thành Phật
Để đại độ cho tất cả chúng sinh
Một thời đồng chứng
Quả Vô Thượng Chánh Đẳng – Chánh Giác
( cắm hương lên lư hương )
Địa Mẫu Bửu cáo
Chí tâm quy mệnh lệ ( 3 lần )
Sắc tứ của Vua Bàn Cổ phong tặng Phật Địa Mẫu như vậy
Hết lòng kính phục đỉnh lễ Phật Mẫu ( khấu đầu 3 lần )
Địa Mẫu hóa sinh: Trời cao đất rộng
Sông trong biển lặng mây ấp núi non
Chứng minh phong tặng Phật Thánh Tiên Hiền
Trời thanh đất tịnh không có yêu trần
Đạo Phật huyền khai sáng trong nhân loại
Cao nhất Địa Mẫu – Vô lượng Từ tôn
1. Nam mô nhất tâm thành kính Đại Đức Phật Thiên Hoàng
2. Nam mô nhất tâm thành kính Đại Đức Phật Địa Hoàng
3. Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
4. Nam mô Tỳ Lô Xá Na Quang Minh Phật
5. Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật
6. Nam mô Độc Giác Phật
7. Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
8. Nam mô Đa Bảo Như Lai Phật
9. Nam mô Bảo Thắng Như Lai
10. Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
11. Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai
12. Nam mô Ly Bố Úy Như Lai
13. Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai
14. Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật
15. Nam mô Long Hoa Giáo Chủ Di Lạc Tôn Vương Phật
16. Nam mô Thiên Quang Vương Tịnh Trú Như Lai
17. Nam mô Chánh Pháp Minh Như Lai
18. Nam mô Tổng Trì Vương Như Lai
19. Nam mô Bảo Vương Bồ Tát
20. Nam mô Dược Vương Bồ Tát
21. Nam mô Dược Thượng Bồ Tát
22. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
23. Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát
24. Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát
25. Nam mô Đại Trang Nghiêm Bồ Tát
26. Nam mô Bảo Tạng Bồ Tát
27. Nam mô Đức Tạng Bồ Tát
28. Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
29. Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát
30. Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát
31. Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
32. Nam mô Mục Kiền Liên Bồ Tát
33. Nam mô Ma Ha Ca Diếp Bồ Tát
34. Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
35. Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Quan Thế Âm Bồ Tát
36. Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát
37. Nam mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát
38. Nam mô Long Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát
39. Nam mô Đại Hội Đồng Phật Tổ
40. Nam mô Thập Phương Pháp Giới Thường Trụ Tam Bảo
41. Nam mô Tuyên Kinh Địa Mẫu - Đồng Bi Tôn Phật
-------------------------------------------------------
I- MINH TÂM ĐỊA MẪU CHÂN KINH
Tâm trắng sạch trong
Tâm trong tức Phật
Phật – Tâm, Tâm – Phật
Tự tại lòng ta
Nào phải đâu xa
Mà cầu mà cúng
Không cầu không cúng
Phật không thích lạy
Khó khăn không ngại
Nguy hiểm không sờn
Chẳng thích thiệt hơn
Nhân nhiều nhân nghĩa
Lễ thường chữ Trí
Chữ Tín làm đầu
Phải học cho sâu
Phải hành cho rõ
Mắt nhìn cho tỏ
Nghe đâu bỏ đó
Mũi không đánh hơi
Lưỡi không ác lời
Thân không ác nghiệp
Ý không tham lam
Kiêu căng sân hận
Si mê lầm lạc
Để tâm mờ ám
Ma quái nổi lên
Bệnh khổ triền miên
Bao điều tác quái …
Nói đi nói lại
Cũng tại tự tâm
Phật Thánh, phàm trần
Tâm mà ra cả
Dù ai nói ngả
Dù ai nói nghiêng
Chỉ có thiêng liêng
Một lòng làm thiện
Dù to dù nhỏ
Việc thiện quyết làm
Việc ác cỏn con
Cũng không được nghĩ
Phải suy cho kỹ
Ăn thật nói ngay
Còn hơn ăn chay
Lại hay nói dối
Cuộc đời thay đổi
Bãi biển nương dâu
Chữ Tín làm đầu
Con ơi nhớ lấy
Chữ Tâm làm đầu
Con ơi nhớ lấy
Phật Đà có dạy:
“Tam giới duy tâm
Vạn pháp duy thức”
Cũng một chữ Tâm
Cũng một chữ không
Sắc sắc - Không Không
Chân không hữu hiệu
Đừng để tâm quấy
Định tâm phẳng lặng
Như nước mặt hồ
Nước lặng thấy trăng
Không cầu lăng nhăng
Làm tâm vọng động
Làm tâm điên đảo
Khổ não đến liền
Ma quỷ, Phật Tiên
Đều do tâm cả
Tâm không chấp ngã
Tất cả đều không
Thông hiểu chữ không
Liền thoát khổ nạn
Biển khổ liền cạn
Thoát khỏi trầm luân
Cứu cánh Niết bàn
Bởi tâm tự tại
Không khôn không dại
Không Thánh không phàm
Tất cả tâm lành
Nhân nào quả ấy
Thấy của không lấy
Thấy sắc không tham
Danh vọng không màng
Rất hay làm thiện
Bởi gieo nhân thiện
Nên quả phúc tròn
Cho khắp tây đông
Đại đồng thế giới
Tư duy đổi mới
Cải tổ tiến lên
Ấy nhân ấy hiền
Ấy Tiên ấy Phật
Không cầu không Phật
Ấy mới đạo mầu
Phật tự tại tâm
Còn cầu chi nữa
Nếu ai muốn chữa
Bệnh khổ ở thân
Tĩnh tâm tức thời
Khổ nạn qua hết
Ta chỉ muốn chết
Cho thế gian thôi
Để cho Đạo Trời
Sáng hơn Nhật Nguyệt
Nhưng ta không tuyệt
Tất cả đều không
Sắc tức thị không
Không tức là sắc
Minh không Hữu diệu
Không hai không một
Tâm ta quyết đột
Phá hết ác tà
Không để vương ma
Làm cho đen tối
Ta không nói dối
Ta đã quyết rồi
Làm sáng đất trời
Sáng trong Đạo Cả
Để cho ta trả
Nghĩa Mẹ công Cha
Đã sinh ra ta
Muôn loài vũ trụ
Nam mô Đại Đức Phật Thiên Hoàng
Nam mô Đại Đức Phật Địa Hoàng
Nam mô A Di Đà Phật
-------------------------------------------------------
II- PHẬT ĐỊA MẪU RU CON
Mẫu là Mẹ của chúng con
Mẫu là Mẹ của vàng son muôn đời
Thương thay cái thế gian ôi!
Nếu không có Mẹ hết đời còn đâu
“ Minh Tâm” giáng đã bấy lâu
Sao con mê muội báng câu tầm thường?
Đau lòng cắt ruột Mẹ thương
Sao con vẫn cứ lầm đường con ôi?
Bởi vì con quá mê đời
Tham lam sân hận lắm lời vào ra
Lại còn trăng gió, chua ngoa
Ác khẩu, phạm thượng chẳng ra giống gì
Mẹ chỉ đường lối con đi
Cho con giải thoát những khi nhọc nhằn
Khuyên con hối hận ăn năn
Ngày đêm tu luyện ân cần tụng kinh
Để mà thông hiểu Tâm Kinh
Không cầu không cúng mà linh Đạo mầu
Tâm giác là Phật không cầu
Đại nhân – Đại nghĩa hành sâu ân tình
Ai mà không Mẹ Cha sinh
Phật Tiên Hiền Thánh cũng mình mà ra
Bấy lâu chẳng nhớ công Cha
Chẳng ơn nghĩa Mẹ nên ra nỗi này…
Mẹ bao vất vả đắng cay
Sinh con mong chóng đến ngày con nên
Giờ đây bệnh tật liên miên
Đói rét khốn khổ liên miên tai nàn
“Tam tai”, giặc giã, cơ hàn,…
Bởi nghiệp con tạo vô vàn con ôi!
Mẹ đã Thiên tấu với Trời
Gia ân cứu khổ để tôi dạy đời
Giờ đây nước mắt thay lời
Cũng là “ Thủy sám” sửa đời chúng con
Vì ai lòng Mẹ héo hon?
Thương con khô héo lòng son ấy mà!
Con ngoan trung – hiếu Mẹ – Cha
Con ôi báo hiếu lo mà tu thân
Con ôi! giống đức giống nhân
Con ôi! lễ nghĩa ân cần sắt son
“ Minh Tâm” khai trí cho con
Mở mang huệ nhãn không còn lầm mê
Tín tin đường sáng con về
Nhân nhiều nhân nghĩa con thề đi con
Quyết chí cho lòng sắt son
Quyết tử vì Đạo không sờn con ôi!
Tâm trong – trí sáng – thảnh thơi
Tâm sáng tức Phật –Phật thời tức Tâm
Mấy lời dạy dỗ trầm ngâm
Sao con không hiểu? để thâm cho đời
Nếu mà tham muốn con ơi!
Dù tham danh vọng cũng thời bỏ đi
Tham chi cái của bất nghì(*)
-(*) – của vô nghĩa
Phù vân một đám ắt khi tan tành
Sắc kia dù có nổi danh
Một thời sớm nở tối banh ra rời
Khuôn vàng thước ngọc Cha Trời
Cũng là Mẹ Đất một lời mà thôi
Con ôi! lệ Mẹ tuôn rơi
Trời mưa ban nước cam lồ cho con
Tham sân thân khí mỏi mòn
Si mê lục dục – tinh còn nữa đâu
“ Tam báu” là tinh – khí – thần
Nếu không gìn giữ còn thân đâu mà
Tham sân si tức là tà
Tà ý – tà khẩu – thân tà mà thôi
Để rồi con lại bị rơi
Đày xuống địa ngục biết đời nào ra
Con ơi! Mẹ đã xin Cha
Quyết quét thủy – hỏa – phong ba bụi trần
Để cho trần thế trong ngần
Luân thường – Đạo lý sáng ngần hơn xưa
Giờ đây đại nạn trong mưa
Các con của Mẹ sớm trưa miệt mài
“ Minh Tâm” gương sáng con soi
Ngọc châu phải giữ lấy nòi gia phong
“ Minh Tâm” chân lý sáng trong
Các con của Mẹ thong dong Niết bàn
Nam mô Vô Thương Chân Không Địa Mẫu Huyền Hóa Dưỡng Sinh Bảo Mạng Chân Kinh
-------------------------------------------------------
III- BÀN TAY PHẬT MẪU
Mẹ đã đưa cả bàn tay
Sáu châu cũng ở Mẫu này mà ra
Yêu con Mẹ gọi thiết tha
Quyết tâm tu luyện để mà cứu dân
Đời người ngắn ngủi gian truân
Tham chi một đám phù vân đó mà
Phí bao nghĩa Mẹ ơn Cha
Đến khi ngã xuống còn ra giống gì
Con ơi! Tham lắm làm chi?
Si mê, sân hận mua i… nhọc nhằn
Ăn gì cũng gọi là ăn
Ở ăn thanh thản mới lành đó con
Làm người trung thủy sắt son
Trung – Hiếu – Tiết- Nghĩa mới tròn đạo con
Trung thì độ được muôn dân
Hiếu thì độ được song thân đó mà
Nghĩa thời độ được muôn loài trầm luân
Đời người khổ nạn gian truân
Quyết tâm tu luyện để đền ân ta
Con ngoan hiếu thảo Mẹ Cha
Nếu không Địa Mẫu làm ma không đầu
Thương con lệ Mẹ tuôn sầu
Vì sao hoạn nạn làu làu đó con
Nếu con có tấm lòng son
Niệm Phật Địa Mẫu không còn hiểm nguy
Sao con lại chẳng biết chi?
Sao con tham hận u si hoài hoài
Yêu con Mẹ lại đua tay
Cứu con thoát khỏi đọa đày đau thương
Yêu con lòng Mẹ vấn vương
Tình sâu nghĩa nặng Mẹ thương vô cùng
Trời Cha sấm chớp đùng đùng
Nếu không Phật Mẫu chẳng dung muôn loài
Yêu con Mẹ dặn không sai
Một tháng chỉ có ba ngày mậu thôi
Mồng tám, mười tám, hai tám(*)
(*) – Nếu lấy đúng ngày mậu theo lịch âm thì có khi không trúng ngày 8,18,28. Quy ước theo thiên can thì số tám thuộc về thiên can mậu, nên thống nhất như trên để không sai khác với lời văn và ngày Vía Phật Mẫu chính trong năm là ngày 18/10.
Tưởng nhớ Địa Mẫu tạo đời tươi vui
Không sát, đạo, dâm, rượu, dối(**)
(**) – Quy y Phật giữ ngũ giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu, không nói dối.
Hương đăng hoa quả con thời dâng lên
Năm hương với sáu nến đèn
Sáu chén nước lọc dâng lên bàn thờ
Tụng kinh Địa Mẫu con thơ
Mẫu sẽ hiển Thánh đề thơ Tiên Hiền
Không tham danh vọng sắc tiền
Lòng con trung hiếu Mẫu liền chứng cho
Nhân nghĩa con có công to
In kinh Địa Mẫu cứu độ muôn dân
Lấy tình dân trả nghĩa dân
Đền đáp ơn Mẹ muôn lần con ơi
Long Hoa trần thế đổi dời
Long Hoa con Mẹ hết thời gian nan
Bỏ tam họa- dẹp phong trần
Long Hoa Đạo Phật sáng ngần hơn xưa
Long Hoa thế giới say sưa
Hoằng dương chánh pháp không lừa một ai
Lời Mẹ nói không có sai
Thế giới một Đạo – không hai đại đồng
Các con của Mẹ thong dong
Long Hoa Đạo Phật sáng trong Đất Trời
Đẹp thay Mẹ dạy như lời
Trái Đất của Mẹ muôn đời vui tươi
Nhất tâm triều lễ con Nam mô Tam thập - Tam thiên Chúa Đế thích Hằng Nhân Thánh Đế Quân thừa thiên hiệu pháp Đức Quang Thái Hậu Địa Mẫu Thần kỳ.
-------------------------------------------------------
IV – KINH?
Kinh ở trong tâm chứ ở đâu
Thích thì kinh phát…không khoe giầu
Bi – thương Đất Nước nên tức cảnh
Khuyến thiện cho dân được Đạo Mầu
Tụng kinh phải biết để mà kinh
Kinh ác – oan gia báo nghiệp dày
Tu nhân tích đức làm điều thiện
Không cầu quả phúc …vẫn lên Tiên
Nam mô A Di Đà Phật (1 lạy)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Nam mô Long Hoa Giáo Chủ Di Lạc Vương Phật (1 lạy)
Nam mô Đồng Bi Tôn Phật (1 lạy)
-------------------------------------------------------
V – TUYÊN KINH ĐỊA MẪU
Nam mô tuyên kinh Địa Mẫu Đồng Bi Tôn Phật
Sắc phong một áng mây hồng
Chứng minh công quả cho Đồng Bi lên
Giờ đây đã rõ trắng đen
Đồng Bi rực sáng Hải đèn Quang Minh
Hữu tình ắt có hòa bình
Minh tâm thì được anh linh đó mà
Đồng Bi tất cả bài ca đất trời
“ Đồng Bi hiếu thảo tyệt vời”
“ Đồng Bi thay mặt đổi lời cho ta”(**)
(**) – Đồng Bi thay mặt đổi lời cho Phật Địa Mẫu Hoàng ấn truyền Đạo Pháp Quang Minh Tâm Kinh
Đồng Bi trái đất nở hoa
Đồng Bi Đại Hội Long Hoa Hòa Bình
Đồng Bi – Đồng nghĩa – Đồng tình
Đồng Bi sáng tỏ trời hồng
Đồng Bi rạng rỡ con Rồng cháu Tiên
Đồng Bi rực rỡ Thiên – tiên
Tháng tư sinh Bụt – sấm truyền muôn nơi
“ Đồng Bi con của Phật Trời”
“ Đồng Bi hạ thế cứu đời cứu dân”
Mười năm khổ cực gian truân
Muôn điều oan trái vạn lần xót thương
Trăm cay, ngàn đắng, tai ương…
Cho đời lại thấy ngũ thường - ngũ luân
Vâng lệnh Ngọc Đế sáng trong
Đi tìm đồng nghĩa – đồng nhân xây đời
Trải bao nắng lửa mưa rơi…
Tìm được “Ngộ Thường” với lại “ Ngộ Không”
Giờ đây ngày tháng thong dong
Lên thuyền “Bát Nhã”thong dong độ trì
Quy Mẫu tụng chú Đại Bi
Cứu khổ cứu nạn nạn gì cũng qua
Giờ đây đã đẹp lòng Cha
Đã tròn nghĩa Mẹ con xa hóa gần
Quyết quét thủy – hỏa – phong trần
In kinh Địa Mẫu muôn lần vui tươi
Ước ao lại được như lời
Tuyên kinh Địa Mẫu xây đời phá ương
Bi – thương tấu lạy Phật Bà
Là Phật Địa Mẫu cùng Cha trên Trời
Hy sinh nguyện sống cho đời
Bỏ xa danh lợi – xa người yêu tôi
Tình Bi chẳng thể chia đôi
Quyết tâm hành Đạo – Bi thời độ dân
Bi đi xây dựng chùa đền(*)
(*) – Xây chùa đền trong tâm con người
Xây móng nhân nghĩa dựng nền mai sau
Ma vương sáu mặt sáu đầu
Tìm lắm mưu chước cũng sâu không vừa
Xây chùa ma vu phá chùa
Ma vu trộm tượng – nói bừa …không nao?
Nam mô A Di Đà Phật ( 10 lần )
Nam mô lồng lộng trời cao
Có Phật Địa Mẫu chứng vào tâm ngay
Lòng ngay thì được phúc ngay
Tụng kinh Địa Mẫu phúc dầy – cao sâu
Bấy lâu đã nhiệm Đạo Mầu
Quyết tâm hành đạo một mầu sáng trong
Giờ đây chưa thể thong dong
Đồng – Bi nguyện vẫn làm không cho đời
Bi đi chữa bệnh cứu người
Quỷ vu Bi đã giết người … vẫn tươi
Tâm rực sáng – dạ thảnh thơi
Hồng phúc đem đến sao tôi không cười
Thế gian nên rất nực cười
Biết già mà vẫn nên lời đua tranh
Trời cao lồng lộng trong xanh
Trách mình chớ tách “ông xanh” trên đầu
Nếu không’Thiện sỹ” “Thị Mầu”
Thì không ‘Thị Kính” lên lầu Quan Âm…
Việc âm Bi vẫn âm thầm
Thương dân Bi vẫn thương thầm con ơi!
Thương yêu thay mặt đổi lời
Cho Phật Địa Mẫu sửa đời mai sau
Tuyên kinh Địa Mẫu nhiệm mầu
Nhà nhà đều nguyện, đều cầu Mẫu thương
Uống nước thì phải nhớ nguồn
Ăn quả phải nhớ phải thương người trồng
Bốn phương Nam Bắc Tây Đông
Nếu không Phật Mẫu thì không giống nòi
Các con ơi! Uống lấy lời!
Phật Tiên Hiền Thánh cũng thời Mẫu đây
Sinh con bao nỗi đắng cay
Lo con ăn mặc lại hay học hành
Chứng minh công đức Phật thành
Ba kiếp chư Phật cũng thành “Minh Tâm”
Làm người chớ có hiểm thâm
Mưu ma trước quỷ lại thâm vào mình
Đồng tâm – Đồng nghĩa – Đồng tình
Xây dựng Đạo Mẫu để sinh hiền tài
Làm người chẳng có một ai
Không bệnh – Không khổ – Không tai đó mà
Đến khi chết xuống làm ma
Âm ty địa ngục biết ra bao giờ
Sống chi cái bóng vật vờ
Tham danh – Tham sắc – Tham thờ – Quan liêu?
Không tiền thì chẳng có Tiên?
Đó là tâm ác quân xiên – quân quàng
Đạo Mẫu rực rỡ vinh quang
Tâm trong rực sáng rõ ràng thẳng ngay
“Quang Trung” chẳng có chữ say
Mê tín nịnh bợ vơ ngay vào mình
Trời Cha – Đất Mẹ đã sinh
Làm người nhân – nghĩa chung tình con ơi!
Mấy lời Mẹ đã dặn rồi
Đinh ninh con nhớ suốt đời chớ quên
Nếu ai ngã con đỡ lên
Đó là tâm Phật – tâm Tiên đó mà
Con yêu tôn kính Mẹ Cha
Con trung con hiếu mới là con ngoan
Trung là không nịnh không gian
Hiếu là con thảo muôn vàn kính yêu
Phải đâu một sáng một chiều
Mà con hiểu được những điều hiếu trung
Khuyên con chớ cúng lung tung
Mê tín cúng quỷ lại ung vào mình
Đạo là hòa thuận gia đình
Thờ cúng Tiên Tổ –sinh mình Mẹ Cha
Ấy là thờ Phật trong nhà
Rồi mới được cúng Thích Ca – Phật – Trời
Tâm tà mà cúng ma xơi
Tật mang tiền mất đi đời nhà ma
Làm con – làm Mẹ – làm Cha
Làm tấm gương sáng cho ta giữa đời
Con thương ơi! Nhận lấy lời
Lời châu ý ngọc Mẫu thời dạy con
Quý hơn thất báu vàng son
Sáng hơn Nhật Nguyệt đưa đường con đi
Trong hơn ngọc sáng lưu ly
Tâm con trong sáng chẳng đi nơi nào
Phật – Trời dù ở trên cao
Với con là một lẽ nào là hai
Nếu con có nghĩa ăn nhai
Ăn cơm – phải nhớ – ơn ai cho mình
Báo ân Cha – Mẹ sinh mình
Mồng một tháng tám sinh mình Thần nông
Nếu mà chẳng nhớ ơn ông
Mùa màng mất hết nói ngông được à?
Mười tám tháng mười sinh Bà
Phật Mẫu muôn loài – Chúa Bà muôn dân
Làm người trung - hiếu - nghĩa – nhân
Tụng kinh Địa Mẫu phúc ân muôn đời
Chúng con đâu phải con rơi
Tụng kinh Địa Mẫu vạn đời tươi vui
Chúng con ơi! Nhớ đời đời
Vong ân bội nghĩa con thời bỏ đi
Sao con tham - hận – u si
Thương con Mẫu phải nói đi nói hoài
Trẻ già không kể một ai
Bảy tuổi đã phải tụng bài Mẫu kinh
Minh tâm thần khí anh linh
Thánh đức giáng thế cứu tinh cho đời
Thương con Mẫu đã dạy rồi
Niệm kinh Địa Mẫu qua thời nạn tai
Muốn có phúc - lộc - thọ – tài
Tụng kinh Địa Mẫu không chờ một ai
Tụng kinh Địa Mẫu hôm mai
Huyền diệu cứu cánh muôn loài con ơi!
Thương con lòng Mẹ đầy vơi
Yêu con Mẹ dạy con thời phải ngay
Tụng kinh cho lúa trúng đầy
Trăm hoa vạn vật sum vầy tốt tươi
Con ngoan hiếu thảo Mẹ cười
Mẹ độ cứu thoát lên trời gặp Cha
Khuôn vàng thước ngọc ban ra
Con ngoan hiếu – thảo cho Ta vui lòng
Nam Mô Vô Thượng Chân Không Huyền Hóa Dưỡng Sinh Bảo Mạng Cứu Kiếp Diêu Trì Kim Mẫu Từ Tôn Đại Từ Tôn
-------------------------------------------------------
VI – PHẬT ĐỊA MẪU HOÀNG SẮC PHONG TÔN PHẬT ĐỒNG BI
Nam mô tuyên kinh Địa Mẫu Đồng Bi Tôn Phật
Sắc phong một áng mây hồng
Chứng minh công quả cho Đồng Bi ta
Đồng Bi – Đồng Phật con ta(*)
(*) – Đồng Bi là con của Đại Đức Phật Địa Mẫu Hoàng khai thiên lập địa
Tháng tư sen nở Bụt ra ở đời
Độ nhân – cứu thế – cứu đời
Tụng kinh Địa Mẫu đổi đời trầm luân
Đồng Bi đã luyện vàng son
Mười năm tu luyện đã tròn công phu
Tu mà chẳng gọi là tu?
Phát tâm độ thế mùa thu năm nào
Đồng Bi thiên tấu trời cao
Vì sao dân khổ … lệ trào lòng con?
Đồng Bi yêu nước thương non
Đồng Bi yêu giống con Rồng cháu Tiên
Thương đời tai họa triền miên
Đồng Bi thiên tấu lên trên Cha Trời
Giáng kinh Địa Mẫu tuyệt vời
Chân lý cứu thế – cứu đời – đẹp tươi
Phật Mẫu sắc chiếu muôn nơi
“ Đồng Bi thay mặt đổi lời cho ta
Khai mạc đại hội Long Hoa”
Long Hoa đất Mẹ nở hoa Thái Bình
Long Hoa con Mẹ có tình
Long Hoa rực ánh bình minh Phật Mầu
Long Hoa Đất Mẹ đẹp giầu
Long Hoa con Mẹ sống giầu nghĩa nhân
Long Hoa có cải có cần
Có Lễ – Trí – Tín – quây quần bên nhau
Long Hoa phân tỏ vàng thau
Toàn người hiền sĩ bên nhau hiền hòa
Mười phương chỉ có một nhà
Thờ ngôi Tam Báu đều là anh em(**)
(**) – Tam Báu – Phật, Pháp, Tăng
Tham sân chẳng có ai thèm
Si mê lục dục – tối đen – hết rồi
Long Hoa con đứng con ngồi
Con đi cũng có Phật Trời ở tâm
Long Hoa thơm ngát hương sen
Đài vàng – Bệ ngọc – Phật Tiên độ trì
Không còn những giống sân si
Những lời tham ác Mẹ thời bỏ đi
Con ơi! Đường phải mà đi
Bõ công Phật Mậu những khi nhọc nhằn
Tạo đời lập thế khó khăn
Gian lao cay đắng nhọc nhằn Mẹ mang
Ăn ngon mặc đẹp con sang
Cha sinh không nhớ – Mẹ mang đau lòng
Thương con lòng Mẹ héo hon
Thương con nước mắt tuôn tròn năm canh!
Nếu không có Mẹ thức canh
Cá ngao to lớn xử banh mất rồi
Trời tan Đất rã tơi bời
Tiền Hiền Thần Thánh hết đời còn đâu
Thương con khuyên giải bấy lâu
Tụng kinh Địa Mẫu con cầu con an
Cầu cho mưa thuận gió hòa
Thái Bình thế giới nở hoa bốn mùa
Người người quyết tâm thi đua
Nhân nhiều “Nhân Nghĩa” không thua bao giờ
Thỏa bao lòng Mẹ mong chờ
Thế giới sáng lạn đang chờ các con
Long Hoa đất nước núi non
Đều là châu báu vàng son muôn đời
Long Hoa con hiếu của tôi
Sen vàng chín phẩm Mẹ thời thưởng ban
Nhất tâm triều lễ con Nam mô Tam thập - Tam thiên Chúa Đế thích Hằng Nhân Thánh Đế Quân thừa thiên hiệu pháp Đức Quang Thái Hậu Địa Mẫu Thần kỳ.
-------------------------------------------------------
VII – NÀNG DÂU
Mẹ đã khuyên con làm dâu
Ở đời ai thảo ai sâu bằng hiền
Tâm hiền nhẫn nhục là tiên
Mặc cho Mẹ cả nói liền nàng ơi!
Phận dâu xin mời tằm xơi
Vì tằm kéo kén cho đời lụa tơ
Mẹ chồng có chua như mơ
Thì Mẹ đã có một thời làm dâu
Dâu làm Mẹ – Mẹ làm dâu
Cái lẽ quanh quẩn ai cầu làm chi
Dẫu cho mẹ nói những gì
Thì con nhẫn nhục một khi thờ chồng
Thờ chồng ắt phải nuôi con
Tấm lòng hiếu thảo không còn thiệt hơn
Ở đời chẳng có gì son
Chồng hòa vợ thuận là con kính nhường
Ai hay bể khổ vô thường(*)
(*) – Vô thường: có sinh ắt có diệt
Hoa tàn lại nở – ta nhường nhịn nhau
Ở đời nên nhớ lấy câu
“Dĩ hòa vi quý” làu làu làm tin
Nếu có người đến ăn xin
Rộng lòng bớt gạo xẻ tim cho người
Ăn đời ai sống mãi đời
Mà ta ghen ghét miệng lời ganh đua
Không có được – không có thua
Không thua – không được là Vua trong thành
Ở hiền thì phải gặp lành
Nhân nào quả ấy phúc lành tự tâm
Không thêm – không bớt – không cầm
Giữ miệng cho chín … kẻo câm có ngày
Muốn cho quả phúc tròn đầy
Ngọc mài trong sáng có tày chữ trung
Nếu mà ăn nói lung tung
Ác khẩu – Nghiệp miệng tật ung thối rồi
Thập thiện – Phật dạy nhớ đời
Không hành thập ác tránh rơi ngục tù
Tâm đen – đen tối – tối mù
Hành Đạo ai lại loa lu cái mồm?
Tâm tà bán rẻ linh hồn
Nghiệp miệng “tứ ác” bắt hồn có ma
Công lý đã có Mẹ Cha
Phán xét đen trắng ra ma, ra người
Thân người “tam ác” con ơi!
Sát sinh, trộm cướp bỏ thời cho nhanh
Ai mà tà dục hư thân
Uống rượu mê tối cái thân hư rồi
Thân không ác khẩu không lời
Ý không tham – hận – si thời bỏ xa
Đừng có kiểu “tu”...”tú bà”
Tâm tà hắc ám là ma đó mà
Không nên đao búa chua ngoa
Địa ngục Vô gián làm Cha đau lòng
Con nào mà chẳng là con
Thương con bình đẳng lòng son sáng ngời
“Thập thiện” con hành tuyệt vời(*)
(*)- Thập thiện: 1- không nói dối; 2- không nói lường thiệt – trước mắt nói phải, sau lưng nói quấy; 3- không nói vu oan, đâm bị thóc chọc bị gạo; 4- không nói ỷ ngữ – mạt sát người khác; 5 – không tham ô; 6- không giận hờn; 7 – không si mê; 8 – không sát sinh; 9 – không trộm cắp; 10 – không tà dâm.
Tâm đà trong sáng không rời đi đâu
Thương con Mẹ tặng lời châu
Minh tâm chiếu sáng hành sâu ân tình
Tình cho Đất Mẹ thái bình
Tâm trong dạ sáng – thông linh Đất Trời
Ngoan thay con Mẹ vâng lời
“Minh Tâm” ngọc sáng – nước thời ắt trong
Tâm đà thanh sạch sáng trong
Tây phương Cực lạc – tự lòng nghe con
Nam Mô Vô Thượng Chân(*) Không Địa Mẫu Huyền Hóa Dưỡng Sinh Bảo Mạng “ Minh Tâm” Chân Kinh Từ Tôn – Đại Từ Tôn
(*) – Các bản kinh khác dùng từ Hư Không thay cho Chân Không
-------------------------------------------------------
VIII– TA LÀ VŨ TRỤ – VŨ TRỤ LÀ TA
Cứu khổ tôi hành Đạo
Tôi không phải là tôi
Tôi thuộc về mọi người
Của bao la Vũ Trụ…
Ban đêm tôi ít ngủ
Ban ngày làm việc nhiều
Nguyện một sớm một chiều
Cứu thế gian thoát khổ
Bởi vì tôi đại độ
Cho cả thế giới thôi
Tôi không nghĩ đến tôi
Tôi đã là vi bụi…
Tôi đem nguồn hạnh phúc
Cho thế giới tôi yêu
Lặng tâm không nói lời
Nhẫn nhục và nhẫn nhục…
Không nói tức là nói
Việc thiện nói lên lời
“ Hữu xạ tự nhiên hương”
Cổ Phật xưa đã dạy
Lòng tĩnh thanh không lạy
Không quỳ gối một ai
Tâm hành theo Phật Đà
Không kính mà rất kính
Phật – Pháp thường thẳng tính
Ma – Quỷ khéo dối lời
Sự thật ánh sáng ngời
Chân lý là tất thắng
Kẻ u - si cay đắng
Nhạo báng Phật – Pháp – Tăng
Tà nói cuội nói nhăng…
Tất cả không – không Ngộ
Khi tâm ta quyết độ
Đại độ cho chúng sinh
Cho thế giới thái bình
Cho Long Hoa mở hội
Tâm sáng trong không ngã
Quyết đãi cát lấy vàng
Ta không mơ – không màng
Ta không say không tỉnh
Khi tâm ta ta định
Hội hiệp tinh – khí – thần
Tâm trong sáng vô ngần
Thì ta là Vũ Trụ
Nam mô Địa Mẫu Hoàng (5 lần)
-------------------------------------------------------
IX – KINH GIỚI
Trì kinh giữ giới con ơi!
Trì kinh không giới ấy thời phí đi
Con thưa! Giữ giới là gì?
Không sát – không trộm con thì hành sâu
Không dâm – không rượu nhớ lâu
Giữ mình không dối là cầu đức tin
Tin là tín – Tín là tin
Quy y Phật Mẫu con tin năm điều
Nhân – Nghĩa chồng thương vợ yêu
Trên hòa – dưới thuận – lễ điều chính chuyên
Làm con dâu thảo rể hiền
“ Minh Tâm” chiếu sáng chữ hiền chữ trung
Không còn gian nịnh thối ung
Đại nhân – Đại nghĩa thắng hung bạo tàn
Phù dung sớm nở chiều tàn
Minh Tâm chiếu sáng vô vàn thông linh…
Ân trên ban nghĩa chữ kinh
Kinh ác(*) – hành thiện – chữ kinh sáng ngời
(*) – kinh ác – ở đây là kinh sợ chứ không phải kinh kệ
Hành theo Thập Thiện tuyệt vời
Quang Minh trí huệ sáng ngời Vạn Xuân
Tâm thiện có phúc có phần
Không cầu mà được không cần ghen đua
Phật Đà xuất ngôi sao Vua
“Minh Tâm” trí tuệ không đùa không lâu
Dù cho nắng lửa mưa dầu
“ Minh Tâm” trì niệm thong dong tâm hồn
Ai tin thì được Phật thương!
Không tin cũng mặc …đáng thương tâm tà
Đồng Bi đang ở trong nhà
Không biết thờ kính thờ ma ngoài đường
Đáng thương Mẫu lại càng thương!
Tâm tà mà cúng ma thường vào ra
Ma cho ma lại bắt qua
Ma đòi cúng bái để mà ma xơi
Thế gian lắm cuộc đầy vơi
Thương con Bi đã lạy Trời cho con…
Đồng Bi rực sáng vàng son
Soi ma chiếu quỷ cho con được nhờ
Nếu ai Cha kính Mẹ thờ
Là Đồng Bi đó – còn chờ ai chi???
Không nên ngờ vực đơm sai
Đồng Bi xuất thế cho mai được nhờ
Soi sáng người khôn - kẻ khờ
Chân lý chiếu sáng không mờ không đêm
Long Hoa thế giới đẹp êm
Ngọc trong soi sáng – hết đêm – sáng ngày
“ Minh Tâm” độ tấm lòng ngay
Long Hoa Đại hội – Phúc đà Vạn Xuân
Nam Mô Vô Thượng Chân(*) Không Địa Mẫu Huyền Hóa Dưỡng Sinh Bảo Mạng “ Minh Tâm” Chân Kinh Từ Tôn – Đại Từ Tôn
Nam Mô Địa Mẫu Hoàng
(5 lần)
(*) – Các bản kinh khác dùng từ Hư Không thay cho Chân Không
-------------------------------------------------------
X – PHÁN XÉT
Mười năm đại nguyện phá mù
Đồng Bi ấn pháp chân tu sáng ngời
Quang – Trung Đạo pháp tuyệt vời
Việt nam dân tộc sáng ngời vàng son
Xanh tươi đất nước mãi còn
Sáng danh Âu Lạc con Rồng cháu Tiên
“Minh Tâm” chiếu sáng muôn miền
Sáng ngời chân lý cờ Tiên vẫy chào
Kêu gọi thiện tín anh hào
Dưới cờ đại nghĩa rừng sao sáng ngời
Minh Tâm trí huệ tuyệt vời
Quý hơn châu báu – vạn đời vàng son
Sáng soi Đất Mẫu mãi còn
“Minh Tâm” kiến tính vàng son muôn đời…
“Mã đề” đã đánh nước doi
“Dương cước” dê vàng ta thời thi thơ
Không thơ cũng không phi thơ
Dương cao Đại nghĩa Tiên thơ phất cờ
Thương con! Lòng Mẹ buông tơ
Đến hồi mạt kiếp – sấm thơ lệnh truyền
Giờ đây sấm động muôn miền
Không tu chẳng sửa – chết liền đó thôi
Thương con lệ Mẫu tuôn rơi
Cái ngày phán xét muôn nơi đã gần…
Long Hoa Trời Đất trong ngần
Trắng đen phân tỏ nợ nần trả xong
Thiện thời Mẹ cho thong dong
Ác thời quỷ bỏ vào trong ngục hình
Long Hoa đá ngọc phân minh
Không còn những loại vô minh phá đời
Long Hoa rực ánh Hồng tươi
“Minh Tâm” chiếu sáng muôn nơi Đạo Mầu
“ Minh Tâm” nhân nghĩa hoàn cầu
Thái bình thế giới bền sâu đời đời
Nam mô Địa Mẫu Hoàng (5 lần)
-------------------------------------------------------
XI – TIÊN HƯƠNG
Hỡi cô tiên nữ lái thuyền(*)
(*) – Thuyền Bát Nhã – cứu khổ – cứu nạn
Xuân hương nước biếc muôn miền long lanh
Cô có đôi mắt trong xanh
Bao la Vũ Trụ – long lanh Đất Trời
Vầng trán cô – Nhật Nguyệt cười
Sáng trong thanh tĩnh tuyệt vời đẹp tươi
Ánh mắt cô nở nụ cười
Khoe hàng răng Ngọc – trắng tươi mầu ngà
Tiên Hương Đất Mẹ nở hoa
In trong ánh mắt đôi ta bao giờ
Đã trao lời nguyện bến chờ
Anh đi hành Đạo – tôn thờ “Phật Tâm”
Phật là Giác ngộ chữ Tâm
Không cầu mà thấy – không tầm mà nên
Hương Tích, Suối Yến còn nguyên(*)
(*) – Chùa Hương Tích - Nơi Nam Hải Giáng Sinh Quan Thế Âm Linh Cảm Bạch Y Tuyết Sơn Bồ Tát Thành Đạo, đọc Kinh Chùa Tuyết, Sự tích Đức Chúa Ba sẽ hiểu thêm.
Còn Trời – còn Phật – còn Tiên độ trì
Tâm – lòng thanh tĩnh lưu ly
Long Hoa thế giới lưu ly hòa bình
Còn non còn nước còn tình
Còn Tiên – còn Phật – còn mình và ta
Vạn Xuân Đất Mẹ bài ca
Sen vàng chín phẩm cho ta và nàng
Cô ơi! Không vội không vàng
Thế giới Cực lạc cho nàng và anh
Tình anh như thể biển xanh
Mênh mông bát ngát trong xanh Đất Trời
Tình anh tắm mát cho đời
Thắm tươi Đất Mẹ sinh người Thánh nhân
Dẫu rằng không ái không ân
Mà lại ân ái muôn lần em ơi!
Dẫu cho sông nước đầy vơi
Tình anh chung thủy không lơi bao giờ
Không cầu – không vọng – không mơ
Định tâm trong sáng – không mờ – không phai
Hương sen nở trắng Suối Hai (**)
(**) – Đền Tiên Kiều – Sơn Tây – Khu vực Suối Hai – Nơi Phật Địa Mẫu Giáng Sinh – có đền Địa Mẫu linh thiêng
Long lanh bóng nước muôn mai chen đào
Rồng – Tiên rực rỡ anh hào
Thế giới – Phật Mẫu vàng sao sáng ngời
Tình anh trần thế đổi dời
Thế giới Cực lạc muôn đời nàng ơi!
Tình ta không thể chia đôi
Hòa vào Vũ Trụ muôn đời đẹp tươi
Nam Mô Địa mẫu Hoàng (5 lần)
-------------------------------------------------------
PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ
Khể thủ quy y tô tất đế, đầu diện đỉnh lễ thất câu chi, ngã kim xưng tán đại chuẩn đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề, câu chi nẫm đát điệt tha, úm, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, sa bà ha
(5 lần)
THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ny đế, ny ha ra đế, tỳ lê lễ đế, ma ha già đế, chân lăng càn đế, sa bà ha
(5 lần)
BẠCH Y THẦN CHÚ
Đát chỉ đá, ám già la phạt đá, già la phạt đá, la già phạt đá, la già phạt đá ta ha, thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly nhân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Quỳ :
Chúc Phật Địa Mẫu Hoàng - Vô Thượng Chan Không Địa Mẫu Huyền Hóa Dưỡng Sinh Bảo Mạng “ Minh Tâm” Chân Kinh Từ Tôn – Đại Từ Tôn
-------------------------------------------------------
HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Nhất tâm kính Địa Mẫu
Đời đời hưởng phúc lành
Nhất tâm triều lễ con Nam mô Tam thập - Tam thiên Chúa Đế thích Hằng Nhân Thánh Đế Quân thừa thiên hiệu pháp Đức Quang Thái Hậu Địa Mẫu Thần kỳ.
Đứng:
Nam Mô Nhất Tâm Thành Kính Đại Đức Phật Thiên Hoàng (1 phục lạy)
Nam Mô Nhất Tâm Thành Kính Đại Đức Phật Địa Hoàng (1 phục lạy)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật (1 phục lạy)
Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Di Lạc Vương Phật (1 phục lạy)
Nam Mô Đồng Bi Tôn Phật (1 phục lạy)
-------------------------------------------------------
SÁM HỐI NGUYỆN
Tri thân là khổ phải trao thân
Sáu châu cũng ở cõi phàm trần
Linh thông huyền diệu nhờ kinh chú
Phật Mẫu Quang Minh chiếu sáng trân
Ấn trao ngũ cốc cầu trăm họ
Tống truyền Địa Mẫu - Chúa muôn dân
Linh hiển rõ ràng – tiêu khổ nạn
Quang Trung – Minh Tuệ chiếu nghiêm minh
Nam mô A Di Đà Phật (10 lần)
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%E1%BA%A3n-01 )
Một tháng chỉ có ba ngày mậu thôi
Mồng tám, mười tám, hai tám(*)
(*) – Nếu lấy đúng ngày mậu theo lịch âm thì có khi không trúng ngày 8,18,28. Quy ước theo thiên can thì số tám thuộc về thiên can mậu, nên thống nhất như trên để không sai khác với lời văn và ngày Vía Phật Mẫu chính trong năm là ngày 18/10.
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%E1%BA%A3n-01 )
===========
Hương đăng hoa quả con thời dâng lên
Năm hương với sáu nến đèn
Sáu chén nước lọc dâng lên bàn thờ
Tụng kinh Địa Mẫu con thơ
Mẫu sẽ hiển Thánh đề thơ Tiên Hiền
================
Mười tám tháng mười sinh Bà
Phật Mẫu muôn loài – Chúa Bà muôn dân
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%E1%BA%A3n-01 )
Bản gốc Hán văn được dịch sang tiếng Việt.
Chỉ đọc tụng 182 câu kinh, không đọc phần chú giải.
NGÀY KỴ MẪU HẰNG THÁNG
( 3 Ngày MẬU Âm Lịch trong 1 tháng )
*Theo:
1. Đình Ứng Thiên ( Còn có tên gọi là Chùa Láng ):
-Vừa rồi đệ có dịp đi tới Đình Ứng Thiên ( Còn có tên gọi là Chùa Láng ) nằm trên đường Láng Hạ Hà nội. Nơi đó được hiểu là nơi thờ vọng tại thành Thăng Long ngày xưa. Lý do Đền Tiên Kiều nơi thờ Phật Địa Mẫu nay thuộc Thôn Tam Sơn, Xã Xuân Sơn, Thị xã Sơn Tây( ngoại thành Hà nội) khá xa nên Vua Chúa các đời đã tới Đình Ứng Thiên cầu Mẫu giáng linh chỉ dạy các điều cần thiết cho việc trị quốc bình thiên hạ.
- Tại nơi đó ngày nay người ta tổ chức đọc Kinh Địa Mẫu khá đông người về dự vào các ngày mậu trong tháng, một tháng có 3 ngày mậu.
Việc đọc kinh khá quy mô, có tới vài trăm người dự, đa số là phụ nữ, số ít là nam giới và nam thanh niên.
- Lễ vật dâng lên tùy tâm, hương hoa, trái cây, đúng giờ đọc Kinh theo hướng dẫn của một vị nữ.
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...A%A3n-01/page2 )
2. Tụng Kinh Mẫu ngày mậu (Đền Linh Từ - Chùa Pháp Vân) ( Link: https://www.youtube.com/watch?v=ZqpKJD7lCIs )
3. chonthuongdieuphap ( Link: https://sites.google.com/site/chonth...-mau-chon-kinh / https://docs.google.com/viewer?a=v&p...YjUxOTQ5YWU4ZA )
4. Sư Huynh của tôi đều dạy người ta, cúng Mẫu và trì Kinh Mẫu hằng tháng.
Vậy, theo KINH:
Mậu nhật kị
逢戊子, 戊寅, 戊辰, 戊午, 戊申, 戊戌. 此六戊日. 不可烧香诵经. 不动土, 不砍伐, 不鸣钟鼓法器. 犯之神明拷身. 罪咎极大. 不可不慎.
Phùng Mậu tý, Mậu dần, Mậu thìn, Mậu ngọ, Mậu thân, Mậu tuất. Thử lục Mậu nhật. Bất khả thiêu
hương tụng kinh. Bất động thổ, bất khảm phạt, bất minh chung cổ pháp khí. Phạm chi thần minh khảo thân. Tội cữu cực đại. Bất khả bất thận.
(Thần Tiên qui định những ngày Mậu tiên giới hồi triều tấu thiện ác, nhân gian không tụng kinh ,động thổ hoặc làm việc lớn sẽ không tốt)
( http://thantienvietnam.com/khan-le/1...chan-kinh.html )
=
Mậu nhật kị
逢戊子, 戊寅, 戊辰, 戊午, 戊申, 戊戌. 此六戊日. 不可烧香诵经. 不动土, 不砍伐, 不鸣钟鼓法器. 犯之神明拷身. 罪咎极大. 不可不慎.
Phùng Mậu tý, Mậu dần, Mậu thìn, Mậu ngọ, Mậu thân, Mậu tuất. Thử lục Mậu nhật. Bất khả thiêu hương tụng kinh. Bất động thổ, bất khảm phạt, bất minh chung cổ pháp khí. Phạm chi thần minh khảo thân. Tội cữu cực đại. Bất khả bất thận. (Thần Tiên qui định những ngày Mậu tiên giới hồi triều tấu thiện ác, nhân gian không tụng kinh ,động thổ hoặc làm việc lớn sẽ không tốt)
( http://thantienvietnam.com/khan-le/5...viet-nam-.html )
=
Mậu Nhật Kị
。逢戊子, 戊寅, 戊辰, 戊午, 戊申, 戊戌. 此六戊日. 不可烧香诵经. 不动土, 不砍伐, 不鸣钟鼓法器. 犯之神明拷身. 罪咎极大. 不可不慎.
。Phùng Mậu Tý, Mậu Dần, Mậu Thìn, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Mậu Tuất. Thử lục Mậu Nhật. Bất khả thiêu Hương tụng Kinh. Bất động thổ, bất khảm phạt, bất minh chung cổ pháp khí. Phạm chi thần minh khảo thân. Tội cữu cực đại. Bất khả bất thận.
。Thần Tiên qui định những Ngày Mậu tiên giới hồi triều tấu thiện ác, nhân gian không tụng Kinh, động thổ hoặc làm việc lớn sẽ không tốt.
( http://thantienvietnam.com/khan-le/5...viet-nam-.html )
=> Do đó, 3 Ngày MẬU Âm Lịch trong 1 tháng đều KỴ ( Kiêng Cữ ). Và theo Phong Thủy, Đa phần Các Ngày Mậu chẳng phải là Các Ngày Cát Tường ( May Mắn ) ( Thiết nghĩ, đã hiểu sai Lời Kinh chăng ??? hay ứng dụng theo sự sai chạy của âm tiết ??? )
NGÀY KỴ MẪU HẰNG THÁNG
( Ngày 10-20-30 Âm Lịch hằng tháng )
*Theo:
1. Điện Chủ Điện Địa Mẫu ( tại Sài Gòn ) - Thời Xưa.
2. ĐỨC MẸ DIÊU TRÌ KIM MẪU - CẢM NHẬN TỪ MỘT HUYỀN THOẠI ( Link: http://lysoviet.vn/index.php?threads...E1%BA%A1i.857/ ).
3. LONG HOA ĐẠO VÀNG ( Link: http://www.longhoadaovang.com/Dia_Mau_Chon_Kinh.php / https://drive.google.com/file/d/0B9-...BxQVVJNEk/view )
4. Tụng Kinh Mẫu ngày mậu (Đền Linh Từ - Chùa Pháp Vân) ( Link: https://www.youtube.com/watch?v=ZqpKJD7lCIs )
=> Các Vị trên đây Vía Kỵ Mẫu vào Ngày 10-20-30 Âm Lịch hằng tháng, đa phần Các Vị này đều là Điện Chủ của Điện Địa Mẫu Cả ( Tại Bản Điện riêng của mình ). Thuyết này không biết xuất phát từ đâu ??? từ Nguồn Kinh Địa Mẫu nào ??? Hay tự mình tạo ra sự khác lạ theo truyền thống cũ chăng ???
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/n7abec.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/710956326_m1c9e6.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/710947164_m425d9.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/b3a519.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/157d9d.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/272175.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/32f1eb.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/49f092.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/58cbc8.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/668371.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/73cda5.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/02/17/874983.jpg
( http://blog.xuite.net/hn72818399/twb...81%96%E8%AA%95 / https://wangmu68.wordpress.com/page/2/ )
PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ
Khể thủ quy y tô tất đế, đầu diện đỉnh lễ thất câu chi, ngã kim xưng tán đại chuẩn đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề, câu chi nẫm đát điệt tha, úm, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, sa bà ha
(5 lần)
THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ny đế, ny ha ra đế, tỳ lê lễ đế, ma ha già đế, chân lăng càn đế, sa bà ha
(5 lần)
BẠCH Y THẦN CHÚ
Đát chỉ đá, ám già la phạt đá, già la phạt đá, la già phạt đá, la già phạt đá ta ha, thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly nhân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Quỳ :
Chúc Phật Địa Mẫu Hoàng - Vô Thượng Chan Không Địa Mẫu Huyền Hóa Dưỡng Sinh Bảo Mạng “ Minh Tâm” Chân Kinh Từ Tôn – Đại Từ Tôn
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%E1%BA%A3n-01 )
BẠCH Y THẦN CHÚ
Đát chỉ đá, ám già la phạt đá, già la phạt đá, la già phạt đá, la già phạt đá ta ha, thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly nhân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...B%E1%BA%A3n-01
=
https://issuu.com/nhangianphatquoc/d...thien_giai_ach
=
Hỏa lý Bồ Tát, hỏa bất thiêu, thủy lý Bồ Tát, thủy thượng phù, Thiên la Thần, Địa la Thần, nhơn ly nạn, nạn ly thân, nhứt thiết tai ương hóa vi trần.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT .
---o0o---
CỨU KHỔ SANH KINH.
Nam mô Quan thế Âm Bồ Tát cứu khổ sanh kinh, nam mô Quan thế Âm Bồ Tát.
Dữ Phật hữu nhơn, giữ Phật hữu dương, Phật pháp tương nhơn thường lạc, ngã tịnh triêu niệm Quan thế Âm Bồ Tát, mộ niệm Quan thế Âm Bồ Tát.
Niệm niệm tùng tâm khởi, niệm Phật bất ly tâm, nam mô Quan thế Âm Bồ Tát, cứu khổ cứu nạn.
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng.
ĐÁC CHỈ ĐA, ÁN DÀ RA PHẠT ĐA, DÀ RA PHẠT ĐA, DA RA DÀ PHẠT ĐA, RA DÀ PHẠT ĐA TA BÀ HA.
https://www.facebook.com/hoiphatgiao...98170236931016
======
天罗神,地罗神,人离难,难离身, 切灾殃化吉祥,摩诃般若,波罗密。
http://wenku.baidu.com/view/b9d9b82b...d2b16c11a.html
一切災殃化為塵
一切灾殃化为尘
Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Tất cả tai ương đều hóa giải.
Tất cả các tai họa đều bị xóa bỏ thành cát bụi.
Diệt trừ các tai chướng , khiến chúng trở nên lụi tàn .
一切灾殃化吉祥
( http://wenku.baidu.com/view/b9d9b82b...d2b16c11a.html / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...0N-KINH/page12 )
=
SARVA TITYU BHANDRAVA (Tất cả tai họa) VINĀŚANA (Cắt đứt) KĀRĀYA (Tác, làm)
5. sarvetityu bhandrava(另有梵本作:sarva mrtyu upa-drava)
(十四) 尾(vi)那(nā)捨(śa)曩(na) 迦(ka)囉(rā)耶(ya)
viansana karaya.
sarva mrtyu upa-drava viansana karana.
Sarva Mrtyu Upa-drava Viansana Karana.
Sarva Mrtyu Upa-Drava Viansana Karana.
Sarva Mrtyu Upadrava Vināśana Karāya.
( https://kinhmatgiao.files.wordpress....-phap-kinh.pdf / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...1%BA%BFn/page5 )
==========
7. Trừ Chướng Nạn Thần Chú:
OṂ MAṆI PADME HŪṂ_ SARVA VIGHNĀṂ ŚĀNṬIṂ KURU SVĀHĀ
(OṂ MAṆI PADME HŪṂ. Hãy làm cho tất cả sự chướng nạn được vắng lặng,
để cho con được an lành).
13. Trừ Oan Gia Thần Chú:
OṂ MAṆI PADME HŪṂ_ SARVA ŚATRŪN ŚĀNṬIM KURU SVĀHĀ
(OṂ MAṆI PADME HŪṂ. Hãy làm cho tất cả oan gia được vắng lặng, để cho
con được an lành).
14. Trừ Bất Tường Thần Chú:
OṂ MAṆI PADME HŪṂ_ SARVA DURNI-MITTĀNI ŚĀNṬIṂ KURU
SVĀHĀ
(OṂ MAṆI PADME HŪṂ. Hãy làm cho tất cả điều chẳng lành được vắng
lặng, để cho con được an lành).
https://kinhmatgiao.files.wordpress....ngu-bo-chu.pdf
===========
_Thần Chú trừ Oan Gia:
Oṃ_ sarva mahā-balāya-nāga-rājāya, sarva nāgendrāya, sarva
nāgādhipatāya, sarva nāga-senāya, sarva nāga-devatā-rājāya, sarva nāgagaṇāya,
sarva nāga-devatā-dharma-pālaya, sarva śatūn śāntiṃ kuru svāhā
_Thần Chú trừ sự bất tƣờng:
Oṃ_ sarva mahā-balāya-nāga-rājāya, sarva nāgendrāya, sarva
nāgādhipatāya, sarva nāga-senāya, sarva nāga-devatā-rājāya, sarva nāgagaṇāya,
sarva nāga-devatā-dharma-pālaya, sarva durni-mittāni śāntiṃ kuru
svāhā
_Thần Chú trừ chƣớng nạn:
Oṃ_ sarva mahā-balāya-nāga-rājāya, sarva nāgendrāya, sarva
nāgādhipatāya, sarva nāga-senāya, sarva nāga-devatā-rājāya, sarva nāgagaṇāya,
sarva nāga-devatā-dharma-pālaya, sarva vighnāṃ śāntiṃ kuru svāhā
https://kinhmatgiao.files.wordpress....g-chu-phap.pdf
================
李家仁
小明唸观音
作词:佚名 韦然
作曲:韦 然
编曲:李宝瑜
小明唸观音
小明唸观音
小明明未明
小明倾心听
南无观世音菩萨
南无佛
南无法
南无僧
与佛有因
与佛有缘
佛法相 因
常乐我静
朝念观世音
暮念观世音
念念从心起
念佛不离心
天罗 神
地罗神
人离难
更多更详尽歌词 在 ※ Mojim.com 魔镜歌词网
难离身
一切灾殃化为尘
(一切灾殃化为尘)
小明唸观音
小明唸观音
小明明未明
小明倾心听
佛法相 因
常乐我静
朝念观世音
暮念观世音
念念从心起
念佛不离心
天罗 神
地罗神
人离难
难离身
一切灾殃化为尘
(一切灾殃化为尘)
南无摩诃般若波罗蜜
( https://mojim.com/cny109458x2x12.htm )
白 衣 觀 音 大 士 靈 感 神 咒 (註:紅字是粵語註音)
南無大慈大悲救苦救難廣大靈感觀世 菩薩摩訶薩 三稱三拜
南無佛 南無法 南無僧 南無救苦救難觀世音菩薩
怛垤哆 唵 伽囉伐哆 伽囉伐哆 伽訶伐哆 囉伽伐哆
丹 之 拖 菴 騎 喇 花 多 騎 啊 花 多 騎 啊 花 多 喇 騎 花 多
囉伽伐哆 娑婆訂 天羅神 地羅神 人離難 難離身
喇 騎 花 多 梭 婆 啊
一切災殃化為塵 南無摩訶般若波羅蜜
( http://www.namoamitabha.net/ch/prayb...uanyinpray.htm )
15 - SỚ CÚNG VỚT ĐẤT ( Hoàng Thiên Giáng Phước )
Phục dĩ.
Hoàng Thiên giáng phước quảng khai quyền thật chi môn , Hậu Thổ hưng duyên phổ tế dương cư chi hộ , tam đồ thấu triệt cửu hửu văn tri .
Sớ vị : Việt Nam Quốc ………….. gia cư phụng Phật thượng hương hiến cúng ………….
Thổ Thần liệt vị phủ thùy chiếu giám . Ngôn niệm : Phao sanh thổ trạch hoạch xứ nhân luân , tịch hoàng thiên cái tải chi ân lại Hậu Thổ bao hàm chi đức , cổ hoàng trị thế viên đương dã xứ , huyệt cư cán thị hóa dân tự hửu điêu lương thư đống , sào gia chế tác y thượng cổ chi quy trình , lỗ thị hưng công giáo hạ dân chi cư xứ , tùng tiền bốc trúc ký ninh thiếp ư phương ngung , tự hậu kinh doanh khủng mạo thiên thu cấm kỵ , hoặc phục thi ẩn nặc thần tự tán nhi quỷ tự mê , hoặc cố khí đình lưu địa bất linh nhi bất kiệt , dĩ trí quần tà đề kích quắc quỷ giao xâm , trịch hỏa phao thi sao đăng bôn ảnh , dục kỳ thổ trạch dĩ an ninh kiền trượng Phật từ nhi siêu bạt , tư giả thần duy ……. Nguyệt tiết giới ……….. thiên , trượng mạng thiền lưu khai hành pháp sự ư trung , đặc thiết an ủy Long thần các hồi trấn ư phương ngung , dĩ vệ phò ư gia trạch kim tắc đàn nghi chỉnh túc , phỉ lễ vu trần cẩn cụ sớ văn .
Nhất tâm bái thỉnh :
Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân , Hoàng Thiên Hậu Thổ Tôn Thần , Thổ Phủ chơn Hoàng Đại Đế , Thổ Phủ Cửu luật Đế Quân , Thổ Hoàng Địa Kỳ Tử Anh Phu Nhân , Thái Huyền Dạ Quang Phu Nhân , Bắc Cực Tử Vi Đại Đế , Nam Cực Trường Sanh Đại Đế , Đông Cực thanh hoa Đại Đế , Tam Hà Cửu giang Đại Đế , Âm Phủ Ngũ Đạo Tướng Quân , Thái Giám Bạch Mã Tôn Thần , Kim niên Hành Khiển Đại Vương , Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần , Đương Cảnh Thành Hoàng Đại Vương , Bổn Xứ Thổ Địa Chánh Thần , Khôn Ly Thổ Hỏa Nhị Vị Tiên Nương , Ngũ Hành Liệt Vị Tiên Nương , Lịch Đại Tiên Sư Tôn Thần , Đông Trù Tư Mạng Táo Quân , Ngũ Phương Thổ Công Tôn Thần , Ngũ Phương Long Thần Thổ Địa Trú Trạch Thần Quan , Thập Bát Long Trạch Liệt Vị Tướng Quân , Gia Đường Hương Hỏa Liệt Vị Oai Linh , Bổn Thổ Thổ Địa Phước Đức Tài Thần , Lai Sơn Khứ Thủy Long Mạch Thủy Đạo Thần Quan , Ngũ Chủ Ngung Chi Thần , Môn Thừa Hộ Úy Bát Quái Cửu Cung Thần Quan , Thanh Long Bạch Hổ Châu Tước huyền Võ Câu Trần Đằng Xà Thần Quan , Thổ Thần liệt vị nhất thiết oai linh đồng thùy chiếu giám , cọng giáng cát tường .
Phục nguyện : Hoàng Thiên giáng phước , phước lưu vĩnh vĩnh vô cùng , Hậu Thổ thi ân , ân giáng miên miên bất tận , gia môn thanh cát trưởng ấu hàm an , tụ Đông Tây Nam Bắc chi tài , nạp Xuân Hạ Thu Đông chi lợi . Ngưỡng lại Tôn Thần liệt vị phò trì chi đại lực dã cẩn sớ .
Tuế thứ …………niên …….. nguyệt ……….nhật – thời .
Đẹ tử chúng đẳng hòa nam, thượng sớ .
------------ @ -----------------
http://tamlinhhuyenbi.net/threads/s%...-v%C4%83n.430/
18 - SỚ HỘI ĐỒNG THÁNH MẪU ( Thánh cảnh cao diêu )
Phục dĩ .
Thánh cảnh cao diêu khể thủ cầu vinh hoa phú quý , Thần Tiên quảng đại thành tâm đão phước thọ khang ninh dục cầu trường sanh bất lão tu bằng Tiên Thánh phò trì sớ vị .
Việt Nam Quốc …………….. gia cư phụng Phật Thánh thượng hương …………….
Tứ phủ công đồng ngự tiền chiếu giám . Ngôn niệm : Sanh phùng quý thế hạnh hoạch nhơn luân , hà càn khôn chí đại chí cao công hoành phú tải , cảm Tiên Thánh tối linh tối sảng đức quảng chiếu lâm , tư giả bổn nguyệt cát nhật liệt trần hương hoa đăng trà phẩm , kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái bạch .
- Nam Mô Đại Từ Bi Cứu Khổ Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Chứng Minh .
Cung phụng : Tam nguyên , Tam phẩm , Tam quan , Tam phủ công đồng , Tứ phủ Đại Đế ngọc bệ hạ , Thiên Tiên , Địa Tiên , Sơn Tiên , Thủy Tiên Tôn Vị Thánh Mẫu Châu Cung Hạ , Tây Cung Vương Mẫu Bổn Mạng Chúa Tiên , Thượng Thiên Thiên Y A Na Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Mẫu Châu Cung Hạ , Quản Cai Sơn Nhạc Cửu Châu Lê Mại Đại Vương , Thượng Thiên , Thượng ngàn , Trung Thiên , Thủy Phủ Chư vị Đức Chầu Thánh Nữ , Ngũ Hành Lục Động Bạch Thố Kim Tinh Mộc tinh Thánh Nữ , Tam Động Hỏa Phong Thần Nữ Tiên Bà , Thượng Thiên Nhị Vị Trạng Nguyên Tôn Ông Tôn Thần , Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Chư Vị Hoàng Thái Tử , Chư Vị Công Chúa Thánh Tiền , Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Giám Sát Khâm Sai Thập Nhị Triều Quận , Thập Nhị Cô Nương , Tả Hữu Bá Quan Văn Võ , Thần Liêu Ngũ Lôi Linh Quan , Ngũ Hổ Đại Tướng , Thống cập trì tùng bộ hạ nhất thiết oai linh , đồng thùy chiếu giám cọng giáng cát tường .
Phục nguyện : Thánh đức nguy nguy Tiên cung đảng đảng , tỷ đệ tử biền trăng bách phước , nam sơn thọ khảo ư quy linh , hộ toàn gia hội hiệp , thiên tường Bắc Hải thiêm trù ư hạc toán , ngưỡng lại Phật Thánh phò trì chi đại lực dã cẩn sớ .
Tuế thứ …………… niên ………….. nguyệt ………….. nhật , thời .
---------------------- @ -----------------
http://tamlinhhuyenbi.net/threads/s%...-v%C4%83n.430/
Bhumi-devi (Mother Earth)
http://chimviet.free.fr/truyenky/nqu...ai_nguhanh.pdf
https://www.youtube.com/watch?v=Se3Wr_SDVAg
2013寶林宮~西方地母謁祖活動
https://www.youtube.com/watch?v=e7Sd6ba9ui0
HD.南投縣.埔里鎮(寶湖宮)~天地堂~地母 至尊總廟~0935999282
https://www.youtube.com/watch?v=WMTXKDa-d1A
中天台灣生活館節目仙福堂地母至尊
無極虛空地母至尊娘娘降駕
https://www.youtube.com/watch?v=QWPXqIVu_nk
雲林古坑東和天浩宮無極地母至尊聖 � �千秋2014-12-7
https://www.youtube.com/watch?v=b2YZ9ckF64c
地母演藝團/周一--福德正神老土地MVV
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/438271540_m2d623.jpg
天上聖母 ( Mazu )
( http://blog.xuite.net/yamantaka9999/twblog/122995215 )
本文四咒業於97.7.18鹿港新祖宮的天上 母聖駕,經確認無誤。
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/438271704_m1cc3ed.jpg
【參閱資料】
※(清)《使琉球記》
※(明)《劉家港天妃宮石刻》
※(明)《長樂南山寺天妃之神靈應 》
※明萬曆四十五年(1617年)張燮著《 西洋考》
※南京天妃宮
※靜海寺和天妃宮
※蔡相煇,1989,台灣的王爺與媽祖。 北:台原出版社。
※大甲鎮瀾宮,媽祖生平,見大甲媽 。。
※董芳苑,2003,獨立於中國之外的台 民間信仰:兼論台灣社會宗教人之心 靈重建,見張德麟編;台灣教授協會 國際文化基金會策劃,台灣漢文化之 土化,頁59-78。臺北:前衛。
※黃美英,1994,台灣媽祖的香火與儀 。臺北:自立晚報社文化出版部。
※黃光孝,鄉土教學系列:天后宮巡 。澎湖:彭南國中。
※史明,1992,民族形成與台灣民族。 京:Taiwanese Cultural Grasroots Association。
※張德麟,2003,編者的話,見張德麟 ;台灣教授協會、國際文化基金會策 劃,台灣漢文化之本土化,頁3-5。臺北:前衛。
※中華人,天后媽祖
※徐曉望,1999,媽祖的子民——閩臺 洋文化研究。上海:學林出版社。
※辜神徹,2006,〈臺北盆地與姓氏相 的輪祀組織研究〉,《臺灣文獻》57( 3),頁37-94。
【本尊形象】
天上聖母別稱:媽祖、媽祖婆、娘媽 天后、夫人、妃、天妃、聖妃、通賢 女、靈惠夫人。天上聖母誕辰日為農 曆三月二十三日。天上聖母民間俗稱 媽祖」,名林默娘出生於蒲田縣湄州 人,自小聰穎過人,一心仁慈,見義 勇為,時常救人於危難當中。傳說她 在桃花山中,收服兩位大妖成為侍者 兄叫高明,他眼睛能看到千里之外東 西,弟叫高覺,他的雙耳能聽千里遠 聲音。宋太宗雍熙四年,時林默娘二 八歲,盛裝登山,神化昇天。神化後 的媽祖,是位能佑護海上航行平安的 ,受到廣泛信眾的崇敬禮拜。媽祖神 有豐盈慈祥的中年女性美,兩旁配置 千里眼與順風耳的陽剛美,在神廟中 剛柔的造形之美。
天上聖母不同時期形象
※粉面媽祖
媽祖的臉色十分紅潤,象徵祂成仙之
※黑面媽祖
媽祖的面龐一片漆黑,象徵救苦救難 精神
※金面媽祖
象徵媽祖成仙后的得道之身。
【種 子 字】吽 HUM
【咒文顏色】白色
【日月輪觀】月輪觀
【本尊咒語】嗡‧阿‧利‧也‧蘇‧ ‧哆‧陀‧密‧梭‧哈‧
【羅馬拼音】om‧a‧r‧ya‧su‧r‧ya‧ ta‧ta‧ma‧sva‧ha‧
【漢語拼音】
【本尊咒輪】梵文書寫 Sanskrit
【咒輪排列】由 12 點鐘位置依順時鐘方向右旋排列成咒 。
【本尊介紹】
媽祖是以中國東南沿海為中心的道教 神信仰,又稱天上聖母、天后、天后 娘、天妃、天妃娘娘、湄洲娘媽等。 為媽祖察、聽世情的兩大駕前護衛神 分別為左手持方天畫戟,右手舉至額 做遠視狀的千里眼(又稱金精將軍) ,以及左手持月眉斧頭,右手舉至側 作聽音狀的順風耳(又稱水精將軍)
相傳媽祖俗名默娘姓林,出生於宋朝 或曰五代末年)福建省興化府莆田縣 洲島,一出生則不哭不鬧,因而取名 為默,小名默娘,因此又稱林默娘。 北宋開始神格化,被稱為媽祖並受人 廟膜拜,復經宋高宗封為靈惠夫人, 成為官府承認的神祇。媽祖信仰自福 傳播到浙江、廣東等沿海省份,並向 灣、琉球、日本、東南亞(如泰國、 馬來西亞、新加坡、越南)等地傳佈 天津、上海、南京以及山東、遼寧沿 均有天后宮或媽祖廟分佈。
媽祖離世時鄉人感其治病救人的恩惠 在湄洲島上建廟祀之,這就是名聞遐 的湄洲媽祖廟。祖廟於天聖年間(公 元1023-1032年)擴建,日臻雄偉。明永樂年間 1403年-1424年),航海家鄭和曾兩次奉旨來湄 主持御祭儀式並擴建廟宇。在明朝永 樂年間鄭和下西洋時期,是媽祖信仰 海外傳播的一個高峰。此外,隨著大 而不間斷的華人海外移民活動,媽祖 信仰的傳播範圍更廣、更深,各地華 (尤其是沿海地區)多可見媽祖廟的 影,譬如日本長崎、橫濱的媽祖廟、 澳門媽閣廟、馬來西亞吉隆玻天后宮 菲律賓隆天宮、香港銅鑼灣天后廟。 至於歐洲和美洲也開始有了媽祖廟。 媽祖的影響力由福建湄洲傳播開來, 經千百年,對於東亞海洋文化及中國 海文化產生重大的影響,被學者們稱 為媽祖文化。
2009年10月,媽祖信俗入選聯合國教科 組織人類非物質文化遺產代表作名錄
2011年10月於美國德克薩斯州沃斯堡市 行的國際節慶協會(IFEA)第56屆年會 「世界節日活動之城」評選結果揭曉 ,福建「莆田市湄洲島」成功摘取城 人口10萬以下組別的「世界節日活動 城」桂冠。國際節慶協會主席兼首席 行官史蒂文·施邁德在頒獎詞中說: 國際評審委員會認為,湄洲島社區居 民長期以來都在為辦好節慶活動而共 努力,且能不斷改善城市環境來持續 功舉辦節慶活動,基於以上幾個方面 的考量,授予湄洲島年度大獎。」
【信仰源起】
媽祖的生卒年與家世,史料中有多種 說:
現存關於媽祖最早的文獻,是南宋廖 飛於紹興廿年(1150年)所寫的〈聖墩 祖廟重建順濟廟記〉,謂:「世傳通 神女也。姓林氏,湄洲嶼人。初以巫 為事,能預知人禍福……」據此,媽 祖生前是一個女巫。文中並提到:宣 五年(1123年),「給事中路允迪出使 高麗,道東海。值風浪震盪,舳艫相 者八,而覆溺者七。獨公所乘舟,有 神登檣竿為旋舞狀,俄獲安濟……」 船員說這是湄州女神顯靈,於是路允 返國後上奏朝廷請封,詔賜順濟廟額
南宋李丑父《靈惠妃廟記》:「妃林 ,生於莆之海上湄洲」。
南宋李俊甫《莆陽比事》「湄洲神女 氏,生而靈異」。
(明)張燮《東西洋考》「天妃世居 之湄洲嶼,五代閩王林願之第六女, 王氏。妃生於宋元祐八年三月二十三 日。始生而變紫,有祥光,異香。幼 通悟秘法,預談休咎無不奇中。雍熙 年二十九日昇化。」
(明)嚴從簡《殊域周咨錄》:「按 妃,莆田林氏都巡之季女。幼契玄機 預知禍福。宋元祐間遂有顯應,立祠 於州裡」。
(清)楊俊《湄州嶼志略》:「湄州 大海中。林氏林女,今號天妃者生於 上」。
(清)《長樂縣誌》:「相傳天后姓 ,為莆田都巡簡孚之女,生於五代之 ,少而能知人禍福。室處三十載而卒 。航海遇風禱之,累著靈驗」。
《莆田九牧林氏族譜》則記載媽祖是 安郡王林祿的第二十二世孫女。從南 到清代,絕大多數史料公認天妃姓林 ,生於湄州嶼,自幼有異能。具體生 ,雖只見於《東西洋考》,但早被全 界媽祖信徒奉為媽祖生辰,舉行慶典 。大陸地區最北的媽祖廟,天津娘娘 學者研究指出,媽祖是從中國閩越地 的巫覡信仰演化而來,在發展過程中 吸收了其他民間信仰(千里眼順風耳 。隨著影響力的擴大,又納入儒家、 教和道教的因素,最後逐漸從諸多海 神中脫穎而出,成為中華文化海神的 表。
【歷代褒封】
從宋徽宗到清咸豐皇帝為止,媽祖受 代皇帝褒封多次,由「夫人」、「妃 、「天妃」,直至「天后」。
宋朝
宣和五年1123年,宋徽宗賜「順濟廟額
紹興二十六年1156年,宋高宗封「靈惠 人」
紹興三十年1160年,宋高宗加封「靈惠 應夫人」
乾道二年1166年,宋孝宗封「靈惠昭應 福夫人」
淳熙十二年1184年,宋孝宗封「靈慈昭 崇福善利夫人」
紹熙三年1192年,宋光宗詔封「靈惠妃
慶元四年1198年,宋寧宗封「慈惠夫人
嘉定元年1208年,宋寧宗封「顯衛」
嘉定十年1217年,宋寧宗封「靈惠助順 衛英烈妃」
嘉熙三年1239年,宋理宗封「靈惠助順 應英烈妃」
寶祐二年1254年,宋理宗封「靈惠助順 應英烈協正妃」
寶祐四年1256年,宋理宗封「靈惠協正 應慈濟妃」
開慶元年1259年,宋理宗封「顯濟妃」
景定三年1262年,宋理宗封「靈惠顯濟 應善慶妃」
元朝
至元十五年1278年,元世祖封「護國明 靈惠協正善慶顯濟天妃」
至元十八年1281年,元世祖封「護國明 天妃」
至元二十六年1289年,元世祖封「護國 佑明著天妃」
大德三年1299年,元成宗封「輔聖庇民 著天妃」
延佑元年1314年,元仁宗加封「護國庇 廣濟明著天妃」
天曆二年1329年,元文宗封「護國庇民 濟福惠明著天妃」
至正十四年1354年,元惠宗(元順帝) 「輔國護聖庇民廣濟福惠明著天妃」
明朝
洪武五年1372年,明太祖封「昭孝純正 濟感應聖妃」
永樂七年1409年,明成祖封「護國庇民 靈昭應弘仁普濟天妃」
清朝
康熙十九年1680年,清聖祖封「護國庇 妙靈昭應弘仁普濟天妃」
康熙二十三年1684年,清聖祖封「護國 民妙靈昭應仁慈天后」
乾隆二年1737年,清高宗封「妙靈昭應 仁普濟福佑群生天后」
嘉慶五年1814年,清仁宗封「護國庇民 靈昭應弘仁普濟福佑群生誠感咸孚顯 神讚順垂慈篤祐天后」
道光十九年1839年,清宣宗封「護國庇 妙靈昭應宏仁普濟福佑群生誠感咸孚 顯神贊順垂慈篤祜安瀾利運澤覃海宇 后」
咸豐七年1857年,清文宗封「護國庇民 靈昭應宏仁普濟福佑群生諴感咸孚顯 神贊順垂慈篤祜安瀾利運澤覃海宇恬 宣惠道流衍慶靖洋錫祉恩周德溥衛漕 泰振武綏疆天后之神」
【鄭和與天妃】
明朝永樂年間,三寶太監鄭和帶領二 七千餘官兵,乘百餘艘巨舶,七下西 ;大海茫茫,「烈風陡起,怒濤如山 ,危險至極。舟人驚駭,倉忙無措, 賴神靈顯然臨庇,甯恬無虞」——此 的「神靈」即指天妃。
永樂元年,鄭和出使暹羅國,海上忽 大風,幾百人生命危在旦夕,鄭和祈 天妃救助,忽然一陣香風漂飄來,見 神站立在桅杆上,頓時風平浪靜。
永樂五年(1407年)鄭和下西洋,途中 到颱風,鄭和祈求神靈保佑得平安。 往渤泥國途中、往榜葛剌國也遇到颱 ,祈求神靈保佑後平安。鄭和為了答 天妃的功績,曾奏請朝廷在南京龍江 關建立一所天妃宮,蒙明成祖御賜紀 。鄭和又奏請朝廷在大隊官兵駐紮的 建長樂港建立天妃宮作為官兵祈禱之 所。鄭和船隊聚集在天妃宮下,等候 風出航;出行前鄭和帶領二萬七千餘 兵在天妃宮舉行大規模祭祀典禮,點 燃香燭,供奉犧牲,祈求神靈保佑。
鄭和官兵登船後要奉獻仙師酒,念祝 「五更起來雞報曉,卜請娘媽來梳裝 …弟子一心專拜請,湄州娘媽降臨來 。急急如律令」。
鄭和船中供奉天妃,晝夜香火不斷, 船專設司香一名,不管其他事務。每 清晨舶主帶領船員向天妃娘媽頂禮。
宣德七年1431年,鄭和奉聖旨往湄洲嶼 妃宮拜祭。
鄭和每次下西洋回國,必定新修各處 妃宮,或擴修殿堂,或種植青松翠竹 在南京靜海寺、太倉天妃宮,鄭和還 栽種特地從西洋帶回來的海棠花。鄭 在劉家港天妃宮和福建長樂南山寺都 天妃紀念石碑,將下西洋的成功,歸 功於天妃的神祐。天妃娘娘成為明朝 軍的守護神。鄭和的二萬七千多名水 多數是從福建、廣東、浙江三個沿海 省份招募來的;他們之中很多回鄉或 居海外,把供奉天妃的信仰傳播出去
【各地的媽祖信仰】
台灣
台灣媽祖信仰
台灣蘇澳鎮南方澳南天宮的純金媽祖 像。
台灣善化慶安宮媽祖神像
媽祖信仰是台灣最普遍的民間信仰之 。由於漢人移民多自大陸渡海而來, 了帶來原鄉信仰及香火外,台灣四面 環海,海上活動頻繁,因此媽祖成為 灣人最普遍信仰的神明之一。無論是 小街莊、山海聚落,還是通都大邑, 都可看到媽祖廟。僅台灣一地,「就 媽祖廟510座,其中有廟史可考者39座 內建於明代的2座,建於清代37座」。
中國大陸
福建
媽祖的誕生地福建是媽祖信仰最盛的 方,僅在媽祖的家鄉莆田一地,就有 下百座的媽祖廟,在民國以前,福建 沿海各府縣,每縣都有幾十座媽祖廟 如今,福建各地的媽祖廟數量仍十分 大,香火旺盛。媽祖文化甚至深入到 內陸的閩西客家山區。福建的媽祖廟 有三座被列為中國全國重點文物保護 位。
然而在文化大革命時期,媽祖信仰遭 嚴重的打擊,許多宮廟和神像被毀。 如媽祖信仰發源地湄州島上的廟宇和 相關文物,就在文革中被摧毀殆盡。 有少數廟宇如莆田文峰宮,在文革時 媽祖神像藏於郊區的古井中,保住了 神像。泉州天后宮則是因為曾被當作 廠使用,因此躲過被摧毀的命運。改 開放後民間信仰逐漸恢復、加上兩岸 交流和統戰因素,媽祖信仰重新活絡 又因為媽祖信仰中獨特的「進香、刈 」習俗,台灣各媽祖廟為求增加本身 與祖廟的連結,紛紛前往湄州捐獻資 興建宮殿或牌樓等建物,使湄州島上 媽祖宗教建築迅速增加。
廣東
廣東省內規模最大的天后宮在番禺南 大角山東南,始建於明代。清朝乾隆 間曾有一次大規模重建,二戰時遭到 嚴重破壞。1994年,由香港著名商人霍 東帶頭捐資重建,1996年建成。而珠 三角洲和潮汕地區有大量的媽祖廟。
江蘇
南京天妃宮位於南京獅子山麓、長江 濱,建於明朝永樂五年。相傳鄭和下 洋遇險,受救於林默,返航歸來上奏 永樂帝而後修建。太倉瀏河天妃宮, 名「天妃靈慈宮」,俗稱「娘娘廟」 宮內立有《通番事蹟碑》,記述了鄭 和下西洋的經過。
宿遷泗陽眾興天后宮,又稱天妃宮, 於眾興鎮騾馬街西首,至今已有300多 的歷史。
蘇州崑山市天后宮
由附近當地台商捐款,在因戰亂而損 的慧聚寺重建而成;媽祖請自臺灣最古
老的媽祖廟鹿港天后宮。重建的崑山 聚寺天后宮建築面積1000多平方米,建 築及神像佈置均採用閩颱風格,為目 大陸最大的閩臺傳統木結構建築形式 天后宮,完全建成後將成為長三角地 區最大的媽祖廟。
浙江
杭州天妃宮的最早記載見自宋《夢粱 》。在清代,分別在武林門、吳山三 觀、孩兒巷有三座
天妃宮。
寧波最早的天妃宮為寧波天妃宮,建 於宋紹熙二年(1191年),後於1950年 於國軍轟炸。清代中晚期,寧波共有 后宮40餘座。目前存有的最著名的天 宮是位於江東區的慶安會館(又名甬 東天后宮)和安瀾會館。
在浙江舟山、溫嶺、玉環、洞頭、南 、蒼南等地,都有媽祖廟。
天津
天津天后宮
舊時,天津新婚者時常至天津天后宮 拜媽祖,以求早得子嗣。天津人心中 媽祖信仰功能與送子娘娘,有相當大 的重疊。
山東
青島天后宮始建於明代成化三年,初 「天妃宮」,是青島市區現存最古老 明清磚木結構建築群。道教廟會天后 宮廟會,俗稱「青島大廟廟會」。
蓬萊境內的蓬萊閣,由龍王宮、子孫 、彌陀寺、天后宮、三清殿、呂祖殿 古建築共同構成。
湖南
湖南芷江天后宮,坐落在湖南芷江縣 舞水河西岸,建於乾隆十三年。
四川
清代乾隆年間以降,伴隨閩粵移民四 ,天后宮在四川各地進行了大規模修 。
山西太谷縣媽祖廟建於清代。
安徽安慶天后宮亦建於乾隆年間。
香港
香港天后廟列表
媽祖在香港皆稱天后,而水上人則稱 為阿媽。香港各地皆有天后廟,其中 佛堂門天后廟在本港至大,立於宋代 ,每年皆有不少漁民聚集進香。香港 外,深圳南頭半島赤灣之上,亦有明 與鄭和有關的赤灣天后廟(明時為天 妃宮),此廟在中華人民共和國成立 ,有不少水上人前往參拜。香港境內 大小天后廟,常以漂浮之說立廟,如 在海岸拾到天后神主牌、木像等,人 就地立廟,奉為神明。這點與福建臺 等地天后廟不同,因為神主乃漂來的 ,各廟無遞屬關係。村與村間的天后 乃獨立個體。例如本村天后節慶,開 功戲,也會請附近村落之天后來觀看 ,而82年3月興建的港鐵港島線車站亦 「天后」命名。
澳門
媽祖在澳門亦相當多人信奉。最顯著 例子,澳門西文名稱「Macau」,即是 「媽閣廟」一詞轉化而來。
日本
媽祖信仰在江戶時代之前已經傳入日 ,茨城縣、長崎縣、青森縣、橫濱等 均有媽祖廟,一些歷史較悠久的媽祖 廟與日本傳統神道結合,成為「天妃 社」,如弟橘比賣神社(弟橘比売神 )、弟橘姫神社(弟橘姫神社)等。 也有以日本神道儀式舉行的「天妃祭 。
琉球
琉球國時代由閩人三十六姓傳入媽祖 仰,較著名的媽祖廟有那霸天妃宮。
泰國
泰國籍貫廣東省華僑信奉「七聖媽( ่าจ้อโป๋)」,曼谷設有多 七聖媽廟,參見四丕耶七聖媽廟。
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/10351b.jpg
http://s2.upanh123.com/2017/04/19/2754b5.jpg
瑤池金母(Golden Mother)
( http://blog.xuite.net/yamantaka9999/twblog/122996429 )
【參閱資料】宗委會頒佈修法儀軌 金母本尊法
【本尊形象】
【種 子 字】月輪觀/白色/吽hum/
【本尊咒語】嗡‧金‧母‧悉‧地‧ ‧
【羅馬拼音】om‧ji‧mu‧si‧ddhi‧hum
【漢語拼音】
【本尊咒輪】梵文書寫 Sanskrit
【咒輪排列】由 12 點鐘位置依順時鐘方向右旋排列成咒
【功德利益】
HOÀNG THIÊN ĐỊA MẪU CHÂN KINH
[ 皇天地母真經 / 皇天地母真真经 ]
( http://thantienvietnam.com/cac-bai-k...chan-kinh.html / http://daogiaothantien.blogspot.com/...n-kinh_17.html )
Nghệ lễ
. Vô Cực Hoàng Mẫu Đại Thiên Tôn.
. 无极皇母大天尊 / 無極皇母大天尊
Quy mệnh
. Vô Cực Hoàng Mẫu Đại Thiên Tôn.
. 无极皇母大天尊 / 無極皇母大天尊
http://s2.upanh123.com/2017/04/20/4b...eca879e646.jpg
( http://k5744038.pixnet.net/blog/post...A4%A9%E5%B0%8A )
本堂供奉之「無極皇母大天尊」
無極皇母大天尊,道教尊稱為太虛九 龜台金母元君;民間俗稱西王母、王 娘娘、無極瑤池金母等;一貫道稱老 母娘、無極老母;信眾則稱金母、母 。
其實人類都知道有一個天地萬物的造 主,只不過各個人種各個地域,有不 的宗教風俗信仰習慣,天主教是信「 天父」,基督教是信「上帝」,回教 信「阿拉真主」,但無論如何這些都 造物主的形相,而母娘不止是造物主 更是孕育萬靈的源頭,母娘是萬物萬 的根源。
道教列瑤池金母仙階極高,僅次於三 道祖(「玉清-元始天尊」、「上清 靈寶天尊」、「太清-道德天尊」) ,統轄三界十方女神,乃女神至尊, 仙之首。在台灣的民間信仰,母娘稱 「瑤池金母」或「王母娘娘」,台灣 的慈惠堂道教系統的母娘都尊稱「瑤 金母」;德配坤元,養育群生統轄三 十方、五嶽河海、為道教最崇高的女 神。
「無極老母」是一貫道的主神,認為 無極眾生之母。無極老母,始於無生 母,或說真空老祖宗;古代天地的起 源是從太極界的「一炁化三清」而來 這「一炁」的神就是太上混元鴻鈞老 玄玄上人。但是無極生太極;在這個 宇宙的太極有形世界的源頭,還有一 無極無形的無極靈界,那是宇宙的出 、萬物萬靈的源頭,也就是生命、靈 魂的母源。無極老母也是眾神仙佛的 頭出處,傳統民間多神化的宗教信仰 內心中總有無極理天的老母娘,「無 極老母娘」象徵五教同源、萬教歸一 是民間傳統多神化宗教思想信仰的整 。
「天地萬物皆母生,四生六道唯母尊 十方三世亦無比,一切都是母安排。
黃母皇母
黃母娘娘 / 皇母娘娘
( http://thegioivohinh.com/diendan/sho...0N-KINH/page12 )
HOÀNG-MẪU NƯƠNG NƯƠNG
1. Hoàng-Mẫu Nương Nương ( 黃母娘娘 ): Là Đức ĐỊA MẪU
2. Hoàng-Mẫu Nương Nương ( 皇母娘娘 ): Là Đức KIM MẪU ( DIÊU TRÌ KIM MẪU )