Chữa nấc nghẹn ở người cao tuổi
Nhiều người cao tuổi khi ăn thường hay bị nghẹn, nấc, có khi phải ngừng ăn và giải quyết bằng cách gây nôn. Trong trường hợp này, có thể dùng một trong những phương thuốc đơn giản sau:
- Chữa nghẹn:
* Vỏ quýt (40g)
* phối hợp với gừng khô (3 lát), thái nhỏ,
* sắc với 400 ml nước còn 100ml.
Trước khi ăn, nhấp uống dần dần.
Thuốc còn có tác dụng khai vị rất tốt cho bữa ăn.
* Quả phật thủ (để cả vỏ), thái lát, lấy 150-200g, phơi khô, cắt nhỏ, chưng cách thủy cho nhừ, rồi nghiền nát, lấy nước uống lúc thuốc còn ấm.
* Hạt bóng nước (một loại cây cảnh có hoa đẹp, nhiều màu) thu hoạch lúc quả đã chín già, tẩm mật, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 8 viên với ít rượu hâm nóng.
- Chữa nấc:
* Thị đế (tai của quả hồng, 8g) phối hợp với đinh hương (8g),
* gừng tươi (5 lát), thái nhỏ,
* sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 2-3 lần trong ngày.
*Có thể thêm trần bì (vỏ quýt khô, 4g),
* thanh bì (vỏ quýt tươi, 4g) hoặc bán hạ chế (2g).
Nếu cơ thể tạng nhiệt, tăng thêm thị đế và giảm bớt đinh hương. Nhưng liều lượng của đinh hương cũng không được vượt quá 10g.
* Thị đế (5g), đẳng sâm (5g), trần bì (5g), thái nhỏ, sắc uống khi thuốc còn ấm. Ngày làm 2-3 lần. Huyền Hoa Thiên môn đông. Thiên môn đông là một loại dây leo, sống lâu năm. Dưới đất có rất nhiều rễ củ hình thỏi mầm. Thân mang nhiều cành 3 cạnh, dài nhọn, biến đổi, trông như lá. Lá rất nhỏ trông như vậy. Mùa hạ ở kẽ lá mọc hoa trắng nhỏ. Quả là một quả mọng màu đỏ khi chín, mọc hoang và được trồng ở khắp nơi trong nước ta, để lấy rễ. Có khi được trồng trong chậu để làm cảnh. Nhiều nhất ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bắc Thái, Nam Hà. Tại các nước khác cũng có: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Trồng vào tháng 2-3 thu hoạch vào tháng 9-10. Rễ củ hái về, tẩm nước cho mềm (có khi người ta đồ chín cho mềm) rồi rút bỏ lõi, thái mỏng phơi hay sấy khô. Chú ý khi tẩm nước, đừng ngâm lâu quá, tác dụng sẽ kém. Vị lúc đầu ngọt, sau hơi đắng. Củ nào béo mẫm, vàng là tốt. Thuốc dùng trong nhân dân làm thuốc chữa ho, lợi tiểu tiện và chữa sốt, thuốc bổ.
Liều dùng 10g-15g một ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao. Theo tài liệu cổ thiên môn đông có vị ngọt, đắng, tính đại hàn, vào hai kính phế và thận. Có tác dụng dưỡng âm, nhuận táo, thanh nhiệt, hóa đờm, dùng chữa phế ung thư lao, thổ huyết ho ra máu, tiểu khát, nhiệt bệnh tác dịch hao tổn, tiện bí. Những người tỳ vị hư hàn, tiết tá không dùng được.
Một số đơn thuốc có thiên môn đông:
1. Cao tam tài thuốc bổ toàn thân, bổ tinh khí:
* Nhân sâm 4g, thiên môn đông 10g,
* thục địa 10g, nước 600ml. Sắc còn 200ml.
Chia làm 3 lần uống trong ngày. Đông y quan niệm người (nhân), trời (thiên) và đất (địa) là một khối thống nhất, và do đó là 3 yếu tố (tài) của vũ trụ. Nay gộp ba yếu tố đó trong một thang thuốc.
2. Lở mồm lâu năm: Thiên môn, mạch môn đều bỏ lõi, huyền sâm, cả ba vị bằng nhau, tán nhỏ, luyện với mật, viên bằng hạt táo. Mỗi lần ngậm một viên. Ho đờm, thổ huyết, hơi thở ngắn: Thiên môn, mạch môn, ngũ vị tử, sắc thành cao, luyện với mật mà uống. Ngày uống 4-5g cao này.
(Theo Báo SK & ĐS)
TÊ GIÁC ĐỊA HOÀNG THANG ( Thiên kim phương )
Thành phần:
Tê giác.................................. 2 - 4g
Bạch thược.......................... 16- 20g
Sinh địa............................... 20- 40g
Đơn bì................................. 12- 20g
Cách dùng: Tê giác có thể thay Quảng tê giác tán bột mịn, uống với thuốc sắc hoặc cắt thành phiến mỏng sắc trước, sắc nước uống chia làm 3 lần trong ngày.
Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, tán ứ.
Dùng trong trường hợp bệnh nhiễm giai đoạn toàn phát, nhiệt nhập huyết phần gây nên thổ huyết, nục huyết ( chảy máu cam), niệu huyết hoặc nhiệt nhập tâm bào gây hôn mê nói sảng, chất lưỡi đỏ thẫm có gai, mạch tế sác.
Giải thích bài thuốc:
Tê giác là chủ dược tác dụng thanh tâm hỏa, giải nhiệt độc.
Sinh địa lương huyết tư âm hổ trợ với Tê giác giải nhiệt độc.
Bạch thược hòa vinh tả nhiệt.
Đơn bì lương huyết tán ứ.
Ứng dụng lâm sàng:
Trong bài thuốc thường dùng Xích thược để thanh nhiệt, hóa ứ. Nếu nhiệt thương âm huyết có thể dùng Bạch thược để dưỡng âm huyết, điều hòa vinh vệ.
Trường hợp sốt cao nhiệt thịnh, hôn mê cần dùng thêm Tử tuyết đơn hoặc Yên cung ngưu hoàng hoàn để thanh nhiệt khai khiếu.
Nếu có kiêm Can hỏa vượng gia Sài hồ, Hoàng cầm, Chi tử để thanh can, giải uất.
Nếu Tâm hỏa thịnh gia Hoàng liên, Chi tử để thanh tâm hỏa.
Nếu thổ huyết hoặc chảy máu cam gia Trúc nhự, Hạn liên thảo, Mao hoa ( Hoa cây rễ tranh) hoặc Rễ tranh, Trắc bá diệp sao để thanh phế vị, cầm máu. Nếu có tiện huyết gia Địa du, Hoa hòe để thanh trường chỉ huyết; nếu tiểu ra máu gia Mao căn để lợi niệu chỉ huyết.
Chú ý lúc sử dụng: Trường hợp dương hư, mất máu và tỳ vị hư nhược không nên dùng.
Một số thông báo lâm sàng:
Bài thuốc dùng để chữa các chứng teo gan cấp, hôn mê gan, chứng nhiễm độc urê xuất huyết, nhiễm trùng huyết, chứng bạch cầu cấp ( Học viện Trung y Thượng hải).
Dùng bài Tê giác đại hoàng thang gia giảm trị bệnh xuất huyết do giảm tiểu cầu có kết quả ( Phương tể học - Học viện Trung y Quãng đông đồng chủ biên xuất bản 1974).
Vết chích, vết cắn của côn trùng(Mẹo vặt y khoa)
BỊ MUỖI CHÍCH MÀ KHÔNG SƯNG, KHÔNG NGỨA?
UỐNG SINH TỐ NÀO ĐỂ... KHÔNG BỊ MUỖI CHÍCH?
Ở một thành phố lớn, bạn thường ít phải đối diện với côn trùng. Dần dà, bạn hầu như quên bẵng sự hiện diện của chúng trên thế gian này. Nhưng một lúc nào đó, trong một buổi cắm trại trong rừng, bạn bỗng phải nhận ra mình đang phải đối đầu với từng đàn ruồi, muỗi, o¬ng, kiến... đôi khi có cả rắn và bò cạp nữa… Làm thế nào đây? Bạn dư biết bị côn trùng cắn phải có thể bị nọc độc của chúng làm đau nhức, ngứa, và còn có thể bị lây phải một số bệnh truyền nhiễm nữa.
Những mẹo vặt dưới đây được đưa ra do những bác sĩ có nhiều kinh nghiệm với côn trùng sẽ mang lại cho bạn những cách chống đỡ hữu hiệu nhất.
RUỒI MUỖI
Hai loại này có thể mang bệnh truyền nhiễm đến cho bạn, và cũng có thể truyền nọc độc tạo sự ngứa ngáy qua vết chích của chúng. Thường đa số chúng ta nghĩ ruồi không chích, và không ngứa... vì chúng ta chưa từng bị chúng chích. Một số ruồi có khả năng chích và hút máu như muỗi, có những loại ruồi trâu to bằng đầu ngón tay có nọc độc đủ làm trâu bò phải rống lên khi bị chích phải.
Khi bị ruồi muỗi chích, hãy dùng những phương pháp sau đây:
Sát trùng vết chích
Dể tránh bị lây các bệnh truyền nhiễm, bạn nên sát trùng vết chích bằng cách rửa xà bông thật kỹ, sau đó mới thoa alcol hoặc các loại thuốc sát trùng khác có bán tại các nhà thuốc tây.
Làm vết chích không bị sưng hoặc nổi mận.
Nên dùng một viên aspirin nghiền nát, trộn với một vài giọt nước và đắp lên vết chích côn trùng ngay sau khi bị chích, sẽ làm vết chích không bị nổi mận và không bị ngứa. Nếu không có phương tiện nghiền nát viên thuốc, bạn có thể thấm ướt chỗ bị chích, rồi chà viên aspirin lên đó.
Những người bị chứng dị ứng hoặc nhạy cảm với aspirin không nên dùng phương pháp này.
Làm vết chích không bị ngứa.
Vết chích ruồi muỗi nhiều lúc làm bạn bị ngứa trong một hai ngày, và nếu bạn bị nhạy cảm hoặc dị ứng, vết này có thể kéo dài nhiều ngày đông thời sinh ra những biến chứng khác.
Một số phương pháp ngăn ngừa như sau:
Dùng một cục nước đá đặt lên vết chích chừng 5 phút.
Dùng muối ăn trộn với chút nước cho sệt sệt rồi thoa lên vết chích.
Trộn một muỗng cà phê bột nổi (baking soda) vào một ly nước, khuấy đều, sau đó thấm vào một miếng bông gòn hoặc khăn giấy rồi đắp lên vết chích từ mười đến hai mươi phút.
Ngoài những phương pháp trên, bạn có thể xoa dịu vết ngứa bằng thuốc chống dị ứng có đề chữ Antihistamine trên nhân hiệu. Loại này thường dùng trị sổ mũi, nghẹt mũi, bán không cần toa tại bất cứ nhà thuốc tây nào.
Ngừa trước, dùng thuốc thoa chống muỗi.
Có các loại thuốc thoa chống muỗi bán tại nhà thuốc tây hoặc các nơi bán vật dụng cắm trại ngoài trời với giá không mắc lắm. Các thuốc này thường dùng thoa lên khắp người để chống muỗi và các côn trùng khác. Cẩn thận khi thoa thuốc quanh mắt, sẽ rất khó chịu khi thuốc dính vào mắt.
MẸO VẶT
Để chống côn trùng, bạn có thể tìm mua các loại nói trên hoặc một trong những mẹo vặt dưới đây cũng có công hiệu rất tốt, và ít tốn kém hơn.
Uống sinh tố B1.
Sinh tố B1 (Thiamine Hydrochloride) khi uống vào sẽ tiết ra làn da mùi thuốc làm các côn trùng không dám đến gần. Loại này bán tự do ở các tiệm thuốc tây. Dùng theo liều lượng hướng dẫn trên nhãn hiệu.
Pha thuốc tẩy vào nước tắm.
Thuốc tẩy quần áo (chlorine) thường tiết ra mùi làm cho các côn trùng không dám đến gần. Trước khi đi cắm trại, bạn nên ngâm mình khoảng 15 phút trong bồn nước có pha khoảng nửa lon sữa bò thuốc tẩy. Mùi thuốc tẩy này giữ được côn trùng không dám tấn công bạn trong nhiều giờ.
Các hồ bơi thường cũng được sát trùng bằng chlorine, bạn có thể ngâm trong hồ bơi 15 phút trước khi khởi hành chuyến cắm trại ngoài trời của bạn.
Chất kẽm có thể làm da bạn trở nên tường đồng vách sắt.
Việc uống chất kẽm (zinc) với liều lượng 60mg mỗi ngày, sau một tháng, người bạn sẽ có khả năng chống không cho côn trùng đến gần. Nếu tiếp tục uống chất này, bạn không bao giờ còn sợ ruồi muỗi nữa. )
BỌ CHÉT, RẬN...
Các loại bọ chét, chí, rận thường chỉ bám vào thú vật mà ít khi bám vào hút máu người. Nhưng chuyện này vẫn có thể xảy ra nếu bạn thường tiếp xúc với loài vật, hoặc những côn trùng này theo chó mèo vào nhà rồi ở lại trên thảm, quần áo v.v...
Những chỗ đi cắm trại có nhiều cỏ rậm rạp cũng là môi trường sinh sống của côn trùng loại này hoặc những loài tương tự nhưng chỉ chuyên sống trong cỏ. Bạn nên nhớ rằng chúng không biết phân biệt đâu là chó mèo hay người. Khi những con vật này bị đói, chúng sẽ bám vào bất cứ động vật gì có thể hút máu được. Khi bị những côn trùng này cắn, bạn nên:
Lấy chúng ra
Các côn trùng hút máu nhỏ này có hàm răng rất cứng bấu vào da thịt rất bền bỉ. Khi bạn nắm chúng kéo ra, thường chỉ bứt được thân hình của chúng, hàm răng vẫn còn bấu chặt vào da thịt của bạn. Hàm răng này dĩ nhiên không còn hút máu bạn được nữa, nhưng nó có thể gây ra sự nhiễm trùng hoặc những biến chứng tai hại khác. Vì thế, khi bọ chét hay rận, rệp cắn, bạn nên nắm kéo chúng thật từ từ ra khỏi vết cắn. Làm như thế chúng có thì giờ nhả vết cắn ra.
Lửa có tác dụng hữu hiệu nhất trong việc bắt các côn trùng này phải nhả ra. Dùng một cây nhang, một điếu thuốc cháy dở hơ vào chúng, cẩn thận kẻo bị phỏng. Sức nóng sẽ buộc chúng nhả ra và rơi xuống đất.
Bạn cũng có thể dùng các chất như alcol, xăng, dầu nóng... nhỏ một giọt vào chúng, chúng sẽ tự động nhả ra.
Những chất này có tác dụng chậm hơn lửa, và thường cần khoảng 5 phút.
Rửa và sát trùng
Sau khi con vật được lấy ra, hãy rửa chỗ bị cắn bằng xà bông, rồi xức alcol hoặc dầu sát trùng vào chỗ bị cắn.
Bị rận hay rệp cắn cũng gây ngứa hoặc nổi mận như muỗi cắn, có thể dùng những phương pháp chống ngứa và nổi mận trình bày ở phần vết chích ruồi muỗi.
Những biện pháp phòng ngừa
Các loại bọ chét, rận rệp thường hoạt động mạnh vào mùa hè, nhất là khoảng tháng sáu, tháng bảy. Khi bạn đi vào những khu cỏ rậm, cây cối nhiều, nên cẩn thận về chúng.
Một cách rất thực tiễn để thử xem trong một vùng cỏ rậm rạp có bọ chét hay không. Dùng một miếng vải trắng cột vào đầu một sợi dây và kéo miếng vải này qua vùng cỏ bạn nghĩ là có bọ chét. Khi vùng cỏ hay bụi rậm này có sự hiện diện của chúng, chúng sẽ bám vào mảnh vải trắng này. Đây là một trong những phương pháp rất hay để chọn chỗ cắm trại của bạn.
Khi phải sinh hoạt trong một vùng có nhiều bọ chét, dĩ nhiên nên mặc y phục càng kín càng tốt để tránh bị chúng tấn công. Những côn trùng này có hàm răng ngắn nên không thể cắn xuyên qua quần áo như muỗi được. Ngoài ra các mẹo vặt chống côn trùng nói ở phần ruồi muỗi cũng có thể được sử dụng hiệu quả đối với bọ chét và các côn trùng khác.
Lưu ý: Vết cắn của bọ chét rừng nhiều lúc có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như bệnh Ly me, hoặc chứng Rocky Mountain Spotted Fever. Nếu chung quanh vết cắn của bọ chét, rân, rệp... bạn thấy có hiện lên nhiều chấm, mụn nhỏ có khuynh hướng lan rộng ra, hoặc một vòng tròn chung quanh vết cắn. Nên lập tức sát trùng tối đa, và khám bác sĩ ngay sau cuộc cắm trại đó.
Chữa bệnh lý xương khớp bằng Đông y
nóng, đỏ hay chỉ tê, mỏi, nặng ở khớp đều thuộc chứng Tý, nghĩa là tắc nghẽn, không thông. Nhiều bài thuốc y học cổ truyền có tác dụng rất tốt với bệnh này.
Đông y cho rằng, so sức đề kháng của cơ thể không đầy đủ nên các yếu tố gây bệnh cùng phối hợp xâm phạm đến kinh lạc ở cơ, khớp. Hậu quả là sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn, gây ra sưng đau, hoặc tê, mỏi, nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Một số người chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày hoặc do cao tuổi, các chức năng hoạt động cơ thể suy yếu nên khí huyết giảm sút, không nuôi dưỡng được cân mạch, gây thoái hóa khớp xương và đau. Vì vậy,
khi chữa các bệnh về khớp, y học cổ truyền đều hướng tới lưu thông khí huyết ở gân, xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và phòng chống tái phát.
Các phương pháp điều trị bao gồm: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu; dùng thuốc bên ngoài (như đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau) hoặc uống trong.
Trong điều trị, các thầy thuốc còn chú ý đến bệnh mới mắc hay đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần. Nếu mới mắc thì dùng các phương pháp loại bỏ yếu tố gây bệnh là chính. Nếu bệnh lâu ngày hoặc tái phát nhiều lần thì phải vừa nâng đỡ tổng trạng, bổ khí huyết, vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh.
Bệnh khớp không có biểu hiện sưng, nóng, đỏ
Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp. Đau tăng khi mưa lạnh, ẩm thấp, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém...
Nếu bệnh thiên về Phong chứng, sẽ có thêm các biểu hiện như đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp, thường là các khớp phần trên cơ thể như cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn ngón tay, đau đầu, sợ gió, rêu lưỡi trắng. Nếu bệnh thiên về Tháp chứng, sẽ có thêm các biểu hiện đau cố định tại các khớp bệnh, không di chuyển, kèm theo tê nặng mỏi là chủ yếu. Nếu thiên về Hàn chứng thì đau nhiều về đêm, trời lạnh đau tăng, chườm nóng giảm đau, đau kiểu co thắt và buốt.
Bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng chất và vitamin, uống nước đầy đủ (mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở lên), không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu. Nên tập luyện nhẹ như đi bộ, tập thái cực quyền, dưỡng sinh. Dùng gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng.
Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau. Chú ý liều lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng bỏng da cho bệnh nhân. Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí huyết; châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ dưỡng.
Bài thuốc chung:
Lá lốt 12 g,,
xấu hổ 12 g,,
quế chi 12 g,,
thiên niên kiện 12 g,,
thổ phục linh 12 g,,
hà thủ ô mỗi thứ 12 g,
cỏ xước 16 g,
sinh địa 20 g.
Nếu Phong chứng trội, thêm
phòng phong 12 g.,
khương hoạt mỗi vị 12 g.
Nếu Thấp chứng trội, thêm
ý dĩ 16 g,
ngũ gia bì 12 g,
tỳ giải 16 g.
Nếu Hàn chứng trội, thêm
can khương 4 g,
phụ tử 8 g,
xuyên khung 12 g.
Nếu mắc bệnh đã lâu và tái phát nhiều lần, có thể dùng bài thuốc:
Khương hoạt 8 g,,
phòng phong 8 g,,
đương quy mỗi thứ 8 g,
xích thược 12 g,
khương hoàng 12 g,
hoàng kỳ mỗi thứ 12 g,
cam thảo 6 g,
gừng 4 g,
đại táo 12 g.
Để phòng tái phát, dùng bài:
Độc hoạt 8 g,
phòng phong 8 g,
tang ký sinh ` 8 g,
ngưu tất 8 g,
đỗ trọng 8 g,
tần giao 8 g,
xuyên khung mỗi thứ 8 g;
đương quy 12 g,,
bạch thược 12 g,,
sinh địa 12 g,,
đảng sâm mỗi thứ 12 g,
phục linh 9 g,
cam thảo 6 g,
quế tâm 4 g
tế tân mỗi thứ 4 g.
Bệnh khớp có sưng, nóng, đỏ
Ở giai đoạn cấp tính, các khớp sưng, nóng, đỏ, đau (hay xuất hiện đối xứng) ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, sợ gió, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng. Dùng các bài thuốc:
- Thạch cao, kim ngân mỗi thứ 20 g,
tri mẫu 12 g,,
hoàng bá 12 g,,
tang chỉ 12 g,,
phòng kỷ 12 g,,
ngạnh mễ mỗi thứ 12 g,
thương truật 8 g,
quế chi 6 g,
sắc uống ngày 1 thang.
Nếu có hồng ban hoặc khớp sưng đỏ nhiều, thêm
đan bì 12 g,
xích thược 8 g,
sinh địa 20 g.
Quế chi 8 g,
tri mẫu 12 g,,
bạch thược 12 g,,
bạch truật 12 g,,
phòng phong 12 g,,
kim ngân hoa 12 g,,
liên kiều mỗi thứ 12 g,
cam thảo 6 g,
ma hoàng 8 g,
sắc uống ngày 1 thang.
Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, ra nhiều mồ hôi, miệng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác thì vẫn dùng được các bài thuốc trên, bỏ quế chi, thêm các thuốc bổ âm như sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì, sa sâm, miết giáp, thạch bộc...
Ở giai đoạn mạn tính, bệnh nhân có thêm các biến chứng như biến dạng khớp, teo cơ, dính cứng khớp. Dùng các bài thuốc ở phần trên, thêm
nam tinh chế 8 g,
xuyên sơn giáp 8 g,
bạch giới tử sao 8 g,
đào nhân 8 g,
hồng hoa mỗi thứ 8 g;
bạch cương tàm 12 g.
Ngoài ra, nên xoa bóp tại các khớp bằng những thủ thuật ấn, day, lần, véo các khớp và các cơ quanh khớp. Vừa xoa bóp vừa vận động các khớp là phương pháp chủ yếu và quyết định kết quả chữa bệnh trong giai đoạn này.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Chữa bệnh lý xương khớp bằng Đông y
nóng, đỏ hay chỉ tê, mỏi, nặng ở khớp đều thuộc chứng Tý, nghĩa là tắc nghẽn, không thông. Nhiều bài thuốc y học cổ truyền có tác dụng rất tốt với bệnh này.
Đông y cho rằng, so sức đề kháng của cơ thể không đầy đủ nên các yếu tố gây bệnh cùng phối hợp xâm phạm đến kinh lạc ở cơ, khớp. Hậu quả là sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn, gây ra sưng đau, hoặc tê, mỏi, nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Một số người chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày hoặc do cao tuổi, các chức năng hoạt động cơ thể suy yếu nên khí huyết giảm sút, không nuôi dưỡng được cân mạch, gây thoái hóa khớp xương và đau. Vì vậy,
khi chữa các bệnh về khớp, y học cổ truyền đều hướng tới lưu thông khí huyết ở gân, xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và phòng chống tái phát.
Các phương pháp điều trị bao gồm: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu; dùng thuốc bên ngoài (như đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau) hoặc uống trong.
Trong điều trị, các thầy thuốc còn chú ý đến bệnh mới mắc hay đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần. Nếu mới mắc thì dùng các phương pháp loại bỏ yếu tố gây bệnh là chính. Nếu bệnh lâu ngày hoặc tái phát nhiều lần thì phải vừa nâng đỡ tổng trạng, bổ khí huyết, vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh.
Bệnh khớp không có biểu hiện sưng, nóng, đỏ
Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp. Đau tăng khi mưa lạnh, ẩm thấp, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém...
Nếu bệnh thiên về Phong chứng, sẽ có thêm các biểu hiện như đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp, thường là các khớp phần trên cơ thể như cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn ngón tay, đau đầu, sợ gió, rêu lưỡi trắng. Nếu bệnh thiên về Tháp chứng, sẽ có thêm các biểu hiện đau cố định tại các khớp bệnh, không di chuyển, kèm theo tê nặng mỏi là chủ yếu. Nếu thiên về Hàn chứng thì đau nhiều về đêm, trời lạnh đau tăng, chườm nóng giảm đau, đau kiểu co thắt và buốt.
Bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng chất và vitamin, uống nước đầy đủ (mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở lên), không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu. Nên tập luyện nhẹ như đi bộ, tập thái cực quyền, dưỡng sinh. Dùng gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng.
Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau. Chú ý liều lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng bỏng da cho bệnh nhân. Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí huyết; châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ dưỡng.
Bài thuốc chung:
Lá lốt 12 g,,
xấu hổ 12 g,,
quế chi 12 g,,
thiên niên kiện 12 g,,
thổ phục linh 12 g,,
hà thủ ô mỗi thứ 12 g,
cỏ xước 16 g,
sinh địa 20 g.
Nếu Phong chứng trội, thêm
phòng phong 12 g.,
khương hoạt mỗi vị 12 g.
Nếu Thấp chứng trội, thêm
ý dĩ 16 g,
ngũ gia bì 12 g,
tỳ giải 16 g.
Nếu Hàn chứng trội, thêm
can khương 4 g,
phụ tử 8 g,
xuyên khung 12 g.
Nếu mắc bệnh đã lâu và tái phát nhiều lần, có thể dùng bài thuốc:
Khương hoạt 8 g,,
phòng phong 8 g,,
đương quy mỗi thứ 8 g,
xích thược 12 g,
khương hoàng 12 g,
hoàng kỳ mỗi thứ 12 g,
cam thảo 6 g,
gừng 4 g,
đại táo 12 g.
Để phòng tái phát, dùng bài:
Độc hoạt 8 g,
phòng phong 8 g,
tang ký sinh ` 8 g,
ngưu tất 8 g,
đỗ trọng 8 g,
tần giao 8 g,
xuyên khung mỗi thứ 8 g;
đương quy 12 g,,
bạch thược 12 g,,
sinh địa 12 g,,
đảng sâm mỗi thứ 12 g,
phục linh 9 g,
cam thảo 6 g,
quế tâm 4 g
tế tân mỗi thứ 4 g.
Bệnh khớp có sưng, nóng, đỏ
Ở giai đoạn cấp tính, các khớp sưng, nóng, đỏ, đau (hay xuất hiện đối xứng) ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, sợ gió, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng. Dùng các bài thuốc:
- Thạch cao, kim ngân mỗi thứ 20 g,
tri mẫu 12 g,,
hoàng bá 12 g,,
tang chỉ 12 g,,
phòng kỷ 12 g,,
ngạnh mễ mỗi thứ 12 g,
thương truật 8 g,
quế chi 6 g,
sắc uống ngày 1 thang.
Nếu có hồng ban hoặc khớp sưng đỏ nhiều, thêm
đan bì 12 g,
xích thược 8 g,
sinh địa 20 g.
Quế chi 8 g,
tri mẫu 12 g,,
bạch thược 12 g,,
bạch truật 12 g,,
phòng phong 12 g,,
kim ngân hoa 12 g,,
liên kiều mỗi thứ 12 g,
cam thảo 6 g,
ma hoàng 8 g,
sắc uống ngày 1 thang.
Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, ra nhiều mồ hôi, miệng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác thì vẫn dùng được các bài thuốc trên, bỏ quế chi, thêm các thuốc bổ âm như sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì, sa sâm, miết giáp, thạch bộc...
Ở giai đoạn mạn tính, bệnh nhân có thêm các biến chứng như biến dạng khớp, teo cơ, dính cứng khớp. Dùng các bài thuốc ở phần trên, thêm
nam tinh chế 8 g,
xuyên sơn giáp 8 g,
bạch giới tử sao 8 g,
đào nhân 8 g,
hồng hoa mỗi thứ 8 g;
bạch cương tàm 12 g.
Ngoài ra, nên xoa bóp tại các khớp bằng những thủ thuật ấn, day, lần, véo các khớp và các cơ quanh khớp. Vừa xoa bóp vừa vận động các khớp là phương pháp chủ yếu và quyết định kết quả chữa bệnh trong giai đoạn này.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Y Học Cổ Truyền Với Viêm Khớp Dạng Thấp
Y học cổ truyền với viêm khớp dạng thấp (còn được gọi là viêm đa khớp dạng thấp, viêm đa khớp mạn tính tiến triển, thấp khớp teo đét, bệnh khớp sác cô (charcot), thấp khớp mạn tính dính và biến dạng.
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh hay gặp nhất trong các bệnh về khớp - gần đây người ta coi VKDT là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố: tác nhân gây bệnh (còn chưa rõ), cơ địa (trung niên, đa số là nữ) di truyền. Ngoài ra còn yếu tố thuận lợi khác (những yếu tố phát động bệnh) như suy yếu, mệt mỏi, chấn thương, bệnh truyền nhiễm, lạnh và ẩm kéo dài.
Trên lâm sàng bệnh chia làm hai giai đoạn.
1. Giai đoạn khởi đầu chủ yếu là viêm 1 khớp trong đó 1/3 viêm một trong các khớp nhỏ ở cổ tay, bàn ngón, ngón gần), đau sưng rõ, ngón tay thường hình thoi, cứng khớp buổi sáng (10 - 20%), bệnh kéo dài từ vài tuần đến vài tháng rồi chuyển sang giai đoạn rõ rệt.
2. Giai đoạn rõ rệt (toàn phần) chủ yếu ở khớp nhỏ ở bàn, ngón, cổ tay hoặc bàn ngón cổ chân. Cũng thường có ở khớp gối khớp khuỷu. Các khớp khác xuất hiện muộn. Viêm thường đối xứng, phần mu tay sưng hơn phần lòng bàn tay, hạn chế vận động, cứng khớp buổi sáng, sau tăng về ban đêm, ngón tay hình thoi nhất là các ngón 2, 3, 4.
Diễn biến của bệnh: Viêm tiến triển tăng dần nặng dần; phát triển thêm các khớp khác. Các khớp viêm dần dần biến dạng, dính, bàn ngón tay dính, biến dạng ở tư thế nửa co và lệch trục về phía xương trụ, khớp gối dính ở tư thế nửa co. Teo rõ rệt cơ ở quanh khớp có tổn thương như cơ giun bàn tay, cơ liên cốt. Có 1/4 trường hợp có giai đoạn hui bệnh rõ rệt. Triệu chứng toàn thân biểu thị một trạng thái bệnh mạn tính: gầy sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, thiếu máu. Tổn thương ở nội tạng rất hiếm gặp. Y học cổ truyền xếp VKDT vào phạm vi chứng tý.
Ở giai đoạn đầu thuộc phạm vi phong hàn thấp tý. Đó là do ở tuổi trung niên lúc cân cơ đã bắt đầu suy yếu (tuổi 50 can khí suy), nay lại thêm tay, chân làm việc quá ngưỡng mệt mỏi hoặc chấn thương, trên cơ sở suy yếu này hàn thấp phong thâm nhập vào lạc mạch ở vùng khớp cơ mệt mỏi gây nên. Phép chữa trong giai đoạn này là khu phong tán hàn trừ thấp thông lạc. Thường dùng các bài thuốc sau:
Khương hoạt 6gr, phòng phong 6gr để khu phong trừ thấp, sinh khương 5 lát để tán hàn, đương quy 6gr để dưỡng huyết, xích thược 6gr khương hoàng 6gr để hành huyết, hoàng kỳ 6gr, quế chi 6gr để ôn thông kinh lạc, cam thảo 4gr, đại táo 2gr để điều hòa các vị thuốc. Viện y học cổ truyền VN đã dùng phương thuốc sau: xấu hổ 16gr, thổ phục linh 12gr dây đau xương 12gr, dây gắm 12gr, thiên niên kiện 12gr, kê huyết đằng 12gr, hy thiêm 12gr, ngưu tất 12gr.
Thuốc có thể giảm đau làm bớt sưng song chưa giải quyết được hiện tượng cơ co làm vận động của khớp bị hạn chế. Theo quan sát của tôi nguyên nhân của khớp vận động bị hạn chế là do các yếu tố trên đã làm khớp có vi di lệch, biểu hiện cụ thể là điểm đau ở đầu xương trên khớp (có thể tìm thấy được - huyệt a thị) mà trên phim chụp bằng tia X khó phát hiện ra. Vì vậy, phải dùng biện pháp xoa bóp để phục hồi vị trí các xương. Cách làm cụ thể là: cố định phần gốc của khớp, kéo giãn ngón tay, từ từ vận động bị động để cơ khớp phục hồi vị trí. Nếu làm tốt thì không còn điểm đau nữa và khớp có thể vận động dễ dàng hơn, phần vận động hạn chế giảm đau hoặc hết. Sau đó hướng dẫn bệnh nhân cài 10 ngón tay vào nhau, đẩy thẳng ra phía trước (hoặc lên đầu), lòng bàn tay hướng ra ngoài (hoặc lên trên) để điều chỉnh lại sự hài hòa của các gân cơ co ruỗi các ngón tay.
Về biểu hiện sưng nóng trong giai đoạn đầu hoặc thời kỳ tiến triển của bệnh, y học cổ truyền cho là các tà khí ở trong lạc mạch lâu hóa hỏa gây nên, lúc đó ở ngoài có hàn, ở trong có nhiệt. Phép chữa sẽ là giải biểu hàn thanh lý nhiệt. Viện y học cổ truyền Việt Nam đã dùng phương thuốc sau: Quế chi 8gr bạch thược 12gr để điều hòa dinh vệ, ma hoàng 8gr, phụ tử 4gr, gừng 5 lát để tán hàn thông lạc, bạch truật 12gr để trừ thấp, phòng phong 12gr để khu phong, tri mẫu 12gr để tư âm thanh nhiệt, cam thảo 4gr để điều hòa các vị thuốc. Châm cứu có thể góp phần giảm sưng giảm đau. Châm các huyệt a thị, các huyệt gần khớp đau là chính và dùng phép tả. Khi màu da chỗ khớp đã xạm xuống tiếp tục dùng xoa bóp như trên.
Ở giai đoạn rõ rệt, thời kỳ lúc bệnh, thường có teo cơ biến dạng khớp, viện y học cổ truyền Việt Nam dùng phương thuốc sau: để bổ can thận, khu phong tán hàn trừ thấp thông lạc: đương quy 12gr, thục địa 12gr, hà thủ ô 12gr; để dưỡng can: đỗ trọng 12gr, ngưu tất 8gr để bổ thận, độc hoạt 12gr, hy thiêm 12gr, thổ phục linh 12gr, kim ngân 6gr để khu phong, trừ thấp, can khương 4gr để khử hàn, đảng sâm 12gr để ích khí, quế chi 8gr để ôn thông kinh lạc, xuyên khung 8gr; kê huyết đằng 12gr để hành huyết, cam thảo để điều hòa các vị thuốc. Nếu chỉ có biến dạng song chụp phim Xquang chưa thấy dính khớp, tiếp tục dùng xoa bóp như trên để phục hồi chức năng khớp hoặc châm cứu để giảm đau.
Nói chung phương pháp điều trị cổ truyền có tác dụng tốt với giai đoạn chưa có dính khớp, ít kết quả với giai đoạn đã có dính khớp. (Phần y học hiện đại dựa vào tài liệu của GS. Trần Ngọc Ân, điều trị bằng thuốc kinh nghiệm của Viện y học cổ truyền Việt Nam, xoa bóp kinh nghiệm lâm sàng của bản thân).
theo ykhoa.net
Các Bài Thuốc Cổ Phương Hay
CÁC BÀI THUỐC CỐ SÁP
Phần 1: CÁC BÀI THUỐC SÁP TINH CHỈ DI
Bài 1: KIM TỎA CỐ TINH HOÀN
Xuất xứ: “Y PHƯƠNG TẬP GIẢI”
Thành phần:
Sa uyển, tật lê 60g Khiếm thực 60g
Liên tu 60g Liên nhục 60g
Long cốt 30g Mẫu lệ 30g
Cách dùng: Làm bột mịn, liên nhục nấu bột hồ làm hoàn mỗi lần uống 9g lúc bụng đói với nước muối.
Công hiệu: Cố thận sáp tinh.
Chủ trị: Tinh thất không kiên cố, di tinh hoạt tinh, lưng mỏi tai ù, tinh thần uể oải mất sức, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế nhược.
Bài 2: TỤ TINH HOÀN
Xuất xứ: “CHỨNG TRỊ CHUẨN THẰNG”
Hoàng ngư phiêu giao 500g Sa uyển tử 240g
Ngũ vị tử 60g
Cách dùng: Nghiền thành bột mịn, mật trắng luyện thêm rượu cũ vào nấu sôi lại, để đến lúc mật nguội đi làm thành hoàn tơ bằng hạt đỗ xanh. Mỗi lần uống 9g lúc đói chiêu với rượu ấm hay nước nguội.
Công hiệu: Bổ thận sáp tinh.
Chủ trị: Thận hư không bọc chứa vững vàng, mộng di hoạt tinh, tinh dịch ít và loãng, liệt dương không có con.
Bài 3: BỔ THẬN CỐ TINH HOÀN
Xuất xứ: “LƯU HỤỆ DÂN Y ÁN”
Thành phần:
Hà thủ ô 77g Câu kỉ tử 77g
Sinh thỏ ti tử 46g Đương khởi thạch 46g
Tỏa dương 46g Cẩu tích 46g
Quế viên nhục 46g Thổ sao bạch truật 46g
Sinh mẫu lệ 31g Sơn thù du 31g
Ích trí nhân 31g Đại hồ ma 31g
Sa nhân 31g Viễn chí nhục 31g
Kim anh tử 31g Hoàng bá 31g
Hoàng tinh 31g Đảng sâm 40g
Hạn liên thảo 62g Dâm dương hoắc 96g
Tiên dương cao hoàn 2 đôi
Cách dùng: Tiên dương cao hoàn (tinh hoàn dê còn tươi) thái lát, hong gió cho khô, tất cả tán thành bột mịn; Hạn liên thảo, Dâm dương hoắc sắc nước 2 lần, lấy nước đặc cùng với các vị ở trên quấy đều chế thành hoàn nhỏ, mỗi lần uống 9g ngày 3 lần với nước muối loãng.
Công hiệu: Bổ ích can thận, trợ dương cố tinh.
Chủ trị: Thận hư liệt dương, di tinh xuất tinh sớm, lưng gối mỏi yếu, người mỏi, kém lực, mất ngủ mộng nhiều.
Bài 4: TRỊ DI TINH PHƯƠNG
Xuât xứ: “TỪ HI QUANG TỰ Y PHƯƠNG TUYỂN NGHỊ
Thành phần:
Thục địa 9g Trạch tả 9g
Đan bì 2,4g Phục linh 3g
Sơn dược 3g Táo bì 3g
Khiếm thực 3g Thỏ ti tử 3g
Đỗ trọng 3g Ba kích 3g
Trư dư 3g 3g
Cách dùng: Các vị trên nghiền thành bột thô, sắc nước uống.
Công hiệu: Kiện tì ích thận, cố tinh chỉ di.
Chủ trị: Tì thận bất túc, cố tinh chỉ di.
Bài 5: TANG PHIÊU TIÊU TÁN
Xuât xứ: “BẢN THẢO DIỄN NGHĨA”
Thành phần:
Tang phiêu tiêu 30g Viễn chí 30g
Xương bồ 30g Long cốt 30g
Nhân sâm 30g Phục thần 30g
Đương qui 30g Quy bản (chế với dấm) 30g
Cách dùng: Làm thành bột, đêm trước khi đi ngủ lấy 6g uống với Nhân sâm thang.
Công hiệu: Điều bổ tâm thận, cố tinh chỉ di.
Chủ trị: Tiểu tiện vặt luôn hoặc đái són, di tinh, tâm thần hoảng hốt, dễ quyên hay mộng mị, lưỡi nhạt hoặc rêu trắng, mạch tế trì nhược.
Bài 6: THỎ TI TỬ HOÀN
Xuất xứ: “TẾ SINH PHƯƠNG”
Thành phần:
Thỏ ti tử 60g Ngũ vị tử 30g
Đoán mẫu lệ 60g Nhục thung dung 60g
Chế phụ tử 60g Kê nội kim 15g
Lộc nhung 30g Tang phiêu tiêu 30g
Cách dùng: Bột mịn dùng Hồ diệu làm hoàn to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 9g trước bữa ăn, uống với nước muối.
Cách dùng: Ôn thận cố sáp.
Chủ trị: Thận khí bất túc, tinh thần uể oải khiếp rét, hình thể suy nhược, đầu váng lưng mỏi, hai vế vô lực, tiểu tiện rỉ rả không thôi, mạch tượng trầm tế, xích mạch càng yếu.
Bài 7: CỦNG ĐÊ HOÀN
Xuất xứ: “CẢNH NHẠC TOÀN THƯ”
Thành phần:
Thục địa hoàng 60g Thỏ ti tử 60g
Sao bạch truật 60g Ngũ vị tử 30g
Ích trí nhân 30g Bổ cốt chi 30g
Chế phụ tử 30g Phục linh 30g
Sao cửu tử 30g
Cách dùng: Làm bột mịn, sơn dược đánh thành hồ làm hoàn, mỗi lần 9g uống lúc đói với nước chín hoặc nước ấm.
Công hiệu: Ôn dương ích thận, cố tinh, chữa rò rỉ.
Chủ trị: Mệnh môn hỏa suy, thận dương bất túc dẫn đến tiểu tiện vặt nhiều lần, đái són hoặc đái không nín được, lưng mỏi, mình rét, mạch hư nhuyễn mà trì.
THEO: TRUNG QUỐC DANH PHƯƠNG TOÀN TẬP
Phụ nữ sau sinh - bi kịch sân khấu hay đời thường?
Trải qua chín tháng mười ngày mang thai - một hành trình lạ lẫm ở lần đầu và luôn ấn tượng với mỗi lần - tới một ngày người mẹ dồn hết sức lực vật vã trong đau đớn khó nhọc sinh ra một thành viên mới cho gia đình, một công dân mới cho xã hội. Hạnh phúc dâng trào như người ta thường nghĩ hay vẫn là một ẩn số với nhiều chị em?
http://img49.imageshack.us/img49/5015/pnmz3.jpg
Sau ngày cam go “vượt cạn” một mình có lúc tưởng như mất mạng ấy, cơ thể rã rời, thấm mệt từ cuộc chuyển dạ và từ những bệnh lý do mang thai gây nên, những ngày tiếp theo, khoảng 45 ngày, là thời kỳ theo tự nhiên toàn cơ thể người phụ nữ dần hồi phục - gọi là thời kỳ hậu sản. Theo bản năng, họ ôm con vào lòng và cho con bú: họ làm mẹ, nhưng trong bệnh viện, thầy thuốc vẫn gọi họ, những phụ nữ sau sinh bằng một từ chung: sản phụ - vì họ cần được theo dõi.
Người mẹ ấy có thể mau chóng phục hồi sức lực hoặc ngược lại, có thể suy sụp kéo dài, phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc về tinh thần và vật chất của người thân trong gia đình. Yếu tố tinh thần nếu cạn kiệt (suy sụp) có thể dẫn đến trạng thái không ổn định về tâm lý, bất bình thường về tâm tính, y học gọi là trầm cảm sau sinh hay trầm cảm hậu sản.
Trầm cảm sau sinh thường có biểu hiện dưới nhiều trạng thái từ nhẹ đến nặng như: chán nản, buồn rầu, mệt mỏi, rối loạn ăn uống, mất ngủ, tâm thần bất an, bi quan, thiếu tập trung, hoang tưởng, u uất, sợ tội lỗi... có thể gây ra nhiều đảo lộn bất thường trong sinh hoạt, hoặc vô ý tự gây sự cố như đè chết con, thậm chí bỏ rơi con hoặc có ý định tự tử...
Những triệu chứng này có thể giảm hoặc tái diễn. Điều này không nhờ vào may mắn mà phụ thuộc vào sự bù đắp, yêu thương, chăm sóc, chia sẻ của những người thân xung quanh. Nó như cơn áp thấp nhiệt đới, có thể tan biến nhưng cũng có thể trở thành dông bão gây bi kịch khủng khiếp làm chìm đắm cả con tàu gia đình.
Câu chuyện Nước mắt người điên đang trình diễn trên sân khấu Nhà hát kịch Phú Nhuận (TP.HCM) là một ví dụ. Theo lời giới thiệu, cốt chuyện dựa vào một câu chuyện có thật, một phụ nữ đã đè chết con khi ngủ. Chuyện không phải của riêng ai. Nó phản ánh một góc khuất của đời thường rất cần được trao đổi, thấu hiểu dưới góc độ y học, cho dù có những khác biệt về số phận.
Thật không công bằng nếu kịch bản sân khấu dẫn dắt (thuyết phục) người xem theo hướng nhìn nhận tất cả câu chuyện đau đớn và tội lỗi này đều bắt nguồn từ sự thay lòng đổi dạ, sa sút nhân cách ở nhân vật chính là một phụ nữ. Khai thác diễn biến sự việc theo hướng ấy là quyền của tác giả làm bộc lộ tính cách nhân vật, tuy nhiên khi làm xuất hiện một loạt cái ác, tạo ra vực thẳm không thể lấp đầy trong đời sống gia đình, mà cả kẻ phạm tội lẫn người bị hại đều không biết nguồn cơn nỗi đau thì có lẽ bi kịch ngoài đời sẽ còn lớn hơn nhiều lần bi kịch trên sân khấu.
Cần hiểu trầm cảm sau sinh là những biểu hiện bên ngoài của một cuộc chiến sinh hóa học xảy ra bên trong cơ thể người phụ nữ. Những biến động tâm sinh lý thời kỳ hậu sản nảy sinh các tác nhân điện hóa học tác động rất mạnh lên các đặc khu vỏ não, chi phối các hành vi, tâm tính người mẹ, bao gồm cả các phản ứng tự vệ theo bản năng.
Như vậy dưới góc độ y học, có thể coi trầm cảm sau sinh là một hiện tượng của bệnh lý (hoặc mang thuộc tính) sản khoa diễn ra trên cơ thể người phụ nữ, rất cần được nhìn nhận một cách thỏa đáng bởi các nguyên nhân khách quan, từ đó có cách hóa giải phù hợp mang tính khoa học chứ không nên coi đó như là điểm xuất phát chủ quan của mọi bi kịch. Lời cảnh tỉnh hoặc tuyên án trong gia đình hay trước dư luận xã hội nếu nhầm lẫn, nóng vội khác nào “đổ dầu vào lửa” tự gây thêm thảm họa? Mong sao con người ngoài đời tỉnh táo hơn, tạo ra sự khác biệt nhiều nhân tính hơn so với sân khấu.
Trầm cảm trên gây nhiều hậu quả phiền phức, nghiêm trọng, nhưng nhận ra nó không đơn giản và rất dễ bỏ sót do hình thức của nó đa dạng, phức tạp, pha trộn và nhất là do tính “giấu mặt” của nó. Vì vậy, việc phát hiện và chữa trị đến nay còn gặp nhiều khó khăn.
Trầm cảm sau sinh ở VN còn ít được quan tâm, mặc dù vài nghiên cứu ít ỏi tại TP.HCM cho thấy tỉ lệ mắc bệnh không phải là ít (11,6-17,2%), trong đó chủ yếu là:
- Mệt mỏi, chán nản.
- Buồn vô cớ sau sinh.
- Bi quan, cảm giác bất an.
- Tâm tính u uất, không ổn định kéo dài.
Đáng lưu ý và lo ngại là trầm cảm sau sinh không chỉ xảy ra ở độ tuổi trung niên mà gần đây còn lan rộng tạo ra đổ vỡ nơi những cặp vợ chồng trẻ mới làm quen với đời sống hôn nhân (một nguyên nhân khiến ly hôn tăng), nên rất cần sự quan tâm thấu hiểu nhiều hơn từ phía các “nhân vật trong gia đình” lẫn dư luận xã hội, để câu chuyện Nước mắt người điên chỉ là câu chuyện trên sân khấu, không xảy ra giữa đời thường.
Theo PGS.BS NGUYỄN NGỌC THOA (Tuổi Trẻ)
Các Bài Thuốc Hoạt Huyết điều Kinh (các Bài Thuốc Cổ Phương Hay)
CÁC BÀI THUỐC HOẠT HUYẾT ĐIỀU KINH
Đây là những bài thuốc đã được kiểm nghiệm trong thực tế trải qua hàng nghìn năm đấu tranh chống lại bệnh tật của con người, thể hiện tính ưu việt trong kết quả điều trị bệnh.
CÁC BÀI THUỐC HOẠT HUYẾT ĐIỀU KINH
Bài 1: ÔN KINH THANG
(Còn gọi là ĐẠI ÔN KINH THANG)
Xuất xứ: “KIM QUỸ YẾU LƯỢC”.
Thành phần:
1)Ngô thù du 9g
2)Đương qui 9g
3)Thược dược 6g
4)Xuyên qui 6g
5)Nhân sâm 6g
6)Quế chi 6g
7)A giao 9g
8)Mẫu đơn bì 6g
9)Sinh khương 6g
10)Cam thảo 6g
11)Bán hạ 6g
12)Mạch đông 9g
Cách dùng: Sắc nước uống.
Công hiệu: Ôn kinh tán hàn, khứ ứ dưỡng huyết.
Chủ trị: Xung nhâm hư hàn, ứ huyết trở trệ, dong huyết không dứt, kinh nguyệt không đều, hoặc sớm, hoặc chậm, hoặc qua kỳ rồi mà không dứt, hoặc một tháng mấy lần, hoặc kinh dừng không đúng lúc, mà thấy tối đến sốt, lòng bàn tay nóng bứt dứt, môi miệng khô táo, bụng dưới thúc bách vội vàng, đầy bụng; phụ nữ đã lâu không chửa đẻ.
Bài 2: ÍCH MẪU THẢO CAO
( Còn gọi tên: ÍCH MẪU THẢO CAO, HOÀN HỒN CAO)
Xuất xứ: “ HUỆ TRỰC ĐƯỜNG KINH NGHIỆM PHƯƠNG”
Thành phần: Ích mẫu thảo
Cách dùng: Lấy một lượng dược liệu ninh nấu thành cao, mỗi lần uống 15-30g, ngày 2 lần uống với nước chín.
Công hiệu: Hoạt huyết khứ ứ điều kinh.
Bài 3:PHỤ KHOA ĐIỀU KINH PHIẾN
Xuất xứ: “ THƯỢNG HẢI THỊ DƯỢC PHẨM TIÊU CHUẨN”
Thàng phần:
Hương phụ 50g
Đương qui 18g
Xuyên khung 2g
Sinh bạch thược 1,5g
Xích thược 1,5g
Thục địa 6g
Bạch truật 3g
Diên hồ sách 4g
Hồng táo 10g
Cam thảo 1,5g
Bài 4: THÔNG Ứ TIỄN
Xuất xứ: “CẢNH NHẠC TOÀN THƯ”
Thành phần:
Đương quy vĩ 9g
Sơn tra 9g
Hương phụ 9g
Hồng hoa 6g
Ô dược 9g
Thanh bì 9g
Trạch tả 9g
Mộc hương 9g
Cách dùng: Sắc nước uống.
Công hiệu: Hoạt huyết lý khí khứ ứ điều kinh.
Chủ trị: Khí trệ huyết ứ cho nên hành kinh không thoải mái, bụng đau sợ ấn. Sản hậu ứ huyết đau bụng.
Bài 5: NỮ KIM ĐAN
(Còn có tên: THẮNG KIM HOÀN, BẤT HOÁN KIM ĐAN)
Xuất xứ: “HÀN THỊ Y THÔNG”
Thành phần:
Cao bản 30g
Đương qui 30g
Bạch thược 30g
Nhân sâm 30g
Bạch vi 30g
Xuyên khung 30g
Mẫu đơn bì 30g
Quế tâm 30g
Bạch chỉ 30g
Bạch truật 30g
Phục linh 30g
Diên hồ sách 30g
Cam thảo 30g
Xích thạch chi 30g
Một dược 30g
Hương phụ 450g
Cách dùng: 13 vị thuốc đầu tiên tẩm rượu 3 ngày, sấy khô cùng với các vị còn lại làm thành bột, luyện mật chế hoàn, mỗi lần uống 6g; mỗi ngày uống 2 lần. Cũng có thể dùng ẩm phiến làm thang, sắc nước uống, lượng dùng căn cứ tỉ lệ ở bài gốc mà chước giảm.
Công hiệu: Dưỡng huyết khứ ứ, lý khí chỉ thống, điều kinh ấm tử cung.
Chủ trị: Phụ nữ tử cung hư hàn, không thai nghén được, đới trọc bạch băng ( đột ngột chảy máu nhiều khí hư trắng loãng ), thai chết lưu, khí đầy bứt rứt, bụng rốn đau, kinh nguyệt không thông; đột nhiên bất tỉnh cấm khẩu, tiêu khát kiết lị, sản hậu thương hàn hư phiền; bán thân bất toại, hạ hư vô lực.
Bài 6:SINH HÓA THÔNG KINH THANG
Xuất xứ: “ TRUNG Y PHỤ KHOA TRỊ LIỆU HỌC ”.
Thành phần:
Đan sâm 12g
Ngưu tất 9g
Đào nhân 6g
Hồng hoa 3g
Trạch lan 12g
Đương Qui vĩ 9g
Hương phụ 9g
Cách dùng: Sắc nước uống
Công hiệu: Hoạt huyết khứ ứ thông kinh.
Chủ trị: Huyết ứ trở ngại bên trong, kinh nguyệt không đúng kỳ, lúc sớm lúc muộn, lúc nhiều lúc ít, sắc tía có cục, bụng dưới sợ ấn, miệng táo không muốn uống nước, lưỡi xám hồng hoặc có điểm ban mầu tím, mạch trầm huyền có lực.
THEO: TRUNG QUỐC DANH PHƯƠNG TOÀN TẬP