-
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, đêm
ThíchBình luận
Bình luận liên quan nhất
Trần Minh Tuấn, Nguyễn Thị Thúy, Vô Lại Thư Sinh và 40 người khác thích điều này.
13 lượt chia sẻ
Bình luận
Mặc Kệ Người Ta
Mặc Kệ Người Ta
4 Tháng 5 lúc 16:10
Hành Giả Kim Cương Thừa đã thêm 3 ảnh mới.
1 Tháng 5 ·
LỊCH SỬ DÒNG TRUYỀN THỪA DRIKUNG PHOWA
Ngày xưa ở tại Tây Tạng có một vị Pháp Vương tên là Trisong Deutsen. Ngài cũng chính là Vua của nước Tây Tạng thời bấy giờ và là hiện thân của Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Vào lúc ấy, Ngài muốn xây dựng tu viện đầu tiên tại Tây Tạng mang tên Samye, nhưng Ngài đã phải đối đầu với rất nhiều chướng ngại. Vào ban ngày, mọi người cùng nhau xây dựng những tòa nhà, nhưng khi đêm xuống những vị thần địa phương đã phá hủy chúng đi. Họ mang gạch, đá, bùn, v.v… trả lại nơi mà người ta đã lấy nó. Vì thế, Pháp Vương Trisong Deutsen đã quyết định thỉnh cầu Đức Guru Liên Hoa Sanh sang từ Ấn Độ. Do bởi thần lực nhiệm mầu của Guru Rinpoche, những vị thần địa phương cũng như các chúng ma vương đã được hàng phục.
Họ đã hứa với Guru Rinpoche sẽ không tạo ra những chướng ngại cho Phật Pháp. Sau đó, công trình xây dựng tu viện Samye đã được hồi phục.
Vào ban ngày, mọi người lại tiếp tục xây dựng và vào ban đêm những vị thần địa phương cũng đã giúp cho đến khi hoàn tất. Đức Liên Hoa Sanh đã ban các giáo lý của Kim Cang thừa và Ngài đã lưu lại tại một hang động gần bên.
Vào lúc ấy, Pháp Vương Trisong Deutsen có một vị tể tướng tên là Nima. Vị tể tướng này có hai căn nhà. Một ngày kia, ông ta dọn từ ngôi nhà này sang ngôi nhà bên kia và vào một đêm ông ta cầm một ngọn đèn để đi tìm vật gì đó. Đốm lửa từ ngọn đèn đã rơi xuống và bốc cháy. Bên trong ngôi nhà là cha mẹ của ông, 13 người khác cùng toàn bộ đàn gia súc đã bị thiêu rụi.
Tể tướng Nima rất đau buồn bởi vì những người khác tỏ lòng kính trọng bằng cách cung cấp sự thoải mái và hầu hạ cha mẹ của họ, còn ông đã làm hại chết cha mẹ của ông. Giết chết cha mẹ là một trong những trọng tội mà người ta tạo tác. Vì thế, ông đã trải qua một nỗi thống khổ, tiếc nuối vô cùng tận. Sau sự kiện đó, ông đã không thể tiếp tục làm bất cứ công việc thế gian gì nữa cả. Nhìn thấy vậy, Pháp Vương Trisong Deutsen đã đến gặp Đức Liên Hoa Sanh và thỉnh cầu Ngài ban truyền cho tể tướng Nima một Pháp đặc biệt để có thể giải thoát ông ra khỏi ác nghiệp và đau khổ dày vò. Khi ấy, nương vào thần lực nhiệm mầu Đức Liên Hoa Sanh đã đến Cõi Tịnh Độ. Qua sự thỉnh cầu của Ngài, Đức Phật A Đi ĐÀ đã ban truyền giáo Pháp Phowa.
LyBui & Maithy
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Pháp tu chuyển di tâm thức ( Phowa) thâm diệu
Lợi lạc của việc thực hành giáo pháp này: lợi ích cho bản thân và cho người khác
Tu tập theo pháp chuyển di tâm thức này không làm tổn hại mạng sống , mà còn mang đến nhiều năng lực gia trì to lớn để làm an dịu những chướng ngại trong đời sống.
Lợi ích của việc thực hành giáo pháp này cũng sẽ mang lại chín quả lợi lạc đáng kể và một quả lợi lạc tối thượng.
1.Hành giả sẽ không phải trải qua sự đau đớn và khổ đau cùng cực vào giây phút lìa đời
2.Tay chân sẽ không bị động giật
3.Hành giả sẽ không bị vãy đại và tiểu tiện.
4.Mắt sẽ không bị trợn ngược.
5.Hơi thở sẽ không bị nặng nề.
6.Hành giả sẽ không bị toát mồ hôi nơi tim.
7.Bàn tay sẽ không bị nắm chặt.
8.Mắt sẽ không bị lạc thần.
9.Hành giả sẽ ra đi dễ dàng trong tư thế thoải mái.
Quả lạc tối thượng cho hành giả thành tựu tập pháp môn thù thắng Phowa này là: ngay cả đối với kẻ phạm đại ác nghiệp vì [ngũ nghịch] trọng tội cũng vẫn sẽ được tái sinh vào cõi vô sắc giới và tạm thời chấm dứt khổ đau. Vì được như vậy, những tỳ vết nghiệp xấu của hành giả sẽ không còn lưu tồn để trổ quả được. Cho nên, hành giả sẽ chọn tái sinh làm Chuyển Luân Thánh Vương, nơi cõi Trời, hoặc cõi Người, và sẽ được thoát khỏi vòng sanh tử. Sau đó tùy theo ước nguyện, hành giả sẽ được sanh ở bất kỳ nơi nào có Phật pháp hiện hữu
Trên đây là lợi ích vi diệu từ Pháp Phowa tối thượng .xin chia sẽ cho người hữu duyên .Muốn hành trì pháp môn Phowa, cần thọ pháp trực tiếp từ một vị thầy chứng ngộ với đầy đủ phẩm hạnh
Nguyện giáo Pháp thâm diệu này là nguồn cảm hứng bất tận cho những ai mến mộ Giáo Pháp Kim Cương Thừa Tây Tạng .
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Bardo Thoštrošl là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách giải thoát : giải thoát thông qua sự nghe ; giải thoát thông qua đeo, mặc ; giải thoát thông qua sự thấy ; giải thoát thông qua nhớ tưởng ; giải thoát thông qua nếm vị ; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava chỉ giáo và người vợ (tâm linh) của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại cùng với sadhana (nghi thức hành trì) về hai mạn đà la (mandalas) của bốn mươi hai vị deity bình yên (peaceful) và năm mươi tám vị deity xung nộ (wrathful).
Ngài Padmasambhava đã chôn cất các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi này về sau đại sư Gampopa xây một tu viện. Nhiều bộ giáo huấn khác cùng với các vật thiêng liêng cũng được chôn cất như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng ; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được chôn cất là terma. Ngài Padmasambhava đã truyền oai lực cho hai mươi lăm đại đệ tử để khám phá các nơi chôn cất các terma. Sau này, ngài Karma Lingpa đã tìm ra nơi chôn cất bộ giáo huấn Bardo này, ngài Karma Lingpa là tái sanh của một trong các vị đại đệ tử đó.
Theo tôn chỉ này, giải thoát có nghĩa rằng bất kỳ ai dù là người nghi ngờ hay là người có tâm rộng mở, khi tiếp cận được giáo huấn này sẽ nhận được một chợt thấy thình lình giác ngộ thông qua oai lực trao truyền đã được chứa đựng trong các bảo vật (terma) này.
Trích Tử thư Tây Tạng
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Thần chú này cũng có những lợi ích không thể nghĩ bàn. Nếu bạn trì bảy lần mỗi ngày bạn sẽ được tái sinh trong cõi thuần tịnh. Nếu bạn trì tụng thần chú này và thổi vào quần áo, nó thanh lọc bản thân và mọi chúng sinh khác,những người chạm vào nó. Nếu bạn đọc nó, thổi vào hương khói sẽ tịnh hóa chúng sinh khác. Nếu bạn đặt câu thần chú này trên cửa ra vào, người đi bên dưới nó sẽ được tịnh hóa và không tái sinh trong các cõi thấp. Ở Tây Tạng,thần chú này được viết trên vải hoặc giấy khi xúc chạm đến cơ thể người chết sẽ tịnh hóa nghiệp chướng của họ và ngăn ngừa sự tái sinh trong các cõi thấp.
Trì niệm thần chú này chỉ một lần có năng lực tịnh hóa ngay cả những năm nghiệp tiêu cực không bị gián đoạn. Nó ngăn chặn sự tái sinh trong các cõi thấp , nặng nhất của tất cả các địa ngục; trong nhiều kiếp bạn sẽ không có được tái sinh trong trạng thái đau khổ đau. Bạn diệt trừ mọi che chướng , nghiệp tiêu cực và không bao giờ tái sinh trong các cõi thấp. Nó cho phép bạn ghi nhớ được tiền kiếp và thấy cuộc sống tương lai. Nếu bạn trì tụng thần chú này bảy lần mỗi ngày bạn tích lũy công đức không thể nghĩ bàn tương đương với các cúng dường chư Phật bình đẳng nhiều như hạt cát trong sông Hằng. Trong những kiếp tái sanh tương lai , bạn sẽ được tái sinh trong một cõi thuần tịnh và sẽ có thể đạt được thành tựu các cấp độ siêu việt.
Nếu bạn trì tụng thần chú này, thổi vào cát và ném cát vào một xác chết, thậm chí nếu người chết đã phá vỡ lời thệ nguyện và bị tái sinh trong một cõi thấp , thần chú có thể thay đổi cuộc sống của người đó và người đó sẽ được tái sinh trong một quốc độ cao hơn . Nếu bạn trì tụng thần chú này và thổi vào nước hoa hoặc hương, bất cứ ai tiếp xúc với mùi dầu thơm hoặc hương sẽ được tịnh hóa nghiệp xấu và thậm chí chữa khỏi bệnh truyền nhiễm. Nó giúp bạn đạt được những phẩm tính toàn hảo của một vị Phật.
OM PADMO UNISA VIMALE HUM PET
Ôm PÉC MÔ U NI SA -VI MA LÊ HUM PÉC
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...24709947_n.jpg
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Thần chú này cũng có những lợi ích không thể nghĩ bàn. Nếu bạn trì bảy lần mỗi ngày bạn sẽ được tái sinh trong cõi thuần tịnh. Nếu bạn trì tụng thần chú này và thổi vào quần áo, nó thanh lọc bản thân và mọi chúng sinh khác,những người chạm vào nó. Nếu bạn đọc nó, thổi vào hương khói sẽ tịnh hóa chúng sinh khác. Nếu bạn đặt câu thần chú này trên cửa ra vào, người đi bên dưới nó sẽ được tịnh hóa và không tái sinh trong các cõi thấp. Ở Tây Tạng,thần chú này được viết trên vải hoặc giấy khi xúc chạm đến cơ thể người chết sẽ tịnh hóa nghiệp chướng của họ và ngăn ngừa sự tái sinh trong các cõi thấp.
Trì niệm thần chú này chỉ một lần có năng lực tịnh hóa ngay cả những năm nghiệp tiêu cực không bị gián đoạn. Nó ngăn chặn sự tái sinh trong các cõi thấp , nặng nhất của tất cả các địa ngục; trong nhiều kiếp bạn sẽ không có được tái sinh trong trạng thái đau khổ đau. Bạn diệt trừ mọi che chướng , nghiệp tiêu cực và không bao giờ tái sinh trong các cõi thấp. Nó cho phép bạn ghi nhớ được tiền kiếp và thấy cuộc sống tương lai. Nếu bạn trì tụng thần chú này bảy lần mỗi ngày bạn tích lũy công đức không thể nghĩ bàn tương đương với các cúng dường chư Phật bình đẳng nhiều như hạt cát trong sông Hằng. Trong những kiếp tái sanh tương lai , bạn sẽ được tái sinh trong một cõi thuần tịnh và sẽ có thể đạt được thành tựu các cấp độ siêu việt.
Nếu bạn trì tụng thần chú này, thổi vào cát và ném cát vào một xác chết, thậm chí nếu người chết đã phá vỡ lời thệ nguyện và bị tái sinh trong một cõi thấp , thần chú có thể thay đổi cuộc sống của người đó và người đó sẽ được tái sinh trong một quốc độ cao hơn . Nếu bạn trì tụng thần chú này và thổi vào nước hoa hoặc hương, bất cứ ai tiếp xúc với mùi dầu thơm hoặc hương sẽ được tịnh hóa nghiệp xấu và thậm chí chữa khỏi bệnh truyền nhiễm. Nó giúp bạn đạt được những phẩm tính toàn hảo của một vị Phật.
OM PADMO UNISA VIMALE HUM PET
Ôm PÉC MÔ U NI SA -VI MA LÊ HUM PÉC
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...24709947_n.jpg
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Hành Giả Kim Cương Thừa đã thêm 4 ảnh mới.
30 Tháng 3 2015 ·
Bồ Tát Địa Tạng, Người Bảo Vệ Trẻ Con
Theo niềm tin tưởng rất lâu đời của Phật tử Nhật Bản kể từ thời Trung cổ thì Bồ Tát Địa Tạng rất thương yêu trẻ con và vì thế Ngài là vị Bồ Tát có một sứ mệnh rất đặc biệt là bảo vệ trẻ con. Chính vì vậy mà đa phần những hình tượng Bồ Tát Địa Tạng tại Nhật Bản đều mang một khuôn mặt trẻ thơ rất đáng yêu. Trong các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, v.v.. chỉ có Nhật Bản là có truyền thống độc đáo này. Người ta không biết rõ niềm tin này được phát xuất từ đâu, có thể là bắt nguồn từ cuốn Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Theo một phẩm ở trong cuốn Kinh này thì vị quỉ thần trách nhiệm về sinh mệnh và tuổi thọ của con người, Chủ Mạng Quỉ Vương, cũng là một vị Bồ Tát do lòng từ hóa hiện, trong khi cùng với các vua Diêm La câu hội về cung trời Đao Lợi để nghe Phật thuyết pháp, đã bạch Phật:
“Người trong cõi Diêm Phù Đề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Địa vui mừng khôn xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng nhiều sự an vui, hàng thân quyến cũng được phước lợi. Hoặc khi đã hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn, cùng nhóm họp cả cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo, nếu làm những việc trên đó có thể làm cho người mẹ đứa con chẳng đặng an vui.”
Trong một đoạn kinh khác, khi tán thán về công năng và oai lực của Bồ Tát Địa Tạng, Phật đã tuyên thuyết cùng Bồ tát Phổ Quảng:
“Lại vầy nữa, nầy Phổ Quảng! Về trong thuở về sau này , nơi cõi Diêm Phù Đề, trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, tất cả các hạng người, và những dân tộc giòng họ khác, như có người nào mới sanh đẻ hoặc con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ mới sanh đó mà tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến. Được vậy thời đứa trẻ hoặc trai hay là gái mới sanh ra đó, nếu đời trước nó có gây ra tội vạ chi cũng đặng thóat khỏi cả, nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu. Còn như nó là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thời đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn.” (6)
Chăm lo cho hạnh phúc trẻ thơ chưa đủ, Bồ Tát Địa Tạng còn chăm lo đến số phận của những trẻ thơ bất hạnh đã lìa đời ngay lúc còn thơ ấu, hoặc vì lý do nào đó đã chết khi đang còn là một bào thai ở trong bụng mẹ. Chết yểu, theo quan niệm của người Á Đông là một điều bất hạnh. Càng bất hạnh hơn nữa theo quan điểm Phật giáo là vì trẻ thơ chưa có ý niệm về sự sống, chết; thế nên trong giai đoạn thân trung ấm, thần thức của chúng vẫn còn lảng vảng chung quanh những người thân yêu như cha mẹ anh chị em, không chịu rời bỏ căn phòng và ngôi nhà mà chúng đã từng sinh sống. Hàng ngày chúng tiếp xúc với họ, nói chuyện với họ và cảm thấy rất đau khổ vì những người thân yêu này hầu như không ai nghe lời chúng, không có vẻ gì quan tâm đến chúng cả. Chúng thật là cô đơn, buồn tủi và rất đáng tội nghiệp. Chúng ta đừng vội nghĩ một cách đơn giản rằng vì trẻ con ngây thơ trong trắng, trong đời chúng chưa hề gây ra một ác nghiệp nào nên khi chết là có thể được sanh về những cảnh giới tốt đẹp. Sự thật không phải như vậy. Điều này đã được Đức Thế Tôn giải thích một cách khá rõ ràng khi phản bác lập luận của một người ngoại đạo cho rằng, nếu một người nào đó, thân không làm những điều xấu ác, miệng không thốt những lời cay độc, không có những tác ý xấu xa, không kiếm sống bằng những nghề bất lương, người đó như thế đã hoàn tất những nỗ lực tu tập tinh thần cần thiết và trở thành một bậc thánh, một bậc giác ngộ trong kiếp sống này. Đức Thế tôn đã phản bác rằng:
“Một hài nhi còn nằm ngữa chưa hề có ý niệm thế nào là “thân” làm sao chúng có thể có những hành động xấu ác khi thân chỉ biết bò và lật? Một hài nhi còn nằm ngữa ngay cả còn chưa biết “nói chuyện” thì làm sao có thể thốt ra được những lời cay độc khi miệng chỉ biết khóc nhè?... Chúng không hề có ý niệm thế nào là “tác ý” thì làm sao có thể có những tác ý xấu xa? Chúngkhông hề có ý niệm thế nào là “nghề nghiệp sinh sống” thì làm sao chúng có thể hành nghề bất lương để kiếm sống ngoại trừ rúc vào vú mẹ? Nếu [tất cả những gì mà ông nói] như thế, thì một đứa hài nhi còn nằm ngữa là một bậc thánh, và là [một bậc giác ngộ
Như thế những linh hồn trẻ thơ này sẽ đi về đâu trong và sau giai đoạn thân trung ấm và Bồ Tát Địa Tạng làm thế nào để cứu giúp chúng?
Bên bờ sông Nại Hà
Theo sự tin tưởng của người Phật tử Nhật Bản, lứa tuổi trẻ con vì trí óc còn non nớt chưa phát triển nên không thể phân biệt được phải trái cũng như không thể thấu hiểu được những giáo lý của đạo Phật. Dĩ nhiên vì không thông hiểu giáo lý, chúng không thể tu tập để đạt đến giác ngộ -như đoạn kinh Phật đã giải thích ở trên- vì thế nên tuy ngây thơ vô tội, sau khi từ giả cõi đời chúng không thể sanh vào cảnh giới Phật, kể cả cảnh giới Tịnh Độ. Ngược lại chúng bị rơi vào cõi u minh mờ mịt. Huyền thoại Á Đông thường đề cập đến một giòng sông mà người chết trong giai đoạn thân trung ấm cần phải vượt qua, đó là sông Nại hà.
Theo truyền thuyết của Nhật Bản, những trẻ con yểu tử sau khi chết đều tụ tập ở bên bờ sông này. Do lòng thương nhớ khôn nguôi đến những người thân yêu, tại đây chúng nhặt những hòn đá cuội sắp xếp thành những ngôi nhà để tưởng nhớ đến cha mẹ, anh chị em. Khi hoàn tất xong một cái, chúng bảo rằng: “Cái nhà này là của mẹ, người bảo bọc tôi. Cái nhà này là của cha, người nắm tay tôi dẫn dắt tôi trên đường đời. Cái này là của anh, chị, em tôi...”
Một số huyền thoại cho rằng chính trong lúc này Bồ Tát Địa Tạng đã hiện ra để chơi với chúng, khuyến khích, tiếp tay xây dựng những ngôi nhà trẻ con này hầu giúp chúng tích lũy công đức để nhờ đó có thể vượt qua giòng sông Nại hà, trong khi chờ đợi chúng lớn khôn với đầy đủ trí phán đoán để có thể đi đầu thai sang kiếp khác. Tuy nhiên trong số những truyền thuyết này, cũng có chuyện đã kể lại một cách thương tâm và ghê rợn hơn. Truyện mô tả là không khí bên bờ sông Nại hà rất là đìu hiu và thê lương, trẻ con thì không ngớt khóc than vì không còn cha mẹ để nương tựa, bám víu. Trong lúc này một mụ phù thuỷ độc ác tên là Datsuba với một con mắt cháy đỏ hung dữ hiện ra, lột hết áo quần của tất cả bọn chúng treo lên cành cây. Mụ không ngớt nguyền rủa chúng là do chết yểu nên chúng đã không hoàn tất bổn phận của người con là phải săn sóc, giúp đỡ cha mẹ lúc cha mẹ già yếu. Để bù lại, mỗi ngày mụ bắt chúng phải ở trần truồng xây những căn nhà bằng đá cuội như là một sự trừng phạt. Nhưng rồi cứ mỗi buổi chiều tối, khi những căn nhà đã sắp hoàn thành xong thì một bầy quỉ hung ác khác, đầu sừng răng nanh hiện ra, dùng gậy sắt đập phá hết tất cả những công trình xây dựng của bọn trẻ, miệng không ngừng la lối nạt nộ: “Khốn nạn cho tụi bây chết trước cha mẹ! Tụi bây đâu đã biết cầu nguyện là gì!!”
Chính lúc này thì Bồ Tát Địa Tạng hiện ra và bọn trẻ trong lúc đang kinh hoàng vội vàng chạy đến chui vào tăng bào của Ngài để tìm chỗ ẩn trốn. Những đứa nhỏ hơn vì chạy không kịp đến trễ thì vội đeo vào cánh tay hay thiền trượng của Ngài. Bồ Tát Địa Tạng liền an ủi vỗ về chúng: “Không có gì các con phải sợ hãi cả. Từ đây ta là Mẹ là Cha của các con.” Bọn quỉ đã xúm lại đòi Bồ Tát Địa Tạng phải trao đám trẻ con lại cho chúng, nhưng Ngài đã dùng uy lực của mình phóng ra những vầng hào quang rực rỡ khiến bọn chúng đều khiếp sợ bỏ đi. Huyền thoại này của người Nhật đã mô tả lại những nỗi khổ đau mà ngay cả một đứa trẻ nhỏ bé ngây thơ vô tội cũng phải gánh chịu ở thế giới bên kia và chỉ có Bồ Tát Địa Tạng là người duy nhất đã cứu vớt những linh hồn bé nhỏ đó.
Người ta không biết nguồn gốc của huyền thoại về giòng sông Nại hà được phát xuất từ đâu. Có thể là bắt nguồn từ truyện Thập Điện Diêm Vương trong các cuốn kinh Ngọc Lịch Minh Kinh của người Trung Hoa, xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ Tám, nói rõ chi tiết cuộc hành trình về bên kia cỏi chết mà mỗi người phải trải qua. Theo niềm tin của người Trung Hoa thì trong tuần lễ thứ hai của giai đoạn thân trung ấm, mỗi linh hồn đều phải vượt qua giòng sông Nại hà này. Có ba cách để đi qua sông. Người nhiều công đức thì thong dong đi qua cầu. Kẻ ít công đức hơn thì được phép lội qua ở chỗ cạn. Kẻ không có chút công đức nào lại mang nhiều tội ác thì phải lội qua con sông với giòng cuồng lưu chảy xiết đầy sóng to gió lớn. Đa số đều bị chết đuối. Những người vượt thoát qua được giòng sông Nại hà đều lần lượt tùy theo tội ác nặng nhẹ sẽ được Thập Điện Diêm vương phân xử, kết án và tống vào các cửa ngục. Đến cửa ngục thứ mười tức là cửa ngục cuối cùng, cũng là nơi mà tội nhân phải gánh chịu những hình phạt nặng nề nhất, Bồ Tát Địa Tạng xuất hiện xin với Diêm Vương cho tội nhân được giảm khinh. Bởi vì các vua Diêm Vương đều kính nễ Bồ Tát Địa Tạng, thế nên nếu chỉ cần tìm ra một điểm tốt nhỏ nhất của tội nhân, vua Diêm Vương cũng nễ lời Bồ Tát Địa Tạng sẵn sàng cho họ được hưởng án giảm khinh.
Chính vì tin tưởng vào giòng sông Nại hà này cũng như vào Bồ Tát Địa Tạng mà người Nhật Bản trong hàng thế kỷ qua đã xây dựng lên rất nhiều đền đài, lăng tẩm để thờ phượng Ngài dọc theo các bờ sông hay các ghềnh đá bên cạnh bờ biển, mà một địa điểm nổi tiếng là “Sai (Nại hà) no kawara of Numa no Uchi” được xây dựng từ thời Edo (Uế Thổ). Tại đây những người cha mẹ đau khổ vì mất con đã đến sắp xếp những mộ tháp bằng đá cuội, hoặc đặt vào đó những viên đá nhằm tưởng niệm những đứa con đã qua đời trước bức tượng của Bồ Tát Địa Tạng. Có nơi người ta sắp xếp hàng trăm bức tượng nhỏ khuôn mặt của Bồ Tát Địa Tạng cùng với đồ chơi trẻ con xen kẻ bên cạnh những hòn đá tưởng niệm. Lâu ngày, những mộ tháp càng lớn dần lên do những người tin tưởng đến viếng thăm bỏ thêm vào những viên đá, không phải chỉ để tưởng nhớ đến những đứa con thân yêu của mình mà cho cả những linh hồn của những trẻ thơ bất hạnh đã đi qua cõi đời này kể cả những trẻ đã chết ngay từ lúc chưa sinh.
Bồ Tát Địa Tạng, như đã nói ở trên, không phải chỉ là vị Bồ Tát bảo vệ trẻ con mà theo truyền thuyết của Nhật Bản, đặc biệt là dưới thời đại Hean, đã xuất hiện dưới hình dạng của một đứa trẻ. Triều đại Hean có thể được coi như là một triều đại đen tối trong lịch sử Nhật bản. Chiến tranh, xã hội rối loạn, tai ương và dịch bệnh lan tràn khắp nơi tạo nên bao thảm cảnh đau thương khốn khổ cho mọi người. Những tín đồ Phật tử thuần thành tin rằng đây là giai đoạn mạt pháp đã đến và trước những thảm cảnh này, may ra chỉ có những năng lực thần linh mới có thể cứu vãn được. Thế là người ta dốc lòng tin tưởng vào năng lực cứu độ của Bồ Tát Địa Tạng, và câu chuyện đã được truyền tụng như sau:
Dưới triều đại của Hoàng đế Go-Ichido, bệnh đậu mùa bộc phát và lan tràn nhanh chóng. Lưỡi hái của tử thần đã cuốn đi không biết bao nhiêu là sinh mạng. Nó không chừa bỏ bất cứ ai, bất kể quan hay dân, người qúy tộc hay kẻ bần hàn. Trước nỗi khổ đau lớn lao này của nhân sinh, với lòng từ bi vô lượng, một nhà sư tên Ninko không biết làm cách gì khác hơn là cầu nguyện đến sự giúp đỡ của Bồ Tát Địa Tạng. Đêm đó trong giấc mơ nhà sư Ninko trông thấy một đứa trẻ với khuôn mặt thanh tú xuất hiện, nói với ngài: “Nay thì nhà ngươi đã thấy rõ sự vô thường của kiếp sống”. “Vâng, những người tôi vừa mới gặp mới nói chuyện với họ hồi sáng đây, tối lại đã mất rồi. Ngay cả chúng ta đang hạnh phúc hôm nay nhưng ngày mai những khổ đau, thương tâm sẽ xảy đến. Không có gì là vĩnh cửu”, sư Ninko trả lời.
Đứa trẻ mĩm cười: “Không có gì để phải than trách trước những đau thương của kiếp sống. Có lúc nào mà con người lại không có những khổ đau? Nếu một người muốn giải thoát khỏi những nỗi khổ đau, họ nên nghe theo những lời dạy của Bồ Tát Địa Tạng”.
Sư Ninko tỉnh giấc và vội vàng chạy đến tìm Kojo, nhà điêu khắc tượng nổi tiếng ở địa phương và nhờ ông ta đúc một pho tượng Bồ Tát Địa Tạng. Khi bức tượng hoàn thành, sư Ninko tổ chức một buổi lễ khánh thành và thuyết giảng một thời pháp về giáo lý và công năng của Bồ Tát Địa Tạng. Tăng chúng và quần chúng Phật tử hoàn toàn chuyển động bởi thời pháp này và hết lòng quy ngưỡng vào Bồ Tát Địa Tạng. Tất cả những người có mặt tại ngôi chùa, và tất cả những ai đến tham dự buổi lễ khánh thành này đều thoát qua khỏi kiếp nạn đậu mùa. Những kẻ kiêu hảnh, không tin tưởng đều bị cuốn đi trong cơn dịch bệnh này. Bệnh đậu mùa cũng đã chấm dứt không lâu sau đó, nhưng cư dân do lòng tin tưởng vì được cứu thoát trong tai ương vừa qua vẫn tiếp tục tôn sùng và thờ phượng Bồ Tát Địa Tạng.
Một câu chuyện nổi tiếng khác kể lại nỗi bất hạnh của một đứa trẻ lâm vào tình trạng mẹ ghẻ con chồng:
Nếu như trong kho tàng truyện cổ của Việt Nam, ta có chuyện Phạm Công - Cúc Hoa với bà kế mẫu Tào Thị như là một khuôn mẫu điễn hình của những bà mẹ ghẻ độc ác nhất ở trên thế gian này thì Nhật Bản cũng có một câu chuyện tương tự như thế nhưng được lồng trong bối cảnh hành hoạt của vị Bồ Tát chuyên cứu độ những trẻ thơ bất hạnh, Địa Tạng. Truyện kể rằng khoảng một ngàn năm trước đây, tại một ngôi làng nhỏ tên là Anwa có một người phụ nữ rất hiền lương mộ đạo, hết lòng sùng kính Bồ Tát Địa Tạng. Vì nhà nghèo cho nên bà luôn luôn ao ước và vẫn thường cầu nguyện làm sao có được một pho tượng Bồ Tát Địa Tạng để thờ phượng ở trong nhà. Một ngày nọ, trong khi đang giặt dủ ở giòng sông trước mặt nhà, bà nhặt được một pho tượng Địa Tạng bằng gỗ trôi tấp vào chỗ mình đang đứng. Xiết đổi vui mừng, bà vội vàng mang pho tượng về nhà và từ đó ngày hai buổi sớm tối công phu thờ lạy Ngài rất nghiêm chỉnh. Vì chưa có con thế nên mỗi lần cúng lạy bà cũng không quên khấn vái cùng với Bồ Tát Địa Tạng giúp cho bà có một đứa con trai. Không bao lâu quả nhiên bà thọ thai và sanh được một đứa con trai. Nhưng bất hạnh thay, khi đứa bé tròn bốn tuổi thì người mẹ lâm bạo bệnh và qua đời. Chẳng bao lâu sau đó thì người cha tục huyền với một người đàn bà khác. Bà này là một người rất hung dữ và độc ác và đứa con chồng thường xuyên là nạn nhân cho những cơn thịnh nộ của bà kế mẫu hung ác này.
Đứa bé ngay từ hồi nhỏ do đã chịu ảnh hưởng của mẹ trong việc thờ cúng Bồ Tát Địa Tạng, cho nên khi mẹ mất đi cũng không hề quên và xao lảng nghi lễ này, tuy nhiên do sợ bà mẹ ghẻ đánh chữi, nó đã phải làm trong âm thầm lén lút. Một hôm trong khi người cha có việc phải rời khỏi nhà đi ra tỉnh, nhân lúc bà mẹ ghẻ đang ngủ trưa, đứa bé vào bếp kiếm được một ít cơm nguội vội vàng đem dâng cúng lên bàn thờ của Bồ Tát Địa Tạng và mẹ mình. Quỳ trước bàn thờ, lòng nhớ thương mẹ không nguôi đã làm đứa bé bật khóc lên nức nở. Tiếng khóc của đứa trẻ làm bà mẹ ghẻ tỉnh giấc và khi trông thấy đứa trẻ đang cúng lạy mẹ nó, bà liền nổi cơn thịnh nộ và trong khi điên tiết lên vì giận dữ, bà đã túm lấy nó quẳng vào nồi cháo heo đang sôi sùng sục trên bếp lửa.
Trong lúc này người cha đang đi đường bỗng dưng cảm thấy lòng dạ bồn chồn nóng lên như lửa đốt khiến ông không thể cất bước được nữa và như có điều gì thúc dục buộc ông phải quay trở về nhà. Đến đầu làng, ông bỗng gặp một nhà sư cõng một đứa bé ở sau lưng đang than khóc thảm thiết, tiếng khóc nghe rất quen thuộc. Không nghi ngờ gì nữa, đó là tiếng khóc của chính con ông! Tuy vậy người cha vì chưa thấy mặt nên còn bán tín bán nghi hỏi nhà sư: “Thầy ơi, đứa trẻ nào đang khóc vậy?” Nhà sư trả lời: “Ta đã đổi mạng ta cho đứa trẻ này khi người mẹ ghẻ của nó đang tìm cách giết nó. Ngươi hãy tìm kẻ nào đáng tin cậy để nuôi dưỡng và giáo dục đứa bé này.” Nói xong nhà sư trao đứa bé vào tay của người cha đang kinh hoàng run rẩy. Mang ơn nhà sư, người cha vội hỏi “Thưa Thầy, Thầy đang trú trì ở chùa nào?” Nhà sư trả lời “Ta ở gần đền thờ vua Thập Điện”, xong biến mất. Sau khi đem con gởi nhờ ở nhà ông bà nội, người cha quay trở về nhà và thấy bà vợ đang ra sức đun củi vào bếp, trên đó là một nồi nước đậy nắp đang sôi. Thấy chồng xuất hiện bất ngờ, bà ta có vẻ bối rối và tìm cách dập tắt ngọn lửa. Anh ta liền hỏi vợ: “Thằng con tôi đâu rồi sao không thấy?” Bà vợ gian hùng lúc này bèn giả bộ đau thương, sụt sùi kể lể : “Thấy không có ông ở nhà, thằng nhỏ bỏ chạy ra chơi ở cạnh bờ sông không may sẩy chân rớt xuống sông, nước cuốn mất xác rồi.” Người chồng không nói gì vội tiến đến cạnh nồi nước và mở nắp ra. Nổi ở trên mặt nồi cháo heo đang sôi sùng sục là pho tượng của Bồ Tát Địa Tạng, pho tượng ở trên bàn thờ mà người vợ trước của ông đã thờ cúng hằng ngày! Bây giờ thì anh ta mới hiểu hết ý nghĩa lời của nhà sư nói “Ta đã đổi mạng ta” và biết rằng nhà sư mà ông vừa mới gặp không ai khác hơn chính là Bồ Tát Địa Tạng đã hóa hiện ra để cứu con mình. Chán nản trước tình đời, cảm động trước sự linh ứng nhiệm mầu của Bồ Tát Địa Tạng, người đàn ông xuống tóc đi tu và trở thành một nhà sư suốt đời tận tụy thờ phượng Bồ Tát Địa Tạng.
NAMAH SAMANTA BUDDHÀNÀM_ HA HA HA VISMAYE SVÀHÀ
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Đại Thánh Từ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
SỰ GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN CỦA MỌI THÀNH TỰU:
MỘT BÀI NGUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN TIẾN TRÌNH CHUYỂN TIẾP
Bài nguyện cho sự giải thoát qua con đường hẹp của tiến trình chuyển tiếp
Kính lễ đến các vị thầy tâm linh, bổn tôn đã chọn, và chư dakini.
Xin dẫn dắt chúng con đến con đường khoan dung.
Khi con đang lang thang trong chu trình sinh tử vì nhầm lẫn.
Cầu mong các vị thầy tâm linh của dòng truyền miệng dẫn dắt con
Đến con đường rực rỡ của việc lắng nghe, tư duy và thiền định không dao động.
Cầu mong tập hội các vị phối ngẫu tối cao, chư dakini hỗ trợ con.
Xin giải thoát con khỏi con đường hẹp kinh hoàng của tiến trình chuyển tiếp.
Đem con đến trạng thái Phật quả viên mãn thật sự.
Khi con đang lang thang trong chu trình sinh tử vì thù hận mạnh mẽ,
Cầu mong Đức Thế Tôn Vajrasattva dẫn dắt con
Đến con đường trong sáng, rực rỡ của trí tuệ bổn nguyên như gương.
Cầu mong vị phối ngẫu tối cao Buddhalocana (Phật Lô Xá Na) hỗ trợ con.
Xin giải thoát con khỏi con đường hẹp kinh hoàng của tiến trình chuyển tiếp.
Đem con đến trạng thái của Phật quả viên mãn thật sự.
Khi con đang lang thang trong chu trình sinh tử vì kiêu mạn mạnh mẽ,
Cầu mong Đức Thế Tôn Ratnasambhava dẫn dắt con
Đến con đường trong sáng, rực rỡ của bình đẳng tánh trí.
Cầu mong vị phối ngẫu tối cao Mamaki hỗ trợ con.
Xin giải thoát con khỏi con đường hẹp kinh hoàng của tiến trình chuyển tiếp.
Đem con đến trạng thái của Phật quả viên mãn thật sự.
Khi con đang lang thang trong chu trình sinh tử vì bám luyến mạnh mẽ,
Cầu mong Đức Thế Tôn Amitabha dẫn dắt con
Đến con đường trong sáng, rực rỡ của trí tuệ bổn nguyên thấu suốt.
Cầu mong vị phối ngẫu tối cao Pandaravasini hỗ trợ con.
Xin giải thoát con khỏi con đường hẹp kinh hoàng của tiến trình chuyển tiếp.
Đem con đến trạng thái của Phật quả viên mãn thật sự.
Khi con đang lang thang trong chu trình sinh tử vì ghen tị mạnh mẽ,
Cầu mong Đức Thế Tôn Amoghasiddhi dẫn dắt con
Đến con đường trong sáng, rực rỡ của trí tuệ bổn nguyên của sự thành tựu.
Cầu mong vị phối ngẫu tối cao Samayatara hỗ trợ con.
Xin giải thoát con khỏi con đường hẹp kinh hoàng của tiến trình chuyển tiếp.
Đem con đến trạng thái của Phật quả viên mãn thật sự.
Khi chúng ta thực sự đi vào tiến trình chuyển tiếp sau cái chết, năm gia đình Phật và năm trí tuệ bổn nguyên sẽ khởi lên và xuất hiện đến chúng ta. Chúng ta sẽ kinh nghiệm cái được gọi là Con đường Ánh Sáng. Chúng ta sẽ nghe những âm thanh nào đó, sẽ thấy các tia sáng và sẽ kinh nghiệm năm bộ Phật với phối ngẫu này. Nếu thực hành bây giờ và trở nên quen thuộc với điều này, thì sau khi chết, khi đi vào tiến trình chuyển tiếp chúng ta sẽ có thể nhận ra năm vị Phật này, năm trí tuệ bổn nguyên và còn nữa.
Trích Giải thoát tự nhiên
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Cách đây hơn 2500 năm ,đức Phật đã dạy trong một chén nước đầy có vô số vi khuẩn ,là con Phật trước khi uống không thực hành thần chú giúp chuyển hóa tâm thức cho các loại vi khuẩn này thì như ăn thịt chúng sanh.Mãi đến thế kỉ thứ 18 các nhà khoa học mới chứng thực đựợc điều đó .Chứng tỏ ánh sáng tuệ giác của đức Phật thì khó có thể nghĩ bàn.XIn chia sẻ cho quý vị bài kệ khi uống nước được thực hành trong Phật Giáo Đại Thừa
Phật quán nhứt bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục.
Án phạ tất ba ra, ma ni tá ha. (3 lần) OM VAJRA MANI SO HA
https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.n...b6&oe=5AD46878
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
KHÔNG PHẢI TRÌ THẦN CHÚ ĐỂ SAU KHI CHẾT ĐƯỢC VÃNG SANH
Xin chư hành giả chớ có hiểu lầm ý tôi ..Trong Kim Cương Thừa có 3 loại thành tựu thượng trung hạ .Khi quý vị trì tụng thần chú của Đức Phật A Di Đà không phải chỉ để đơn giản là vãng sanh Cực Lạc . Năng lực minh chú của ngài thì vô cùng vi diệu ,trì chân ngôn Di Đà có khả năng chuyển tưởng uẩn, ý thức thành Diệu Quan Sát Trí; chuyển hóa những tham nhiễm, chấp trước thành đại nguyện vị tha và chứng đắc thành tựu Báo thân Phật A Di Đà.
Nghĩa là chúng ta chuyển thân phàm tục thành thân Kim Cương ,thành báo thân thanh tịnh : lời nói,hơi thở và các hành động của quý vị đều mang năng lực gia trì của Đức Phật A Di Đà ..Khi hành giả đi vào dòng nước thì chúng sanh nơi ây khi chạm phải liền đựợc tịnh hóa ,khi bàn tay bạn chạm đến ai người đó liền được tịnh hóa .Đây là những điểm khác biệt giửa Tịnh Độ Tông và Mật Tông .
OM AH MI DEWA SHRI OM AH MI DEWA SHRI OM AH MI DEWA SHRI
OM AH MI DEWA SHRI OM AH MI DEWA SHRI OM AH MI DEWA SHRI
OM AH MI DEWA SHRI OM AH MI DEWA SHRI OM AH MI DEWA SHRI
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Giải thoát mọi loài
Một vị Lạt ma già nọ kiếm được một tảng đá bằng phẳng bên cạnh một cái hồ để chuyên tâm thiền định. Mỗi ngày ông đều ngồi đó. Đó là một cái hồ đầy ếch nhái chuyên ăn côn trùng. Nhưng cứ mỗi lần bắt đầu ngồi thế liên hoa để đạt tâm thức sâu kín của tự tính thì lại một lần ông thấy một côn trùng giãy giụa trong nước, dường như cần đến ông giúp đỡ. Lần nào cũng thế, vị sư già lại phải xuất thiền, lại cử động cái xương cốt đã già, lại giải cứu thứ côn trùng tí hon này, sau đó mới lại nhập định.
Lần lần các vị tu tập thiền định và Lat-ma khác bắt đầu chú ý đến ông, một người không bao giờ ngồi yên và hầu như dùng thời gian thiền định để giải cứu côn trùng. Tuy người Tây tạng nào cũng biết cần cứu vớt loài vật, nhưng có vài vị tăng khuyên ông nên kiếm một chỗ khác thiền định chứ đừng ngồi bên hồ nữa. Họ nói: ‘nên chăng đi kiếm một nơi khác mà ngồi để thiền định, không ai quấy rầy?’. Có người nói: ‘nên chăng trước hết cần thoát khỏi mọi ảo giác? Sau đó, khi đã giác ngộ ta có thể giúp mọi loài hữu tình, chứ không thể giúp như thế’. Một Lạt-ma trẻ tuổi khác lại nói: ‘nên chăng khi thiền định cần nhắm mắt lại để chuyên tâm quán tưởng vào cái chủ yếu nhất, tính vô thường của chính bản thân tâm thức mình’.
Sau khi nghe mọi lời góp ý, vị Lạt-ma già cúi đầu cảm ơn các tăng sỹ và nói: ‘các bạn có lí, hỡi các vị nam nữ. Nhưng một kẻ già yếu và thấp kém như tôi, đã nguyện theo lòng từ bi của đức Quán Thế Âm, thực hiện hạnh nguyên đó trong đời này và mọi đời sau, lại có thể ngồi yên và đọc mật chú đại bi trong lúc loài hữu tình bất hạnh đang chết đuối trước mắt mình?’
Không ai trả lời cả.Đọc đến đây xin mời quý vị đi tìm câu trả lời phù hợp với hành động của quý vị nhé .Om Mani Padme Hum
Trong hình ảnh có thể có: trong nhà
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
CÚNG CÔ HỒN
Trong Mật Giáo có 2 pháp thực hành bi điền và kính điền .Kính điền là vì lòng tôn kính mà dâng cúng như cúng cho chư Phật Pháp Tăng ,thầy ,tổ...Bi điền là vì lòng từ bi thương xót chúng hữu tình đang rơi vào ngạ quỷ hay trung gian mà chúng ta thường gọi là cô hồn.
Trong hình tướng ngạ quỷ chúng sanh ngày đêm đói khổ " bụng to,cổ nhỏ " ngày đêm đói khát .Những chúng sanh ấy từ vô thỉ đến nay chưa ai không từng là cha mẹ của chúng ta .Vì lý do ấy mà chúng ta hiến cúng chứ không phải vì " nịnh nọt " cúng để cô hồn thương mà ban ơn.Do công đức thực hành hạnh bố thí vô điều kiện như vậy mà chúng ta hóa giải các oan gia nghiệp chướng .Người âm sau khi thọ nhận thấm đẩm thần lực gia trì của chư Phật mà giải thoát .Âm đựợc siêu thì người dương cũng được hưng thạnh..
Pháp thực hành sẽ vô cùng đơn giản và tiện dụng để thực hành hằng ngày .Chúng ta không cần bày vẽ làm tốn kém mà không thực hành đúng ý nghĩa của buổi lễ .Quan trọng nhất là dụng tâm thanh tịnh,trì chú thanh tịnh,hồi hướng thanh tịnh.
Hành giả dùng 3 hạt cơm ,bỏ vào 1 cốc nước thanh tịnh ( tốt nhất là nước không nấu ,vì nước nầy rồi Phật gọi là tử thủy ).Dụng tâm thanh tịnh trì tụng
OM RAM 21 lần để làm thanh tịnh môi trừơng
NAMO SURU PAYA TATHGATAYA TADYATHA OM SURU SURU PRASURU PRASURU SVAHA
NAMO SARVA TATHAGATA AVALOKITE.OM SAMBHARA SAMBHARA HUM ( 3 đến 7 lần )
- NAM MÔ ĐA BẢO NHƯ LAI (3lần)
- NAM MÔ BẢO THẮNG NHƯ LAI ( 3lần)
- NAM MÔ QUẢNG BÁC THÂN NHƯ LAI (3lần )
- NAM MÔ DIỆU SẮC THÂN NHƯ LAI ( 3 lần)
- NAM MÔ LY BỐ UÝ NHƯ LAI (3lần)
- NAM MÔ CAM LỒ VƯƠNG NHƯ LAI (3 LẦN)
_NAM MÔ A DI ĐÀ NHƯ LAI (3LẦN)
Thần chú gia trì thức ăn tịnh
Cúng khắp mười phương chúng cô hồn
Nguyện đều no đủ bỏ xan tham
Mau thoát u minh sanh Tịnh Độ
Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề
Rồi sẽ đạt thành đạo vô thượng
Công đức đi về cõi vị lai
Tất cả cô hồn cùng tiếp nhận. (đoạn này đọc 3 lần)
OM GAGANA SAMBHARA VACRA HUM 3 LẦN
Nay con phụng hiến thức ăn này, nguyện nhờ oai lực Bồ tát Quán Thế Âm, phân lượng thức ăn này nhiều như hư không, khiến cho thức ăn này biến thành vị cam lộ, nguyện cho mọi loại Cô Hồn đều được no đủ và mãn nguyện.
Nam mô Cam Lộ Vương Bồ Tát (3 lần)
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...33509078_n.jpg
-
-
RIWO SANGCHOD ( cúng dường khói hương ).
Đây là một trong pháp môn tu tập hằng ngày cho tất cả các hành giả - tu viện vào lúc mặt trời mọc.
Trước khi thực hành chúng ta phải chuẩn bị tất cả các vật phẩm dùng để cúng dường như: ngũ cốc, dầu, cành cây, vàng bạc, phù chú..., những thứ này đều tượng trưng cho tham, sân, si, tật đố, kiêu ngạo và nghiệp lực khác nhau.
Lửa dụ cho trí tuệ, dùng ngọn lửa trí tuệ thiêu đốt sạch tất cả phiền não.
Vì vậy, tất cả các đối tượng được cúng dường có bốn: Hướng về chư Phật, Bồ-tát, các vị Bổn tôn; các vị Hộ pháp, Thiên thần; tất cả chúng sinh hữu tình; các loài cô hồn ngạ quỷ, đồng thời, đặc biệt cúng cho oan gia trái chủ mà chúng ta đã nợ họ. Cho nên, chúng ta phải hướng về bốn đối tượng nêu trên để cúng dường.
Ý NGHĨA
Là pháp tu tịnh trừ nghiệp chướng. Giản dị và mau chóng thành tựu.
Đây là thời khóa tu hàng ngày của các hành giả. Chỉ cần dùng bột hương và thực phẩm.
Đốt hương để tỏa mùi thơm, nhờ chân ngôn màu nhiệm và sự gia trì của chư Phật Bồ tát khiến cho hành giả luôn giữ được tâm thanh tịnh.
- Trên cúng chư Phật Bồ tát mà được tăng trưởng phúc tuệ.
- Thứ cúng hết thảy hộ pháp thiện thần hoan hỷ thụ dụng phẩm vật dâng cúng, luôn luôn phù hộ cho được cát tường.
- Dưới cúng cho lục đạo hữu tình, ngạ quỷ súc sinh, oan thân trái chủ, khiến cho những mong muốn của họ đều được như ý, dần dần diệt hết oán thù nghiệp chướng, hết đói khát luôn được no đủ.
Đây là pháp môn cúng dàng giản dị mau chóng thành tựu, cát tường viên mãn.
LƠI ÍCH & CÔNG ĐỨC
1. Hóa giải oán thù
Do đời trước gây ra nghiệp chướng sâu nặng, tạo thành nhiều chướng ngại trong việc tu hành.
- Bên ngoài có chướng ngại oan thân trái chủ.
- Bên trong chướng ngại bởi tập khí phiền não.
Do hàng ngày tu tập pháp môn này trên các oan thân trái chủ được hưởng sự cúng dàng vô biên.
Hành giả khởi tâm thương sót oan thân trái chủ còn nơi đường ác mà tu pháp này.
Nhờ sự gia trì của chư Phật sẽ được vãng sinh tịnh độ.
Như thế, bên trong khởi tâm đại bi, bền ngoài giải trừ thù oán.
Mà diệt trừ phiền não tập khí, xa lìa chướng ngại.
Sinh thêm được nhiều công đức tu hành thế gian và xuất thế gian.
2. Rộng kết thiên duyên
Do hàng ngày thực hành pháp này, nên các thiện thần hộ pháp và lục đạo chúng sinh nhớ ơn hành giả mà sinh tâm hoan hỷ, giúp cho hành giả được vạn sự cát tường.
3. Phúc tuệ tăng trưởng
Có nhiều hành giả còn chưa chứng ngộ là do kiếp trước nghiệp chướng nặng nề nên kiếp này lại bị vô minh phiền não che lấp tạo thành nghiệp quả nghịch duyên. Bởi vậy, trên bước đường tu tập và trong cuộc sống luôn gặp nhiều chướng ngại, vì thế khó có thể yên tâm tu hành.
Do tu tập pháp này nên trong tâm luôn khởi được cái tính từ bi, vì vậy ngày ngày đều phải hành pháp bố thí cúng dàng, dần dần sẽ hóa giải được cái vô minh và nghiệp quả của mình, mà chồng được cái quảng đại phúc đức cùng chủng tử bồ đề, lại diệt trừ được mọi tội lỗi ác nghiệp, như thế phúc đức trí tuệ ngày càng tăng trưởng.
4. Phú quý tăng trưởng
Do trên cúng dàng chư Phật, mà trồng được nhiều ruộng phúc. Do dưới bố thí chúng sinh mà được cái lòng từ bi rộng lớn, bởi chồng nhân mà được quả. Mặc dù cuộc đời này chưa được phú quý giàu sang thì kiếp sau nhất định sẽ được gặt hái quả lành.
5. Thân tâm thanh tịnh
Trong đời sống tu hành của chúng ta còn nhiều chướng ngại bởi còn nhiều tập khí xấu tạo thành, gặp phải quả báo bất luận là tốt hay xấu chúng ta không nên oán trời trách đất, chỉ có triệt để chuyển hóa được ngã chấp trong đời sống của chúng ta thì mới có thể diệt trừ được cái gốc của sự chướng ngại đó.
Bởi có lòng từ bi hòa nhập vào đời sống hàng ngày, luôn quan tâm đến mọi người, đây là phương pháp tốt nhất để diệt trừ ngã chấp.
Mục đích chủ yếu của pháp cúng này là làm cho chúng ta khởi được lòng từ bi, luôn thương xót cái sự đói khát và cùng khổ của ngạ quỷ, súc sinh. Đem lòng từ bi mà tu, trì pháp này thì mới mở rộng được sự cúng dàng và làm xa lìa được sự cơ cực của chúng sinh. Người luôn giữ được cái tâm từ bi như vậy sẽ được các chư Thiên hộ pháp thường theo và ủng hộ, xa lìa được phiền não chướng ngại mà được hết thảy cát tường tự tại. Tất cả các phương pháp tu trì của từng người nếu xa lìa cái tâm từ bi sẽ mất đi ý nghĩa việc tu trì của Phật pháp.
6. Thanh tịnh đàn tràng
Trong nghi thức cúng khói hương, vì bột hương được làm từ rất nhiều vị thuốc bởi vậy khi đốt:
- Bên ngoài: Nhờ vào sự gia trì của chư Phật và Bồ tát khiến cho hương này càng trở nên trang nghiêm thanh tịnh, lại khiến cho môi trường xung quanh càng thêm trong sạch mà hiển lộ được sự cát tường.
- Bên trong: Khiến cho oan thân trái chủ được thụ dụng đầy đủ, không còn gây chướng ngại cho hành giả nữa.
Cũng vì việc cúng dàng hộ pháp chư Thiên dẽ được các vị ủng hộ cho gia đình được an vui hạnh phúc.
Trong lúc cúng, nhờ mùi hương này sẽ khiến cho hành giả được thân tâm thanh tịnh, tiêu trừ mọi chướng ngại. Do ba công đức viên mãn nói trên, hành giả nên tu theo pháp môn này.
7. Siêu độ vong linh
Có rất nhiều vong linh tâm còn oan uổng, do vô minh che mất mà phải chịu cái đói khát, cơ cực, còn có những vong linh không có thân tướng, nên không có cách nào mà thụ hưởng được sự cúng dàng. Cho nên trong pháp cúng này những vong đang còn trong thân trung ấm sẽ được sự giúp đỡ lớn lao, khiến được thụ dụng sự bố thí.
Pháp tu này 1 ngày có thể cúng từ 1 đến 3 lần khiến mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Khi nhân duyên tích tụ đầy đủ sẽ được chư Phật Bồ tát cứu độ về chốn thanh tịnh tây phương cực lạc.
8. Khai mở vận may
Bởi tu pháp này không những hóa giả được mọi thù địch oan trái mà còn tích tụ được rất nhiều phúc đức, trí tuệ, dần dần sẽ hóa giải được những vận xấu, hết thảy những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mình sẽ được đầy đủ.
Những việc đến với hành giả trong cuộc sống hàng ngày đều được thuận lợi cát tường, nhiều nhà tu hành đi trước đã chứng nghiệm được sự linh ứng của pháp tu này. Nơi nào cúng khói hương nơi đó (trong phạm vi 7 km) luôn luôn có chư thiên , thiện thần , long vương hộ trì.
https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.n...d5&oe=5AD4430C
https://www.facebook.com/permalink.p...bstory_index=0
-
Chiếc răng chó mầu nhiệm
Ngày xưa có một bà lão sống với đứa con trai. Đứa con làm nghề buôn bán, phải đi Ấn Độ và Tây Tạng thường xuyên. Ngày kia, đứa con trai sắp phải lên đường đi Ấn Độ thì bà mẹ bảo: ‘Giác Thành’ (Bodh Gaya) tại Ấn Độ là nơi đức Phật Thích-ca thành đạo, vì thế mẹ nhờ con mang về một ít xương tro hay bùa chú, pháp khí gì đó. Mẹ sẽ thờ và xem như sự hiện diện của chính đức Phật trong nhà mình. Năm này qua năm khác, bà mẹ nhắc nhở đứa con, nhưng lần nào đứa con cũng về lại Tây Tạng mà không thực hiện được lời mẹ dặn.
Một ngày nọ, đứa con lại lên đường đi Ấn Độ và bà mẹ nói: ‘Nếu lần này con không mang gì cho mẹ từ Giác Thành (4) về để mẹ thờ, thì mẹ sẽ tự tử chết thôi’. Đứa con lấy làm sợ lòng quyết tâm của mẹ, hứa lần này sẽ không quên.
Sau vài tháng làm việc, người con lên đường trở về nhà, bỗng nhớ rằng mình đã không ghé ngang Giác Thành để tìm xương tro cho mẹ. ‘Làm sao bây giờ ?’, anh ta tự hỏi ‘Mẹ ta sẽ tự tử thật đấy nếu không mang gì về cho bà’. Anh ta nhìn quanh thì thấy một con chó chết đã khô. Người con vội vàng nhổ một cái răng chó, quấn lại cẩn thận trong một chiếc khăn lụa.Về đền nhà, đứa con ra vẻ vui mừng bảo mẹ ‘Đây chính là một chiếc răng của Phật Cồ-đàm, bậc Chánh đẳng Chánh giác. Kể từ giờ phút đó, bà hết lòng thờ phụng chiếc răng và cũng không bao lâu sau đó,bà tìm được sự an lạc nội tâm,điều mà suốt đời bà ra công tìm kiếm.Cũng không bao lâu sau thì bạn bè và hàng xóm cũng nhận thấy rằng có một thứ ánh sáng ngũ sắc bao xung quanh chiếc răng, và những tia sáng huyền ảo chiếu trên đó. Mỗi ngày có nhiều người đến lạy bàn thờ của bà lão và xin được tiếp một chút năng lực của chiếc răng mầu nhiệm. Tới ngày bà lão chết, ánh sáng ngũ sắc cũng bọc quanh thân bà và miệng bà mỉm cười làm cho đứa con trai đang than khóc hiểu rằng, bà đang trở về tự tính, từ đó mọi vật được sinh thành.
Kể từ ngày đó người ta biết rằng, một chiếc răng chó cũng trở thành mầu nhiệm, nhưng với điều kiện đó là sức mạnh của một trái tim sẵn sàng tiếp nhận và lòng từ bi của một vị Phật kết hợp với nhau
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Chàng nghèo thật hết chỗ nói, cả sự nghiệp của chàng chỉ có một bà mẹ già mà thôi.
Lâu lắm người ta mới biếu cho chàng một cái búa để đề ơn cứu sống một em bé chết đuối.
Ðược búa, chàng đưa mẹ vào núi, tìm một hang đá, chàng lót rơm êm và có gió mát để mẹ ăn ở; như thế chàng an tâm lắm. Ngày ngày đi kiếm củi rồi về chợ đổi gạo, mặc dù ít tiền, chàng vẫn mua được thịt để mẹ xơi. Tu Lại tên chàng chẳng những lan rộng với chữ hiếu, mà người ta còn gọi chàng là tráng sĩ, vì chàng thường giúp đỡ nhân dân trong vùng ấy, bất luận gặp một tai nạn gì chàng thường giúp đỡ họ tận lực.
Vì chàng ở núi, nên người ta đặt chàng những món tiền lớn để bắt các thú rừng hiền lành như: nai, khỉ, chồn, thỏ v.v… Tu Lại từ chối vì chàng là một Phật-tử chơn-chánh, không bao giờ giết một sinh vật nào dù nhỏ. Chẳng những chàng không bắt chúng mà còn yêu mến chúng nữa, nên lâu ngày chúng quen và thường gần đến chỗ hai mẹ con chàng ở. Cái hang ấy bao giờ thành vui, hoa lạ nở hai bên, những tổ chim làm gần gũi đó.
Có những đêm trăng sáng mẹ chàng mẹ Phật, chàng ngồi bên kết mấy thứ cỏ khô thành áo để mặc mùa đông.
Nhưng đã sáu ngày nay, trời mưa luôn không ngớt, gạo trong hang đã hầu cạn, chàng lo ngại, nếu mưa cứ kéo dài. Hôm nay trời bừng sáng, Tu Lại sung sướng quá, chàng chào mẹ rồi vác búa ra đi, đến chỗ thường đốn củi, thì xa xa có bóng ba thiếu nữ. Thấy có người, ba bóng kia bỏ đi nơi khác. Chàng để bầu nước xuống và sửa soạn vào việc thì ồ thật, một chiếc kim thoa óng ánh “nằm ngã nghiêng bên tảng đá, không còn nghi vì nữa, chàng vội nhặt lấy, rồi chạy theo ba thiếu nữ kia trả lại cho họ, người ta nhìn chàng với cặp mắt cảm trọng. Nhưng người tráng sĩ không trả ân bằng tiền gạo được, vì người ta biết tiếng chàng nhiều lắm. Nhưng, từ độ ấy về sau, nơi hang mẹ chàng thỉnh thoảng có người đem biếu gạo trắng thịt ngon, trong lúc chàng đi làm củi vắng, cứ thế, rồi một ngày kia…
Một sáng mai khi chàng còn mơ màng chưa tỉnh hẳn thì có một nàng tiên đến ngồi bên chàng, nàng tiên ấy trên trời sa xuống lâu hay mau không biết, hồi nào không hay, nhưng nàng là tiên thật, vì nàng đẹp quá. Một tấm “voan” màu nước biển phủ nhẹ toàn thân, trên mái tóc xanh là một tràng hoa tươi. Chàng phải gượng với bộ áo sơ sài của mình. Tu Lại lại ngồi phắt dậy: “Nàng là ai? Sao lại đến đây?”
Thiếp là sương phụ đánh rơi chiếc kim thoa hôm nọ, được tráng sĩ cho lại, về nhà thiếp suy nghĩ: “Ở đời giàu sang không phải chơn hạnh phúc, được gần bậc hiền nhân mới chắc chắn sống một lối sống của con người biết sống! Tiếng nay giàu có, của cải dư dật, cha mẹ không, chồng chết, chỉ có hai con thơ, nay thiếp đến đây nguyện theo chàng, mong chàng đừng phụ, thiếp xin thay chàng hầu hạ mẹ già, và giúp chàng học hành để thành danh đức, hầu sau làm lợi ích cho đời, nếu chàng cố chấp không nghe, thiếp rất tiếc tài ba đức độ của chàng vùi sâu trong hang thẳm”.
Tiếng nàng trong và êm quá, trong như tiếng suối chảy, êm như tiếng chim kêu, nàng nói với một vẻ thiết tha thành thật. Câu chuyện mới cắc cớ làm sao, mỗi lời nói của nàng như rót vào tai tráng sĩ.
Tu Lại mơ màng như người trong mộng. Chàng suy nghĩ: “Không biết ta chiêm bao hay thật, mà nàng là người thật hay ma”. Bỗng chàng nghiêm nét mặt và bảo: “Tôi xem nàng là người đoan chính lại giàu sang là do phước báu của đời trước đã gây tốt nhiều, còn tôi chỉ là một kẻ nghèo khổ, làm sao xứng đáng với nàng và, theo tôi, một người sương phụ cần phải thờ chồng, nuôi con, dạy vẽ cho con nên người, xứng với ý nghiã con người mới phải. Thiết thật hơn, tôi nay còn mẹ già, nếu tôi lập gia đình, tình yêu mẹ sẽ san sớt, nàng còn có con thơ, nếu nàng lập gia đình tình yêu con sẽ không còn nguyên vẹn, mẹ tôi cần có tôi mới vui, con nàng cần có nàng mới sống. Vì vậy tôi khuyên nàng trở về nuôi con và dứt bỏ câu chuyện này. Còn nàng sợ đức độ tài ba của tôi sẽ mai một, nếu tôi quả có đức độ như nàng tặng, thì trong rừng sâu các loài cầm thú cũng cần có đức độ để che chở cho chúng, như thế có đức độ thì ở đâu mà lại không dùng được?
Nàng tiên ấy bay đi, trời đương sáng bổng tối hẳn, người tráng sĩ cũng thấy nao nao trong lòng, nhưng rồi chàng lại vui lên nhiều, vì chàng đã chiến thắng. Song không hiểu vì sao, những chuyện kỳ lạ lại hay đến với người nghèo lạ ấy.
Một hôm, có một người lạ mặt hốt hoảng chạy đến lôi ra một thoi vàng thắm, rồi thưa với Tu Lại: “Thưa tráng sĩ, tôi xin biếu chút quà mọn nầy, nhờ tráng sĩ giúp cho tôi một lời nói. Ngày mai đây, nếu có ai hỏi: Có một đoàn người đi qua đây không? Thì tráng sĩ nói cho một tiếng “có”, ở đây chỉ có tráng sĩ và tôi, ngoài ra không còn ai hay chuyện này cả; vả lại tráng sĩ chỉ nói cho một tiếng cũng không sao.”. Nói xong , người bỏ vàng lại đó, rồi chạy mất, Tu Lại chưa kịp suy nghĩ gì cả, nhưng chàng vội lượm vàng rồi chạy theo thật nhanh mới kịp. Tu Lại kéo tay người kia: “Không, không, vàng ông hãy cầm lấy, tôi không thể theo lời ông được, tôi là một người Phật tử không bao giờ làm việc ám muội, một lời nói của người quân tử trọng hơn nghìn vàng, nhưng một lời nói còn trọng hơn cả thân mạng, nếu ông đem nghìn vàng hay dùng uy thế để hại mạng tôi, bảo tôi nói dối, thà chết chứ không bao giờ phạm giới cấm của Phật”, nói xong Tu Lại bỏ vàng rồi chạy thẳng.
Tiếng tốt của người tráng sĩ bay xa như ngọn gió mát vô tình thổi từ rừng sâu vào đến thâm cung. A Dục Vương là người hiếu kỳ, muốn thử chàng, nên những chuyện bỏ rơi và người cơn gái đến tận hang chàng chính là cung nhơn của vua A Dục Vương. Sau mấy lần thử thách, nhà vua biết Tu Lại là bậc hiền nhân nên đem lòng đố kỵ sai người đến hại chàng. “Tôi vâng lệnh nhà vua đến giết tráng sĩ” người đao phủ cầm gươm sáng bảo thế.
- Ồ, thế thì tốt quá, tôi rất cám ơn Ngài đã vì tôi mà hủy giùm cái thân ô uế đầy tội lỗi này. Song tôi còn chút mẹ già nhờ ngài chiếu cố cho… Tên đao phủ ngạc nhiên trước thái độ thản nhiên củaTu Lại.
- Ông là vô tội, nhà vua vì lòng đố kỵ sai tôi đến hại ông, vậy ông không giận nhà vua sao?
- Không, tôi không giận mà còn thương hại nhà vua đã gây nhiều nghiệp ác, trước khi chết tôi xin cầu Ðức Phật cho nhà vua phát Bồ Ðề tâm hồi hướng thiện niệm.
Tên đao phủ mím môi, đỏ mặt đưa gươm lên cao dán xuống đầu chàng… nhưng lưỡi gươm kia xuống từ từ rồi chui thẳng vào vỏ kiếm…
Sáng hôm sau vua A Dục lên tận hang chàng ở, đến nơi, chàng đi làm củi sớm, vua chờ trọn ngày mới gặp. Vua A Dục từ tốn bảo: “Trẩm làm vua, trong nước có hiền tài mà Trẩm biết chậm thật là đáng tiếc! Ngày nay nước nhà loạn lạc Trẫm mong tráng sĩ về triều cùng Trẫm chăm lo việc nước, được vậy thật là hạnh cho nhân dân”. Chàng từ chối năm bảy dạo, vua nài nỉ đôi ba phen, cuối cùng chàng hẹn trong bảy ngày sẽ trả lời.
Trong bảy ngày, ba lần vua đến thăm ba lần vua cho người lên thăm hỏi. Tu Lại hỏi ý kiến mẹ, mẹ chàng bảo:
“Hiện nay mẹ trong nước, nhà vua thì lãng mạn, hoang hung, hà khắc dân tình, nhân dân oán thán đến nổi họ đặt tên nhà vua là Chiên Ðà La A Dục (ông vua hung tợn như người hàng thịt). Triều đình nịnh thần ô lại; ngoài thì vua hung tàn, con ngỗ nghịch, vợ bất chánh, chồng bất lương… đạo đức hầu như mất hẳn tất cả tâm niệm xấu xa độc ác kết hợp lại do đó giặc cướp nổi lung tung. Con nay chấp kinh cũng phải tùng quyền, vậy nhân cơ hội này con có dịp đem giáo lý của Ðức Phật để cảm hóa quần sanh hầu mong cứu vãn nhân tâm, đưa lại sự an ninh cho nhân loại”.
Vâng lời mẹ Tu Lại về triều, vua A Dục lấy hai chữ Quốc Bửu (vật quí của nước) tặng chàng làm tên.
Trước hết Quốc Bửu đem ba pháp quy y, năm điều cấm giới cảm hóa vua. Vua A Dục từ khi biết quy đầu về Phật không bao lâu trở thành một vị minh quân. Ông đổi hẳn chính sách, lấy đức độ trị dân, không dùng oai thế tàn bạo như trước nữa. Vì thế mà nhân dân trong nước trở lại cảm phục vua, từ đó đặt tên vua là Thích Ca A Dục (ông vua hay làm đìều nhân từ).
Trong nước nhà vua trọng những người hiền hiếu, trừng trị kẻ hoang dâm, cấm hẳn sự xa hoa cờ bạc, săn bắn, triệt để không rựợu chè đàng điếm, người già cả bệnh hoạn được săn sóc chu đáo, nhà nhà đều thờ Phật, trọng Tăng tu Pháp “Thập thiện”*. Nếu ai phạm một trong năm đìều răn phải bị trục xuất ra khỏi nước. Nhờ vậy, không bao lâu trong nước trở lại thái bình an lạc.
Thuật giả: Thể Quán
*Thập thiện: Mười điều lành. Thân không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm. Miệng không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói độc ác. Ý không tham lam, không giận dữ và không si mê.
“Thắng lợi chân chánh là ở Phật-giáo chứ không phải vũ khí”
A Dục.
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Kính thưa quý đạo hữu kim cương ! có rất nhiều người hoang mang về CẬN TỬ NGHIỆP có thật không hay do Phật Giáo Đại thừa ngụy biện tạo ra.Hôm nay tình cờ đọc được một bài viết hay ,dẫn chứng mạch lạc .Xin chia sẻ cùng quý vị .Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát
Chuyển Cận Tử Nghiệp Ác Thành Cận Tử Nghiệp Thiện
Từ Kinh Tạng Pali Cho Đến Hộ Niệm Cho Người Sắp Lâm Chung
Nghiệp của người sắp mất được gọi là cận tử nghiệp, là nghiệp lực quan trọng quyết định cảnh giới mà người sắp mất sẽ thọ báo. Trong một lần thuyết giảng tại Trường Trung Học McGarvin Westminster, CA 92683, Tỳ Kheo Thích Tâm Thiện khái niệm như sau:
Cận tử nghiệp là nghiệp lúc sắp chết hay những sức mạnh tâm lý của con người trước lúc tắt thở. Nghiệp này cực kỳ hệ trọng trong việc hướng dẫn nghiệp thức đi tái sinh. Những tư tưởng cuối cùng của người chết sẽ tạo nên một cận tử nghiệp (thiện hoặc bất thiện).
Một người có thể suốt đời làm ác, nhưng trước lúc tắt thở, nỗ lực sinh khởi về thiện pháp, về những điều thiện trong đời, và nhờ ý lực đó có thể tái sinh vào cõi tốt đẹp (tương tự như vậy đối với các trường hợp ngược lại). Từ hiểu biết về kinh nghiệm cận tử, chúng ta cần huân tập các thiện nghiệp trong đời sống của mình để tạo thành một sức mạnh (ý lực) đoạn trừ các ác nghiệp ngay trong đời sống hàng ngày và cả đến giờ phút lâm chung. [1]
Một số bằng chứng thuyết phục về việc chuyển nghiệp thức ác (đọa địa ngục) thành nghiệp thiện (sinh thiên) được tìm thấy trong Kinh Tạng Pali như hai trong nhiều trường hợp sau đây được trích từ Tiểu Bộ- Tập 2: Thiên Cung Sự
Bà Lão Chiên-Đà-La
Trong lúc đức Thế Tôn đang trú ngụ tại Ràjagaha (Vương xá), Ngài nhập định Đại bi mà chư Phật thường trú, sau đó xuất định và quán sát thế gian. Ngài thấy ngay trong thành phố ấy tại khu vực của dân chúng Candàla(Chiên-đà-la, hạng người vô loại khốn cùng không ai tiếp xúc) có một bà lão sắp mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho bà.
Với tâm Đại bi, muốn làm cho bà tạo một nghiệp lành đưa đến cõi trời, Ngài suy nghĩ: 'Ta sẽ an trú kẻ ấy vào thiên giới', Ngài liền cùng đại chúng Tỷ-kheo vào Ràjagaha khất thực.
Vào lúc ấy, bà lão Chiên-đà-la chống gậy ra khỏi thành, thấy đức Thế Tôn đến gần, và khi bà đối diện Ngài, bà dừng lại. Đức Thế Tôn cũng dừng lại và đứng ngay trước mặt bà như thể cản bà tiến lên.
Sau đó, Tôn giả Mahà-Moggallàna (Mục Kiền Liên), biết tâm bậc Đạo Sư và cũng biết thọ mạng bà lão sắp hết, bèn thúc giục bà đảnh lễ đức Thế Tôn:
Lễ chân đức Phật Go-ta-ma,
Vì xót thương cho số phận bà,
Giác giả tối cao, danh tiếng rộng,
Đứng ngay trước mặt, hỡi Chiên-đà.
Hãy hướng tâm đầy đủ thiện duyên
Về Ngài La-hán, bậc an nhiên,
Mau mau đảnh lễ, hai tay chắp,
Vì mạng sống kia chẳng được bền!
Khi bà lắng nghe lời Tôn giả, lòng đầy xúc động, bà phát khởi tâm tín hướng về bậc Đạo Sư, liền đảnh lễ Ngài với năm phần thân thể sát đất, và do hân hoan trước đức Phật, bà nhất tâm đứng yên lặng, đầu cúi xuống. Đức Thế Tôn bảo:
- Thế này là đủ để bà ấy lên thiên giới.
Xong Ngài vào thành với đại chúng Tỷ-kheo. Ngay lập tức sau đó, một con bò cái chạy trốn cùng với bê con, lao về phía bà già, lấy cặp sừng húc bà chết tại chỗ[2].
Lâu đài của người cho cơm cháy
Bấy giờ, đức Thế Tôn trú tại thành Ràjagaha (Vương Xá), ở chỗ nuôi sóc trong Trúc Lâm. Cũng vào thời ấy, những người trong một gia đình kia tại Vương Xá bị bệnh dịch tả. Mọi người trong nhà ấy đều chết trừ một nữ nhân. Kinh hoàng vì nỗi sợ chết, nàng bỏ nhà cùng tất cả tiền bạc thóc lúa bên trong ấy chạy trốn qua một chỗ nứt của vách tường.
Vì không ai giúp đỡ, nàng đến nhà một gia đình khác, xin ở nhờ phía sau. Người trong nhà ấy thương hại nàng đem cho nàng cháo gạo, cơm chín và cơm cháy cùng các thứ còn sót lại trong nồi niêu. Nhờ lòng rộng lượng của họ, nàng có thể sống tại đó.
Vào thời ấy Tôn giả Mahà-Kassapa(Đại Ca-diếp) đã nhập Diệt Định suốt bảy ngày và đã xuất định, trong lúc Tôn giả suy nghĩ: 'Hôm nay ta sẽ làm ơn cho ai bằng cách nhận thức ăn? Ta sẽ giải thoát sầu bi cho ai?', Tôn giả thấy nữ nhân kia gần mạng chung và một ác nghiệp đưa đến địa ngục đã xuất hiện cho nàng.
Tôn giả suy nghĩ: 'Khi ta đến gần, nữ nhân này sẽ cho ta cơm cháy mà nàng nhận được cho phần mình, và do chính hành động ấy nàng sẽ được tái sanh vào Hóa Lạc thiên giới. Khi ta đã giải thoát cho nàng khỏi tái sinh vào địa ngục như vậy, chắc chắn ta sẽ tạo hạnh phúc thiên giới cho nàng'.
Sau khi đã đắp y vào buổi sáng sớm, Tôn giả cầm y bát và đi về phía nơi nàng cư trú.
Bấy giờ, SakkaThiên chủ (Đế Thích) giả dạng cúng dường Tôn giả thực phẩm thiên giới đầy đủ mọi hương vị thơm ngon cùng nhiều loại cháo, canh và cà-ri. Vị Trưởng lão nhận ra ngài, bèn chối từ và bảo:
- Này Kosiya, tại sao ngài đã thành tựu các công đức thiện sự lại làm như vậy? Xin đừng làm hỏng dịp may của những kẻ bất hạnh khốn khổ'.
Rồi Tôn giả đi đến đứng trước nữ nhân kia. Nàng ước muốn cúng dường Tôn giả một vật gì đó, liền suy nghĩ: 'Ở đây không có gì xứng đáng để cúng dường vị Trưởng lão đại oai nghi này cả', và nàng nói:
- Xin ngài hãy tiến lên một chút nữa.
Vị Trưởng lão chỉ bước lùi lại một bước và không nhận thứ gì do các người khác cúng dường. Nàng thấy rõ ràng Tôn giả muốn giúp nàng, bèn cúng dường Tôn giả miếng cơm cháy của mình, Tôn giả vừa ăn ngay tại chỗ vừa bảo:
- Trong tiền kiếp thứ ba trước đây, cô đã là mẹ của ta.
Xong Tôn giả ra đi.
Nàng từ trần ngay đêm ấy và được tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên[3].
Rõ ràng qua những bài kinh trên cho thấy Đức Phật và Thánh Đệ Tử là những ruộng phước tối thắng, bất khả thuyết, có thể chuyển nghiệp ác đọa địa ngục của người sắp mất thành nghiệp thiện sanh lên thiên giới.
Tương tự như vậy, hộ niệm cho người sắp mất là hướng dẫn, hỗ trợ ‘an trú người sắp mất vào thiện nghiệp’, tức là chân thành khuyên người sắp mất buông xuống hết thảy, tín tâm chuyên niệm A DI ĐÀ PHẬT (thiện nghiệp) và nguyện thiết tha sanh về cõi An Lạc. Do đó việc hộ niệm cho người lâm chung vô cùng cần thiết vì giúp người sắp mất tránh ác nghiệp vào giây phút cận kề cái chết đọa vào ba đường ác và đặc biệt giúp họ ‘an trú’ vào thánh hiệu A DI ĐÀ PHẬT để được thoát sanh về Cực Lạc Thế Giới.
Điều đáng chú ý nhất: việc hộ niệm cho người sắp mất đúng là y giáo phụng hành, tương ứng với Đại Nguyện thứ 18 của Đức Phật A DI ĐÀ: "Lúc tôi thành Phật thập phương chúng sanh chí tâm tin mộ muốn sanh về cõi nước tôi nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, (trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch cùng hủy báng chánh pháp), thời tôi không ở ngôi Chánh giác".
Trong khi đó theo Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Ðức Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hi: " Người Hạ Phẩm Hạ Sanh ấy. Hoặc có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện ngũ nghịch, thập ác, đủ các bất thiện. Người ngu như vậy, do các ác nghiệp phải đọa ác đạo, trải qua nhiều kiếp thọ khổ vô cùng. Người ngu ấy, lúc lâm chung, gặp thiện tri thức dùng nhiều lời an ủi, vì nói diệu pháp dạy bảo niệm Phật. Người ấy bị khổ bức không rảnh niệm được. Thiện hữu bảo rằng nếu người chẳng phải niệm Phật kia được, thì ngươi xưng danh hiệu Phật A Di Ðà, như vậy chí tâm khiến tiếng xưng danh chẳng dứt đủ mười niệm. Nên xưng như vầy: Nam Mô A Di Ðà Phật. Do xưng danh hiệu Phật, nên trong mỗi niệm trừ tám mươi ức kiếp tội sanh tử. Lúc mạng chung, thấy kim liên hoa dường như mặt nhựt trụ trước người ấy. Như khoảng một niệm, liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới, ở trong hoa sen mãn mười hai đại kiếp hoa sen ấy mới nở. Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát dùng âm thanh đại bi vì người ấy diễn nói thiệt tướng các pháp, nói pháp trừ diệt tội. Người ấy nghe pháp rồi, rất vui mừng liền phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề. Ðây gọi là người Hạ Phẩm Hạ Sanh vậy"[4].
Đức Thích Tôn cũng như Chư Phật thập phương rất thương xót những chúng sanh tạo ác nghiệp vì họ sẽ bị đọa vào tam ác đạo và trôi dài trong biển khổ sinh tử luân hồi và không biết khi nào mới có lại thân người. Như trong Kinh Bản Duyên Vãng Sanh Tịnh Thổ của Bồ Tát Quán Thế Âm, Đức Thích Ca, khi ấy là Phạm Sĩ Trưởng Na trong lúc đau thương ôm đống xương trắng của con mình (nay là Quán Thế Âm Bồ Tát) bị người vợ kế hại chết, khóc lóc và phát nguyện: “Nguyện tôi độ thoát các chúng sinh ác mau thành Phật Đạo. Hoặc biến làm Đại Địa, hoặc nước, lửa, gió. Hoặc biến làm cỏ, cây, rừng rậm vì chúng sinh làm nơi nương tựa, dừng nghỉ. Hoặc biến làm năm loại lúa đậu tăng ích cho người khác, Hoặc nếu Trời, nếu Người, nếu Thần, tất cả loại hình quý tiện… không có cõi nào chẳng hiện thân”.Như vậy phát năm trăm lời Nguyện, lại nguyện “Tôi thường trụ ở Thế Giới Sa Bà, nói Pháp giáo hoá” [5].
Mục đích chính của việc hộ niệm là chân thành và tích cực giúp cho người sắp lâm chung có đầy đủ ba món tư lương là TÍN, NGUYỆN, HẠNH để rồi họ được vãng sanh an lành vể miền Cực Lạc. Tuy nhiên bên cạnh đó, người sắp mất (người bệnh hoặc người già) cũng rất được khuyến thích làm lành tránh dữ nhằm tranh thủ những thiện nghiệp trước lúc ra đi. Những ngày ngắn ngủi còn lại trên thế gian, người sắp mất có những ý niệm làm những việc thiện là điều rất tốt, trợ duyên cho việc vãng sanh Cực Lạc. Khổng Tử dạy: “Sáng nghe được đạo, chiều chết cũng an lòng”, cũng như lời Phật dạy tránh dữ làm lành vậy. Họ được khuyên làm những việc thiện như là bố thí, giúp đỡ những người nghèo, những người cô thế, xây cầu, phóng sanh, cúng dường Tam Bảo vv... Rõ ràng đây là những việc làm lợi ích cho con người, cho xã hội, cho Tam Bảo và cho cả người ra đi và cả người ở lại. Vì thế những việc làm thiện ích này đáng được trân trọng và khuyến khích phát huy hơn nữa trong đời sống ngũ trược loạn động, ác thế này.
Như vậy hộ niệm cho người sắp mất là việc làm vô cùng cần thiết và lợi lạc, y như lời Phật dạy, hợp với Bản Nguyện bi trí viên mãn của A DI ĐÀ PHẬT và của Thập phương Chư Phật. Chính vì thế việc hộ niệm đáng được trân trọng, tán thán và khuyến khích nhân rộng hơn nữa. Tuy nhiên, cần phải cẩn thận để tránh những trường hợp không như ý xảy ra. Việc này là bổn phận chung của Chư Tôn Đức Tăng Ni và các phật tử tại gia, nên cùng nhau phối hợp chặt chẽ và hài hòa. Vạn sự khởi đầu nan nhưng bằng sự hiểu biết và quyết tâm mạnh mẽ, việc hộ niệm có thể trở thành một tập tục hữu ích và nhất là trợ duyên tích cực cho người sắp lâm chung được vãng sanh về Thế Giới An Lạc.
Tâm Tịnh cẩn soạn
Nguyện Đem công đức này
Hướng về chúng sanh khắp pháp giới
Đồng sanh cõi Cực Lạc
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Câu hỏi: Ngày nay, nhiều người trở thành những người ăn chay vì các nguyên nhân từ bi. Thưa ngài, ngài sẽ nói gì về những lợi lạc nếu hành giả ăn chay và với những người không phải hành giả?
Jetsun Kushok Rinpoche: Thật tốt nếu người ta từ bỏ việc ăn thịt vì những lý do này, mặc dù cũng có nhiều côn trùng sống trong rau cỏ có thể bị làm hại khi chúng ta ăn chúng. Mỗi lần chúng ta di chuyển, chúng ta giết những chúng sinh nhỏ bé mà không nhận ra điều đó. Tuy nhiên, sẽ rất lợi lạc với cả hành giả và không phải hành giả nếu từ bỏ việc ăn thịt, như thế từ bỏ việc cố ý tham gia vào hành động liên quan đến việc sát hại động vật. Tuy nhiên, đôi khi thật khó để là một người ăn chay nghiêm chỉnh. Ví dụ, nếu chúng ta sống với những người ăn mặn, chúng ta không thể chọn thứ mà chúng ta ăn. Đôi khi chúng ta cũng cần ăn thịt vì lý do sức khỏe. Nếu chúng ta cảm thấy ốm, chúng ta không thể thực hành một cách chuẩn xác, bởi vậy ăn thịt trong hoàn cảnh đó sẽ có lợi.
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
Hướng Dẫn Về Cúng Sang ~ Dodrubchen Rinpoche
1 Tháng 3 2014 lúc 0:07
Chính nhờ thực hiện những cúng dường tâm linh thông qua một thực hành tâm linh mà chúng ta có thể hoàn thiện tích tập tâm linh. Nhờ nhân duyên này – được gọi là tích tập công đức – chúng ta có thể đạt kết quả là trí tuệ toàn thiện. Đây là một trong bốn loại cúng dường không quá khó khăn mà có ý nghĩa và lợi không thể nghĩ bàn. Những ai thực hiện pháp cúng dường này thường xuyên và tinh tấn sẽ tích tập các công đức, tịnh hóa các chướng ngại và đặc biệt, tịch trừ những che chướng và yếu tố bất lợi cho sự thành tựu Chánh Pháp và giác ngộ trong đời này, giải thoát khỏi chúng tựa như ánh mặt trời xua tan mây che. Vì đây cũng là một phương tiện hỗ trợ tiến trình thể nhập Đại Toàn Thiện vô thượng, việc dốc sức để thực hành hoàn toàn dễ hiểu.
Cúng dường Sang cần chú ý ‘động cơ cao thương, phẩm vật hoàn hảo, sắp xếp tốt đẹp’.
Động cơ cao thượng nghĩa là việc cúng dường không nên bị nhơ uế bởi lối sống lệch lạc và keo kiệt. Năm lối sống lệch lạc và hà tiện (đạo đức giả, nịnh nọt, luồn cúi, tước đoạt, bố thí mà toan tính) đặc biệt chính là nhân tái sinh Ngạ Quỷ. Nếu chúng ta toan tính trong những phẩm vật cúng dường như thể đứt từng khúc ruột thì điều đó chẳng thể đem lại sự tích tập, do đó chúng ta cần tránh điều này triệt để.
Phẩm vật hoàn hảo nghĩa là chúng ta cần cúng dường những thứ hảo hạng mà chính chúng ta nhận thấy thông qua kinh nghiệm sử dụng [thuốc, vải, phẩm vật quý, ngũ cốc, trầm hương... - Phakchok Rinpoche], không thể chọn những thứ mà chúng ta chưa từng chạm vào vì chúng đã úa màu, thối nát, mất giá trị hoặc chất lượng quá tồi tệ hoặc đồ cặn bã. Tuyệt đối không thể dùng. Tâm của chư Phật vốn chẳng có ý niệm nhị nguyên về hảo hạng hay tồi tàn, trong sạch hay nhơ uế nhưng mọi thứ nhất định phải thanh tịnh, hợp vệ sinh.
Sắp xếp tốt đẹp nghĩa là những vật dụng như lư đốt trầm, những vật dụng dùng cho việc cúng dường cũng như nơi chốn tiến hành cúng dường cần phải ngăn nắp, gọn gàng, mọi thứ xếp có thứ tự và đồng nhất. Chúng ta không nên quanh co hay tạp nham chỉ vì chúng ta chẳng tự thân nỗ lực và rồi chối bỏ những chỉ dẫn mà chúng ta từng nghe.
Hơn nữa, dù chúng ta có làm gì, thân – khẩu – ý của chúng ta phải đồng nhất, nếu không thì sự nghiệp thành tựu của chúng ta chẳng có xíu giá trị nào. Nếu chúng ta bằng lòng với chuyện chỉ đọc tụng ngôn từ kinh văn mà chẳng có chút ý nghĩ phải hiểu việc mình đang làm, giống như đầu chúng ta là những cái mặt nạ gỗ với chiếc lưỡi bằng giấy đang phất phơ thì chúng ta chỉ đang tự làm mình mệt mỏi mà hiệu quả thực hành chẳng là bao. Thực sự, chẳng hề có thực hành nào hoàn thành chỉ với việc đọc tụng mà không cần quán tưởng, ở đây [thực hành cúng Sang này] cũng thế.
Bốn Nhóm Thỉnh Mời
1. Những đấng Cao Thượng và Hi Hữu, những bậc Quý Báu mà chúng ta thỉnh mời bằng lòng tôn kính, bao gồm chư pháp thân, báo thân và hóa thân Phật cũng như Pháp Bảo và Tăng Già cùng toàn thể chư Đạo Sư [Guru], Thánh Tôn [Yidam], Không Hành Quyến Thuộc [Dakini], vân vân. Chư vị hiện diện sống động như những vì sao trên bầu trời cao.
2. Các vị Hộ Pháp, những bậc mà chúng ta thỉnh mời bởi phẩm tính của các vị, đó là Tám Bậc Đại Thánh [Thiên], Tám Đại Naga [Long], Tám Đại Sí Điểu [Ca Lâu La], Tứ Đại Thiên Vương, Chín Bậc Phẫn Nộ, Mười Vị Bảo Hộ Thế Giới [Thập Phương Hộ Tôn], Hai Mươi Tám Chòm Sao [Nhị Thập Bát Tú] và Hai Mươi Lăm Thần Uy Hộ Trì Chốn Thanh Tịnh cùng quyến thuộc, cận thần, tùy tùng, gia tộc của các vị, hết thảy những thế lực tích cực, bảo hộ và thần thánh địa phương. Tất cả các vị tập hợp lại như những áng mây trên bầu trời.
3. Sáu bộ Chúng Sinh, những vị mà chúng ta thỉnh mời với lòng từ bi, gồm có chư Trời, Người, A Tu La, Súc Sinh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, vân vân, tất cả bộ chúng này xuất hiện dày đặc như màn sương.
4. Thế lực Che Chướng, những vị mà chúng ta có nợ nghiệp với họ, bao gồm tất cả những chủ nợ về nghiệp như 80.000 loại thế lực gây chướng ngại, dẫn đầu bởi Vinayaka, vua của những thế lực gây cản trở cũng như Mười Lăm Đại Tinh Linh khiến trẻ con khiếp đảm và Hariti cùng năm trăm người con. Tất cả các vị tập trung dưới mặt đất tựa như một đám đông to lớn của Trời và Người cùng hội họp.
Quán Tưởng Cúng Dường
Quán tưởng chư Tôn mà chúng ta cúng dường thọ nhận phẩm vật Sang qua những tia sáng, giống như ánh mặt trời phóng lên mặt nước, hấp thụ vào những chày kim cang nơi lưỡi các Ngài. Một lựa chọn khác là bạn có thể nghĩ tưởng chư Thánh Nữ cúng dường nhiều như vi trần trong một tia sáng, xuất hiện từ làn khói cúng dường, mỗi vị cầm một bình có chứa cam lộ tịnh hóa trên tay phải và một hộp thuốc trên tay trái, các vị đưa làn khói thơm dịu đi khắp các ngóc ngách của thế giới. Trên mỗi làn khói hóa ra vô số đám mây cúng dường bất khả tư nghì, trong đó có chứa Bát Bảo Kiết Tường, Hoàng Gia Thất Bảo Vật và vân vân.
Lợi Ích Cúng Dường
Nhờ cúng dường những đấng Cao Thượng và Hi Hữu, những bậc Quý Báu mà chúng ta thỉnh mời bằng lòng tôn kính, hết thảy chúng sinh bao gồm luôn chính chúng ta, hoàn thành hai tích tập [từ bi + trí tuệ], tịnh hóa hai chướng ngại [xúc tình + kinh nghiệm] và chứng đạt hai thành tựu [thông thường + siêu nhiên] ngay trong đời này.
Nhờ cúng dường các vị Hộ Pháp, những bậc mà chúng ta thỉnh mời bởi phẩm tính của các vị, tâm của chư Hộ Pháp tràn đầy vị của Lạc và Không, các vị giúp chúng ta tiêu trừ bệnh khổ, những tác động hủy hoại, nghịch cảnh và chướng ngại, đem đến những hoàn cảnh tích cực, thuận lợi và thiện đức mà không cần chút nỗ lực, hoàn toàn tự nhiên như những gì chúng ta mong mỏi, bất kỳ hoạt động nào mà chúng ta lựa chọn cũng đều thành tựu.
Nhờ cúng dường Sáu bộ Chúng Sinh, những vị mà chúng ta thỉnh mời với lòng từ bi, họ được giải phóng khỏi tầm nhìn nghiệp báo, những khổ đau và tập khí đưa họ đọa lạc vào các cõi tương ứng. Chỉ trong thời gian ngắn, họ có đầy đủ sự sung túc và hỉ lạc của chư Thiên trong cõi Tha Hóa Tự Tại. Rốt ráo, họ đều thành Phật, giác ngộ tự nhiên trong pháp giới tối thượng tự nhiên vô biên.
Nhờ cúng dường Thế lực Che Chướng, những vị mà chúng ta có nợ nghiệp với họ, tất cả những món nợ nghiệp mà chúng ta và hữu tình khác đã tích tập từ vô thủy, ngay cả trong hiện đời với thân xác này, cũng đều trả đủ. Những món nợ này gồm nghiệp làm chúng ta đoản thọ vì sát sinh; nghiệp làm chúng nghèo đói vì trộm cắp; nghiệp làm chúng ta bệnh tật vì đánh đập và tấn công người khác; nghiệp với người trên và kẻ dưới [phá nhà + chiếm đất – Tulku Thondup] cùng với nghiệp vô tình giết người và ngựa. Những món nợ của chúng ta được thanh toán song phẳng, chúng ta không còn bị ràng buộc với nghiệp lực và thoát khỏi sự trả vay chết người của những chủ nợ nghiệp. Họ được giải phóng khỏi tầm nhìn nghiệp báo và tất cả khổ đau, đặc biệt là giải thoát khỏi những ý định ác độc và khuynh hướng hãm hại kẻ khác, họ có được tình yêu thường, lòng từ ái và bồ đề tâm cao quý.
Cực kỳ quan trọng khi chúng ta niêm phong thực hành theo cách này, giữ tâm quán tưởng khi chúng ta tụng đọc kinh văn nghi quỹ.
https://www.facebook.com/permalink.p...bstory_index=0
-
HỎA TỊNH LÀ GÌ ?
Nghi quỷ tu trì pháp hỏa tịnh giúp hành giả tiêu trừ nghiệp chướng nơi mỗi người và giúp hành giả một cuộc sống tràn đầy lòng bi mẫn,sự thấu hiểu và yêu thương,để mỗi người có thể chung sống hòa đồng trong thế giới nầy.Đây là một lễ cúng dường rất phổ biến,được trì giử và thực hành từ thời đức Phật cho đến ngày nay.
Theo triết lý sâu xa thâm diệu của đạo Phật thì lửa tượng trưng cho trí tuệ,việc đốt lửa tượng trưng cho tiêu trừ,phá tan màng vô minh si ám.Vì vậy dùng lửa đốt vật phẩm tượng trưng cho trí tuệ thiêu trừ nghiệp chướng vô minh.,qua đó tiêu trừ nghiệp xấu .Khi cúng dường các vật phẩm đó vào lửa bạn cần phải hiểu rõ và quán tưởng rằng hành động đó là cúng dường lên đức Phật hay chư Bồ Tát rằng hành ddoongj đó là để tịnh hóa bản thân,tịnh hóa cho gia đình và cho đất nước của bạn
Thật vậy ngọn lửa không chỉ đốt cháy mọi ác nghiệp tích tụ từ vô thủy đến nay mà còn thiêu trụi nhân tạo nên ác nghiệp đó.Ngọn lửa nầy cũng sẻ thiêu trụi những bệnh tật về thân tâm.Đây chính là phúc duyên hy hữu cho những ai thực hành nghi quỷ nầy
RAM YAM KHAM
https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.n...38&oe=5AD426FA
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/
-
MẬT CHÚ NGHE LIỀN ĐƯỢC GIẢI THOÁT (THE MANTRA "HA GAN GA")
Bài chú Nghe qua liền được giải thoát:
AH AH SHA SA MA HA
MA BEN DHARMA RA RA
HA GAN GA AH SHA LA
SA DEN DHARMA DA LI
GA HA NA AH LI DA
HA MA SA SHA GI YO
Trong số “Pháp Phục Tàng” của Đức Liên Hoa Sinh Đại Sư truyền vào xứ Tây Tạng, cho đến nay vẫn còn rất nhiều pháp chưa được công khai truyền thừa. Bài chú “Thính Tức Giải Thoát” (Nghe qua liền được giải thoát) là một trong số ấy.
Đức Liên Hoa Sinh khai thị: “Nghe liền được giải thoát, chỉ cần nghe đến chú này là đã đầy đủ liền được sự gia trì lợi ích của thần chú, sự gia trì của chư Phật, Bồ-tát.”
Chú ngữ này, bất cứ chúng sinh nào nghe thấy, đều có thể từ trong luân hồi mà được giải thoát. Thời gian giải thoát là khi nào? Đối với kẻ thiện căn, đầy đủ duyên lành thì nghe chú này xong có thể liền giải thoát; riêng đối với kẻ nghiệp chướng nặng nề cũng nhận được sự gia trì lợi ích của thần chú, sớm thoát khỏi luân hồi lục đạo.
Chú ngữ này vốn được Đức Phổ Hiền Vương truyền cho Bồ-tát Kim Cang, rồi từ Bồ-tát Kim Cang truyền lại cho đức Liên Hoa Sanh. Đến thời đức Liên Hoa Sanh, ngài đã cất dấu chú này ở điểm nào đó được gọi là điểm “Phục Tàng”, về sau các Phục Tàng Đại Sư (các vị đại sư đã tu chứng, thấy được các pháp vật ẩn dấu trong đất) mang ra truyền bá rộng rãi làm lợi ích chúng sinh. Cho dù rùa, cá, chó, mèo…v.v, hể chúng sinh trong loài súc sanh nghe được lời chú này liền nhận được công đức lợi ích rất lớn.
Xin hồi hướng công đức này cho tất cả mọi loài chúng sinh, mong họ thoát khỏi mọi cảnh khổ.
THE MANTRA
AH AH SHA SA MA HA
MA BEN DHARMA RA RA
HA GAN GA AH SHA LA
SA DEN DHARMA DA LI
GA HA NA AH LI DA
HA MA SA SHA GI YO
https://www.facebook.com/H%C3%A0nh-G...6741424671074/