-
Di Tích Trên Đảo Lý Sơn
January 20, 2017 | No Comments
Đảo Lý Sơn không những có phong cảnh đẹp mà còn có rất nhiều di tích lịch sử mang đậm dấu ấn ngư dân vùng biển và di tích đầu tiên được kể đến…
DI TÍCH ÂM LINH TỰ VÀ MỘ LÍNH ĐỘI HOÀNG SA Ở LÝ SƠN
(QNĐT)- Âm linh tự và mộ lính Hoàng Sa là những di tích nằm trên địa bàn huyện đảo Lý Sơn, cách cảng biển Sa Kỳ 15 hải lý, về phía đông bắc. Những di tích này liên quan đến các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thành lập từ thời các chúa Nguyễn để làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền trên biển, đặc biệt là các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Âm linh tự làng An Hải, một công trình thờ tự đặc biệt
Âm linh tự (nghĩa tự, miếu âm hồn, miếu âm nhơn, am chúng sinh…) là một công trình thờ tự thường gặp ở các làng, xã, xóm, ấp trên khắp đất nước Việt Nam.
Đây là nơi thờ cúng vong hồn những người chết đi nhưng vì nhiều lý do không có ai thừa nhận hoặc không ai biết đến. Họ có thể là một kẻ vô gia cư, không họ hàng thân thích. Cũng có thể họ có gia đình, còn bà con, thân tộc nhưng trên bước đường lưu lạc mưu sinh thình lình gặp tai ương bất trắc hay tật bệnh bất ngờ rồi lìa đời ở một nơi nào đó mà thân nhân chẳng được báo tin, vô tình trở thành những âm linh cô độc…
Âm linh tự làng An Hải
Âm linh tự làng An Hải
Thờ cúng ở Âm linh tự còn có những linh hồn là chiến sỹ trận vong, vì bối cảnh ác liệt của chiến trường nhiều khi xác thân không còn tìm được.
Người xưa gọi chung những đồng loại rơi và tình cảnh như vậy là “thập loại chúng sinh” và dành cho họ mối thương cảm mang đậm tình người. Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng viết bài “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn Chiêu hồn), lưu truyền rộng rãi trong dân gian, thể hiện sự đồng cảm sâu xa giữa những người đang sống với các cô hồn bạc phận.
Trong khi kiến lập đình, chùa để thờ Phật, Thánh, Thần mong cầu duyên, trợ phúc, người xưa cũng không quên dựng miếu vọng, nhang khói cho những cô hồn vất vưỏng còn chưa hóa kiếp, gọi là miếu âm hồn. Cũng có nơi cô hồn thờ chung trong nội thất đình làng, miếu bà tại một gian riêng. Nếu thờ ở ngoài sân thì bàn thờ âm linh được trí ở mặt sau bình phong, hướng đối diện với chính điện đình miếu.
Ngoài ra, nơi cửa Phật, bàn thờ cô hồn cũng được thiết riêng ở hiên phải của chùa, nơi đặt tượng Tiêu Diện Đại sỹ (dân gian gọi là Ông Tiêu), theo thuyết nhà Phật là một hoá thân của Bồ tát Quán Thế Âm làm nhiệm vụ chưởng quản, cứu độ cô hồn. Trong các buổi công phu kinh chiều, nhà chùa đều có cúng thí thực tại gian thờ này với ý nghĩa ban lộc cho những vong linh không người chăm sóc, thiếu vắng khói hương.
Theo quan niệm “Sinh hà, tử thị” (sống sao, chết vậy), trong các ngày lễ tết, cúng giỗ tại đình chùa, miếu tự cũng như ở tư gia đều có mâm cúng cô hồn để an ủi chia sẻ nỗi cô đơn của người bất hạnh.
Ở nhiều tỉnh ven biển miền Trung, trong đó có Quảng Ngãi, hằng năm đến tiết Thanh minh (khoảng tháng 3 âm lịch) người dân tảo mộ và cúng tế các vong linh cô hồn ở các âm linh tự, nghĩa tự, gọi là cúng Thanh minh. Đây là nét khác biệt với cư dân Bắc Bộ, vì ngoài việc cúng cô hồn, cư dân ven biển miền Trung không có tục tảo mộ tổ tiên và ăn tết Thanh minh vào dịp này.
Âm linh tự làng An Vĩnh xây dựng tại một giồng đất cao, thoáng đãng ở thôn Tây xã An Vĩnh, cách cảng Lý Sơn chừng 500m về phía tây. Mặt tiền Âm linh tự nhìn ra hướng nam, trước sân có đài tưởng niệm chiến sỹ trận vong uy nghi bề thế.
Không giống với nhiều âm linh tự, nghĩa tự, miếu cô hồn ở những nơi khác, kể cả nghĩa tự làng An Hải trên cùng huyện đảo, Âm linh tự làng An Hải có mái che, các gian thờ bài trí quy củ, hàng năm tại đây diễn ra khá nhiều nghi lễ long trọng, có sự tham gia của đông đảo dân làng. Đây cũng là nơi lưu giữ nhiều tư liệu quý liên quan đến các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, kể cả những tư liệu là của riêng các gia đình, gia tộc được người dân tin tưởng đem lưu gởi.
Theo lời kể của các bậc cao niên, khoảng đầu thế kỷ XIX, hai làng An Vĩnh và An Hải (nay là xã An Vĩnh và xã An Hải) đã có đình làng và nghĩa tự. Tuy nhiên, đến khoảng thập kỷ 50 của thế kỷ trước, đình làng An Vĩnh bị hư hại, dân làng rước các linh vị thờ thần hoàng, các vị tiền hiền về thờ ở Âm linh tự. Vì vậy, trong hơn nửa thế kỷ, Âm linh tự làng An Hải là nơi sinh hoạt tâm linh, lễ hội dân gian tập trung của cộng đồng cư dân sở tại.
Đặc biệt, vào tiết Thanh minh hằng năm bà con các dòng tộc làng An Hải tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tại Âm linh tự, một nghi lễ đặc biệt nhằm tưởng vọng và tri ân nghĩa liệt sỹ của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải cùng các dân binh, tráng đinh đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tuần phòng trên biển, trú phòng trên các quần đảo, chống trả quân cướp biển để bảo vệ tàu thuyền, ngư dân cùng sự yên lành của làng quê đất đảo.
Sử cũ chép rằng, dưới thời chúa Nguyễn và tiếp sau đó là triều đại nhà Nguyễn, nhà nước phong kiến Việt Nam đã cho thành lập các hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải làm nhiệm vụ tuần phòng trên biển, giong thuyền đến các quần đảo Hoàng Sa và Bắc Hải (Trường Sa) để thu lượm hải vật, sản vật, đo đạt hải trình, cắm mốc và dựng bia minh định chủ quyền đối với các quần đảo này.
Tài liệu, bản đồ, các trang ghi chép của những nhà truyền giáo, nhà buôn, các sỹ quan hải quân và các nhà thám hiểm phương Tây cũng góp phần chứng minh sự hiện diện khá thường xuyên của các lực lượng dân sự và quân sự người Việt tuần phòng trên vùng biển tiếp giáp hoặc cập thuyền đồn trú trên quần đảo Paracels (Hoàng Sa).
Với những người lính làm nhiệm vụ tuần phòng trên đảo Hoàng Sa, ròng rã 6 tháng ròng lênh đênh sóng nước cùng những chiếc thuyền câu (điếu thuyền, tiểu điếu thuyền, di chuyển nhanh, dễ xoay trở trên những vùng biển nhiều rạn san hô), thường xuyên đối mặt với sóng cả, gió to, thì cái chết, dù bất cứ nguyên nhân nào, cũng đồng nghĩa với việc lấy lòng biển bao la làm nơi mai táng hình hài.
Trong hành trang chuẩn bị cho chuyến hải trình dài ngày đến Hoàng Sa, Trường Sa, ngoài những vật dụng thiết yếu dùng cho người đi biển, mỗi thuỷ thủ can trường của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn tự mình chuẩn bị 1đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán, phiên hiệu.
Nếu không may người thuỷ thủ qua đời thì những đồng đội trên thuyền sẽ bó thi hài người xấu số cùng với chiếc thẻ khắc tên vào trong manh chiếu, nẹp dọc 7 thanh tre rồi buộc chặt lại bằng 7 sợi dây mây. Sau một vài nghi thức đưa tiễn giản đơn, thi hài sẽ được đem thả xuống biển.
Đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong trước sân Âm linh tự
Đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong trước sân Âm linh tự
Những người còn sống gởi lên cao xanh lời cầu nguyện mong manh rằng xác thân người bạn thuyền xấu số của họ sẽ trôi dạt vào bờ biển, và nếu may mắn có ai đó vớt được nắm xương tàn thì nhờ chiếc thẻ mà biết tên họ quê quán của con người đã vị quốc vong thân.
Nguyện cầu là vậy nhưng chẳng có mấy khi xác người xấu số trôi dạt được vào trong mé biển. Đó là chưa kể lắm khi cả thuyền hoặc cả hải đội bị bão tố đánh chìm… Cho đến nay người dân Lý Sơn còn truyền tụng nhiều câu ca nói về những hiểm nguy, gian khổ mà người lính Hoàng Sa, Trường Sa phải chịu đựng trong khi thi hành nhiệm vụ:
-Trường Sa đi có về không
Lệnh vua sai phải quyết lòng ra đi
-Hoàng Sa lắm đảo, nhiều cồn
Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây
-Hoàng Sa trời bể mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa
Âm linh tự cũng là nơi ngư dân trước khi ra biển “đi nghề”, hoặc tha phương hành nghiệp đến cầu xin thần thánh và linh hồn cõi khuất phù hộ độ trì để được bình an, được mùa, làm ăn thành đạt. Trở về bình yên sau mỗi chuyến đi biển (đối với ngư dân) hoặc về thăm quê nhà (đối với người sống tha phương) họ cũng mang lễ vật đến đây để làm lễ tạ ơn. Ngoài đóng góp của các dòng tộc và dân làng, cơ ngơi khang trang của Âm linh tự cũng như lễ vật trong các dịp tế lễ có sự đóng góp thành tâm của những người làm nghề biển được mùa hoặc của những người Lý Sơn tha hương thành đạt. Âu cũng là một phong tục đẹp, sâu nặng ân tình, thuỷ chung gắn bó với quê đảo yêu thương.
Từ năm 2010, khi đình làng An Hải được phụng dựng, linh vị thần hoàng, các vị tiền hiền và tử sĩ Hoàng Sa, Bắc Hải được rước về thờ tự ở đình làng. Tuy vậy, vong linh những người lính Hoàng Sa, Bắc Hải vẫn còn được thờ vọng tại Âm linh tự và người dân thường xuyên đến dâng hương hành lễ.
Mộ lính Đội Hoàng Sa –dấu tích tâm linh về những người đi giữ biển.
Trên huyện đảo Lý Sơn cũng như ở nhiều vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi và cả nước có rất nhiều ngôi mộ mà bên trong lòng mộ không có thi hài người quá cố, dân gian gọi là mộ gió.
Mộ gió Chánh đội trưởng Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật
Mộ gió Chánh đội trưởng Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật
Để có ngôi mộ gió cho người bạc mệnh, gia đình phải nhờ đến sự trợ giúp của một pháp sư. Sau xin cúng bái xin phép tổ sư, thầy pháp lên miệng núi lửa trên đảo lấy đất sét đem về, nhào với nước và bông gòn rồi nắn thành hình nhân theo sự mô tả nhân dạng của thân nhân, có kích thước tương tự thân thể người đã khuất.
Cành dâu được chẻ đôi, xếp vào bụng làm xương sườn, đàn ông có 7 nhánh xương, đàn bà thì 9 nhánh. Lại dùng sợi tơ tằm hoặc sợi vỏ cây dâu làm những sợi gân. Các lóng xương sống, xương tay chân đều được làm bằng thân cây dâu.
Hình nhân có đủ lục phủ ngũ tạng, kể cả bộ phận sinh dục. Thầy pháp phải nặn bằng hết số đất sét mang về, không bỏ sót chút nào vì người ta tin rằng số đất này tượng trưng cho da thịt của người chết, để sót lại sẽ làm đau như thể da thịt của họ bị mất mát.
Xong phần nặn hình, thầy pháp dùng lòng đỏ trứng gà phết khắp hình nhân để khi khô đi, lớp lòng trứng trông giống như da người. Tiếp theo đó, người thân mặc quần áo và đồ liệm cho hình nhân, đặt linh vị trên mặt, rồi đưa vào quan tài. Một cỗ thuyền cúng với những mâm lễ vật, vàng bạc và lương thực được đưa xuống biển để dâng lên các vị thần và cúng linh hồn người chết.
Khi các nghi lễ chiêu hồn đã xong, mọi người tin rằng linh hồn người chết đã trở về nhập vào hình nhân. Bà con, dòng họ đặt quan tài xuống huyệt và lấp đất, đắp mồ. Trường hợp không biết ngày mất, người thân sẽ lấy ngày người quá cố ra khơi để làm ngày giỗ, thắp hương tảo mộ như những ngôi mộ bình thường. Nhiều nấm mộ gió được chôn từ hàng trăm năm trước, vì lý do nào đó khi đào lên cải táng, người ta thấy các hình nhân vẫn còn nguyên vẹn.
Linh vị Chánh đội trưởng Hoàng Sa Phạm Văn Biện
Linh vị Chánh đội trưởng Hoàng Sa Phạm Văn Biện
Tương truyền, tục đắp mộ gió của người dân trên đảo bắt đầu cách đây hơn 2 thế kỷ và những ngôi mộ gió đầu tiên là của Cai đội Phạm Quang Ảnh cùng với 24 người lính của hải đội Hoàng Sa do ông chỉ huy. Trong một lần giong buồm ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ, Phạm Quang Ảnh cùng hải đội của mình đã gặp bão, mất tích giữa biển khơi.
Xót thương những con người vì nước quên thân, triều đình sai phái quan quân ra tận đảo làm lễ chiêu hồn cho các tử sĩ. Một vị pháp sư nổi tiếng cũng phụng mệnh theo đoàn người ấy. Ra đến đảo, ông sai người lên núi Giếng Tiền lấy đất sét đem về, rồi tự mình nhào nặn khối đất thành hình nhân 25 người đã chết. Cứ theo lời kể của thân nhân vị pháp sư nặn tượng hình người quá cố, đến khi nào người thân bảo rằng đã giống người chết mới thôi.
Nặn xong 25 tượng đất của 25 người lính, pháp sư lập đàn cúng chiêu hồn ròng rã suốt nhiều ngày đêm, gọi linh hồn các tử sĩ nhập vào tượng rồi sai dân làng đưa đi an táng như người chết bình thường. Cai đội Phạm Quang Ảnh được chôn đầu tiên, sau đó là 24 người lính, xếp thành một hàng gồm 25 nấm mộ.
Trong số những tên tuổi khắc trên bia mộ gió ở Lý Sơn, ngoài Phạm Quang Ảnh, còn có những con người đã được chính sử triều Nguyễn trân trọng ghi danh với chức vụ là Cai đội, Chánh đội Hoàng Sa, như các ông Võ Văn Khiết, Phạm Hữu Nhật… Tuy nhiên rất nhiều ngôi mộ ở đó lại không còn tên tuổi. Họ thực sự là những nghĩa liệt sỹ hy sinh vì nước mà không màng đến việc lưu danh trong sử sách.
Từ bao đời nay, mộ gió của những người lính Hoàng Sa suốt dặm dài lịch sử vẫn được người dân đất đảo hương khói, chăm nom để tỏ lòng tri ân các bậc tiền nhân giữ cõi, bỏ mình trên khói sóng phong ba.
Âm linh tự và mộ lính đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia, theo Quyết định số 41/2007/QĐ-VHTT ngày 3/8/2007.
DI TÍCH LỊCH SỬ CHÙA ĐỤC TRÊN ĐẢO LÝ SƠN
Đến với tour du lịch đảo Lý Sơn, một trong những điểm du lịch nổi tiếng nước ta với cảnh quan thiên nhiên đẹp thơ mộng của biển cả và những món ăn đặc sản hấp dẫn thì trong hành trình khám phá hòn đảo xinh đẹp này di tích lịch sử chùa Đục trên đảo Lý Sơn là một trong những điểm mang không gian bình yên được du khách yêu thích, trở thành điểm du lịch nổi tiếng của đảo với không gian thiêng liêng.
Hiện nay, Di tích chùa Đục nằm tọa lach ở chân núi Giếng Tiền, thuộc thôn Tây, xã An Vĩnh. Đây là một di tích thắng cảnh tại đảo Lý Sơn, nằm ở một vị trí có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, và vẫn còn mang nhiều nét hoang sơ, rất đẹp và rất nên thơ, vì vậy chùa Đục là một nơi lý tưởng cho các Phật tử đến tham quan chiêm bái khi có dịp đặt chân đến đảo Lý Sơn.
Đường từ chân núi lên chùa Đục ở đảo Lý Sơn đã được xây dựng với 139 bậc đá, hai bên có lan can sơn màu trắng và hai bên đường đi còn nhiều cây dứa cổ và cây dương tỏa bóng xanh mát tạo nên con đường đẹp, và hấp dẫn khi bước lên chùa.
chùa đục lý sơn
Trước ngôi chùa Đục là tượng Bồ- tát Quan Thế Âm, một tay bắt ấn, một tay cầm bình nước cam lồ nhìn ra biển cả mênh mông, với ý nghĩa che chở cho người dân nơi đây ngày đêm trên biển và bảo vệ họ trước những cơn bão của biển cả để tạo sự bình an mỗi khi ra khơi. Bức tượng có chiều cao 25m, ngự trên tòa sen trắng, dưới chân tượng là án thờ; xung quanh án thờ có hình bốn con rồng đang giỡn nước. Tượng đứng giữa một khuôn viên hình ngũ giác, xung quanh khuôn viên là lan can màu trắng, nền lát gạch rất khang trang, sạch sẽ và bắt đầu từ dây du khách có thể tiếp tục dạo bước là có thể tới di tích lịch sử chùa Đục.
Khi lên tới điểm du lịch nổi tiếng đảo Lý Sơn- chùa Đục, từ bên ngoài, du khách sẽ tổng thể ngôi chùa uy nghiêm và được hình thành nởi ba động đấ lớn nhỏ khác nhau. Động thứ nhất có không gian rộng và khá cao, bên trong thờ Phật tổ Như Lai, phía bên trái thờ Địa Tạng Bồ-tát, phía bên phải thờ vị tổ khai sơn. Đồng thứ hai ở phía Đông bên trong cũng có đặt bàn thờ Tam thế Phật. và động nhỏ nhất nằm ở phía Tây được gọi là động Viên Giác, đây chính là nơi các nhà sư tọa thiền.
Đến với chùa Đục, một trong những điểm du lịch hấp dẫn đảo Lý Sơn, du khách được thưởng ngoạn những cảnh vật thiên nhiên kỳ vĩ ở xung quanh với biển cả mênh mông trước mặt chùa và cù lao xa xa, và đặc biệt xung quanh được bao bọc bởi những vách đá và những bãi tắm lý tưởng tạo nên cho khung cảnh chùa Đục một vẻ đẹp trữ tình, thoáng mát, hài hòa bởi vậy khi tới đây du khách sẽ cảm nhận được nét yên bình, được thư giãn và cảm nhận thiên nhiên đẹp bình yên, tĩnh lặng và thiêng liêng.
* DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA QUỐC GIA CHÙA HANG Ở ĐẢO LÝ SƠN
Nằm tại xã An Hải, đảo Lý Sơn, tỉnh Quàng Ngãi, di tích lịch sử văn hóa quốc gia chùa Hang ở đảo Lý Sơn là một trong những điểm du lịch không thể bỏ qua khi du khách đặt chân lên hòn đảo xinh đẹp Lý Sơn.
Được thành lập vào thời vua Lê Kính Tông với tên chữ là Thiên Khổng Thạch Tự, nghĩa là Chùa đá trời sinh, tọa lạc tại lưng chừng ngọn núi Thới Lới, là ngọn núi lửa đã ngủ quên cả ngàn năm trên đảo, nằm sâu trong lòng khối nham thạch khổng lồ hình dáng ở thế đang phun trào tạo nên vẻ đẹp uy nghiêm, hùng vĩ cho ngôi chùa Hang đảo Lý Sơn.
chùa hang lý sơn
Là một trong những điểm du lịch nổi tiếng đảo Lý Sơn, chùa hang có chiều rộng bên trong gần 500m2, cao 3,2m và tại chùa được thiết kế xây dựng chi tiết từ ngoài vào trong.
Trước chùa Hang, du khách khi tới đây sẽ thấy bức họa Thiện tài đồng tử và bức tượng Quan Thế Âm bồ tát có hướng nhìn ra Biển Đông. Và khi bước chân từng bước vào bên trong hang đá, giữa thoang thoảng mùi trầm hương, tỏ mờ ngọn nến rọi vào khoảng sáng tối lung linh, du khách sẽ nhìn thấy bệ thờ Tam Thế Phật, Di Đà Tam Tôn và Hoa Nghiêm Tam Thánh ở chính điện và phía bên tả (theo hướng nhìn từ bên ngoài) là bàn thờ Địa Tạng Vương bồ tát, Đạt Ma tổ sư, bên hữu là Quán Thế Âm bồ tát và Thập Điện Diêm vương.
Xung quanh chùa Hang là những vách đá tự nhiên và tất cả tạo nên một thế giới, một không gian huyển ảo, lung linh, thuần khiết và yên tĩnh đến lạ kỳ. Điểm du lịch đảo Lý Sơn- Chùa Hang là quần thể làm say đắm lòng người bởi vẻ đẹp cuốn hút với những bức tượng phật bên trong chùa.
Hơn thức, cảnh chùa Hang ở đảo Lý Sơn mang không gian yên bình, tính lặng tạo sự u tịch là nơi mà con người có thể cảm nhận sự thư giãn, được hoài niệm về những giá trị văn hóa thiêng liêng, đầy cảm xúc để tĩnh lặng gạt bỏ lại cái ồn ào, nhộn nhịp của cuộc sống chính vì vậy khi tới điểm du lịch tâm linh ở đảo Lý Sơn này, du khách sẽ được trải nghiệm khám phá và chiêm ngưỡng những điều tuyệt vời nhất, vẻ đẹp thuần khiết, bình dị và đơn sơ mang đến những điều thư giãn và tâm hồn trở nên nhẹ nhàng hơn với khung cảnh nơi đây. Hãy đến với du lịch đảo Lý Sơn và khám phá những điều lý tưởng đầy ý nghĩa nơi đây cùng gia đình,bạn bè chắc chắn chùa Hang là điểm du lịch không nên bỏ lỡ khi du lịch đảo Lý Sơn.
KHO SỬ QUÝ VỀ HẢI ĐỘI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
Đảo Lý Sơn không chỉ nổi tiếng với các đặc sản từ nông-ngư nghiệp mà còn là một bảo tàng sống động đến ngạc nhiên về kho tàng truyền thuyết, dân ca, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng Hai và tháng ba Âm lịch, các tín ngưỡng dân gian theo mùa…
Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ nhiều tài liệu quan trọng chứng minh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam từ bao đời nay.
Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật quý giá ấy lần lượt được ngành văn hóa-thể thao và du lịch tỉnh Quảng Ngãi cùng các nhà nghiên cứu khoa học sưu tầm và “trình làng” tại Nhà bảo tàng hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa – một trong những địa chỉ hấp dẫn với khách trong cả nước mỗi lần đến với huyện đảo giữa trùng khơi này.
nhà trương bày hải đội Hoàng Sa
Những người đầu tiên dựng bia chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa
Bước vào khuôn viên Nhà trưng bày bảo tàng, hình ảnh đầu tiên khiến bất cứ ai cũng phải chú ý là cụm tượng đài hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa làm bằng chất liệu đá xanh lấy từ tỉnh Ninh Bình, trông sừng sững, uy nghiêm, vĩnh cửu, bất chấp nắng mưa bão tố.
Cụm tượng đài khắc họa hình ảnh vị chỉ huy cùng các binh phu vạm vỡ, cao từ 4-4,5m, mắt đăm đắm nhìn ra biển khơi và đang trong tư thế hiên ngang lên đường thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh hải Tổ quốc.
Người xem đặc biệt ấn tượng với chân dung vị cai đội trưởng một tay cầm giáo, một tay đặt trên cột mốc chủ quyền có dòng chữ “Vạn lý Hoàng Sa.”
Bên cạnh vị chỉ huy là hình ảnh các binh phu mang theo bên mình các phương tiện khai thác sản vật quý hiếm để mang về dâng nộp cho triều đình. Sau lưng tượng đài khắc dòng chữ “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” tạm dịch: Quần đảo Hoàng Sa là nơi cực kỳ hiểm yếu nơi biên giới lãnh hải quốc gia.
Toàn bộ khối tượng đài nặng hơn 40 tấn được đặt trên khối bệ bằng bêtông cốt thép, bên ngoài ốp đá granit. Chính sử ghi rằng năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Nhà vua ra lệnh cho Bộ Công chuẩn bị lo việc phái binh phu đi quần đảo Hoàng Sa để tuần phòng, dựng bia cắm mốc chủ quyền.
Sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhị Kỷ, chép rằng từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tấu vua hằng năm cho cử người ra Hoàng Sa cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền và đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ. Vua Minh Mạng phê chuẩn trong bản tấu của Bộ Công ngày 12/2/1836 rằng “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4,5 thước, rộng năm tấc, dày một tấc làm cột mốc.”
Cụm tượng đài này là hóa thân của các vị chỉ huy nổi tiếng một thời như Phú Nhuận hầu Võ Văn Phú, Hội Nghĩa hầu Võ Văn Khiết, Chánh Thủy quân suất đội Phạm Văn Nguyên, Chánh Thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật, Chánh Thủy quân suất đội Phạm Văn Biện… đã được sử sách lưu danh cùng hàng vạn binh phu trong đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa năm xưa.
Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 có chép về hoạt động của đội Hoàng Sa: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng (đến tháng Tám về), đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm, đến đảo ấy.
Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu như gươm, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và hạng định xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rỗi lĩnh bằng trở về.”
Trong quá trình hoạt động của mình, đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao mà còn hun đúc nên nhiều thế hệ lính Hoàng Sa can trường và dũng cảm đã có công trong việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1815, nhất là đã dựng bia chủ quyền đầu tiên của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1838.
Đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa chính là những người đầu tiên xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục trong nhiều thế kỷ, bắt đầu từ cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 cho đến những năm 50 của thế kỷ 19 và đến nay vẫn còn lưu danh thơm trong sử sách và đọng lại trong trí nhớ dân gian.
Với những kỳ tích đó, các vua nhà Nguyễn đã ban sắc truy phong cho những Cai đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa là “Thượng đẳng thần” và cho những người lính Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa là những “Hùng binh Hoàng Sa.”
Bảo tàng giữa biển
Nhà trưng bày bảo tàng hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa rộng gần 400m2, mái lợp ngói âm dương, nền lát gạch bát tràng. Nơi đây trưng bày hơn 100 tư liệu, hình ảnh quý và nhiều hiện vật sinh hoạt liên quan đến đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa.
Bà Lê Thị Chung, Phó Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi cho biết toàn bộ hình ảnh, tư liệu trưng bày được được chia làm ba nội dung chính: Lý Sơn-Tịnh Kỳ-Quảng Ngãi quê hương của đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa; hoạt động của đội hùng binh Hoàng Sa, Trường Sa và sự tôn vinh của nhân dân huyện đảo Lý Sơn nói riêng, nhân dân cả nước nói chung đối với những hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa; và nhân dân Việt Nam thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
Bước vào nhà trưng bày, một không gian rộng rãi, thoáng đãng với những hình ảnh chấm phá về đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của làng An Vĩnh, xã Tịnh Kỳ; làng An Hải, xã Bình Châu là quê hương của lớp cư dân đầu tiên trong đất liền ra khai phá đảo Lý Sơn làm nên làng quê mới là phường An Vĩnh phụ thuộc làng An Vĩnh và phường An Hải phụ thuộc làng An Hải trong đất liền vào đầu thế kỷ 17. Đây chính là quê hương đã sản sinh nên những người lính Hoàng Sa.
Ở nội dung Lý Sơn-Tịnh Kỳ-Quảng Ngãi quê hương của đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa trưng bày những hình ảnh tiêu biểu của huyện đảo Lý Sơn quê hương của đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa – nơi giàu truyền thống văn hóa, nơi có mạch nguồn văn hóa phát triển liên tục từ văn hóa Sa Huỳnh cho đến văn hóa Chămpa rồi kế đến là văn hóa Việt được hình thành từ đầu thế kỷ 17 với những nét đặc trưng về di tích, di vật, hiện vật của ba tầng văn hóa kế tiếp nhau.
Phần trưng bày về hoạt động của đội hùng binh Hoàng Sa, Trường Sa và sự tôn vinh của nhân dân huyện đảo Lý Sơn nói riêng, nhân dân cả nước nói chung đối với những hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa là nội dung cơ bản và gây ấn tượng nhất của toàn bộ nhà trưng bày.
Ở khu vực trưng bày này, có một khoảng không gian thoáng đãng để thể hiện đặc trưng của đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa. Đó là các phương tiện thuyền buồm dùng để đi biển cùng những đồ vật sinh họat, những vật dụng phục vụ cho việc đi biển, nhất là những vật “tùy thân” hết sức sức đặc biệt như chiếu, đòn tre, dây mây, thẻ tre dùng để bó xác khi chẳng may ai đó trong đội thiệt mạng sẽ được đồng đội bó xác thả xuống lòng biển để mong thân xác người xấu số được làn nước biển đưa về quê hương bản quán.
Bên cạnh cảnh đặc trưng về hoạt động của đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa, phần trưng bày này còn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trưng bày ảnh tư liệu về một số hòn đảo mang tên những Cai đội Hoàng Sa nổi tiếng như đảo Phạm Quang Ảnh, đảo Phạm Hữu Nhật… và những tư liệu cổ sử, tư liện Hán Nôm, các tài liêu nghiên cứu khoa học, bản trích, sa bàn…
Sự chú ý trong việc sắp xếp trưng bày hình ảnh, tư liệu, hiện vật ở khu trưng bày này đã góp phần làm rõ vai trò, nhiệm vụ, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử chính trị của đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa.
Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tâm sự: Nhà trưng bày đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy tác dụng những di sản văn hóa liên quan đến hoạt động của đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa, đạo lý uống nước nhớ nguồn, ghi nhớ công lao của các bậc tiền nhân đối với dân với nước.
Đồng thời, Nhà bảo tàng còn góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau trong việc tiếp nối cha ông giữ vững chủ quyền biển đảo – một bộ phận lãnh thổ rộng lớn và quan trọng, giàu tài nguyên của Tổ quốc và đặc biệt là đối với quần đảo Trường Sa cũng như tiếp tục đấu tranh khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
Bằng nguồn tư liệu, hiện vật xác thực và khoa học, phần trưng bày về nhân dân Việt Nam thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, còn góp phần minh chứng và khẳng định một sự thật lịch sử quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vốn từ lâu là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.
Theo TTXVN
Đình làng An Hải (Hải Yến, Bình Yến, Lý Hải) tọa lạc tại thôn Đông, xã An Hải huyện Lý Sơn, cách trung tâm huyện đảo chừng 3 cây số.
Theo lời kể của các bậc cao niên, đình làng được xây dựng lần đầu vào năm Gia Long thứ 14 (Ất Hợi – 1815) bằng nguyên liệu tre, tranh, gỗ tại địa phương và được dân làng gọi là “Sở Tam phủ”. Sở Tam phủ thờ Thiên Địa, Thánh Thần, Tam Hoàng, Ngũ Đế, 7 vị Tiền hiền, và 24 vị Hậu hiền làng An Hải.
Đình làng An Hải
Đình làng An Hải
Năm Minh mạng nguyên niên (Canh Thìn – 1820), đình An Hải được xây dựng quy mô, bề thế, gồm cả tiền đường và chính điện theo kiểu kiến trúc hình chữ nhị (二) khá quen thuộc của các đình làng miền Trung lúc bấy giờ. Một thời gian sau đó, dọc theo bờ biển, bên tả và bên hữu đình làng, nhiều công trình thờ tự khác dần dần được dựng lên: Chùa Bà, chùa Ông, Nghĩa tự (Âm Linh tự), miếu Thành Hoàng, đền thờ Tiên công, miếu Quỷ, lăng thờ Cá Ông…
Từ năm 1820 đến nay, đình làng An Hải trải qua nhiều đợt tu bổ và xây thêm công trình, vào các năm 1926 (tu bổ), 1938 (xây mới hậu tẩm), 1943 (xây mới chính điện và tiền đường), 1999 (đại tu chính điện và tiền đường), 2007 (đại tu hậu tẩm). Về cơ bản, kiến trúc hiện nay của đình An Hải định hình trong lần trùng tu năm Bảo Đại thứ 18 (Nhâm Thân – 1943), song trong những lần sửa chữa, trùng tu về sau, một số chi tiết kiến trúc đã có sự thay đổi, hoặc mất hẳn.
Nhà thờ tiền hiền làng An Hải
Nhà thờ tiền hiền làng An Hải
Đình làng quay mặt ra biển, theo hướng đông nam, sau lưng là ngọn núi Thới Lới, kết cấu hình chữ tam (三 ) gồm tiền đường, chính điện và hậu tẩm (đình hạ, đình trung và đình thượng) bố trí trên trục đông nam – tây bắc. Phía trước đình có 2 trụ biểu, cao quá đầu người, trên đỉnh mỗi trụ đặt 1 con nghê, ánh mắt nhìn ra khơi xa. Bình phong đắp nổi hình con nghê (mặt ngoài) và long mã (mặt trong), họa tiết đơn giản nhưng đường nét tạo hình mạnh mẽ, sinh động.
Từ trụ biểu, bình phong đi qua khoảng sân rộng thì đến tiền đường. Đây là ngôi nhà có diện tích chừng hơn 100m2, chia làm 3 gian 2 chái, mái sau liền kề với mái nhà chính điện ở phía trong. Tiền đường có lối kiến trúc kiểu xuyên trính, đài lương (còn gọi là nhà đâm trính , nhà chày cối, nhà rường …). Nền nhà có chiều rộng 23 thước ta, chiều dài 32 thước, cao 1 thước so với mặt đất.
Bộ phận chịu lực chủ yếu gồm 18 cột (8 cột cái và 10 cột con) cùng các liên kết xuyên trính. Tám cột cái (bát trụ) làm điểm tựa chủ lực ghép nối với hệ thống kèo thành 4 bộ vì. Các cột hàng nhất, hàng nhì và cột hàng ba trong cùng một vì nối với nhau ở đầu cột bằng thanh kèo cái đặt nằm nghiêng theo chiều dốc của mái.
Kèo cái gồm nhiều thanh liên kết nhau từ cột cái ra cột nhì, cột ba, theo kiểu kèo chồng, để đuôi kèo dưới đặt lên đầu kèo trên, gọi là kèo đoạn (kèo vỏ đậu). Hai bên mặt kèo có kẽ rãnh chỉ theo các cạnh, đầu kèo đưa ra ngoài chạm hình hoa lá. Ở cột cái đầu hồi, giữa lưng chừng là chỗ liên kết kèo nóc và kèo quyết (kèo xó) dùng để đỡ hai mái thấp xoè ra hai bên của chái nhà. Kỹ thuật xẻ rãnh cho phép xuyên thanh kèo qua đầu cột, cố định bằng các ngàm (miệng cột), lèn chặt bằng các xà gồ phía trên.
Trính và xuyên tạo thành hệ thống liên kết khung nhà theo hai chiều ngang dọc, sử dụng kỹ thuật đâm mộng qua đầu cột có khóa chốt. Phía trên thanh trính, tại trung điểm có một khuôn gỗ làm đòn kê gọi là “cối” (đầu kê). Dựng trên miệng cối là “trổng” (trụ) có hình dáng chày giã gạo. Đầu trên trổng kết nối với đỉnh bằng thanh gỗ dang ngang gọi là “ấp quả”. Tất cả bộ phận cối, trổng và ấp quả như một người ngồi xếp bằng trên bệ (cối) đưa hai tay đỡ hai chiếc kèo trên cùng (kèo mái).
Vách trước nhà tiền đường là 3 gian cửa bàn khoa “thượng song, hạ bản” gồm một gian chính và 2 gian phụ, ngạch cửa tương đối cao, khiến người ra vào phải dừng lại trước khi nhấc chân bước qua. Trước đây, mỗi gian cửa có một đôi “mắt cửa” trang trí hình hoa cúc. Hiện nay, các gian cửa bàn khoa đã bị hư hỏng và được thay bằng 3 gian cửa ghép đai bản cổ điển và không có mắt cửa.
Hiên nhà tiền đường có 6 hàng cột đối xứng xây bằng gạch. Bốn cột trong hình trụ tròn, hai cột chái hiên hình trụ vuông. Hai cột giữa đắp rồng cuốn; hai cột đối xứng tiếp theo đắp nổi hai câu đối chữ Hán. Dưới chân hai cột đầu chái có đôi con nghê đắp bằng tam hợp chất, lỏi gạch, ngoài ghép mảnh sứ , quay đầu vào nhau, tai vểnh, mắt lồi, lông bờm dựng đứng.
Nhà tiền đường lợp ngói âm dương, bờ nóc trang trí “lưỡng long hồi đầu”, trung điểm là mặt trời – cầu lửa, đầu hồi đắp nổi long phù. Bờ quyết trang trí “hạ long, thượng phụng”, đầu bờ quyết trang trí “lý ngư hóa long”.
Bên trong tiền đường đặt bàn thờ cô hồn, kiệu rước thần chủ, chiêng, trống, hương án. Trong những dịp tế lễ, tiền đường là nơi những người hành lễ chỉnh đốn y phục, chuẩn bị lễ vật trước khi dâng cúng ở chính điện.
Chính điện tiếp sau tiền đường, nối với tiền đường bằng hệ thống máng đưa nước mưa từ mái sau tiền đường và mái trước chánh điện đổ sang 2 bên. Tiền đường là ngôi nhà lợp ngói âm dương, một gian hai chái, tường gạch trát tam hợp chất. Hai đầu vách chừa hai cửa vòm vừa để ra vào vừa có chức năng đưa ánh sáng từ bên ngoài vào nội thất và thông khí.
Bộ khung ngôi nhà chánh điện có 16 cột, chia thành 4 hàng, mỗi hàng 4 cột; 2 hàng giữa là khung đỡ kèo, 2 hàng bên là cột hiên. Các bộ vì chịu lực chia không gian ngôi nhà thành một gian, hai chái. Trính vừa liên kết các hàng cột theo chiều ngang, vừa đỡ hệ thống kè thông qua các trụ “chày cối”, đầu choãi cánh dơi. Trang trí đỉnh bờ mái chánh điện không khác mấy so với tiền đường với các mô típ: song long hồi đầu, phụng vũ, long giáng, lý ngư…
Miếu Thành hoàng
Miếu Thành hoàng
Nội thất chính điện thiết đặt bàn thờ Tam hoàng Ngũ đế, Ngũ vị tiên nương, Chúa Ngung man nương, tiền hiền, hậu hiền.
Hậu tẩm nằm ở phía trong cùng của ngôi đình. Đây là gian nhà được xây bằng tam hợp chất, hai bên vách hông có trổ cửa nhỏ để ra vào. Mái hậu tẩm cắt chồng cổ diêm, tạo không gian thông thoáng, nuôi dưỡng luồng sinh khí chạy dọc nội thất ngôi đình, từ tiền đường vào chính điện đến hậm tẩm. Bốn mặt cổ diêm đắp nổi trang trí hoa lá, chim muông. Nóc hậu tẩm trang trí lưỡng long cuộn hồ lô, bốn góc mái trang trí đắp nổi “thượng phụng, hạ long”.
Hậu tẩm thiết đặt bàn thờ Thiên Y A Na.
Nghĩa tự
Nghĩa tự
Đình làng An Hải là trung tâm của hệ thống dinh, đình, miếu, tự chạy dọc bờ biển vùng cực đông đảo Lý Sơn. Phía nam đình làng là Nghĩa tự (Âm linh tự), nơi thờ phụng các vong linh oan hồn, cô hồn. Đã thành tập tục, trước mỗi chuyến đi biển, ngư dân làng An Hải sắm sanh đèn hương, hoa quả đến đây để xin thánh thần, người khuất mặt phù trợ cho chuyến ra khơi an toàn. Đến khi trở về lại mang phẩm vật đến làm lễ tạ (hoàn nguyện) kính cẩn, chân thành. Tiếp giáp đình làng về phía bắc lần lượt là nhà thờ Tiền hiền, miếu Thành hoàng, đền thờ Tiên công…
Đình làng An Hải là trung tâm sinh hoạt tâm linh của cộng đồng cư dân làng An Hải ngày trước, xã An Hải ngày nay. Theo định lệ cổ truyền, hàng năm tại đình làng diễn ra nhiều sinh hoạt lễ hội như: Lễ trồng đu, lên phướn (24 tháng chạp âm lịch), lễ rước thần đầu năm (mùng 1 tết), lễ rằm Thượng Nguyên (14/1), lễ Động thổ (mùng 3 tết), lễ Cầu an (tế xuân – tháng 2), giỗ Tiền hiền (20/2), lễ tết Đoan dương (2/5), lễ rằm Trung nguyên (14/7), lễ tạ Kỳ yên (tế Thu; tháng 8), lễ rằm Hạ nguyên (14/10), lễ tế Thanh minh và tế lính Hoàng Sa (rằm tháng 3)…
Cùng với tế lễ là sinh hoạt hội hè, thu hút đông đảo dân làng và khách thập phương: Hội đua thuyền chơi xuân (Cạnh độ du xuân, mùng 4 đến mùng 7 âm lịch), hội đô vật (mùng 3, mùng 5 và mùng 7), hội chơi đu (mùng 1 đến rằm tháng giêng), hội cướp bòng (mùng 7 tết)…
Đình làng An Hải là ngôi đình duy nhất còn tương đối nguyên vẹn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Di tích đình làng An Hải được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, tại Quyết định số 985 – QĐ/VH ngày 7/5/1997.
Lý Sơn- Sơn Tịnh, tháng 5 – 7/1012
Lê Hồng Khánh
http://daiduonghotel.com/di-tich-tren-dao-ly-son/
-
https://www.youtube.com/watch?v=vzHaUXdUL5k
Phim tài liệu - Hồn thiên Âm Linh Tự (ANTV)
Sao media
Xuất bản 1 thg 12, 2016
ĐĂNG KÝ 3,9 N
Nhưng còn có một điều khác nữa khiến Âm Linh Tự trở thành nơi độc đáo duy nhất chỉ Lý Sơn mới có.
Đó chính là những vong hồn được thờ cúng ở Âm Linh Tự. Tên tuổi họ gắn liền với quá trình xác lập chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa, phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam từng trải qua bao nỗi thăng trầm trong trường thiên cố cựu đời người và lịch sử. Ngày nay, họ được biết đến với tên gọi: Đội Hoàng Sa.
Dưới thời Tây Sơn (1778 – 1802), vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã lập nên Đội Hoàng Sa.
Sau này, triều Tây Sơn diệt vong, triều Nguyễn xác lập, vua đầu tiên của triều Nguyễn là Gia Long vẫn duy trì Đội Hoàng Sa.
-
Mái nhà chung của những tử sĩ hải đội Hoàng Sa
01/12/2017, 14:15 (GMT+7)
Bước lên cầu cảng Lý Sơn (Quảng Ngãi), đi một đoạn đến đường bê tông, rẽ trái đi chừng vài ba trăm bước chân nữa là đến Âm Linh tự nằm trên địa bàn thôn Tây, xã An Vĩnh (huyện Lý Sơn).
Lễ tế sống chiến binh Hoàng Sa trước khi ra biển làm nhiệm vụ
Âm Linh tự trong lòng người dân Lý Sơn là chốn thiêng, nơi thờ cúng những bậc tiền hiền khai phá ra vùng đất đảo, và là nơi thờ tự những người lính trong hải đội Hoàng Sa hy sinh khi đi làm nhiệm vụ trên biển.
10-33-40_1
Toàn cảnh Âm Linh tự
Người bạn đồng hành, anh Nguyễn Văn Lê, Chủ tịch UBND xã An Bình, vừa cùng tôi bước vào khuôn viên Âm Linh tự vừa mô tả: Âm Linh tự được xây dựng vào giữa thế kỷ XVII, lưng tựa vào núi Hòn Tai, mặt chính diện nhìn ra biển. Đền xây dựng bằng đá san hô, vữa hồ là vôi trộn mật lẫn nước lá cây để tăng độ kết dính. Không gian thờ phụng bên trong di tích Âm Linh tự được bố cục thành 3 gian, gian giữa thờ thần, gian hai bên thờ tả ban và hữu ban.
Âm Linh tự là nơi thờ cúng các bậc tiền hiền đã có công khai phá vùng đảo Lý Sơn, hình thành nên vùng dân cư trù phú như hôm nay. Đây cũng là nơi thờ hàng trăm linh vị các hùng binh là cư dân đất đảo đã hy sinh trên vùng biển Hoàng Sa, họ đã vâng mệnh vua ra vùng biển đầy bất trắc, hiểm nguy để cắm mốc chủ quyền và làm nhiệm vụ.
“Vào tiết thanh minh hàng năm, bà con các dòng họ làng An Vĩnh tổ chức khao lề thế lính Hoàng Sa tại Âm Linh tự, một nghi lễ nhằm tưởng vọng và tri ân các liệt sỹ của đội hải binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải cùng các dân binh, tráng đinh đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tuần phòng trên biển, trú phòng trên các đảo, chống trả quân cướp biển để bảo vệ tàu thuyền của ngư dân”, anh Lê nói.
Thịt xương của những chiến sĩ trong hải đội Hoàng Sa đã vùi sâu trong lòng biển cả, nhưng linh hồn của họ được rước về Âm Linh tự nên ngôi đền này rất linh thiêng, mỗi khi ngư dân đất đảo vào đây thắp hương khấn nguyện điều gì cũng được những người khuất mặt ban cho.
10-33-40_2
Tháp thờ lính Hoàng Sa trong khu vực sân trước Âm Linh tự
Anh Nguyễn Văn Lê kể: “Trước khi mở chuyến biển mới, ngư dân trên đảo Lý Sơn thường vào đây khấn vái, xin cho chuyến biển được suôn sẻ, đánh bắt được nhiều hải sản, trở về bình yên sau mỗi chuyến vươn khơi. Sau mỗi chuyến biển thành công, ngư dân hay mang lễ vật đến đây để làm lễ tạ ơn”.
Hàng năm, tại Âm Linh tự diễn ra nhiều lễ cúng; từ lễ tế trước mỗi dịp đua thuyền truyền thống của người dân huyện đảo đến Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Ngôi đền còn là nơi lưu giữ nhiều tài liệu quý giá về lịch sử hình thành đảo Lý Sơn. Việc thờ cúng các linh vị của những chiến sĩ Hoàng Sa cùng với những di vật liên quan đã làm cho Âm Linh tự mang ý nghĩa đặc biệt.
Từ năm 2010, khi đình làng An Vĩnh được phục dựng, linh vị Thành hoàng, các vị tiền hiền và tử sĩ Hoàng Sa, Bắc Hải được rước về thờ tự ở đình làng. Tuy vậy, vong linh những người lính Hoàng Sa vẫn còn được thờ vọng tại Âm Linh tự, người dân vẫn thường xuyên đến dâng hương hành lễ. Không gian trong Âm Linh tự luôn tràn ngập khói hương, điều này chứng tỏ lòng kính ngưỡng của người dân sở tại đối với những linh hồn tử sĩ Hoàng Sa không bao giờ nguôi.
Không gian chính điện trong Âm Linh tự ở mỗi cột đều có gắn liễn đối cẩn xà cừ trang trọng. Các câu đối ở đền chính của Âm Linh tự có nội dung ca ngợi công lao của tiền nhân khai sơn phá thạch lập làng và tưởng nhớ sự hy sinh của những người lính trong hải đội Hoàng Sa. Ở gian chính điện còn có câu đối bi hùng, nói lên khí chất con người Lý Sơn, về những người lính quên thân mình, chấp nhận hiểm nguy ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc. Họ đã mất đi, cái chết bi hùng của họ đã khiến “núi cũng phải rơi nước mắt, sông quấn khăn tang khóc thương họ”. Khu vực sân trước của Âm Linh tự có tháp thờ lính Hoàng Sa 4 mặt, giữa khắc 4 chữ “Chiến sỹ trận vong” bằng Hán tự. Đây là tháp thờ để tưởng nhớ những người lính của hải đội Hoàng Sa hy sinh trên biển.
10-33-40_3
Chánh điện Âm Linh tự
Ở huyện đảo Lý Sơn có hàng chục đền chùa, đình làng, lăng, miếu được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, trong đó hơn một nửa di tích liên quan trực tiếp đến chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; thế nhưng bất cứ du khách nào vừa đặt chân lên cầu cảng đảo Lý Sơn là muốn đến ngay với Âm Linh tự, như là để cáo với những bậc tiền hiền khai sinh ra đất đảo rằng hôm nay mình đến thăm hòn đảo phên giậu của Tổ quốc và để thắp nén hương kính vọng những người lính trong hải đội Hoàng Sa mà những hy sinh của họ đã trở thành huyền thoại.
“Năm 2007, di tích Âm Linh tự và mộ lính Hoàng Sa đã được Bộ VH-TT&DL xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Bây giờ, hễ mỗi lần nhắc đến Âm Linh tự là mỗi lần người dân huyện đảo Lý Sơn nhắc đến cái tên Võ Hiển Đạt, người dân của thôn An Vĩnh đã có 60 năm gắn đời với Âm Linh tự bằng công việc gác đền và gắn cả tâm trí suốt đời người vào công việc nghiên cứu về Hoàng Sa, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Ông đã đi về với biển vào giữa tháng 2/2017 ở tuổi 85, để lại cho người dân đảo Lý Sơn sự tiếc thương vô vàn”, anh Nguyễn Văn Lê, Chủ tịch UBND xã An Bình, tâm sự.
DƯƠNG LAM
http://nongnghiep.vn/mai-nha-chung-c...ost208037.html
-
Về thăm quê hương những người lính Hoàng Sa
NGÀY 09 THÁNG 08, 2014 | 08:34 Văn hóa
T+ T-
Suckhoedoisong.vn - Ngôi đền được dân Lý Sơn cung kính nhất, đó là đền Âm Linh Tự thờ những người lính Hoàng Sa.
Ðứng ở Lý Sơn nhìn quanh, đúng là bốn bề nước biển mênh mông. Lý Sơn rộng chừng 10 km2, gồm 2 hòn đảo, đảo lớn và đảo nhỏ. Ðảo nhỏ cách đảo lớn chưa đầy một cây số. Tên nguyên thủy của Lý Sơn là Cù Lao Ré, vì trên đảo này cây Ré mọc tràn lan. Với gần 2 vạn dân, Lý Sơn xứng đáng là một huyện của Quảng Ngãi.
Lên tàu trên bến cảng Sa Kỳ, Quảng Ngãi, vượt biển 30 cây số chúng tôi đến đảo Lý Sơn. Ông chủ tàu cho biết, mỗi ngày ít nhất có ba chuyến tàu từ Sa Kỳ qua Lý Sơn, hai chuyến tàu chở người, một chuyến chở hàng, như chuyến chúng tôi đi đây, 150 người, vậy một ngày Lý Sơn có ít nhất 300 khách trở lên. Du khách đến Lý Sơn đông vì Lý Sơn từng nổi tiếng là hòn đảo tiền tiêu từ đất liền ra Hoàng Sa, Trường Sa.
Anh Thiện Nghĩa, Trưởng phòng Văn hóa Lý Sơn dẫn chúng tôi đi lang thang thăm đảo. Đứng trước hai miệng núi lửa Giếng Tiền và Thới Lới cao mãi tít trên đỉnh núi, chúng tôi mới ý thức được rằng, thì ra chính hai ngọn núi lửa này phun từ dưới đáy biển lên, đất đá ấy đã tạo nên hòn núi lớn này. Cứ nhìn những tầng đá màu nâu mỏng, xếp lên nhau, biết ngay là đá từ núi lửa phun lên. Rất may nhờ kiến tạo tự nhiên từ núi lửa đã cho Lý Sơn những thắng cảnh nổi tiếng như chùa Hang, chùa Đục, hang Câu, cổng Tò Vò, hòn Mù Cu,... Nhìn khách nối nhau nườm nượp tới thăm những thắng cảnh ấy đủ biết Lý Sơn hấp dẫn như thế nào.
Đúng vậy, dân Lý Sơn đã lợi dụng hang đá sâu 24 mét, rộng 20 mét để làm chùa. Chỉ nhìn những ngọn nến lung linh và khói hương vật vờ trong khung cảnh chập chờn nửa sáng nửa tối với những dáng Phật ngồi trang nghiêm đủ thấy không khí ấy thiêng liêng nhường nào. Chưa hết, thiếu điều kiện để xây chùa, dân Lý Sơn đã đục núi làm chùa, chùa ấy mang tên chùa Đục, đủ thấy trong hoàn cảnh nào dân Lý Sơn cũng tìm mọi cách đến chốn linh thiêng.
Đền Âm Linh Tự thờ chiến sĩ Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn
Anh Thiện Nghĩa kể về người Lý Sơn của mình:
- Thời văn hóa Sa Huỳnh, Lý Sơn của chúng tôi đã có dân ở rồi. Các tư liệu khảo cổ tại đây cho thấy thời ấy Lý Sơn đã có đồ gốm. Toàn bộ những nét hoa văn, các đồ án trang trí đã phô diễn tài hoa lãng mạn của người cổ xóm Ốc chúng tôi. Trong hố khai quật còn tìm thấy một đôi xe chỉ và hai hạt chuỗi bằng đất nung. Sau đó người Chăm đến ở đây thì rõ quá rồi. Tiếp đó 3 lớp di dân của người Việt vùng Bắc Bộ vào cư trú ở đây, lần thứ nhất vào năm 1404, thời nhà Hồ; lần thứ hai vào năm 1471 thời vua Lê Thánh Tôn và lần di dân thứ ba là thời Nguyễn Hoàng vào Nam cát cứ, mở mang vùng đất phương Nam vào năm 1558. Ấy là chưa kể những cuộc di dân tự do của nông dân miền Bắc ở thời Trần và thời loạn lạc Nam Bắc Triều.
Trong các gia phả họ tộc ở Lý Sơn, thời ấy đã có tới 15 vị tiền hiền đi thuyền ra đảo khai khẩn và lập làng. Đó là các dòng họ Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Võ Xuân, Đặng Phanh, Dương, Võ, Trương, Trần, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn,... Những vị tiền hiền không chỉ được thờ trong nhà thờ họ tộc mình, mà còn được thờ ở đình như những vị thánh nhân.
Tuy nhiên, người Việt tới Lý Sơn trong giai đoạn này thật gian nan. Cái khó đầu tiên của người vùng sông nước ra ngoài đảo là thiếu nước ngọt, phải bám vào hai con suối: suối Chình và suối Rô và mấy giếng nước ngọt như giếng Xó La để sống lần hồi. Cái khó thứ hai là tuy đất rộng mênh mông nhưng đá lởm chởm, phải khai hoang phục hóa để trồng rau màu. Người làm quen với biển thì phải huy động ghe bầu chở mủ cây chén mắn (để làm ghe) chở muối Sa Huỳnh, Tịnh Hoa, chở lưới đan bằng vỏ cây đi Hiệp Hòa và cả vào Nam bán để mua gạo. Cuộc sống phải nói là vất vả. Song cuộc sống tâm linh ở Lý Sơn thật phong phú, không dễ gì có sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng được như Lý Sơn. Tộc nào cũng có nhà thờ họ, xóm nào cũng có đền thờ riêng của xóm mình, làng nào cũng có đình là tất nhiên. Lý Sơn có tới gần 30 di tích đình, dinh, miếu, lăng,...Thờ đủ cả, nào thờ ông Nam Hải, thờ Thần Thiên Y A Na, nào thờ Tam Phủ, rồi thời các vị tiền hiền, thờ Thần Nông,... Lễ thờ của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ vẫn được giữ nguyên vẹn về cả hình thức lẫn nội dung.
Anh Thiện Nghĩa tâm sự:
- Những ngày tế tự là những ngày hội làng anh ạ. Từ mồng 3 Tết lễ động thổ đến lễ dựng cây nêu cuối năm, không biết bao nhiêu lễ rước. Nào là lễ thượng nguyên, lễ trung nguyên, lễ hạ nguyên, nào là lễ rước sắc thần, lễ cúng thần nông, lễ thượng điền,... Dân náo nức đội hoa quả, cau trầu, gà luộc tới điện dâng lên các vị thần. Chính nhờ tâm linh ấy, dân có lòng tin, bởi có lòng tin, dẫu sinh hoạt có vất vả khó khăn, song đời sống dân Lý Sơn vẫn bình an để hướng tới tương lai.
Tượng đài chiến sĩ Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn
Tôi nói:
- Về Lý Sơn tôi hiểu thêm đời sống tâm linh có một bản ngã riêng. Nhưng tôi muốn biết ở Lý Sơn đền miếu nào thiêng liêng nhất.
Anh Thiện Nghĩa đáp:
- Mỗi đền miếu đều có một vẻ linh thiêng riêng của mình. Song, ngôi đền được dân Lý Sơn cung kính nhất, đó là đền Âm Linh Tự thờ những người lính Hoàng Sa.
Chiều đã muộn, anh Thiện Nghĩa hẹn sáng hôm sau sẽ đưa chúng tôi tới Âm Linh Tự. Hôm sau, khi trời chưa nắng lên, chúng tôi tới Âm Linh Tự đã thấy các cụ khăn đóng áo dài tới mở cửa thắp hương. Tưởng hôm nay rằm hay mồng một, hóa ra không phải, ngày nào các cụ cũng đến thắp hương cho ngôi đền. Đền Âm Linh Tự ở làng An Vĩnh được dựng gần ngay bên bờ biển, chỉ cách bến cảng An Vĩnh chừng 50 mét. Đền không lớn nhưng trang nghiêm. Trong đền là những đồ thờ vàng son lộng lẫy. Ngay trước cửa đền là tháp tưởng niệm, bốn mặt đều khắc 4 chữ nguy nga: “Chiến sĩ trận vong”. Bên cạnh đền là nghĩa trang của những ngôi mộ gió. Bởi những người lính Hoàng Sa ra đi nhưng hầu như không trở về.
Thắp hương xong, ngồi bên tháp tưởng niệm “Chiến sĩ trận vong”, các cụ kể cho chúng ta nghe rằng: ngay từ cuối thế kỷ 16, thời chúa Nguyễn hàng năm làng An Hải và An Vĩnh tuyển 70 dân giỏi nghề đi biển giương buồm nương theo gió nồm vào tháng 3 hàng năm ra quần đảo Hoàng Sa. Họ đi 3 ngày 3 đêm thì tới Hoàng Sa. Tại đây, họ bắt cá mà ăn, lấy được rất nhiều đồ vật quý của thuyền đi khơi bị lật, cùng lượm khá nhiều hải vật. Tháng 8 trở về, vào cửa EO (cửa Thuận An) vào Phú Xuân, nộp những hải vật quý cho kinh thành Huế rồi mới trở về. Tuy nhiên người trở về không được bao nhiêu. Âm Linh Tự là đền thờ những người lính Hoàng Sa không trở về ấy.
Ở Âm Linh Tự về, Thiện Nghĩa đưa tài liệu cho chúng tôi đọc, thật cảm động. Những người lính Hoàng Sa ấy, vua Tự Đức gọi họ là “Hùng binh”. Họ không phải chỉ kiếm hải vật, sản vật, mà công việc chính của họ là đo đạc thủy trình, tuần phòng trên biển đảo, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền trên đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
70 người lên 5 chiếc thuyền. Người ra đi phòng không có cơ may trở về, mỗi người mang theo hai chiếc chiếu, 7 khúc đòn tre, 7 sợi dây mây và một thẻ bài, để khi chết, xác họ được quấn trong chiếu, đòn tre là phao nổi, dây mây quấn chặt họ trong cái quan tài sông nước ấy, thẻ bài ghi tên họ, rồi thả trôi trên mặt biển, táng trên mặt nước ấy, nào có thấy ai trở về, thẻ bài cũng chìm xuống biển theo họ luôn.
Chuyện lính Hoàng Sa thấy rõ ngay các chúa Nguyễn đã bắt đầu ý thức đến nguồn tài nguyên vô tận của biển cũng như sớm xác lập chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển Đông của Tổ quốc, mà trước hết đó là quần đảo Hoàng Sa.
Ở Lý Sơn vẫn lưu truyền trong dân gian tục: Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Có thể gọi đây là lễ tế sống những người đi lính Hoàng Sa, nhưng để có hy vọng trở về, thầy cúng cho nặn hình nhân thế mạng bằng đất sét, trong dòng họ có bao nhiêu người đi lính thì có bấy nhiêu hình nhân và linh vị đặt bên những người lính Hoàng Sa, cúng xong, hình nhân và linh vị được đặt lên thuyền thả trôi trên sóng nước. Người lính coi đây đã có người thế mạng mình và sẵn sàng lên thuyền ra đi.
Âm Linh Tự bây giờ khói hương quanh năm nghi ngút nhằm tri ân những người đã vì Tổ quốc hy sinh trên vùng biển đảo. Đây là ngôi đền linh thiêng nhất Lý Sơn, nhất là những ngày Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương - 981 trên vùng biển Việt Nam, người đến thắp hương ở Âm Linh Tự càng đông, chứng tỏ Âm Linh Tự thiêng liêng nhường nào đối với người Lý Sơn.
Càng đi, chúng tôi càng thấy Lý Sơn gắn bó với mình. Để hiểu kỹ vùng đảo này, chúng tôi thuê xe máy chở nhau đi đến từng ngõ ngách. Đang đi trên cánh đồng An Hải, chúng tôi thấy một nông dân đang đào đất ở góc ruộng, rải ra trên mặt ruộng của mình. Tôi hỏi:
- Ông đang làm gì đó?
Ông già vui vẻ đáp:
- Lý Sơn chúng tôi chỉ có đất bazan do núi lửa phun lên và đất cát biển phủ vào. Đất mặt ruộng đã hết màu mỡ, chúng tôi đào đất bazan trải lên mặt ruộng là cách làm cho đất tốt lên để tiếp tục trồng trọt.
À ra thế. Không đi đến tận cùng, sao chúng tôi hiểu nổi đất đai và con người ở đây. Đi tiếp, chúng tôi đến âu thuyền làng Đông chân núi Thới Lới, thuyền đậu san sát, thuyền nào cũng cắm cờ sao 5 cánh phấp phới. Thuyền đang nghỉ ngơi để đêm ra biển đánh cá.
Tôi hỏi một ngư dân đang rửa thuyền:
- Ông có thấy ngại đụng đầu với thuyền bảo vệ giàn khoan Hải Dương - 981 không?
04
Ads by Blueseed
Đau nhức khớp nhiều năm, không đáng lo nếu biết mẹo này của Người Nhật
Ông đáp ngay:
- Ngại gì. Dù từ Tết đến giờ đã 15 lần chúng tôi đụng tàu Trung Quốc, có một lần chúng cướp hết hàng của chúng tôi trên tàu, kể cả điện thoại di động trong túi mình. Tuy nhiên, việc đặt giàn khoan ấy của chúng là sai rồi. Anh không thấy cả thế giới lên án chúng đó sao. Hoàng Sa là sân của mình, mình cứ ra sân của mình mà làm việc. Lý Sơn chúng tôi có 436 tàu đánh cá, thì 160 tàu vẫn thường xuyên vẫy vùng ở Hoàng Sa, Trường Sa. Mình phải thể hiện chủ quyền của mình, anh ạ.
Tôi nói:
- Ý kiến của ông thật tuyệt vời. Chúng tôi ủng hộ tinh thần ấy. Chúc ông thành công.
Chúng tôi tiếp tục đi. Đến bên Trường tiểu học ở An Vĩnh, tiếng trống rung lên, các cháu ùa vào.
Nhìn các cháu, Thiện Nghĩa nói như khoe:
- Lý Sơn của chúng tôi bây giờ có gần 20 nghìn nhân khẩu, vậy mà chúng tôi có tới 2 nghìn học sinh đến trường, gồm 4 nhà mẫu giáo, 3 trường tiểu học, 2 trường trung học cơ sở, 1 trường phổ thông trung học. Vậy là cứ 10 người dân, chúng tôi có 1 nhân khẩu đến trường. Anh nhìn kìa, trường lớp của các cháu có khang trang không?
Nhân lúc vui vẻ, tôi hỏi Thiện Nghĩa:
- Lý Sơn hiện đang có điều gì đáng lo nhất?
Thiện Nghĩa đáp:
- Cách đây 20 năm, nông nghiệp ở Lý Sơn là diện chính của kinh tế chúng tôi nhưng tới năm 2014 này, tình hình đã thay đổi, 70% dân Lý Sơn xuống biển đánh cá. Đời sống dân Lý Sơn khá hẳn lên. Anh biết không, tỏi của Lý Sơn ngày càng nổi tiếng, nửa năm vừa qua, Lý Sơn đã bán được tới 2.250 tấn tỏi. Còn hạ tầng cơ sở, trường trạm chúng tôi đầy đủ, lâu nay vất vả về điện đóm, nhưng năm nay nhà nước đã đầu tư cho Lý Sơn 625 tỷ để kéo điện cáp ra. Báo cho anh mừng, tháng 9/2014 này Lý Sơn có điện lưới quốc gia rồi.
Chúng tôi ríu rít bắt tay Nghĩa, mừng cho anh, mừng cho Lý Sơn. Chợt nhớ Lý Sơn là hòn đảo tiền tiêu, tôi hỏi Thiện Nghĩa:
- Từ khi Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương - 981, Lý Sơn là đảo tiền tiêu, thái độ dân Lý Sơn ra sao?
Anh Thiện Nghĩa đáp:
- Tôi xin trả lời anh bằng thực tế.
Thế là Thiện Nghĩa dẫn chúng tôi đi một vòng quanh đảo, rồi leo lên núi Giếng Tiền, Hòn Tai, Hòn Sỏi, Hòn Vung. Những gì cần biết, Thiện Nghĩa đều chỉ cho chúng tôi. Đứng bên bức tường dài chạy suốt nửa đảo phía Đông, đó là bức tường chắn sóng bảo vệ con đường lớn chạy quanh đảo, Thiện Nghĩa hỏi tôi:
- Anh thấy thế nào?
Tôi đáp đúng như suy nghĩ của mình.
- Đứa nào đụng tới Lý Sơn thì nó sẽ bị dìm chết ngay từ ngoài biển khơi.
- Cảm ơn anh.
Thiện Nghĩa bắt tay tôi rất chặt.
Thiện Nghĩa tiếp tục dẫn đoàn chúng tôi băng băng trên con đường rộng, leo lên đỉnh núi Thới Lới. Cao điểm chúng tôi dừng chân, đó là cột cờ. Chân cột cờ cao 4 tầng, tầng trên cùng ghi hàng chữ “Nước CHXHCN Việt Nam”, tầng thứ 3 đắp nổi 3 chữ lớn: “Đảo Lý Sơn”.
Anh em chúng tôi tíu tít chụp ảnh, ai cũng muốn ghi lại phút giây mình được có mặt trên đỉnh cao linh thiêng này.
Chân cột cờ là một đỉnh cao của đảo Lý Sơn, đứng ở đây, nhìn ra 4 phía xung quanh đều là biển biếc. Ai cũng thấy toại nguyện mình đã đến được nơi hẹn hò. Chúng tôi quay mặt ra hướng Bắc bảo nhau: “Hoàng Sa ở phía đó”. Bỗng một bạn xúc động đọc 4 câu ca dao của Lý Sơn:
“Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai (ba) khao lề thế lính Hoàng Sa”
Thiện Nghĩa nghẹn ngào nói:
- Trong vòng 3 thế kỷ, Lý Sơn chúng tôi đã có tới hơn 2 vạn người đi lính Hoàng Sa. Vậy mà mộ các anh hầu như toàn mộ gió. Song vua gọi là đi ngay. Lý Sơn của chúng tôi là vậy đó các anh ạ. Lý Sơn không thể chấp nhận bất cứ kẻ nào đụng tới biển Đông của mình.
Bút ký: Nguyễn Quang Hà
http://suckhoedoisong.vn/ve-tham-que...sa-n81839.html
-
Người gác Âm Linh Tự đã về với mây trắng biển xanh
Thứ bảy, 18/02/2017, 18:50 (GMT+7)
(Văn hóa) - Khi cụ Đạt trút lời gan ruột về biển, về câu chuyện trăm năm của những binh phu dong thuyền ra Hoàng Sa mãi mãi không về, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khoanh tay, cúi đầu nghe câu chuyện của cụ.
>> Mùa này Huy Gơ, Gạc Ma vẫn nóng >> Thất thủ Hoàng Sa và bài học đoàn kết Dân tộc, tự lực tự cường, đề cao cảnh giác >> Hoãn đêm diễn đoàn nghệ thuật Nội Mông tại Nhà hát lớn tối nay >> Đau đáu Hoàng Sa >> Thức dậy nhiều ký ức Hoàng Sa
Cụ Đạt (phải) kể câu chuyện trăm năm cho nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang nghe - Ảnh: Trần Mai
Cụ Đạt (phải) kể câu chuyện trăm năm cho nguyên chủ tịch nước Trương Tấn Sang nghe – Ảnh: Trần Mai
Vậy là cụ Võ Hiển Đạt đã thành người thiên cổ ở tuổi 85, sau 60 năm làm người gác Âm Linh Tự để giấc ngủ trăm năm của các bậc tiên hiền dong thuyền ra Hoàng Sa…
Vào tháng 2-2016, khi nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có chuyến thăm đảo Lý Sơn. Nơi đầu tiên của hòn đảo tiền tiêu mà vị nguyên thủ này đặt chân đến là Âm Linh Tự.
Và dĩ nhiên cụ Đạt là người đứng ra trút lời gan ruột về biển, về câu chuyện trăm năm của những binh phu dong thuyền ra Hoàng Sa đã mãi không về cho ông Sang nghe.
Hôm đó, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sau nén nhang kính cẩn đã khoanh tay, ghé tai để nghe câu chuyện từ cụ Đạt. Không phải ngẫu nhiên mà một nguyên thủ quốc gia dừng chân ở Âm Linh Tự hơn 30 phút.
Bởi ở đất đảo Lý Sơn có tư liệu nào liên quan đến chủ quyền của Hoàng Sa mà chưa qua tay cụ Đạt dịch và chính cụ là người am tường bậc nhất đảo về câu chuyện quá khứ này.
Những câu chuyện ấy, cụ Đạt cũng là người từng được nghe kể lại thôi, nhưng tính nóng bỏng, thời sự và quá khứ hiện tại xếp nối vào nhau khiến nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không thể nào vội vã rời đi.
Từ chuyện lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa đến chiếc thuyền câu, ngôi mộ gió, hay tờ lệnh từ thời vua Minh Mạng điều binh phu ra Hoàng Sa được dòng họ Đặng ở đảo Lý Sơn gìn giữ gần 200 năm qua cụ Đạt đều am tường…
Âm Linh Tự, nơi cụ Đạt 60 năm gác giấc ngủ tiền nhân - Ảnh: Trần Mai
Âm Linh Tự, nơi cụ Đạt 60 năm gác giấc ngủ tiền nhân – Ảnh: Trần Mai
Vậy mà một năm sau ngày đó, cụ Đạt đã quay về nghìn năm. Thông tin cụ mất khiến ai cũng hụt hẫng. Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, giám đốc sở VH-TT-DL Quảng Ngãi bảo rằng cụ Đạt ra đi là tiếc nuối của không chỉ những người nghiên cứu văn hóa mà còn là nỗi buồn chung của những ai muốn nghe câu chuyện của Lý Sơn, của Hoàng Sa.
60 năm làm người gác Âm Linh Tự và khả năng am tường chữ nho, cơ hội tiếp cận với những bản sắc phong, tờ lệnh đã đưa cụ Đạt trở thành một kho tư liệu sống.
Ông Vũ nhớ cả bài văn tế của cụ Đạt năm 2010, đó là đợt mà những gì liên quan đến đội Hùng Binh Hoàng Sa thuở nào được chuyển về Đình làng An Vĩnh.
Bài văn tế có đoạn “Hỡi ơi, đất nước Việt Nam trải bao phen lao khổ. Nghĩ đến kẻ điêu linh từ thuở nọ. Chi hay sinh kề ký tử hề quy, ra đi có mấy người trở lại… xả thân vì Tổ quốc, son sắt một lòng, ngang dọc chí nam nhi.
Phong ba dồn dập, tuyết sương chẳng quản, mưa nắng chẳng sờn, Hoàng Sa lãnh hải biển cả mênh mông…”. Với ông Vũ bài văn tế ấy là ruột gan của một đời người nghe tiếng trăm năm vọng về từ phía biển.
Một nghi lễ được tổ chức ở Âm Linh Tự - Ảnh: Trần Mai
Một nghi lễ được tổ chức ở Âm Linh Tự – Ảnh: Trần Mai
Năm nay, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa sẽ thiếu vắng đi một người quan trọng bậc nhất của đảo Lý Sơn.
May thay trước khi cụ Đạt mãi thành cổ nhân đã kịp phục dựng chiếc thuyền câu của binh phu, kịp tiếp cận và giới thiệu với cơ quan chuyên môn về những tài liệu lịch sử ở ngôi đình thiêng liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
Cụ cũng kịp hướng dẫn hậu thế làm hình nhân thế mạng cho những người giã từ đời mình nơi biển cả… Có lẽ cụ Đạt cũng mãn nguyện mà an giấc trăm năm.
Nhưng có chăng, lần ra đi cuối cùng về thiên cổ, công việc còn dang dở của cụ Đạt là đi khắp đảo thống kê số miếu mạo cũ nơi còn ghi lại dấu tích của tiền nhân đã khai khá đảo Lý Sơn lập ấp, khai làng còn chưa xong thì cụ quy tiên…
Giữa biển xanh mây trắng, những cơn gió và mùi thơm của tỏi vào mùa sẽ đưa cụ về với tổ tiên. Tiễn biệt cụ.
(Theo Tuổi Trẻ)
http://nguyentandung.org/nguoi-gac-a...bien-xanh.html
-
Người gác Âm linh tự đã về với các hùng binh Hoàng Sa
Pháp Luật VN 26/02/2017 07:07 GMT+7Gốc
Ngày 19/2, hàng nghìn người dân đã có mặt ở huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) tiễn đưa cụ Võ Hiển Đạt - “ông đồ Hoàng Sa” về nơi yên nghỉ cuối cùng. Trong suốt cuộc đời của mình, cụ Đạt liên tục mày mò, nghiên cứu học chữ Hán, cần mẫn sưu tầm nhiều tư liệu quý về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.
Người gác Âm linh tự đã về với các hùng binh Hoàng Sa - Ảnh 1
Cả đời cụ Đạt cần mẫn sưu tầm nhiều tư liệu quý về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.
Người phục dựng Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa
Tin cụ Võ Hiển Đạt, người hơn 60 năm gác miếu thờ Hoàng Sa tại huyện đảo Lý Sơn rời cõi tạm để về với tổ tiên hôm 16/2 vừa qua làm cho những ai quan tâm đến nghi thức Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa tồn tại suốt mấy trăm năm nay ở hòn đảo này đều cảm thấy hụt hẫng dù cụ năm nay đã bước sang tuổi 85.
Theo các bậc cao niên ở Lý Sơn, cụ Đạt như một bến đỗ đầy ắp ký ức về những chuyến hải hành của cha ông ta chinh phục Hoàng Sa từ hơn 300 năm trước. Cũng chỉ là nghe kể lại thôi, nhưng với cụ Đạt, còn hơn cả việc lưu giữ, cụ biết hâm nóng để những ký ức đó luôn tươi mới với hậu thế.
Như một sự tiếp nối, cụ nội nhà cụ được làng An Vĩnh đảo Lý Sơn trao cho sứ mệnh cai quản Âm Linh tự, tức miếu thờ các binh phu đã ngã xuống trong quá trình bảo vệ chủ quyền lãnh hải tại Hoàng Sa, sang đời người cha rồi đến cụ Đạt đều làm “ông từ” gác ngôi đền quá đỗi thiêng liêng này. Mãi đến năm 2010, khi các bài vị cuối cùng của những binh phu hy sinh tại Hoàng Sa được dời về đình An Vĩnh, cụ Đạt mới kết thúc sứ mệnh của mình.
Nhưng có lẽ điều mà người dân Lý Sơn cũng như tất cả những ai quan tâm đến Hoàng Sa đều tri ân cụ Đạt. Bởi chính cụ đã góp phần phục dựng lại một cách đầy đủ và bài bản toàn bộ Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa mà suốt gần 10 năm qua nhiều người đã chứng kiến.
Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa thường được tổ chức vào cuối tháng Tư âm lịch hàng năm, đây là hoạt động tâm linh của người dân huyện đảo Lý Sơn. Lễ hội này không chỉ nhằm tri ân những người lính trong Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa năm xưa đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Tổ quốc, mà còn là dịp để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ, với mong muốn lớp con cháu hôm nay và mai sau tiếp tục gìn giữ chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Trong Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, nghi lễ truyền thống quan trọng nhất là hoạt động thả thuyền. Những chiếc thuyền được làm theo kiểu thuyền câu của ngư dân, bên trong có hình nhân thủy binh với các vật dụng tùy thân.
Cũng chính cụ đã trở thành cố vấn đặc biệt để phục dựng lại những hình nhân thế mạng trong Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, rồi cụ lại “cầm tay chỉ việc” cho những người thợ đóng hai chiếc thuyền câu giống y chang như những chiếc thuyền câu mà các đội binh phu ra Hoàng Sa bảo vệ chủ quyền lãnh hải từng dùng năm xưa.
Theo các bậc cao niên nơi đây, để làm những chiếc thuyền phục vụ lễ phải lên trên đỉnh núi Thới Lới lấy đất sét nặn ra những hình nhân thế mạng (tượng trưng cho những người lính) giao cho thanh niên trong làng. Những thanh niên này phải khỏe mạnh, có lối sống đạo đức tốt mới được tham gia.
Người gác Âm linh tự đã về với các hùng binh Hoàng Sa - Ảnh 2
Cả đời cụ Đạt cần mẫn sưu tầm nhiều tư liệu quý về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.
Người có uy tín hơn nhận nhiệm vụ tìm kiếm các chất liệu để đóng thuyền bao như gỗ, tre cật, dầu rái... Đặc biệt những người trực tiếp tham gia đóng thuyền phải là người cao niên và có uy tín trong các dòng tộc trên đảo.
Ông Nguyễn Đăng Vũ - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi nhớ lại lúc ông đi điền dã để lấy tư liệu làm luận án tiến sĩ về văn hóa miền biển cách nay 21 năm:
“Tôi chọn đề tài về các lễ hội vùng biển Quảng Ngãi nhưng thanh lọc mãi thì cũng chỉ có Lễ Tống ôn ở Lý Sơn mới hợp với đề tài mình cần. Tìm hiểu kỹ lễ này, hóa ra là một phần của nghi lễ tiễn các binh phu ra Hoàng Sa thuở trước. Tống ôn thực chất là tống những xui rủi ra khỏi nhà mình nhân đầu năm mới”.
“Lính ra Hoàng Sa thì dân làng làm lễ đưa tiễn, sẵn đó xua đuổi luôn những rủi ro cho họ trong quá trình ra Hoàng Sa đồn trú 6 tháng. Tìm gặp các bô lão trên đảo Lý Sơn thì người nhớ, kẻ quên lễ này. May quá tôi gặp cụ Đạt, như thể cụ đợi tôi từ tiền kiếp để trao truyền toàn bộ các bước của lễ hội này vậy. Đó là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa”, ông Vũ cho biết.
Cả đời gìn giữ di tích Hải đội Hoàng Sa
Theo tìm hiểu của chúng tôi, cụ Đạt cũng là một trong hai cụ già ở Lý Sơn tiếp xúc sớm với “Tờ lệnh” mà vua Minh Mạng điều binh phu ra Hoàng Sa từ năm 1835 đã được dòng họ Đặng ở Lý Sơn lưu giữ mấy trăm năm qua.
Theo di chỉ từ đầu triều Nguyễn, hàng năm triều đình ra lệnh cho huyện đảo Lý Sơn phải rút 70 tráng dân xung vào Hải đội Hoàng Sa được cấp mỗi người 6 tháng lương và 1 chiếc chiếu, 3 sợi mây, 7 nệp tre, 1 thẻ tre để ghi danh tính. Mỗi khi chết thì bó lại và thả xuống biển may ra trôi dạt vào bờ có người vớt chôn cho biết tên họ.
Hải đội Hoàng Sa này dùng thuyền buồm để tuần tra canh gác vùng biển, đồng thời tìm bắt hải sản, thu gom sản vật đem về nộp cho triều đình, cứ tháng 2 đi cuối tháng 8 âm lịch trở về. Chèo khoảng 3 ngày, 3 đêm thì đến quần đảo Hoàng Sa nếu biển lặng và thuận gió.
Sáu tháng trên biển phải đối phó với trăm nghìn nguy hiểm, có thể mất mạng bất kỳ lúc nào. Nhưng có những lúc đi không thấy trở về, từ đó có câu ca dao lưu truyền: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/ Người đi thì có mà không thấy về/ Hoàng Sa mây nước bốn bề/ Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa”.
Ông Võ Văn Út (xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn) cho biết, từ lâu người dân trên đảo kính mến cụ Đạt như người thầy, người cha. Ông có công rất lớn trong việc tu sửa, khôi phục, gìn giữ di tích của Hải đội Hoàng Sa trên đất đảo suốt nhiều năm qua.
“Tôi còn nhớ như in bài văn tế Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa năm trước của cụ Đạt. Cụ viết: “Hỡi ơi, đất nước Việt Nam trải bao phen lao khổ. Nghĩ đến kẻ điêu linh từ thuở nọ. Chi hay sinh kề ký tử hề quy, ra đi có mấy người trở lại… Xả thân vì Tổ quốc, son sắt một lòng, ngang dọc chí nam nhi. Phong ba dồn dập, tuyết sương chẳng quản, mưa nắng chẳng sờn, Hoàng Sa lãnh hải biển cả mênh mông”.
Rồi mới đây, bất chấp tuổi già, cụ Đạt đã đi khắp đảo Lý Sơn để thống kê số miếu cũ, nơi lưu lại dấu vết của tiền nhân trong quá trình khai phá đảo Lý Sơn. Công việc đang dang dở thì cụ lại quy tiên”, ông Út bùi ngùi cho biết.
Người gác Âm linh tự đã về với các hùng binh Hoàng Sa - Ảnh 3
Cụ Đạt đã góp phần phục dựng lại một cách đầy đủ và bài bản toàn bộ Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa.
Theo ông Nguyễn Đăng Vũ, cụ Đạt là người sống rất mực thước, luôn sẵn sàng đem công sức của mình cống hiến cho huyện đảo Lý Sơn. Lúc nào ông cũng luôn tự hoàn thiện mình, ai góp ý kiến gì cũng sẵn sàng lắng nghe, sửa lại những điều thấy chưa hợp lý; luôn tự học, tự nghiên cứu tài liệu, sách vở mỗi ngày, nhất là trong kho sách, tài liệu chữ Hán, Nôm.
“Công lao lớn nhất của cụ Đạt là trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, nhất là khi di sản văn hóa cổ truyền được khuyến khích trùng tu, tôn tạo, phục hồi, trao truyền. Hầu hết di tích ở đảo Lý Sơn đều có bàn tay của cụ góp vào như viết các hoành phi, liễn đối bằng Hán Nôm, vẽ các hoa văn, họa tiết; phục hồi các bài văn tế cổ, viết các bài văn tế mới các đình làng…
Năm 2016, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận nghệ nhân văn hóa dân gian ghi nhận cụ Đạt đã dành trọn đời mình vì tình yêu biển đảo, góp phần to lớn bảo tồn di tích Hải đội Hoàng Sa”, ông Vũ cho biết.
Thắng Mỹ
https://baomoi.com/nguoi-gac-am-linh...c/21630121.epi
-
Âm Linh Tự ( Âm – âm hồn, cõi âm : Linh – linh thiêng: Tự – nơi thờ tự), Âm Linh tự là nơi thờ cúng vong hồn những người chết, nhưng vì nhiều lý do không có ai thừa nhận hoặc không ai biết đến.
Âm Linh tự còn có những linh hồn là chiến sỹ trận vong, vì bối cảnh ác liệt của chiến tranh nhiều khi không còn tìm được xác. Hay còn gọi là “thập loại chúng sinh” và dành cho họ mối thương cảm mang đậm tình người. Nay thuộc thôn Tây, Xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn.
AmLinhTu
Trải qua thời gian từ khi tạo lập và tu bổ, Âm Linh tự đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của ngư dân. Mặt bằng tổng thể kiến trúc Âm Linh tự có bình đồ hình tam giác gồm đền Chính, nhà Tây và nhà Đông. Nhìn tổng thể kiến trúc Linh Âm Tự có 3 gian, tượng trưng cho thuyết “ Tam Tài” trong Nho giáo với ý nghĩa là “ Thiên – Địa – Nhân” có nghĩa là “ Trời – Đất – Con người” và với mong muốn là “ Trời – Đất – Con người” dung hòa thì tất cả thiên hạ đều thái bình.
Gian chính điện Âm Linh tự còn có câu đối bi hùng, nói lên khí chất con người Lý Sơn, về những người lính luân phiên nhau ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để bảo vệ chủ quyền lãnh hải của dân tộc. Họ mất đi rồi nhưng vẫn lưu oai thần dũng nơi Âm Linh tự khiến cho núi như có nước mắt, sông như có vành khăn để tang, khóc thương họ:
Địa nhựt tịch, dân nhựt phiên. Bạc hải lư vong vòng lợi lạc. Sơn như lệ, hà như đới. Thiên thu miếu mộ dũng thần côn.
dulichdaibang-amlinhtu
Dịch nghĩa: Đất có hộ tịch, dân luân phiên nhau. Vượt biển xa xôi đi tìm nguồn lợi. Núi như nước mắt, sông như vành khăn. Ngàn năm miếu mộ vẫn còn lưu oai thần dũng.
Ngoài ra, di tích Âm Linh tự còn có một ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, điều đó thể hiện qua đài tưởng niệm các chiến sĩ trận vong trong cuộc chiến chống xâm phạm lãnh hải của tổ quốc, bảo vệ thống nhất nước nhà.
Âm Linh tự cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi đây, là nơi ngư dân trước khi ra biển “đi nghề”, hoặc đi tha phương hành nghề đến cầu xin thần thánh và linh hồn cõi khuất phù hộ độ trì để được bình an, được mùa, làm ăn thành đạt. Trở về bình yên sau mỗi chuyến đi biển (đối với ngư dân) hoặc về thăm quê nhà (đối với người sống tha phương) họ cũng mang lễ vật đến đây để làm lễ tạ ơn, đây là một phong tục đẹp, sâu nặng ân tình, thủy chung gắn bó với quê đảo yêu thương.
Du Lịch Đại Bàng
http://dulichdaolyson.com.vn/canh-dep-ly-son/
-
-
Cát bụi quê nhà
LĐO | 02/10/2017 | 06:40
Trước ngày hội Khao lề thế lính Hoàng Sa, chúng tôi lên đồi Thới Lới ngắm chiều tà. Ngang qua ngôi chùa có tên Âm Linh Tự, thấy các bô lão đã xôn xao chuẩn bị tế lễ, cáo tiền nhân. Tiếng ốc u được ai đó thổi lên, trầm buồn, vang vọng trong trời chiều như tiếng oan hồn khiến ai nấy đều sởn da gà.
Giữa hòn đảo bốn bề sóng nước, mặt trời lặn như chui tụt xuống biển. Đêm sụp xuống đen ngòm, gió ràn rạt tràn qua mấy nương đậu bắp, nghe như có tiếng chân người đang lướt ngang. Dưới ánh sao mờ, những ngôi mộ gió, những hình nộm canh rẫy bắp cứ thoắt ẩn, thoắt hiện… Dẫu biết dưới những gò cát nhỏ kia chỉ là các hình nhân đất nặn, tôi vẫn cứ lạnh dọc cột sống, sợ mơ hồ...
Một “thổ địa” giải thích rằng, mộ gió trên đảo Lý Sơn không đơn thuần là những đụn cát ven biển, được gió vun thành nấm, hoặc thiên di, hoặc mới đắp gọn ghẽ hệt những sinh phần.
Nơi an nghỉ của những linh hồn ở miệt biển này dù không có hình hài, xương thịt, không thể chạm tới, nhưng lại có thể chuyện trò, có thể nghe rõ tiếng chân đi lào xào trên cát, và mọi cảm nhận đều thật một cách lạ lùng như làn da quệt vào gió mặn. Mộ như có, như không. “Gió” trong cụm từ “mộ gió” ở đây cũng có nghĩa là như thế. Người Lý Sơn từ xa xưa đã rành rẽ các nghi thức tâm linh dành riêng cho những linh hồn lưu lạc.
Từ hơn 200 năm trước, khi cai đội Phạm Quang Ảnh cùng 70 nghĩa binh đi trấn ải Hoàng Sa rồi bỏ mình lại biển, Vua Gia Long đích thân ra tận Lý Sơn làm lễ chiêu hồn cho họ. Pháp sư của triều đình đã lên núi Giếng Tiền lấy đất sét, tạo thành hình nhân, lập đàn cúng tế, hô thần nhập tượng cho từng người trước khi an táng.
Những tượng trong mộ gió, da thịt là sét mịn trộn với bông của quả cây gòn, nội tạng từ tro than của cây sầu đông, xương cốt bằng thân cây dâu tằm, loài cây được xem là hiện thân của năng lực phi phàm thiên biến vạn hóa, bất chấp sự xoay vần của thời gian và tạo vật... Sau mai táng, những ngôi mộ gió trở thành cốt nhục của những người đã khuất. Ngày làm lễ chiêu hồn được lấy làm ngày giỗ… Phong tục đó đã tồn tại nhiều đời và vẫn được giữ gìn đến hôm nay.
Bí thư huyện ủy Lý Sơn Nguyễn Viết Vy nổi da gà khi nghe tôi nhắc chuyện cứ mỗi mùa dông bão hoặc giặc dã ngoài khơi thì liền sau đó là tin xấu ập về với dân Lý Sơn, Bình Châu: Nhiều phụ nữ thành góa phụ, con trẻ mồ côi cha vì những người đàn ông đã bỏ mạng ngoài biển cả. Những tình cảnh xót xa kia cứ lặp lại, đời nối đời. Vy nói rất thật: “Gần hai năm ra làm bí thư huyện đảo, chừ em mới nghe tỉ mỉ về mộ gió theo cách kể của anh. Mình nên làm gì để câu chuyện văn hóa này bước ra khỏi sách vở?”.
Tôi liên tưởng đến bức ảnh ngô ngố khi một mình đứng dưới hàng cây ngân hạnh trên đảo Nami trong lần đến Hàn Quốc. Chợt nhận ra bối cảnh lãng mạn trong bộ phim nổi tiếng “Bản tình ca mùa đông” không mấy cảm xúc, chẳng ấn tượng gì nếu so với Lý Sơn. Dẫu sau khi công chiếu, “Bản tình ca mùa đông” đã giúp nâng lượng khách du lịch đến đảo Nami từ 270.000 lượt năm 2001 lên đến 3 triệu lượt khách vào năm 2014...
Trộm nghĩ: Là Vy, tôi sẽ vận động bà con trồng ngay những vạt dâu tằm, những hàng sầu đông ven bờ đồng tỏi trên đảo Lý Sơn, trên các nẻo đường dẫn lên núi Giếng Tiền. Du khách tới đây, tha hồ chụp ảnh check in Lý Sơn như từng khoe nụ cười bên những hàng phong lá đỏ xứ Kim Chi.
Vâng, hòn đảo cát vàng nắng cháy của tôi, dâu sẽ lên xanh, hoa sầu đông sẽ rắc tím các gò mộ gió, nơi cư trú của những linh hồn quả cảm sẽ lãng mạn hơn bất cứ nơi nào, tại sao không, anh Vy nhỉ?
THANH HẢI
https://laodong.vn/chuyen-doc-duong/...nha-567626.ldo
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=U4mzJxnHZYo
Cris Devil Gamer LẦN ĐẦU XEM MV MÌNH CƯỚI NHAU ĐI | CrisDevilGamer Reaction
-
Giác Ngộ Online
Chuyện kể bên miếu cô hồn
GN - Cứ mỗi buổi sáng sớm, khi đi tập thể dục, Thành đều thấy người đàn bà có đôi mắt thâm quầng có lẽ vì mất ngủ, khá khó nhọc bày biện lỉnh kỉnh các loại báo trên chiếc kệ nhựa cạnh miếu cô hồn đầu ngõ.
Người phụ nữ ấy bị mất một chân nên mọi động tác đều nhờ vào chiếc nạng gỗ. Khi quay về, bao giờ anh cũng thấy bà để tấm ảnh nhỏ của một người con trai vào trong miếu với mấy trái cam, trái quýt rồi bật khóc sau khi đọc những bài kinh Phật nguyện cầu.
minh hoa.jpg
Tranh minh họa
Cái miếu này có từ hồi Thành còn bé tí teo thường theo chúng bạn len lén ăn cắp bánh ngọt, trái cây rồi chạy thục mạng vì sợ người lớn bắt được. Có lần, Thành hỏi má:
- Miếu thờ ai mà người ta tới đốt nhang hoài vậy má?
- Thờ cô hồn các đảng đó con. Má đáp.
Hôm qua, không thấy người đàn bà ấy đến bán báo như mọi khi, Thành cảm thấy thiếu vắng một cái gì khó tả trong suy nghĩ của mình. Bà ấy đi đâu ? Sao không bán báo? Người trong ảnh là ai? Có phải là cô hồn các đảng như lời má anh thường kể? Sao đôi mắt bà ấy chứa đựng một sự nhẫn nhịn, u uất, đau khổ dồn nén rất lạ thường. Đôi mắt có thể làm người đối diện thấy bối rối, tò mò muốn tìm hiểu những ẩn khuất chất chứa trong cuộc đời người phụ nữ lạ lùng ấy.
Sáng nay, sự trằn trọc làm Thành dậy sớm hơn mọi khi. Anh thong thả bước đi trên con hẻm xi-măng rộng thoáng. Xa xa, cái miếu cô hồn đã thấp thoáng le lói ánh sánh của những chiếc đèn cầy và cái đèn hột vịt nhỏ xíu. Người phụ nũ ấy đang đốt nhang khấn nguyện. Trong ảnh, chàng thanh niên với nụ cười hiền lành chân chất rạng rỡ niềm tin. Trên ngực áo trắng tinh khôi còn nguyên chiếc bảng tên ghi rõ: Nguyễn Trường Sinh, sinh viên khoa Thủy sản, Trường Đại học C.T.
- Dì ơi! Người trong tấm ảnh ấy là ai vậy? Thành hỏi khẽ.
- Là con nuôi của tui. Tui chỉ có mình nó. Vậy mà nó… Nói tới đó, bà khóc nấc lên trong sự đau khổ tuyệt vọng.
- Vậy còn gia đình của dì ở đâu?
- Quê tôi ở miệt Gò Công, Mỹ Tho. Tui đâu còn ai trên cõi đời này nữa.
Câu chuyện về người phụ nữ ấy cứ cuốn hút Thành không dứt. Bà tên Xuân vốn là bộ đội phục viên. Trong những ngày chiến tranh ác liệt trên đất bạn Campuchia, bà đã từng tiễn đưa bao đồng đội của mình trong đau đớn tái tê. Thấy đó rồi chết đó. Chiến tranh mà. Đến và đi cũng rất bất ngờ và không dung thứ một ai. Vậy đó. Tàn nhẫn và lạnh lùng. Trong ký ức người cựu binh ấy mãi mãi không phai mờ hình bóng đồng đội của mình. Con Hoa Bến Tre hát hay múa dẻo hy sinh trận Bát-tam-băng. Con Liên Cà Mau mặt mày đỏ phừng phừng như say rượu khi bị mấy tay lính thông tin trêu chọc, hy sinh ở trận Pô-sát. Con Hoàng Rạch Giá tướng tá như con trai, kiện tướng lao động đơn vị, tay chân to bè như nải chuối quạ, ăn cơm mỗi lần sáu chén, làm đơn vị cứ bật cười, nó mất khi tiến vào thị xã Kô-kông. Nhiều. Nhiều lắm. Những người con gái, con trai đã nằm xuống trên xứ người, có đứa tới nay chưa tìm được hài cốt đem về quê hướng xứ sở. Có đứa mất đi một phần thân thể xương máu của mình, trở thành thương binh như bà: mất đi một chân vì vướng mìn của bọn Pôn-pốt. Chiến tranh là vậy. Bà không trách móc oán than vì sự mất mát của mình. Còn nhiều, nhiều lắm những mảnh đời đơn độc, hy sinh lặng thầm như bà trên khắp mọi miền đất nước. Bà còn nợ một lời nguyền với chị Hai Tâm, trung đội trưởng trước lúc hy sinh năm 1988.
- Sau này ổn rồi, bây dìa Châu Đốc kiếm nhà má tao cho hay tao đi rồi, còn nữa, thằng Sinh con tao mới hai tuổi, bây ráng nuôi nó dùm tao. Nhà tao nghèo chắc khó lo đầy đủ cho nó Xuân ơi.
- Chị yên tâm. Em hứa sẽ lo cho nó như là mẹ ruột, bà nói khe khẽ.
Vậy là chị Hai Tâm ra đi trong thanh thản - thanh thản giữa núi rừng thâm u lộng gió, trong tiếng chim gọi bạn thê lương. Mới năm trước đó, anh Quang chồng chị hy sinh trên biên giới Thái Lan. Phút sanh ly tử biệt mà chị không gặp được mặt chồng, giờ lại không gặp được mặt con.
Năm 1989, bà về nước trong đoàn quân bộ đội tình nguyện Việt Nam, trong niềm hân hoan rạng rỡ vì đã làm nên lịch sử giúp những người dân vô tội xứ chùa tháp thoát cảnh diệt chủng tàn khốc. Cái chân mất đi của bà đã hòa vào niềm vui chung của hai dân tộc anh em. Bà bắt đầu đi tìm con của chị Hai Tâm miệt Châu Đốc. Năn nỉ riết bà ngoại thằng Sinh mới đồng ý cho bà đem nó về nuôi sau khi bắt bà ra xã làm cam kết nuôi nó cho đàng hoàng tử tế. Bà ở vậy nuôi con. Mà nói cho cùng, chắc cũng không một ai chịu lấy một người thương tật như bà làm vợ. Bà nghĩ vậy. Thằng bé lớn nhanh như thổi, khuôn mặt nó giống mẹ như đúc, lại chăm ngoan học giỏi. Nhiều lần nó gặng hỏi:
- Sao quanh năm suốt tháng, con không thấy má nhắc tới ba? Ba con còn hay mất? Còn hai tấm hình trên bàn thờ là của ai vậy má?
- Là bạn của má hồi ở Campuchia đó con. Chuyện dài dòng lắm. Lớn lên má kể cho nghe.
Thấy bà buồn, thằng Sinh không dám hỏi tới chuyện đó lần nào nữa. Bà cũng định nói cho nó biết nhưng rồi lại thôi. Nói rồi được gì? Có chăng là sự giằng xé đớn đau vì sự mất mát quá lớn với nó, với bà. Lặng im là có tội nhưng đôi khi lại mang đến cho nó một sự sống, một niềm tin. Bà định khi nó ra trường, bà sẽ kể hết mọi chuyện rồi ra sao thì ra. Nhưng rồi bà có còn kịp làm cái chuyện luôn dày xéo trong tâm hồn mình suốt mấy mươi năm qua đâu. Nó chết vị bị đám thanh niên say rượu lạng lách phóng xe bạt mạng đụng vào ngay miếu cô hồn này đây. Chết trong cái ngày nó đi lãnh bằng tốt nghệp kỹ sư thủy sản. Bà vật vã, đau đớn, tỉnh rồi lại ngất xỉu. Niềm tin còn sót lại trong cuộc đời của một người lính như bà giờ tắt lịm. Bà thảng thốt mê sảng khi cảm nhận chập chờn đâu đây đôi mắt của chị Hai Tâm trách móc quở rầy vì không làm tròn trách nhiệm.
Vậy mà ra tòa, trước những khuôn mặt non choẹt, những cái cúi đầu sợ hãi có, ân hận có của đám trẻ đua xe gây ra cái chết cho thằng Sinh, bà chợt xao lòng. Nhìn những đôi mắt cầu cứu, khẩn khoản van lơn sự tha thứ của những người phụ nữ chắc tuổi độ như bà, bà lại thấy xót xa thương hại. Bà khấn nguyện: Anh Quang, chị Tâm, Sinh ơi! Hãy tha tội cho bà, tha tội cho đám thanh niên kia để chúng có dịp tìm lại cuộc đời. Bà khóc giữa phiên tòa im lặng. Bà bãi nại và không yêu cầu bất kỳ một sự bồi thường nào khác. Lại một sự im lặng đến ngạc nhiên. Người nữ chánh án lau vội vàng những giọt nước mắt xúc động. Những bà mẹ trẻ lao tới quỳ lạy dưới chân bà. Bà từ tốn đỡ họ đứng lên với ánh mắt cảm thông.
Từ đó, mỗi ngày bà không còn công tác ở phường mà đến đây bán báo. Bán ngay tại miếu cô hồn này để ngày ngày đốt nhang cho thằng Sinh và bao vong linh chết oan vì tai nạn khác. Bà nói: Làm vậy để thanh thản tâm hồn và sẵn sàng kể chuyện chiến tranh, kể rất thật về những người đã hy sinh thầm lặng cho bất kỳ ai muốn nghe, và hãy tha thứ những lỗi lầm trong cuộc đời sóng gió để nghe lòng tĩnh tại, nhẹ tênh như lòi Phật dạy.
Bình minh đang lên. Trong ánh sáng mờ mờ của ngôi miếu cô hồn, Thành thấy bà sao cao thượng quá, thánh thiện quá, trầm lặng mà thanh cao giữa bộn bề cuộc sống bon chen cơm, áo, gạo, tiền. Chiếc nạng gỗ và dáng dấp liêu xiêu của người đàn bà nhỏ bé ấy hôm nay bỗng sáng lên giữa lồng lộng mây trời.
Truyện ngắn Triệu Mỹ Ngọc
Ý kiến của bạn:
<>
© 2008-2018 Bản quyền thuộc về Báo Giác Ngộ
https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=12E25B
-
MIẾU TAM TÒA
27/09/2017 | Di sản văn hóa cấp tỉnh, Huyện Diên Khánh | 0 |
MIẾU TAM TÒA
Miếu Tam Tòa thuộc tổ dân phố Phú Lộc Tây 1, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (xưa là làng Phú Lộc thuộc tổng Trung, huyện Hoa Châu, phủ Diên Ninh).
Sở dĩ di tích có tên gọi là miếu Tam Tòa vì từ lúc mới lập miếu, người dân nơi đây đã cất ba am thủ gỗ; am giữa thờ Bà Thiên Y A Na; am phải thờ Bạch Mã Thái Giám và am trái thờ Hoả Tinh Thần Nữ, Thủy Tinh Thần Nữ.
Theo dòng lịch sử, Miếu Tam Tòa gắn với nhiều sự kiện lịch sử tiêu biểu của làng cổ Phú Lộc. Từ cuối thế kỷ XVII, người Việt từ các tỉnh miền Trung đến định cư ở vùng đất dọc hai bờ sông Cái (thuộc thị trấn Diên Khánh), sớm hình thành nên những làng xóm trù phú của người Việt. Một biểu hiện của cuộc sống ổn định trên vùng đất mới của cư dân nông nghiệp là sau khi hình thành các cộng đồng làng xã thì những thiết chế văn hóa truyền thống cũng được dựng lên như: đình, chùa, miếu… Miếu Tam Tòa ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đó. Khởi đầu, di tích chỉ xây dựng ba am. Về sau, nhân dân đã đóng góp xây dựng nên ngôi miếu ba gian bề thế, bao bọc ba am thủ kỳ để thờ phụng rất trang trọng. Do vậy, ngày nay ta vẫn còn thấy điểm khác biệt của miếu Tam Tòa với các am, miếu khác trong toàn tỉnh Khánh Hòa.
Theo Truyền thuyết, thần tích, chuyện kể rằng: “Vào một đêm Rằm tháng Ba âm lịch, bầu trời đang trăng sáng, bỗng dưng bên phía núi Đồng Bò (núi Hoàng Ngưu) trời chuyển động, sấm chớp liên hồi, kéo theo tiếng nổ rền vang dữ dội. Tiếp theo, người ta thấy nhiều dải lụa ngũ sắc bay trên nền trời, mang theo một bóng người như tiên nữ bay qua làng Phú Lộc. Những dải lụa đó sà xuống, đậu trên ngọn cây cổ chi, cây mít và đào cổ thụ trong xóm. Người dân nơi đây nghĩ là Bà Thiên Y Thánh Mẫu hiện về nên lập miếu thờ Bà ngay tại nơi này.
Chuyện Bà chữa bệnh dịch cho dân làng: “Chuyện kể rằng: ngày xưa, tại xóm Ấp Thượng (nơi có miếu Tam Tòa) xảy ra một trận dịch tả khủng khiếp, làm chết nhiều người; chính quyền và nhân dân địa phương bó tay, vô phương cứu chữa. Trong lúc nguy khốn đến tính mạng, nhân dân không biết làm sao? chỉ còn cứu cánh duy nhất là làm lễ cúng Bà tại miếu Tam Tòa, van vái xin Thiên Y Thánh Mẫu độ trì cho con dân tai qua nạn khỏi. Trong lúc mọi người đang tụ tập về miếu cùng lạy xin Bà, bỗng dưng nền đất của miếu chuyển động râm ran. Từ trước am thờ Bà, ngay giữa Chánh điện, xuất hiện một vết nứt từ từ mở ra và chạy dài ra đến trước sân miếu; kỳ lạ thay! trên vết nứt ấy xuất hiện những làn bọt trắng sủi lên từ lòng đất như bọt xà phòng, có vị mằn mặn như bọt nước biển. Người dân cho đó là hiện tượng linh ứng, là thuốc Bà cho để cứu dân. Mọi người vội vã vớt bọt trắng ấy mang về pha nước cho người bệnh uống. Kết quả hiệu nghiệm, dịch tả được dập tắt, người dân trong xóm vui mừng và kính phục sự linh ứng mà Bà đã cứu con dân. Từ đó, miếu càng được nhân dân trân trọng gìn giữ, cúng tế hàng năm và là chỗ dựa tinh thần, tâm linh cho nhân dân trong thôn ấp.
Cảm phục sự linh ứng, tiếng đồn lan xa xuống tận Nha Trang, những người dân Nha Trang có nguồn gốc ở miền Bắc vào định cư đã quyên góp, sữa chữa xây dựng 3 ngôi am trong miếu hoàn chỉnh theo kiến trúc cổ, mang đậm bản sắc dân tộc. Do vậy, hiện nay trong tất cả miếu thờ ở tỉnh Khánh Hòa, duy nhất miếu Tam tòa có ba ngôi am trong chánh điện. Vì vậy, miếu ở đây có tên gọi miếu Tam Tòa”[1].
Miếu Tam Tòa tọa lạc trên một khu đất cao ráo bằng phẳng, quay mặt về hướng Nam, trước là con sông Cái hiền hòa. Di tích được bố trí với từng hạng mục công trình kiến trúc được dàn trải theo chiều rộng: Nghi môn, Án phong, hai miếu nhỏ thờ (Âm hồn, Cô hồn, Sơn lâm chúa tướng), Tiền tế, Chính điện và nhà Tiền hiền.
Miếu Tam Tòa, hiện nay còn lưu giữ nhiều di vật, hiện vật cổ có giá trị như: sáu sắc phong của các vua triều Nguyễn ban tặng, chuông đồng , khánh, trống, bốn Long ngai bài vị sơn son thiếp vàng, Long đình bằng gỗ được chạm trổ tinh xảo, hai bộ “ Lỗ bộ” bằng đồng và từ khí bằng đồng như đèn, đỉnh đồng, lư hương … Các sắc phong gồm:
– Sắc Duy Tân năm thứ 5 (1911) phong cho Bạch Mã Thái Giám
– Sắc Duy Tân năm thứ 5 (1911) phong cho Thiên Y a Na
– Sắc Khải Định năm thứ 2 (1917) phong cho thần Thủy Tinh thần nữ
– Sắc Khải Định năm thứ 2 (1917) phong cho thần Hỏa Tinh thần nữ
– Sắc Khải Định năm thứ 9 (1924) phong cho Thiên Y a Na
– Sắc Khải Định năm thứ 9 (1924 phong cho Bạch Mã Thái Giám.
Hàng năm, vào ngày 16 và 17/3 Âm lịch là ngày tiến hành lễ cúng Xuân gọi là lễ hội Xuân kỳ diễn ra tại miếu Tam Tòa. Trong lễ hội tại miếu diễn ra hàng năm bảo lưu được các nghi thức truyền thống của địa phương tồn tại qua nhiều thế kỷ.
Miếu Tam Tòa là công trình kiến trúc cổ mang đậm phong cách kiến trúc đặc trưng triều Nguyễn ở vùng đất Khánh Hoà, được hình thành qua quá trình di cư về phương Nam khai hoang, dựng làng, lập ấp. Ngay từ khi mới được xây dựng di tích đã trở thành điểm tâm linh không thể thiếu trong sinh hoạt tín ngưỡng của người dân làng Phú Lộc xưa và tổ dân phố Phú Lộc Tây 1 sau này. Chính vì những giá trị tiêu biểu trên, miếu Tam Tòa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định số 517/QĐ-UBND, ngày 24/3/2006 xếp hạng là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.
Nguyễn Chí Khải
[1] Nguyễn Văn Thích ghi chép lại theo truyền thuyết dân gian trong tác phẩm: “Di sản văn hóa làng Phú Lộc” – Công trình sách biên khảo, do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa, năm 2008.
http://ditichkhanhhoa.org.vn/wp-cont...1-1280x640.jpg
http://ditichkhanhhoa.org.vn/index.p.../mieu-tam-toa/
-
Lễ cúng cô hồn tháng Năm Âm
By Uyển Ca - July 6, 2017
Share on Facebook Tweet on Twitter
Miếu cô hồn ở góc đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn ở Huế
Miếu cô hồn ở góc đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn ở Huế
Lũ trẻ thay phiên chạy lên chạy về để báo cho nhau biết đám cúng sắp xong chưa rồi sẽ cùng nhau đi lượm trái thực (những vật cúng lễ được chủ lễ rải ra đất sau cúng), nhưng đó là vào rằm tháng 4! Còn tháng 5, không biết tự bao giờ và có ai bảo chúng hay không, nhưng tuyệt nhiên, không đứa trẻ nào ở Huế đi lượm trái thực vào lễ cúng cô hồn từ 23 tháng Năm âm lịch, kéo dài đến hết tháng, và có nơi sang tận rằm tháng 6 vẫn có người cúng.
Tôi đến Huế vào 12 giờ trưa hôm 24 tháng 5 âm lịch. Lúc này, nhiều gia đình đã cúng xong, đang đốt áo giấy, cũng có gia đình đang bày biện ra chuẩn bị cúng.
Hỏi thăm chị Hoa, ở đường Huỳnh Thúc Kháng, con đường nối dài từ cầu Gia Hội, dọc theo bờ sông Hương về đến Bao Vinh, chị này cho hay:
– Ðoạn này người ta cúng nhiều lắm em. Như nhà ba mẹ chị cúng hôm qua nhưng vì chị bận đi lấy hàng nên hôm nay mới cúng được. Gần đây có miếu cô hồn ở góc đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn đó, thường thì 23 hằng năm, bên phường người ta tổ chức cúng ở đó to lắm.
– Vậy lễ cúng này mình cúng ai vậy chị?
– Thì cúng những oan hồn đã khuất vì binh biến Huế thất thủ đó em.
– Vậy là năm 1885, thời Pháp vào hả chị?
– Ừ em, có lẽ vậy, chị cũng nghe nhiều người nói thế nhưng nhà chị thì bắt đầu cúng năm 1969, sau biến cố Mậu Thân năm 1968. Bởi trước đây ba chị nói là họ mất lâu rồi nên chẳng cúng miết giống như níu chân người ta. Nhưng vào năm 68, nghe ông nói nhiều người chết quá, có cả những hố chôn tập thể, người ta đạp nhau tìm đường chạy rồi giày xéo lên nhau mà chết. Hồi đó ba chị may mắn theo người bà con về quê ăn Tết, lúc trở về nhà thì hỡi ôi. Nhà chị cúng từ đó đến giờ, năm nào bận gì thì bận, không cúng được vào 23 thì đến 24, 25 cũng phải cúng.
Một mâm cúng khác với nước chai và bia lon - cho dù thức uống cũng là đồ đóng lon để vừa bốc vừa chạy
Một mâm cúng khác với nước chai và bia lon – cho dù thức uống cũng là đồ đóng lon để vừa bốc vừa chạy
– Vậy lễ cúng gồm gì hả chị?
– Chủ yếu là đồ khô đó em, mình quan niệm sống sao chết vậy, họ chết lúc đang chạy nên không có thì giờ mà hưởng hương đâu, phải cúng gì khô, ráo, như là khoai, đậu phụng, mía, thơm, trái cây các loại, hương đèn, hạt nổ, cháo thánh, bánh, xôi chè… Nói chung là có gì cúng đó, chủ yếu là lòng thành của mình. Mà cúng đồ khô là vì để họ có thể bốc rồi chạy tiếp.
Không làm phiền chị Hoa nhen lửa đốt củi để cúng, chúng tôi ghé sang bên kia đường và tìm quán nước để trú chân. Quanh đây, nhiều nhà đang tổ chức lễ cúng, có một đặc điểm chung là vào trưa hè nhưng nhà nào cũng đốt một đống củi phía trước bàn cúng. Lấy lạ vì điều này, tôi hỏi thăm thì được một ông giáo già đã về hưu hơn 20 năm nay, đang ngồi đánh cờ tướng cho hay:
– Ngày xưa người ta chạy rồi chết, chết sông có, chết chợ có, chết già có, chết trẻ có, người ta đốt lửa để sưởi ấm cho vong linh những người đã khuất.
– Nhưng trời tháng 5 miền Trung mà chú, hôm nào cũng nắng như đổ lửa, đốt củi lỡ thiêu nóng họ thì sao.
– Cái này thì chú nghĩ không mô con à, người ta chết nước nhiều lắm. Mà hình như hồi đó, sau binh biến, trời đổ mưa giông to lắm, bao nhiêu xác người dầm dưới nắng rồi dưới mưa, chú nghĩ chắc tại ông trời ổng thấy người dân chết oan quá.
– Dạ…
– Mà còn điều này nữa, nghe giọng con hình như cũng là người ở đây, vậy đã bao giờ nghe người lớn kể về những giấc mơ chưa?
– Dạ giấc mơ gì vậy chú?
Một bé gái đang phụ giúp dọn đồ cúng
Một bé gái đang phụ giúp dọn đồ cúng
– Thì đây, đối diện con đường này, phía bên kia sông, con nhìn kỹ nhiều nhà lập đến 3, 4 thậm chí 5 am thờ trước sân nhà. Nhiều người nói là họ nằm mơ thấy nhiều người kêu lạnh, xin bộ áo quần và ít lương khô. Ban đầu nhiều người không tin, nhưng sao đêm nào cũng mơ thấy, họ không nghĩ đó chỉ là giấc mơ nữa nên mua vàng bạc, áo giấy, thức ăn về cúng. Ðêm sau có người về cám ơn. Từ đó họ lập bàn thờ cho người đã khuất luôn. Nghĩ mà thương, cho cả người sống và cả người chết, chẳng biết ai thân thích họ hàng chi, cũng chẳng biết tên tuổi để mà cầu siêu, có lẽ giờ này họ vẫn chưa thể siêu thoát.
– Sao chú nói vậy?
-Thì con xem, dự báo thời tiết tuần này trời hanh, nắng to, nhưng hai hôm nay cứ vậy đó, qua Ngọ là trời chuyển sang im lìm. Chú nghĩ là họ vẫn ở quanh đây. Con biết không, ngoài các lễ vật này, có nhà còn cúng thêm một bộ chìa khóa bằng vàng mã và một tờ giấy có vẽ cây gậy thật dài, chú dòng chữ “hãy dùng cây gậy này khều chìa khóa”.
– Ðể làm gì vậy chú? Sao lại phải cúng chìa khóa và tờ giấy vẽ cây gậy?
– Thì kể cúng này không riêng chi trận 1885, kinh đô thất thủ đâu. Ở Huế thì có nhiều bận máu chảy thịt rơi lắm con ạ. Ðến năm 1953, ở Huế cũng có nhiều người chết. Nhưng đáng sợ hơn cả là Mậu Thân 1968. Người chết còn khủng khiếp hơn cả 1885. Thường thì lễ cúng vong hồn Mậu Thân vào dịp Tết. Nhưng người ta vẫn cúng khấn vào tháng 5. Bởi đây là tháng Thái Dương, đang chuyển dần sang thiếu âm, cõi âm đang mạnh dậy và đây cũng giống như lúc người ta mới tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài, mọi buồn bã, cô đơn và uất hận hiện về. Cúng vong hồn 1885 thì cúng thức ăn có thể ăn liền, vừa ăn vừa chạy, cúng vong hồn 1968 thì cúng những thức ăn mềm, thức ăn cho người bị trói và bỏ đói lâu ngày như cháo, chè, nước tăng lực… Và chùm chìa khóa là để họ mở xích đó con.
– Mở xích gì vậy chú?
-À, mở xích ở trong hầm, của Mậu Thân 1968.
– Nghĩa là sao hả chú?
Một phu xe xích lô đang vận chuyển củi đến cho các cửa tiệm tạp hóa bán trong dịp lễ cúng này
Một phu xe xích lô đang vận chuyển củi đến cho các cửa tiệm tạp hóa bán trong dịp lễ cúng này
– Ừ, thế hệ con chắc khó biết vụ này. Mấy mộ chôn tập thể đều bị xích chân con ạ. Chú kể hơi dài dòng chút, hồi đó chú có một căn nhà bên Vỹ Dạ, chú mua lại của người ta từ năm 1978, từ khi về ở, vợ chú bị đau ốm liên tục, chữa khắp nơi cũng không lành. Có một bữa, hôm đó là 23 tháng 5, cũng năm 1978 đó, chú ngủ trưa rồi nằm mơ thấy một hòn lửa rất là to, lăn từ ngoài cửa lăn thẳng vào bàn thờ nhà chú, sau đó cục lửa này chuyển sang màu đen và biến thành một khối đen ngòm. Chú sợ quá, giật mình tỉnh giấc, đi rửa mặt thì… mô Phật, chú nhìn thấy là có một cái bóng đen, đúng hơn là một khối đen ngồi trên bàn thờ nhà chú, sau đó đi thẳng vào phòng vợ chú mặc dù phòng vẫn đóng cửa. Sau đó vợ chú mở cửa bước ra, mắt đỏ như tóe lửa, chỉ vào mặt chú, quát “sao các người lại dám bỏ dơ lên đầu ta?”. Chú vẫn chưa hiểu gì thì nghe nói tiếp, vừa nói vừa khóc “chúng tôi đã nằm dưới này suốt mấy năm trời, lạnh thấu xương, nóng chảy mỡ, sao các người còn nỡ xả nước dơ lên đầu chúng tôi?”. Chú hỏi liều “Dạ ngài là ai? Ngài nằm ở đâu?”. “Các ngươi xem lại dưới chỗ phòng giặt đồ của các ngươi đi!”. Nói xong, bà xã chú ngã đùng về phía sau rồi phều nước bọt, chú làm hô hấp cả buổi. Sau đó mới hiểu ra là bà ấy bị người âm nhập. Chú đi coi bói, thầy bảo về đào dưới chỗ hay ngồi giặt đồ ở sau bếp lên. Chú thuê người đào, trời ạ, một hầm sáu cái xác bị xích chân, chết trong tư thế ngồi. Rồi sau này có thêm nhiều hầm như thế nữa ở khắp Vĩ Dạ…
– Rồi sau đó sao nữa chú?
– Thì mình di dời họ ra nghĩa trang, rồi cúng kiếng, lập am thờ. Và đương nhiên là cúng theo cả chìa khóa và bản hướng dẫn lấy chìa khóa mở xích chứ. Vì lúc chết họ vẫn đang bị xích nên họ phải có cái gậy để khều chìa…
Câu chuyện của ông khiến tôi thấy mọi thứ cứ hư hư thực thực, khó tả. Và nó cũng làm tôi nhớ đến câu chuyện của ông Lưu (một ông thầy phù thủy chuyên đi trừ tà ma mà tôi gặp ngẫu nhiên ở nhà người bạn) kể rằng trong chiến trận Mậu Thân, những người bị chết trong tư thế xích chân là bộ đội Cộng sản. Trận Mậu Thân 1968 người ta đưa quân từ Bắc vào, toàn quân trẻ con, trên tay có xăm dòng chữ “Sinh Bắc Tử Nam”, và trước khi đánh trận, họ đã đào hầm, chỉ huy xích chân của họ trong hầm để họ giữ nguyên vị trí chiến đấu với thể loại bắn tỉa. Và họ đã chết đúng tư thế đó khi bị pháo kích.
Câu chuyện nghe cứ thực mà hư!
Thì ra người dân cố đô đã cúng cho tất cả oan hồn chết trong Mậu Thân, dù đó là người dân Huế bị thảm sát hay người đi thảm sát.
Người ta đốt một đống củi trong khi cúng để mong có thể sưởi ấm vong linh người đã khuất
Người ta đốt một đống củi trong khi cúng để mong có thể sưởi ấm vong linh người đã khuất
UC
http://baotreonline.com/wp-content/u...2017/07/H3.jpg
Miếu cô hồn ở góc đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn ở Huế
http://baotreonline.com/le-cung-co-hon-thang-nam/
================
ngobadung & Hoian
24 tháng 2, 2015
Miếu Âm hồn và tục cúng âm hồn ở Huế
Miế
miếu Âm hồn - Huế - ảnh ngobadung
u Âm hồn và tục cúng âm hồn ở Huế
Huế có nhiều dinh thự, lăng tẩm, chùa chiền, miếu mạo, trong đó có một ngôi cổ miếu có tên Miếu Âm hồn được xây dựng năm 1895 và được trùng tu cách đây chừng 2 năm, nằm ngay ngã tư Mai Thúc Loan- Lê Thánh Tôn, đường LTT trước đây còn có tên là đường Âm hồn như muốn nhắc nhở về một giai đoạn tang tóc, bi thương của người dân cố đô.
Miếu Âm hồn được người dân lập ra nhằm để tưởng nhớ và nơi trú ngụ của những oan hồn uổng tử trong trận thất thủ kinh đô năm năm 1885.
Cách đây 130 năm, vào đêm 4.7.1885 nhằm ngày 22.5 năm Ất Dậu, Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết đã chỉ huy quân lính bất ngờ dùng đại bác và quân chủ lực tấn công quân Pháp đóng tại đồn Mang Cá và khu Tòa Khâm sứ bên kia sông Hương. Do hỏa lực không tương xứng, từ khuya đến 4 giờ sáng hôm sau, quân Pháp phản công tiến chiếm kinh thành, chúng đã hung hăng đốt phá, bắn giết không chừa một ai, kể cả trẻ con, phụ nữ, người già. Một cuộc tháo chạy và bị tàn sát hết sức bi thương tang tóc. Theo ước lượng của người Pháp có đến 1.500 người bị chết tại chỗ, số chết và bị thương khác được thân nhân đem chôn cũng ước gần bằng số đó. Đa số người chết trong trận thất thủ kinh đô là thường dân vô tội cư ngụ tại phía đông nam kinh thành Huế. Bên cạnh đó có nhiều binh sĩ, quan lại có trách nhiệm chiến đấu bảo vệ kinh thành. Sử sách nói rằng chừng mười năm, sau biến cố 1885, khi khai quật, cải táng. Người ta còn tìm thấy vô số xác dưới các ao hồ (hồ Tịnh Tâm, cầu Thanh Long), trong hố chôn tập thể người ta còn tìm thấy rất nhiều binh khí, mũ mão, bài ngà của các quan lẫn xác ngựa.
Theo các sử gia, con đường Mai Thúc Loan và đường Âm hồn (Lê Thánh Tôn) ngày nay nơi có ngôi cổ miếu là nơi diễn ra cuộc tàn sát đẩm máu và đầy chết chóc nhất, xác người vương vãi khắp nơi, "chết không còn chỗ chôn" thật kinh hoàng, không bút mực nào tả xiết.
“Nào hồn đông hồn tây, hồn nam hồn bắc, chẳng đâu không gọi hồn về.
Hỡi cô phu, cô phụ, cô tử, cô thần, may hãy còn mình, mình cúng
Cúng cha anh chú bác, thím mợ cô dì ta cả thảy, đau đoàn sau cùng đau đoàn trước, tình nhất sinh nhất tử sơ khác gì thân.
Này hương hoa vàng giấy, xôi rượu muối trà, chút gọi rằng nếm lấy hơi, xin nếm lấy lòng, nghĩa đồng chủng đồng bào, thác xem như sống.
Hỡi tinh linh các đấng, phòng trì cho Tổ quốc trường tồn
Này quốc ngữ đôi hàng, ao ước những chí thành năng động.
Than ôi! Xin hưởng”
(Trích văn tế cổ,cúng âm hồn tử sĩ trong biến cố 1885)
Tưởng nhớ người thân đã bỏ mình trong biến cố lớn năm Ất Dậu, ở Huế dường như nhà nào cũng có thân nhân tử nạn, vì vậy hằng năm từ 23 âm lịch cho đến cuối tháng 5, suốt một tuần ròng rã, đâu đâu cũng che bạt, bày mâm, lập đàn chẩn tế. Con đường mang tên Âm Hồn và nhiều nơi khác, khi đêm xuống, nhà nhà bày biện những mâm cúng phía trước.
Trong không khí u tịch, trầm lắng là những mâm lễ với đủ nghi thức với cau trầu rượu, chè cháo, gạo muối, hạt nổ ngũ sắc, hương hoa vàng mã. Khó khăn thì vài củ khoai, sắn luộc, đốt mía, bánh trái xanh đỏ... như “dúi vào tay” cho những oan hồn còn vất vưởng chưa siêu thoát còn lẫn khuất chốn dương gian.
Ngô Bá Dũng biên khảo
http://2.bp.blogspot.com/-KTDWjDNoyF...1727967690.jpg
http://ngobadung.blogspot.com/2015/0...hon-o-hue.html
================
Trùng tu miếu Âm hồn Huế tưởng niệm đồng bào tử nạn
Chia sẻ
Dân trí Ngôi miếu Âm hồn (đường Mai Thúc Loan giao Lê Thánh Tôn, TP Huế) tưởng niệm ngày “thất thủ kinh đô” 5/7/1885 (23 tháng 5 âm lịch) vừa được trùng tu và khánh thành đúng vào ngày “giỗ lớn” của toàn thể người dân Cố Đô.
Tại buổi lễ vừa diễn ra ngày 30/6 (nhằm ngày 23 tháng 5 âm lịch), hàng trăm người dân, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã có mặt để thắp nén hương tưởng nhớ những anh linh trận vong và người vô tội chết oan trong sự kiện “thất thủ kinh đô Huế” năm 1885.
Miếu Âm hồn vừa được trùng tu xong
Miếu Âm hồn vừa được trùng tu xong
Miếu Âm hồn Huế ngày nay nằm ở trên đường Mai Thúc Loan giao đường Lê Thánh Tôn thuộc phường Thuận Lộc, TP Huế. Hàng năm vào 23/5 âm lịch, các cụ già cao niên thành phố Huế thường về đây để tổ chức cúng âm hồn, tưởng niệm những anh linh đã hi sinh vì vận nước. Người dân bình thường tổ chức cúng tại nhà. Đã từ lâu, ngày này đã trở thành ngày “giỗ lớn” của toàn thể người dân cố đô Huế.
Lịch sử bi thương
Ngày 23/5 năm Ất Dậu 1885, hai đạo quân của triều đình nhà Nguyễn do Tôn Thất Lệ và Trần Xuân Soạn từ Đại Nội Huế đồng loạt nổ súng tấn công quân Pháp ở tòa Khâm Sứ Pháp và đồn Mang Cá. Lúc đầu quân địch bất ngờ và rối loạn nhưng sau đó đã lấy lại thế trận và phản công chiếm kinh thành.
Quân địch tấn công quân ta ở đường Hàng Bè (đường Đào Duy Anh, Huỳnh Thúc Kháng) khi bị đánh chặn ở cống Thanh Long. Địch chuyển sang đường Lê Văn Hưu và tiến theo đường Âm Hồn (nay là đường Lê Thánh Tôn) đánh thẳng lên trên và tiến về của Hiển Nhơn tấn công Đại Nội Huế.
Miếu Âm hồn vừa được trùng tu xong
Đại Nội Huế - nơi quân triều Nguyễn đã nổ súng tấn công quân Pháp chống lại ách xâm lược vào ngày 23 tháng 5 năm 1885. Nhưng do thất bại, ngày đó đã trở thành ngày tàn sát của giặc đối với rất nhiều đồng bào vô tội, binh lính, các quan... tại Huế (ảnh: Ngọc Thụ)
Trên đường đi, quân thù đã tàn sát, đốt phá nhà cửa, giết người dân vô tội. Quân ta sử dụng vũ khí thô sơ không thể chống lại giặc và đã thất bại trong việc không chế tình hình. Kinh thành Huế ngập chìm trong máu lửa. Hầu như gia đình nào cũng có người bị thương vong. Các bộ sử sách không thể thống kê hết số quân nhân và người dân vô tội tử vong.
Nhân dân tưởng nhớ
Miếu Âm hồn Huế được người dân thành phố Huế dựng lên vào năm 1895. Sau hơn 118 năm, đây luôn là một địa chỉ tâm linh, văn hóa quan trọng trong tiềm thức người dân xứ Huế. Miếu được trùng tu từ cuối 2012 đến tháng 1/2013 nhờ vào kinh phí do người dân và chính quyền cùng đóng góp với 250 triệu đồng. Quá trình trùng tu đã thay thế các cột chống gỗ, mái ngói được lợp mới, các đồ trang trí cũng được thay đổi hoặc sơn lại.
Các bô lão cao niên đang làm lễ trong miếu
Các bô lão cao niên đang làm lễ trong miếu
Hàng năm vào 23/5 âm lịch, lễ cúng âm hồn được tổ chức chu đáo theo nghi thức thờ cúng tín ngưỡng cổ truyền ở Huế, với những bài văn tế thống thiết, ai oán. Tập tục cúng âm hồn là một mỹ tục thắm đượm tình nhân đạo, nghĩa đồng bào, nó có đầy đủ ý nghĩa của một lễ hội dân gian mang màu sắc dân tộc tiêu biểu cho một vùng đất ngàn năm văn vật.
Theo các nhà nghiên cứu, miếu Âm hồn của người dân Huế cùng với đàn Âm hồn của triều đình nhà Nguyễn tại Huế là hai công trình được lập ra để tưởng niệm những chiến sĩ trận vong và người dân vô tội chết trong sự kiện thất thủ kinh đô năm Ất dậu 1885. Tuy nhiên cho đến nay chỉ có miếu Âm hồn còn được người dân biết đến và hàng năm thắp hương cúng bái, riêng đàn Âm hồn đang được các nhà khoa học khảo sát tìm kiếm lại vị trí.
Ông Ngô Hòa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tâm sự với người dân đến dự buổi lễ: “Người dân Huế không ai quên được ngày 23/5. Có lẽ chẳng nơi nào trên Việt Nam có một nghi lễ cúng tế quy mô, mang tính toàn dân như lễ cúng âm hồn vào ngày 23 tháng 5 âm lịch hàng năm ở Huế”
Anh Việt – Đại Dương
http://dantri.com.vn/van-hoa/trung-t...1373232758.htm
=================
Tập tục cúng âm hồn - Nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh xứ Huế
Tổ Quốc 18/06/2017 10:03 GMT+73 liên quanGốc
Tục cúng cho các âm hồn tại Huế vào ngày thất thủ Kinh đô được xem là ngày cúng cô hồn lớn nhất trong cả nước. Việc làm này đã thể hiện được tình đồng bào, tấm lòng nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc của người dân xứ Huế.
Nếu là một du khách lần đầu tiên đặt chân đến TP. Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế) đúng vào dịp 23/5 âm lịch, nhiều người sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi không khí trang nghiêm trải khắp thành phố. Từ các gia đình đến thôn, xóm, phường,.. rất nhiều rạp được dựng nên để tổ chức lễ cúng âm hồn. Đó chính là ngày tưởng nhớ sự kiện “Thất thủ Kinh đô 23 tháng 5”, một ngày rất đặc biệt đối với mỗi người dân xứ Huế.
Đi tìm nguồn gốc ngày cúng âm hồn ở Huế
Hằng năm cứ đến dịp 23/5 âm lịch, người dân ở Huế lại long trọng tổ chức ngày lễ cúng âm hồn. Đây là một nghi lễ vừa mang tính chất gia đình lại vừa có tính chất cộng đồng trong một đoàn thể, tổ chức hay trong một tập thể dân cư ở cùng tổ, phường,.. Việc lễ cúng âm hồn ở Huế được tổ chức một cách trang trọng như vậy liên quan đến sự kiện thất thủ kinh đô năm 1885.
Tập tục cúng âm hồn - Nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh xứ Huế - Ảnh 1
Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình mà lễ vật cũng khác nhau nhưng không thể thiếu: hương đèn, trầu cau, xôi, chè, khoai sắn, hoa quả,...
Giai đoạn 1883 – 1885 là giai đoạn nhạy cảm nhất trong lịch sử Việt vào triều Nguyễn. Năm 1883, sau khi Pháp nã đại bác vào Thuận An, Kinh thành Huế rơi vào thế lâm nguy, triều đình hoang mang lo sợ. Lúc này chỉ có Tôn Thất Thuyết vẫn cương quyết giữ vững lập trường đánh Pháp.
Đêm 4 rạng sáng 5/7/1885 (tức đêm 22 rạng sáng 23/5 năm Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết đứng dậy chỉ huy cuộc vũ trang với 20.000 binh lính chống Pháp, đánh vào sào huyệt của giặc ở Mang Cá và Tòa Khâm Sứ bên bờ sông Hương. Quân ta chiến đấu gan dạ nhưng vì khí giới thô sơ nên bị thua trận. Quân địch tổ chức phản công, chiếm thành, giết chóc không chừa một ai. Một cuộc chạy loạn hết sức đau thương và bi thảm của người dân xứ Huế đã diễn ra. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất chính là người dân trong kinh thành Huế.
Theo một số ghi chép, dường như không có gia đình nào là không chịu mất mát sau biến cố. Khoảng 9300 binh lính và thường dân bị thương vong. Họ là những quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy,… tử nạn vì nhiều nguyên do. Hoặc là chết vì súng đạn giặc Pháp, hoặc do chen lấn, dày đạp nhau mà chết. Cũng có thể bị ngã khi tìm cách leo ra khỏi thành hoặc sẩy chân xuống các ao hồ dày đặc trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm,..
Những người sống sót sau biến cố bàng hoàng, tiếc thương cho những người bị chết một cách oan uổng nên đã lập đàn cúng bái.
Tập tục cúng âm hồn - Nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh xứ Huế - Ảnh 2
Trong nghi lễ luôn có một bình nước lớn và một bếp lửa được đốt ngay bên cạnh bàn thờ cúng.
Từ đó trở đi, ngày 23/5 âm lịch hàng năm cũng trở thành ngày “giỗ chung” của cả kinh thành Huế. Vào ngày này, người dân ở Huế lại làm lễ cúng cho những người tử nạn, không kể người đó có phải là người thân trong gia đình hay không.
Nét đẹp cao quý trong văn hóa Huế
Tập tục cúng âm hồn bắt đầu từ những năm sau biến cố thất thủ kinh đô và kéo dài cho đến bây giờ. Trải qua hơn 130 năm, dù Huế có nhiều sự biến đổi nhưng tập tục này vẫn được gìn giữ và chưa bao giờ bị gián đoạn. Tuy quy mô và hình thức tổ chức có chút khác nhau so với từng thời điểm lịch sử song ý nghĩa của nó vẫn được giữ nguyên.
Từ ngày 23/5 âm lịch, nếu là một du khách đặt chân đến Huế ắt hẳn mọi người sẽ không khỏi ngạc nhiên trước không khí trang nghiêm. Hình ảnh các lễ cúng, hương khói, tiếng nhạc cúng lễ có thể bắt gặp ở mọi nơi từ sân nhà, đầu ngõ, trong chợ, bến đò, bến sông,..
Việc tổ chức nghi lễ cúng âm hồn theo hình thức cá nhân hay tập thể không có một quy định cụ thể nào. Chủ yếu là dựa vào sự thành tâm và tấm lòng của mỗi người. Thông thường, việc tổ chức lễ cúng âm hồn được tổ chức vào ngày chính lễ 23/5 âm lịch, nhưng cũng có thể kéo dài cho đến hết tháng 5 tùy vào mỗi gia đình.
Mâm cúng lễ thường được bày biện giữa trời, thường là trước cổng hoặc sân nhà với hai mâm thượng và hạ. Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình, mỗi khu phố mà lễ vật cũng khác nhau. Tuy nhiên trong số các lễ vật không thể thiếu: hương đèn, trầu cau, rượu trắng, cháo trắng, muối, gạo, hạt nổ, xôi, chè, khoai sắn, hoa quả, giấy tờ vàng mã,..
Đặc biệt trong nghi lễ luôn có một bình nước lớn và một bếp lửa được đốt ngay bên cạnh bàn thờ cúng. Nhiều người tin rằng những vong linh bị chết oan uổng vì đói khát, chết lạnh lẽo dưới ao hồ,.. không ai thờ tự có thể đến uống nước, sưởi ấm vào ngày này.
Tập tục cúng âm hồn - Nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh xứ Huế - Ảnh 3
Miếu Âm Hồn là ngôi miếu có lịch sử lâu đời nhất, hằng năm vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn tưởng nhớ những người tử nạn sau biến cố thất thủ Kinh đô.
Nghi thức tổ chức lễ cúng âm hồn trang trọng nhất vẫn được tổ chức ở các am miếu trong khắp thành phố Huế. Hiện nay nằm ở đường Mai Thúc Loan (TP. Huế) vẫn còn Miếu Âm Hồn là ngôi miếu có lịch sử lâu đời nhất gắn liền với ngày lễ này. Miếu được xây dựng vào năm 1895, hằng năm vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn tưởng nhớ những người tử nạn sau biến cố thất thủ Kinh đô.
Ông Trần Văn Vinh (người dân TP. Huế) cho biết: “Ngày này người dân Huế vẫn gọi là ngày “quẩy cơm chung”. Vào ngày đó nếu là khách vãng lai thì dù bất cứ nơi nào mình nghỉ chân vẫn thường được gia chủ mời cùng với gia đình dùng chung bữa giỗ đó”.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Huế, lễ cúng âm hồn là một cuộc tưởng niệm tập thể của cộng đồng dân chúng Huế. Nó ghi lại một sự kiện bi hùng xảy ra trên đất Cố đô vào ngày 23/5 Ất Dậu khi có hàng nghìn người đã chết sau biến cố đau thương này.
Không chỉ cúng cho những vong linh không biết tên tuổi để tưởng nhớ họ đã có công chống thực dân để đấu tranh vì độc lập tự chủ của nước nhà. Tập tục còn thể hiện tính văn, nhân đạo rộng lớn và nghĩa cử hết sức cao đẹp của người dân Huế nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Thế Trung - Đức Hoàng
https://baomoi-photo-2-td.zadn.vn/w7...1/1_116623.jpg
https://baomoi-photo-2-td.zadn.vn/w7...1/3_136213.jpg
https://baomoi.com/tap-tuc-cung-am-h...c/22555471.epi
-
NGÀY CÚNG CÔ HỒN 23/5 ÂM LỊCH NĂM ẤT DẬU 1885
TRANG THÔNG TIN LIÊN LAC (CHS BỒ ĐỀ NK 67 - 74)
BLOG CỰU HỌC SINH TRUNG HỌC BỒ ĐỀ LÊ NGỌC TÂM
BLOG: CHSBODELENGOCTAM - EMAIL: LENGOCTAM138@GMAIL.COM
LIÊN HỆ : LÊ NGỌC TÂM, 138 ĐỐNG ĐA, Q. HẢI CHÂU TP ĐÀ NẴNG
ĐT: 0914.000.909 - 0919.95.65.15 - 0125.68.68.108
MIẾU ÂM HỒN NƠI HÀNG NĂM VÀO NGAY 23/5/ÂM LỊCH DÂN LÀNG THÔN THẾ VINH XÃ PHÚ - MẬU HUYỆN PHÚ VANG - THỪA THIÊN HUẾ THƯỜNG TỔ CHỨC LỄ TẾ CÔ HỒN (MIẾU NGUYÊN TRẠNG CÁCH ĐÂY HÀNG TRĂM NĂM)
NGUỒN GỐC NGÀY CÚNG CÔ HỒN 23 THÁNG 5 TẠI CỐ ĐÔ HUẾ
(23/5 ÂM LỊCH NĂM ẤT DẬU NHẰM NGÀY 05/7/1985)
Ngày 23 tháng 5 âm lịch hàng năm là ngày cúng âm hồn của người dân thành Huế. Lễ cúng tế vừa có tính chất gia đình lại vừa có tính chất cộng đồng của các đoàn thể, tổ chức, tập thể những người cùng chung một ngành nghề, cùng ở trong một thôn, xóm, phường... Việc tổ chức cúng âm hồn trọng thể như vậy liên quan đến sự kiện kinh đô thất thủ năm 1885.
Trấn Bình Đài ( Đồn Mang Cá) nơi quân Pháp đồn trú và diễn ra trận đánh
Năm 1884, Pháp đã chiếm trọn hai miền Nam Bắc. Huế, trái tim của đất nước, trong cơn nguy biến mà mọi người dân Việt Nam đang lâm vòng nô lệ nhìn về.
Tối 22 qua rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu tức là đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885, Thượng Thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết và Đề Đốc Trần Xuân Soạn đã chỉ huy 20.000 binh lính mở cuộc tổng tấn công vào thành lũy của quân Pháp ở Toà Khâm và Mang Cá, sào huyệt giặc bên sông Hương. Quân ta chiến đấu rất gan dạ. Tôn Thất Thuyết bố trí cuộc tấn công rất chu đáo nhưng vũ khí giới kém nên bị thua trận.
Trường ĐH Sư Phạm xưa kia là Trung học Kiễu Mẫu.
(Trước đây là tòa khâm sứ Trung Kỳ. Một trong hai nơi đóng quân của Pháp và diễn ra trận đánh.)
Rạng sáng, quân Pháp bắt đầu phản công dưới sự chỉ huy của Pernot. Pháp đã chia quân làm ba ngã để tiến vào kinh thành. Từng đợt xung phong chiếm lĩnh các vị trí cửa chắn then chốt để tràn vào các cửa Đông Ba, Thuợng Tứ, Chánh Đông, Chánh Tây, An Hòa. Toán từ Cửa Trài, phá cầu Thanh Long, vượt sông Ngự Hà, tiến vào Lục Bộ, cố tấn công cửa Hiển Nhơn để mở đường vào Hoàng Cung. Toán quân thứ hai vượt Cầu Kho tấn công quân triều đình đang tử thủ vườn Ngự Uyển để tiếp ứng toán quân đang cố phá đổ một cách vô hiệu quả cửa Hiển Nhơn vẫn đứng trơ gan trong khói lửa. Quân triều đình không giữ nổi thành phải tháo chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đông Ba đã bị toán quân Pháp từ phía Cửa Trài tiến lên bao vây. Cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xảy ra: hơn 1.500 người dân và binh lính triều đình đã ngã xuống trong đêm hôm đó vì bị trúng đạn của Pháp, hay một số do chen lấn, giẫm đạp lên nhau khi cố vượt ra khỏi Kinh thành. Hầu như không có gia đình nào không có người bị tử nạn trong đêm binh biến này.
Cửa Đông Ba 1885 đã diễn ra sự kiện đau thương với hơn 1.500 người con Huế ngã xuống.
Ngày 23 tháng 5 âm lịch (05.7.1885) từ đó về sau đã biến thành ngày giỗ lớn, ngày "quầy cơm chung" hàng năm của cả thành phố Huế. Họ cúng cho tất cả những người tử nạn: quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy, do nhiều nguyên do: hoặc dày đạp, chen lấn nhau mà chết, hoặc bị đạn Pháp hoặc bị ngã xuống thành khi tìm cách leo ra khỏi thành, hoặc sẩy chân rơi xuống hồ ao dày đặc trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm… trong khoảng từ 02g đến 04g sáng 23.5 năm Ất Dậu.
Hồ Tịnh Tâm nơi nhiều người bị ngã xuống khi tháo chạy.
Ngày chính cử hành nghi lễ là ngày 23 tháng 5 ÂL. Nhưng đối với các tư gia thì có thể tùy theo từng gia đình mà tổ chức từ 23 đến 30 tháng 5. Người ta thường dựng rạp hoặc bày bàn cúng ngoài trời. Lễ cúng ít nhiều tùy gia đình nhưng tối thiểu phải có chè, cháo, gạo, muối, hoa quả, nhang, trầm, trà, giấy tiền vàng bạc, hột nổ, áo binh, giấy ngũ sắc, cau trầu, rượu. Ðặc biệt, trong lễ cúng 23 tháng 5 này, từ gia đình cho đến tập thể phải nhớ có một bình nước lớn và một đống lửa đốt bên cạnh bàn thờ cúng. Người ta tin rằng các âm hồn sẽ đến uống nước và sưởi ấm bên đống lửa, vì nhiều người trong biến cố đã chết khát, chết lạnh lẽo dưới ao, hồ, sông, suối trong rạng ngày 23 tháng 5.
HỘI ĐỒNG TỘC TRƯỞNG HỌP BÀN PHƯƠNG ÁN TRÙNG TU MIẾU ÂM HỒN CHUẨN BỊ CHO LỄ TẾ
NGÀY 23/5 ÂM LỊCH NĂM QUÝ TỴ (2013)
ĐẠI DIỆN HỘI ĐỒNG TỘC TRƯỞNG ÔNG LÊ NGỌC DỰ GIÁM SÁT VIỆC TRÙNG TU
ÔNG LÊ NGỌC DỰ ĐẠI DIỆN LÊ NGỌC TỘC CHỈ ĐẠO TRÙNG TU
CHÚ LÊ NGỌC CHỨC THAM GIA CÙNG TỘC HỌ LÊ NGỌC TỘC TRONG VIỆC TRÙNG TU MIẾU CỔ ÂM HỒN
THỂ HIỆN THƯ PHÁP
MIẾU ÂM HỒN THÔN THẾ VINH ĐÃ ĐƯỢC TRÙNG TU XONG VÀO NGÀY 11/6/2013
(MỒNG 4 THÁNG 5 TẾT ĐOAN NGỌ NĂM QUÝ TỴ)
MIẾU CÔ HỒN ĐÃ ĐÃ ĐƯỢC TỘC HỌ LÊ NGỌC TẠI THÔN THẾ VINH TRÙNG TU ĐÃ HOÀN THÀNH VÀO NGÀY VÀO NGÀY 11/6/2013 NHẰM NGÀY MỒNG 4 THÁNG 5 ÂM LỊCH NĂM QUÝ TỴ 2013 ĐỂ CHUẨN BỊ CHO NGÀY
LỄ TẾ 23/5 ÂM LỊCH NĂM QUÝ TỴ 2013
SAU KHI HOÀN THÀNH VIỆC TRÙNG TU
BÊN TRONG MIẾU SAU KHI HOÀN THÀNH VIỆC TRÙNG TU
TỔNG THỂ THẾ VINH TỰ TẠI THÔN THẾ VINH
CỔNG THẾ VINH TỰ NHÌN NGHIÊNG
CHÍNH DIỆN THẾ VINH TỰ
CHÚ ĐIỆU THẾ VINH TỰ
THẦY THÍCH TRUNG TUỆ TRỤ TRÌ TẠI THẾ VINH TỰ
CÁC ĐIỆU ĐANG QUÉT DỌN SÂN CHÙA
SÂN CHÙA VÀ CÂY CẢNH TẠI THẾ VINH TỰ
http://chsbodelengoctam.blogspot.com...am-at-dau.html
-
-
-
Chuyện về hơn 100 bộ hài cốt chiến sĩ VNCH bị lãng quên (Kỳ cuối)
Tuesday, October 18, 2011 5:37:20 PM
‘Sống khôn, chết thiêng... ’ ’
Liêu Thái/Người Việt
QUẢNG NAM - Ðầu tháng 4 năm 2009, sau hơn ba mươi năm im ngủ trong lòng đất mẹ, những người lính VNCH tưởng đã đi vào quên lãng bỗng dưng sống dậy trong ký ức của nhiều Phật tử chùa Dương Lâm.
Lễ động thổ bốc mộ. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Có lẽ, người được nhắc đến đầu tiên, người khơi mào câu chuyện cũ lại là người còn rất trẻ, một nhà ngoại cảm nữ lên thăm chùa và bắt đầu bàn với nhiều Phật tử khác về chuyện bốc mộ, quyên góp tiền, công sức xây dựng cho những chiến sĩ VNCH được mồ yên mả đẹp. Nhiều người trong chùa hưởng ứng lời kêu gọi của cô, cuộc vận động quyên góp bắt đầu. Con số quyên góp được không nhiều, chừng vài mươi triệu đồng. Nhưng mọi người quyết định có bao nhiêu tiền làm bấy nhiêu, tùy duyên mà thực hiện. Ngày 1 tháng 4 năm 2009, sau lễ chiêu linh, sau những hồi chuông chiêu cảm của chư thầy và các Phật tử chùa Dương Lâm, những đoạn xương, những bộ hài cốt được đưa lên mặt đất, an quách và đưa đến khu nghĩa trang tập thể của chùa, nằm trên lưng ngọn đồi Phú Ninh, lưng dựa vào núi, mặt hướng ra lòng hồ nước xanh.
37 ngôi mộ mới (trong đó có 3 mộ đôi) an tọa trên lưng đồi, nơi mà trước đây ba mươi mấy năm, những người nằm dưới mộ kia, có người được mệnh danh là ‘con hổ rừng già’. Họ nằm im nghe tiếng gió núi và lời thầm thì của đại ngàn sau cơn binh biến, sau những tử sinh và cô đơn. Vẫn còn nhiều đồng đội của họ nằm sót lại sau lưng chùa, trên những nương khoai mì vắng lạnh...
Về báo mộng
Và, sau lần di dời ấy, nhiều Phật tử trong nhóm bốc mộ nằm mơ thấy những người lính trở về. Câu đầu tiên họ nói là lời cám ơn gửi đến những ân nhân đã đưa họ đến nơi khô ráo, yên tĩnh và thơ mộng.
Một trong những ngôi mộ trong khu nghĩa trang. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Sau đó, nhiều lần báo mộng khác, họ cho biết rằng trong số họ, có người thèm ăn ớt xanh với mì quảng, có người thèm khoai lang luộc, có người thèm hút thuốc lá, có người thèm một chai bia, có người nhớ quê mà lâu quá không được về nhà bởi không có tiền mãi lộ... Cũng có người than lạnh quá bởi ngôi mộ mới của họ bị trống chân...
Vậy là các Phật tử lại họp nhau, mua những thức quà mà họ đã báo mộng rằng họ đang cần, mang lên khu mộ mới để cúng kính, dâng tặng.
Ngạc nhiên nhất là người Phật tử nằm mộng thấy người lính chỉ ngôi mộ của mình nằm ngoài bìa khuôn viên nghĩa trang mới bị lạnh chân. Khi anh đến cúng thì phát hiện ngôi mộ đó bị lở đất do mưa núi. Anh đắp đất lại thì tối đó về nằm mộng thấy người lính ấy về cám ơn và hứa sẽ tặng một món quà...
Những hài cốt còn nằm lẩn khuất đâu đó trong khuôn viên chùa, chưa được di dời lên nghĩa trang vẫn là nỗi canh cánh trong lòng những Phật tử Dương Lâm.
Danh tính các chiến sĩ mà chùa Dương Lâm hiện có:
1. Nguyễn Minh - SQ 75- 211355 - Trung Ðoàn 5/SÐ2
2. Nguyễn Văn Tôi - SQ 75 - 151704 - Trung Ðoàn 5/SÐ2
3. Nguyễn Ban - SQ 73 - 213952 - Trung Ðoàn 5/SÐ2
4. Nguyễn Chí Thanh - SQ 704 - 2744
5. Nguyễn Thị Phụng
6. Nguyễn Thanh (A)
7. Hoàng Thắng Tài
8. Nguyễn Văn Trị
9. Trần Công Tranh
10. Phan Văn Ẩn
11. Nguyễn Văn An
12. Phan Văn Ảnh
13. Nguyễn Tấn Ca
14. Lê Văn Nghĩa
15. Ðinh Văn Nhiên
16. Nguyễn Văn Dũng - Nguyễn Tấn Tài (Mộ đôi)
17. Nguyễn Thành Danh. Và một số mộ đơn, mộ đôi khác có bia “vô danh”.
Qui tập lần 2, những báo mộng mới...
Ðầu năm 2011, Ðại đức Thích Pháp Tánh về nhậm trụ trì chùa Dương Lâm. Việc đầu tiên của thầy làm là kêu gọi các Phật tử cùng thầy góp công sức, tiền của để tiếp tục di dời, cải táng cho những hài cốt còn sót lại trong khuôn viên chùa.
Miếu thờ các chiến sĩ trận vong và thập loại cô hồn trong khuôn viên chùa.
(Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Lời kêu gọi của vị sư trẻ 24 tuổi đã nhanh chóng được hưởng ứng, đợt qui tập mộ lần 2 được thực hiện sau đó không lâu.
Nhưng, điều làm cho vị sư trẻ cùng những Phật tử buồn nhất lại là những hài cốt đã bị lưu lạc trong lòng đất. Nếu như những ngôi mộ đôi, những hố chôn đôi vẫn còn nguyên vẹn (bởi lúc chôn được phân công theo từng đội hoặc cá nhân, chính vì vậy mà có hố chôn cả mấy chục chiến sĩ, có hố chỉ chôn một hoặc hai người) nhưng những hố cá nhân và tập thể, khi đào lên thì hỡi ôi, không còn đầy đủ hoặc không còn gì cả!
Thầy Pháp Tánh tâm sự: “Có lẽ do trải qua một giai đoạn nghèo đói chung của cả nước, người dân có lúc thi nhau đi rà phế liệu, họ đào lên và lấy nhiều thứ, trong đó có những thứ quí giá vô cùng nhưng lại được bán với giá rẻ mạt, mua chưa được một ổ bánh mì, đó là tấm thẻ bài. Tính ra, hơn một trăm tấm thẻ bài mất đi, chưa tới một trăm ổ bánh mì theo thời giá hiện tại nhưng cái mất mát lại là danh tánh của người chết vĩnh viễn không còn...!”
Cũng chính vì có những ngôi mộ đôi, khi đào lên, không còn thẻ bài, chỉ còn sắc phục và dây thắt lưng (ra gió chừng 5 phút là tan rã, không còn gì nữa), mà phần đầu và phần mình lại nằm chéo nhau, rất khó để phân biệt mình của ai, đầu của ai nên các Phật tử không dám tách thành hai mộ mà vẫn giữ nguyên mộ đôi khi về nơi qui tập mới.
Lại có cả chuyện nhiều hố chôn đơn, khi đào lên chỉ thấy bộ xương thân hình nhưng không tìm thấy đầu, mọi người lo lắng và hoài nghi... Quàng tạm trong nhà linh ở chùa để đào tiếp thì tối đó, người lính về báo mộng, chỉ vị trí đầu mình nằm cách nơi gần hố chôn chừng vài mét. Sáng mai, ra đào, đúng y như giấc mộng.
Cuộc cầu siêu và những giấc mộng lành...
Sau cuộc qui tập lần 2, nỗi canh cánh vẫn còn đó, chỉ có 27 hài cốt được tìm thấy, như vậy có nghĩa là còn nhiều người vẫn nằm lạnh trong vườn chùa.
Nhưng dẫu sao cũng ít nhiều an lòng người sống và ấm lòng người khuất phần nào. Những giấc mộng vẫn còn quanh quẩn trong nội dung đói, lạnh, thèm ăn, nhớ quê, nhớ người thân, bơ vơ lạc lõng...
Vài tấm thẻ bài còn sót lại. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)
Thầy Pháp Tánh họp các Phật tử một lần nữa, bàn kế hoạch tổ chức Trai đàn chẩn tế - Cầu siêu bạt độ cho những vong linh chiến sĩ trận vong.
Ngày 27, 28, 29 tháng 7 Âm lịch năm nay (26, 27, 28 tháng 8 năm 2011), một đại lễ Trai đàn chẩn tế - Cầu siêu bạt độ cho tất cả được tổ chức trong khuôn viên chùa Dương Lâm.
Dường như từ đó đến nay, thỉnh thoảng, những giấc mộng của các Phật tử Dương Lâm được thấy vui hơn, các vị chiến sĩ báo mộng xin thuốc lá để hút chứ không còn lạnh và cô đơn như trước đây.
Thay cho lời kết của bài viết này, xin trích lời một Phật tử: “Tôi là người nằm mộng thấy họ về nhiều nhất. Bây giờ họ vui vẻ hơn nhiều. Nhưng có một điều, dường như nỗi nhớ nhà, nhớ người thân vẫn là nỗi thao thức lớn nhất của các linh hồn. Ðã ba mươi mấy năm họ chưa được gặp lại người thân! Phần lớn họ nói giọng miền Nam, và họ rất muốn về quê!”
Vẫn còn nhiều bộ hài cốt nằm trong khuôn viên chùa Dương Lâm chưa được di dời. Qua thời gian, xê dịch địa tầng, đào sắt và mưa lũ, rất có thể, sự nguyên vẹn là hy hữu. Nhưng dù sao vẫn cần đến một cuộc qui tập đầy đủ để ấm lòng người đã khuất.
http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCan...100haicot3.htm
-
CHUYỆN MA QUỶ >
Huyền Thoại Những Ngôi Miếu Ven đường
XUẤT XỨ RÙNG RỢN
Trước khi đọc bài này, bạn phải cân nhắc kỹ. Vì muốn chuyển tải những thông điệp cảnh báo về tai nạn giao thông có hiệu quả, Pháp Sư Thanh Tuệ buộc lòng phải kể những chi tiết tương đối nhạy cảm. Mặc dù có gia giảm mức độ mang tính kinh dị nhưng sẽ ảnh hưởng đối với những người dễ xúc động.
ảnh mang tính chất minh họa .
Hầu như dọc các tuyến đường bộ, đường trên khắp đất nước, nơi nào cũng có những ngôi miếu nhỏ. Bình thường, ít ai chú ý đến những ngôi miếu nhỏ xíu, cất đơn sơ, nằm khiêm tốn bên vệ đường hoặc bờ sông, mép rạch. Thế nhưng thử hỏi thăm lai lịch những ngôi miếu ấy, khi nghe kể xong, chắc chắc ai cũng phải rùng mình. Ngoại trừ một số tín đồ tôn giáo xây miếu trước cửa nhà đề thờ thổ thần, còn lại, hầu hết những nơi khác, người ta cất miếu để nhang khói cho những người chết oan, chết thảm khốc giữa đường. Vì vậy những ngôi miếu ấy được gọi lả “miếu oan hồn”, “miếu cô hồn” hoặc “miếu vong hồn”.
Những cái chết rùng rợn, chết oan giữa đường chiếm số ít là do ngã bệnh, đột quị, số đông còn lại thuộc về tai nạn giao thông. Mà đã chết tại chỗ do tai nạn giao thông thì hiếm có cái chết “hiền”. Chuyện nạn nhân bị phanh thây, tay một nơi, đầu một nẻo đã ám ảnh tâm trí những cư dân sống ven quốc lộ thường xuyên. Có lẽ do chứng kiến và bị ám ảnh những cái chết thảm khốc ấy, người ta thường thấy ma, quỉ. Và khi có người bị ma nhát, quỉ ghẹo, những nơi ấy, người ta lập ngay miếu thờ. Về mặt tâm linh, người ta cho rằng những ngôi miếu ấy sẽ giúp vong hồn người chết sẽ được siêu thoát, không quấy rầy người sống. Về mặt xã hội, những cái miếu ấy xem như “biển báo” cho những người điều khiển xe trên đường biết rằng “nơi đây thường xảy ra tai nạn chết người rùng rợn”.
Tại cây số thứ 25, Bàu Cỏ, xã Tân Hung, huyện Tân Châu, Tây Ninh có một ngôi miếu nhỏ. Theo lời người dân nơi đây kể lại, cái chết đầu tiên xảy ra nơi đây vào nằm 1975 là một cô gái. Thời điểm đó, con đường này chưa tráng nhựa, nhà cửa thưa thớt. Đó là con đường của cánh xe “be” tải gỗ đại thụ nặng hàng chục tấn từ rừng già Campuchia về. Hàng đêm từng đoàn xe “be” chạy rung rinh mặt đất cho đến sáng. Để trốn thuế kiểm lâm đặt chốt tại Tân Trung, mỗi đoàn xe chỉ mở đèn chiếc đầu tiên và chiếc cuối cùng. Những chiếc chạy giữa chỉ mở đèn gầm.
Một buổi sáng sớm, người dân địa phương rúng động khi phát hiện xác chết của một cô gái nát bấy nằm giữa đường. Có lẽ, tai nạn xảy ra từ lúc nửa đêm và từng chiếc xe nằng hàng chục tấn cứ liên tiếp nghiền xác cô gái cho đến khi phát hiện. Người dân địa phương phải nhặt từng mẩu xương và chút thịt vương vãi lẫn với đất cát để mai táng. Không hiểu vì sao, cái đầu cô gái còn nguyên vẹn nằm lăn lốc trong một vạt cỏ hôi cao quá đầu người.
Bẳng một thời gian, đêm nọ, bà Hai là người mẹ chiến sỹ đã từng bám trụ vùng đất cách mạng từ thưở kháng chiến đến lúc đất nước thống nhất, có chuyện cần phải đi ngang qua nơi xảy ra tai nạn vào ban đêm. Bỗng nhiên bà trông thấy một mái tóc đen, dài xõa xuống từ ngọn cây xay xuống đến mặt đường. Bà không thuộc loại yếu bóng vía nên bình tĩnh bước đến gần để xem đó là chuyện gì. Qua ánh sáng nhập nhoạng của ánh trăng non bà trông thấy một cái đầu không có thân hình. Cái đầu mang gương mặt đầy máu đang lơ lửng trên cành cây xay đang nhe răng cười. Bà quét lia ánh đèn bình ac quy soi vào thẳng gương mặt kia. Ngay lập tức gương mặt biến mất. Không tin dị đoan, bà quay trở về nhà báo với Chính quyền Cách mạng Lâm Thời rồi xách súng AR15 huy động mấy đứa con đang là du lích xã ra bao vây khu vực đó. Bà nghĩ một phần tử nào đó đang mượn chuyện ma quỉ nhát bà với mục đích quấy rối trị an. Thế nhưng lùng sục suốt đêm vẫn chẳng thấy dấu vết gì. Ngày hôm sau, chính anh con trai út của bà đi ngang chổ cây xay lại bị “ai đó” nắm tóc giật. Anh ngước nhìn lên và trông thấy những gì hôm qua mẹ anh trông thấy.
Một tháng sau, người con rể thứ năm của bà Hai sử dụng chiếc xe hon da 67 đi công việc. Khoảng 12 giờ trưa, anh về đến ngỏ nhưng không quẹo vào mà đâm thẳng vào gốc cây xay chấn thương sọ. Khi người nhà chạy ra sơ cứu, mặc cho mồm, khóe mắt lẫn lỗ tai ứa máu, anh vẫn cố thều thào nói đứt quãng: “Nó ở trên cây xay…”. Chỉ nói có vậy, anh tắt thở.
Sau này, rất nhiều người dân đi ngang qua đó vào ban đếm hoặc trưa vắng thỉnh thoảng lại thấy cái đầu có mái tóc dài lơ lửng trên ngọn cây xay. Sự việc được báo cáo về Công an huyện. Lúc đó, ông Sáu M. là trưởng Công an huyện đã ghi nhận sự việc vào sổ tay để đặc biệt quan tâm theo dõi hiện tượng nhưng không có kết luận. Người dân đã tự nguyện đem cây, lá đến gốc cây xay lẳng lặng cất ngôi miểu nhỏ đốt nhang khấn vái, cầu xin cô gái đừng quấy phá để họ yên tâm đi thăm đồng khuya sớm. Từ đó, cái đầu không còn thấy xuất hiện nữa. Cho đến tận bây giờ, khi con đường đã được tráng nhựa khang trang, rộng rãi, thoáng đãng nhưng thỉnh thoảng nơi đó vẫn xảy ra tai nạn giao thông.
Ven quốc lộ I A đoạn Bình Thuận có ngôi miếu được người dân cho là thờ Hông Hài Nhi. Cánh tài xế Bắc Nam truyền miệng nhau rằng, đó là ngôi miếu linh thiêng nhất tuyến đường vạn lý này. Và bất cứ tài xế nào đi ngang qua đều phải nhấn còi chào “cậu”. Họ kể rằng, cách nay khoảng 20 năm, mẹ con người ăn xin đi bộ dọc từ miền Trung hướng về Sài Gòn, khi đến đoạn đường này thì quá nửa đêm. Hai mẹ con chui vào sau một tảng đá ngủ chờ sáng đi tiếp. Gần sáng, khi mẹ còn ngủ đứa bé chỉ mới 5 tuổi đi ra đường và bị một chiếc xe tải cán chết. Sáng dậy, bà mẹ vùi tạm xác đứa con sau tảng đá rồi tiếp tục hành trình. Từ đó, cánh tài xế đi đêm ngang đoạn đường này thường trông thấy bất ngờ một đứa bé đứng giữa đường ngay trước mũi xe. Phãn xạ tự nhiên, họ thắng thật gấp thế là xe lật nghiêng. Hầu hết những vụ tai nạn giao thông xảy ra nơi đây, khi tài xế thoát chết đều khẳng định đã lâm vào tình huống y như vậy. Ông Chiêu, cư ngụ ở xã Khánh Hậu, Long An, có thâm niên 40 năm lái xe, nay đã giải nghệ kể, chính ông đã từng “vướng tay lái” một lần tại đoạn miếu “cậu Hồng Hài Nhi”. Lần đó ông chở trái cây từ Tiền Giang ra cửa khẩu Móng Cái. Trên xe ngoài ông còn 1 lái phụ và bà chủ hàng. Xe đang ngon trớn với tốc độ khoảng 80 km/giờ. Chợt lái phụ hét: “Có đứa con nít nhà ai đứng đón xe kìa”. Ông nhìn theo ánh đèn pha dài ra phía trước nhưng chẳng thấy gì cả. Đột nhiên, ngay trước đầu xe khoảng 5 mét, ông chợt thấy một đứa bé trần truồng đứng giữa đường. Bà chủ hàng thét hoảng: “Coi chừng con nít!”. Ông đạp thắng sát sàn xe. Chiếc xe bị thắng đột ngột quay ngang rồi lộn 2 vòng. Giây phút kinh hoàng trôi qua, ông chui ra khỏi chiếc xe bẹp dúm để quan sát xem đứa bé có bị chiếc xe cán trúng không. Không có đứa bé nào cả. Bà chủ lẫn anh phụ xế cũng thoát chết nhưng bị xây xát, máu me đầy người đã cùng ông dùng đèn pin rọi nát mặt đất vẫn không thấy đứa bé nào cả. Qua cánh tài xế dừng xe chia buồn, ông mới hay đoạn đường này có ngôi miếu của “cậu”. Đến sáng, bà chủ hàng kinh sợ bỏ tiền nhờ người xây sửa ngôi miếu bằng cây đã mục thành ngôi miếu xi măng. Từ đó, ông bắt chước cánh tài xế khác, cứ đến đoạn đường này là bóp còi “chào”. Những chuyến hàng đi ngang miếu “cậu” nhằm ngày mùng 1 hoặc 15 âm lịch, ông đều dừng xe đốt nén nhang van vái “cậu” độ trì tay lái.
Đoạn đường kinh hoàng thứ hai đối với cánh tài xế Nam Bắc là cung đường cũ qua đèo Hải Vân. Cung đường dài 25 km này có hơn 42 ngôi miếu. Theo anh Dũng, cư dân địa phương cho biết: “Con số 42 là bề nỗi. Nếu tính luôn những ngôi miếu đã mục nát tự hủy thì có hơn 60 cái. Một số miếu không còn tồn tại nhưng người ta vẫn cứ thắp nhang dưới các gốc cây ven đường”.
Mỗi ngôi miếu ở đây đều gắn liền đến “sự tích” của ít nhất 10 vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Ngôi miếu ở cung đường cuối trước đi lên đỉnh đèo là nơi xảy ra vụ đổ xe vận tải hành khách làm chết 50 người vào năm 1998. Chiêc xe chở hành khách từ tp, Hồ Chí Minh đi Hà Nội đang rặn ga bò chậm rãi lên đỉnh đèo. Bất ngờ từ phía ngược chiều, nơi đầu khúc cua, một chiếc xe tải xuất hiện lao nhanh xuống. Chiếc xe tải đã mất thắng. Ông Hải - Tài xế xe khách, cư ngụ ở phường I, quận 8, tp. HCM chỉ còn biết nép xe ven mép thung lũng sâu hun hút nhắm mắt chờ đợi thảm họa. Bị chiếc xe tải lao thẳng vào, chiếc xe khách văng ra khỏi thanh chắn bảo vệ và lao vụt xuống thung lũng. Không ai còn sống, chỉ mỗi người tài xế vướng người vào một nhánh cây nhô ra lưng chừng thung lũng. Người tài xế ôm nhánh cây chịu trận suốt một ngày mới được những người cứu hộ tìm thấy. Người tài xế bị khủng hoảnh tinh thần, suốt ngày lơ ngơ như người đã mất hồn. Hơn 10 năm sau ông mới quên được thảm họa và trở lại bình thường nhưng vẫn chưa đủ can đảm đặt tay vào vô lăng.
Vụ tai nạn giao thông thảm khốc của đoàn từ thiện một phường thuộc quận Phú Nhuận đi cứu trợ Nha Trang đã tạo cú sốc đối với dư luận cả nước vài tháng sau đó. Những người chứng kiến vụ tai nạn vẫn cứ bị ám ảnh mãi. Sau này, đoạn đường đó cứ liên tiếp xảy ra những vụ tai nạn chết người. Một số thân nhân của đoàn từ thiện bị tử vong đã thuê thầy cúng đến hiện trường “trục hồn” người chết về tp. Hồ Chí Minh cho con cháu đốt nhang. Chị N.Th. A. – có mặt trong nhóm cúng trục hồn kể, khi đang cúng, đột nhiên một bà đi cùng đột nhiên ngã lăn ra đất, sùi bọt mép, mắt trợn ngược. Sau đó, bà ta ngồi dậy quơ chân múa tay cho biết bà là một trong những vong hồn của đoàn từ thiện bị chết oan đang nhập xác. Thầy cúng đọc kinh, chú liên tục để “mời” vong hồn theo lá phướng về tp. Hồ Chí Minh gần gũi gia đình để được nhang khói. Vong hồn trong xác bà cốt trả lời: “Không về. Ở lại đây.. xô xe vui hơn”.
Một số tài xế đường dài còn truyền miệng nhau nhiều chuyện ly kỳ, huyền bí xảy ra ở cung đường đó. Bây giờ, ngay nơi xảy ra tai nạn, một ngôi miếu nhỏ mọc lên nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra tai nạn giao đến nỗi địa phương phải cắm một biển báo: “Nơi đây thường xảy ra tai nạn giao thông”.
Ven đường xuyên Á, từ cầu vượt An Sương đến Củ Chi có 25 cái miếu mọc ven đường. Từ Bình Chánh đến thị xã Tân An, Long An có 16 cái miếu. Miếu ven đường nhiều nhất có lẽ thuộc đoạn đường từ Ngã ba Trung Lươnh đến Vĩnh Long. Cứ vài km là có một ngôi miếu. Khi giải tỏa mở rộng đường một số ngôi miêu đã bị phá bỏ dẹp đi, nhưng sau đó xảy ra liên tiếp những vụ tai nạn giao thong, thế là người ta lại xây mới.
Thông thường, một ngôi miếu oan hồn “cất” theo kiểu nhà ngói ba gian có diện tích khoảng 160 cm vuông. Nhưng tại Bến Lức có một ngôi miếu lớn hơn gấp 10 lần ngôi miếu thông thường. Một người dân sống lâu năm gần đó nhẩm tính theo trí nhớ cho biết, từ khoảng năm 1975 trở lại đây có hơn 100 vụ tai nạn giao thông xảy tại nơi đây, trong đó có ít nhất 30 người tử vong. Đặc biệt có vụ tai nạn xảy ra rất thảm khốc. Một người phụ nữ dắt bò đi trên đường. Do con bò thấy xe thường nhảy hoảng, bà ngoáy dây mũi bò vào bàn tay để tránh tuột tay khi bò nhảy. Bất ngờ một chiếc xe tải chạy ngang qua bóp kèn. Con bò hoảng hốt lồng lên chạy băng qua đường. Sợi dây mũi xiết chặt bàn tay người phụ nữ kéo bà ngã xoãi xuống đất rồi lê ra giữa đường vào ngay đầu xe tải. Tài xế bị bất ngờ đã đạp xiết thắng. Bánh xe bị thắng bắt dừng quay nhưng quán tính đẩy toàn thân chiếc xe lao tới. Vì vậy, thân hình người phụ nữ bị bánh xe nghiến dài dưới mặt đường hơn 10 mét. Từ đó, cứ đến đoạn đường này, những tài xế hành nghề lâu năm đều giảm tốc độ, chạy xe hết sức thận trọng và không quên bóp 3 tiếng còi “xin” oan hồn đừng xô tay lái. Tuy vậy, thỉnh thoảng một vài chiếc xe gắn máy vẫn cứ đâm vào nhau.
Ngôi miếu này được xem là một trong những ngôi miếu xảy ra nhiều chuyện kỳ bí. Vì vậy, rất nhiều người đến đây cúng vái, cầu xin mua may, bán đắt lẫn xin…số đề. Nhiều người ở nhiều tín ngưỡng khác nhau đến cúng vái, riết rồi ngôi miếu trở thành nơi thờ đủ loại thần như Quan Công, Bà Chúa Ngũ hành, Thổ địa, Thần tài…chứ không còn thờ oan hồn như lúc ban đầu. Dần dà, ngôi miếu này sắp được “nâng cấp” lên thành miểu.
CHUYỆN KỂ DỰNG TÓC GÁY
Nếu đề cập đến những ngôi miếu oan hồn mà không đề cập đến những câu chuyện huyễn hoặc gắn liền với ngôi miếu, xem như chưa biết gì về miếu. Bởi không có những mẫu chuyện mang tính tâm linh thì chẳng ai cất công xây miếu.
Bà Đặng Thị Mười, 70 tuổi, cư ngụ ấp Long Hòa, phường Thới Long, quận Ô Môn, tp. Cần Thơ, kể: “Quốc lộ 91B, đoạn gần Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (thuộc quận Ô Môn) có một cái miếu oan hồn. Nhiều người đã từng bị những oan hồn này trêu ghẹo. Tôi cũng bị một lần”. Rất nhiều ô lão sống tại nơi đây đều xác nhận những câu chuyện kể của bà Mười. Họ cho biết, cách nay khoảng 50 năm, một chiếc xe lam 3 bánh chở khách đi chợ khuya bị vướng trái nổ khiến 14 người trên xe đầu chết tan xác. Trong đó có 2 người phụ nữ mang thai. 1 tuần lễ sau, những người đi bộ ra chợ khuya ngang qua chỗ ấy thường bị ai đó xô té ngã trặc chân. Chính bà Mười trông thấy tận mắt hai lần một người phụ nữ mặc đồ trắng, tóc xõa dài, tay bế một đứa trẻ bay là là trên ngọn gió theo hướng gió thổi. Bà Mười không sợ ma nên đứng quan sát rất lâu cho đến khi bóng ma khuất sau ngọn cây. Bà Thế, cùng chứng kiến vụ việc với bà Mười đã xác nhận: “Tôi vừa trông thấy đã hoảng hốt bỏ chạy thục mạng về nhà. Riêng bà Mười vẫn đứng lại xem”.
Người ta đã hùn tiền cất cho 14 oan hồn người lớn và 2 oan hồn sơ sinh một ngôi miếu ven đường, sơ sài để hồn ma không quấy nhiễu nữa. Bẵng một thời gian dài, cách nay 3 năm, một cô gái trẻ chạy xe đạp đến nơi đó bị một chiếc xe tải cán… đứt đầu. Gia đình cô gái nhờ người lên đồng nhập xác. Cô gái nhập xác bà đồng cho biết, có lần cô và đám bạn gái đi ngang miếu, bảo với nhau rằng, chuyện ngôi miếu linh thiêng là chuyện tầm phơ tầm phào. Vì vậy, ma “mẹ bồng con” cư ngụ ngôi miếu bắt cô phải thế chỗ. Cô phải bắt đủ 9 người cà nam lẫn nữ mới được siêu thoát. Không biết chuyện lên đồng là có thật hay mê tín dị đoan, mà vài tháng sau, một cô gái trẻ khác chạy xe đạp đến nơi đó lại bị xe tải cán đứt hai người.
Liên tục trong 5 năm, tại nơi này xảy ra hàng chục vụ tai nạn, làm cả chục người bị thương và đã có 8 người tử vong thảm khốc. Ông Lê Th. C., cư ngụ gần ngôi miếu khẳng định: “Còn một mạng người nữa mới đủ số 9. Tôi luôn dặn dò con cháu, khi đi đến đoạn đường đó phải thận trọng hết mức. Nhiều người cho là chuyện dị đoan, mê tín nhưng hầu hết những người sống quanh khu vực này đều tin chuyện đó có thật”. Ông kể thêm rằng, mẹ cô gái bị đứt người làm hai khẳng định, đêm trước tai nạn, cô gái có kể cho bà biết rằng, cô nằm mơ gặp cô gái đứt đầu rủ đi xô xe chơi. Nghe xong gai61c mơ, bà mẹ rầy con gái rằng, đó là chuyện nhảm nhí. Vì vậy, ngay sau khi cô con gái bị tai nạn, bà đã thuê ngay thầy cùng “trục” vong linh nhưng thất bại.
Bà Cẩm H., 42 tuổi cư ngụ gần ngôi miếu khẳng định: “Tôi chạy xe trước con nhỏ bị cán đứt hai. Trước khi xảy ra tai nạn vài giây, tôi nghe thoảng trong gió tiếng một người phụ nữ hét: Xô nó té đi! Tôi ngoãnh lại để xem ai nói, nhờ vậy tôi chứng kiến trọn vẹn cảnh tai nạn. Ngay khi đó, tôi mất hồn mất vía, phải xuống xe ngồi xuống vạt cỏ một hồi lâu mới tỉnh hồn”.
Ở ngay cung đường này, đã từng xảy ra một vụ tai nạn làm chết tại chỗ 3 học sinh cấp 3 nhưng cách ngôi miếu khoảng 1 km nên người dân không tính tai nạn đó là do các oan hồn ngôi miếu xô đấy. Ba cô cậu học sinh đi học ngoại khóa môn thể dục. Tan học, cả ba gồm 2 cậu một cô, chất nhau lên một chiếc xe dream, chạy thật nhanh. Họ vừa chạy vừa cười giỡn. Họ đâm thẳng vào bánh trái chiếc xe vận tải hành khách chạy ngược chiều từ hướng Cần Thơ về Ngã ba Lộ Tẻ. Chiếc xe dream bị cuốn vào bánh xe vận tải hành khách. Cả ba cô cậu đập mặt vào ca pô xe khách rồi cũng bị cuốn vào bánh xe. Mỗi thi thể bị ném văng xa cách nhau hơn 10 mét. Tất cả đều biến dạng, trông rất gớm ghiếc. Các cơ quan chức năng điều tra đều nhận định chung về các vụ tai nạn xảy ra tại cung đường này: Đường hẹp do mép lề ven song bị sạt lở, các nạn nhân hoặc người gây tai nạn phóng nhanh vượt ẩu, vi phạm lậut giao thông. Để hạn chế tai nạn, một biển báo “đoạn đường thường xảy ra tai nạn” được UB An toàn Giao thông địa phương cắm ven đường. Tuy vậy, thỉnh thoảng, một vài người tham gia giao thông vẫn cứ tạo điều kiện cho ngôi miếu oan hồn có thêm… “uy tín”.
Chuyện hồn xô đẩy dẫn đến tai nạn giao thông chết người, có thể là chuyện hoang đường do một số người chứng kiến tai nạn bị ám ảnh. Tuy nhiên, nếu tham gia giao thông đến đoạn đường có cất miếu oan hồn ven đường, bạn cần tin rằng, nơi ấy đã từng xảy ra những vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Nếu không tin vào những chuyện huyền bí, hoang đường, bạn cũng nên tin rằng, đoạn đường ấy có vần đề về độ an toàn như: Tán cây che khuất tầm nhìn, mặt đường có ổ gà, chiều ngang đường bị hẹp, mặt đường trơn… Đó là môi trường tạo nên những vụ tai nạn giao thông chết người. Hãy cẩn thận tay lái và giảm tốc độ khi trông thấy miếu oan hồn.
Một vài UB An toàn Giao thông của vài địa phương đã từng đặt những tấm bảng in hình ảnh những thi thể kinh dị, biến dạng vì tai nạn giao thông để nhắc nhở mọi người cẩn thận khi tham gia giao thông ở những cung đường nguy hiểm thường xày ra tai nạn. Tuy nhiên, vẫn không hiệu quả bằng những ngôi miếu ven đường. Điều này, tất cả những tay lái lụa xe tải đường dài đều thuộc nằm lòng.
Pháp Sư Thanh Tuệ Sưu Tầm
https://sites.google.com/site/vananb...mieu-ven-duong
-
KHÁM PHÁ HẢI ĐẢO CÙ LAO CHÀM
27/09/2016 9:44:11 SA
Cù lao Chàm là một cụm đảo thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15km. cù lao Chàm đã được UNESCO công nhận là khu Dự trữ sinh quyển thế giới và là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An. Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm.
Hải đảo nhỏ này chỉ có khoảng 3.000 cư dân, hầu hết tập trung ở bãi Làng, bãi Hương và bãi Ông. Người dân nơi đây sống bằng nghề đánh bắt hải sản, đa phần là người nghèo. Những năm gần đây, việc cù lao Chàm được khai thác để phục vụ cho du lịch đã phần nào cải thiện đời sống của người dân địa phương. Tuy nhiên, cù lao Chàm đang mất dần vẻ đẹp nguyên sơ của nó mà từ thế kỷ trước cụ Nguyễn Tuân đã hết lời khen ngợi.
Bến đò trên hải đảo cù lao Chàm
Từ bến đò cù lao Chàm, men theo con đường mòn, du khách có thể khám phá phong cảnh thiên nhiên và nét bình dị của người dân xứ đảo xa xôi này. “Đặc sản du lịch” ở nơi đây chính là những di tích cổ xưa được truyền khẩu nhiều truyền thuyết li kỳ và hấp dẫn từng bước chân trần của những đoàn du khách trong và ngoài nước.
Cách bến đò cù lao Chàm khoảng 5km về hướng Tây, từ xa du khách đã có thể nhìn thấy bóng dáng của một ngôi chùa cổ có niên đại trên 200 năm tuổi. Đó là chùa Hải Tạng; một công trình kiến trúc tôn giáo thờ Phật kết hợp thờ Thánh Thần nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của cư dân trên đảo. Theo tấm bi ký bằng chữ Hán còn lưu tại đây, chùa hải Tạng được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) nguyên thủy ở vị trí cách nơi này khoảng 200m về hướng Đông bắc. Sau vì do bão làm hư hại nặng và để thuận tiện cho các tín đồ đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên (1848), chùa dời về vị trí hiện nay.
Du khách tham quan chùa Hải Tạng
Những pho tượng cổ thờ trong chùa Hải Tạng
Du khách lễ bái, xin xăm – nét văn hóa tín ngưỡng của người dân xả đảo này
Có nhiều truyền thuyết về sự ra đời của chùa Hải Tạng nhưng cư dân ở đây vẫn tâm đắc nhất câu chuyện về việc xây chùa. Tương truyền các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến cù lao Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra, ghe kéo neo đi tiếp, nhưng thật lạ lùng, biển tự dưng nổi sóng lớn, gió thổi ngược vào bờ, thuyền không đi tiếp được, cứ lòng vòng không ra khỏi cù lao Chàm. Sau có người trong đoàn lên lễ cúng mới biết thông điệp giàn cột này phải để lại dựng chùa cho cù lao Chàm, không được đem đi. Vì thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển, Tạng là kinh, ý nói chùa là nơi hội tụ kinh tạng mênh mông như biển.
Có dịp đến cù lao Chàm, du khách không thể bỏ không ghế tham quan một ngôi miếu cổ mà người dân nơi đây gọi là “Cô hồn miếu”. Nằm cách chùa Hải Tạng khoảng 7km, Cô hồn miếu được khởi lập vào đầu thế kỷ thứ 19, do một số cư dân và thương buôn xây dựng. Theo người dân nơi đây kể lại, vào đầu thế kỷ 19 có nhiều thuyền của lái buôn, trong đó có ngư dân bị sóng đánh trôi dạt vào cù lao Chàm. Những người còn sống sót đã lập miếu thờ những anh linh xấu số và khấn nguyện sẽ xây miếu khang trang khi trở về đất liền. Từ đó có tên là “Cô hồn miếu”. Và, kể từ đó, nơi đây thường xuất hiện những điều kỳ lạ mà người dân cho là thiêng liêng huyền bí. Mỗi khi ngư dân gặp phải những tai ương hay sóng dữ đều đến miếu này cúng vái và cầu nguyện như một điểm tựa bình an trong tâm hồn.
Miếu Cô hồn, điểm tựa bình an của người dân cù lao Chàm.
Còn nhiều, rất nhiều những nơi kỳ thú nơi đảo xa này. Có những nơi mà không phải ai cũng đến được, đó là những hang động nằm sâu trong vách núi, hay những bãi biển còn quá hoang sơ và tĩnh lặng. Ngay cả bản thân tôi, một người thích mạo hiểm, cũng chưa có cơ hội đặt chân đến.
Bài, ảnh AN THIỆN
http://www.dulichtamlinh.net/Images/...m/hinh%209.JPG
Miếu Cô hồn, điểm tựa bình an của người dân cù lao Chàm.
http://www.dulichtamlinh.net/NewsDet...id=743&cid=186