The Earth Goddess Dṛḍhā Jianlao dishen pin (堅牢地神品) Sa'i lha mo brtan
Printable View
The Earth Goddess Dṛḍhā Jianlao dishen pin (堅牢地神品) Sa'i lha mo brtan
地địa 水thủy 二nhị 司ty 真chân 言ngôn
普phổ 請thỉnh 焰diễm 魔ma 諸chư 部bộ 眾chúng 。 地địa 水thủy 二nhị 界giới 眾chúng 靈linh 祗chi 。
願nguyện 聞văn 密mật 語ngữ 警cảnh 心tâm 通thông 。 同đồng 赴phó 今kim 時thời 清thanh 淨tịnh 會hội 。
南Nam 無mô 三tam 滿mãn 多đa 。 沒một 馱đà 喃nẩm 。 唵án 。 薩tát 羅la 琰Diêm 魔Ma 羅la 。 羅la 左tả 耶da 。 部bộ 即tức 多đa 。 伊y 呬hê 伊y 呬hê 。 娑sa 婆bà 訶ha 。
南Nam 無mô 三tam 滿mãn 多đa 。 沒một 馱đà 喃nẩm 。 唵án 。 惹nhạ 摩ma 隸lệ 。 哆đa 哩rị 哆đa 哩rị 吽hồng 。 娑sa 婆bà 訶ha 。
https://daitangkinh.net/?f=W06n0051/2
黄财神心咒 - 唵 赞巴拉 扎连达耶 梭哈 TU TRÌ HOÀNG TÀI THẦN PHÁP. TRÌ TỤNG KÌ MẬT CHÚ Có khả năng được Tài Thần phù hộ. Năng tăng trưởng Phúc đức Thọ mệnh Trí tuệ Vật chất cập Tinh thượng chi Thụ dụng. Tài nguyên mậu thịnh. Miễn trừ bần cùng Vi Lệnh Mật Thừa hành giả Hữu tư tài hoằng Pháp lợi sinh. Bất bị sinh hoạt sở bức. Có thể An tâm Hướng đạo. Đặc tứ dữ Hành giả Tài lợi Phong túc. Tu trì Hoàng Tài Thần Pháp giả. Phải phát Vô thượng Bồ Đề tâm Cần hành Bố thí. Quảng kết Thiện duyên. Tuyệt đối không được tham lam Tâm thành như nhất. Phát nguyện cứu độ Nhất thiết Nghèo khó chúng sinh Thì Phúc đức càng Bất khả Hạn lượng.Dĩ thử Phát tâm Tu Tài Thần Pháp Mới có khả năng được Viên mãn Phú túc 愿以此功德 回响法界一切事业不顺 资财匮乏之众生 原他们事业顺利 资财丰饶 饶益众生 原愿以此功德 回响 一切工作不顺利的众生 愿一切工作顺利完满完成 无有任何障碍 深信甚深般若 了知心性寂静澈然 如如圆融 本来具足恒河沙妙德 同时在心相上 誓了四相 发圆觉心 畅游如来大寂灭海 变化幻法 度一切幻众幻念 是名报佛恩 事相上 严持戒 广布施 心念佛 与时俱进 弘扬大乘 为迎合当下幻众的妄心 愿成就亿万富翁的天相 从而影响幻众积极学习大乘 发愿往生西方极乐世界 早登佛地 入无余涅磐 阿弥陀佛 佛观自在菩萨 行深般若波罗蜜多时 照见五蕴 皆空 度一切苦厄佛 佛舍利子色不异空 空不异色 色即是空 空即是色 受想行识 亦复如是佛 佛舍利子 是诸法空相 不生不灭 不垢不净 不增不减 是故空中无色无受佛 佛想行识 无眼耳鼻舌身意 无色声香味触法 无眼界 乃至无意识界 无无明佛 佛亦无无明尽乃至无老死亦无老死尽 无苦集灭道无智亦无得以无所得故 佛 佛菩提萨埵 依般若波罗蜜多故心无挂碍 无挂碍故 无有恐怖 远离颠倒佛 佛梦想究竟涅磐三世诸佛依般若波罗 多故得阿耨多罗三藐三菩提佛 佛故知般若波罗蜜多 是大神咒 是大明咒 是无上咒是无等等咒佛 佛能除一切苦真实不虚 故说般若波罗蜜多咒 即说咒曰:佛 佛揭谛揭谛 波罗揭谛 波罗僧揭谛 菩提萨婆诃 摩诃般若波罗蜜多佛
Peter Wong
Peter Wong 2 năm trước
https://theopen.site/theopen/VQ0V8H_...A2%AD%E5%93%88
19. [帝釋天真言] namah samanta-buddhanam: sakraya svaha
https://blog.xuite.net/etazen888/twb...80%5D+om+bhrum
『地主』Bhumipati
地神bhumipati
https://www.weibo.com/p/23041812b283...?mod=zwenzhang
====
唵........部(引)彌鉢底娑嚩(二合引)賀(引)
oṃ............bhūmi-pati svāhā.
https://www.dharanipitaka.net/MDeva/...oXiShouLuo.pdf
Pc: Như lai giáo hữu an úy thổ địa long thần chân
ngôn cẩn đương trì tụng
P. Nhạc độc sơn xuyên chư linh huống. Thế gian thổ
địa chúng long thần.
T. Tài văn tuyên diễn diệu chân ngôn, các chấn
phương ngung sinh hoan hỷ.
Na mô Sinh Hoan Hỷ Địa Bồ Tát, Ma Ha Tát (3 lần)
*An Thổ Địa Chơn Ngôn:
NAMAH SAMANTA BUDDHANAM: OM DHURU DHURU DEVI SVAHA ( 7x )
Phật dạy Thần chú An yên Thổ địa, Thần chú niệm rằng.
Đồng quê, rừng núi tiếng chuông vang.
Thổ địa, Long thần khắp Thế gian.
Lắng nghe tuyên Chân ngôn kỳ diệu
Các phương xa xứ đều mừng vui.
Na mô Hoan Hỷ Địa Bồ Tát, Ma Ha Tát (3 lần)
*An Thổ Địa Chơn Ngôn:
NAMAH SAMANTA BUDDHANAM: OM DHURU DHURU DEVI SVAHA ( 7x )
https://www.facebook.com/thayquycoct...6532485168093/ / https://taaonamtri.wordpress.com/201...an-tieng-viet/
Long Vương
(s: nāgarājaḥ, 龍王): âm dịch là Na Già La Nhã (那伽羅惹), là vị có uy đức nhất trong loài rồng. Tương truyền rằng khi đức Phật đản sanh, có 2 vị Long Vương tên Nan Đà (s: Nanda, 難陀) và Bạt Nan Đà (s: Upananda, 跋難陀) xuất hiện rưới nước thanh tịnh tắm cho ngài. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có đề cập 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật thuyết pháp như Nan Đà (s: Nanda, 難陀), Bạt Nan Đà (s: Upananda, 跋難陀), Ta Già La (s: Sāgara, 娑伽羅), Hòa Tu Cát (s: Vāsuki, 和修吉), Đức Xoa Ca (s: Takṣaka, 德叉迦), A Na Bà Đạt Đa (s: Anavatapta, 阿那婆達多), Ma Na Tư (s: Manasvin, 摩那斯), Ưu Bát La (s: Utpalaka, 優鉢羅). Quyển 1 của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經) thì nêu tên 7 vị Long Vương. Các vị này thường có thể làm cho mây nỗi và ban mưa, khiến cho chúng sanh tiêu tan sự nóng bức. Ngoài ra, theo Tăng Hộ Kinh (僧護經) cho biết rằng Hải Long Vương (海龍王) đã từng biến thành thân người nữ, xuất gia tu hành, nhưng trong khi ngủ không thể ẩn thân được nên hiện nguyên hình rồng; cho nên đức Phật dạy rằng con rồng lúc mới sanh ra, khi chết, giao cấu, sân hận, ngủ nghĩ thì vẫn giữ nguyên hình của nó, không thể biến hóa thành loài khác được. Đối với Long Vương có 3 điều lo âu: (1) nỗi khổ bị thiêu đốt bởi gió nóng và cát nóng; (2) nỗi lo sợ khi luồng gió ác thổi đến chỗ ở làm cuốn bay cả của báu và xiêm y; (3) nỗi lo sợ bị loài Kim Xí Điểu (金翅鳥, tức Ca Lâu La [s: garuḍa, 迦樓羅]) ăn thịt. Tuy nhiên, loại Long Vương sống trong hồ A Nậu Đạt (阿耨達) thì không có những nỗi khổ này. Ngoài ra, Long Vương còn là tên gọi của một vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc, một trong Tứ Linh, nguyên lai phát xuất từ việc sùng bái Long Thần (龍神) kết hợp với tín ngưỡng Hải Thần (海神). Đại Long Vương có 4 vị, được gọi là Tứ Hải Long Vương (四海龍王), gồm: Nam Hải Quảng Lợi Vương (南海廣利王, hay Nam Hải Long Vương Ngao Khâm [南海龍王敖欽]), Đông Hải Quảng Đức Vương (東海廣德王, hay Đông Hải Long Vương Ngao Quảng [東海龍王敖廣]), Bắc Hải Quảng Trạch Vương (北海廣澤王, hay Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận [北海龍王敖順]) và Tây Hải Quảng Thuận Vương (西海廣順王, hay Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận [西海龍王敖閏]). Trong đó, Đông Hải Long Vương là tối tôn. Trong Thái Thượng Động Uyên Thần Chú Kinh (太上洞淵神咒經) của Đạo Giáo có Phẩm Long Vương (龍王品), tùy theo phương vị mà gọi là Ngũ Đế Long Vương (五帝龍王), hay theo sông biển mà có tên là Tứ Hải Long Vương, theo thiên địa vạn vật mà nêu ra 54 tên Long Vương. Dưới thời vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, nhà vua có hạ chiếu thờ Long Trì (龍池), lập đàn cúng tế, lấy nghi thức tế mưa để cúng tế Long Vương. Đến thời vua Thái Tổ (太祖, tại vị 960-976) nhà Tống lại dùng quy chế nghi cúng tế Ngũ Long của nhà Đường. Vào năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán (大觀) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống, có chiếu chỉ phong tước vương cho Ngũ Long. Thanh Long Thần (青龍神) là Quảng Nhân Vương (廣仁王), Xích Long Thần (赤龍神) là Gia Trạch Vương (嘉澤王), Hoàng Long Thần (黃龍神) là Phu Ứng Vương (孚應王), Bạch Long Thần (白龍神) là Nghĩa Tế Vương (義濟王), Hắc Long Thần (黑龍神) là Linh Trạch Vương (靈澤王). Đến năm thứ 2 (1863) niên hiệu Đồng Trị (同治, 1862-1874) nhà Thanh, nhà vua lại phong cho Vận Hà Long Thần (運河龍神) là Diên Hưu Hiển Ứng Phân Thủy Long Vương Chi Thần (延庥顯應分水龍王之神) và hạ lệnh cho Tổng Đốc quản lý về sông nước lo việc cúng tế. Về chức năng, Long Thần chuyên trách về việc tạo mây ban mưa, làm cho con người được mát mẻ, tiêu trừ nóng bức, phiền não. Theo các sử liệu cho biết, ngày cúng tế Long Thần khác nhau tùy theo truyền thuyết dân gian các nơi. Xưa kia, phần lớn những ngôi đền thờ Long Vương đồng dạng với đền thờ của Thành Hoàng (城隍), Thổ Địa (土地). Mỗi khi gặp gió mưa không thuận hòa, hạn hán kéo dài, hay mưa lâu mà không dứt, người dân thường đến miếu thờ Long Vương dâng hương, cầu nguyện để được phong điều vũ thuận. Trong Bác Dị Ký (博异志), phần Hứa Hán Dương (許漢陽) của (谷神子) nhà Đường có đoạn: “Tác dạ Hải Long Vương chư nữ, cập di muội lục thất nhân quá quy Động Đình (昨夜海龍王諸女、及姨妹六七人過歸 庭, đêm hôm qua các nữ nhân của Hải Long Vương cùng với chị em sáu, bảy người đi ngang về Động Đình).”
http://phatam.org/dictionary/detail/...6/long-vuong/3
佛說安土地龍神經
PHẬT THUYẾT AN THỔ ĐỊA LONG THẦN KINH
Nhĩ thời Thế Tôn dữ Át Nan du vãng Thiên Trúc Quốc Hoa cái Sơn trung. Kiến nhất Lão nhân Thân trường cửu xích. Đầu đới tam sơn chi mạo. Phát mi thương lang. Yếu triền tào điều. Túc đạp tào phục. Thủ chấp khô mộc chi trượng. Đại chúng hàm kinh
Nhĩ thời Thế Tôn vấn lão nhân viết : Hà phương Thánh giả ? Cư thử sơn trung. Như hà đạo đức.
Lão nhân đáp viết: Ngã thị Hoa cái Sơn Thần Thổ địa. Cửu cư sơn trung. Thượng thông Thiên Cơ. Hạ sát Địa giới trung. Tri nhân tình Thượng hạ giới trung Sài lang mãnh hổ điểu thú Côn trùng xích quán Đế vị. Cư quốc Cư gia
Nhân dân trú trạch Vị chi Ngũ phương Long Thần Thổ địa Thổ quỷ Thổ công Thổ kị Thổ phụ Thổ mẫu Nhị thập tứ phương. Vị chi nhị thập tứ hướng. Nhị thập bát Tướng Thổ địa chi Thần.Thị Ngổ sở quản.
Tại sơn trung Vị chi Sơn Thần thổ địa .
Tại nhân gian. Vị chi Trú trạch Thổ địa.
Tại Tự quan Vi chi Già Lam thổ địa.
Tại Châu phủ Vi chi Thành Hoàng thổ địa. Quán nhân thiện ác Chư hữu tình trai giới bố thí phần hương điền đăng. Trì tụng thử kinh Hoạch Phúc vô lượng. Hựu vu Giáp Tý Canh Thân nhật.Ngộ đồng Ngũ ôn Sứ giả tuần du Sao trát thân trượng Thiên tào định kỳ thiện ác Bộ thư Chi sự. Thành Ngã thệ nguyện cứu khổ chúng sinh.
Thế Tôn đáp viết: Thiện tai Thiện tai! Nhược hữu Thiện nam Tín nữ Chướng trĩ mộng trung điên đảo. Kinh cầu bất lợi. Tửu Thố xâm bại. Đa tao thương tổn. Khách tử lưu vong.Trầm thi phục thắc. Quỷ thần não loạn. Tụng trì thử kinh Kỳ tai tức diệt. Nhược nhân năng đọc tụng thử kinh Hoạch phúc vô lượng. Nhiễm tàm bội trạng. Tửu thố hương nồng. Tiền tài mãn quí. Hòa cốc phong nhiêu. Ngưu Trư Kê Khuyển Dương mã Lục súc thành đàn. Thương mại thuận lợi. Mua bán hưởng thông. Sở cầu như ý. Sở nguyện tòng tâm.
Ngã thuyết thị ngữ. Chân thực bất hư. Nhữ đẳng chúng sinh Tín thụ Phụng hành. Tức thuyết chân ngôn viết : Nam mô tam mãn đá Một đà mẫm Úm Độ rô độ rô Địa vĩ Tát bà ha.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phât. 3 biến
Đăng phụng hiến biến chiếu hướng Nhân gian
Đạt Ma truyền lai Khai ngũ diệp
Đăng đăng tương tục Bất hội nhàn tòng
Thử phá U quan. Chư Tôn nạp thụ thử vi thành
Nhất điểm tam phong Suy bất diệt
Thốn tâm Vạn Kiếp trấn trường minh
Tứ chúng bảo An ninh
Đại Thánh Phổ Quang Vương Bồ Tát
Đăng quang biến chiếu Nguyệt tam canh.
Mãn thụ Ngân Đăng triệt dạ minh.
Trản trản lưu quang lăng Bạch thư.
Chi chi thổ vựng xán Kim Tinh
Lan cách viễn chiếu thông Vô gián
Hạc diệm cao dương Trúc hữu tình.
Nhậm thị bát phong suy Bất diệt.
Kim tương nhất điểm phá U minh.
Phục dĩ Nhị khí sơ phân minh. Tam tài định vị. Điển phương ngung chi Bát quái. An thượng hạ chi Tứ duy. Đảo dĩ toại thông. Cầu chi tất ứng.
Kim vi Đệ tử mỗ đẳng Cung bằng sám tạ. Vọng tứ hộ trì. Tì bách phúc dĩ biền trăn. Sử chư tai chi điển liệt.
Phục nguyện: Long Thần mật hựu. Thổ Địa khuông phù. Bảo hương ấp dĩ an ninh. Hộ đàn na nhi lợi lạc. Ngưu Trư ích tráng. Hòa cốc phong đăng. Niên niên Pháp giới hưng long. Thế thế Thiền môn đỉnh thịnh. Phàm tâm ngưỡng vọng. Thánh Đức diêu thông. Chiêm đối Thần Minh kiền thành tán hiến.
Cẩn nhiên Đông phương Thần Đăng chiếu triệt Chấn cung Mão vị. Cúng dưỡng Bản tự thập bát Long Thần. Hộ giáo Già Lam Chân Tể nhất thiết Uy Linh đồng thùy chiếu giám.
Phục nguyện : Thập bát Long Thần tùy Vị Thứ
Ngũ phương Thánh Đức trấn duy ngung
Thủy tiêu hoành họa dữ tai truân
Nội tập Phúc tường tinh Cát khánh.
Đăng chúc dĩ nhiên Kiền thành bái hiến
Cẩn nhiên Nam phương Thần Đăng chiếu triệt Li cung Ngọ vị. Cúng dưỡng Bản tự thập bát Long Thần. Hộ giáo Già Lam Chân Tể nhất thiết Uy Linh đồng thùy chiếu giám.
Phục nguyện : Xán xán đăng quang huy Hỏa đức
Hoàn hoàn Chính khí Diệu Li cung
Chư tai chúng khổ Tận tiềm tiêu.
Bách Phúc thiên tường tăng tứ tập
Đăng chúc dĩ nhiên Kiền thành bái hiến.
Cẩn nhiên Tây phương Thần Đăng chiếu triệt Đoài cung Dậu vị. Cúng dưỡng Bản tự thập bát Long Thần. Hộ giáo Già Lam Chân Tể nhất thiết Uy Linh đồng thùy chiếu giám.
Phục nguyện : Tạp như huân chưng câu đãng địch
Tinh đàn cấu uế Tất quyên trừ
Khuông phù giáo Pháp vĩnh xương long.
Hội tập Thiền môn tăng đỉnh thịnh.
Đăng chúc dĩ nhiên Kiền thành bái hiến.
Cẩn nhiên Bắc phương Thần Đăng chiếu triệt Khảm cung Tí vị. Cúng dưỡng Bản tự thập bát Long Thần. Hộ giáo Già Lam Chân Tể nhất thiết Uy Linh đồng thùy chiếu giám.
Phục nguyện : Bát Nhã thiện căn hưng Phúc quả.
Bồ Đề trí chủng Kết lương duyên
Tứ thời Bát tiết Tập trinh tường
Vạn tải thiên xuân Mông Phúc lợi
Đăng chúc dĩ nhiên Kiền thành bái hiến.
Cẩn nhiên Trung Ương Thần Đăng chiếu triệt Tứ duy Thượng hạ. Cúng dưỡng Bản tự thập bát Long Thần. Hộ giáo Già Lam Chân Tể nhất thiết Uy Linh đồng thùy giám cách
Phục nguyện : Pháp giới trang nghiêm Tăng tráng lệ
Hương dân hưởng mĩ Vĩnh xương long.
Niên niên Nguyệt nguyệt tống chư tai.
Tuế tuế Thời thời nghênh bách Phúc.
Đăng chúc dĩ nhiên Kiền thành bái hiến.
Thị nhật nhiên thử Ngũ phương đăng giả Thượng triệt Thiên cung Bảo Điện. Hạ cùng Địa phủ U quan. Phàm hữu hôn mê Tất giai lãng diệu. Viên bằng Thánh giáo. Nhiên điểm Minh đăng. Khả dĩ khứ ách nạn hung ương. Khả dĩ trợ Phúc tường Cát khánh. Do lự quang minh biến chiếu U hiển nan thông. Bất bằng Ngã Phật chi Chí Linh Hạt sử mê đồ chi Phổ chiếu. Giáo hữu Phổ cúng dưỡng chân ngôn cẩn đương trì tụng : Úm nga nga nẵng Tam bà phạ phiệt Nhiệt la hộc
Nguyện Hoàng đồ củng cố. Đế đạo hà xương. Phật nhật tăng huy. Pháp luân thường chuyển. Phong điều vũ thuận. Quốc thái dân an. Gia gia Nhân nhân đắc an khang. Xứ xứ hưởng Thái bình an ổn.
Nguyện Thành Hoàng Thổ Địa Long Thần Già Lam Chân Tể Thính tụng chân ngôn.
Nguyện Chúng Phật tử Thân cung tráng kiện Mệnh vị diên trường. Tảo thành Phật đạo.
Nguyện Việt Nam quốc Địa Linh Nhân kiệt. Bách Phúc biền trăn. Chư tai tiêu diệt.
Nguyện nhất thiết Vong linh Cô hồn Ngạ quỷ đẳng chúng Côn trùng Thảo mộc Thấp hóa Loãn thai Xuẩn động hàm linh. Thính Pháp văn Kinh. Vãng sinh Tịnh thổ.
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát tiêu tai giáng Phúc
佛說安土地龍神經
PHẬT THUYẾT AN THỔ ĐỊA LONG THẦN KINH
爾時世尊 與阿難遊往天竺國 華蓋山中 見一老人身長九尺 頭戴三山之帽 鬢眉蒼浪 腰缠皂絛 足踏皂履 手執枯木之仗 大眾咸驚
爾時世尊問老人日:何方聖者 居此山中如何道德。
老人答曰我是華蓋山 山神土地久居山中 上通天機 下察地界中 知人情上下界中豺狼猛虎鳥獸昆蟲赤 �帝位 居國居家人民住宅 謂之五方龍神土地土鬼土府土公土忌 �父土母。二十四方謂之二十四向。 � ��八將土地之神是吾所管。在山中 之 山神土地. 在人間謂之住宅土地。在寺觀謂之伽 �土地。在州府謂之城隍土地。觀人 � �� 若諸有情齋戒布施焚香燃燈持誦此經 獲福無量。又於甲子庚申日。吾同五 �使者巡遊 抄扎申扙天曹定其善惡簿書之事,成 �誓願救苦眾生
世尊讚曰:善哉 善哉 若有善男信女瘴痔夢中顛倒 經求不利 酒醋侵敗 多遭傷損客死流亡 沉屍伏忐 鬼神惱亂 誦持此經其災卽滅 若人能读颂此經 獲福無量 冉蠶倍妝 酒醋香濃 錢財滿柜禾穀豐饒 牛豬鷄犬羊馬六畜成群 商賈順利 買賣享通 所求如意所願从心。我說是語。真實 �虛。汝等眾生 。信受奉行。卽說真言曰。南無三滿 � 沒馱喃 唵度嚕度嚕 地尾薩婆訶。
南無釋迦牟尼佛 三称
燈奉獻徧照向人間 達摩傳來開五葉。燈燈相續不會閑從 此破幽關。諸尊納受此微誠。一點八 �吹不滅。寸心萬劫 鎮長明。四眾保安寧。大聖普光王菩 � 燈光遍照月三更。滿樹銀燈徹夜明 盞盞流光夌白書。枝枝吐暈粲金星蘭 �遠照通無間。鶴焰高揚燭有情 任是八風吹不滅。今將一點破幽冥。 �以二氣初分明 三才定位 奠方隅之八卦 安上下之四維 檮以遂通 求之必應
今為弟子某等恭憑懺謝 望賜護持。俾百福以駢臻。使諸災之 �滅。伏願龍神密佑。土地匡扶。保 � ��以安寧。護檀梆而利樂。牛豬益 。 禾穀豐登。年年法界興隆。世世禪門 �盛。凡心仰望。聖德遙通。 瞻對神明。虔誠讚獻。
謹燃東方神燈。照徹震宮卯位。供養 �寺十八龍神護教伽藍真宰一切威靈 � ��照鑒。伏願十八龍神隨位次。五 聖 德鎮維隅。水消橫禍與災屯 內集福祥并吉慶。燈燭己燃虔誠拜獻
謹燃南方神燈。照徹离宮午位。供養 �寺十八龍神。護教伽藍真宰一切威 � ��垂照鑒。伏願燦燦燈光輝火德。 桓 正氣耀離宮。諸災眾苦盡潛消 百福千祥增錫集 燈燭已然虔誠拜獻
謹燃西方神燈 照徹兌宮酉位。供養本寺十八龍神。 �教伽藍真宰一切威靈同垂照鑒。伏 � ��茹葷蒸俱蕩滌。 腥壇垢穢悉蠲除。匡扶教法永昌隆。 �集禪門增鼎盛 燈燭已燃虔誠拜獻
謹燃北方神燈 照徹坎宮子位。供養本寺十八龍神。 �教伽藍真宰 一切威靈同垂照鑒。伏願般若善根興 �果。菩提智種結良因。四時八節集 � �� 萬載千春蒙福利 燈燭巳燃 虔誠拜獻
謹燃中央神燈 照徹四維上下。供養本寺十八龍神。 �教伽藍真宰 一切威靈同垂鑒格。
伏願法界莊嚴增壯麗。鄕民享美永昌 �。年年月月送諸災。歲歲時時迎百 � ��灯燭己燃 虔誠拜獻
是日燃此五方燈者 上徹天宮寶殿 下窮地府幽關。凡有昏迷 悉皆朗耀 爰憑聖教 燃點明燈 可以去厄難凶殃 可以助福祥吉慶猶慮光明不遍 幽顯難通 不憑我佛之至靈 曷使迷途之普照 教有普供養真言谨当持颂: 唵 俄俄曩三婆 缚伐日啰斛
願皇圖鞏固 帝道遐昌 佛日增輝 法轮常轉。風調雨順 國泰民安家家人人得安康 處處享太平安稳
願當境城隍土地龍神伽藍真宰 聽誦真言
弟子住持本寺 願身躬壯健 命位延長 早成佛道。願全国地靈人傑 國泰民安 百福駢臻,諸災消滅。願一切亡灵恶 �孤魂等众昆蟲草木 濕化卵胎蠢動含靈 聽法聞經 往生淨土。
南无阿弥陀佛 南无观世音菩萨消灾降福
Kỉ niệm ngày QUAN ÂM BỒ TÁT THÀNH ĐẠO 19 / 6/ GIÁP NGỌ 2014
PHẬT TỬ CHÙA AN ĐÀ HẢI PHÒNG* DIỆU HIỀN KÍNH PHỤNG
Dịch
37 tuần
Ảnh hồ sơ của Hien Dieu
Hien Dieu
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quan Tự Tại Bồ Tát. Hành thâm Bát Nhã ba la mật đa thời.
Chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Độ nhất thiết khổ ách
Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không Không bất dị sắc Sắc tức thị không Không tức thị sắc Thụ tưởng hành thức Diệc phục như thị
Xá Lợi Tử ! Thị chư Pháp không tướng. Bất sinh bất diệt Bất cấu bất tịnh Bất tăng bất giảm Thị cố không trung vô sắc Vô thụ tưởng hành thức Vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý Vô sắc thanh hương vị xúc pháp Vô nhãn giới Nãi chí vô ý thức giới Vô vô minh Diệc vô vô minh tận Nãi chí vô lão tử Diệc vô lão tử tận Vô khổ tập diệt đạo Vô trí diệc vô đắc Dĩ vô sở đắc cố Bồ Đề tát đóa Y Bát Nhã ba la mật đa cố Tâm vô quải ngại Vô quải ngại cố Vô hữu khủng phố Viễn li điên đảo mộng tưởng Cứu kính Niết Bàn Tam Thế Chư Phật Y Bát Nhã ba la mật đa cố Đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề Cố tri Bát Nhã ba la mật đa. Thị Đại Thần Chú. Thị Đại Minh Chú. Thị Vô Thượng Chú Thị vô đẳng đẳng chú Năng trừ nhất thiết khổ Chân thực bất hư Cố thuyết Bát Nhã ba la mật đa chú.
Tức thuyết chú viết : Yết Đế Yết Đế Ba la yết đế Ba la tăng yết đế Bồ Đề tát bà ha Ma ha Bát Nhã ba la mật đa 7 biến
https://upanh1.com/images/Untitled82de9cef91a41de9.png
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%B6%93-)/page4 / https://plus.google.com/105333146765...ts/KoBRYQ4BgHb
NAMÔ THỔ-ĐỊA-VƯƠNG BỒ-TÁT
(南无土地王菩萨)
https://wenku.baidu.com/view/2f1c78e...fc77db202.html
=
南无护法藏菩萨(南无土地王菩萨) (三称)
NAMÔ HỘ-PHÁP-TẠNG BỒ-TÁT ( NAMÔ THỔ-ĐỊA-VƯƠNG BỒ-TÁT ) (Tam Xưng)
https://wenku.baidu.com/view/2f1c78e...fc77db202.html
============
寺院上供仪轨大全_百度文库
https://upanh1.com/images/Untitled9aa6e36711f618d7.png
https://www.mianfeiwendang.com/doc/3...8d9a0f98d2a3/6
佛说土地真经
https://upanh1.com/images/Untitledb2abab2d288af1cc.png https://upanh1.com/images/Untitledbc0f72b95c4355c1.png
南无三满多.没陀喃.唵.多啰多啰.在位 婆诃.
https://wenku.baidu.com/view/63edf2d...ad1f33016.html / https://wenku.baidu.com/view/73f215d...=1549770819244 / http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-3.html
================
佛说土地真经
尔时
世尊.
共同大众.
游于华盖山
中.
见一老人.身长
一丈五尺.
头
戴三
山之帽.
眉
须苍苍之色.
身穿白蓝之衣.腰系皂条之带
.
脚踏双
履.
手执曲
木之杖.
大众险警.尔时世
尊.
问老人曰.
何方圣者.
居此山中.
修何道
德.
老人曰
.
吾是华盖山
中土地
.上
通天机
.下
察地理
.吾
管豺
狼虎豹
.百兽禽
灵.
亦管帝皇.于国于家.及分野外.又为五 龙
神.土神
土府.
土皇.土公土母.土子
土孙.土
家
眷属.十
二方位.二十四向.
三十八神仙将.土将土神.境之神皆是
.吾之所管.吾在山中
.
为山隍土地.
吾在人家.为住宅土地.
吾在田阳稻麦为田头土地。.
吾在朝量为朝头土地
.吾在庙宇为镇坛土地.
吾在庵堂寺观为伽蓝土地.
吾在府省州县为城隍土地.
吾在店肆为
店
中财神土地.
吾
在管人间
寿命长短.富贵贫穷.
察人间善恶.若
有善男信女.持斋布施.烧香念佛
.
敬重三宝孝顺父母种种功德.
每月初三.十三.二
十三.二十六.
吾在下界受人
供
养.若有诵经念佛.
获福无量.凡遇庚申甲子.
吾同吾瘟使者.巡游抄签察人间.善恶轻 重.一同司命五帝灶君.
门神护卫奏
上天庭.定
其善恶.触
犯凶星.
龙
神土地土府土记土禁
将军.太岁皆是.吾之眷属.致
使
人间.不
信者疾病死亡.
官
灾
牢狱.百怪竟起.
盗贼相侵.六畜损伤.它舍不宁.
依梦颠倒.所求不遂财帛耗
散.伏户官
气.鬼魂妖
精.人家作
怪.
发此重
病.如是阿
难.问世尊.
如何免得.
此苦世尊答曰.
善
哉
善哉.
五发誓愿.
救度众生.
一切苦恼.
若有善男信女.
遭受牢狱患
难临身书写此经.严障
消除.
令
诸人生获福无量
.
即说咒曰.南无三满多.没陀喃.唵.多啰 啰.在位娑婆诃.
如是世尊.委老人所说真言曰
.合掌
谛听.若
有
人依此读诵.
一心忏
悔,灾障消除.人民康泰.香火兴隆.神
镇神位.
龙镇龙
方.故传此经.真实不虚.闻佛所说皆大 喜.
信受奉行作礼而退.
http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...ad1f33016.html / http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-2.html
http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-3.html
土地经
https://wenku.baidu.com/view/ef2430e...=1549770570518
土地经
https://wenku.baidu.com/view/ef2430e...=1549770706517
土地经
https://wenku.baidu.com/view/ca782aa...=1549770738606
========
阿弥陀佛佛说土地经
https://wenku.baidu.com/view/e4ba392...=1549770596415
=========
佛说土地真经
https://wenku.baidu.com/view/73f215d...=1549770819244
佛说土地真经
https://upanh1.com/images/Untitledb2abab2d288af1cc.png https://upanh1.com/images/Untitledbc0f72b95c4355c1.png
南无三满多.没陀喃.唵.多啰多啰.在位 婆诃.
https://wenku.baidu.com/view/63edf2d...ad1f33016.html / https://wenku.baidu.com/view/73f215d...=1549770819244 / http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-3.html
================
佛说土地真经
尔时
世尊.
共同大众.
游于华盖山
中.
见一老人.身长
一丈五尺.
头
戴三
山之帽.
眉
须苍苍之色.
身穿白蓝之衣.腰系皂条之带
.
脚踏双
履.
手执曲
木之杖.
大众险警.尔时世
尊.
问老人曰.
何方圣者.
居此山中.
修何道
德.
老人曰
.
吾是华盖山
中土地
.上
通天机
.下
察地理
.吾
管豺
狼虎豹
.百兽禽
灵.
亦管帝皇.于国于家.及分野外.又为五 龙
神.土神
土府.
土皇.土公土母.土子
土孙.土
家
眷属.十
二方位.二十四向.
三十八神仙将.土将土神.境之神皆是
.吾之所管.吾在山中
.
为山隍土地.
吾在人家.为住宅土地.
吾在田阳稻麦为田头土地。.
吾在朝量为朝头土地
.吾在庙宇为镇坛土地.
吾在庵堂寺观为伽蓝土地.
吾在府省州县为城隍土地.
吾在店肆为
店
中财神土地.
吾
在管人间
寿命长短.富贵贫穷.
察人间善恶.若
有善男信女.持斋布施.烧香念佛
.
敬重三宝孝顺父母种种功德.
每月初三.十三.二
十三.二十六.
吾在下界受人
供
养.若有诵经念佛.
获福无量.凡遇庚申甲子.
吾同吾瘟使者.巡游抄签察人间.善恶轻 重.一同司命五帝灶君.
门神护卫奏
上天庭.定
其善恶.触
犯凶星.
龙
神土地土府土记土禁
将军.太岁皆是.吾之眷属.致
使
人间.不
信者疾病死亡.
官
灾
牢狱.百怪竟起.
盗贼相侵.六畜损伤.它舍不宁.
依梦颠倒.所求不遂财帛耗
散.伏户官
气.鬼魂妖
精.人家作
怪.
发此重
病.如是阿
难.问世尊.
如何免得.
此苦世尊答曰.
善
哉
善哉.
五发誓愿.
救度众生.
一切苦恼.
若有善男信女.
遭受牢狱患
难临身书写此经.严障
消除.
令
诸人生获福无量
.
即说咒曰.南无三满多.没陀喃.唵.多啰 啰.在位娑婆诃.
如是世尊.委老人所说真言曰
.合掌
谛听.若
有
人依此读诵.
一心忏
悔,灾障消除.人民康泰.香火兴隆.神
镇神位.
龙镇龙
方.故传此经.真实不虚.闻佛所说皆大 喜.
信受奉行作礼而退.
http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...ad1f33016.html / http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-2.html
http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-3.html
佛说土地真经
https://upanh1.com/images/Untitledb2abab2d288af1cc.png https://upanh1.com/images/Untitledbc0f72b95c4355c1.png
南无三满多.没陀喃.唵.多啰多啰.在位 婆诃.
https://wenku.baidu.com/view/63edf2d...ad1f33016.html / https://wenku.baidu.com/view/73f215d...=1549770819244 / http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-3.html
================
佛说土地真经
尔时
世尊.
共同大众.
游于华盖山
中.
见一老人.身长
一丈五尺.
头
戴三
山之帽.
眉
须苍苍之色.
身穿白蓝之衣.腰系皂条之带
.
脚踏双
履.
手执曲
木之杖.
大众险警.尔时世
尊.
问老人曰.
何方圣者.
居此山中.
修何道
德.
老人曰
.
吾是华盖山
中土地
.上
通天机
.下
察地理
.吾
管豺
狼虎豹
.百兽禽
灵.
亦管帝皇.于国于家.及分野外.又为五 龙
神.土神
土府.
土皇.土公土母.土子
土孙.土
家
眷属.十
二方位.二十四向.
三十八神仙将.土将土神.境之神皆是
.吾之所管.吾在山中
.
为山隍土地.
吾在人家.为住宅土地.
吾在田阳稻麦为田头土地。.
吾在朝量为朝头土地
.吾在庙宇为镇坛土地.
吾在庵堂寺观为伽蓝土地.
吾在府省州县为城隍土地.
吾在店肆为
店
中财神土地.
吾
在管人间
寿命长短.富贵贫穷.
察人间善恶.若
有善男信女.持斋布施.烧香念佛
.
敬重三宝孝顺父母种种功德.
每月初三.十三.二
十三.二十六.
吾在下界受人
供
养.若有诵经念佛.
获福无量.凡遇庚申甲子.
吾同吾瘟使者.巡游抄签察人间.善恶轻 重.一同司命五帝灶君.
门神护卫奏
上天庭.定
其善恶.触
犯凶星.
龙
神土地土府土记土禁
将军.太岁皆是.吾之眷属.致
使
人间.不
信者疾病死亡.
官
灾
牢狱.百怪竟起.
盗贼相侵.六畜损伤.它舍不宁.
依梦颠倒.所求不遂财帛耗
散.伏户官
气.鬼魂妖
精.人家作
怪.
发此重
病.如是阿
难.问世尊.
如何免得.
此苦世尊答曰.
善
哉
善哉.
五发誓愿.
救度众生.
一切苦恼.
若有善男信女.
遭受牢狱患
难临身书写此经.严障
消除.
令
诸人生获福无量
.
即说咒曰.南无三满多.没陀喃.唵.多啰 啰.在位娑婆诃.
如是世尊.委老人所说真言曰
.合掌
谛听.若
有
人依此读诵.
一心忏
悔,灾障消除.人民康泰.香火兴隆.神
镇神位.
龙镇龙
方.故传此经.真实不虚.闻佛所说皆大 喜.
信受奉行作礼而退.
http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...ad1f33016.html / http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-2.html
http://www.wendangku.net/doc/63edf2d...1f33016-3.html
安土地真言南无 三曼陀 婆埵喃 唵 度噜 度噜 毗帝 毗耶 娑婆
예불 문구해설·II
정각스님
2) 오방내외안위제신진언
오방내외안위제신진언(五方內外安慰 神眞言)은 진언 명칭상 동·서·남·북 사방 및 중앙에 위치한, 곧 온 천지에 널려 있는 모든 신들을 편안케 하고 위로코자 하는 진언을 뜻한다.
그런데 여기서 오방(五方)이란 무엇을 말하는가? 이를 설명키 위해 앞서 인용한 『구사론』 중 4개의 대륙[四洲]에 대한 설명을 또다시 들어 말할 필요가 있게 된다.(도표 8, 10. 참조)
그에 의하면 우주의 중심 수미산(須彌山) 밖 철위산(鐵圍山) 안에는 남섬부주·동승신주·서우화주·북구 주라 불리는 4개의 대륙이 널려 있어 이것을 사방(四方)이라 부르며, 그 중앙의 수미산까지를 포함하여 우리는 오방(五方)을 말하게 되는 것이다.
그렇다면 오방내외(五方內外)란 무엇을 뜻하는가? 수평적으로 동·서·남·북·중앙을 포함한 그 상하(上下)까지를 합해 말하는 것으로, 이것은 수미산을 중심으로 한 상?하, 즉 33천의 세계를 포함한 전체 우주의 구성을 뜻하는 말이라 할 수 있다.
그리하여 그 전체 우주에 널려진 모든 신들을 안위(安慰)코자 하는 진언(眞言), “나무 사만다 몯다남 옴 도로도로 지미 사바하(南無 三滿多 沒馱? 唵 度魯度魯 地尾 娑婆訶)”.
이 진언은 내용상 ‘나무 사만다 몯다남(南無 三滿多 沒馱?)’과 ‘옴 도로도로 지미 사바하(唵 度魯度魯 地尾 娑婆訶)’라는 두 부분으로 나뉘어져 있다.
우선 앞부분 ‘나무 사만다 몯다남’은 namah sarva buddhanam 내지 namah samanta buddhanam이라 표기될 수 있는 바, 여기서 ‘나무(namah)’는 namas의 변격동사로 ‘귀의한다’는 뜻을 가진다. 또한 ‘사만다’의 sarva는 ‘일체의’란 형용사, 그리고 samanta는 ‘두루하는’이란 부사로 쓰인다. 그리고 ‘몯다남(buddhanam)’이란 ‘깨달은 자’를 뜻하는 buddha에 복수 여격어미 anam이 붙어진 것이다. 이에 위 문장은 “일체의(또는 두루하는) 깨달은 자들께 귀의합니다”라 번역된다.
한편 뒷부분 진언에 대해, 『칠구지불모준제대명다라니경』에 는 “도솔천(兜率天:아가니슬타천궁)의 비로자나여래와 십지보살이 집회 가운데 준제불모 성자를 청하자 준제보살 성자께서 칠보(七寶)로 장엄한 수레를 타고 계심을 마음으로 생각한 채 ‘옴 도로도로(Om turu turu)’란 묘언(妙言, 眞言)을 세 번 외우라” 하고 있다.
여기서 ‘옴(om)’이란 창조로부터 멸망에 이르기까지 우주의 생성 및 변화를 함축시킨 상징적인 말로, 굳이 번역한다면 “아!” 정도의 감탄사 격으로 이해함이 타당하다고 하겠다. 그리고 ‘도로(turu)’란 ‘달리다’ ‘재촉하다’는 뜻을 갖는 tur의 명령형으로 “달리소서”라 이해될 수 있다. 이에 내용상 이 부분은 “아! (수레를 타고) 달리소서! 달리소서!”라 번역할 수 있게 된다.
또한 『관자재보살여의륜염송의궤』에 의하면 위 진언을 외우자 “이 진언(眞言) 가지(加持:佛의 위신력에 우리 마음을 합치시키는 일)로 말미암아 칠보의 수레가 저 극락세계에 닿아 여의륜관자재보살 및 제 성중 권속들이 에워싸는 가운데 칠보 수레를 타고 도량 가운데 이르러 허공에 머물게 될 것”으로 “모든 성중들께서 ‘지미(地尾)’하시도다”는 내용을 전하고 있다. 여기서 ‘지미(地尾)’는 산스끄리뜨어로 jimi라 표기되며, ‘내려오다’는 뜻의 동사 ji에 능동어미 mi가 붙어 ‘(남을 위해) 내려오다’는 뜻을 갖는다. 그리고 뒷 부분의 ‘사바하(svaha).
이에 오방내외안위제신진언 전체 문구는 “아! (수레를 타고) 달리소서! 달리소서! 내려오시도다! (모든 것 그대로) 이루어지이다!”라 번역될 수 있다. 즉 위 진언은 ‘오방내외, 온 천지에 널려 있는 모든 신들을 편안케 하고 위로코자 하는 진언’이 아닌 ‘준제보살 내지 성중(聖衆)들을 도량에 청해 모시는 진언’으로서 소청진언(所請眞言)의 뜻을 갖는다고 하겠다.
여하튼 이렇듯 진언을 외운 후, 이후 도량송은 개경게(開經偈) 및 개법장진언(開法藏眞言)으로 이어지게 된다.
3) 개경게 및 개법장진언
개경게(開經偈)란 ‘경전을 열어 젖히는 게송’의 뜻으로, 경전 독송에 앞서 우리가 어떤 마음가짐을 가져야 할 것인가를 일러주는 대목이라 할 수 있다. 여기 그 게송을 들어 설명해 보면,
무상심심미묘법(無上甚深微妙法)
백천만겁난조우(百千萬劫難遭遇)
아금문견득수지(我今聞見得受持)
원해여래진실의(願解如來眞實意)
더없이 높고 극히 심오한 미묘한 법
백 천만 겁에 걸쳐 만나기 어려운 바,
내 이제 보고 듣고 받아 지니오니
원컨대 여래의 진실한 뜻을 이해케 하소서
그런데 여기서 겁(劫)이란 무었인가?
겁이란 산스끄리뜨어 kalpa의 음역(音譯) 겁파(劫波)가 줄어서 된 말로, 뜻으로 번역하면 대시(大時)가 된다.
그렇다면 겁의 시간적 길이는 얼마나 되는가. 힌두 신화에 따르면 겁이란 ‘창조신 브라흐마(Brahma)의 하루’를 말하며, 1,000의 마하유가(Mahayuga) 또는 인간의 햇수로는 4,320,000,000년의 기간을 가리키게 된다.
즉 1겁은 43억 2천만 년에 해당한다. 그런데 여기서는 백만 겁이며 천만 겁을 이야기하고 있으니, 그 시간적 길이는 가히 헤아려 볼 수 없는 것이 된다. 그 헤아려 볼 수 없는 영원한 시간, 영겁(永劫)의 시간 가운데 다행히 만나기 어려운 부처님 법 ‘무상심심미묘법’을 보고 듣고 받아 지니니, 원컨대 이번 기회에 여래의 진실한 뜻을 이해했으면 좋겠다는 말로서 개경게(開經偈)는 마쳐지고 있다.
그리고 이후 개법장진언(開法藏眞言) “옴 아라남 아라다(唵 阿羅南 阿羅馱)”를 외우게 되는데, 이것은 ‘법(法)의 창고를 열어젖히는 참된 말’이란 뜻을 가지고 있다. 그러면 이 진언이 뜻하는 바, 그 의미성은 무엇인가?
위의 게송 “옴 아라남 아라다”는 산스끄리뜨어 ‘om aranam arata’를 음역(音譯)한 것으로, 다음과 같이 그 뜻을 풀이할 수 있다.
우선 ‘아라남(aranam)’은 ‘심연(深淵)’의 뜻을 갖는 명사
arana에 대격어미 m이 붙어 ‘심연(깊은 곳)에로’라 해석된다. 한편 ‘아라다(arata)’는 ‘유희(遊戱)하다’는 뜻의 동사 ram의 과거 수동분사로, 개법장진언은 “아! 깊은 곳(진리)에로 (이르러) 유희함을…” 바라는 소망 내지 “아! 깊은 진리를 통달하였음”을 확신하는 상태의 의미로서 이를 해석할 수 있다.
이렇듯 우리의 소망 내지 확신의 어구를 세 번 되풀이한 후 진언 또는 다라니(陀羅尼), 경문(經文) 등을 독송함으로서 도량송의 다음 단계에로 이르게 된다.
http://www.wongaksa.or.kr/webzine/2003/09/04.html
愛子心真言曰
唵知(上)尾知(上)[寧頁]娑嚩(二合引)诃
Om tivitini svaha. 嗡地v地尼斯哇哈.
http://buddhism.lib.ntu.edu.tw/BDLM/...0/T21n1261.pdf
地大(梵pr!thivi^ -dha^tuh!
http://dongshenfofa.top/2/wenku/%E4%...5%B8/a199.html
Quỷ La Sát
29 Tháng Mười 201300:00(Xem: 5750)
Huỳnh Thanh Bình
Quỷ La Sát
https://hoavouu.com/images/file/_t1H...quy-la-sat.jpg
Bà La Sát, cụm từ từng để chỉ những phụ nữ tính khí dữ dằn phổ biến trong khẩu ngữ dân gian. Cũng phổ biến là một nhân vật trong Tây du ký: Thiết Phiến công chúa, vợ Ngưu Ma Vương. Đây là một La Sát nữ luôn mưu sự ăn thịt Đường Tăng. Những thông tin ít ỏi về La Sát như vậy khiến cách hiểu về La Sát rất phiến diện và hời hợt. Bài viết này nhằm cung cấp một số dữ liệu về tín niệm cũng như hình tượng vị La Sát này.
Tín niệm La Sát trong Hindu
La Sát là từ được phiên âm của Rakshasa/ Raksha (Sanskrit) là một sinh vật thần thoại có hình dáng, tính cách của loài người hoặc quỷ thần bất thiện trong Hindu giáo và Phật giáo. Những Rakshasa là yêu tinh hay quỷ, cũng được gọi là kẻ ăn thịt người (Nri-chaksha, Kravyad). Rakshasa cái được gọi là Rakshasi, vị La Sát nữ có hình dáng người này là Manushya-Rakshasi. Trong thần thoại, Asura (Atula/ Phi thiên/ Bán thần) và Rakshasa thường được thay thế, hoán đổi cho nhau, và trong kinh văn Phật giáo, lắm khi đồng nhất La Sát và Dạ Xoa.
Nguồn dữ liệu khác lại cho rằng những Rakshasa không hoàn toàn xấu/ác như nhau, nên có thể phân chia chúng thành ba loại: những sinh vật có hình dáng, kiểu cách giống như Yaksha (Dạ Xoa); kẻ khổng lồ luôn thù địch với các vị thần; và cuối cùng, trong cách hiểu thông thường, Rakshasa là loài ma quỷ yêu tinh thường lui tới các nghĩa địa, phá phách các cuộc tế lễ, quấy nhiễu những người mộ đạo, nhập vào các xác chết, nuốt sống con người và hãm hại nhân loại bằng đủ mọi cách(1).
Chủ tướng của loại Rakshasa cuối cùng này là Ravana, và theo một số nguồn tư liệu, Rakshasa cũng như Ravana thuộc dòng dõi nhà hiền triết Pulastya. Theo một số nguồn dữ liệu khác, Rakshasa hiện ra từ bàn chân thần Brahma. Vishnu Purana cũng cho rằng chúng là con cháu của Kasyapa và Khasa (con gái của Daksha) thông qua con trai của họ là những Raksha. Sử thi Ramayana kể rằng: Khi thần Brahma sáng tạo ra nước, thần đã tạo nên những sinh vật để canh giữ chúng, được gọi là Rakshasa (gốc từ raksh: canh gác/ bảo vệ) và Vishnu Purana đưa ra một nguồn gốc có phần tương tự. Dù có nguồn gốc thần thánh và công năng chính đáng, song Rakshasa trong các sáng tác văn học, trong các sử thi Ấn Độ là những loài/ chủng tộc thô lỗ, man rợ; chúng bị người Arya rất coi khinh.
Hình tướng Rakshasa được miêu tả rất đa dạng, thể hiện qua đoạn trích sau: Khi Hanuman hóa thành con mèo đi vào thành Lanka để do thám, Hanuman đã thấy “những Rakshasa đang ngủ trong những ngôi nhà có mọi hình thù và hình thái khác nhau. Một vài Rakshasa nhìn thật ghê tởm, trong khi một số khác lại rất xinh đẹp. Vài Rakshasa có tay dài và hình dáng kỳ dị: kẻ thì mập béo, người thì gầy còm; vài ba Rakshasa lùn tịt, còi cọc và một vài Rakshasa khác lại cao lớn quá mức. Có Rakshasa một mắt và một số khác chỉ có một tai. Kẻ có bụng bự, quái dị, gớm guốc, ngực treo dốc, răng dài lòi ra, bắp đùi cong khoằm; trong khi một số khác cực kỳ xinh đẹp và ăn vận hết sức lộng lẫy. Vài ba Rakshasa có hai chân, hoặc ba chân, hay bốn chân. Dăm ba Rakshasa có những đầu rắn, lừa, ngựa và voi” (Sử thi Ấn Độ Ramayana).
Rakshasa có nhiều tính ngữ để miêu tả đặc điểm và hành vi: Anusaras, Asaras và Hanushas - “kẻ giết người hay kẻ xúc phạm/ làm tổn thương”; Ishti-pachas - “kẻ cắp đồ cúng tiến”; Sandhya-balas - “tráng kiện/ mạnh khỏe trong chạng vạng”; Kshapatas, Naktan-charas, Ratri-charas, và Samani-shadas - “kẻ đi trong đêm”; Nri-jagdhas hay Nri-chakshas - “kẻ ăn thịt người/ thú ăn thịt đồng loại”; Palalas, Paladas, Palan-kashas, Kravyads - “ăn thịt người”; Asra-pas, Asrik-pas, Kauna-pas, Kilala-pas, và Rakta-pas - “kẻ uống máu”; Dandasukas - “kẻ cắn/ ngoạm”; Praghasas - “háu ăn/ tham ăn”; Malina-mukhas - “mặt đen”... Các tính ngữ đó không chỉ dành riêng cho Rakshasa mà còn dùng chỉ các loài khác(2).
Rakshasa không thấy được đề cập trong thời kỳ Vệ Đà. Trong thời kỳ này chỉ có Asura (Atula/ phi thiên) và Deva (thiên/ thần) được đề cập đến. Một khái niệm được hình thành muộn hơn đã tái phát hiện đặt Asura vào trong nhóm những Rakshasa. Điều này được minh chứng trong thực tế là từ Rakshasa chỉ được sử dụng trong thời kỳ rất muộn sau này mà thôi. Chỉ có thể truy tìm được Asura trong thời Vệ Đà; ở thời đó, Asura và Deva được coi như ngang bằng nhau. Đây là hai lực lượng cùng nhau hợp tác trong việc khuấy Biển Sữa để tìm thuốc trường sinh.
Rakshasa hầu hết được miêu tả như là một quái nhân: xấu xí, dữ tợn, thù địch, chúng to lớn như những ngọn đồi, đen như nhọ nồi, với hai chiếc răng nanh thò ra, những móng tay sắc nhọn giống như vuốt chim và gầm gừ như thú vật. Chúng cũng được mô tả như là kẻ ăn thịt người luôn đói khát, có thể đánh hơi mùi thú vật, con người và thịt. Một vài Rakshasa tàn bạo, hung ác hơn được thể hiện với con mắt đỏ rực, tóc rực lửa, uống máu vốc bằng tay hay từ chiếc sọ người. Thông thường, trong các câu chuyện kể, Rakshasa có thể bay lượn, biến mất, tăng hay giảm kích cỡ. Chúng có hình dáng động vật, con người hay những vật khác. Năng lực biến hóa đó được gọi là Maya.
Trong thế giới của sử thi Ramayana và Mahabharata, Rakshasa là một loài siêu nhiên đông đúc có hình dáng, tính cách con người. Đó là những quỷ, thần Rakshasa và như là những chiến binh, chiến đấu bên cạnh quân lính của cả quỷ và thần. Chúng là những chiến binh hùng mạnh, là một phù thủy bậc thầy và biến hóa khôn lường. Như một kẻ biến hình, Rakshasa mang những hình thể khác nhau, không thể xác định được hình thể thực sự hay tự nhiên của chúng. Như những nhà ảo thuật, Rakshasa có năng lực hiện hình thực sự khi người ta tin vào chúng hay biến hình khi bị xua đuổi. Một vài Rakshasa được cho là những kẻ ăn thịt người; chúng hân hoan, vui sướng khi là kẻ tàn sát trên chiến trường. Đó là những Rakshasa xấu xa, tồi tệ nhất. Đôi khi, chúng phụng sự như là những chiến binh bề tôi cho các vị chủ tướng này hay chủ tướng khác.
Ngoài những chiến binh Rakshasa vô danh, thiên sử thi còn kể những câu chuyện về các Rakshasa xuất chúng, một vài Rakshasa là người hùng, nhưng phần lớn chúng là kẻ hung ác.
Trong Ramayana, cuộc chiến Lanka, cuộc chiến giữa quân Rakshasa (dưới sự thống lĩnh của Ravana) chống lại binh lính Vanara hay đội quân khỉ (thống lĩnh bởi Rama và Sugriva):
- Ravana là một Rakshasa 10 đầu, vua của loài Rakshasa và là kẻ thù sinh tử của Rama, người anh hùng của Ramayana. Ravana bắt cóc vợ hoàng tử Rama - nàng Sita, và nhanh chóng mang nàng về thành Lanka. Do đó, Rama cùng vua khỉ Sugriva đưa đội quân khỉ vây hãm thành Lanka, chiến đấu với Ravana, giải cứu nàng Sita.
- Vibhishana, người em trai của Ravana, là một Rakshasa từ tâm hiếm thấy. Vibhishana là một người đoan chính và chuyên cần trong việc tuân thủ các giáo luật, và ông không bao giờ chệch hướng khỏi con đường ngay thẳng, đạo đức và được soi sáng bởi trí tuệ siêu phàm. Vibhishana đã khuyên Ravana trả lại Sita cho Rama. Nhưng Ravana không nghe theo. Thế là Vibhishana đi theo Hoàng tử Rama để chống lại anh ruột của mình là Ravana. Khi Hoàng tử Rama chiến thắng Ravana, Vibhishana đã lên làm vua xứ Lanka.
- Kumbhakarna là một người anh em khác của Ravana. Một chiến binh đáng sợ và là chủ nhân nhiều pháp thuật. Kumbhakarna ngủ suốt trong phần lớn cuộc chiến Lanka (do lời thỉnh cầu từ thần Brahma về một giấc ngủ dài lâu), nhưng bị Ravana đánh thức để báo về hung tin đỉnh điểm của cuộc chiến. Dẫn đoàn quân rời khỏi kinh thành Lanka tiến đánh Hoàng tử Rama, Kumbhakarna ngay lập tức bị đội quân khỉ tấn công, nhưng điều này chỉ khiến hắn cười nhạo và trút toàn bộ sức mạnh dữ dội vào các quân khỉ. Khi vua khỉ Sugriva tiếp chiến, Kumbhakarna túm lấy Sugriva và kéo lê Sugriva trên chiến trường. Hoàng tử Rama và người em Lakshmana đã dùng những mũi tên bí mật Brahmastra (vũ khí của thần Brahma) để giết chết Kumbhakarna: Kumbhakarna rơi xuống như một cái cây lớn bị chẻ đôi do sét đánh.
Có rất nhiều Rakshasa khác xuất hiện trong Ramayana: Kabandha, Tataka, Surpanakha, Maricha, Subahu, Kha, Indrajit, Prahasta, Akshayakumara, và Atikaya. Tất cả đều là kẻ tài phép và dũng mãnh.
Trong Mahabharata, người anh hùng Bhima của Pandava là sự báo oán của những Rakshasa ngụ nơi rừng rậm. Chúng hay thết cơm, đãi rượu những khách du hành và hãm hại họ.
- Hidimba là một Rakshasa ăn thịt người, bị giết bởi Bhima. Là một kẻ ăn thịt người hung ác với răng dài, sắc nhọn và sức mạnh phi thường, khi Hidimba thấy những người Pandava ngủ trong rừng, hắn quyết định ăn thịt họ. Nhưng hắn đã mắc một sai lầm khi sai người em là Hidimbi đi thăm dò tình hình. Thiếu nữ Hidimbi đã phải lòng chàng Bhima đẹp trai, cô đã cảnh báo với những người Pandava về mối nguy hiểm đang rình rập họ. Tức điên lên, Hidimba đã tuyên bố sẽ giết cả những người Pandava và em gái của mình, nhưng hắn đã bị người anh hùng Bhima đánh bại và giết chết trong một cuộc chiến tay đôi.
Ghatotkacha là con trai của Bhima và Hidimbi. Ghatotkacha, sống với mẹ Hidimbi khi còn nhỏ. Lớn lên, Ghatotkacha có đặc điểm là một người trung thành và khiêm tốn. Ghatotkacha luôn dõi bước đi người cha Bhima. Bất cứ khi nào Bhima nghĩ về Ghatotkacha thì Ghatotkacha luôn xuất hiện. Ghatotkacha được Bhima gọi đến để chiến đấu bên cạnh Pandava trong cuộc chiến Kurukshetra. Ghatotkacha đã sử dụng những năng lực ma thuật của mình và giáng một vố mạnh vào quân đội Kaurava.
Khi đó, vị tướng lĩnh của Duryodhana là Kaurava đã khẩn khoản người chiến binh thần sầu Karna giết chết Ghatotkacha. Khi toàn bộ quân đội Kaurava tiến đến gần và không ngừng tấn công Ghatotkacha từ không trung, Karna đã sử dụng vũ khí thiêng Shakti - được thần Indra ban cho. Đó là loại vũ khí chỉ được dùng duy nhất một lần nên Karna đã giữ gìn nó để dùng trong trận chiến này.
Không thể từ chối Duryodhana, Karna đã sử dụng Shakti chống là Ghatotkacha và giết chết hắn. Và điều đó đã chuyển hướng cuộc chiến tranh. Sau cái chết của Ghatotkacha, vị quân sư Krishna của Pandava mỉm cười, cuộc chiến đã thắng lợi vẻ vang vì giờ đây Karna không còn vũ khí thần thánh để chống chọi Arjuna, chủ tướng của quân Pandava.
- Kamsa là người anh em của Devaki. Kamsa là một Rakshasa độc ác, tàn bạo, kẻ đã giết chết những đứa cháu, con của Devaki vì Kamsa nghĩ rằng hắn sẽ bị giết chết bởi một trong các đứa trẻ này. Vasudeva, chồng của Devaki đã che giấu một đứa con. Và đứa bé đó là Krishna.
- Bakasura là một Rakshasa ăn thịt người trú ngụ nơi rừng rậm. Bakasura gây nên khiếp sợ cho cộng đồng dân cư nơi đây bởi quy định bắt buộc họ phải lần lượt đều đặn dâng cúng thức ăn và hiến tế người. Không may cho Bakasura khi những người Pandava du hành đến vùng đất này, xây dựng nhà cửa, dinh thự và sống cùng với một người Bà-la-môn đến lượt phải dâng cúng thức ăn. Khi người Bà-la-môn và gia đình anh ta tranh cãi ai phải là người hy sinh, Bhima khỏe mạnh, lực lưỡng đã tình nguyện làm vật phẩm dâng cúng. Bhima mang vật phẩm dâng cúng đi vào rừng, song đã ăn hết sạch mọi thứ lễ vật trên đường đi để chọc tức Bakasura và đối mặt chiến đấu chống lại Bakasura dữ tợn. Để kết thúc, Bhima bẻ gãy lưng địch thủ khiến những người dân nơi đây vô cùng kinh ngạc và sửng sốt. Những Rakshasa vùng đất này cũng kéo lại cầu xin Bhima dung tha. Bhima đồng ý với điều kiện chúng phải từ bỏ tục ăn thịt người. Những Rakshasa này đồng ý với lời đề nghị đó và sau đó chung sống hòa bình cùng con người (quyển I: Adi Parva, phần 159-166).
- Kirmira, người anh em của Bakasura, một kẻ ăn thịt người và là chủ nhân của các phép thuật biến hóa. Hắn ta thường đến khu rừng Kamyaka, thết cơm những vị khách du hành. Giống như người anh em, Kirmira cũng mắc sai lầm khi đánh nhau với người anh hùng Bhima của Pandava, người đã giết chết hắn bằng tay không (quyển III: Varna Parva, phần 11).
- Jatasura là một Rakshasa xảo quyệt, hắn ta cải trang thành người Bà-la-môn nhằm lấy cắp vũ khí của người Pandava và cướp đi người vợ Draupadi. Bhima đã ra tay và giết chết Jatasura trong một cuộc chiến đấu tay đôi (quyển III: Varna Parva, phần 156). Con trai của Jatasura là Alamvusha, kẻ đã chiến đấu bên cạnh những Kaurava tại Kurukshetra.
Nói chung, qua các trường hợp được trích dẫn trên, chúng ta thấy Rakshasa trong thế giới sử thi đa phần là ác; song ở đó cũng có những Rakshasa thiện lương, đứng trong hàng ngũ phe chính nghĩa. Tính chất hai mặt này cũng được duy trì trong kinh văn Phật giáo; song ở đây, đa phần các trường hợp là các Rakshasa hồi đầu hướng thiện sau khi được nghe Phật pháp.
Tín niệm La Sát trong Phật giáo
Trong ngữ cảnh văn hóa Hán, Raksasa/ Rakchasas được phiên âm là: La-sát-sa, La-xoa-sa, La-khất-sát-sa, A-lạc-sát-sa. Hán dịch: Khả úy (đáng ghê sợ), Tốc tật quỷ, Hộ giả. Raksasi/ Rakchasis được gọi là La-sát nữ, La-xoa tư, La Sát Tư.
Trong kinh văn Phật giáo thường gặp, La Sát là loài hung thần ác quỷ, loài này hình tướng và mặt mày rất ghê gớm, thích ăn thịt người. Nam La Sát có thân đen, tóc đỏ, mắt xanh; nữ La Sát giống như người phụ nữ xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, chuyên ăn thịt uống máu loài người(3).
Bên cạnh đó, loài quỷ này còn có hình dáng, hoặc là đầu trâu tay người, hoặc có móng chân trâu, hoặc là đầu nai, đầu dê, đầu thỏ v.v... Lại có loại La Sát là ngục tốt ở trong địa ngục, coi việc trừng phạt các tội nhân(4).
Về thần lực, quỷ La Sát có sức thần thông, có thể bay nhanh ở trong hư không, hoặc đi nhanh trên mặt đất, bạo ác đáng sợ(5).
Cảnh giới của chúng ở giữa biển cả và cũng ở rải rác khắp nơi trên đất liền.
Về trú sở, La Sát quốc/Raksasi-dvipa là cõi nước của loài La Sát ăn thịt người. Phẩm Phổ môn, kinh Pháp hoa (đại 9, 56 hạ) ghi: “Nếu có chúng sanh (...) vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của người kia trôi lạc vào nước quỷ La Sát”. Điều này chỉ rằng cõi nước của La Sát ở trong biển cả.
Ngoài ra, theo Hữu bộ Tỳ-nại-da 47, điều Tăng-già-la Quốc trong Đại Đường Tây vực ký 11, nước La Sát nữ tức chỉ cho đảo Tích Lan (còn gọi là đảo Lăng-già/ Lanka). Sở dĩ nói Tích Lan là chỗ ở của La Sát, là gốc từ sự tích Hoàng tử La-ma (Phạn: Rama) vì cứu vợ là Tư-đa (Phạn: Sita) mà tấn công đảo Lăng-già, giết quỷ vương La Sát là La-phạt-nô (Phạn: Ravana). Sự tích này vốn là nội dung của sử thi Ramayana của Ấn Độ nói trên. Loài La Sát này được ghi trong: Phật bản hạnh tập kinh 49, Hữu bộ Tỳ-nại-da 47, Huệ lâm âm nghĩa 7 v.v... Lại nữa, trong kinh Lăng-già (Lankavatara) cũng nói rằng do vua Dạ Xoa thỉnh Phật thuyết pháp trên núi Lăng-già nên lấy tên núi này mà đặt tên cho kinh. Núi này ở biển Nam Hải, cao chót vót nhìn xuống biển cả, chung quanh không có lối vào. Người được thần thông mới vào được. Khi Như Lai thuyết kinh dưới núi, vua Dạ Xoa La Bà Na (Ravana-HTB) và Bồ-tát Ma Đế ngồi cung điện hoa đến thỉnh Như Lai vào núi thuyết pháp(6). Ở đây, chúa chằn Ravana/ La Bà Na hung ác, đại biểu cho phe phản diện trong sử thi Ramayana, đã biết dành sự tôn kính cho Đức Phật và ưa thích thính pháp nghe kinh. Điều cần chú ý là trong các kinh văn khác nhau tuồng như không phân biệt rạch ròi giữa Dạ Xoa và La Sát. Trong thực tế, ở các quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa-tôn giáo Ấn Độ, hầu như Rakshasa (và cả Asura) đều được đồng nhất với Yaksha/ Dạ Xoa - thường gọi tắt là “Yak”, loại sinh vật thần kỳ mà trong dân gian người Việt gọi chung là “Chằn” với nghĩa là loài xấu ác(7). Cách hiểu đó rõ ràng là có khác với tính chất trung tính về La Sát trong truyền thống văn hóa Hindu và trong kinh văn Phật giáo.
Trong Diệu pháp liên hoa kinh, phẩm Phổ môn, có nói rằng: Giả như trong cõi Tam thiên đại thiên này choán đầy bọn quỷ Dạ Xoa và La Sát, có ai kêu tới Quan Thế Âm Bồ-tát, liền được tránh khỏi bọn quỷ ấy; bọn hung ác tàn bạo này chẳng thấy được mình. Thế nhưng, lại cũng có những quỷ La Sát có Bồ-đề tâm: tuy mang lốt quỷ, chớ không còn có lòng quỷ, thường dốc lòng hộ pháp, chở che hộ trợ những bậc tu hành.
Hồi thời Đức Phật Thích Ca, tại xứ Nagarahara, có năm chúng La Sát nữ thường biến hóa ra loài rồng mà phá hại người. Dân chúng đến thỉnh cầu Phật hàng phục. Đức Phật giáo độ, làm cho bọn La Sát cái ấy quy y và trở nên hiền lành(8).
Trong hội Pháp hoa, có mấy La Sát nữ: Lam bà (Lambâ), Tỳ lam bà (Pralambâ), Khúc xỉ (Mâlâkutadanti), Hoa xỉ (Puchpadanti), Hắc xỉ (Matutatchandi), Đa Phát (Kicini), Vô yểm túc (Atchalâ), Trì anh lạc (Mâlâdhari), Cao đế (Kunti), Đoạt nhứt thiết chúng-sanh tinh khí (Sarvasattvândjôhâri), Ha lỵ đế (Hâriti) đến trước Phật, nguyện ủng hộ những vị trì kinh Diệu pháp liên hoa. Và các La Sát nữ đó lại truyền ra mấy câu thần chú. Hễ nhà trì kinh đọc mấy câu thần chú dưới đây, thì khỏi ai phá hại được, dầu là người, thần, yêu quỷ: 1/Y-đề-lý (Ydhêley), 2/Y-đề-dận (Ydhêley), 3/Y-đề-lý (Ydhêley), 4/A-đề-lý (Adhêley), 5/Y-đề-lý (Ydhêley), 6/Nê-lý (Niley), 7/Nê-lý (Niley), 8/Nê-lý (Niley), 9/ Nê-lý (Niley), 10/ Nê-lý (Niley), 11/Lầu-hê (Lauhê), 12/ Lầu-hê (Lauhê), 13/ Lầu-hê (Lauhê), 14/ Lầu-hê (Lauhê), 15/ Lầu-hê (Lauhê), 16/Đa-hê (Dhanê), 17/ Đa-hê (Dhanê), 18/ Đa-hê (Dhanê), 19/ Đa-hê (Dhanê), 20/ Đa-hê (Dhanê)(9).
Ngoài các loại La Sát kể trên, còn có loại La Sát là thần thủ hộ của Phật giáo, gọi là La Sát Thiên(10) (Phạn: Raksasa, Nairrti. Hán âm: Niết-lý-để, Niết-lý-đế, Nhi-lý-để).Vị trời ở góc Tây nam ngoại viện Kim Cang bộ thuộc Mạn-đồ-la Thai Tạng giới và Kim Cang giới. Là một trong các vị trời trấn ở 8 phương, hoặc là 1 trong 12 vị trời. Theo Thập nhị thiên cúng nghi quỹ, thân của vị La Sát này mang giáp trụ, tay phải cầm đao, ngồi trên sư tử trắng. Ngoài ra, La Sát Thiên cai quản phương Tây nam, cho nên phương Tây nam còn gọi là phương Niết-lý-để (Nairiti).
Trong Mạn-đồ-la Thai Tạng giới, thân của La Sát Thiên có màu da người, ngồi trên tòa tròn, mặc áo giáp, mắt tỏ vẻ giận dữ, cánh tay trái thủ ấn La Sát Thiên(11): hướng ra phía ngoài, ngón tay cái ấn lên đầu ngón út và vô danh, ngón trỏ và ngón giữa dựng đứng biểu thị Đao Ấn. Tay phải cầm kiếm, đặt ở bên hông, mũi kiếm dựng đứng. Hai bên, mỗi bên có hai vị Đồng tử.
Bên trái vị La Sát Thiên, phía trước có vị đồng tử tay trái bưng bát, tay phải đặt phía trên bình bát; phía sau có vị đồng tử thân màu da người; ngồi xếp bằng, tay trái nắm lại, tay phải cầm gậy dựng đứng ở đầu gối bên trái. Bên phải vị La Sát Thiên, phía trước là Đồng nữ La Sát, tay nắm lại đặt ở thắt lưng; phía sau là Đồng nam La Sát, thân màu da người, tay phải cầm gậy, tay trái nắm lại đưa đến ngang tai.
Một trong La Sát hướng thiện nổi tiếng trong truyền thống Phật giáo, trở thành đối tượng tôn kính phổ biến là Quỷ Tử Mẫu.
Quỷ Tử Mẫu(12) hay Quỷ Tử Mẫu Thần gốc từ tiếng Phạn: Hariti, Hán âm: Ha-lợi-để, Ca-lợi-đế, Ha-lị-đế mẫu. Hán dịch: Ái tử mẫu, Thiên mẫu, Công đức thiên. Người ta gọi bà là Quỷ Tử Mẫu vì bà sanh ra 500 quỷ con. Quỷ Tử Mẫu là một La Sát nữ, vợ của Pandaka, được gọi Đại quỷ thần vương. Bà có 500 đứa con, bà thích ăn thịt con nít của người. Người ta đến thưa với Phật. Đức Thích Ca bèn chuyển thần lực, bày phương tiện mà giáo độ bà. Bà quy y Phật pháp, tu chứng quả La-hán. Bà có nguyện đi hộ trợ hàng phụ nữ trong cơn sanh sản, nên những kẻ tại gia thường hay trì niệm tên bà khi hữu sự. (kinh Phật thuyết Quỷ Tử Mẫu/ Đại chánh tạng, tập 21).
Tỳ-nại-da tạp sự, quyển 31 có kể chi tiết câu chuyện này như sau: Thưở xưa, tại thành Vương-xá, có một vị Độc Giác ra đời, mới thiết đại hội. Trong ngày đại hội, có 500 người nghe biết, cùng nhau tới dự. Đi dọc đường, họ gặp một người đàn bà chửa chăn bò, bưng thùng sữa. Họ rủ bà đi dự hội. Bà ấy đi theo. Tới nơi, thấy sự vui vẻ, bà ra múa giúp vui, không ngờ bị trụy thai. Thấy vậy, những người kia bỏ đi, để một mình bà chịu đau đớn. Bà liền tìm bán thùng sữa, mua được 500 trái am-ma-la. Ngay lúc đó, vị Độc Giác tới thăm hỏi, an ủi bà. Bà đảnh lễ, dâng trái am-ma-la cúng dường. Bà phát thệ nguyện: “Tôi nguyện sau đây sanh vào thành Vương-xá này, ăn thịt hết những đứa con của những kẻ ở đây”.
Do lời nguyện ấy, sau bà sinh ra làm con gái của quỷ Sa-la-dược-xoa trong thành Vương-xá, kết hôn với Bàn-xà-ca (Pandaka) Dược-xoa. Bà sanh được 500 con. Hàng ngày, bà rình bắt những con trai, con gái ở thành Vương-xá mà ăn thịt. Một hôm, Đức Phật dùng phương tiện giấu một đứa con của quỷ nữ ấy. Bà buồn rầu, đi tìm con. Biết con đang ở bên Phật, bà vào xin Phật. Đức Thế Tôn bảo: “Nhà ngươi có 500 đứa con, mất một đứa còn thương tiếc. Huống chi những người khác chỉ có một, hai đứa mà bị mất con, há chẳng đau xót sao?”.
Phật khuyên quỷ nữ bỏ việc sát sanh. Ngài truyền Ngũ giới cho bà. Bà thành Ưu-bà-di. Bà bạch rằng: “Từ nay tôi không ăn thịt trẻ con, thì phải làm sao?”. Phật dạy: “Nhà ngươi đừng lo. Từ nay trở đi, nơi nào có Thanh văn đệ tử của ta, mỗi khi ăn cơm, đều gọi vời đến tên mẹ con ngươi, chúng ngươi sẽ được no đủ. Nhưng đối với giáo pháp của ta, mẹ con ngươi phải hết lòng bảo hộ, ủng hộ già lam và các Tăng Ni”. Mẹ con bà Ha-lỵ-đế vui vẻ phụng hành.
Do đó, chương Thọ trai quỷ tắc, Nam Hải ký qui nội pháp truyện 1, các chùa ở Tây Vực luôn giữ tập tục cúng tế Quỷ Tử Mẫu ở trước cửa nhà hoặc bên cạnh nhà ăn, đắp hoặc cho vẽ hình người mẹ bế một đứa con thơ, bên dưới có 3 hoặc 5 đứa bé. Mỗi ngày ở trước hình họa này bày cơm ra cúng. Lại có tục nếu có bệnh tật hoặc không sinh con được, xin cơm cúng đó mà ăn thì được toại nguyện. Hình dáng Quỷ Tử Mẫu là hình thiên nữ tay bắt ấn kiết tường.
Như vậy, chúng ta thấy cùng một Quỷ Tử Mẫu thần nhưng có văn liệu gọi là La Sát, nguồn dữ liệu khác lại cho là Dạ Xoa. Trường hợp này tương tự với chằn Alavaka(13): nơi gọi là Dạ Xoa, nơi gọi là La Sát. Thực tế đó có lẽ bắt nguồn từ tính chất đại đồng tiểu dị của hai sinh vật thần quái này. Và trong xứ ta, Dạ Xoa và La Sát một cách phổ biến chung nhất cũng được coi là chằn hay “chằn tinh” trong truyện cổ tích. Có điều thường nghe là “Bà chằn”, “Bà chằn lửa”, “hạn Bà chằn”... mà không nghe ai ai gọi “Ông chằn”. Điều này phải chăng xứ ta tiếp nhận các La Sát nữ từ kinh văn Phật giáo đậm hơn là các ông chằn La Sát dữ dằn trong các sử thi cổ đại Ấn Độ như các quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp văn hóa Ấn Độ ở Đông Nam Á.
Chú thích
(1)(2) Theo Classical dictionary of Hindu mythology and religion geography, history, and literature, John Dowson, M.R.A.S., Rupa. Co, 2004.
(3) (4) (5) (10) Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, Thích Minh Cảnh chủ biên.
(6) Theo Kinh-lăng già tâm ấn, Thích Thanh Từ, Thành hội TP.HCM xb, 1993, tr.8-9.
(7) Trong truyện Dạ Thoa vương (còn gọi là Hồ Tôn truyện - dị bản Ramayana của người Việt, gốc từ Chiêm Thành/ Hồ Tôn) thì chúa chằn Ravana được gọi là “Dạ Thoa vương” (tức Dạ Xoa). Xem Vũ Quỳnh-Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ XV), Đinh Gia Khánh chủ biên & Nguyễn Ngọc San biên khảo và giới thiệu, Nxb. Văn Học, 1990, tr.113.
(8) (9) (12) Theo Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, Nxb. Tổng hợp TP.HCM, 2011.
(11) Theo Toàn tập giải thích các thủ ấn Phật giáo, Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2008.
(13) Theo Nguồn gốc và hình tướng quỷ Dạ Xoa, Huỳnh Thanh Bình, Giác Ngộ Nguyệt san, số 206, tháng 5-2013.
Huỳnh Thanh Bình
https://hoavouu.com/a25012/quy-la-sat
十thập 二nhị 神thần 王vương 真chân 言ngôn
南Nam 無mô 三tam 滿mãn 多đa 。 沒một 馱đà 喃nẩm 。 唵án 。 你nễ 曼mạn 怛đát 囉ra 。 佩bội 殺sát 紫tử 呬hê 。 盧lô 魯lỗ 沒một 馱đà 。 曼mạn 拏noa 囉ra 。 洛lạc 叉xoa 佉khư 羅la 。 達đạt 哩rị 麼ma 羅la 佉khư 。 伽già 毗tỳ 藥dược 。 伊y 呬hê 伊y 呬hê 。 娑sa 婆bà 訶ha 。
( TRANG 6 )
https://daitangkinh.net/?f=W07n0062/1