http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:A...8u13JZpuA55cVQ
HÒA THƯỢNG THÍCH DUY LỰC
TỔ THỨ 89 THIỀN TÔNG (TỔ SƯ THIỀN)
:not_worthy:
http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:A...8u13JZpuA55cVQ
HÒA THƯỢNG THÍCH DUY LỰC
TỔ THỨ 89 THIỀN TÔNG (TỔ SƯ THIỀN)
:not_worthy:
http://hoangphap.info/AdminHP/4-1/30...%20sen%202.jpg
ĐƯƠNG CƠ: 當機
Thích ứng với căn cơ trình độ của chúng sanh gọi là đương cơ. Cũng gọi là khế cơ.
(trích Từ điển Phật học của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
the do1
http://trungtamtutam.com/diendantuth...pictureid=2719
Hỏi: Làm thế nào để đạo lực chuyển được nghiệp lực?
Đáp: Nếu giữ được nghi tình, có công phu thì nghiệp lực cũng không biết, đạo lực cũng không biết. Vì tự tánh bất nhị, bất nhị thì không có đạo lực, cũng không có nghiệp lực. Vốn là chẳng có hai thứ này, nên nói tất cả do tâm tạo. Nay cho là có nghiệp lực, cho là có đạo lực, đều là “cho là,” có “cho là”thì chẳng phải công phu vậy.
Lời của chư Tổ chỉ là dùng để phá chấp, như bài kệ của Lục Tổ phá chấp của Thần Tú:”Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai,” nếu chấp vào “bổn lai vô nhất vật”cũng là kiến chấp, cũng là có sở trụ, chẳng phải bản thể vô trụ.
Nói tóm lại, xem Kinh và Ngữ lục của Tổ sư, hễ ngộ thì ngộ ngay lúc đó, nếu chẳng ngộ tức không hiểu, cứ giữ cái không hiểu đó, gọi là nghi tình, sau này sẽ được ngộ, chứ đừng cho là thật có cái nghĩa lý rồi đi tìm hiểu, ấy là nghịch với Tổ Sư Thiền.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:idea:
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:A...7Z0zKU0m7W0fpA
Hỏi: Trong các sách nói về nguồn gốc sinh ra vũ trụ con người, có các thuyết đa nguyên, nhị nguyên hoặc nhất nguyên, mà đa số chấp nhận về thuyết tự nhiên. Theo lời Phật dạy thì vũ trụ vạn vật là duy tâm sở tạo, mà tâm này lại sẵn có. Từ đó con thắc mắc: cái “sẵn có”của Đức Phật nói, với cái thuyết “tự nhiên”của học thuyết bên ngoài giống nhau không?
Đáp: Triết học phương Tây có nhất nguyên và nhị nguyên luận, còn Phật Thích Ca nói “vô thỉ,” tức chẳng có sự bắt đầu: vũ trụ vạn vật, núi sông đất đai, tất cả đều không có sự bắt đầu. Nếu không có sự bắt đầu thì nhất nguyên, nhị nguyên cũng không . Chẳng có sự bắt đầu tức vô sanh, vốn chẳng có sự sanh khởi.
Nếu nói “tự nhiên,” cũng phải có sự sanh khởi của tự nhiên; nói “nhân duyên”cũng phải có sự sanh khởi của nhân duyên, nên Kinh Lăng Nghiêm nói “Phi nhân duyên, phi tự nhiên.” Vì bản thể của Phật tánh khắp thời gian, nếu có sự sanh khởi tức chẳng cùng khắp, và bắt đầu từ thời gian nào? trước sự bắt đầu có thời gian hay không?
Nói đến có khác hay không, ấy là tư tưởng chấp thật, cho sự sanh khởi là tự nhiên. Nên hiện nay các nhà khoa hoc, nhà bác học muốn tìm sự sanh khởi của vũ trụ, nhưng chưa thể giải quyết được. Mà theo lập trường của nhà Phật, ý muốn đó là ngu si.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
yellow card
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:A...q2ooXpToq97Iuf
Hỏi: Tại sao hành vi của chư Tổ chẳng khác người thường, chẳng có sự siêu xuất nào?
Đáp: Hành vi và lời nói của Chư Tổ đều có tác dụng độ chúng sanh. Lịch sử Thiền tông có một công án: Có một vị Tổ đã kiến tánh triệt để, sắp lâm chung, ngài cứ lăn lộn và la làng như vẻ đau khổ lắm, thị giả của ngài tưởng thiệt, hỏi:
- Xưa nay Thầy vốn hiện đủ thứ thần thông, hôm nay sao lại như thế?
Tổ liền ngồi dậy, nói:
- Ngươi làm thị giả của ta, suốt ngày bên cạnh ta, còn không tin tưởng ta, vậy thì người khác làm sao tin ta?
Mắng xong ngồi ngay thị tịch luôn. Vì ngài biết vị Thị giả ấy chưa đủ lòng tin, nên thị hiện như thế.
Ngài Nguyệt Khê cũng vậy, Phật Thích Ca cũng vậy. Trong Kinh Duy Ma Cật, Phật thị hiện có bệnh, sai A Nan đi xin sữa, A Nan đứng trước cửa nhà giàu xin sữa, bị ngài Duy Ma Cật quở, bảo hãy quay về, không nên xin nữa.
A Nan nói:”Chính tôi nghe rõ Đức Phật bảo đi xin sữa !”
Duy Ma Cật nói:”Hãy mau quay về, nếu bị người khác thấy được, nhất là ngoại đạo, họ sẽ nghĩ rằng Phật Thích Ca đã thành Phật rồi, còn bệnh hoạn sao !”
Sau khi A Nan thuật lại lời của Duy Ma Cật thì Đức Phật nói là đúng. Thế thì tại sao Phật lại sai A Nan đi xin sữa? Vậy có mâu thuẩn không? Đó cũng vì muốn độ chúng sanh. Cho nên, không thể dùng sự hiểu biết của mình để đoán mò, ấy là sai.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
107 dap dau
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:A...oxynP54uxBOqwQ
Hỏi: Sư phụ nói phải tin tự tâm 100%, sao con tin không nỗi?
Đáp: Vì nay tiếp xúc cái nào cũng có thật chất, nên khó tin. Tôi thường dùng mở mắt chiêm bao và nhắm mắt chiêm bao để thí dụ, từ nhắm mắt chiêm bao sẽ tin được mở mắt chiêm bao:
- Đang ở trong nhắm mắt chiêm bao cũng là tin không nỗi, đến chừng thức tỉnh rồi, không tin cũng không được, đối với mở mắt chiêm bao cũng vậy.
Lời dạy của Phật chúng ta cũng tin không nỗi, nên mới cần tu hành; vì người tin không nỗi, nên phải trải qua nhiều đời nhiều kiếp.
Do đó, Kinh Pháp Bảo Đàn nói:”Mê trải qua nhiều kiếp, ngộ chỉ một sát na.” Cho nên ở trong Phật pháp, tâm chấp nặng chừng nào thì kém chừng nấy, tâm chấp nhẹ thì cao, chứ không phải thông minh lanh lợi là cao, ngu si là thấp. Ngược lại, người ngu si dốt nát do tâm chấp nhẹ, lại thành cao; người thông minh chính do sự lanh lợi khiến thành thấp. Ví như trường hợp Tự Hồi Thiền sư, vốn là người dốt nát, sau khi kiến tánh rồi dạy lại những người thông minh lanh lợi.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
eatdrink004
http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:A...aJgoXPCIHaP6gw
Hỏi: Vừa tham Thiền vừa trì chú để chóng qua nghiệp lực, có được không?
Đáp: Bản thể của tự tâm như hư không, không giới hạn, không bờ bến, tất cả năng lực đều sẵn sàng, chẳng có gì ở ngoài hư không[/U]. Tham thiền là phát hiện cái dụng của tự tâm, nay tự mình tạo ra sự hạn chế, rồi nói là dùng trì chú để giải tỏa sự hạn chế đó, vậy có được không? Tôi đã nói là “đừng tạo nữa!”. Nay trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cứ tạo mãi, mục đích tham thiền là muốn ngưng sự tạo tác, thì tất cả đã sẵn sàng, chẳng còn thiếu sót. Tâm là hư không, hư không là tâm, cứ nhìn thẳng câu thoại đầu thì ngăn được tâm không tạo, cuối cùng hiện được sức dụng vô lượng vô biên của tự tâm.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:thinking:
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:A...UcuDp1_aDMoppW
Hỏi: Thế còn các pháp môn, có cao thấp không?
Đáp: Làm sao có cao thấp? Ông có nghe tôi nói “Không có sanh tử”chăng? Nếu không có sanh tử thì làm sao có pháp cao thấp? Người đã chứng ngộ mới biết chẳng có pháp để chứng. Bây giờ chưa ngộ, do tâm suy lường phân biệt pháp này pháp kia, đủ thứ tương đối, ấy là bởi sống trong nhất niệm vô minh. Sở dĩ Phật giáo khác hơn tất cả tôn giáo, vì không kiến lập chơn lý. Nên Phật nói “Vô pháp khả thuyết mới gọi là thuyết pháp,” “Ai nói Như Lai có thuyết pháp là phỉ báng Phật,” “Chẳng có pháp nhất định để Như Lai thuyết”… Vậy đâu có pháp để ông cho là cao hay thấp !
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:hee_hee:
http://www.banhoangphaptw.com/images...011-cadiep.jpg
Hỏi: Thiền tông này do Phật Thích Ca niêm hoa thị chúng, truyền pháp cho ngài Ca Diếp, nhưng tại sao trong Kinh Nikaya không thấy ghi nhận?
Đáp: Kinh Nikaya gồm Trường A hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và Tạp A Hàm, thuộc pháp Tiểu thừa. Ông đã thọ giới Bồ tát chưa? Trong Bồ Tát Giới 48 giới khinh dạy: “Nếu mình tu theo pháp Tiểu thừa, hoặc dạy người khác tu, đều là phạm giới.” Đã thọ giới Bồ tát, phải học theo Bồ tát Đại thừa.
Nay tạm gác qua pháp xuất thế gian, chỉ nói theo pháp thế gian:
Tiểu thừa là tiểu học, Trung thừa là trung học, Đại thừa là đại học; trong bài của tiểu học làm sao lại có ghi bài của Đại học? Tiểu học chỉ thích hợp cho căn cơ tiểu học, người đã vào đại học, chẳng lẽ lại lui sụt trở về học bài của tiểu học? Nay lại đem bài tiểu học dẫn chứng bài đại học là sai, như thế có phải phạm giới không?
Mặc dù Tiểu học cũng do Phật Thích Ca dạy, nhưng đó chỉ thích hợp cho căn cơ thấp, khi nào học xong rồi phải lên lớp, lên trung học, đại học. Người không chịu lên lớp, Phật quở là “tiêu nha bại chủng,” là “hạt giống cháy.” Nay lại đem những bài tiểu học ra để dẫn chứng bài đại học không đúng, chẳng có trong tiểu học, vậy có đáng buồn cười không?
Cho nên, học Phật không biết nghĩa chữ Phật, học tham thoại đầu không biết nghĩa hai chữ “thoại đầu,” đối với những người mới học không nói làm chi, nhưng những người đã học lâu năm mà vẫn còn chấp vào câu thoại, Đức Phật nói là “thật đáng thương xót !”
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:nerd:
http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:A...g8sm_dlNFCdsMR
Hỏi: Nếu ai ai cũng dùng chánh nghi để quét sạch hồ nghi của khoa học, thì thế gian dựa vào đâu để sống?
Đáp: Hồi xưa chưa có khoa học, người ta vẫn sống và còn sống yên vui hơn bây giờ. Hiện nay, đủ thứ bệnh hoạn, thiên tai, nhân họa.
Ví như ở nước ngoài, đáng lẽ khoa học phát minh xe hơi để tiện lợi cho sự đi lại, nay do xe hơi quá nhiều, không đủ đường đi, khiến giao thông cứ bị ách tắc, đi làm tám tiếng phải tốn thêm bốn tiếng đồng hồ trên xe. Ai cũng muốn đi nhanh để kịp giờ, nên tai nạn xe cộ cứ xảy ra mãi. Theo sự thống kê về tai nạn giao thông ở Mỹ, bình quân mỗi ngày có đến 57 ca tử vong, chưa kể trường hợp bị thương, ấy là hậu quả của khoa học đem lại cho loài người.
Tham thiền là không cho bộ não làm chủ, là muốn tước đoạt chủ quyền của bộ não, để Phật tánh làm chủ, bộ não chỉ là đầy tớ do Phật tánh sai khiến, chỉ làm điều lành, mới đem lại hạnh phúc cho nhân loại.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
surrender
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:A...zOaozEMWlGQCwA
Hỏi: Một ngày nào đó giải thoát được phiền não trong thế giới này thì được nhân quả gì?
Đáp: Nhân quả là ở trong mở mắt chiêm bao, nếu từ mở mắt chiêm bao thức tỉnh, thì nhân quả đã chẳng dính dáng đến mình.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:thumbs_down:
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:A...D-Uf05RBUKUraw
Hỏi: Làm sao mới biết được sự tu tập này đến giai đoạn thành công?
Đáp: Việc đó phải hỏi cô; muốn đến đích thì tự cô phải đi. Phải xem quyết tâm của cô, đi mau thì mau đến, đi chậm thì chậm đến. Nếu không chịu đi, chỉ đứng một chỗ mà hỏi tôi chừng nào đến, tôi làm sao biết được?
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:yawn:
http://tamnhin.net/Uploaded/trikhang...ges/chobua.jpg
Hỏi: Hành giả tham Thiền rất mong có một nơi yên ổn để tu mà không xen lẩn Tịnh Độ. Nay có người muốn hiến mảnh đất nhỏ để tạm lập Thiền đường cho chúng về tu trong khi chờ đợi Sư phụ xây thiền đường, vậy có được không?
Đáp: Được thì được, nhưng nếu hành giả có ý nghĩ như thế thì không được. Sự tu phải ở trong hoàn cảnh khó khăn mà tu được mới mau kiến tánh, tu trong cảnh thuận lại khó hơn. Cho nên, người tu chỉ sợ cảnh thuận, không sợ cảnh nghịch; cảnh thuận tự mê lúc nào không hay, cảnh nghịch mới khuyến khích cho sự tu. Tục ngữ có câu “phú quí học đạo nan,” người giàu sang học đạo càng khó hơn.
Nay có nhiều nơi muốn hiến đất, hiến chùa cho tôi, tôi không chịu nhận, nhiều người lại muốn tự lập chùa tư của mình. Chánh pháp phải phá ngã chấp, điều kiện trước tiên của pháp môn Tổ Sư Thiền là vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ, nay nổi ý muốn cầu một chỗ yên ổn để không bị quấy nhiễu cũng chẳng dễ, vì nếu không phá được ngã chấp thì chỗ nào cũng khó, đã có sẵn ngã chấp như thế làm sao kiến tánh? Chớ nói là ở chỗ đông người, chỉ có hai người là đã có tranh chấp rồi. Nếu là người chơn tu thì bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn nào cũng tu được.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
green3
http://tvtv.fptdata.net/upload/image...ha%20hands.jpg
Hỏi: Sư phụ nói là chưa kiến tánh, nếu chưa kiến tánh thì làm sao ra hướng dẫn tu Tổ Sư Thiền?
Đáp: Đáng lẽ tôi không ra dạy Tổ Sư Thiền, nhưng vào ngày Mùng một tháng 4 năm 1977, khi tôi đi thọ cúng dường tại Tịnh xá Giác Huê Quận 5, thì ở chùa Từ Ân, lúc cúng Ngọ thầy Bổn sư của tôi tuyên bố với Phật tử là ngày mùng 2 sẽ có thầy Duy Lực ra dạy Tổ Sư Thiền, ai muốn học thì mời đến. Khi tôi về chùa cũng chưa hay biết gì, đến sáng Mùng 2 Hòa Thượng mới báo cho tôi rằng Phật tử đã đến, mời tôi ra dạy.
Theo bản ý của tôi là phải đợi kiến tánh xong mới ra hoằng pháp. Hồi xưa tôi tự mình ở trong phòng tọa hương đi hương, giường nằm, bàn ghế đều dời cách xa tường để tôi tiện việc kinh hành. Quý vị cũng biết, ở trong chùa vị nào có ra làm Phật sự, tụng kinh mới có lợi dưỡng, vì tôi không có tụng kinh, nên mọi người nói là họ đi làm cho tôi ăn, nên có một thời gian khoảng nửa năm tôi tự đi bình bát khất thực…
Lúc đó nếu tôi không ra dạy thì e làm mất mặt của thầy Bổn sư, hễ ra dạy lại nghịch với chí hướng của tôi. Cuối cùng tôi nghĩ: Ngài Lai Quả và Hư Vân, hai vị đã kiến tánh mà thầy của hai vị cũng chưa kiến tánh. Theo tôi biết, nếu đi đúng đường lối thực hành thì sẽ kiến tánh. Nay tôi đã nắm được đường lối thực hành, nên nghe lời thầy tôi miễn cưỡng ra hoằng dương Tổ Sư Thiền. Sau một tuần giảng dạy, tôi hỏi qua những người đến nghe có ai thích tu Tổ Sư Thiền không? Trong ba mươi mấy người đến nghe về Tổ Sư Thiền, chỉ có một người mà thôi ! Dù chỉ có một người tôi vẫn tiếp tục dạy, dần dần số người đông dần, từ mấy trăm cho đến mấy ngàn …đã ra hoằng pháp thì không thể dừng lại được, cho đến ngày hôm nay.
Theo tôi thì dù thầy của ngài Lai Quả chưa kiến tánh, nhưng ngài vẫn được kiến tánh; thầy của ngài Hư Vân chưa kiến tánh, nhưng ngài Hư Vân vẫn được kiến tánh, dù rằng tôi là thầy, tôi chưa kiến tánh, nhưng nếu quí vị kiến tánh trước cũng được vậy !
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
peace
http://www.advite.com/DaBei/new_pa76.jpg
Hỏi: Theo thường lệ là thầy ấn chứng cho đệ tử, nếu như thầy chưa ngộ mà đệ tử lại ngộ thì có nghịch với tông chỉ của Thiền tông không?
Đáp: Lịch sử Thiền tông có ghi về Thiền sư Thần Tán: Thầy của ngài chưa kiến tánh, ngài xin ra ngoài tham học, gặp Thiền sư Bá Trượng rồi kiến tánh quay trở về, vẫn làm đệ tử để chăm sóc thầy. Nhà cửa hồi xưa cửa sổ không có song, chỉ dán một lớp giấy ở ngoài, ban ngày ánh sáng chiếu qua cửa sổ, con ruồi ở trong phòng thấy sáng bèn muốn bay qua cửa sổ, nhưng vì có dán giấy nên cứ dùi vào mãi mà không ra được.
Thiền sư Thần Tán thưa với thầy: Cửa đã mở mà không chịu ra, cứ dùi mãi vào giấy làm chi !
Thầy của ngài cũng biết đệ tử của mình đang ám chỉ thầy cứ xem kinh mãi không thể ngộ, nên nói:
- Mấy năm nay con đi ra ngoài có đắc được gì không?
Lúc đầu ngài không chịu nói ra, Thầy bảo:
- Ta thấy ngươi có những lời nói khác thường, hãy nói thật với thầy.
Ngài mới nói là đã gặp được ngài Bá Trượng. Thầy nói:
- Sao không chịu nói sớm !
Bèn mời đệ tử lên tòa, mời đệ tử thuyết pháp, thầy trở thành đệ tử, sau đó cũng được kiến tánh. Do đó, đệ tử làm thầy, thầy làm đệ tử cũng được vậy.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:icon_rolleyes:
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:A...f1KHcduMmBEkXw
THIÊN LONG BÁT BỘ: 天龍八部
Thiên, long, dạ, xoa (Quỷ dũng mãnh), Càn thát bà (Hương thần), A tu la (Phi thiên), Câu lâu na (Kim xí điểu), Khẩn na la (Phi nhơn), Ma hầu la già (Đại mãng xà), gọi chung là Bát bộ chúng.
(trích Từ điển Phật học của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
:skull:
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:A...ODjF9OpU-CoNBA
Hỏi: Người kiến tánh có phải là thánh nhân không?
Đáp: Người kiến tánh rồi mới biết là không có thánh, kiến tánh thành Phật rồi mới biết chẳng có Phật để thành. Tôi ví dụ cho ông biết, Thủ đô của Việt Nam là Hà Nội, chúng ta chưa đi qua lần nào, nay muốn đi là phải có kế hoạch, hoặc mua vé máy bay, hoặc đi tàu hỏa, xe khách v.v… bây giờ không đi mà cứ hỏi “không biết Hà Nội như thế nào, đường phố ra sao?…”mặc dù nghiên cứu nhiều bài viết về Hà Nội đến thuộc lòng, rốt cuộc chẳng phải đích thân đi đến. Khi nào tự mình đi đến rồi, cái biết đó mới rõ ràng chơn thật.
(trích Duy Lực Ngữ Lục)
:sleepy:
HI HI! TRUYỆN LÀ THẾ NÀY NÀY ! (xem lại bên dưới)
<<<<<<
Hỏi: Sư phụ nói là chưa kiến tánh, nếu chưa kiến tánh thì làm sao ra hướng dẫn tu Tổ Sư Thiền?
Đáp: Đáng lẽ tôi không ra dạy Tổ Sư Thiền, nhưng vào ngày Mùng một tháng 4 năm 1977, khi tôi đi thọ cúng dường tại Tịnh xá Giác Huê Quận 5, thì ở chùa Từ Ân, lúc cúng Ngọ thầy Bổn sư của tôi tuyên bố với Phật tử là ngày mùng 2 sẽ có thầy Duy Lực ra dạy Tổ Sư Thiền, ai muốn học thì mời đến. Khi tôi về chùa cũng chưa hay biết gì, đến sáng Mùng 2 Hòa Thượng mới báo cho tôi rằng Phật tử đã đến, mời tôi ra dạy.
Theo bản ý của tôi là phải đợi kiến tánh xong mới ra hoằng pháp. Hồi xưa tôi tự mình ở trong phòng tọa hương đi hương, giường nằm, bàn ghế đều dời cách xa tường để tôi tiện việc kinh hành. Quý vị cũng biết, ở trong chùa vị nào có ra làm Phật sự, tụng kinh mới có lợi dưỡng, vì tôi không có tụng kinh, nên mọi người nói là họ đi làm cho tôi ăn, nên có một thời gian khoảng nửa năm tôi tự đi bình bát khất thực…
Lúc đó nếu tôi không ra dạy thì e làm mất mặt của thầy Bổn sư, hễ ra dạy lại nghịch với chí hướng của tôi. Cuối cùng tôi nghĩ: Ngài Lai Quả và Hư Vân, hai vị đã kiến tánh mà thầy của hai vị cũng chưa kiến tánh. Theo tôi biết, nếu đi đúng đường lối thực hành thì sẽ kiến tánh. Nay tôi đã nắm được đường lối thực hành, nên nghe lời thầy tôi miễn cưỡng ra hoằng dương Tổ Sư Thiền. Sau một tuần giảng dạy, tôi hỏi qua những người đến nghe có ai thích tu Tổ Sư Thiền không? Trong ba mươi mấy người đến nghe về Tổ Sư Thiền, chỉ có một người mà thôi ! Dù chỉ có một người tôi vẫn tiếp tục dạy, dần dần số người đông dần, từ mấy trăm cho đến mấy ngàn …đã ra hoằng pháp thì không thể dừng lại được, cho đến ngày hôm nay.
Theo tôi thì dù thầy của ngài Lai Quả chưa kiến tánh, nhưng ngài vẫn được kiến tánh; thầy của ngài Hư Vân chưa kiến tánh, nhưng ngài Hư Vân vẫn được kiến tánh, dù rằng tôi là thầy, tôi chưa kiến tánh, nhưng nếu quí vị kiến tánh trước cũng được vậy !
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC) >>>>>
ayza trích lục khai sanh mà,hí
http://www.thuvienhoasen.org/images/...aBuuLam010.jpg
Hỏi: Ở Tam Bảo có hai cách tu: Một là cách thông thường với đại chúng, ngoài ra thầy Trụ trì có cất một cái thất ở vườn nhãn, có chiều dài 4m x 6m, cũng có thể đi kinh hành được. Có hai huynh đệ ở đó trước, nên con về ở chung với hai vị đó, chúng con áp dụng cách ăn Ngọ. Có thể do không hạp nên trong vòng hai tháng đó con bị bệnh đường ruột, sau đó bị bệnh phù. Con tự điều trị giảm được một phần, nhưng về an ổn nơi tâm để tiếp tục công phu thì nó không tinh tấn.
Đáp: Tôi đã thường nói, Thiền tông là “bất phá trùng quan bất bế quan,” là sau khi ngộ mới nhập thất, lúc tu là không được nhập thất, có hại chứ không có ích. Nay nhiều người thích nhập thất để tu, lại hiểu sai về Thập Ngưu Đồ, ấy là nghịch với tông chỉ của Thiền tông.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
di nang
http://www.daophatngaynay.com/vn/fil..._690138552.jpg
Hỏi: Kiến giải thế nào là thật sự kiến tánh? Kiến giải thế nào là chưa thật sự kiến tánh?
Đáp: Nếu có một chút kiến giải là chưa kiến tánh, vì còn trụ nơi kiến giải, tức có hai chữ “cho là.” Bất cứ cho là cái gì, cho là Niết bàn, cho là Phật… đều chưa phải kiến tánh.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:sleepy:
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:A...7ZDhmnSZpBCslg
TỨ BẤT KHẢ KHINH: 四不可輕
1. Thái tử dù nhỏ sẽ làm Quốc vương, nên bất khả khinh.
2. Con rắn dù nhỏ, độc hay giết người, nên bất khả khinh.
3. Ngọn lửa dù nhỏ, hay sanh hỏa hoạn, nên bất khả khinh.
4. Sa di dù nhỏ hay chứng Thánh quả, nên bất khả khinh.
(trích Từ điển Phật Học của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
stop 1
kiến tánh mới được gọi là con phật (phật tử) thôi chứ chưa thành phật đâu
thượng căn thì tự mình có thể kiến tánh, trung hạ căn muốn kiến tánh phải có thầy.
http://www.chanhphap.us/Phap%20Luan/hinh/Tangxan.png
1. CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH
Dịch: Đạo cùng tột chẳng có gì khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó.
2. ĐẢN MẠC TẮNG ÁI, ĐỔNG NHIÊN MINH BẠCH
Dịch: Chỉ đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch.
3. HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH
Dịch: Xê xích mảy may, cách xa trời đất.
4. DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN, MẠC TỒN THUẬN NGHỊCH
Dịch: Muốn đắc được Tự tánh hiện tiền, chớ còn tập khí thuận nghịch.
5. VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH
Dịch: Thuận nghịch tranh nhau, ấy là Tâm bệnh.
6. BẤT THỨC HUYỀN CHỈ, ĐỒ LAO NIỆM TỊNH
Dịch: Chẳng biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh.
7 – VIÊN ĐỒNG THÁI HƯ, VÔ KHIẾM VÔ DƯ
Dịch: Tròn đầy thái hư, không thiếu không dư.
8 - LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ
Dịch: Bởi do thủ xả, cho nên bất như (như là đúng như tự tánh)
9 - MẠC TRỤC HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN
Dịch: Đừng theo nơi có, chớ trụ nơi không.
10 - NHẤT CHỦNG BÌNH HOÀI, DÂN NHIÊN TỰ TẬN
Dịch: Trọn một bình đẳng, tuyệt nhiên tự sạch.
11 - CHỈ ĐỘNG QUY CHỈ, CHỈ CÁNH DI ĐỘNG
Dịch: Ngăn động trở về tịnh, tịnh ấy càng động thêm.
12 - DUY TRỆ LƯỠNG BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG
Dịch: Hễ kẹt hai bên, đâu biết vốn một.
13 - NHẤT CHỦNG BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG
Dịch: Vốn một chẳng thông, đặt ra hai chỗ là uổng công.
14 - KHIỂN HỮU MỘT HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG
Dịch: Trừ bỏ có thì kẹt nơi có, đuổi theo không lại trái với không.
15 - ĐA NGÔN ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG
Dịch: Nói nhiều lo nhiều, càng chẳng tương ưng.
16 - TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG
Dịch: Bặt nói bặt lo, chỗ nào cũng thông.
17 - QUY CĂN ĐẮC CHỈ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG
Dịch: Trở về cội gốc thì được ý chỉ, đuổi theo chiếu soi thì mất bản tông.
18 - TU DU PHẢN CHIẾU, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG
Dịch: Phản chiếu chốc lát, hơn cả không kia.
19 - TIỀN KHÔNG CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN
Dịch: Không kia chuyển biến, đều do vọng kiến.
20 - BẤT DỤNG CẦU CHƠN, DUY TU TỨC KIẾN
Dịch: Chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến.
21 - NHỊ KIẾN BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM
Dịch: Nhị kiến đối đãi chẳng trụ, chớ nên đuổi theo để tìm.
22 - TÀI HỮU THỊ PHI, PHÂN NHIÊN THẤT TÂM
Dịch: Vừa có thị phi, thì lăng xăng lạc mất bản tâm.
23 - NHỊ DO NHẤT HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ
Dịch: Hai do một mà có, một cũng đừng nên giữ.
24 - NHẤT TÂM BẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU
Dịch: Một tâm chẳng sanh khởi, muôn pháp chẳng đúng sai.
25 - VÔ CỬU VÔ PHÁP, BẤT SANH BẤT TÂM
Dịch: Chẳng đúng sai thì chẳng phải pháp, cũng chẳng sanh cái Tâm chấp “chẳng phải Tâm”
26 - NĂNG TÙY CẢNH DIỆT, CẢNH TRỤC NĂNG TRẦM
Dịch: Năng theo cảnh diệt, cảnh theo năng mất.
27 - CẢNH DO NĂNG CẢNH, NĂNG DO CẢNH NĂNG
Dịch: Cảnh do năng thành cảnh, năng do cảnh thành năng.
28 - DỤC TRI LƯỠNG ĐOẠN, NGUYÊN THỊ NHẤT KHÔNG
Dịch: Muốn biết “hai đoạn”, vốn là “một không”.
29 - NHẤT KHÔNG ĐỒNG LƯỠNG, TỀ HÀM VẠN TƯỢNG
Dịch: Nói một cái không đã đồng với hai, một và hai cũng bao hàm vạn tượng.
30 - BẤT KIẾN TINH THÔ, NINH HỮU THIÊN ĐẢNG
Dịch: Chẳng thấy tinh tế thô sơ, đâu có thiên lệch một bên.
31 - ĐẠI ĐẠO THỂ KHOAN, VÔ DỊ VÔ NAN
Dịch: Bản thể Đại Đạo rộng khắp hư không, chẳng có khó dễ để đối đãi.
32 - TIỂU KIẾN HỒ NGHI, CHUYỂN CẤP CHUYỂN TRÌ
Dịch: Sự thấy nhỏ hẹp có chút hồ nghi, muốn gấp lại càng trễ.
33 - CHẤP CHI THẤT ĐỘ, TẤT NHẬP TÀ LỘ
Dịch: Chấp thật thì lạc mất tông chỉ, ắt phải rơi vào đường tà.
34. PHÓNG CHI TỰ NHIÊN, THỂ VÔ KHỨ TRỤ
Dịch: Buông thì Bản thể tự nhiên, vốn chẳng có đi và ở. (Buông: Vô trụ).
35 - NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO, TIÊU DIÊU TUYỆT NÃO
Dịch: Tự Tánh là Đạo, vốn chẳng phiền não.
36 - HỆ NIỆM QUAI CHÂN, HÔN TRẦM BẤT HẢO
Dịch: Nổi niệm thì bị niệm buộc, thành trái với chân, không niệm thì hôn trầm chẳng tốt.
37. BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN
Dịch: Tốt xấu không nên nhọc tinh thần, đâu cần phân biệt sơ hay thân.
38. DỤC THỦ NHẤT THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN
Dịch: Muốn chứng lấy nhất Phật thừa, chớ nên chán ghét lục trần.
39. LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN ĐỒNG CHÁNH GIÁC
Dịch: Chẳng cho lục trần là tốt hay xấu, thì đồng như chánh giác.
40. TRÍ GIẢ VÔ VI, NGU NHÂN TỰ PHƯỢC
Dịch: Người trí tự tại vô tác, kẻ ngu dụng tâm tự trói.
41. PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC
Dịch: Pháp chẳng là pháp, vọng tự chấp trước cho là pháp.
42. TƯƠNG TÂM DỤNG TÂM, KHỞI PHI ĐẠI THỐ
Dịch: Đem Tâm dụng Tâm, há chẳng phải lầm lớn.
43. MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ VÔ HẢO Ố
Dịch: Mê sanh tịch lặng và tán loạn, ngộ chẳng tốt, xấu, yêu, ghét.
44. NHẤT THIẾT NHỊ BIÊN, LƯƠNG DO CHÂM CHƯỚC
Dịch: Tất cả nhị biên đối đãi, đều do đo lường suy đoán.
45. MỘNG HUYỄN KHÔNG HOA, HÀ LAO BẢ TRÓC
Dịch: Việc mộng huyễn như hoa đốm trên không, đâu cần nắm bắt cho mệt nhọc!
46. ĐẮC THẤT THỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC
Dịch: Đắc, thất, thị, phi, đồng thời buông bỏ.
47. NHÃN NHƯỢC BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ
Dịch: Mắt nếu không ngủ, chiêm bao tự dứt.
48. TÂM NHƯỢC BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ
Dịch: Nếu tâm chẳng cho là có khác, thì muôn pháp chỉ là một “Như”.
49. NHẤT NHƯ THỂ HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN
Dịch: Một chữ “Như” thể tánh huyền diệu, cùng tột bình đẳng, bặt nhân duyên đối đãi.
50. VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN
Dịch: Muôn pháp cùng quán một lượt, tất cả trở về Tự Tánh.
51. DẪN KỲ SỞ DĨ, BẤT KHẢ PHƯƠNG TỶ
Dịch: Bặt hết lý giải, chẳng thể thí dụ.
52. CHỈ ĐỘNG VÔ ĐỘNG, ĐỘNG CHỈ VÔ CHỈ
Dịch: Ngưng động chẳng phải tịnh, động ngưng chẳng phải ngưng.
53. LƯỠNG KÝ BẤT THÀNH, NHẤT HÀ HỮU NHĨ
Dịch: Hai đã chẳng thành, một làm sao có.
54.CỨU KÍNH CÙNG CỰC, BẤT TỒN QUỶ TẮC.
Dịch: Cùng tột cứu cánh, chẳng còn quy tắc.
55. KHẾ TÂM BÌNH ĐẲNG, SỞ TÁC CÂU TỨC
Dịch: Khế hợp Bản Tâm thì tất cả bình đẳng, năng tác sở tác đều dứt.
56. HỒ NGHI TỊNH TẬN, CHÁNH TÍN ĐIỀU TRỰC
Dịch: Hồ nghi dứt sạch, chánh tín vững chắc.
57. NHẤT THIẾT BẤT LƯU, VÔ KHẢ KÝ ỨC.
Dịch: Tất cả chẳng lưu giữ, thì không thể ghi nhớ.
58. HƯ MINH TỰ CHIẾU, BẤT LAO TÂM LỰC
Dịch: Rỗng sáng tự chiếu soi, chẳng lao nhọc tâm lực.
59. PHI TƯ LƯỢNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC
Dịch: Chỗ lìa suy nghĩ, tình thức khó lường.
60. CHÂN NHƯ PHÁP GIỚI, VÔ THA VÔ TỰ
Dịch: Chân như pháp giới, chẳng người chẳng mình.
61. YẾU CẤP TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ
Dịch: Muốn gấp tương ưng, chỉ nói bất nhị.
62. BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG, VÔ BẤT BAO DUNG
Dịch: Bất nhị chẳng phải đồng, nhị mới có bao gồm.
63. THẬP PHƯƠNG TRÍ GIẢ, GIAI NHẬP THỬ TÔNG
Dịch: Người trí mười phương, đều vào tông này.
64. TÔNG PHI XÚC DIÊN, NHẤT NIỆM VẠN NIÊN
Dịch: Tông chỉ chẳng có ngắn dài, muôn năm một niệm, niệm muôn năm.
65. VÔ TẠI BẤT TẠI, THẬP PHƯƠNG MỤC TIỀN
Dịch: Chẳng phải có chỗ, chẳng phải không chỗ, mười phương hư không, chính là trước mắt.
66. CỰC TIỂU ĐỒNG ĐẠI, VONG TUYỆT CẢNH GIỚI
Dịch: Cực nhỏ đồng lớn, quên hẳn cảnh giới.
67. CỰC ĐẠI ĐỒNG TIỂU, BẤT KIẾN BIÊN BIỂU
Dịch: Cực lớn đồng nhỏ, chẳng thấy bờ mé.
68. HỮU TỨC THỊ VÔ, VÔ TỨC THỊ HỮU
Dịch: Có tức là không, không tức là có.
69. NHƯỢC BẤT NHƯ THỬ, BẤT TẤT TU THỦ
Dịch: Nếu chẳng như thế, ắt chẳng cần giữ.
70. NHẤT TỨC NHẤT THIẾT, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT
Dịch: Một là tất cả, tất cả là một.
71. ĐẢN NĂNG NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT
Dịch: Nếu được như thế, lo gì chẳng xong.
72. TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM
Dịch: Tin tự tâm là bất nhị, bất nhị phải tin tự tâm.
73. NGÔN NGỮ ĐẠO ĐOẠN, PHI KHỨ LAI KIM
Dịch: Đường ngôn ngữ chấm dứt, chẳng phải quá khứ hiện vị lai.
(dịch: Hòa Thượng Thích Duy Lực)
http://www.chuabuuminh.vn/userimages...6/25/1/hhh.jpg
LỤC CĂN, LỤC TRẦN, LỤC THỨC: 六根六塵六識
Lục căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý)
tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp),
mà sanh khởi sự phân biệt của lục thức, như xấu đẹp của sắc, tiếng lớn nhỏ của âm thanh, thơm thúi của mũi, ngọt đắng của vị, lạnh nóng của xúc, sanh diệt của pháp…
(trích Từ điển Phật Học của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
:hee_hee:
http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:A...vCMlV_wB1N0Uem
Hỏi: Kiến tánh rồi đi về đâu?
Đáp: Phật tánh của tất cả chúng sanh, người nào cũng cùng khắp không gian thời gian, đã cùng khắp thì đâu thể chỉ ra? Khi đã kiến tánh rồi, đâu còn đi về đâu? Có “đi về đâu”ắt chưa cùng khắp. Ví như người đời luyện tập thần thông, từ đây bay qua Mỹ cần năm phút, nhưng đó chẳng phải thần thông sẵn có của Phật tánh. Thần thông của Phật tánh khắp không gian, chẳng cần bay, muốn hiện chỗ nào cũng được, phải tự tin rằng mình đã sẵn đủ tất cả.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
hug007
http://www.buddhistcentre.net/images/topic_021.jpg
Hỏi: Tại sao gọi người đã kiến tánh là Tổ chứ chẳng gọi là Phật?
Đáp: Sau khi chứng Diệu Giác mới gọi là Phật, người kiến tánh rồi cao nhất là đến Đẳng giác, tức chưa đến Diệu giác, vì tập khí xuất thế gian vẫn còn. Lại nữa, phàm phu kiến tánh, tập khí thế gian vẫn còn, làm sao gọi là Phật ! Đến quả Diệu Giác, tập khí thế gian lẫn xuất thế gian đều sạch, bản thể của Phật tánh luôn hiện hành khắp không gian thời gian. Còn chư Tổ thì tập khí thế gian còn chưa dứt sạch, huống là tập khí xuất thế gian ! Nên chỉ được gọi là Tổ, không thể gọi là Phật, mặc dù đã kiến tánh thành Phật. Bây giờ chưa kiến tánh cũng đã thành Phật rồi, “tất cả chúng sanh đều đã thành Phật,” ấy là lời nói của Phật trong Kinh Viên Giác.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:loser:
http://www.khoahoc.com.vn/photos/Ima...ney%20bees.jpg
Hỏi: Cái tâm, cái thức, cái tưởng, nó giống nhau hay khác?
Đáp: Tưởng là tư tưởng, tức sự suy nghĩ. Suy nghĩ, cảm giác, tánh thấy, tánh nghe đều là cái dụng của tâm linh, nhưng bản thể của tâm linh chẳng hình thể số lượng, dùng sự thấy nghe chẳng thể tiếp xúc được.
Tư tưởng, văn tự, lời nói, tên gọi dù có ba nhưng sự dụng chỉ là một: Lời nói là văn tự có tiếng, văn tự là lời nói có hình, tư tưởng là lời nói không hình không tiếng. Do tư tưởng nhận biết được, nói ra miệng thành lời nói, viết ra thành văn tự. Còn có những cái không thể dùng tư tưởng, lời nói, văn tự để nhận thức và diễn tả: Đó là thực thể của tâm linh. Nhưng sự dụng của nó rõ ràng trước mắt, sở dĩ chúng ta thấy nghe được đều nhờ vào sức dụng của tâm linh.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:nerd:
http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:A...tJsawha_lD8YZc
Hỏi: Đức Phật dạy ngồi theo kiểu kiết già có tác dụng và hữu ích gì?
Đáp: Cách ngồi theo kiết già không phải do Phật dạy, hồi chưa có Phật Thích Ca, các ngoại đạo đã ngồi theo kiểu kiết già, vì ngồi như thế có thể ngồi lâu được, có nhiều người ngồi nhập định đến khi chứng quả A-la-hán, trải qua mấy trăm năm, mấy ngàn năm.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
107 dap dau
http://phapluatvn.vn/dataimages/2011...0385_knife.jpg
Hỏi: Giả sử có một kẻ quá ác, có khả năng giết hại nhiều người, và có một người khác giết kẻ này để giải cứu bao nhiêu người kia; giữa họ chẳng có thù hằn cá nhân nào, chỉ vì muốn cứu đại chúng nên buộc lòng phải ra tay giết kẻ ác kia, vậy trường hợp đó nhân quả ra sao?
Đáp: Giết người phải thường mạng, nhưng nếu người đó chẳng ác ý, chỉ vì muốn cứu người, tâm không tạo nghiệp thì không có. Nếu có khởi tâm giết hại là có tạo nhân, có nghiệp nhân ắt có nghiệp quả. Còn những người do chức trách như nhà cầm quyền, dù đã thọ giới Bồ tát, vì trách nhiệm của mình phải xử tử người khác, cũng như giết một người để cảnh cáo nhiều người thì không bị luật nhân quả, vì thực hiện theo đúng pháp luật Nhà nước qui định. Vấn đề này trong Hư Vân Niên Phổ có đề cập.
Trong giới luật của nhà Phật có qui định: Hễ phạm luật pháp nhà nước là phạm giới luật nhà Phật.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
green3
http://www.tvdaidang.org/img2011/antamctdma.jpg
Hỏi: Làm sao biết mình có chấp vào cái ngộ đó hay không?
Đáp: Cho mình có ngộ đó ! Nếu không cho là mình có sự ngộ thì ngộ rồi đồng như chưa ngộ.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
violent105
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:A...3g6m-_vsnY7caK
Hỏi: Thế nào là Bát Nhã Tâm Kinh? Thế nào là “Hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời”?
Đáp: Kinh này hiển bày tâm linh nên gọi Tâm Kinh. Bát nhã là hiển bày sự dụng của tâm linh, thế gian gọi lá trí huệ. Trí huệ của bộ não phải qua tác ý mới sử dụng, còn Bát nhã khỏi cần tác ý, trí huệ của bộ não có hạn chế, Bát nhã khắp không gian thời gian mà chẳng bị không gian, thời gian, số lượng hạn chế. Bây giờ chúng ta chưa chứng quả, không có tu, do nghiệp nhân được đầu thai thành con người, có trí huệ của bộ não, nếu chúng ta tu đến một mức độ nào thì hiện được sức dụng Bát nhã, đó không qua trí huệ của bộ não, tức chẳng qua tác ý, gọi là Bát nhã.
“Hành thâm Bát nhã Ba-la-mật đa thời” là thực hành cái dụng của tâm linh. Bởi chẳng có hạn chế nên gọi là “Thâm,” chữ thâm này chẳng phải đối với cạn mà nói sâu, nếu dịch thành “đi sâu vào Bát nhã”là sai. Bát nhã nếu có sâu cạn tức còn số lượng, còn hạn chế. Ma ha Bát nhã: Ma ha là lớn, nhưng chẳng phải đối với nhỏ mà nói lớn, cũng như Kim cang Bát nhã; kim cang là cứng, nhưng chẳng phải đối với mềm mà nói cứng v.v… đều là siêu việt số lượng, chẳng phải có tương đối.
Hành thâm Bát nhã Ba-la-mật là khi dùng được Bát nhã rồi tức đến bờ bên kia. Nay chúng ta ở bờ bên đây có khổ, có phiền não, đến bờ bên kia là giải thoát, ấy là nhờ sức dụng của Bát nhã, tự nhiên khiến ngũ uẩn đều không. Tất cả ngã chấp đều do chấp thật ngũ uẩn là ta; đến lúc đó ngã chấp đã sạch, thức thứ sáu chuyển thành Diệu quan sát trí, sự chiếu soi đã khắp không gian thời gian thì làm sao còn ngũ uẩn! Nên chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Cái Không này là cái không của tâm linh, là hư không vô lượng vô biên, khắp không gian thời gian, chứ chẳng phải không có gì hết. Tất cả kinh điển của Phật đều là hiển bày tâm linh.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
smiley
http://img.news.zing.vn/img/677/t677234.jpg
Hỏi: Có một vị thầy bảo Phật tử rằng:”Muốn học thiền mà chưa có phước phải bị ma nhập.” Vậy phải đợi khi nào có phước rồi mới tu thiền được, phải không?
Đáp: Thầy đó làm sao biết người ta có phước hay không? Thầy đó dùng sự bói toán hay có thần thông như các vị A-la-hán quán được tám muôn kiếp trước?
- Dạ, con không biết, mà con nghe người ta nói thầy đó nổi tiếng lắm !
- Phật pháp là y pháp bất y nhơn, nay có nhiều người nổi tiếng nhưng chẳng biết Phật pháp chút nào.
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
ban warming
Tư tưởng của Thiền rất tuyệt vời! Cảm ơn anh Rich!
http://i976.photobucket.com/albums/a...a_0602b025.png
http://i176.photobucket.com/albums/w...a/Thank220.gif
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:A...jsbuvj7XWPn819
Hỏi: Trường hợp có một thiếu nữ đến ôm một vị Tỳ-kheo và nói:”Nếu thầy không yêu em thì em sẽ chết và chết ngay tức khắc!”Xin hỏi Sư phụ nên giải quyết như thế nào?
Đáp: Mặc cho cô ấy chết .
Hỏi: Vậy thì không có lòng từ bi sao?
Đáp: Tôi đã nói từ bi khác hơn bác ái; từ bi đã không có ta rồi mới thành từ bi; từ bi chẳng phải chỉ thương một người, tất cả chúng sanh đều bằng nhau.
Chớ nói chi xa, hãy ra chợ đến các hàng bán cá, những con cá cũng sắp chết, chẳng những chết, người ta còn đem về làm thịt kìa ! Nó với cô thiếu nữ đâu có khác, tại sao không đi cứu !
Bổn phận của người Tu sĩ thọ cúng dường của mười phương, nếu bỏ bổn phận tu hành mà đi làm việc từ thiện; người ta thiếu áo cho áo mặc, đói cho ăn, bệnh cho thuốc…cũng còn bị thiện nhân chiêu ác quả, trong Giới luật ghi rõ mười sáu điều. Tại sao? Vì chữ Phật là giác ngộ, phải tự giác giác tha, nay mình là Tu sĩ Phật giáo, nếu bỏ bổn phận tu thì làm sao tự giác rồi giác tha? Những việc làm từ thiện đó được mọi người ca ngợi, đem lại nhiều tiếng tăm, là tăng thêm ngã chấp, còn tu hành là phá ngã chấp. Những việc làm trên so với việc của cô thiếu nữ đó ra sao? Nếu bỏ hết những sự cúng dường của mười phương trước đó mà chiều theo cô thiếu nữ, ấy là phá giới, là tội Ba-la-di, đọa địa ngục chín triệu năm xong, sau khi ra khỏi, phải đầu thai thành trâu ngựa để trả nợ của thí chủ !
(trích sưu tầm DUY LỰC NGỮ LỤC)
:D