-
January 17, 2017
GIA CÚ LINH NGHIỆM PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI KÝ
Mật Tạng Bộ 2 _ No.974C (Tr.386_ Tr.388)
GIA CÚ LINH NGHIỆM
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI KÝ
(Ghi sự linh nghiệm về việc thêm câu của Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni)
Hán văn: Triều Nghị Đại Kiêm Thị Ngự Sử VÕ TRIỆT thuật
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ Phục hồi Âm Phạn Chú: HUYỀN THANH
Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni là Tạng Bí Mật của hết thảy Như Lai gồm hết các Pháp Môn Trí Ấn của Đại Nhật Như Lai, lành tốt trong sạch phá hết thảy đường ác. Đà La Ni có Đại Thần Lực vậy. Đây là Bản do Ngài Phật Đà Ba Lị truyền trong năm Nghĩa Phụng, khắp Thiên Hạ trì tụng rất nhiều. TRIỆT từ thuở nhỏ cũng thường trì niệm. Đầu năm Vĩnh Thái, sau khi có tang vợ lại càng thêm chuyên tâm cầu Pháp Xuất Ly. Khi đó trong Điện có ông Thị Ngự Sử TƯƠNG NA cũng thường trì tụng Đà La Ni này. Một ngày kia, trong Thất riêng, tự đến mà nói rằng: “Nay được Đạo rốt ráo phi thường khó gặp”. TRIỆT cung kính hỏi ra mới biết là Tôn Thắng Đà La Ni vậy. Bảo cần nên tụng, câu văn có nhiều tiếng khác, liền lạy mà tụng. (Tương Na) lại nói: “Ta nhận ở nơi Vương Khai Sĩ. Khai Sĩ thọ nơi Kim Cương Trí Tam Tạng. Sư nói: Tây Quốc (Ấn Độ) cũng ít có Bản này. Ta đem Bản Phạn bí mật truyền cho”. Đọc tụng khen là việc kỳ lạ, nếu không cầu Bản đó thì thật lấy làm tiếc. Về sau, mỗi khi gặp Tịnh Sĩ đều cầu hỏi. Bỗng gặp được Tế Công có văn bản này.
Trong năm Khai Nguyên, ở dưới núi Ngũ Đài có một cư sĩ tịnh tu họ Vương có việc phải đi xa. Sau khi trở về thì cha mất không nhìn được mặt, nên chí tâm tụng Tôn Thắng Đà La Ni số hơn 10 vạn biến, chí thành cầu nguyện cho thấy được cha sanh về cõi nào, nhưng vẫn không thấy, muốn bỏ xuống núi. Bỗng gặp một Lão Nhân bảo cư sĩ rằng: “Nhân Giả trì niệm thật là khổ nhọc! Nhưng câu văn phần nhiều sai sót. Nay Ta trao cho Bản đầy đủ”.
Cư sĩ lạy rồi nhận lấy. (Lão Nhân) lại nói: “Có thể tụng Ngàn biến một ngày”.
Bỗng nhiên vào lúc nửa đêm, nghe ngọc khua sáo thổi xuống nơi đình chùa. Bấy giờ cư sĩ sợ hãi đứng dậy nhìn xem, thấy chư Thiên số có 10 người vây quanh một vị Trời. Vị đó hỏi trước rằng:”Ngươi có biết Ta không ?”.
Cư sĩ trả lời: “Không biết”.
Vị Trời nói rằng:”Ta tức là cha ngươi. Do năm nay, ngươi tụng Tôn Thắng Đà
La Ni mà Ta được Thần Lực như vầy. Từ đó về sau Phước càng tăng thêm, không biết ngươi được Bản nào?Từ ấy đến nay, Ta nhờ sức của ngươi mà được làm vua Thiên
Tiên. Nên biết chỗ trì niệm của ngươi công hiệu không thể lường được”.
Nói xong liền bay đi. Cư sĩ cảm thán lễ lạy, từ đó lại thêm tinh tấn.
Sau khi đến Đông Kinh, có một Học Sĩ tu hành là Vương Thiếu Phủ cũng có Bản Tôn Thắng của Ngài Ba Lỵ, tụng trì đủ số một vạn. Bỗng nhiên ở trong đêm, mộng thấy một vị Phạm Tăng đi lại bảo Thiếu Phủ rằng:”Hiền Giả niệm tụng rất tinh thành, nhưng Bản Văn có sai thiếu nên không đủ công lực”.
Vương Thiếu Phủ cúi lạy cầu thỉnh văn chính.Phạm Tăng bèn trao cho Bản có câu văn đầy đủ. Ghi lại rồi tiễn vị Tăng ra khỏi cửa, ánh sáng tỏ như ban ngày, cho đến nơi giường thấy tôi tớ đang ngủ, bất giác la lên: “Sáng rồi”.
Tôi tớ nói:”Nay mới nửa đêm”, bỗng nhiên ánh sáng lần lần tắt. Vương Thiếu
Phủ thấy việc lạ lùng, nhắm mắt mà tụng cho đến sáng càng thêm tinh cần.
Đầu năm Thiên Bảo, Ngũ Đài Sơn Vương Khai Sĩ và Vương Thiếu Phủ ở Đông Đô đều không biết nhau, bỗng nhiên Vương Thiếu Phủ bị chết thình lình, 7 ngày sau sống lại. Trong Thành đều mừng rỡ , thảy đều hỏi thăm Cư Sĩ. Khi ấy Vương Khai Sĩ cũng đến hỏi thăm lý do sống lại. Vương Thiếu Phủ nói: “Đầu tiên Ta đang nằm, bỗng nhiên thấy 2 Sứ Giả đến bắt Ta đem đi, trải qua 10 dặm đến dưới gốc cây lớn. Hai Sứ Giả ngồi nghỉ, Ta cũng vậy. Bỗng nhớ đến Tôn Thắng, liền nhắm mắt tụng 21 biến, mở mắt ra xem thì không thấy 2 Sứ Giả. Bỗng chốc có 4 người đến quỳ rồi nói rằng: “ Nhân Giả tu hành thế nào mà được lợi ích như thế? Hai Sứ Giả đến bắt Ngài cũng được sanh Thiên “.
Vương Thiếu Phủ nói: “Tôi chỉ tụng Tôn Thắng Đà La Ni”.
Bốn người kia nói: “Xin do Công Đức Lực này. Vì Đệ Tử mà tụng vậy để cứu bạt khổ nạn”
Vương Thiếu Phủ nhắm mắt tụng 21 biến, mở mắt ra lại không thấy 4 người kia. Thoắt chốc, trong Hư Không lại nghe tiếng Mâu Giáp khua vang. Có một vị áo đỏ mặc Giáp, tùy tùng rất nhiều, đến trước mặt quỳ gối thưa rằng: “Tôi là Ngũ Đạo Minh
Tư, tuy địa vị rất là tôn quý nhưng vẫn là Thần Đạo, mong được sanh Thiên, 6 người kia do Pháp lực của Thầy mà được sanh Thiên Nay xin thỉnh Ngài đến chỗ con mà tụng, mong chút Phước Ấm”. Ta cùng đi đến một ngôi nhà chu vi 10 dặm. Ở đây toàn là tội nhân bị cùm trói hành phạt, trao khảo đánh đập. Vị Thần mời Vương Thiếu Phủ lên Tòa cao, còn mình thì quỳ ở dưới lắng nghe. Vương Thiếu Phủ nhắm mắt lại chí
tâm tụng 49 biến, mở mắt ra xem không có lấy một người, chỉ toàn thấy gông cùm xiềng xích gẫy nát. Vương Thiếu Phủ sợ quá không biết là do đâu.
Bỗng nhiên có 4 người đến nói: “Lệnh vua sai đến bắt vì làm loạn cõi Âm, dám phá cõi của Ta”. Liền bắt Vương Thiếu Phủ vào một hang trống rồi cho sống lại. Quả thật, Tôn Thắng Đà La Ni có thần lực không thể nghĩ bàn”.
Ngay lúc đó, Ngũ Đài Sơn Vương Khai Sĩ và Vương Thiếu Phủ đều cùng nói rõ Bản Trì Tụng, xem lại câu văn thảy đều giống nhau như một Bản, hai người cùng lạy tạ. Vương Sơn Nhân nói: “Bản của tôi thọ nơi Thánh Công Ngũ Đài Sơn”.
Vương Thiếu Phủ nói: “Bản của tôi thọ nơi Kim Cang Trí Tam Tạng có để trong rương Phạm”.
Ba người cùng xem xét lại, thấy giống nhau như một. Nên biết chúng sanh nghe
Pháp có lúc lưu truyền Giáo Pháp, cũng có lúc cảm thán, Thế Gian chân thật khó có.
Đây là lấy từ Phạn Bản của Kim Cang Trí Tam Tạng, còn Truyền Bản của Ngài Phật Đà Ba Lị cũng có câu văn đồng nhau. Như trong Bản cũ có 9 câu 69 chữ. Ngoài Ba Lị Tăng Huệ Lâm nhân lúc sửa Đại Tạng Mục Lục chua nhập vào Tạng Kinh hơn
600 quyển cùng với Bản của Võ Triệt Đà La Ni Cảm Ứng Thần Nghiệm thảy đều y
nhau. Tựa của quyển, năm Nguyên Hòa thứ 14, Ất Sửu. Tương Đại Phu triều trước với đồng sự là Xá Nhân Trương Thừa Phước cùng trăm Trai Tăng mỗi mỗi đều thọ trì Tôn Thắng Đà La Ni có công hiệu, từng bị Minh Tư (cõi Âm) bức bách, do oai lực bất khả tư nghị của Chân Ngôn mà không bị khổ lại còn cứu bạt các khổ cho quần sanh. Có ghi nơi Truyện “Lâm ở Thành Đô Phủ” được chép trong Tạng Kinh vào thời Như Ý, năm thứ hai, tháng 3, ngày 13
SỰ CẢM ỨNG CỦA PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI
Khai Nguyên, năm thứ 26, mùa Đông. Có Thần Đô Trương Phiếu Trưởng Sử, từ thuở nhỏ đã hiếu dưỡng cha mẹ. Sau khi cha mẹ chết bị trầm luân nơi Ác Đạo. Do thành tâm báo ân, luôn nghĩ cứu độ, bèn vào trong núi tụng trì Tôn Thắng Đà La Ni, chí thành cầu nguyện mong thấy vong linh cha mẹ được sanh về cõi an lạc. Ngày ngày đọc tụng không dứt, trong 6 năm vẫn không thấy hiệu nghiệm nên muốn thoái tâm. Bỗng nhiên thấy một ông già dung mạo khác thường nói rằng: “Đây không phải là Chú không linh nghiệm, cũng không phải là người không tận lực. Nhưng tại vì cách Phật khá xa, phiên dịch phần lớn thiếu sót rất nhiều”.
Ông lão liền truyền miệng cho.”Nay sao lục một Bản y câu văn, tụng trì mãn 7 ngày tất được thấy cha mẹ”
Liền y theo Khẩu Quyết của ông lão, chí tâm lễ lạy, ngước đầu lên thì ông lão
biến mất, không rõ là Hiền Thánh nơi nào, sợ hãi vô cùng, càng thêm chí thành, y như lời dạy của Văn Bản chuyên tâm thọ trì. Trải qua 6 ngày, tức vong linh cha mẹ đều đến, thương tiếc khôn nguôi, buồn vui lẫn lộn là lẽ đương nhiên, rồi nói rằng: “(Chúng
ta)bị đọa trong Địa Ngục lớn, thọ các khổ, trải qua nhiều năm. Nhờ công lực chí thành của con, nay gần được sanh Thiên. Nay từ cõi Tiên mà xuống cùng con gặp nhau”. Oai quang và tướng cũng đổi thay, thuật lại đầy đủ các nhân duyên như khi còn sống.
Phàm làm con hiếu, xem được việc cảm ứng này sao lại không để tâm nơi lời
Thánh dạy, không cần biết đến, chạy theo 6 Tình, ham đắm Dục Lạc thì được ích gì?!… Như Thích Tử Mục Liên cứu mẹ, việc này có trong sách sử. Trưởng Sử chí thành mà có cảm ứng như vậy.
Sau lại có Tăng Truyện, tụng niệm được Xá Lợi và Cảnh Giới rất nhiều. Sau đến Đông Đô ghi lại việc này vì muốn cho người biết được để làm theo mà lưu truyền cho Đệ Tử nhà Phật. Trường Khánh năm thứ ba, tháng 4, trung tuần, Huyện Úy Mã Dương Thu Mãn trước ở Phụng Thiên. sau dời về núi Bổ, trụ ở Đông Thành Thạch Tử, Phường Cựu Đệ, trì Bản Tôn Thắng của Ba Lợi 15 năm chưa từng bỏ qua. Sau lại đến núi Bổ trải qua nhiều tháng, bỗng nhiên mộng thấy một vị Thần mặc giáp, dung mạo khác thường nói rằng: “Ngươi chí thành trì tụng Chân Ngôn này sao lại không đến chùa Cảnh Phước phường Đông Lang ? Có một vị Tăng trì niệm Bản Tôn Thắng linh nghiệm. Nếu trì thì công lực tăng thêm rất nhiều”.
Nghe rồi rất sợ hãi, mồ hôi tuôn ướt áo, mong sáng để đi đến gặp vị Tăng kia. Sau nhiều ngày mới được gặp vị Tăng đó, Pháp Danh là Nghĩa Truy. Gặp rồi thưa hỏi, quả nhiên vị này đã tu Pháp Môn đó từ lâu, xa gần đều theo học. Tăng hỏi rằng:”Có
việc gì mà đến đây?”
(Mã Dương Thu Mãn) ngồi xuống xong xuôi mới trình bày việc trong mộng. Truy nói: “Lạ thay! Lạ thay! Ta cất Bản này, xưa nay chưa ai biết được. Nay ông được
Thần Nhân chỉ dẫn. Ta không dám cất dấu”.
Rồi bảo Đệ Tử đem tráp đến mở ra , đúng thật là chân truyền. Nhận xong liền trở về xem lại Bản cũ của Ba Lợi có rất nhiều sai sót, mới y Pháp tu hành theo Bản mới, thần nghiệm vô cùng. Được truyền Tôn Thắng Du Già, 2 quyển mới biết Thánh dạy rõ ràng, làm các Pháp Độ không thể dùng Phàm Trí. Ghi lại nhân duyên truyền cho người cùng chí hướng.
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI
Nam mô bà nga phạ đế, đát ra lộ chỉ dã, bát ra để vĩ thỉ sắt tra dã, một đà dã, bà nga phạ để.
(NAMO BHAGAVATE TRAILOKYA PRATIVIŚIṢTĀYA BUDDHĀYA BHAGAVATE)
Đát nễ dã tha: Úm_ Vĩ thuật đà dã, vĩ thuật đà dã. (TADYATHĀ: OṂ_ VIŚODHAYA VIŚODHAYA) Sa ma sa ma, tam mãn đa phạ bà sa
(ASAMA SAMA_ SAMANTA AVABHĀSA)
Sa bạt ra nõa nga để nga ha nẵng, sa phạ bà phạ, vĩ thuật đệ.
(SPHARAṆA GATI GAHĀNA SVABHĀVA VIŚUDDHE)
A tỳ tiến tả đô hàm
(ABHIṢIṂCA TUMĀṂ)
Tát nga đa, a dữu tán đà, a mật lật đa tỳ kế. (SUGATA VARA VACANA AMṚTA ABHIṢEKAI) A ha ra, a dữu tán đà ra ni, thú đà dã thú đà dã.
(ĀHARA ĀYUḤ SANDHĀRAṆĪ_ ŚODHAYA ŚODHAYA)
Nga nga nẵng vĩ thuật đệ.
(GAGANA VIŚUDDHE)
Ô sắc nị sái vĩ nhạ dã, vĩ thuật đệ.
(UṢṆĪṢA-VIJAYA VIŚUDDHE)
Sa ba sa ra, ra thấp minh, tán tổ nễ để, tát phạ đát tha nga đa (SAHASRA RAŚMI SAṂSUDĪTI SARVA-TATHĀGATA) Phạ lô yết nễ sa tra bà ra mật đa bà lợi đế ra ni. (AVALOKANA SAD-PĀRAMITĀ PARIPŪRAṆI)
Tát bà đát tha nghiệt đa, ngật lị đà dã, địa sắt sa nẵng, địa sắc xỉ đa, ma ha mẫu nại ra.
(SARVA TATHĀGATA-HṚDAYA ADHIṢṬANA ADHIṢṬITE MAHĀ- MUDRA)
Phạ nhật ra ca dã, tăng ha đa nẵng, vĩ thuật đệ.
(VAJRA-KĀYA SAṂHATANA VIŚUDDHE)
Tát phạ ra nõa bà da đột lật yết đế , bạt lị thuật đệ.
(SARVA-AVARAṆA-PAYA DURGATI PARIŚUDDHE)
Bát ra để ninh tỳ a đa dã dục, thuật đệ. Tam ma dã, địa sắc xỉ đế.
(PRATINI VARTTĀYA ĀYUḤ ŚUDDHE _ SAMAYA ADHIṢṬITE)
Ma ninh, ma ha ma ninh.
(MAṆI MAHĀ-MAṆI)
Đát khuyết đà bộ đa câu trí, bạt lị thuật đệ. (TATHĀTĀ BHŪTA-KOṬI PARIŚUDDHE) Vĩ sa phổ tra một trì thuật đệ.
(VISPHUṬA BUDDHI ŚUDDHE)
Nhạ dã, vĩ nhạ dã. (JAYA_ VIJAYA) Sa ma ra, sa ma ra. (SMARA SMARA)
Tát phạ một đà, địa sắc xỉ đa thuật đệ.
(SARVA BUDDHA ADHIṢṬITA ŚUDDHE)
Phạ nhật rị, phạ nhật ra, tát bệ phạ nhật lam, bà phạ đô
(VAJRĪ VAJRA-GARBHE VAJRĀṂ BHAVATU)
ma ma (Xưng tên…) Xá lợi lam. Phạ tát đỏa nẫm dã, ca da, bạt lị thuật đệ. (MAMA ŚARIRAṂ SARVA SATVĀNĀṂCA KĀYA PARIVIŚUDDHE) Tát phạ nga đế, bạt lị thuật đệ.
(SARVA-GATI PARIŚUDDHE)
Tát phạ đát tha nghiệt đa, thất dã, minh, ma, thấp phạ bà diễn đô.
(SARVA TATHĀGATA-ŚCA ME SAMA ŚVASA YAṂTU) Tát phạ đát tha nghiệt đa, ma thấp phạ sa, địa sắc xỉ đế. (SARVA TATHĀGATA-SAMA ŚVASA ADHIṢṬITE)
Một địa dã, vĩ mạo đà dã, vĩ mạo đà dã
(BUDDHYA _ VIBODHAYA VIBODHAYA)
Tam mãn đa, bạt lị thuật đệ
(SAMANTA PARIŚUDDHE)
Tát phạ đát tha nghiệt đa, ngật lị đà dã, địa sắc sá nẵng, địa sắc xỉ đa, ma ha mẫu nại ra, tát phạ ha
(SARVA TATHĀGATA-HṚDAYA ADHIṢṬANA ADHIṢṬITE MAHĀ- MUDRA_ SVĀHĀ)
GIA CÚ LINH NGHIỆM TÔN THẮNG ĐÀ LA NI
_Một Quyển (Hết)_
PHẬT ĐỈNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI GIA TỰ CỤ TÚC BẢN
Nẵng mô bà nga phộc đế, đát-lại chỉ dã, Bát-la để, vĩ thủy sắt-tra dã, một đà dã, bà nga phộc để
(NAMO BHAGAVATE TRAILOKYA PRATIVIŚIṢTĀYA BUDDHĀYA BHAGAVATE)
Đát nễ-dã tha: Úm_Vĩ thú đà dã, vĩ thú đà dã
(TADYATHĀ: OṂ_ VIŚODHAYA VIŚODHAYA)
Sa ma sa ma, tam mãn đá phộc bà sa
(ASAMA SAMA_ SAMANTA AVABHĀSA)
Sa-phả la noa, nga để, nga hạ nẵng, sa-phộc bà phộc, vĩ truật đệ
(SPHARAṆA GATI GAHĀNA SVABHĀVA VIŚUDDHE)
A tị tru tả đổ hàm
(ABHIṢIṂCA TUMĀṂ)
Tố nga đá, phộc la, phộc tả nẵng. A mật-lật đá tị sái kế, ma hạ mạn đát-la bả nãi.
(SUGATA VARA VACANA AMṚTA ABHIṢEKAI MAHĀ-MANTRA-
PADA)
A hạ la, a hạ la. A dữu, tán đà la ni. Thú đà dã, thú đà dã.
(ĀHARA ĀHARA_ ĀYUḤ SANDHĀRAṆĪ_ ŚODHAYA ŚODHAYA)
Nga nga nẵng, vĩ truật đệ.
(GAGANA VIŚUDDHE)
Ô sắt-ni sái vĩ nhạ dã, vĩ truật đệ
(UṢṆĪṢA-VIJAYA VIŚUDDHE)
Sa ha sa-la , la thấp-minh, tán tổ nễ đế. Tát la-phộc đát tha nga đá
(SAHASRA RAŚMI SAṂSUDĪTI SARVA-TATHĀGATA) Phộc lộ ca nãnh, sa tra-bá la nhĩ đá, bả lị bố la ni (AVALOKANA SAD-PĀRAMITĀ PARIPŪRAṆI)
Tát la-phộc đát tha nga đá hột-lị ná dã. Địa sắt-xá nẵng, địa sắt-xỉ đá. Ma hạ mẫu nại-lị.
(SARVA TATHĀGATA-HṚDAYA ADHIṢṬANA ADHIṢṬITE MAHĀ- MUDRĪ)
Phộc nhật-la ca dã, tăng hạ đá nẵng, vĩ truật đệ
(VAJRA-KĀYA SAṂHATANA VIŚUDDHE)
Tát la-phộc phộc la noa, bá dã, nạp nghiệt để, bả lị vĩ truật đệ
(SARVA-AVARAṆA-PAYA DURGATI PARIŚUDDHE)
Bát-la để nãnh, miệt la-đá dã. A dục, truật đệ. Tam ma dã, địa sắt-xỉ đế (PRATINI VARTTĀYA ĀYUḤ ŚUDDHE _ SAMAYA ADHIṢṬITE) Ma ni, ma ni, ma ha ma ni
(MAṆI MAṆI MAHĀ-MAṆI)
Đát đạt đá, bộ đa cú trí, bả lị truật đệ
(TATHĀTĀ BHŪTA-KOṬI PARIŚUDDHE)
Vĩ sa-phổ tra, một địa, truật đệ (VISPHUṬA BUDDHI ŚUDDHE) Nhạ dã, nhạ da. Vĩ nhạ dã, vĩ nhạ dã (JAYA JAYA_ VIJAYA VIJAYA) Sa-ma la, sa-ma la
(SMARA SMARA)
Tát la-phộc một đà, địa sắt-xỉ đa, truật đệ
(SARVA BUDDHA ADHIṢṬANA ADHIṢṬITE)
Phộc nhật-lị, phộc nhật-la nghiệt tỳ. Phộc nhật-lam, bà phộc đổ
(VAJRĪ VAJRA-GARBHE VAJRĀṂ BHAVATU)
Ma ma (Xưng tên…..) Thiết lị ổn, tát la-phộc tát đát-phộc nan tả, ca dã, bả lị vĩ thú đệ.
(MAMA ŚARIRAṂ SARVA SATVĀNĀṂCA KĀYA PARIVIŚUDDHE)
Tát la-phộc nga để, bả lị truật đệ
(SARVA-GATI PARIŚUDDHE)
Tát la-phộc đát tha nghiệt đa thất-giả, minh tam ma thấp-phộc sa diễm đỗ
(SARVA TATHĀGATA-ŚCA ME SAMA ŚVASA YAṂTU)
Tát la-phộc đát tha nghiệt đa, tam ma thấp-phộc sa, địa sắt-xỉ đế
(SARVA TATHĀGATA-SAMA ŚVASA ADHIṢṬITE) Một địa-dã, một địa-dã. Vĩ một địa-dã, vĩ một địa dã (BUDDHYA BUDDHYA_ VIBUDDHYA VIBUDDHYA) Mạo đà dã, mạo đà dã. Vĩ mạo đà dã, vĩ mạo đà dã
(BODHAYA BODHAYA_ VIBODHAYA VIBODHAYA)
Tam mãn đá, bả lị truật đệ
(SAMANTA PARIŚUDDHE)
Tát la-phộc đát tha nghiệt đá hột-lị ná dã. Địa sắt-xá nẵng, địa sắt-xỉ đa. Ma hạ mẫu nại-lị, Sa-phộc ha
(SARVA TATHĀGATA-HṚDAYA ADHIṢṬANA ADHIṢṬITE MAHĀ- MUDRĪ SVĀHĀ)
Đà La Ni này trong Bản của Thiên Trúc Tam Tạng THIỆN VÔ ÚY đem truyền tại cõi này. PHẬT ĐÀ BA LỢI lại đem lưu truyền các Bản đều thiếu. Do đây nên lấy Bản đầy đủ để lưu hành
Hiệu chỉnh xong vào ngày 21/05/2014
Advertisements
https://ommanibatdihong.wordpress.co...g-da-la-ni-ky/
-
-
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI KINH
Nước Diêu Tần, Tam Tạng sa môn Phật Đà Ba Lợi phụng chiếu dịch
Ta nghe như vầy:
Một thời Bạt Già Phạm tại Thất La Phiệt, nơi rừng Thệ Đa trong vườn Cấp Cô Độc cùng Đại tỳ kheo chúng một ngàn hai trăm năm mươi người đầy đủ. Cùng với các Đại Bồ tát Tăng một vạn hai nghìn người. Khi đó ba mươi ba cõi trời đương hội họp tại Thiện pháp đường. Có một Thiên tử tên là Thiện Trụ cùng các Đại Thiên vui chơi trong vườn, được các Đại Thiên thương yêu kính mến. Có các Thiên nữ trước sau đoanh vây, vui vẻ thọ hưởng các món âm nhạc, thọ hưởng các điều vui sướng.
Khi đó Thiện Trụ Thiên tử trong đêm nghe có tiếng nói rằng: "Thiện Trụ Thiên tử, sau bảy ngày nữa ông sẽ chết, sau khi chết sanh vào cõi Diêm Phù Đề thọ thân súc sanh bảy lần, và thọ khổ nơi địa ngục, từ nơi địa ngục ra được thọ thân người ở nơi nhà bần tiện, khi còn trong thai đã mù hai mắt."
Khi Thiện Trụ Thiên tử nghe như vậy rồi, rất là sợ sệt, các lông dựng đứng, buồn khổ vô cùng, liền mau đến chổ Thiên Đế Thích, khóc la đảnh lễ nơi chân Thiên Đế bạch cùng Thiên Đế rằng: " Xin hãy nghe tôi nói. Tôi cùng các Thiên nữ trước sau dạo chơi thọ các điều vui sướng, nghe có tiếng bảo rằng: "Thiện Trụ Thiên tử sau bảy ngày nữa mạng người sẽ hết, sau khi chết sanh nơi Nam Diêm Phù Đề bảy lần thọ thân súc sanh, sau đó lại đọa vào địa ngục, từ địa ngục ra được, làm thân người sanh vào nhà bần tiện lại mù hai mắt. Cúi xin Thiên Đế làm cách nào để cứu tôi thoát khỏi khổ nạn nầy."
Khi Thiên Đế nghe Thiện Trụ Thiên Tử nói xong, tất lấy làm quái lạ, suy nghĩ rằng: “Thiện Trụ Thiện Tử nầy vì sao lại bị bảy lần thọ các thân, tức htời liền nhập vào thiền-định, thấy Thiện Trụ Thiên Tử bảy lần thọ các thân ác như là heo, chó, dã can, nhị hầu, mãng xà, chim, cú, các thân ăn các vật dơ uế. Khi Thiên Đế thấy Thiện Trụ Thiên Tử đoạ bảy lần trong ác đạo, trong tâm rất là khổ não, không biết lấy gì làm chỗ qui y, chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là có thể khiến cho Thiên Trụ Thiên tử được khỏi khổ này."
Bấy giờ Thiên Đế Thích lúc sáng sớm đem các tràng hoa, hương đốt, hương bột, các y phục thù diệu trang nghiêm cõi Trời, đi đến rừng Thệ Đa, chổ Đức Thế Tôn, đảnh lễ chân Phật, nhiễu bên phải bảy vòng, ở nơi trước Phật cúng dường đầy đủ, rồi quì chấp tay mà bạch Phật rằng:" Bạch Thế Tôn ! Thiên Trụ Thiên tử vì sau phải thọ bảy lần làm súc sanh và các thân trong đường ác đã nói."
Lúc bấy giờ trên đảnh Đức Như Lai phóng ra các ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới xong, ánh sáng kia xoay vòng quanh Phật ba vòng rồi nhập vào nơi miệng. Đức Phật mĩm cười bảo Thiên Đế Thích rằng:" Thiên Đế có Đà la ni gọi là Tôn Thắng hay tịnh các đường ác hay trừ tất cả khổ ải sanh tử, lại hay trừ các khổ nơi Địa ngục, hướng về đường lành.
Thiên Đế ! Phật Đảnh đà la ni nầy nếu có người được nghe qua một lần, các nghiệp địa ngục đã tạo từ trước thảy đều tiêu diệt, được thân thanh tịnh tùy theo chổ sanh nhớ niệm không quên, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, trải qua ba mươi ba cõi Trời khi sanh ra đều nhớ không quên.
Thiên Đế ! Nếu có người khi sắp chết nhớ tới Đà la ni này mau được tăng trưởng, thân, khẩu, ý nghiệp thanh tịnh, sống lâu, thân không có bệnh, tuỳ nơi chổ ở được các phước lợi an ổn. Tất cả Như Lai đều nhìn đến, các Thiên thần thường luôn ủng hộ, khiến người kia ác chướng tiêu trừ, được các Bồ Tát che chở.
Thiên Đế ! Nếu có người tụng Đà la ni nầy, trong khoảng phút chốc tất cả các khổ về điạ ngục, Diêm La Vương giới, súc sanh đều bị phá nát không còn dư sót. Ở trong các cõi Phật, nơi Thiên cung, chỗ các Bồ tát ở đều vào được, tùy ý không chướng ngại.”
Lúc bấy giờ Thiên Đế Thích bạch Phật rằng:" Cúi xin Thế Tôn vì các chúng sanh nói pháp tăng ích thọ mạng."
Khi ấy, Đức Thế Tôn biết được tâm niệm của Thiên Đế Thích muốn được nghe Phật nói pháp đà la ni. Liền nói chú rằng:
- Nẵng mồ bà nga phã đế đát lặc lộ chỉ dả, bát ra để vĩ thỉ sắt tra dã một đà dã, bà nga pha đế đát nễ dã tha.
Úm vĩ thú dà dã sa ma sa ma tam mãn đà phạ bà sa sa bạt ra nõa nghiệt đế nga ha nẵng sa phạ bà phạ vĩ thuật đệ a tì tiện tả để hàm tát nghiệt đa phạ ra phạ tả nẵng a mật lật đa tì du kế, ma ha mạn đát ra bạt nại a ha ra a ha ra a dữu tán đà ra ni thuật đà dả thuật đà dả nga nga nẵng vĩ thuật đệ ô sắc nị sa vĩ nhạ dã vĩ thuật đệ sa ha sa ra ra thấp minh tán tô nễ đế tát phạ đát tha nghiệt đa phạ lô ca nĩnh sát bát ra nhị đa bạt lị bố ra ni, tát phạ đát tha nghiệt đa. Hật rị ra dả địa sắc sá nẵng địa sắc sĩ đa ma ha mẫu nại rị phạ nhựt ra ca đã tăng ha đa nẵng vĩ thuật đệ tát phạ tát ra nõa bà dã nạp nghiệt đế bà rị vĩ thuật đệ bát ra để nĩnh tì đa dã a dục thuật đệ tam ma dã địa sắc sĩ đế ma ni ma ni ma ha ma ni đát đạt đá bộ đa câu trí bà rị thuật đệ vĩ tắt phổ tra, một điạ thuật đệ nhạ dã nhạ dã vĩ nhạ dã vĩ nhạ dã sa ma ra tát phạ một đà địa sắc sỉ đa thuật đệ phạ nhựt ra phạ nhựt ra nghiệt bệ phạ nhựt vãm bà phạ đổ ma ma xá rị vảm tát phạ tát đát phạ nan tả ca dã vĩ thuật đệ tát phạ nga đế bà rị thuật đệ tát phạ đát tha nghiệt đa tam ma thấp phạ sa dõng đô tát phạ đát tha nghiệt đa tam ma thấp phạ sa địa sắc sĩ đế một địa dã một địa dã vĩ một địa dã mạo đà dã mạo đà dã vĩ mạo đà dã tam mãn đà bà rị thuật đệ tát phạ đát tha nghiệt đa. Hật rị na dã, địa sắc sá nẵng địa sắc sĩ đa ma hạ mẫu nại ra sa phạ ha.
Phật bảo Thiên Đế Thích rằng: "Chú nầy gọi là Tịnh trừ Nhất thiết ác đạo Phật đảnh Tôn Thắng da la ni, hay trừ tất cả tội nghiệp các chướng, hay phá tất cả uế ác, các khổ. Thiên Đế ! Đà la ni nầy là tám mươi tám hằng hà sa cu chi trăm ngàn chư Phật đều cùng nói ra, tùy hỉ thọ trì. Tất cả Như Lai đều ấn khả, vì muốn cứu tất cả chúng sanh các uế ác khổ, khiến cho tất cả địa ngục, súc sanh, Diêm la vương giới, các chúng sanh được giải thoát, khiến các chúng sanh bị khổ nạn đọa trong biển sanh tử được giải thoát, chết non, bạc phước không chỗ cứu hộ, tạo các ác nghiệp, tạp nhiễm chúng sanh được nhiêu ích. Đà la ni nầy gìn giữ cõi Nam Diêm Phù Đề hay khiến địa ngục, các chúng sanh nơi ác đạo xoay vần trong sanh tử, bạc phước chúng sanh, không tin thiện ác bỏ chánh đạo được giải thoát".
Phật bảo Thiên Đế: "Ta nói đà la ni nầy trao cho ông, ông nên truyền lại cho Thiện Trụ Thiên tử và nên thọ trì đọc tụng suy nghĩ nhớ niệm cúng dường, cũng nên rộng nói cho tất cả chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Đề ,lại vì các Thiên tử mà nói đà la ni nầy. Nay ta giao phó cho ông phải luôn luôn giữ gìn ủng hộ, không được quên mất.
Thiên Đế, nếu có người trong chốc lát được nghe đà la ni nầy, trong trăm ngàn kiếp trở lại đã tạo các nghiệp ác, chướng nặng đến phải luân hồi trong sanh tử, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, Diêm la vương, A tu la, Dạ xoa, La sát, Quỉ thần, Bố đơn na, Yết tra Bố đơn na, A bà sa ma ra, muỗi mòng, lằn, chó, mãng xà, các loại chim, các loài mãnh thú, các loài cử động hàm linh, cho đến trùng kiến các thân đều không thọ nữa, được chuyển sanh nơi cõi Phật, Nhất sanh bổ xứ, cùng các Bồ tát đồng hội, hoặc sanh vào nhà Bà la môn, hoặc sanh vào nhà Sát đế lợi, hoặc sanh vào nhà giàu có. Thiên đế, người nầy được sanh vào những nơi tôn quý là do nghe đà la ni nầy, sanh đến nơi nào đều được thanh tịnh, cho đến được chỗ Bồ Đề đạo tràng, đều do xưng tán công đức của đà la ni nầy. Như vậy, đà la ni nầy gọi là Kiết tường hay trừ tất cả đường ác. Tôn Thắng Phật đảnh đà la ni cũng như báu Nhật tạng ma ni, như là hư không, không có bợn nhơ rực rỡ chiếu khắp mọi nơi. Nếu có chúng sanh trì đà la ni nầy, được các điều như vậy, cũng như vàng ròng Diêm Phù Đàn, khiến người ham ưa, không có các uế ác, cáu bẩn. Thiên Đế, nếu có chúng sanh trì đà la ni nầy cũng được như vậy, do được thiện tịnh nên sanh vào cõi tịnh. Thiên Đế, nơi nào có đà la ni nầy, nếu hay viết chép, lưu bố, thọ trì, đọc tụng, nghe nhớ, cúng dường, thì tất cả các đường ác đều tiêu diệt, thảy đều thanh tịnh, tất cả khổ não nơi địa ngục đều được tiêu trừ."
Phật bảo: "Thiên Đế! nếu có người viết chép đa la ni nầy treo nơi cột phướn, hoặc trên đảnh núi hoặc trên lầu, cho đến an trí nơi tháp Xuất đổ ba. Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, tộc tánh nam, tộc tánh nữ, hoặc thấy hoặc gần gũi, thân hình chạm đến, hoặc gió thổi qua các chỗ trên bụi đất chạm đến thân. Thiên Đế, các chúng sanh nầy có các ác nghiệp đáng đoạ vào địa ngục, súc sanh, Diêm la vương giới, ngạ quỉ, a tu la, các chốn ác đạo chịu khổi thảy đều tiêu diệt, không bị các tội cấu làm đắm nhiễm. Thiên Đế, các chúng sanh nầy được chư Phật thọ ký, được bất thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, huống là dùng nhiều các thứ cúng dường đầy đủ như tràng hoa, đồ hương, mạt hương, phan, cái y phục, anh lạc, các thứ trang nghiêm, nơi ngã tư đường tạo tháp Xuất đổ ba, an trí đà la ni nầy, chắp tay cung kính hành đạo, đi nhiễu, qui y đảnh lễ. Nếu người hay cúng dường như vậy, được gọi là Đại Bồ tát, đây chính là Chơn Phật tử, giữ được Phật pháp cũng như toàn thân Như Lai Xá lợi Xuất đổ ba."
Lúc bấy giờ Diêm Ma pháp vương, nơi nửa đêm đi đến chỗ Phật đem các Thiên y, diệu hoa, đồ hương trang nghiêm cúng dường Phật xong, nhiễu Phật bảy vòng, đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng:”Con nghe Như Lai tuyên nói, khen ngợi sức của Đà la ni, nếu có ngoùi thọ trì, đọc tụng Đà la ni nầy, con thường gần gũi ủng hộ, không để người nầy đọa vào điạ ngục, tùy theo ngôn giáo của Như Lai mà hộ niệm cho”.
Khi Hộ Thế Bốn Đại Thiên Vương nhiễu Phật ba vòng cùng bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, xin vì con nói rộng pháp trì tụng đà la ni nầy."
Phật bảo Tứ Thiên Vương: "Các ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói, cũng vì các chúng sanh đoản mạng mà nói. Trước cần tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo mới sạch, tháng bạch nguyệt ngày rằm tụng đà la ni nầy mãn ngàn biến. Khiến kẻ đoản mạng được sống lâu, vĩnh viễn xa lìa bệnh khổ, tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt, được giải thoát các khổ nơi địa ngục, các loài phi cầm, súc sanh. Các loài hàm linh được nghe đà la ni nầy một lầm qua tai, khi bỏ thân rồi không còn thọ lại nữa."
Phật dạy: "Nếu có người bị bệnh ác nặng, nghe được đà la ni nầy, tất cả các bệnh đều tiêu trừ, cũng hay trừ diệt các ác đạo, được vãng sanh nơi các thế giới Tịch tịnh. Từ đó trở đi, không còn thọ thân bào thai nữa, Liên hoa hóa sanh, sanh ở cõi nào cũng được nhớ trì không quên, biết được túc mạng.
Nếu có người từ trước đã tạo các nghiệp ác nặng, sau khi mạng chung, phải đọa vào địa ngục, súc sanh, Diêm La Vương giới hoặc đoạ ngạ quỉ cho đến đọa đại a tì địa ngục, hoặc sanh trong nước sanh trong loài cầm thú, nên lấy thân phần xương cốt của vong linh, dùng một nắm cát tụng đà la ni nầy hai mốt biến, tán rải trên xương cốt đó, vong kia tức được sanh lên cõi trời.
Nếu như có người hay ngày tụng đà la ni nầy hai mốt biến, đáng thọ của thế gian đại cúng dường, khi bỏ thân vãng sanh Cực Lạc thế giới. Nếu thường niệm tụng đắc Đại Niết Bàn, được sống lâu hưởng thọ các điều vui sướng, bỏ thân tức được sanh về các cõi thanh tịnh vi diệu của chư Phật, được cùng chư Phật ở một chỗ, được chư Phật nói các pháp nghĩa và đều ký thọ cho, thân có hào quang chiếu khắp mọi nơi"
Phật dạy: "Pháp tụng niệm đà ni nầy, nên ở trước Phật dùng đất sạch đắp một cái đàn lớn nhỏ tuỳ ý bốn góc vuông vức, dùng các cỏ thơm rải nơi trên đàn, đốt các hương thơm, hồ quỳ gối phải sát đất, chắp tay nơi tâm niệm Phật kết ấn, co hai ngón trỏ dùng hai ngón cái đè lên chấp tay lại để nơi tâm tụng đà la ni nầy một trăm tám biến. Ơ nơi trong đàn mưa hoa như mây nhóm, biến khắp cúng dường tám mươi tám hằng hà sa na dữu đa trăm ngàn chư Phật. Chư Phật đều đồng khen rằng: "Lành thay! Khó có đây chính là Chơn Phật tử", liền được Vô chướng ngại Trí tam muội, được Đại Bồ đề tâm trang nghiêm tam muội, pháp trì tụng đà la ni nầy như vậy."
Phật bảo: "Thiên Đế! Phương tiện của ta đây khiến tất cả chúng sanh đáng đoạ địa ngục đều được giải thoát, thanh tịnh hết thảy các ác đạo khiến người trì tụng được sống lâu. Thiên Đế, ông nên đem đà la ni nầy trao cho Thiện Trụ Thiên tử, qua bảy ngày sau ông hãy cùng Thiện Trụ lại đây gặp ta."
Khi đó Thiên Đế ở nơi Thế Tôn được thọ pháp đà la ni xong trở về chỗ cũ trao lại cho Thiện Trụ Thiên tử. Thiện Trụ Thiên tử được thọ đà la ni nầy, y pháp thọ trì sáu ngày sáu đêm, các nguyện đều được đầy đủ, các tội đáng phải đọa vào ác đạo chịu khổ thảy đều giải thoát, được vào đạo Bồ đề, được sống lâu vô lượng, rất là Đại hoan hỷ, lớn tiếng khen rằng: "Như Lai thật là ít có, Diệu pháp thật là ít có, minh nghiệm (hiệu nghiệm của chú) thật là ít có. Rất là khó được, con đã được giải thoát."
Khi ấy Thiên Đế trải qua bảy ngày, cùng Thiện Trụ Thiên tử đem các Thiên chúng cầm các tràng hoa, thiêu hương, mạt hương, tràng phan, thiên cái, thiên y, anh lạc, các món trang nghiêm, đi đến chỗ Phật rộng bày đại cúng dường, dùng các thiên y và các anh lạc cúng dường Thế Tôn, nhiễu trăm ngàn vòng, trước Phật hớn hở vui mừng ngồi xuống nghe pháp.
Khi ấy Đức Thế Tôn duỗi cánh tay sắc vàng xoa đầu Thiên Trụ Thiên Tử, nói pháp thọ ký qủa Bồ Đề.
Phật bảo: "Kinh nầy gọi là Tịnh Trừ Nhất Thiết Ác Đạo Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni, các ông nên thọ trì"
Khi đó đại chúng nghe pháp thảy đều vui vẻ tin chịu vâng làm.
________
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ LA NI
Thích Quảng Trí dịch ra Việt - Mùa Đông Bính Tý 1996
https://diendanphatphaponline.com/di...-ni-kinh.9454/
-
-
-
-
DƯỢC SƯ NHƯ LAI
佛教小百科_集一辑_17_佛教的手印_中 社会科学出版社_2003
http://fokuai.com/news/?390_50.html
-
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG
佛教小百科_集一辑_17_佛教的手印_中 � �社会科学出版社_2003
http://fokuai.com/news/?390_81.html
-
Bài 8 - Thế nào là Bố Thí
Viết bởi Kim Cang Tấn Dũng Chuyên mục: Văn tư tu Được đăng ngày 30 Tháng 10 2017
погода львов
купить видеорегистратор
Thế nào là Bố Thí? Hiểu sao cho đúng tinh thần Phật Đạo?
Viết và luận giảng bởi: Kim Cang Tấn Dũng
Ngày 21 tháng 10 năm 2017
Đã từ lâu mọi người, những ai là Phật tử theo đạo, đều được nghe hoặc được giảng ít nhiều về pháp Bố Thí trong nhà phật …
Để hiểu đúng tinh thần nhà Phật trong mọi Văn – Tư – Tu, người đọc / người học Phật cần nắm rõ tinh thần Phật Đạo dưới đây được xem như là một Kim Chỉ Nam (một định lượng đo lường Chánh Pháp) cho mọi suy luận về nghĩa và hành sự. Điều này sẽ được áp dụng cho tất cả các bài viết Văn – Tư – Tu về sau này:
1. Tự lợi – Lợi Tha & Tự Giác – Giác Tha: bất cứ luận nghĩa về lý hay vận dụng về sự đều phải có lợi cho mình và có lợi cho người. Mình được giác ngộ tức là người khác cũng được giác ngộ hoặc ngược lại. Nếu vẫn chưa luận hay dụng được hai mặt này thì xem như vẫn còn chưa thông. Lý sự chưa viên dung.
2. Hiển – Mật Đồng Đẳng: Mọi lý luận về nghĩa hay dụng về sự đều có hai mặt của một vấn đề. Nếu nhìn được phần Hiển thì cố gắng nhìn luôn phần Mật để thấy tính Chân Thật của nó. Hay nói đúng hơn là vận dụng Bát Nhã Trí (cơ bản là Pháp Đối Trị) làm chủ đạo trong tư tưởng, như là mẹ của các Pháp mà Phật đã nói đến.
3. Ngã Nhân Chúng Sanh Thọ Giả như huyễn: tức cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà sanh. Nếu đã do nhân duyên sanh thị thoắt đến thoát đi, có thường có đoạn. Nhìn các hiện tượng bên ngoài để đối ứng vào bên trong và ngược lại. Hiểu được vậy thì mới thấy được Ngã Nhân như Huyễn, mới nắm bắt sâu được tính chân thật của Lý và Sự.
4. Hai Vô Ngã: Pháp vốn Vô Ngã, Nhân cũng vốn Vô Ngã
Phần 1: Thế thì hiểu như thế nào là Bố Thí?
Trước hết chúng ta hãy đi vào mặt Hiển nghĩa của các khái niệm này:
Bố thí là một hành động cho ra bên ngoài. Ngược với bố thí, một hành động nhận vào bên trong là tham. Theo nghĩa hiển khác, bố là khắp nơi - là rộng ra, thí là cho è bố thí là hành động cho ra ngoài càng nhiều càng tốt, ở mọi nơi, mọi thời nếu có thể.
Theo đó, ta có thể nói bố thí tức là cho, là tặng, là biếu, là cúng dường, là dâng trao tùy theo hoàn cảnh, đối tượng mà ngữ nghĩa khác nhau.
Tại sao lại vậy? Vì để thực hiện bố thí, bao giờ cũng phải có đầy đủ 3 thành phần:
- Người cho (có thể gọi là “tác giả”)
- Người nhận (có thể gọi là “thọ giả”)
- Vật cho (vật bố thí có thể là “hữu hình” hoặc “vô hình”)
Ở đây đang mở rộng cụm từ “tác giả - thọ giả” để phần sau khi nói về bố thí ba la mật, chúng ta sẽ nhìn vấn đề dễ dàng hơn trong từ ngữ nhà Phật.
Như vậy, rõ ràng, tùy đối tượng, tùy vật bố thí mà chúng ta dùng các từ ngữ khác nhau như là cho (đối với đối tượng ngang hàng), là tặng (đối với đối tượng phía trên), là biếu (trân trọng hơn nữa), là cúng dường (nếu liên quan đến Tam bảo) v.v….. Nói chung lại, bất cứ cái gì đưa ra ngoài, có người cho & người nhận thì đều được xem là một cách thể hiện bố thí.
Tại sao bố thí lại được coi trọng trong các việc làm của nhà Phật?
- Như chúng ta đều biết, để đưa ra phương thuốc chữa cho 8 vạn 4 ngàn loại bệnh tâm, cách vẫn hay dùng là phương pháp đối trị. Chữa tâm bệnh nào thì hãy dùng đối trị mà chữa. Trong Tam Độc, Tham-Sân-Si thì để diệt cái tham, thay vì chúng ta lấy vào thì giờ chúng ta hãy cho ra và đơn giản là thực hiện pháp Bố Thí để không còn tâm tham.
- Ngoài ra, khi đi vào Lục độ ba la mật, thì việc đầu tiên cần làm là Bố thí ba la mật. Và việc làm đầu tiên này sẽ là nhân để tiếp cận việc làm kế tiếp Trì giới ba la mật …. Cứ thể nhân này quả kia cho đến khi tạo thành 1 vòng tuần hoàn trở lại thì sẽ tạo thành 1 bánh xe chuyển pháp luân.
- Kế nữa, bố thí được coi trọng vì đây là một việc làm có thể thực hiện bất cứ thời nào không cần điều kiện dành cho người tu hành nên rất dễ hành.
Vậy bố thí có bao nhiêu loại?
Nếu nhìn theo vật được bố thí, thì chúng ta có 3 loại là:
1. Tài Thí:
+ Là việc cho ra ngoài những gì liên quan đến tài sản của mình cho người khác có mong cầu hoặc không có mong cầu. Việc làm này mục đích là thể hiện tâm bố thí là chính và mục đích là giảm bớt hoặc không còn tâm tham mà thôi. Không hề có sự thương hại hoặc tự cao trong việc làm này, vì nếu không, chúng ta sẽ được rất ít quả phước bố thí mà tôi sẽ phân tích sâu trong phần 2 khi chúng ta đi vào mật nghĩa bố thí ba la mật.
+ Riêng tài thí, chúng ta có 2 loại:
- Ngoại tài: cho đi các tài sản nằm ngoài thân của mình cho người thọ nhận/ nơi thọ nhận. Đó có thể là tiền bạc, là thức ăn uống, là quần áo, là của cải khác v.v….
- Nội tài: cho đi các tài sản gắn liền trên thân của mình cho người thọ nhận hoặc nơi thọ nhận. Đó có thể là hiến dâng nội tạng cho ai hoặc cho một nơi nào đó cần (bệnh viện, trung tâm ….). Trước kia rất nhiều đệ tử chư Phật hoặc nhiều đời trước khi thành Phật, họ đã từng hành pháp tài thí bằng chính nội tài của mình.
2. Pháp Thí
+ Tùy theo từng tâm mong cầu, mà chúng ta dùng các chân lý nhà phật, các tri kiến Phật, các pháp Ứng-Dẫn-Dụ-Diệt, các bài pháp duyên mà đem pháp phật đến với chúng tình có mong cầu để mong làm lợi lạc cho chúng sanh trong 3 cõi 6 loài.
+ Ai cũng đều thừa biết, Pháp thí bao giờ cũng có quả phước lớn hơn so với tài thí. Đúng là như vậy, nhưng nói vậy là chúng ta vẫn còn nhìn vào mặt hiển mà nói thôi. Thật sự, muốn có quả phước lớn, cho dù là thực hiện tài thí hay pháp thí, điều quan trọng vẫn là phải có Nguyện và Hồi Hướng. Lại nữa, tôi sẽ nói sâu phần này trong phần 2 khi đi vào mật nghĩa của Bố Thí.
+ Riêng pháp thí, chúng ta có 3 loại:
- Pháp thí hý luận (khinh người): cũng là cách nói pháp làm lợi cho chúng sanh ba cõi sáu loài, nhưng cách thể hiện pháp thí đối với người thọ nhận là họ u mê, họ ngu dốt, họ thấp nên dẫn đến sự khinh miệt khi nói pháp, coi thường người thọ nhận pháp thí. Hoặc có khi người thọ nhận đóng góp, chia sẻ thì người hành pháp thí hý luận này họ chấp nghe, chấp thấy, dẫn đến nói pháp 1 chiều hoặc nếu có 2 chiều thì đều không làm lợi chúng sanh mà thực tế chỉ là hý luận. Pháp thí hý luận chỉ dẫn đến cuồng ngông mà không hề có một quả phước bố thí tư lương nào cả. Và đều này là hoàn toàn trái với ý của các chư phật mong cầu.
- Pháp thí thể hiện (cầu danh): là việc thực hiện nói pháp nhưng mục đích là muốn chứng minh sở học, sở cầu, sở đắc của mình cho người thọ nhận pháp thí biết những gì mình đang chứng đắc, đang ngộ nhưng thực sự tâm mong cầu của người thọ nhận pháp thí không có, hoặc nhân duyên mong cầu pháp này lại được nhận pháp khác dẫn đến cuối cùng là cũng không có lợi ích gì cho người thọ nhận. Và điều đó cũng không hề làm lợi lạc gì cho chúng sanh. Chỉ có khác với pháp thí hý luận là họ không có sự miệt thị, coi thường người thọ pháp nhưng pháp thí của họ không có khế hợp với nhân duyên mong cầu mà thôi.
- Pháp thí theo mong cầu (pháp duyên thí): đây mới thực sự là pháp thí có hữu ích – làm lợi cho chúng sanh và sẽ có được phước đức tư lương từ nhân bố thí pháp này. Khi chúng sanh có thật sự mong cầu nghe pháp, thì ta dùng pháp thí cho tâm mong cầu ấy. Và pháp thí này khác với pháp thí thể hiện là họ tôn trọng nhân duyên pháp thí, và họ nói đúng pháp theo tâm mong cầu chỉ mong làm sao lợi lạc nhất cho ngượi thọ nhận pháp. Bất kể pháp thí ấy có cao hay thấp, có nông hay cạn, có thô sơ hay vi tế è miễn làm lợi lạc cho chúng sanh thì nói pháp thí ấy. Người làm pháp thí này không cần phô diễn cái sở học, cái sở đắc, cái sở chứng cho người thọ nhận pháp. Đấy mới là pháp duyên thí mà nhà phật cần người nói pháp làm lợi cho người thọ nhận pháp.
3. Vô úy thí
+ Là cách bố thí không còn sợ hãi, không còn khủng bố tinh thần. Giúp người thọ nhận an lành, cảm giác an lạc, không còn bị khiếp sợ trong tâm trí. Những hành động an ủi, chia sẻ, cảm thông, vỗ về, lắng nghe v.v. …là đều đang hành vô úy thí giúp người thọ nhận giảm bớt sự căng thẳng, sự mất an lành trong đời sống.
Bởi chính vì thế mà phẩn đầu tôi nói pháp bố thí là dễ hành nhất và được chư Phật coi trọng là thế.
Nếu nhìn theo cách bố thí, thì chúng ta cũng có 3 loại:
1. Bố thí có tướng (bố thí theo chúng sanh):
+ Đó là việc thực hiện bố thí này, chúng ta có thấy rõ có người cho (tác giả) và người nhận (thọ giả). Đương nhiên việc bố thí này sẽ tạo nhất định một phước đức tư lương nào đó cho quả bố thí này nhưng lại được xem là cách bố thí theo chúng sanh.
+ Vì sao?
Vì họ cũng thực hiện bố thí nhưng khi họ làm việc này là do họ thấy có người cần, thấy có cho từ trên đưa xuống, thấy có cho từ chỗ cao xuống chỗ thấp, thấy có cho từ chỗ giàu đến chỗ nghèo, thấy có cho từ chỗ dư giả xuống chỗ thiếu hụt. Và như vậy, khi thực hành bố thí này chúng ta vẫn còn chấp cái tướng cho và cái tướng nhận trong khi đó ngay từ định nghĩa bố thí đã nói rõ việc làm bố thí chủ yếu là việc làm để thiện hiện tâm bố thí mà cuối cùng là để làm giảm tâm tham hoặc không còn tâm tham. Như vậy, đối với bố thí chúng sanh, chúng ta vẫn còn nhìn thấy sự phân biệt của việc làm, vẫn còn chấp tướng trong việc làm và như vậy thì phước đức tư lương vẫn sẽ có nhưng đó là phước hữu lậu.
2. Bố thí vô tướng (bố thí theo chư bồ tát):
+ Đó là việc thực hiện bố thí này, chúng ta không còn có sự phân biệt giữa thọ giả hay tác giả nữa. Việc hành pháp bố thí này dựa trên tính bình đẳng mà hành. Nghĩa là, khi chúng ta hành bố thí, không phân biệt giàu-nghèo, sang-hèn, thấp-cao, dư-thiếu mà họ chỉ tập trung làm sao thể hiện tâm thông qua hành động bố thí mà thôi.
+ Trong kinh Kim Cang cũng nói rõ như thế:
“Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng mà bố thí.
“Tu-bồ-đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng.
“Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường.
"Vì thế, Phật dạy các vị Bồ Tát chẳng nên trụ tâm nơi hình sắc mà bố thí. Tu-bồ-đề! Bồ Tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh nên bố thí như vậy.
+ Ví dụ:
Khi hành tài thí, đã cho gạo để hành pháp bố thì này thì cả người nghèo cũng cho mà người giàu cũng cho, cả người ngoài cũng cho mà người trong nhà cũng cho v.v…
Bằng cách nào để làm được như thế? Giả sử muốn bố thí gạo, thì hôm nay để gạo nơi đây, bất cứ ai có nhân duyên đến đây đều được nhận gạo như nhau, không phân biệt là ai, miễn là có đủ nhân duyên ngay thời điểm phát tâm bố thí gạo thì họ đều được nhận hết.
Một ví dụ khác ta thường thấy rất rõ ràng, một ai đó mở quán cơm 2.000đ/dĩa, thì một khi đã đưa bảng lên thì bất cứ ai vào ăn đều như nhau cho dù là ai vào ăn đi chăng nữa thì được xem là bố thí theo bồ tát vì khi đó họ không còn chấp tướng thọ nhận bố thí nữa mà mục đích là chỉ thể hiện tâm bố thí. Nhưng nếu họ chỉ cho người nghèo vào ăn thì vẫn xem là bố thí chúng sanh vì họ vẫn còn phân biệt việc làm, vần còn chấp tướng thọ nhận. Đơn giản là vậy.
3. Bố thí balamat (bố thí theo chư Phật)
+ Vậy thì bố thí balamat hay còn gọi là bố thí theo chư phật khác 2 cái trên như thế nào?
Đầu tiên là bố thí balamat thì hoàn toàn không có phân biệt, không có chấp tướng giống như bố thí của bồ tát vậy. Điểm khác biệt duy nhất ở chỗ là việc làm của bố thí balamat, ngoài việc chỉ thể hiện tâm, họ còn có nguyện và hồi hướng. Tức là họ không hề dùng phước đức bố thí cho họ mà họ làm chỉ vì nguyện và hồi hướng mà làm. Do vậy, không những họ không chấp tướng, không phân biệt mà thậm chí đến cái quả bố thí cũng không nhận mà sẵn sàng hồi hướng quả ấy đến người khác thì sao mà không thể gọi là bố thí theo chư phật?
Tôi sẽ dành phần này đến đây để diễn giải sâu hơn trong phần 2 cho hiểu thâm sâu và mật nghĩa hơn.
Phần 2: Bố Thí hiểu theo tinh thần nhà Phật, tinh thần cầu Vô Thượng Đạo, tinh thần Mật nghĩa và Vi tế?
Như chúng ta đã nói rất nhiều ở trên về mặt Hiển nghĩa (hiểu sơ tế) của bố thí, giờ chúng ta cùng tìm hiểu sâu về mặt Mật nghĩa (hiểu vi tế) của bố thí ba la mật – bố thí theo tinh thần của các chư Phật.
Trước hết chúng ta cần phải hiểu nghĩa: thế nào là balamat?
Balamat – ba la mật – tiếng Phạn nghĩa là pāramitā: tạm dịch là “giải thoát” theo nghĩa đen vậy. Chúng ta có thể xem balamat là vượt qua đáo bỉ ngạn để đến bờ bên kia là niết bàn hoặc giải thoát, đó là nơi cứu cánh, đích đến của vô cực v.v….Tôi sẽ có 1 bài viết riêng về balamat, ở đây chúng ta chỉ đơn thuần hiểu balamat là làm sao thật sự giải thoát (ở trong TÂM) của mình đó, giải thoát đến 1 chút trói buộc, 1 chút sở đắc, 1 chút sở trụ cũng không còn. Khi đạt đến giải thoát thật sự ấy, chúng ta tạm gọi là đang đi và hành balamat vậy. Balamat chính là hạnh của các bồ tát hành, đi vào để hướng đến quả chánh đẳng chánh giác trong tương lai. Tôi chỉ nói đến “giải thoát” thôi nhé, chứ chưa hề nói đến “giác ngộ” nhé. Vì đã giác ngộ hoàn toàn thì đã được xem là Phật hay gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi.
Do vậy, tôi nói rõ bên trên là: khi chúng ta hành balamat, đặc biệt là hành “bố thí balamat” theo tinh thần của bài viết này thì chỉ được xem là bố thí theo tinh thần của các chư Phật mà thôi nhé.
Như phần trình bày ở trên, để đi sâu vào việc làm của bố thí balamat thì chúng ta cần phải có điều kiện “cần” là: phải có nguyện & hồi hướng.
Vậy thì nguyện là gì?
Nguyện nôm na có thể xem đại loại là 1 mong cầu lớn hoặc nhỏ cũng được nhưng không dành cho mình, hoặc có thể xem là 1 loại lý tưởng, 1 loại việc làm vì lợi ích của chung hoặc của ai đó, mà không có mình hoặc nếu có mình thì mình chỉ là 1 phần nhỏ trong việc làm đó thôi. Thông thường thì gọi là nguyện, rộng hơn thì xem là nguyện hạnh (ước nguyện xây dựng đạo hạnh).
Vậy thì hồi hướng là gì?
Hồi là phản hổi, là trả về. Hướng là hướng đến, là đưa về. Hồi hướng là đưa cái gì đó (ở đây có thể xem là quả phước báu của bố thí) về 1 nơi nào đó hoặc ai đó mà có thể hoặc không thể thuộc về mình. Hồi hướng là một việc làm rất được coi trọng vô cùng trong nhà Phật hay thậm chí được xem là hàng đầu. Vì sao vậy? Vì hồi hướng thể hiện rất rõ được cái tính vô ngã, vô tướng, vô nguyện của việc làm. Chúng ta có được, rồi lại ban lại người khác è do đó cái có nhưng lại không có, nhưng thật sự vẫn là có. Đây chính là tinh thần của bát nhã balamat, và nhờ tinh thần mà “có” đấy nhưng “không” thuộc về mình nên gọi là “không” mà vì “không có” nên vô sở trụ và đắc, mà vì “vô sở trụ và đắc” nên mới hướng đến tinh thần “giải thoát” đến một chút dư sót cũng không còn, mà được vậy thì sao không thể gọi là “balamat” !!!!!!.
Rồi, chúng ta đã hiểu rõ điều kiện cần là “nguyện & hồi hướng”, kế tiếp điều kiện cần là gì? Điều kiện cần là chúng ta phải hành bố thí theo tinh thần balamat
Chúng ta đều lầm lẫn cho rằng mình Bố thí Ba La Mật nhưng thực sự thì không phải vậy. Vậy phải làm sao để được xem là balamat đây?
Trong kinh Kim cang nói rằng:
Bố thí mà không phải bố thí thì mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không chấp nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không thấy ta là người cho, đây là vật được cho, và kia là người nhận mới là bố thí v...v...
Vậy hiểu sao đây? Quả là vô cùng phức tạp. Nhưng không, nhờ có “nguyện và hồi hướng” khi chúng ta thực hành bố thí theo tinh thần bồ tát + nguyện + hồi hướng thì việc làm bố thí đó đúng thực là “bố thí mà không phải bố thí thì mới thực là bố thí”
Vì sao lại như thế?
Như chúng ta thấy, khi chúng ta hành bố thí theo bồ tát, chúng ta đã hoàn toàn không còn chấp đến sắc, đến danh & tướng, chỉ mang tâm mong cầu lợi lạc cho chúng sanh. Nhưng quả bố thí đó vẫn có vô lượng phước, vô lượng công đức thì vẫn còn chấp quả. Nhờ hành động hồi hướng đó mà quả chúng ta có cũng không thật sự có vì đã hồi hướng về nơi khác (cũng có thể có mình trong đó). Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ làm hồi hướng mà không có nguyện thì chúng ta lại chấp nhân, vì vẫn còn tâm mong cầu làm lợi lạc cho chúng sanh theo tinh thần của bồ tát. Do vậy, thông qua nguyện, chúng ta làm việc bố thí cũng không hề bị trói ở nhân. Vì sao vậy? vì việc làm đó là vì lý tưởng, vì mục đích chung nào đó như tôi đã nói định nghĩa nguyện bên trên, mà làm vì 1 lý tưởng thì làm gì còn cái ngã trong đó, làm gì còn cái nhân cho việc làm đó.
Cuối cùng thì sao? Chúng ta thật sự có làm hành động bố thí mà nó không phải là bố thí (vì có thấy ai cho ai nhận đâu? Tôi cho là vì nguyện, còn người nhận là do hồi hướng mà nhận mà thậm chí cũng không biết là mình được hồi hướng nữa) thì nhà phật xem đó mới thật sự là việc làm bố thí. Và được xem là bố thì balamat. Phật là người có đủ vô lượng phước, ngài chỉ có cho đi chứ nhận thêm chi. Do vậy, khi chúng ta làm động tác hồi hướng quả phước thì chúng ta cũng tương tự hành động chia sẽ phước báu nên mới gọi là bố thí theo tinh thần nhà Phật là vậy. Bố thí balamat hướng giải thoát là vậy.
Quay trở lại ví dụ bố thí bằng cách mở tiệm cơm 2.000đ. Chúng tá sẽ thấy sự khác nhau ở 3 cấp độ như sau:
+ Đối với bố thí chúng sanh: chúng ta mở tiệm cơm 2.000đ nhưng mục đích chỉ dành cho người nghèo nên chúng ta vẫn còn sự phân biệt tướng, phân biệt việc làm, vẫn còn chấp nhân, chấp quả, vẫn còn thấy cao ban xuống thấp v.v….nên mới gọi đó là bố thí theo chúng sanh và đương nhiên quả phước bố thí này là phưới hữu lượng, phước tư lương mà thôi.
+ Đối với bố thí bồ tát: chúng ta cũng mở tiệm cơm 2.000đ nhưng chúng ta không phân biệt ai cả, bất cứ ai giàu nghèo không qua tâm, hễ ai có nhân duyên hoặc mong cầu đến ăn cơm 2.000đ đều được cả. Mục đích chính vẫn là thể hiện tâm bố thí là chính. Ở việc làm này, chúng ta đã lên 1 bậc vì đã không còn chấp tướng ở việc làm, không còn phân biệt, không có chấp ngã, chấp danh và chấp sắc nên đã được xem là việc làm như các bồ tát. Mục đích là thể hiện tâm và làm lợi tất cả cho chúng sanh và đương nhiên, phước đức là vô lượng phước nhưng vẫn là phước hữu lậu vì chúng ta vẫn còn quả phước đó.
+ Đối với bố thí balamat: đầu tiên chúng ta nghĩ đến việc mở quán cơm 2.000đ là vì 1 một lời nguyện nào đó mà hành (ví dụ: mẹ bị bệnh và chúng ta phát nguyện sẽ mở tiệm cơm 2.000đ để hành hạnh bố thí và cầu cho mẹ hết bệnh). Với nguyện này, họ mở tiệm cơm để hành hạnh bố thí nhưng nhân mở quán cơm không phải vì họ, mà là vì mẹ họ, vì nguyện mong cầu è do đó họ không hề con chấp nhân hay bản thân ngã của việc cho bố thí không hề có là vậy. Khi họ mở quán cơm 2.000đ, họ hành hạnh bố thí hoàn toàn như bồ tát trong thể hiện tâm, không hề có sự phân biệt tướng trong việc làm. Vậy rõ ràng họ đã làm bố thì mà không hề chấp ngã, chấp vật bố thí, chấp tướng thọ nhận bố thí v.v…. Rồi, khi họ có quả phước bố thì này, họ lập tức làm việc kế tiếp là hồi hướng về cho mẹ mình và mong mẹ mình hết bệnh. Vậy thì chấp quả cũng không còn, thậm chí phước tư lương cũng không nhận mà hồi hướng cho mẹ mình thì hỏi thử: có phải làm bố thí mà không có bố thí thì gọi là bố thí balamat như trong kinh Kim Cang viết không?
Đến đây chúng ta đã hiểu rõ thế nào là bố thí vi tế theo mật ý balamat rồi. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vấn đế thì đối với bố thí balamat kể trên, tôi chỉ có thể gọi là bố thí balamat đại thừa, còn bố thí balamat tối thượng thừa lại phải vi tế thêm một bậc nữa.
Vì sao tôi nói thế? Vì qua ví dụ việc làm bố thí balamat trên, thật sự chúng ta vẫn còn chấp ngã nhưng cái chấp ấy rất là vi tế khó nhận biết. Đó là hình ảnh dùng “mẹ mình” để làm nguyện và hồi hướng cho việc làm bố thí nên vẫn còn 1 chút ngã trong đó mặc dù có vi tế.
Để đi vào balamat tối thượng thừa, thậm chí cái nguyện & cái việc làm hồi hướng cũng phải hướng đến Tam Bảo thì mới được xem là balamat tối thượng thừa của việc làm bố thí đó.
Ví dụ rất đơn giản:
- Thay vì chúng ta nguyện cho mẹ hết bệnh mà làm bố thí mở tiệm cơm 2.000đ, chúng ta hãy nguyện vì bất cứ chúng sanh nào có bệnh giống mẹ mình và khi hồi hướng thì chúng ta hồi hướng cho bất cứ chúng sanh nào có bệnh giống mẹ mình. Làm như vậy thì hoàn toàn 1 chút ngã vi tế cũng không còn vì mẹ mình cũng là chúng sanh và mẹ mình là 1 phần trong chúng sanh đó.
- Hoặc chúng ta có thể có những nguyện khác hướng về Tam Bảo mà hành hạnh bố thí và hồi hướng việc làm bố thí về nguyện đó cho được viên mãn. Một số nguyện liên quan đến Tam bảo có thể kể đến là:
o Nguyện cho chúng sanh tiếp cận Tri kiến phật
o Nguyện cho chúng sanh bớt tham sân si
o Nguyện cho chúng sanh phát tâm bồ đề
o Nguyện cho gia đạo hạnh thông để phát tâm từ bi hỷ xả
o Nguyện chúng sanh được giải thoát
o V.v…..
Và sau đó chúng ta hành Hạnh Bố Thí theo kể trên thì đều được xem là Bố Thí Balamat tối thượng thừa.
Phần 3: làm thế nào để hiểu và diệu dụng pháp Bố Thí theo cả tinh thần Hiển nghĩa và Mật nghĩa như trên trong đời sống?
Chúng ta đã đi qua cả tinh thần Hiển nghĩa và Mật nghĩa của việc làm bố thí và chúng ta cũng rõ ràng phân biệt được 3 cấp bậc của việc làm bố thí nếu tính theo tướng làm.
Vậy thì cuộc sống, việc vận dụng theo đó quá đơn giản cho các bạn vì rõ ràng các bạn có thể hành hạnh bố thí theo như trên nói ở: mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi hoàn cảnh tùy theo tâm bố thí của chúng ta mà làm. Thậm chí việc làm Vô uy thí là vô cùng đơn giản cho các bạn hành mọi lúc.
Lại nữa, tùy điều kiện và hoàn cảnh, các bàn hoàn toàn có thể hành Tài thí, Pháp Thí hoặc Vô úy thí nhưng ráng gìn giữ tâm không nên chấp tướng và chấp việc làm nhé.
Nhất là Pháp thí thì chỉ duy nhất Pháp duyên thí là có phước thôi nhé. Không nên hành Pháp thí cầu danh hay pháp thí hý luận nhé.
Về tài thí, các bạn đừng nghĩ chỉ là tiền bạc nhé, bất cứ tài sản gì cũng được miễn là tâm bố thí được thể hiện mới là cái đáng quí nhất trong việc làm hạnh bố thí này nhé.
Đó là các vận dụng vào cuộc sống qua việc hiểu rõ bố thí là gì. Mong người đọc khi tiếp cận bài viết sẽ có cái nhìn thấu đáo hơn về việc làm và ý nghĩa mà hành cho khế cơ khế lý mà có quả phước báu lớn dành cho mình và người.
Như mọi khi, bài viết có sức giới hạn ngữ nghĩa của nó. Do vậy, xin đừng bận chấp mà chê bai mà vui lòng đón nhận đóng góp. Âu mọi thứ cũng là nhân duyên mà c
http://dongphapkimcang.com/vi/index....-tu/192-bo-thi
-
《往生咒》之《心咒》
om amrita teje hara hum
本咒以hum做结尾,这是svaha以外,另一 种常见的咒语结尾语。
amrita甘露;teje威光;hara运用、消除、 移走。
《往生咒》之《心中心咒》
om amrite hum hum
《往生咒》之《阿弥陀佛一字咒》
hrih
所谓一字咒,通常就是以种子字为咒 � �种子字的观念是指用一个字(音节 � ��代表一位本尊,就像年轻人用英 的 T简称Tony,或J简称Jennifer一样。
《往生咒》之《藏传阿弥陀佛心咒》
om amideva hrih
ami是无垢之意,dheva是deva,即天之意 � �因此amidheva应是无垢天。
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...ge74&styleid=4
-
-
-
-
-
-
-
Ngũ-Thể-Tịnh Chơn Ngôn: Án Vĩ-Thử-Đề Ta Bà Ha
( Niệm Chú này 5 biến để sạch Ngũ Thể là: 2 Chân, 2 Tay và Đầu )
即说咒曰。唵(一)毗输提(二)莎诃(三)
Om visudhi svaha
读音:嗡 V速底 斯哇哈
=> Phổ Quảng phục hồi Phạn Chú: OM VISUDDHI SVAHA
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%C3%A3/page127
-
-
-
Smoke Puja Sadhana
Manjushri BlessingMarch 23, 2019Sadhana / Teachings
Smoke Offering Sadhana for Liberation of the Deceased, Karmic Debtors, and Demonic Forces
by Tenzin Zangpo Rinpoche
While burning the offering of food and incense powder, arise with great compassion for all the sentient beings, and contemplate that in whatever way the Lama, buddhas, and bodhisattvas will take refuge and generate Bodhicitta, may I do so the same way. Recite the following:
Taking Refuge and Generating Bodhicitta (3 times)
SANGYE CHO DANG TSOK KYI CHOK NAM LA In the Buddha, Dharma and Supreme Sangha;
CHANGCHUB BARDU DAK NI KYAB SU CHI I take refuge until I attain enlightenment;
DAK GI JIN SOK GYIPE SONAM KYI Through the merit of practicing generosity and the rest;
DRO LA PEN CHIR SANGYE DRUBPAR SHOK May I attain Buddhahood for the benefit of all beings.
The Four Immeasurables (3 times)
SEM CHEN TAM CHAY DE WA DANG / DE WAY GYU DANG DEN PAR GYURCHIG
May all sentient beings have happiness and the causes of happiness.
DUG NGEL DANG / DUG NGEL KYI GYU DANG DREL WAR GYUR CHIG
May all sentient beings be free from suffering and the causes of suffering.
DUG NGEL ME PAY / DE WA DEN PA DANG MI DREL WAR GYUR CHIG
May all sentient beings never be separated from the happiness that knows no suffering.
NYE RING CHAG DANG / NYI DANG DREL WAY DANG NYOM LA NAY PAR GYUR CHIG
May all sentient beings live in equanimity, free from attachment and aversion.
The Six Transcendent Perfections Sadhana
The Six Transcendent Perfections (Six Paramitas) Sadhana is the ritual to transform the Six Paramitas (generosity, discipline, patience, diligence, concentration, transcendent wisdom) into nectar food, and with no discrimination the nectar food are offered to all guests of compassion*, so that all sentient beings are satisfied and content.
* Guests of Compassion refer to the deceased, intermediate beings, hungry ghosts, and demonic beings, etc.
The Five Blessings refer to the blessings of body, speech, mind (wisdom), merits, and activities from the buddhas and bodhisattvas.
DI NI CHIN DRUK RANG ZHIN ZE This is the food essence of the Six Paramitas
TSHE DE RIG KYI BU KHYOD KYANG All the deceased and aborted children
ZE CHOG DI LA LONG CHOD CHING Enjoy these wonderful food
CHIN DRUK ZE KYI TSHO WA SHOG Enjoy all the food tormas of the Six Paramitas
Alas, the Three Jewels hold dear in mind the guests in compassion.
The holy lords’ Five Blessings are inexhaustible and continuously bestowed.
As sentient beings cycling endlessly within the six realms,
We request for swift rebirth in the Buddhafield of Ultimate Bliss.
Recite the following mantras for 3 to 7 times, or the more the better. If with difficulty, recite only the mantra of Avalokitesvara as much as possible.
Avalokitesvara Mantra
OM MANI PADME HUNG HRI (3 to 7 times)
Vajrasattva Hundred Syllable Mantra
OM VAJRA SATTVA SAMAYA MANUPALAYA
VAJRA SATTVA TENOPA TITHRA DRIDHO ME BHAWA
SU TO KHAYO ME BHAWA SU PO KHAYO ME BHAWA
ANU RAKTO ME BHAWA SARWA SIDDHI MEM PRA YATTSA
SARWA KARMA SU TSA ME TSITTAM SHRI YAM KURU HUNG HA HA HA HA HO BHAGAWAN SARWA TA THAGATA VAJRA MA ME MUNTSA VAJRI BHAWA MAHA SAMAYA SATTO AH (3 to 7 times)
Buddha Aksobhya Mantra
NAMO RATNA TRAYAYA OM KAMKANI KAMKANI ROTSANI ROTSANI
TROTRANI TROTRANI TRASANI TRASANI PRATIHANA PRATIHANA
SARVA KARMA PARAM PARA NIME SARVA SATO NANTSA SVAHA ( 3 to 7 times)
Hundred Peaceful and Wrathful Deities Mantra, Primordial Oneness Mantra,
Six Realms Vajra Mantra
OM AH HUNG BODHI CHITTA MAHA SUKHA JNANA DHATU AH OM RULU RULU HUNG JO HUNG /
MAMA KOLING SAMANTA / AH AH SHA SA MA HA (Recite three mantras in succession 3 to 7 times)
Dedication
Contemplate that in whatever way the Guru, Buddhas, and Bodhisattvas will dedicate merits, I will do so the same way. Recite the following:
Through this merit,
May I quickly accomplish the Avalokitesvara,
May all beings without exception,
Be established at this very state.
If time permits, recite the Bodhisattva Samantabhadra’s “Aspiration to Good Actions” (The King of Aspiration Prayers); otherwise, recite the following:
Just as the warrior Manjushri attained omniscience,
All these merits now I dedicate
Praise dedication as supreme,
So now I dedicate all these roots of virtue
For all beings to perfect Good Actions.
By dedicating this “Aspiration to Good Actions,”
Through the true and boundless merit attained
May all those now drowning in the ocean of suffering,
Swiftly reach the supreme realm of Infinite Light Amitabha!
And Samanthabhadra too.
To train and follow in their footsteps.
As all the victorious buddhas of past, present, and future
This Smoke Offering Sadhana was composed at Liaoxi Monastery by Tenzin Zangpo Rinpoche based on the terma revealed by the great terton Rigdzin Godem. Tenzin Zangpo Rinpoche performs this ritual daily for the liberation of the deceased. This practice is of the supreme merit!
https://manjushriblessing.org/smoke-...n-of-deceased/
-
KỆ-CHÚ
TỊNH HÓA CÁC PHẨM VẬT CÚNG DƯỜNG
( Sái Tịnh làm trong sạch Phẩm Vật Cúng Dâng )
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
Tâm thành kính sạch trong tất cả
Pháp Như Lai biến hóa khôn lường
Sạch trong phẩm vật cúng dường
Kính thành trì tụng tỏ tường không sai
NAMÔ LY CẤU ĐỊA BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Tịnh Thân-Khí Thần-Chú ( 淨身器神咒 ):
. 唵秫殿都戌馱曩野娑婆訶 ( 7x ) / 唵秫殿都成馱曩野娑婆訶 ( 7x )
.Án thuật-điện-đô thành-đà-na-da ta bà ha ( 7 lần )
. OM SUDDHYANTU-SADHANAYA SVAHA ( 7 lần )
---------------------------------------------------------------
#CHÚ THÍCH:
*Tịnh Thân-Khí Thần-Chú ( 淨身器神咒 ):
. 唵秫殿都戌馱曩野娑婆訶 / 唵秫殿都成馱曩野娑婆訶
.Án thuật-điện-đô thành-đà-na-da ta bà ha
. OM SUDDHYANTU-SADHANAYA SVAHA
( Phàm dùng Lễ Vật chi để Cúng Phật, nên Niệm Thần Chú này 5 biến - 5 lần; thì sạch cả Thân Căn - Kayendriya và Khí Giới - Gandhadhatu ).
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...1%BB%80N/page5 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...=1#post1689081
-
BỘT NGŨ VỊ HƯƠNG TẨY UẾ BAN THỜ 🌟
Ngũ vị hương được chế từ theo công thức 5 loại thảo mộc hương liệu khác nhau 100% tự nhiên, mùi thơm, đặc tính dược liệu giúp thư giãn, tẩy uế, mùi hôi trong phòng, làm sạch bao sái ban thờ và các vật dụng.
Cuối năm là thời điểm chúng ta dọn dẹp nhà cửa, với quan niệm để đón một năm mới đầy may mắn, mới mẻ, cát tường. Ngũ vị hương được làm từ các dược liệu quý như hồi, đinh hương, tô mộc, đàn hương, quế giúp tẩy uế bao sái sạch sẽ nơi trang thờ trang nghiêm, mùi thơm đặc trưng giúp thư giãn, tâm trạng phấn khởi để chào đón một năm mới thật cát tường.
Cách sử dụng:
Đun nước sôi, hoà bột vào đun khoảng 2p, sau đó có thể hoà thêm nước nguội để sử dụng.
Ngoài ra còn có thể dùng làm bột hương đốt xông quanh nhà, tịnh thất,... đổ bột ra lư nhỏ, đốt xông quanh người, rồi đi quanh nhà, chú ý mọi ngóc ngách trong nhà kĩ càng, sau đó để ra ngoài cửa cho đến khi cháy hết. (Chú ý không cần đốt quá nhiều bột tránh ra nhiều khói trong nhà)
Nhân dịp cuối năm, khi mua bột ngũ vị hương, KCBN thân gửi tặng lì xì may mắn và sợi chỉ ngũ sắc, chúc cho các anh chị em đạo hữu năm mới tinh tấn, hạnh phúc và đầy an lạc!
=================================
Quý Thầy, đạo hữu hoan hỉ để lại thông tin bên dưới để được tư vấn và đặt giao hàng toàn quốc.
https://encrypted-tbn0.gstatic.com/i...VYzrFACZ616A&s
https://www.facebook.com/vajrapajna/...8808025184299/
-
HƯƠNG BỘT MAR SUR 🌿
Sur trong tiếng tây Tạng là "cúng hương" - một phép thực hành thường nhật của người dân lẫn các vị Lạt Ma ở tu viện vùng Himalaya. Trong Tử Thư Tây Tạng (Bardo Thodol) có nói rõ, việc người mất đi trong 49 ngày sẽ tồn tại dưới dạng "thân trung ấm", có một số sách dịch là thực hương thể, linh hay vong. Cho dù gọi như thế nào đi chăng nữa, thì thể này phải "sống" nhờ hương.
Có 2 loại nhang Sur. Nếu nhang Sur chỉ làm "thuần chay" người ta gọi là Kar Sur (hoặc Kur Sur). Còn nếu trộn lẫn thêm thịt, mỡ động vật, máu gọi là Mar Sur. ĐÂY LÀ MAR SUR !
Cúng dường nhang Sur là một trong những truyền thống lâu đời nhất ở Tây Tạng và truyền thống Kim Cang Thừa nói chung. Khi cúng nhang Sur, hành giả quán tưởng dâng lên chư Phật, chư Bồ Tát cùng các vị Hộ Pháp trong thập phương để gia hộ và tích lũy Ruộng Phước. Khi đốt nhang Sur, hành giả phải quán tưởng tất cả nguyên liệu thanh tịnh như đã nói trên trong tánh không. Sau đó từ nền tảng tánh không này quán tưởng nhưng tinh túy mật ngọt của nguyên liệu này dưới dàng mùi hương thanh tịnh, sau đó dâng cúng lên chư vị. Quan trọng nhất của cúng nhang Sur là thể hiện giới thứ nhất trong 6 phép Ba La Mật: Bố Thí Ba La Mật - nhờ đó ngạ quỹ, thân trung ấm, các hương hồn vất vưởng có thể thọ hưởng phần nào đó để giảm bớt cơn đói khát.
Ngoài ra, hành giả thường trì tụng thêm Minh chú 3 chữ "Om Ah Hung" kết hợp với chuông để "mời gọi".
nguồn: padmeshop
Hương bột Mar Sur cúng buổi tối, khác với Riwo Sangchod cúng buổi sáng.
Xuất xứ: Larung Gar, Tây Tạng
Thành phần: 3 trắng (sữa, sữa chua, phô mai) 3 ngọt (đường, đường mật, mật ong), ngũ cốc, thịt, nghệ tây,...
Trọng lượng: 500g/hộp
====================================
Quý thầy, đạo hữu hoan hỉ để lại thông tin bên dưới hoặc inbox cho Kim Cang Bát Nhã để được tư vấn và đặt giao hàng toàn quốc
🏠Tầng 3, 11 Ngõ Giếng, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
☎️0377544026
https://scontent.fsgn5-6.fna.fbcdn.n...e0&oe=5ED70ED9
https://www.facebook.com/vajrapajna/...8808025184299/
-
THUỐC TÀI BẢO ĐỀN ZAKI - THUỘC TU VIỆN SERA, TÂY TẠNG🌿
Thuốc tài bảo được làm tại đền Zakiram, một trong những ngôi đền mà mọi doanh nhân đều đến tại Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng.
Đền Zaki nằm trên đường Zaki ở ngoại ô phía bắc Lhasa. Đây là ngôi đền duy nhất của sự giàu có ở Tây Tạng. Mặc dù ngôi đền nhỏ nhưng rất thịnh vượng. Điều này được hiểu rằng Đền Zaki là một ngôi đền nhánh của Tu viện Sera thuộc dòng Gelug của Phật giáo Tây Tạng. Trong tiếng Tây Tạng, "Zaba" có nghĩa là "nhà sư", "ji" là một biến thể Tây Tạng của số "4", và Đền Zaki là "một ngôi đền có 4 nhà sư". Đây là vì Zaki ban đầu Ngôi đền được quản lý bởi 4 nhà sư từ Tu viện Sera.
"Thần tài" trong Đền Zaki được gọi là "Zakiram" trong tiếng Tây Tạng. Người ta nói rằng đây là hóa thân thế gian của vị nữ bảo bộ Palden Lhamo của thành phố Lhasa, ban đầu vào thời nhà Hán, và sau đó đến Lhasa với một vị Đạo sư tu viện Sera (cũng được cho là đã ở cùng với Công chúa Văn Thành, người đã mang bức tượng nổi tiếng Jowo Rinpoche đến Tây Tạng khi kết hôn cùng với vua Tây Tạng là Tùng Tán Cán Bố). Do đó, Đền Zaki được coi là ngôi đền giàu có duy nhất ở Tây Tạng.
Ở đây, mỗi thứ tư hằng tuần là ngày tốt để cầu nguyện đến Zakiram, vị thần giàu có nhất của Tây Tạng. Vào ngày này, mọi người mang rượu, hương hoa, từng người một đến nữ thần, cầu nguyện cho sự thịnh vượng và giàu có trong kinh doanh. Người ta nói rằng bà là hóa thân của vị nữ Hộ pháp Palden Lhamo của dòng Gelug (mũ vàng).
Zakiram không chỉ là một vị thần của sự giàu có, mà còn ban phước cho hòa bình, sức khỏe và công việc trôi chảy.
▶️Cách sử dụng thuốc:
1. Yểm tượng các bổn tôn tài bảo, bảo bình, tượng Phật,...
2. Dâng cúng như một món tài bảo trước các bức tượng Phật; bổn tôn tài bảo
3. Đặt trong nhà như một món tài sản;
4. Treo trên mũi tên chiêu tài như một nguồn may mắn
5. Đặt nó trong hòm kho báu hoặc đặt nó với những thứ quý giá như một nguồn của cải, chẳng hạn như một chiếc két sắt.
6. Mang nó theo bạn như một vật bảo hộ
▶️Không có sự khác biệt giữa các màu vải bọc bên ngoài, Kim Cang Bát Nhã sẽ giao ngẫu nhiên !
====================================
Quý thầy, đạo hữu hoan hỉ để lại thông tin bên dưới hoặc inbox cho Kim Cang Bát Nhã để được tư vấn và đặt giao hàng toàn quốc
https://scontent.fsgn5-5.fna.fbcdn.n...1d&oe=5ECDFF00
https://www.facebook.com/vajrapajna/...8808025184299/
-
-
-
https://4.share.photo.xuite.net/elvi...34894140_m.jpg
Kyabje Lama Zopa Rinpoche said,
"Anyone who sees this mantra even once, will purify 100,000 eons of negative karma and obscurations." The mantra reads, "Om Hanu Bha-sya Bha-ra Heye Svaha".
喇嘛梭巴仁波切說,“僅僅見到此咒 遍,就能凈除十萬劫的惡業和罪障。
咒曰,“唵 哈怒 巴夏巴惹 黑耶 梭哈”。
https://blog.xuite.net/elvirayang/tw...9A%9C%E2%80%9D
-
《om bhara bhara, sambhara sambhra, indriya-viśodhani hum hum phat phat ruru cala svaha》.
http://dsr.nii.ac.jp/toyobunko/VIII-...r/0444.html.en
-
Hộ Thân - hoasentrenda.orgwww.hoasentrenda.org › BoAnKhe › boankhe-final
PDFTranslate this page
Feb 10, 2009 - OM, KILI KILI VAJRA VAJRA CHUN VANDHA VANDHA HÙM PHẠT. - Hai ngón áp ut và giữa ... OM, BHARA BHARA DHANÊ SÊRI SAMATA ADHA ADHA ... BANDHANI VAJRA PADNIPHẠT HÔ HÙM DHURU PHAT SWAHA.
http://www.hoasentrenda.org/ThuVienH...nkhe-final.pdf
-
An Sĩ Toàn Thư - chùa Phước Huệwww.chuaphuochue.com › AnSiToanThu-t1-AmChatVan-qThuong
PDF
dâm dục thì người có chút trí tuệ đều có thể tự xét mà kiềm chế không phạm ... 1 Tỳ-sa-môn Thiên vương, là vị Thiên vương ở cõi này, cung điện đặt tại khoảng
http://www.chuaphuochue.com/AnSiToan...an-qThuong.pdf
-
Mười hạt thóc được thoát nghèo1
Đời Tùy, ở núi Chung Nam có vị thánh tăng
là Thích Phổ An. Mỗi khi ngài đến chỗ đông
người, thiên hạ lại tranh nhau thiết lễ cúng dường
thỉnh ngài thọ trai.
Ngày kia, ngài đến thôn Đại Vạn. Trong thôn có
người tên Điền Di Sanh, nhà nghèo đến mức chẳng có
gì ngoài bốn bức vách trơ vơ. Ông có bốn người con gái,
quần áo chẳng đủ che thân. Cô con gái lớn nhất tên là
Hoa Nghiêm, khi ấy đã được 20 tuổi, ngoảnh nhìn lại
gia sản chẳng có gì ngoài hai thước vải thô xấu. Nghĩ
mình nghèo khổ thật quá đỗi, chẳng biết lấy gì để làm
việc bố thí tạo phước, chỉ biết ngửa mặt nhìn lên mái
nhà đau xót, bất chợt nhân đó thấy trên cây xà ngang
có một lỗ hỗng nhỏ, bên trong có một nhúm thóc nằm
vương vãi. Cô tìm cách lấy xuống, xem kỹ nhặt ra được
mười hạt thóc vàng. Liền đem mấy hạt thóc ấy lột vỏ
trấu, chà sạch lớp cám bên ngoài, định mang cùng với
hai thước vải thô dâng lên cúng dường thánh tăng.
Thế nhưng khi cô nhìn lại mình, chẳng còn mảnh
vải che thân nên không thể ra khỏi nhà được. Liền chờ
lúc đêm tối mới ra khỏi nhà, không dám đứng thẳng
đi mà bò sát dưới đất, hướng về chỗ vị tăng đang trú
ngụ, mang hai thước vải thô bỏ nơi bên ngoài phương
trượng, còn mười hạt gạo thì tự tay mang đến bỏ vào
nồi cơm đang nấu, trong lòng thầm khấn nguyện rằng:
“Tôi đời trước do tham lam bỏn xẻn nên nay phải chịu
quả báo nghèo khổ cùng khốn. Nay đối trước chư Phật
xin thành tâm sám hối, nguyện đem chút vật phẩm
nhỏ nhoi này cúng dường chư tăng. Nếu như nghiệp
báo nghèo khổ khốn cùng của tôi đến nay đã dứt, xin
cho tất cả những hạt cơm đang nấu trong nồi này đều
hóa thành sắc vàng.” Khấn nguyện rồi gạt nước mắt
mà quay về nhà.
Sáng sớm hôm sau, chư tăng đều thấy trong cái
nồi ấy nấu đến năm thạch gạo mà toàn bộ cơm trong
nồi đều hóa thành sắc vàng. Không ai biết vì sao, chỉ
có Đại sư Phổ An quán biết nhân duyên sự việc liền
nói rõ cho mọi người biết. Ai nấy nghe qua xúc động
không kiềm được, đều cho cô gái họ Điền là người có
tâm địa tốt. Nhân đó, rất nhiều người mang tài vật
đến giúp đỡ cho gia đình Điền Di Sanh. Cô gái ấy sau
lại phát tâm xuất gia học đạo.
http://www.chuaphuochue.com/AnSiToan...an-qThuong.pdf
-
Tích âm đức cho cha mẹ1
Lâm Thừa Mỹ người ở Phúc Kiến, mồ côi cha
từ thuở bé, người mẹ ở vậy thủ tiết thờ chồng,
vất vả nuôi con. Thừa Mỹ lớn khôn ngày đêm buồn
khổ than khóc, không biết làm cách nào để báo đáp
công ơn cha mẹ.
Nhân có một vị thiền sư bảo ông rằng: “Người con
hiếu thảo nghĩ đến công ơn cha mẹ, buồn khổ khóc lóc
cũng chỉ vô ích thôi. Phải tìm cách mà báo đáp mới được.”
Rồi lại dạy rằng: “Làm việc thiện thì cha mẹ được
lợi lạc, làm việc xấu ác thì cha mẹ phải buồn lo. Kẻ làm
con muốn báo đáp công ơn cha mẹ, nên tự mình tránh
việc giết hại, cứu vật phóng sinh, rộng tích âm đức,
như vậy có thể báo đáp được công ơn cha mẹ.”
Thừa Mỹ nghe lời tỉnh ngộ, từ đó phát nguyện giới
sát phóng sanh, rộng làm nhiều điều phước thiện. Sau
ông sống thọ đến 96 tuổi, bình sinh trong việc khoa
bảng cũng từng đỗ đầu ở Phúc Kiến.
http://www.chuaphuochue.com/AnSiToan...an-qThuong.pdf
-
Người mù được thấy1
Vào đời Hậu Chu có Trương Nguyên, tên tự là
Hiếu Thủy, năm lên 16 tuổi thì ông nội bị mù
mắt. Trong suốt 3 năm, Trương Nguyên ngày đêm lễ
Phật, cầu phước đức. Một hôm đọc kinh Dược Sư, thấy
trong đó có nói đến việc “người mù được thấy”, liền y
theo trong kinh dạy, thỉnh 7 vị tăng, thắp 7 ngọn đèn,
trong 7 ngày 7 đêm liên tục tụng đọc kinh Dược Sư,
vừa bái lạy vừa khóc, khấn nguyện rằng: “Lạy đấng
Thiên Nhân Sư,2
Trương Nguyên này làm đứa cháu
bất hiếu, khiến cho ông nội phải mù lòa. Nay nguyện
mang ánh sáng đèn rộng thí khắp cõi pháp giới, nguyện
cho chính con chịu mù lòa thay, để mắt ông nội được
sáng.” Tha thiết ân cần lễ bái khấn nguyện như vậy
trải qua 7 ngày, đêm ấy nằm mộng thấy có một ông lão
dùng kim vàng khơi vào tròng mắt cho ông nội mình,
lại bảo Trương Nguyên: “Con đừng lo, sau 3 ngày mắt
ông nội con sẽ sáng lại.”
Trương Nguyên trong mộng vui mừng phấn khích
vô cùng. Lúc tỉnh giấc liền đem sự việc kể lại với mọi
người trong nhà. Ba ngày sau, ông nội Trương Nguyên
quả nhiên được sáng mắt.
http://www.chuaphuochue.com/AnSiToan...an-qThuong.pdf
-
-
无量寿佛心咒:嗡 (wēng) 阿 (a) 嘛 (mā) 喇 (ra) 呢 (ni) 基 (ji) 万 (van) 底 (di) 耶 (ye) 梭 (suō) 哈 (hā)
http://zhenghanjewelry.lofter.com/ta...-1489121460524
-
皈依地藏菩萨咒:那(na) 摩(mo) 啊(a) 利(li) 呀 (ya) 克(ke) 施(si) 地(ti) 嘎 (ga) 诃(he) 哈(hā) 雅(ya)
地藏王菩萨心咒:嗡(wēng) 哈(ha) 哈(ha) 哈(ha) 微(vi) 斯(s) 摩(mo) 耶(ye) 司(s) 哇(va) 哈(hā)
地藏菩萨灭定业真言:嗡(wēng) 琴(qing) 西(xī) 惹(re) 扎(zha) 吽(hōng) 嗡 (wēng 帕(pa) 拉(la) 玛(mǎ) 尼(ni) 达(da) 扎(zha) 吽(hōng) 帕(pa) 梭(suō) 哈 (hā)
http://zhenghanjewelry.lofter.com/ta...-1489121460524
-
(30)成就一切咒真言:唵,吒吒吒乌, 智置智吒乌,吒乌,吒乌,吒乌,婆 日纳,萨达婆,惹吽梭诃,纥哩鹤吽 吒。
此真言成就一切咒,能摄伏一切 ,成办一切事。
http://www.moyeke.org/index.php/2017...2%92%E8%AF%AD/
-
-
-
KHAI ĐÀN – Pram Nguyen
CuSiTaiGia by CuSiTaiGia in TÂM LINH
0
KHAI ĐÀN
KHAI ĐÀN
Mục Lục Ẩn
KHAI ĐÀN
ĐỌC CHÚ HỘ ĐÀN RA SAO?
Soạn giả Pram Nguyen
Ngày 6/5/2020
– nhằm ngày 14 tháng tư
– Ngày mai Rằm tháng Tư, Đại Thừa Phật Giáo sẽ kỷ niệm Phật Đản. Hãy nhớ nghĩ về Phật Thích-Ca!
— o00 —
Đêm nay, 5/6/2020, 12 giờ khuya: comet Halley hiện lại, sao băng rất nhiều và mặt trăng rất lớn sẽ là dịp tốt khai Đàn.
Ở Việt Nam thì lúc 11 giờ sáng ngày rằm (7/5/2020) các cháu mến mộ Nhứt Thừa Đốn Giáo nên nhín chút thời gian mà tụng 4 Chân ngôn.
Người Tây Tạng tụng Chú trọng về âm lượng.
Tếng Tây Tạng phát xuất từ tiếng Phạn nên giọng đọc khác tiếng Việt.
Ta chủ trương lấy tâm mà tụng, không tụng ra tiếng lớn.
Khi tụng phải nhớ chư Tôn. Ví dụ, tụng Om muni muni mahamuni svaha thì phải nhớ mình là Thích-Ca Thế-Tôn, không được nghĩ khác! Nghĩ khác khi tụng là ma tụng!
Chú tụng ra thì chư Thiên, Đại Quỷ Thần sẽ phủ phục bên mình, vì vậy, làm sái sẽ bị trừng phạt, làm thuận Chánh-Pháp chư vị trợ uy; khởi tà tâm thì chư vị liền bỏ đi! Chư vị bỏ đi thì vong, ma, ác quỷ thần sẽ ập đến.
Vì vậy, đa số người tụng Chú Đại Bi sai Kinh, và tâm mong cầu, nên nhiều thường bị vong, ma, ác quỷ thần chiếm đoạt tâm can!
Xem bài trước:
Pram Nguyen
4 Tháng 5 lúc 19:29
Ta cho phép 4 đệ tử bên Mỹ sang làm ngoại hộ Đàn. Ta thâu nhận đợt tháng 9/2019
5/4/2020
Nhằm ngày 12/4/2020 âm lịch
Đàn sẽ hoàn tất ngày rằm tháng 4.
1 giỏi thiên tượng
1 giỏi địa chấn
1 giỏi lựa bông hoa và nấu ăn cúng
1 giỏi về Thiền
Cả 4 trên đường.
Các con muốn hộ đàn thì đọc mỗi ngày
Om muni muni mahamuni svaha
Om aksobhya hum
Om buddhalocani svaha
Om manjusri dhih
Trong 10-14 ngày.
ĐỌC CHÚ HỘ ĐÀN RA SAO?
Ngày 6/5/2020
Bạn Hoàng Nguyen đã làm trợ duyên cho các cháu.
Khi đọc thì đọc thầm, tâm nghĩ đức Thế-Tôn!
Lan Thu Bậc Đạo Sư chỉ dạy việc Hộ Đàn như sau: “Sáng đọc, không cần phương hướng, ở trước bàn thờ hay trong giường, ngồi ngay ngắn đọc.”
Om Muni Muni Mahamuni Svaha
Om Aksobhya Hum
Om Buddhalocani Svaha
Om Manjusri Dhih
Phiên âm ( Âu Dương Quốc UY )
Ôm (kéo dài) mu ni, mu ni, ma ha, mu ni, soa ha
Ôm (kéo dài), A Sô Bi A, Hùm
Ôm (kéo dài), Bút Đa Lô Ca Ni, Soa Ha
Ôm (kéo dài), Men Giơ Ri, Đi (kéo dài)
Đây là 4 câu Tâm chú của:
Tâm chú của Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn
Tâm chú của A Súc Bệ Phật
Tâm chú của Phật Nhãn Phật Mẫu
Tâm chú của Văn Thù Thế Tôn
Nguyen Vu Thuy Duong Dạ con xin làm theo lời Chú chỉ dạy
Nguyễn Lê Minh Đức Tạ ơn tôn sư ban Pháp Lành, con sẽ y giáo phụng hành.
HoangTung Pham con sẽ ghi nhớ và cố gắng dụng công hộ đàn ạ. 🙏🙏🙏
Nguyen Liem Titi Dạ thưa Thầy, chúng con xin đảnh lễ bậc Đạo Sư Cao Quý. Chúng con xin y giáo phụng hành. 🌻
Lệ Nguyên Nam mô Diên Mệnh Địa Tạng Vương Bổn Tôn . Cảm ơn thầy đã chỉ dạy .
Trương Nga Dạ vâng ạ! Cảm tạ Sư Phụ đã khai thị ạ.
“Khi tụng phải nhớ Chư Tôn.”
Tụng Chú nào, thì phải nhớ mình là Đức Phật hoặc Bồ Tát ấy!
Bí yếu là đây ạ. Vì đa phần người tụng Chú dùng thân người hèn mọn mà tụng nên sai Pháp, ma nhiếp trì…
Minh Tú Dương Con xin vâng lời Sp
Từ Nam Con cảm ơn Thầy ban Pháp🙏🙏🙏
Hạnh Phạm Cảm ơn chú đã chỉ thẳng nói rõ
NAM MÔ THÍCH CA MƯU NI PHẬT
NAM MÔ DIÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT
Chi Vo Dạ, con xin nghe lời dạy bảo của Người ạ 🙏🏻
Mai là ngày lành, thật hạnh phúc được Thầy chỉ dạy và nhắc nhở thời lúc tốt nhất để hướng tâm đến các Đấng Đại Bi, đặc biệt Từ Bi Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni.
Con xin cảm tạ Thầy đã giáo huấn chúng con thật đúng lúc để kết nối và hoà nguyện với nặng lực vô biên của Chư Phật & Bồ Tát. Con thật rất ưng vui được Người từ bi chỉ dạy ạ 🙇🏻♀️😌
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! 🙏🏻
Nam Mô Diên Mệnh Địa Tạng Thế Tôn!🙏🏻
Nam Mô Thầy Pram Nguyễn, ngọn đuốc thắp sáng tuệ thức trong lòng mỗi chúng con! 🙏🏻
Pram Nguyen Bây giờ, con hãy thắp sáng tự tâm của mình!
Chi Vo Pram Nguyen dạ, con đang tự thắp mà đi đây Thầy
Sam Salish Hạnh phúc quá. ❤ Con sẽ góp chút sức lực giúp đỡ cho chú. ❤ Nguyện chú viên mãn.
Ngọc Thiện Cảm ơn chú ạ, con làm sai bét rồi vì nghĩ “trợ chú nên nhớ chú” con sẽ sám hối, mong các vị cõi trên tha con ạ 🙏🙏🙏
Pram Nguyen Biết sai thì sửa. Chỉ sợ biết sai mà cố tình né tránh.
Ngọc Thiện Pram Nguyen Dạ
Hanh Nguyen Pram Nguyen dạ Thầy nói không sai. Hôm nay con tụng chân ngôn của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni và quán tưởng đến Người thì Người ngồi ngay trước mặt tỏa hào quang giữa trán. 3 chân ngôn sau con lại quán tưởng đến Thầy nhưng con thấy Thầy hiện ra mà không đúng ạ, cảm giác không phải Thầy. Con xin ghi lòng tạc dạ và sửa chữa.
Huynh Son Thuc Anh Con xin góp chút sức tụng mỗi sáng ạ 🙏💛
Minh Thiền 🙏🙏🙏,Dạ chúng con xin Tri Ân Bậc Đạo Sư và Y Giáo Phụng Hành ạ.
Nguyện cho Pháp Đàn của Ngài Thành Công Viên Mãn.
Nguyen Minh Nguyet Dạ Thầy! 🙏🙏🙏
GK Tài Con cảm Ân chú 🙏🏻🙏🏻🙏🏻
Thiên Đồng Chân thành cảm ơn Chư Vị từ bi chỉ rõ bí quyết trì chú quán tưởng. Thật là chân chính, đúng mực! 🌟
Trinh Truong Dạ con xin ghi nhớ lời Ân sư chỉ dạy. Nam mô Diên mệnh địa tạng Bồ Tát Ma Ha Tát 🙏🙏🙏
Minh Mario Xin tri ân công đức của chư Thiện Tri Thức khai thị cho chúng con !
Nam Mô Diên-Mệnh Địa-Tạng Bồ-Tát Ma-Ha-Tát
Nam Mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật
💐💐💐
🙏🙏🙏
Loc Truong Con xin Tri Ân Công Đức của Chú đã khai thị 🙏🙏🙏
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🙇🏽♂️
Nam Mô Diên Mệnh Địa Tạng Thế Tôn 🙏🙇🏽♂️
Nam Mô Thường Trụ Tam Bảo 🙏🙇🏽♂️
Hoàng Hiệp Con xin y giáo phụng hành, nam mô bổn sư thích ca mô ni thế tôn.
Nam mô diên mệnh địa tạng thế tôn. 🙏🙏🙏
Từ Nam Kính Bạch Thầy! Xin Thầy chỉ dậy cho con (hoặc huynh đệ nào chưa biết) trước khi trì chú Hộ Đàn chúng con lên phát nguyện, hay khấn như nào ạ? 🙏🙏🙏 Kính xin Thầy Pram Nguyen chỉ dạy cho chúng con được y Pháp.
Pram Nguyen Không cần khấn, tâm con ngay thẳng thì vừa khởi Phật đã biết.
Từ Nam Pram Nguyen vâng thưa Thầy.
Loc Truong Pram Nguyen con tạ ơn Chú ạ 🙏🏼! Cảm ơn Từ Nam đã thỉnh hỏi ❤️!
Vạn Phương Con thì không biết làm gì chỉ mong cầu thập phương chư Phật gia hộ độ trì cho thầy bình an khoẻ mạnh và làm xong việc Phật sự và quay lại dạy Pháp cho đàn con đang theo thầy học đạo
Lê Hoàn Ngọc Tú Hí hí , con sẽ ngắm mưa sao băng (nếu thấy được) xong thì sẽ niệm chú trợ lực cho sư phụ 🥰
Pram Nguyen ngắm trăng mà thấy Thầy là con sẽ được như nguyện ước.
Lê Hoàn Ngọc Tú Pram Nguyen con sẽ quán thầy trong trăng để con được tròn nguyện ước 😊🙏
Nguyen Thi Con xin đăng lại ý nghĩa của câu thần chú của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni để mọi người cùng nhớ, nghĩ
“Minh Mario: Nhân đây, kính xin bậc Thiện Tri Thức Pram Nguyen từ bi khai thị cho chúng con về ý nghĩa của câu Chân Ngôn của Đức Thích-Ca Mâu-Ni Thế-Tôn :
Om Muni Muni Maha Muniye Soha
Chúng con xin tri ân công đức bậc Thiện Tri Thức
Nam Mô Bổn Sư Thich-Ca Mâu-Ni Phật
Pram Nguyen Minh Mario! Con rất là nhiều chuyện! Om là tam thân Phật; Muni đầu là chỉ cho các tu sĩ cao cấp của Ky-Na-Giáo hay Ni-Kiền-Tử; Muni thứ hai là chỉ cho đức Phật Thích-Ca của chúng ta; Mahamuni là chỉ cho 20 vạn ức chư Phật đồng danh đồng hiệu thời quá khứ và 80 hằng-hà-sa số chư Phật đồng danh đồng hiệu thời tương lai; Svaha là cả ba thời chư Phật bình-đẳng, thành tựu như thế!”
Phạm Tiến Việt Con xin tán thán công đức vô lượng vì người đã ban trải lòng từ bi khi khai thị cho chúng con về đúng pháp tụng chú!
Vũ Trần Hữu Minh Con vâng lời Ân Sư ạ!
https://xn---hay-uqa.vn/khai-dan-pram-nguyen/