-
Các câu chú mà Phật giáo dùng đều có danh hiệu Phật và Bồ Tát, đều có lời quy y Tam Bảo ở trong đó.
Nhưng những câu chú đó đều dịch âm từ chữ Phạn, chứ không phải dịch ra nghĩa chữ Hán.
Có công dụng gia trì hay không?
Thứ bậc đạt được thực tướng vô tướng tuy là cao như vậy, nhưng lại là căn bản của Phật giáo, cơ sở của Phật giáo, bởi vì Phật giáo chủ trương xa lìa dục vọng, không mong cầu và nương tựa ai, không chấp thụ gì cho nên được giải thoát, không chấp trước có hay không, thiện hay ác, được hay mất, yêu hay ghét. Vì vậy mà nói Phật giáo là không thiên lệch một bên nên gọi Phật pháp và vô biên, hoàn toàn tự tại, thực ra không cần được ai gia trì cũng không gia trì cho ai.
Than chu mat tong: Than chu mat tong co suc manh khong
Nhưng người ta sống cuộc đời phàm tục, tuy vẫn hiểu rằng cảnh giới thoát, xa rời dục vọng không mong cầu gì cuối cùng mới là tự tại. Nhưng một khi xảy ra những chuyện không may như đau ốm, bệnh tật, gia đình mắc nạn, công tác gặp khó khăn, thì một cách tự nhiên người ta mong cầu được sự hỗ trợ từ bên ngoài, được sự gia hộ của Phật, Bồ Tát, Thần và Thánh. Do đó gia hộ và hộ trì tuy không phải cứu cánh của Phật pháp, nhưng cũng vì thuận theo nhu cầu của chúng sinh, vì phương tiện cứu độ chúng sinh nên Phật giáo không phủ định hoặc bác bỏ tác dụng và ý nghĩa của gia trì và phù hộ.
(*) Thần lương thiện chỉ giúp đỡ người, không hại.
Công năng của gia trì là sức mạnh của thần chú, sức mạnh của lời nguyện và sức mạnh của tâm. Người trì chú có công đức sâu dày thì bản thân của chú sinh ra lực cảm ứng có thể cảm thông với quỷ thần, giúp đỡ và gia trì người ta. Sức mạnh của lời nguyện có thể giúp thông cảm với sự gia hộ của chư Phật, Bồ Tát và các vị thần hộ pháp. Sức mạnh của tâm có thể ảnh hưởng tới xu thế của tâm, tăng sức mạnh, ý chí, thay đổi quan niệm, chuyển hung thành các tiêu trừ tai họa, chữa lành bệnh, tất cả là do sức mạnh của tâm làm chủ.
Sức mạnh của trì "gia hộ và hộ trì" là ở chỗ làm cho tâm của người được gia trì có chuyển biến, và nhờ đó tăng cường sức mạnh của người được gia trì. Cái gọi là sự gia hộ của thần lực chủ yếu là giúp cho thân tâm được gia trì được ổn định, vượt qua được khó khăn, tăng cường được dũng khí và nghị lực để đối phó với hiện thực, chứ không làm cho người ta khuất phục hay trốn tránh với hiện thực, chứ không làm cho người ta khuất phục hay trốn tránh hiện thực. Đương nhiên có thể nhờ có sức mạnh của gia trì mà áp lực được dịu đi, bớt căng hơn và cuối cùng được triệt tiêu.
Theo lập trường của tín ngưỡng dân gian thì sức mạnh của gia trì là tha lực chứ không phải tự lực. Đó là sức mạnh thần chú, sức mạnh của lời nguyện và tâm người gia trì và nhằm giải quyết vấn đề của người được gia trì.
Đó là mong cầu và niềm tin của người ta nói chung. Bởi vì bản thân không mất công tu hành, không phải trả giá gì hết mà lại vượt qua được mối nguy cơ lớn. Đó là nguyên nhân của tín ngưỡng quỷ thần ở con người bình thường.
Thế nhưng sức mạnh của gia trì, chỉ có thể đối phó với tai họa nhất thời thôi chứ không phải vĩnh cửu, cũng như dựa vào thế lực của người có quyền uy, để trốn tránh xã hội đen tối hoặc để tránh sự truy lùng của chủ nợ. Một khi mà thế lực che chở không còn nữa hoặc bị suy yếu thì tai họa sẽ đổ ập đến ghê gớm hơn nữa.
Biện pháp của Phật giáo thì khác. Nếu bị kê oan gia hay chủ nợ quấy nhiễu gây trở ngại thì người ta trì có thể dùng sức mạnh của lòng từ bi và công phu tu hành của mình để cảm hóa, làm cho oan gia, người chủ nợ rũ sạch hết tâm báo thù và đòi trả oán, khiến họ thoát khỏi sự ràng buộc mà được sinh ở cõi thiện đạo, nhờ đó mà người được gia trì sẽ tai qua nạn khỏi. Nhưng sau đó phải quy y Tam Bảo, tu trì Phật pháp tạo phúc cho chúng sinh, nếu không mà tiếp tục tạo nghiệp ác thì càng chịu quả báo nặng nề hơn nữa.
Có người trì chú Đại Bi trong bát nước, có người dùng sức mạnh của lời nguyện, biến một pháp khí hay đồ vật thông thường thành vật linh thiêng rồi dùng để trị bệnh, đuổi tà, cầu an, giáng phúc. Đó là do sức mạnh của lời nguyện và sức mạnh tu trì, phúc đức, tâm lực của người được gia trì khiến vật phẩm của anh ta sản sinh ra lực lượng. Hiệu lực của vật thiêng nhiều hay ít, kéo dài thời gian bao nhiêu là do phạm vi của cảm ứng.
Đó là tác động chủ yếu do tha lực. Nhưng nếu người được gia trì không chịu thu thập điều thiện, tránh xa điều ác thì sự may mắn của anh ta chỉ là tạm thời. Nếu anh ta cứ tiếp tục làm ác thì hậu quả xảy ra càng trầm trọng hơn. Vì vậy gia trì chỉ là phương tiện có hiệu lực tạm thời, không phải là biện pháp căn bản.
Trì chú có công hiệu hay không?
Trì chú xuất hiện nói chung là thông qua môi giới những nhân vật đặc biệt được tin là có phép linh thiêng, có khả năng tiếp xúc với thần linh và được thần linh trao truyền cho mật chú. Ở các nước phương Đông hay phương Tây, nhiều mật chú được lưu truyền, tin tưởng và sử dụng. Ở Trung Quốc, cả phù và chú đều được sử dụng, phù là phù hiệu vẽ bằng bút, nó cũng đại biểu cho một sức mạnh thần kinh nhất định, dân gian tin rằng phù chú có sức mạnh đuổi tà, tránh dữ, giáng phúc cũng như một số loại thuốc dân tộc có tác dụng trị bệnh vậy.
Khi đức Phật Thích Ca còn tại thế, có một số ít đệ tử cũng dùng phù chú, nhưng đức Phật không cho phép. Sau khi đức Phật diệt độ, những người theo đạo Phật dần dần trở nên phức tạp, số người trước kia là phù thủy, đạo sĩ ngoại đạo sau quy y theo Phật xuất gia làm Tỳ kheo. Nhưng họ vẫn tiếp tục dùng phù chú để chữa bệnh. Trong quyển 27 bộ "Tứ phần luật" và trong cuốn 46 bộ "Thập tụng luật" có ghi các truyện dùng chú trị bệnh.
Theo quan điểm cơ bản của Phật giáo, khi có bệnh phải đến thầy thuốc, gặp tai nạn thì phải sám hối, phải có lòng thành, làm điều thiện mới có thể chuyển hung thành cát, giải trừ được oan trái và nghiệp chướng. Vì vậy, trên nguyên tắc không coi trọng việc dùng mật chú.
TIN TÀI TRỢ
Cậu sinh viên giảm điện ngoạn mục nhờ mẹo tuyệt đỉnh
Thế nhưng nếu thường xuyên trì tụng những câu thuật chú nhất định thì cũng có thể tạo được sức mạnh của thuật chú, trong đó tất nhiên có sức mạnh của thần linh. Nhưng trọng yếu là sức mạnh của tâm niệm tập trung của người trì chú. Nếu chuyên tâm nhất trí thường xuyên trì tụng một thuật chú thì có thể đạt tới hiệu quả thiền định thống nhất thân và tâm, từ hữu niệm tiến tới vô niệm.
Vì vậy, trong giai đoạn phát triển về sau của Phật giáo, người ta không phản đối pháp môn trì chú, hơn nữa các câu chú chữ Phạn có ý nghĩa tổng trì nghĩa là thâu tóm tất cả, cho nên dùng pháp môn trì chú thì có thể thâu tóm tất cả các pháp. Bất kỳ câu chú nào mà tu trì đúng pháp và thường xuyên thì sẽ có hiệu quả lớn. Chủ yếu là do công phu trì chú, kết hợp với giữ giới, tu định mà sinh ra lòng từ bi và trí tuệ và tất nhiên có thể giúp tiêu trừ mọi nghiệp chướng, nhờ đó có thể thông cảm với sức mạnh bản nguyện của chư Phật, Bồ Tát.
Thế nào gọi là Vua của chú (chú vương) ? Theo ý nghĩa tổng trì thì bất cứ câu chú nào, nếu trì tụng thật chuyên, thành ra có sức mạnh, cũng đều là chú vương, trừ các câu tà chú, dùng để lợi mình hại người hoặc để báo thù, rửa hận ra thì bất cứ câu chú nào đều có thể trì tụng được cả.
Vào thời kỳ đầu Phật Giáo mới truyền vào Trung Quốc, người ta không coi trọng trì chú. Nếu trì chú thì bị phê phán là tạp tu, mặc dù vào thời Ngụy Tấn cuốn "Kinh chú Khổng tước vương" đã được dịch ra còn cuốn "Đại bi chú" được dịch ra chữ Hán vào đời Đường Cao Tôn. Đó là những tài liệu sớm nhất về Mật Giáo được truyền đến Trung Quốc. Nhưng mãi tới đời Tống, với sự đề xướng của Đại Sư Tứ Minh Tri Lễ, thuộc Tông Thiên Thai thì việc trì chú mới phổ cập. Vào cuối đời nhà Đường "Chú Lăng Nghiêm" đã được truyền ở Trung Quốc.
Đến sau đời Tống "Kinh Lăng Nghiêm" được phổ biến, xem trọng, mới được các chùa trì chú. Đến cuối đời nhà Minh, cuốn "Thiền môn Nhật tụng" đã gồm có nhiều câu chú rồi.
Dưới các đời Đường, Tống, Phật Giáo truyền vào Nhật Bản không lưu hành các câu chú. Ngoài Mật tông ra, các câu chú không được xem trọng. Tịnh độ tông thì chuyên niệm Phật, Thiền Tông thì chuyên tham thiền, Tông Thiên Thai thì chuyên tu chỉ và quán. Vào thời kỳ Trung Quốc cận đại, người ta trì chú đồng thời kiêm tu các pháp môn khác, đó là điều mà các giới Phật giáo Nhật Bản rất lấy làm lạ. Đó là do ở Trung Quốc, có nhiều tỉ dụ của công việc trì tụng chú Đại Bi nên chúng tôi không phản đối pháp môn trì chú.
Hiện nay trong các câu chú được sử dụng ở Trung Quốc, đại bộ phận là danh hiệu các thần linh, vì theo tư tưởng của Đại thừa thì sức mạnh của tất cả mọi thiện pháp và tác dụng của công đức đều phát xuất từ quyền hiện và hóa hiện của chư Phật, Bồ Tát. Các câu chú mà Phật giáo dùng đều có danh hiệu Phật và Bồ Tát, đều có lời quy y Tam Bảo ở trong đó, nhưng đều dịch âm từ chữ Phạn, chứ không phải dịch ra nghĩa chữ Hán. Tỉ dụ "Nam mô Phật đà, Nam mô Đạt ma, Nam mô Tăng già" là chữ Phạn về quy y Tam Bảo. Nếu tụng "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát" thì lời lẽ ý tứ rõ ràng hơn.
Người trì chú đúng đắn, tốt nhất là phát âm theo nguyên âm tiếng Phạn. Tụng tiếng Phạn, mọi âm tiết đều có tác dụng và ý nghĩa của nó. Như trong từ A di đà, cần phát âm A cho chuẩn. Thế nhưng trong tất cả các pháp môn, tâm là chủ, thanh là thứ yếu. Hàng nghìn năm lại đây, người Trung Quốc niệm "Nam mô A di đà Phật" không hề thấy xảy ra hậu quả hoặc tác dụng xấu nào cả. Hiện nay, chú Đại Bi được người Trung Quốc, người Tây Tạng, người Nhật, người Triều Tiên, người Việt Nam trì tụng với âm thanh khác nhau, nhưng đều đạt tới hiệu quả giống nhau.
Còn việc trao truyền chú thuật là tập tục của Lạt ma Giáo Tây Tạng của những vị Lạt Ma cao cấp. Thầy trò truyền cho nhau pháp gọi là Du Già mật, hay là Vô thượng Du Già Mật, theo những nghi thức nhất định và tự tu hành nhất định.
Theo Phật Giáo Việt Nam
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
GAU - VẬT PHẨM HỘ THÂN.
Gau được sử dụng như một bùa hộ mệnh cho người đeo giữ tránh những điềm xấu, các hung tai giáng hạ và giúp thu hút những phước lành của Vũ Trụ.
Người Tây Tạng khi đi xa thường mang theo hộp Gau bên mình, đeo Gau ở trên cổ gần với trái tim để nhắc mình luôn trì giữ Bổn Tôn trong tâm trí. Khi trở về nhà có thể đặt Gau lên bàn thờ hoặc treo trên tường.
Mỗi hộp Gau có thể được thiết kế với những kiểu dáng hay những vị Bổn Tôn khác nhau, nhưng về cơ bản thì nội dung và ý nghĩa bảo hộ như nhau.
Gau cũng được xem và tượng trưng cho một mandala (vũ trụ) thu nhỏ của Vị Bổn Tôn, mở ra bên trong đó là những bí ẩn thiêng liêng được che dấu và những phước lành đã được tiếp nhận thông qua những nghi lễ đặc biệt.
Gau có thể bằng bạc, bằng đồng, vàng hoặc các kim loại khác. Trên hộp Gau có thể trang trí thêm nhiều các loại đá quý, bán quý khác nhau tùy theo mục đích kiến tạo..
https://scontent.fsgn5-2.fna.fbcdn.n...0d&oe=5E77B942
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
GỖ ĐÀN HƯƠNG: TÂM LINH VÀ SỨC KHOẺ...
Là một trong bốn loại gỗ Vương nên đàn hương được người Ấn Độ coi là biểu tượng của sức sống. Việc sở hữu và trồng đàn hương trước hoặc quanh nhà được cho là mang lại may mắn bình an, sức khỏe dồi dào, tài lộc đủ đầy và vương khí.... Hương thơm mát tỏa ra từ cây nhất là khi đơm hoa và kết quả thu hút nhiều chim chóc...tìm về được coi như sự hội tụ của tinh hoa và phước lành, phúc lộc của trời đất.
Theo quan niệm của người Ấn, đàn hương giúp sinh khí mang lại sức khỏe, sự may mắn, giầu có, thịnh vượng và tốt lành cho gia chủ và với người dân Ấn ý nghĩa tâm linh này đã được lưu truyền từ hàng trăm năm, ăn sâu bén rễ trong đời sống cũng như sinh hoạt ở đất nước sông Hằng.
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
Những câu thần chú vô cùng linh ứng trong Phật giáo Tây Tạng!
* Thần chú trừ tà và chiêu tài lộc thần chú của Đại Hắc Thiên (Mahakala mantra) cũng có nhiều phiên bản khác nhau:
Om Shri Mahakala Hum Phat
Om Mahakalaya Soha
Om Benza Nara Trim Trim Hung Hung Phet Phet Soha
* Thần chú Hoàng Thần Tài cầu tài Lộc và may mắn
“Om Jambhala Jalendraya Svaha” – “Om Dzambhala Dzalim Dzaye Svaha”
* Thần Chú Trừ Tà - Thần chú Bồ tát Kim Cương Thủ
Om Vajrapani Hum
* Thần chú Phật Dược Sư Lưu Ly – Thần chú chữa bệnh trong Phật giáo
Trong phiên bản dài nó là:
OM Namo bhagawate Bhaishjaya guru
vaidurya Prabha rajaya tathagataya
arhate samyaksam buddhaya teyatha
om bekhajye bekhajye maha bekhajye
bekhajye rajaya samudgate
svaha
Phiên bản ngắn tiếng Tây Tạng:
Tayata
Om Bekandze Bekandze
Maha Bekandze
Radza Samudgate Soha
* Thần chú Bạch Tản Cái Phật Mẫu là : một trong những thần chú phổ biến của trường phái Phật giáo Kim Cương Thừa. Các hành giả Mật Tông thường xuyên tụng niệm thần chú để được bảo vệ, may mắn và loại bỏ những năng lượng tiêu cực bên trong và xung quanh một người.
Thần chú phiên bản dài:
TADYATHA OM ANALE ANALE
KHASAME KHASAME BHAIRE SUMA
SARVA BUDDHA
ADHISHTHANA ADHISHTHITE SOHA
OM SARVA TATHAGATA USHNISHA
SITATA – PATRE HUM PEH
HUM MAMA HUM NI SOHA
Phiên bản trung bình:
Om Sarva Tathagata Usnisha Sitatapatra Hum Phat Hum Mama Hum Ni Svaha
Phiên bản ngắn:
Hum Mama Hum Ni Svaha hoặc Om Mama Hum Ni Soha
* Thần chú tiêu trừ Nghiệp chướng của địa tạng vương bồ tát
Phiên bản ngắn:
Oṃ Ha Ha Ha Vismaye Svāhā – Om Ha Ha Ha Win Sam Mo Ti So Ha
Om / Namo Ksitigarbha Bodhisattva hoặc Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Om Pramardane Svaha
Namo Di Zhang Wang Pu sa
Om Ah Kshiti Garbha Thaleng Hum
https://www.facebook.com/himalayasha...8&__tn__=%3C-R
-
-
RỬA RÁY SẠCH SẼ
(Đi tiểu, đi cầu xong rồi, đến chỗ để nước liền niệm Kệ Chú này)
事訖就水
Sự ngật tựu thuỷ
當願衆生
Đương nguyện chúng sinh
出世法中
Xuất Thế Pháp trung
速疾而往
Tốc tật nhi vãng
唵。 室利婆醯莎訶(三徧)
Án, thất lợi bà ê, toa ha (tam biến)
_Việc xong, tiếp đến nước
Nên nguyện cho chúng sinh
Ở trong Pháp Xuất Thế
Mau chóng được đi đến
(9) Tẩy tịnh (rửa sạch)
Sự ngật tựu thủy, đương nguyện chúng sanh, xuất thế pháp trung, tốc tật nhi vãng. Án thất lị bà hê sa ha (3 lần).
Việc xong đến nước, nên nguyện chúng sanh, mau chóng đi đến, trong pháp xuất thế. Án thất lị bà hê sa ha (3 lần).
唵(一)室唎(二合)夜(二)婆醯(三)莎婆诃 (四)
读:嗡 室唎呀巴嘿 斯哇哈
Om sriyabhahe svaha
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...517&viewfull=1 / http://daibaothapmandalataythien.org...-thiet-yeu.pdf / http://blogapp.sina.cn/html/share.d....8808180102yv4j
===========
Ngũ-Thể-Tịnh Chơn Ngôn: Án Vĩ-Thử-Đề Ta Bà Ha
( Niệm Chú này 5 biến để sạch Ngũ Thể là: 2 Chân, 2 Tay và Đầu )
即说咒曰。唵(一)毗输提(二)莎诃(三)
Om visudhi svaha
读音:嗡 V速底 斯哇哈
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...517&viewfull=1 / http://blogapp.sina.cn/html/share.d....8808180102yv4j
-
Then is repeated seven times the following mantra from the Sutra on ”the wheel-blessing for the animal universe” 3 : “ Om! Sambhara, Sammahā jaba hūṃ ! ”
Followed also seven times by this extract from bharabi manaskar mahā jaba hūṃ ! Om ! Smara Smarabi manaskara Norbu-r gyas-pahi-gzhal-med-k’aṅ : “Om! ruci ramini pravartya hūṃ.”
This is followed by ” Om ! Khrecara gaṇaya hri hri svaha ! ” — a spell which if the monk thrice repeats and spits on the sole of his foot, all the animals which die under his feet during that day will be born as gods in the paradise of Indra (Jupiter).
This is followed by ” Om ! Khrecara gaṇaya hri hri svaha !
https://suvacobhikkhu.wordpress.com/lamaism/ / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...442&viewfull=1 / https://suvacobhikkhu.wordpress.com/lamaism/
-
時本所出⽣⼀切佛⺟。復於頂上。放 千道雜⾊光明。於⼀⼀光中。
出⽣無量⾦剛杵。勇健熾盛。於⾜下 然。即說成就⼀切明真⾔⽈。
oṃ ṭa ṭā ṭu ṭi ṭī ṭi ṭī ṭu 唵(⼀) 吒 吒 吒烏(短聲)
(⼆) 置 智 置 智 吒烏(短聲)(三) ṭu ṭu ṭu va jra sa
dvo 吒烏(引) 吒烏(引) 吒烏(四) 嚩 ⽇囉(⼆合) 薩 怛嚩(⼆
合)(五) jjaḥ hūṃ vaṃ hoḥ hrīḥ haḥ hūṃ pha ṭ
惹 吽 鑁 斛(六) 紇哩(⼆合) 鶴 吽 泮 吒(七) hūṃ
吽(八)
==========
合)鼻底补摩(引)曩嚩那曩俱贺啰你哩 (二合)多吒吒贺(引) ...
[PDF]T0867 金剛峰樓閣一切瑜伽瑜祇經 - 三学藏
https://ebook.sanxuejiaoguan.com › download › pdf
Translate this page
oṃ va jra su kṣma ma 唵(引) 嚩⽇囉(⼆合) 素訖叉. 麼(三合) .... oṃ ma hā ya tna va jra 唵摩訶(引) 野怛那(⼆ ..... oṃ ṭa ṭā ṭu ṭi ṭī ṭi ṭī ṭu 唵(⼀) 吒吒吒烏(短聲).
-
[PDF]宗薩·蔣揚·欽哲 - AWS
https://s3-ap-southeast-2.amazonaws.com › Resources - Translate this page
日本佛教傳統,則誦ON ARORIKYA SOWAKA。如果泰國的 ...... PARAMPARANI ME SARVA SATTVANANCA SVAHA ...... 嗡母久拉密丹母薩兒哇普瑞忒比亞梭 .
https://s3-ap-southeast-2.amazonaws....5_190423_P.pdf
-
TP.HCM: Đàn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật theo nghi thức Du mục Tây Tạng xưa
[16.02.2009 23:59]
https://giacngo.vn/UserImages/1/2009...hichca_cao.jpg
Chùa Vạn Phật - một ngôi chùa thuộc phái Hoa tông do Thượng tọa Thích Truyền Cường – Phó ban đại diện Phật giáo Quận 5 làm trụ trì vừa Tổ chức cúng Đàn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trong nghi thức Người Du Mục Tây Tạng Xưa.
Vị trí đàn được đặt nơi trang trọng nhất của Chùa Vạn Phật. Đó là Đại Điện Phổ Quang Minh. Nơi đại điện có thờ bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh – tâm điểm chính của chùa, vì toàn bộ không gian tại tầng này được thiết kế dành riêng cho nơi đặt liều du mục của người Tây Tạng xưa, cũng là nơi các thầy thực hiện nghi thức cúng đàn Thất châu Lưu Ly Quang Vương Như Lai.
Theo truyền thống Phật giáo, Lễ hội Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật được tổ chức thường niên, còn gọi là “lễ Cầu an”. Hàng xuất gia cũng như tại gia đều chuyên tâm cầu nguyện “Thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc”.
Đặc biệt, có 49 ngọn nến thắp lên tượng trưng cho ánh sáng trí tuệ, đó là ánh sáng mầu nhiệm của đức Phật Dược Sư Lưu Ly, soi sáng đến cho nhân loại.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...h%E1%BA%ADt-Q5
-
Bộ tộc giàu có và chuyên khoe trang sức ở Tây Tạng
https://i-dulich.vnecdn.net/2017/06/...1498612536.jpg
Đối với người Khampa, trang sức, thắt lưng và mũ thường được làm từ vàng, bạc để thể hiện sự giàu có, sung túc của chủ nhân.
Các tập tục mai táng khác thường ở Tây Tạng
Gà hong gió - món ăn tàn nhẫn của người Tây Tạng 97
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang
Kham là khu vực đông nam của cao nguyên Tây Tạng, với diện tích gần 900.000 km2 và dân số hơn 2 triệu người. Nơi này trải rộng khắp 4 tỉnh của Trung Quốc: vùng phía đông Tây Tạng, phía nam Thanh Hải, phía tây Tứ Xuyên và phía tây bắc Vân Nam.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-1
Kham là nơi trú ngụ của bộ tộc Khampa. Họ được biết đến như những chiến binh dũng mãnh của vùng đất Tây Tạng. Cả đàn ông và phụ nữ ở đây đều có vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh cùng với tính cách mạnh mẽ và cởi mở, hướng ngoại. Họ có thể dễ dàng nhận ra trong đám đông với những phụ kiện bằng vàng hoặc bạc, tóc tết và làn da màu tím.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-2
Với lối sống du mục đặc thù từ thời tổ tiên, người Khampa không có tài sản cố định như nhà cửa, đất đai mà thường dự trữ vàng bạc, trang sức và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Lượng châu báu này chính là biểu tượng cho sự giàu có và địa vị xã hội của một gia đình trong bộ tộc. Vì vậy, người Khampa đánh giá quyền lực và địa vị trong cộng đồng của một người bằng số lượng trang sức người đó mang trên mình.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-3
Đồ trang sức của người dân bộ tộc Khampa rất cầu kỳ và rực rỡ. Phụ nữ thường đội mũ, đeo vòng cổ đính đá hổ phách, ngọc lam, san hô và bạc hoặc vàng. Thắt lưng của họ còn được dát đá quý hoặc ngà. Ngoài ra, vòng tay từ sừng động vật và những chiếc nhẫn lớn, to bản có giá trị lên tới hàng trăm nghìn USD cũng là những phụ kiện không thể thiếu đối với người Khampha, trong các dịp lễ hội và cả đời thường.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-4
Những bộ vòng cổ xa xỉ có khối lượng lên tới 30 kg. Tuy vậy, không ai cảm thấy phiền toái mà ngược lại rất tự hào và hãnh diện khi được thể hiện sự giàu có của gia đình và bản thân.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-5
Theo truyền thuyết, bộ tộc Khampa sống trên cao nguyên bí ẩn tuyết phủ quanh năm là con cháu của vị Thần chiến tranh và thần Sắc đẹp. Vì vậy, họ nổi tiếng với những phụ nữ xinh đẹp và những đàn ông dũng cảm.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-6
Mặc dù phải sống trong môi trường khắc nghiệt nhưng người Khampa không bao giờ bỏ cuộc. Họ sống sót trong cuộc chiến với thiên nhiên.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-7
Ở Trung Quốc, có rất nhiều câu chuyện về bộ tộc Khampa toàn người trường thọ và không bao giờ bị bệnh. Truyền thuyết kể rằng, ở vương quốc biệt dược có một vị vua vì cảm mến sự dũng cảm và sắc đẹp của người Khampa nên thường chữa bệnh miễn phí cho họ.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-8
Cuối cùng, vị vua này còn truyền lại cho người Khampa tất cả bí quyết ông tìm kiếm được trong suốt cuộc đời của mình, trong đó có cả phương thuốc chữa bách bệnh. Kể từ đó, người trong bộ tộc Khampa không bao giờ bị ốm.
bo-toc-giau-co-va-chuyen-khoe-trang-suc-o-tay-tang-9
Thực tế, truyền thuyết kể về người Khampa không bao giờ bệnh chỉ là một câu chuyện cường điệu về sự cường tráng và mạnh mẽ của người trong bộ tộc này. Từ xa xưa, người Khampa có truyền thống đặc biệt chú trọng việc chăm sóc sức khỏe. Trong điều kiện sống khắc nghiệt, họ có phương pháp phòng ngừa bệnh tật hiệu quả bằng các hình thức vận động và chế độ ăn uống lành mạnh. Đó chính là bí quyết tạo nên sự cường tráng, khỏe mạnh của một bộ tộc “không bao giờ ốm”.
Ngọc Mai
https://vnexpress.net/du-lich/bo-toc...g-3605720.html
-
VTD 587_1 - Vòng tay đá turquoise phối hạt đồng Tây Tạng
vòng tay đá | SKU: VTD 587_1
CÒN HÀNG
550.000₫
Chiếc vòng tay rất đặc biệt được làm từ đá turquoise với hạt đồng Tây Tạng (được làm từ hạt đá turquoise đính chữ Om mani pad me hum bằng đồng và san hô đỏ tự nhiên). Số lượng có hạn. Size hạt đồng: 13mm, size hạt đá 10mm. Đá turquoise còn được gọi là lam ngọc, đây là loại tinh thể rất cổ xưa và uy lực, được khai thác từ ít nhất là năm 6000 trước công nguyên bời người Ai Cập. Được tôn thờ như một loại đá thần thánh bởi các pháp sư...
http://bizweb.dktcdn.net/thumb/grand...=1448009678107
https://trangsucthietke.com/vong-tay...-dong-tay-tang
-
-
-
-
CÁC BAN HỘ NIỆM PHẢI ĐẶC BIỆT CHÚ Ý ĐIỂM NÀY : NGƯỜI TRỢ NIỆM PHẢI DÙNG TÂM CHÂN THÀNH, THANH TỊNH, TỪ BI ĐỂ NIỆM PHẬT, CÀNG NHIỀU NGƯỜI TRỢ NIỆM CÀNG TỐT VÌ TỪ TRƯỜNG THÙ THẮNG ÁC QUỶ TRÁNH XA , NGƯỜI TRỢ NIỆM CHẲNG THÀNH TÂM ÁC QUỸ SẼ THỪA DỊP ĐẾN KHUẤY PHÁ !
Những người làm thiện ở cõi Diêm Phù Ðề, đến lúc lâm chung còn có trăm ngàn quỷ thần trong ác đạo hoặc biến làm cha mẹ, cho đến hàng quyến thuộc, dẫn dắt người chết khiến cho lạc vào ác đạo; huống chi là những kẻ vốn đã tạo ác.
Đoạn kinh này rất quan trọng. Người lâm chung, chúng ta đã gặp qua rất nhiều, lúc lâm chung người ấy sẽ nói với những người ở xung quanh rằng họ nhìn thấy người nào đến. Những người mà họ nhìn thấy đều là những bà con, họ hàng đã qua đời. Có phải thiệt là bà con, họ hàng hay không? Không phải, thật ra đó là những oan gia, chủ nợ biến hiện thành bà con họ hàng, bạn bè đến để dẫn người ấy đi, dẫn đi xong rồi sẽ báo thù, chúng ta phải biết việc này. Vì khi nhìn thấy bà con, họ hàng thì rất dễ đi theo họ. Đặc biệt là lúc chúng ta niệm Phật trợ niệm, việc quan trọng nhất chúng ta phải đề phòng là việc này. Một khi người [lâm chung] nói họ ‘nhìn thấy một người nào đó’, thì lập tức phải nhắc họ đừng để ý tới người đó, nhất định phải chờ A Di Đà Phật hiện ra mới đi theo đức Phật A Di Đà. Nếu chẳng phải là đức Phật A Di Đà, bất luận là người nào hiện ra cũng không cần để ý tới. Nếu không để ý, không chú ý thì hiện tượng đó sẽ biến mất rất nhanh, người đó sẽ rời khỏi, điểm này là điểm quan trọng nhất. Trong sự khai thị lúc lâm chung, câu này vô cùng quan trọng! Luôn luôn nhắc nhở họ, suốt hai mươi bốn giờ ngày đêm không thể gián đoạn. Chỉ sợ một khi gián đoạn, một khi sơ suất thì bị những oan gia, chủ nợ biến thành bà con, họ hàng dẫn họ đi mất, đây là việc người trợ niệm lúc lâm chung không thể không biết, như vậy thì trợ niệm mới có lợi ích lớn lao. Người trợ niệm dùng tâm chân thành, thanh tịnh, từ bi để niệm câu Phật hiệu này, người trợ niệm càng nhiều càng tốt, từ trường đó thù thắng, có thể làm cho những quỷ thần cõi ác này chẳng dám đến gần. Nếu người trợ niệm ít, người trợ niệm chẳng có thành tâm, thì quỷ thần ác đạo sẽ thắng thế, sẽ thừa dịp [người trợ niệm] không đề phòng bèn đi vào [phá khuấy], chúng ta phải đặc biệt chú ý điểm này. Thế nên có người hỏi nếu lỡ không tìm được người trợ niệm, chúng ta dùng máy niệm Phật được không? Chỉ có thể nói [dùng máy niệm Phật] tốt hơn một chút mà thôi, tốt nhất là có người đến niệm, như vậy thì sẽ [có hiệu quả] khác nhau.
Phàm khi gặp những chuyện này lúc lâm chung, thì người mất chắc chắn sẽ rơi vào ba đường ác, nếu lúc còn sống người ấy lại làm nhiều ác nghiệp thì còn tệ hại hơn nữa! Địa Tạng Bồ Tát cũng cứu chẳng nổi. Sanh tử là việc quan trọng lớn lao, sau khi chết đi sanh vào cõi nào là một vấn đề vô cùng nghiêm túc. Cho nên khi người mắc bịnh, yêu ma ác quỷ đến phá khuấy, trong kinh này nói những người làm việc thiện cả đời cũng rất khó tránh khỏi, huống chi là người làm ác! Nhân thiện thì được quả thiện, nhân ác thì có quả ác, chắc chắn là chẳng sai; quả báo hiện ra hay không là do duyên đầy đủ hay không. Nếu duyên đầy đủ thì quả báo sẽ hiện ra. Thế nên chúng ta tiễn đưa người vãng sanh nói thật ra là giúp đỡ một người đi làm Phật, cả đời chúng ta làm việc thiện, còn việc thiện nào lớn hơn việc tiễn đưa một người đi làm Phật? Chẳng có việc nào lớn hơn việc này hết. Nếu lúc một người lâm nguy, bạn có thể dốc toàn tâm toàn lực để chăm sóc họ, từng giờ từng phút nhắc nhở họ, đây tức là chiến đấu với vô số ác quỷ ác thần, nhất định phải chiến thắng họ, thì người mất mới có thể vãng sanh một cách thuận lợi, được Phật tiếp dẫn. Cho dù người tạo ngũ nghịch, thập ác, nếu gặp tăng thượng duyên này cũng có thể vãng sanh.
Tôi nghĩ chư vị coi Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Vãng Sanh Truyện đều biết chuyện ông Trương Thiện Hòa đời Đường. Trương Thiện Hòa là một kẻ làm nghề giết trâu, cả đời chẳng biết đã làm thịt bao nhiêu con trâu, đã làm bao nhiêu ác nghiệp, cho nên lúc lâm chung ông ta nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu đến đòi mạng, trong Phật pháp gọi là tướng địa ngục hiện lên, lúc đó ông ta mới kêu cứu. Duyên của ông rất tốt, may sao có một người xuất gia đi ngang, nghe tiếng kêu cứu trong nhà, người xuất gia ấy liền vào nhà ông để coi là chuyện gì. Ông nói ông nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu, họ nói phải đền mạng cho họ. Vị xuất gia đó mới đốt một cây nhang rồi kêu ông cầm trong tay, kêu ông gấp rút niệm A Di Đà Phật. Do vì muốn thoát khỏi cảnh tượng ấy ông bèn niệm lớn tiếng “A Di Đà Phật”, mới niệm mười mấy tiếng, ông liền nói với người nhà “người đầu trâu đã biến mất, đều đi mất, A Di Đà Phật đã đến”, nói xong ông bèn vãng sanh. Do đó bạn mới biết đã tạo ác nghiệp cũng không sao, nếu lúc lâm chung gặp duyên thù thắng, vận may của ông Trương Thiện Hòa thiệt là quá tốt, gặp được thiện tri thức, nếu ông chẳng gặp vị xuất gia ấy thì nhất định sẽ đọa tam ác đạo, chắc chắn là phải đọa địa ngục. Sau khi thọ tội ở địa ngục xong cũng phải làm trâu để đền mạng, bạn giết một con trâu thì phải đền mạng một lần, bạn giết bao nhiêu con trâu thì phải đền mạng bấy nhiêu lần.
Giết trâu [bị quả báo] như vậy, chư vị phải biết, giết hại bất cứ chúng sanh nào cũng phải đền mạng, cho dù động vật nhỏ đến đâu cũng phải đền mạng, bạn làm sao đền mạng cho hết? Bạn giết một con trùng, một con kiến đều phải đền mạng, muôn vàn xin bạn đừng tưởng đây là những côn trùng gây hại [thì không sao, chúng ta không thể coi thường] sanh mạng của chúng, chúng cũng là chúng sanh đã làm chuyện ác rồi đầu thai vào cõi súc sanh, biến thành những hình trạng như vậy. Chúng ta trong sáu nẻo luân hồi cũng đã thường làm những chuyện này cả rồi, đời này may mắn được thân người, làm sao biết được sau khi chúng ta mất thân người thì sẽ có thân hình của con vật gì? Thế nên có được thân hình [con người] này cũng không thể kiêu ngạo, không thể dựa vào thế lực của thân hình này mà tàn sát những động vật nhỏ, vừa chớp mắt thì bạn cũng sẽ phải làm thân hình của chúng, bạn cũng sẽ chịu người khác giết hại, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai.
HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG
A DI ĐÀ PHẬT !
Nguồn từ Facebook Tịnh Liên.
https://vi-vn.facebook.com/chuavanph...7yA&__tn__=K-R
-
https://vi-vn.facebook.com/chuavanph...6817980605209/
乙未年 - 萬人緣祈安普度大法會 - 法事第四集 Đại lễ Trai Đàn Vạn Nhân Duyên năm Ất.
-
https://i.imgur.com/21ALEll.png https://i.imgur.com/XM1SD7X.png
Master Karma Tanpai Gyaltshen
DIVINE CEREMONY OF PEACE AND GREAT VICTORY FOR WHOLE HUMANITY
Chùa Pháp Vương - Hưng Long - Bình Chánh 分享了帖子
12月5日 17:59 ·
Chùa Pháp Vương - Hưng Long - Bình Chánh
Địa chỉ: C23/27 ấp 3, Hương Lộ 11 (Đường Đoàn Nguyễn Tuân), Xã Hưng Long , Huyện Bình Chánh, TP.HCM
Năm thành lập: 1936
Người sáng lập: HT Thích Tắc Vương
Hệ phái: BẮC TÔNG
Năm trùng tu: 1990
Đặc điểm: Có phòng châm cứu từ thiện
Chư vị trụ trì tiền nhiệm: HT Thích Tắc Vương
Trụ trì hiện nay: TT Thích An Bình
Các ngày kỵ giỗ trong năm: 28-12 ÂL giỗ HT Thích Tắc Vương
https://zh-cn.facebook.com/pg/chuaph...=page_internal
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=Qm19Llh-e1U
Ăn Ngũ Vị Tân (Hành, Tỏi) Chiêu Cảm Loài Ngạ Quỷ - cố HT. Thích Trí Tịnh
-
-
Tịnh-Thân-Khí Thần-Chú:
Án Thuật-Điện-Đô Thành-Đà-Na-Da Ta-Bà-Ha
( Phàm dùng Lễ Vật chi để Cúng Phật, nên Niệm Thần Chú này 5 biến, thì sạch cả Thân Căn và Khí Giới )
https://tangthuphathoc.net/tinh-do-sam-nguyen-van/
淨身器神咒唵秫萨婆诃
=========
19 浄三業
Oṃ śuddhy-anuśodhanāya svāhā.
清浄 śuddhi に清浄なること anu-śodhana(ここでは与格)のために.
---------------
TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN-NGÔN
Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)
https://www.niemphat.com/kinhdien/ki...nhkimcang.html
---------------------
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni
.......
81.Án. Tất điện đô
82.Mạn đà ra
83.Bạt đà gia
84.Ta bà ha.
https://www.chudaibi.com/
......
81.Om. Siddhyantu (UM! SÍT ĐI DANH TU)
82.Mantra (MANH TRA)
83.Padaya. (PA TAY DA)
84.Svaha. (SOA HA)
https://kilopad.com/Ton-giao-Tu-tuon...tieng-phan-ti3
=============
KỆ-CHÚ
TỊNH HÓA CÁC PHẨM VẬT CÚNG DƯỜNG
( Sái Tịnh làm trong sạch Phẩm Vật Cúng Dâng )
Phục hồi Phạn Chú: Phổ Quảng
Tâm thành kính sạch trong tất cả
Pháp Như Lai biến hóa khôn lường
Sạch trong phẩm vật cúng dường
Kính thành trì tụng tỏ tường không sai
NA MÔ LY CẤU ĐỊA BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Tịnh Thân Khí Thần Chú:
.Án thuật điện đô thành đà na da ta bà ha ( 7 lần )
.OM SUDDHYANTU SHODHANAYA SVAHA ( 7 lần )
---------------------------------------------------------------
#CHÚ THÍCH:
*Tịnh Thân Khí Thần Chú:
.Án thuật điện đô thành đà na da ta bà ha.
.OM SUDDHYANTU SHODHANAYA SVAHA.
( Phàm dùng Lễ Vật chi để Cúng Phật, nên Niệm Thần Chú này 5 biến - 5 lần; thì sạch cả Thân Căn - Kayendriya và Khí Giới - Gandhadhatu ).
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...1%BB%80N/page5
-
https://i.imgur.com/8yS7aeN.png https://i.imgur.com/4QeJ2EW.png
戻る
護身法
1、心身を浄める
手を洗い、口を漱いでから行なう
(ビブーティを右の薬指につけ、 の手のひらに塗る。指を回しながら )
ゴブホッシンヲ マホウストオモ ゴブホッシントハ カイジョウエ
(離 す、離 す、離 す)
ゲダツ ゲダツ チケンナリ
① 浄三業(じょうさんごう)
蓮華合掌をして両中指を少し開 、その印を五処(額・右肩・左肩
・胸・喉)に当てるしぐさをして加 する。
オン・ソワハンバ・シュダサラ タラマ・
ソ ハンバ・シュドカン
② 仏部三昧耶(ぶつぶさんまや)
印は仏の顔を表現している。仏 の諸尊の得が備わることを祈る。
オン・タタギャト・ドハンバ ・ソワカ
③ 蓮華部三昧耶(れんげぶさんま )
印は菩薩が手にしている蓮華を らわし「八葉印」ともいう。
蓮華部の諸尊の得が備わることを る。
オン・ハンドボ・ドハンバヤ ソワカ
④ 金剛部三昧耶(こんごうぶさん や)
印は金剛杵を表現している。金 部の諸尊の得が備わることを祈る。
オン・バゾロ・ドハンバヤ・ ワカ
⑤ 被甲(ひこう)
内縛して中指を立て、人差し指 両中指の外側に置く。このとき人差 指を
中指の背につけてはいけない。こ も結んだ印で五処を加持する。
オン・バザラギニ・ハラチハ ヤ・ソワカ
2、引導を渡す
◎ あなたのいる場所はここでは りません。霊界に行きなさい。
霊界では受け入れ準備が出来て るので、安心して離れなさい。
3、手に聖水(リンガム水)を持ち、 水を浄霊・除霊する場所(壁やその 周り)に
振り掛ける。
http://gunsoh.fc2web.com/syugyo-5.htm
-
http://gunsoh.fc2web.com/kuji.in/tohin.gif https://i.imgur.com/9rOuvvI.gif https://i.imgur.com/rkxYALj.gif
左の人差し指と中指を伸ばし小指を げ、親指の指先で曲げた指の爪を押 。右手も同じようにする。右手の伸 ばした指を左に出来た穴に差し込む( の指は・剣。左はさや)。この状態 で、不動明王の真言を三回唱える。
「ノウマクサンマンダ バザラダン ンダ
マカロシャダ ソワタヤ
ウン タラタ カン マン」・・・ 三回
刀印(左の指もこのようにする)
この図は親指がおかしいので
左の写真のように爪を押さえる事
手刀のおさめ方
次に右の指を抜いて、左手は印のま 腰に当て、
右手の刀で九字(臨兵闘者皆陳烈在前 を唱えながら、四縦五横に切る。
http://gunsoh.fc2web.com/syugyo-2.htm
-
-
-
http://www.nonahz.org/budhiavenue/im...usimages/5.jpg
一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅 經
那莫 悉怛哩野 地尾 迦南 薩婆 怛他 蘖多喃 唵 部尾婆
namah striya divi kanam sarva tatha gatanam om bhovibha
嚩娜 嚩唎 嚩者梨 嚩者齒來 祖嚕 祖嚕 馱囉 馱囉 薩嚩
vadha vari vachari vachatai suru suru dhara dhara sarva
怛他蘖多 馱睹 馱梨 缽娜牟含 婆嚩底 惹也嚩梨 畝怛梨
tathagata dhatu dhari padma bhavati jayavari mudri
薩磨囉 怛他檗多 達磨 斫迦囉 羅靺栗多娜 嚩日羅 冒地
smara tathagata dharma chakra pravar ttana vajri Bodhi
滿拏 楞迦囉 楞訖哩諦 薩嚩 怛 蘖多 地瑟恥諦 冒馱野
bana rumkara rumkrite sarva tathagata dhistite boddhaya
冒馱野 冒地 冒地 沒亭夜 沒亭夜 參冒馱爾 參 馱野
boddhaya bodhi bodhi buddhya buddhya sambodhani sambodhaya
者攞 者攞 者懶都 薩嚩 嚩囉 爾 薩嚩 播波尾檗諦 戶嚕
chala chala chalamtu sarva vara nani sarva papavigate huru
戶嚕 薩嚩 戍迦 弭蘖帝 薩嚩 他檗多 訖哩娜野 嚩日囉抳
huru sarva shoka vigate sarva tathagata hridaya vajrani
三婆囉 三婆囉 薩嚩 怛他蘖多 虞口皿野 馱囉抳 畝涅梨 沒悌
sambhara sambhara sarva tathagata guhya dharani mudra buddhe
蘇沒悌 薩嚩 怛他蘖多 地瑟恥多 馱睹 蘖陛 娑嚩賀 三摩耶(引)
subuddhe sarva tathagata dhistita dhatu garbhe svaha samaya
地瑟恥帝 娑嚩訶 薩嚩 怛他蘖多 訖哩娜野 馱睹 畝捺犁
dhistite svaha sarva tathagata hridaya dhatu mudri
娑嚩訶 蘇缽羅 底瑟恥多 薩覩閉 怛他蘖多 地瑟恥帝 戶嚕
svaha supra tistita stubhe tathagata dhistite huru
戶嚕 吽 吽 娑嚩訶 唵 薩嚩 怛他蘖多 瑟抳沙 馱睹
huru hung hung svaha om sarva tathagata usnisa dhatu
畝捺囉尼 薩嚩 怛他蘖單 娑馱 尾 部使多 地瑟恥帝 吽
mudrani sarva tathagatam sadha tuvi bhosita dhistite hung
吽 娑嚩訶
hung svaha
http://e-lotus.org/chat_main/room_ma..._style=1&id=17
-
-
[PDF]KINH NHẬT TỤNG
www.bplmonastery.org › uploads › 01-preface-_ver10
Translate this page
Tông Chỉ Vạn Phật Thánh Thành ..... 170. Nghi Thức Lễ: Phật A Di Đà Đản Sanh ..... Nếu chúng ta không nương nhờ vào tọa thiền, tụng niệm và lễ sám, thì.
http://www.bplmonastery.org/uploads/...ace-_ver10.pdf
-
Khóa Công Phu Khuya
Người tu hành trước hết nên học cho thông suốt toàn bộ văn nghĩa của khóa lễ.
Như thế sẽ tiện giúp cho chúng ta khởi quán tưởng trong lúc tụng trì. Lại nữa,
lúc bình thường trong khóa lễ, chúng ta nên định tâm thuần thục. Nếu không,
một khi đối diện với cảnh giới có thể khởi lên trong lúc tụng niệm, khiến tâm bị
tạp loạn, thì sự quán tưởng khó mà thành tựu được.
Vào buổi sáng sớm, khi muôn vạn cảnh vật chưa khởi động, là lúc tâm chúng
ta vẫn còn yên tĩnh. Chúng ta nên thức dậy, mặc áo chỉnh tề và bắt đầu tụng
Chú Phật Đảnh Lăng Nghiêm Tâm (Chú Lăng Nghiêm). Bài chú này điều trị
ngũ dục – khi chúng ta chưa kịp nảy sinh các mầm mống, khiến tâm chúng ta
nhanh chóng được tinh thông, thấm nhuần và sẽ trực thẳng hiển bày Như Lai
Tạng Diệu Chân Như tánh. Gọi là: Tịch nhiên và bất động. Là một cảm ứng và
tự nhiên thông suốt vậy. Kế đến là niệm Chú Đại Bi, chú này có năng lực gột
rửa tâm trần cấu. Sau khi giác ngộ đồng thể đại bi với tất cả, chúng ta tiếp tục
tụng Thập Chú:
1)Chú Như Ý Bảo Luân Vương: Khi tâm cấu nhơ đã thanh tịnh, chúng ta
chuyển Pháp Luân Như Ý.
1-P
2)Chú Tiêu Tai Kiết Tường: Ngăn trừ tai ương và đem tốt lành đến. Pháp luân
càng thêm được tự tại.
3)Chú Công Đức Bảo Sơn: Kiết tường đã hiển hiện trong tâm, chúng ta cư trú
trên Núi Pháp Tánh và thu hoạch Bảo Công đức.
4)Chú Chuẩn Đề: Tiêu trừ hoàn toàn những lo sợ chướng ngại, hầu Pháp Tánh
có thể hiển hiện – là phương tiện cho quả thành công toại.
5)Chú Quyết Định Quang Minh Vuơng: Quả thành công toại rồi, thì sẽ đem
lại trí huệ thọ mạng cho chúng ta.
6)Chú Dược Sư Quán Đỉnh: Trí huệ thọ mạng đã phát rồi, thời lại càng như
lưu ly hàm chứa bảo nguyệt bên trong. Lúc này, ánh sáng lưu dẫn, rưới trên
đỉnh đầu chúng ta.
7)Chú Quán Âm Linh Cảm: Khế hợp thâm diệu với năng lực nhĩ căn của đức
Quán Âm – cùng Pháp Giới và sự linh cảm vô cùng tận. Như ánh nguyệt
chiếu soi mà hãy còn tịch tĩnh, tịch tĩnh mà chiếu soi.
8)Chú Thất Phật Diệt Tội: E rằng bổn nghiệp mông lung mờ mịt, nên phải tiêu
diệt các nghiệp căn từ vô thủy kiếp - từng ngăn cản trí huệ quang minh như
vầng nguyệt sáng của chúng ta.
9)Chú Vãng Sanh: Nghiệp của chúng ta vốn là tịnh, nên hy vọng được Phật Di
Đà quán đỉnh xoa đầu, như để chứng minh rằng chúng ta sẽ vãng sanh Tịnh
Độ.
10) Chú Thiện Nữ Thiên: Là diệu quán cao tột nhất của tất cả đã diển tả ở trên.
Những bài chú này cùng nhau hợp thành sự diệu dụng của Pháp tánh, khiến
cho chúng ta nhanh chóng được toại nguyện. Tuy nhiên dù đã được thâm nhập
diệu quán do nhờ những bài mật chú, nhưng ta nên biết, tất cả đều là do ở chỗ
nhất tâm quán niệm mà thành. Hơn nữa, để tránh sự chấp trước vào các cảnh
quán tưởng, nên chúng ta tụng thêm Bát Nhã Tâm Kinh. Kinh chỉ thẳng vào tâm
thể bổn không, bởi sự tuyên bố khẳng định rằng tuyệt không trí huệ có thể đạt
được. Ngay cả tướng không cũng là không. Vì thế, cảnh giới của trí huệ hiện rõ
hiển nhiên trong toàn thể của nó – không một không khác. Nhị biên cực đoan bị
trừ tuyệt và Tam quán được viên dung.
Tất cả mười hai bài chú trên của Mật Tông và một bài kinh thuộc Hiển Tông
cùng hỗ trợ nhiếp thu lẫn nhau - lấy đó làm công đức đồng hồi hướng đến Tam
Bảo Long Thiên, phổ cập bốn ân, ba cõi, tám nạn ba đồ, quốc thái dân an, đàn
tăng phước huệ, ba môn thanh tịnh, thập địa đốn chiêu. Phần kết là kệ hồi
hướng, kế đến chúng ta niệm Phật cầu thật chứng. Khi niệm một danh hiệu Phật,
thời là bao hàm tất cả các danh hiệu chư Phật - bởi có sự bao gồm hỗ trợ của
một với nhiều và sự hợp nhất hoàn toàn tương dung giữa mình và người khác.
Tiếp đến là niệm Mười Hạnh Phổ Hiền. Khi niệm, nên quán tưởng đến các đại
nguyện này như là nguyện của chính mình. Và luôn phải thâm nhập những đại
nguyện trực thẳng vào mỗi tâm niệm, mỗi lời lẽ và mỗi hành động của chúng ta.
Kinh Hoa Nghiêm có giải thích về Mười Đại Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền
trong phẩm 40, chúng ta nên học hỏi để quen thuộc với ý nghĩa và nội dung của
1-Q
lời nguyện. Kết thúc khóa Công Phu Khuya là Tam Quy Y, tức gồm thâu công
đức tụng niệm các bài chú cùng bài kinh của Mật và Hiển tông, hầu kết thành tự
tánh Tam Bảo của chúng ta. Chúng ta không cầu vay mượn quy y bên ngoài tự
tánh của chính mình. Đại tổng tướng pháp môn của nhất tâm sẽ hiển hiện hoàn
toàn. Lúc đó tức là lúc chúng ta hội ngộ được Như Lai Tạng
http://www.bplmonastery.org/uploads/...ace-_ver10.pdf
-
Rắn Nghe Pháp Tại Vạn Phật Thánh Thành - HT Tuyên Hóa
Chú dẫn: Ngày Chủ nhật, 20 tháng 6 năm 1982, đúng lúc cử hành Pháp diên, bốn chúng đệ tử trong Vạn Phật Thành mới cùng nhau niệm "A Di Ðà Phật" trên đường về Ðại điện, thì phát hiện một con rắn lục có vằn nằm ngay nơi cửa trước Ðại điện, dài khoảng ba bốn bộ, hình dạng rất nhỏ và dài. Ðại chúng thấy rắn thì sợ không dám tiến vào, bấy giờ vị Tăng giám thị, Thầy Hằng Vô, muốn đem con rắn vứt ra ngoài. Song lúc đó thì Hòa Thượng cũng đang tiến lại, Ngài mỉm cười nói rằng: "Không cần thiết đâu, tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh, con rắn tới là để thân cận Tam Bảo, để nghe Pháp, không nên đuổi nó!"
Kỳ lạ thay con rắn này không giống như những con rắn bình thường khác, mình nó trườn dài ra mặt đất, tuy có trăm người bước qua mình, mà nó không có sợ hãi gì cả, nó hết sức thuần thục và hiền lành. Khi Hòa Thượng lên đài thuyết Pháp thì Ngài dạy rằng: "Kêu con rắn đó vào đây mà nghe Pháp đi." Con rắn nghe như vậy thì lập tức tiến vào, nó bò từ từ vào đến ngay giữa Chính điện không hề làm kinh sợ những người hai bên, rồi từ nơi Ðại điện ở phía trái nó bò qua bên phải, rồi mới nhiễu quanh tượng Phật một vòng, xong từ từ nằm phục xuống ở Pháp tòa, cũng giống như là quỳ trước tượng Phật vậy, nằm im nghe Pháp. Hòa Thượng mới khai thị cho nó như vầy:
"Nhất thiết chúng sanh
Giai hữu Phật tánh,
Giai kham tác Phật.
Ðó là câu nói từ kim khẩu của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên chúng sinh không chứng được trí huệ đức tướng của Như Lai. Từ nơi câu nói này ta có thể suy ra mọi chúng sinh đều có tánh Phật; đã vậy thì không nên sát sinh, không nên trộm cắp, không nên tà dâm, không nên vọng ngữ, không nên uống rượu; mà phải trì Ngũ Giới! Sát sinh là giết mười phương chư Phật, vì chúng sinh là do Phật thị hiện mà ra. Do vì một niệm không giác ngộ nên sinh ra ba thứ vô minh rất vi tế (nghiệp tướng, hiện tướng, chuyển tướng), chúng sinh mới trầm luân trong biển khổ, xa lìa rồi vĩnh viễn mất đi nền Ðạo chân thật!
Các vị tu Ðạo hãy quán tưởng xem: Hãy quán tưởng rằng tất cả chúng sinh đều là cha mẹ của mình trong quá khứ, đều là những vị Phật trong tương lai. Cho nên mình phải có lòng hiếu thuận với họ, giúp họ ly khổ đắc lạc, cắt đứt sinh tử, không còn bị ràng buộc trong vòng luân hồi nữa. Bởi họ là các vị Phật trong tương lai, nên khi họ chưa thành Phật, mình phải tôn kính họ. Mình phải đối với chúng sinh như là đối với ba đời chư Phật vậy. Suy nghĩ như vậy thì tự nhiên hết khinh thường, bất kính, hay nhiễu loạn chúng sinh. Chúng sinh không phải chỉ là thứ hữu hình, thậm chí thứ vô hình như quỷ, thần, tiên, ma đều là chúng sinh cả. Cho nên mình phải bình đẳng cung kính, tôn trọng họ, không nên coi thường họ.
Hôm nay con rắn mà các vị gặp ở Phật điện cũng là một chúng sinh. Song do nó thị hiện thân rắn, nên chúng ta thấy sợ, thấy mà không nhận thức, thậm chí còn bị lừa nữa. Rắn này tới đây chỉ để thân cận Tam Bảo, để nghe Pháp, nghe Kinh, nếu không vậy thì sao nó vào đây mà hết sức hiền hòa, nằm phủ phục chẳng động đậy gì cả nơi bục cửa?
Tuy nhiên, lấy mắt nhìn thì nó chỉ là con rắn nhỏ; kỳ thật rắn này có sức thiên biến vạn hóa; có thể ẩn hình, có thể thu nhỏ, biến lớn, lại biết đằng vân giá vũ, bay qua lượn lại trong không trung. Chúng ta không thể biết được bản lĩnh của nó. Rắn này tương lai tu hành thành công cũng sẽ đắc Ðạo. Phật kinh có đề cập tới Thiên Long Bát Bộ, thì rắn này thuộc một trong tám bộ đó: tức là Ma Hầu La Già (Ðại mãng xà).
Quán sát nhân duyên rắn này, có thể là: ở thời nhà Châu, rắn này là một vị Ðại thần, song tâm địa rất xấu xa, hiểm ác. Vì âm mưu soán đoạt ngôi vua, cho nên y dùng một con dao găm có tẩm rượu độc bỏ trong tay áo rồi đi hành thích nhà vua. Tuy nhiên, chẳng những y không soán đoạt được ngôi vua mà ngược lại, còn làm cho trời giận, dân oán. Vị Ðại thần đó khi lâm chung thì sinh tâm hết sức sân hận, độc địa, cho nên chết rồi đọa làm thân rắn, rồi có đời chuyển thành con trăn lớn.
Ởấ trên thế gian có hai thế lực là âm và dương, hay thiện và ác. Nếu theo đường thiện mà tận lực tu phước và huệ thì có thể thành Tiên, thành Thánh, thành Bồ Tát, thành Phật. Nếu theo đường ác mà luyện tập thì thế lực càng ngày càng lớn, song toàn làm những chuyện hắc ám, nào là hãm hại, tàn sát, oán hận, báo thù, do đó mỗi ngày mỗi chồng chất oán khí dầy đặc, lớn lao; kẻ tích tập oán khí sâu dầy đó sau này sẽ biến thành độc xà, độc long v.v...
Những thứ rắn độc hay rồng độc không phải là thứ mà mắt phàm thấy đặng, song chúng đầy dẫy trong thế giới này. Thứ rắn độc, rồng độc đó là do tâm tham, sân, si tích lũy hình thành. Cho nên khi bọn chúng tới chỗ nào là chỗ đó có tai họa. Thiên tai, nhân họa, phi thi (xác chết biết đi), tà quỷ (quỷ phá làng phá xóm), yêu tinh (những thứ cây cối thực vật, khoáng chất... hấp thụ tinh khí trời đất mà thành), ma yếm (quỷ tu luyện lâu năm thành ma), hay hoạnh dịch lưu hành (những thứ bịnh nan y) đều do những thứ rắn độc này tác quái. Còn rồng độc, dịch quỷ, thì chuyên phóng khí độc để làm loạn tâm người hoặc đoạt tinh khí của người, làm cho người ta kinh sợ, điên cuồng.
Cho nên, hiện thời lưu hành đủ thứ bịnh tâm lý, như là tinh thần phân liệt, hoặc là điên cuồng, khiếp sợ và đủ thứ tật bịnh sinh lý..., tất cả đều không ra ngoài phạm vi làm sóng làm gió của bọn yêu ma quỷ quái này. Tâm lý học và y học hiện đại không hiểu được một cách sâu sắc nguyên do của những chứng bệnh đó, cho nên không thể đối bịnh cho thuốc để chữa trị. Ðương nhiên Phật Pháp thì có linh dược triệt để trừ hết được tai nạn, dứt hết được tai ương!
Lại nói đến nhân duyên của rắn độc này: Vì sẵn có tâm sân hận, lại thêm tu luyện cái tâm sân hận đó cho nên mới thành tinh. Rắn luyện pháp thuật càng ngày càng cao. Trải qua một thời gian lâu dài thì nó thông thiên triệt địa, nhưng chỉ lấy chuyện hại người làm vui. Những chuyện tương tợ như con rắn này trong trời đất có nhiều vô số kể, nên tôi hy vọng bọn chúng mau sinh tâm sám hối, đừng làm chuyện yêu nghiệt, gieo họa cho nhân gian nữa.
Cho tới đời nhà Tống thì rắn này trở thành một con rồng độc. Nó ngự trị nơi một con sông lớn chuyên làm sóng gió mưa bão, sát hại không biết bao nhiêu thuyền chài, ngư phủ và khách qua sông. Cả một khoảng thời gian dài, nhân dân ở đó hết sức lo sợ, kinh hoàng. May thay có một vị Thánh Tăng pháp thuật rất cao cường đặc biệt tới để giải cứu. Vị đó tay cầm tích trượng, đứng bên bờ sông lớn tiếng khiển trách rồng độc. Rồng độc nghe được thì vô cùng tức giận, mới trổ hết bản lĩnh hiện ra thân hình mãng xà dài ngàn trượng. Song vị Pháp Sư vì có Kim Cang Tam Muội chấp trì nên chẳng hề sợ hãi. Ngài dùng pháp Câu triệu và pháp Hàng phục (hai phương pháp để chế phục quỷ thần), trải qua ba ngày ba đêm sống chết chiến đấu với nó, cuối cùng thì Ngài chiết phục được rồng độc. Tà không thắng chánh! Khi ác thuật bị phá rồi thì rồng độc chẳng còn cách gì khác hơn là phải đầu hàng. Bấy giờ vị Pháp sư này mới thuyết pháp rằng: 'Tất cả mọi thứ đều là khổ, là không, là vô thường, là vô ngã, và chỉ có cái nghiệp là theo thân mình!' Ðồng thời Ngài dạy nó nên sinh lòng từ bi, dùng pháp thuật để giúp ích chúng sinh, chớ không thể gia hại sinh linh nữa.
Rồng nghe Pháp rồi thì thức tỉnh, nên được con mắt thanh tịnh. Vị Pháp Sư mới truyền thọ cho nó Tam Quy, Ngũ Giới, rồi biểu nó tới một sơn động nọ để tu hành, đừng làm não loạn nhân dân nữa; rồng độc liền tuân theo lời dạy. Từ đời Tống đến nay đã trải qua mấy trăm năm lịch sử rồi, con rồng đó đã trở thành một trong Thiên Long Bát Bộ, thần thông biến hóa vô cùng."
Có lần trong Vạn Phật Ðiện có một vị Tỳ Kheo Ni nói rằng: "Mấy ngày trước, khi đi ngang qua Ðại Hỷ Xả Viện tôi thấy đuôi con rắn này thò ra ngoài, cho nên tôi lấy cây gắp bỏ vô hộp gỗ, định đem đi xa rồi thả để nó đừng gây hại người. Ai ngờ chỉ quay đầu lại, mở hộp ra thì rắn đã biến mất rồi. Rõ ràng rắn không cách gì có thể thoát ra được, nhưng lạ thay, thật là nó có thần thông."
Hòa Thượng cười mà nói rằng: "Con rắn này tôi đã biết nó từ trước rồi! Hai mươi năm trước, khi tôi còn ở chùa Từ Hưng trên núi Ðại Dư ở Hương Cảng thì nó đã từng tới chùa để nghe kinh. Tuy nó không làm hại ai nhưng ai cũng đều sợ nó! Sợ cái tướng rắn. Có lần có người cũng nhặt nó bỏ trong lồng, rồi đem đi thật là xa, không biết bao nhiêu dặm, chừng khi mở hộp để thả nó, thì rắn không cánh mà bay mất. Ngày nay Phật Pháp truyền sang Tây Phương, rắn này cũng không chối từ đường sá xa xôi bay qua Mỹ để hộ pháp."
Sau cùng, Hòa Thượng giảng dạy như sau: "Chúng sinh học Phật cần phải tin sâu nhân quả. Nếu không trồng nhân ác thì tự nhiên chẳng kết quả ác, nếu trồng nhân tốt thì tương lai chắc chắn sẽ được quả tốt. Nhân, quả không sai một mảy may. Mình giết cha người khác thì có người giết cha mình, mình giết anh người khác thì người khác sẽ giết anh mình. Ðừng nghĩ rằng có thể tùy tiện làm chuyện ác vì làm chuyện ác sẽ hết sức tổn hại cho mình. Vì sao? Vì trời cao có đức hiếu sinh, không muốn cho chúng sinh làm hại chúng sinh. Khi mình làm sai với lý nhân quả thì: Thân người mà mất đi, Vạn kiếp khó có lại được. Cho nên, chuyện gì không tin cũng được, nhưng chẳng thể không tin lý nhân quả! Nếu bài bác lý nhân quả thì tương lai sẽ hết sức nguy hiểm. Bồ Tát sợ nhân mà không sợ quả, cho nên hết sức thận trọng lúc trồng nhân. Nếu vì vô ý mà trồng nhân ác, thì lúc thọ quả báo ác, các ngài đối mặt tiếp thọ quả báo, không chạy trốn, không oán trời cũng không trách người. Ngược lại, chúng sinh thì sợ quả báo mà không sợ lúc trồng nhân. Lúc trồng nhân thì hết sức tùy tiện làm chuyện điên đảo, đến lúc thọ quả báo thì sợ hãi vô cùng, oán người trách trời: 'Tại sao tôi phải chịu đau khổ thế này? Tại sao tôi phải chịu báo ứng bất công như thế này?'
Các vị có biết đâu rằng nếu như khi xưa không trồng nhân như vậy thì bây giờ sao gặt quả như thế? Hôm nay gặp nhân duyên này, có Thiên Long Bát Bộ hiện thân thuyết pháp, cho nên tôi nhân cơ hội nói cho các vị biết tiền nhân hậu quả.
"Chỉ nhân nhất trước thác,
Thâu liễu mãn bàn kỳ."
Nghiã là: Chỉ đi sai một nước, Mà thua cả ván cờ. Sai lầm chỉ một niệm mà kiếp vận khó vãn hồi. May thay là con rắn này đã quy y Tam Bảo, tương lai nó còn có cơ hội để minh tâm kiến tánh. Nếu các vị không tin vào nhân duyên này, thì cứ tự mình thí nghiệm xem; còn nếu tin nhân quả, thì đừng nên nghi ngờ gì chuyện này cả!"
HT Tuyên Hóa
https://www.linhsonphatgiao.com/7/6/...tuyen-hoa.html
-
NGHI THỨC PHÓNG SANH
Posted by Mai/Diệu Sương on Sunday, December 22, 2013 in kinh kệ, new | 0 comments
Chia sẻ2
phong sinh chim
TÁN DƯƠNG CHI
Dương chi tịnh thủy
Biến sái Tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhơn thiên
Pháp giới quảng tăng diên
Diệt tội tiêu khiên
Hỏa diệm hóa hồng liên
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần)
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
TỤNG DANH HIỆU PHẬT
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát
LỜI CỦA PHẬT
(Hướng về chim, cá, …các vật được phóng sanh mà đọc Phật kệ tỉnh thức khai thị và quy y cho chúng)
Chúng sanh đây có bấy nhiêu
Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn
Các ngươi trước lòng trần tục lắm
Nên đời này chìm đắm sông mê
Tối tăm chẳng biết tu trì
Gây nên tội báo lại về mình mang
Sống đọa đày chết thường đau khổ
Lông, vảy, sừng có đở được đâu
Dù là bay trước lặn sau
Lưới vây tên bắn, lưỡi câu thả mồi
Tát cạn bắt cùng hơi hun độc
Lúc đó dù kêu khóc ai thương
Nằm trên tấm thớt là thường
Hồn còn phưởng phất nấu ran xoong rồi
Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc
May sao nhờ các bậc thiện nhân
Cứu cho ngươi được thoát thân
Đến đây lại được nhờ ơn Pháp mầu
Vậy ngươi kíp hồi đầu quy Phật
Xong dốc lòng quy Pháp quy Tăng
Chúng sanh quy y Phật
Chúng sanh quy y Pháp
Chúng sanh quy y Tăng (3 lần)
Chúng sanh quy y Phật bất đọa địa ngục
Chúng sanh quy y Pháp bất đọa ngạ quỷ
Chúng sanh quy y Tăng bất đọa bàng sanh (3 lần)
Chúng sanh quy y Phật cảnh
Chúng sanh quy y Pháp cảnh
Chúng sanh quy y Tăng cảnh (3 lần)
Quy y rồi tội chướng sạch băng
Trí khôn sáng tỏa tưng bừng khắp nơi
Phát tâm tu sau rồi được phước
Về phương Tây sung sướng đời đời
Lên tòa sen báu thảnh thơi
Không hề lay chuyển an vui tháng ngày
Xin đại chúng ra tay cứu khổ
Nhất tâm cầu Phật độ chúng sanh
Cùng nhau dốc một lòng thành
Nguyện cho đều thoát khỏi vòng trầm luân
Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát (3 lần) Ma Ha Tát
LỄ PHÓNG SANH
(Chủ lễ ra nơi chồ thả chim, cá, v.v…, lấy ly nước và bông đã làm phép tịnh thủy, vẽ hai chữ Án Lam rảy lên đầu chim, cá, v.v… để phóng sanh. Trước khi rảy nước, chủ lễ đọc bài kệ giải nghiệp)
KỆ GIẢI NGHIỆP
Hữu tình chúng bây túc nghiệp đa
Bởi thế đời nay đọa võng la
May gặp thiện duyên công đức lớn
Quy y Tam Bảo tội tiêu ma
Nam mô Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật
Nam mô Thi Khí Phật
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật
Nam mô Ca Diếp Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát (đọc 3 lần)
(Kế đế chủ lễ bắt đầu rảy nước phép lên đầu chim, cá, v.v… phóng sanh, đồng thời đọc Chú)
CHÚ PHÓNG SANH
Thiên giá giá, địa giá giá,
La võng biến thất Phật Ca Sa,
Thất Bảo Như Lai Phóng Sanh Kệ:
Tứ đại yết đế hộ phóng tha.
Phi cầm, tẩu thú quy sơn khứ,
Ngư, biếc, hà, giải lạc thanh sa.
Nhược hữu nhứt cá bất đắc thoát,
Sơn thần, thủy tướng hộ phóng tha.
Án Linh Cảm Ứng Tóa Ha (3 lần)
(Sau đó chủ lễ đọc tiếp bài kệ Công Đức Phóng Sanh)
http://www.chuagiaclam.org/2013/12/n...hong-sanh.html
-
NGHI THỨC PHÓNG SANH
Posted by Mai/Diệu Sương on Sunday, December 22, 2013 in kinh kệ, new | 0 comments
Chia sẻ2
phong sinh chim
TÁN DƯƠNG CHI
Dương chi tịnh thủy
Biến sái Tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhơn thiên
Pháp giới quảng tăng diên
Diệt tội tiêu khiên
Hỏa diệm hóa hồng liên
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần)
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
TỤNG DANH HIỆU PHẬT
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát
LỜI CỦA PHẬT
(Hướng về chim, cá, …các vật được phóng sanh mà đọc Phật kệ tỉnh thức khai thị và quy y cho chúng)
Chúng sanh đây có bấy nhiêu
Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn
Các ngươi trước lòng trần tục lắm
Nên đời này chìm đắm sông mê
Tối tăm chẳng biết tu trì
Gây nên tội báo lại về mình mang
Sống đọa đày chết thường đau khổ
Lông, vảy, sừng có đở được đâu
Dù là bay trước lặn sau
Lưới vây tên bắn, lưỡi câu thả mồi
Tát cạn bắt cùng hơi hun độc
Lúc đó dù kêu khóc ai thương
Nằm trên tấm thớt là thường
Hồn còn phưởng phất nấu ran xoong rồi
Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc
May sao nhờ các bậc thiện nhân
Cứu cho ngươi được thoát thân
Đến đây lại được nhờ ơn Pháp mầu
Vậy ngươi kíp hồi đầu quy Phật
Xong dốc lòng quy Pháp quy Tăng
Chúng sanh quy y Phật
Chúng sanh quy y Pháp
Chúng sanh quy y Tăng (3 lần)
Chúng sanh quy y Phật bất đọa địa ngục
Chúng sanh quy y Pháp bất đọa ngạ quỷ
Chúng sanh quy y Tăng bất đọa bàng sanh (3 lần)
Chúng sanh quy y Phật cảnh
Chúng sanh quy y Pháp cảnh
Chúng sanh quy y Tăng cảnh (3 lần)
Quy y rồi tội chướng sạch băng
Trí khôn sáng tỏa tưng bừng khắp nơi
Phát tâm tu sau rồi được phước
Về phương Tây sung sướng đời đời
Lên tòa sen báu thảnh thơi
Không hề lay chuyển an vui tháng ngày
Xin đại chúng ra tay cứu khổ
Nhất tâm cầu Phật độ chúng sanh
Cùng nhau dốc một lòng thành
Nguyện cho đều thoát khỏi vòng trầm luân
Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát (3 lần) Ma Ha Tát
LỄ PHÓNG SANH
(Chủ lễ ra nơi chồ thả chim, cá, v.v…, lấy ly nước và bông đã làm phép tịnh thủy, vẽ hai chữ Án Lam rảy lên đầu chim, cá, v.v… để phóng sanh. Trước khi rảy nước, chủ lễ đọc bài kệ giải nghiệp)
KỆ GIẢI NGHIỆP
Hữu tình chúng bây túc nghiệp đa
Bởi thế đời nay đọa võng la
May gặp thiện duyên công đức lớn
Quy y Tam Bảo tội tiêu ma
Nam mô Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật
Nam mô Thi Khí Phật
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật
Nam mô Ca Diếp Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát (đọc 3 lần)
(Kế đế chủ lễ bắt đầu rảy nước phép lên đầu chim, cá, v.v… phóng sanh, đồng thời đọc Chú)
CHÚ PHÓNG SANH
Thiên giá giá, địa giá giá,
La võng biến thất Phật Ca Sa,
Thất Bảo Như Lai Phóng Sanh Kệ:
Tứ đại yết đế hộ phóng tha.
Phi cầm, tẩu thú quy sơn khứ,
Ngư, biếc, hà, giải lạc thanh sa.
Nhược hữu nhứt cá bất đắc thoát,
Sơn thần, thủy tướng hộ phóng tha.
Án Linh Cảm Ứng Tóa Ha (3 lần)
(Sau đó chủ lễ đọc tiếp bài kệ Công Đức Phóng Sanh)
http://www.chuagiaclam.org/2013/12/n...hong-sanh.html
-
˙阿彌陀佛心咒:
嗡[歸命] 阿彌爹瓦[甘露王] 啥[彌陀佛種子字]
持誦此咒,能除一切業障、斷無邊煩 ,仰仗彌陀願力獲無量功德,日日恆 此咒命終之後,速往西方極樂世界。
https://kissgirl611.pixnet.net/blog/post/29582148
-
http://xuanfa.net/wp-content/uploads...-KAGYU-WEB.jpg
https://i.imgur.com/IFMHq84.jpg
https://i.imgur.com/bQFHcPt.jpg
LINEAGE-KAGYU-WEB
Karma (Marpa) Kagyu
Kagyu Sect Lineage ChartThis Tibetan School, was also founded in the 11th century by Gampopa (1079-1153), a student of Milarepa (1052-1135). Milarepa was a student of Marpa (1012-1097) who brought the core doctrines of this school from his master in India, Naropa (1016-1100). Naropa was the principle disciple of Tilopa (988-1069). Master Tilopa was able to receive the tantric teachings directly from Dorje Chang Buddha, but was not able to transmit some of the teachings because he was not a buddha. Master Gampopa had four main disciples: Dusum Khyenpa (1110-1193), who became known as the First Karmapa, started the Karma Kagyu sub-sect and three others who founded the Tsalpa Kagyu, Babrom Kagyu and Pagdru Kagyu subsects. These four sub-sects became known as the four major lineages. The Pagdru Kagyu formed eight minor lineages of the Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu, Taglung Kagyu, Yazang Kagyu, Trophu Kagyu, Shugseb Kagyu, Yerpa Kagyu, and Martsang Kagyu. Only the first three of these minor linages have survived. The Drikung Kagyu is headed by its 37th dharma king, Kyabgon Chetsang while H.H. the 12th Gyalwang Drukpa heads the Drukpa Kagyu.
The second Karmapa, Karma Pakshi (1203-1283), predicted that in the future the Karmapa would assume two nirmanakaya forms: One would continue the lineage of the “Black Crown” as the Karmapa and the other would establish the lineage of the “Ruby-red Jewel Crown” as the Shamarpa. The ninth Karmapa offered a second Ruby-red Crown to Tai Situ Rinpoche who subsequently also became one of the Karmapa’s regents. Goshir Rinpoche also received the Orange Crown, becoming the third regent for the Karmapa. Jamgon Kongtul was also recognized as the fourth regent. There are currently two incarnations recognized as the Black Crown Karmapa: Urgyen Trinley Dorje (1985–) and Thrinley Thaye Dorje (1983–). Urgyen Trinley has been recognized by two of the regents, Tai Situ Rinpoche and Goshir Rinpoche, while Thaye has been recognized by Shamarpa Rinpoche. The Shamarpa would seem to be the senior regent in this matter. The fourth regent, Jamgon Kongtrul (1954-1992) died in a mysterious car accident. His reincarnation is also contested with two candidates having been enthroned by different groups of supporters.
Neither Karmapa candidate has been able to return to Rumtak Monastery, which was the seat of the 16th Karmapa in exile. To further complicate the matter one of the incarnations, Urgyen Trinley, has been recognized by both the Dalai Lama and the Chinese government, although neither organization has any valid or legimate role in determining who the correct incarnation is. Each of the major schools are autonomous in such matters. In 2011 Urgyen Trinley was arrested as a Chinese spy by the Indian government after over $1 million in cash was found in Urgyen Trinley’s premises. Much of that amount was in Chinese currency. Although these charges have been dropped, there are still considerable political issues involved in this debate.
This school has an oral tradition stressing the more mystical aspects of Tantra. Its highest teachings are included in the “Mahamudra Dharma” which the Indian Mahasiddha Tilopa received directly from Dorje Chang Buddha. However, since Tilopa was not yet a buddha, he could not transmit some of the higher aspects of the mahamudra dharma to his followers. H.H. Dorje Chang Buddha III has come to this world to complete this transmission with the Supreme and Unsurpassable Mahamudra of Liberation that will be accessible to all beings.
There are many Kagyu practitioners in this country. The current seat of the Karma Kagyu Sect is at Karma Triyana Dharmachakra (KTD) at Woodstock in upstate New York.
http://xuanfa.net/introduction-to-bu...ma-marp-kagyu/
-
http://xuanfa.net/wp-content/uploads...-KAGYU-WEB.jpg
https://i.imgur.com/IFMHq84.jpg
https://i.imgur.com/bQFHcPt.jpg
LINEAGE-KAGYU-WEB
Karma (Marpa) Kagyu
Kagyu Sect Lineage ChartThis Tibetan School, was also founded in the 11th century by Gampopa (1079-1153), a student of Milarepa (1052-1135). Milarepa was a student of Marpa (1012-1097) who brought the core doctrines of this school from his master in India, Naropa (1016-1100). Naropa was the principle disciple of Tilopa (988-1069). Master Tilopa was able to receive the tantric teachings directly from Dorje Chang Buddha, but was not able to transmit some of the teachings because he was not a buddha. Master Gampopa had four main disciples: Dusum Khyenpa (1110-1193), who became known as the First Karmapa, started the Karma Kagyu sub-sect and three others who founded the Tsalpa Kagyu, Babrom Kagyu and Pagdru Kagyu subsects. These four sub-sects became known as the four major lineages. The Pagdru Kagyu formed eight minor lineages of the Drikung Kagyu, Drukpa Kagyu, Taglung Kagyu, Yazang Kagyu, Trophu Kagyu, Shugseb Kagyu, Yerpa Kagyu, and Martsang Kagyu. Only the first three of these minor linages have survived. The Drikung Kagyu is headed by its 37th dharma king, Kyabgon Chetsang while H.H. the 12th Gyalwang Drukpa heads the Drukpa Kagyu.
The second Karmapa, Karma Pakshi (1203-1283), predicted that in the future the Karmapa would assume two nirmanakaya forms: One would continue the lineage of the “Black Crown” as the Karmapa and the other would establish the lineage of the “Ruby-red Jewel Crown” as the Shamarpa. The ninth Karmapa offered a second Ruby-red Crown to Tai Situ Rinpoche who subsequently also became one of the Karmapa’s regents. Goshir Rinpoche also received the Orange Crown, becoming the third regent for the Karmapa. Jamgon Kongtul was also recognized as the fourth regent. There are currently two incarnations recognized as the Black Crown Karmapa: Urgyen Trinley Dorje (1985–) and Thrinley Thaye Dorje (1983–). Urgyen Trinley has been recognized by two of the regents, Tai Situ Rinpoche and Goshir Rinpoche, while Thaye has been recognized by Shamarpa Rinpoche. The Shamarpa would seem to be the senior regent in this matter. The fourth regent, Jamgon Kongtrul (1954-1992) died in a mysterious car accident. His reincarnation is also contested with two candidates having been enthroned by different groups of supporters.
Neither Karmapa candidate has been able to return to Rumtak Monastery, which was the seat of the 16th Karmapa in exile. To further complicate the matter one of the incarnations, Urgyen Trinley, has been recognized by both the Dalai Lama and the Chinese government, although neither organization has any valid or legimate role in determining who the correct incarnation is. Each of the major schools are autonomous in such matters. In 2011 Urgyen Trinley was arrested as a Chinese spy by the Indian government after over $1 million in cash was found in Urgyen Trinley’s premises. Much of that amount was in Chinese currency. Although these charges have been dropped, there are still considerable political issues involved in this debate.
This school has an oral tradition stressing the more mystical aspects of Tantra. Its highest teachings are included in the “Mahamudra Dharma” which the Indian Mahasiddha Tilopa received directly from Dorje Chang Buddha. However, since Tilopa was not yet a buddha, he could not transmit some of the higher aspects of the mahamudra dharma to his followers. H.H. Dorje Chang Buddha III has come to this world to complete this transmission with the Supreme and Unsurpassable Mahamudra of Liberation that will be accessible to all beings.
There are many Kagyu practitioners in this country. The current seat of the Karma Kagyu Sect is at Karma Triyana Dharmachakra (KTD) at Woodstock in upstate New York.
http://xuanfa.net/introduction-to-bu...ma-marp-kagyu/
-
"Ubah [segel sebelumnya] dan tekuk jari tengah: ini adalah segel dari Piśācī.
Mantranya adalah: Namah samanta-buddhānām, pici pici svaha. (Menyembah hormat kepada semua Buddha! Pici pici! Svaha!)
https://buddhaksetra.forumotion.com/...hayana-suttram
-
https://ktdblog.files.wordpress.com/...olamatashi.jpg
BARDO TEACHINGS WITH LAMA TASHI DONDUP, APRIL 19 – 21 AT KTD
Posted on March 1, 2013 by KTD
bardoversion5Bardo is the Tibetan term referring to the intermediate state between the end of this life and the beginning of the next life. Additional bardos include this life and the process of death and dying. As such, bardo states encompass all possible experiences throughout life, death, and rebirth. They are times of transition, uncertainty, and difficulty which require special instructions to pass through without harm or fear. It is therefore crucial for all Dharma practitioners to know what to do at the time of death and afterward. Without proper instruction and training in the bardo states while we are alive now, we may experience disastrous consequences later on. Nonetheless, for a qualified practitioner with understanding and stable meditation, these states offer the possibility of liberation from the fearful ocean of samsara or at least a meaningful rebirth where we can continue on the path to liberation.
The bardo teachings found within the vajrayana are incredibly profound. Especially, the uncommon teachings of the great terma scripture called “Liberation through Hearing in the Bardo” offer the most detailed instructions on the stages of experience of the successive bardos and what we need to know and practice now as preparation.
bardolamatashi
Lama Tashi Dondup at KTD.
It is an extraordinary opportunity to receive these teachings directly from a lama as qualified and experienced as Lama Tashi Dondup. A gelong or fully ordained monk as well as a tantric ritual master and artist, Lama Tashi has received and practiced a vast array of vajrayana teachings over the course of many years. He now spends his life tirelessly imparting the Dharma to fortunate disciples throughout the world. His center in Toronto, Karma Tekchen Zabsal Ling, has a large, beautiful mandala dedicated to the Buddha of Compassion, the Eleven Faced, One Thousand Armed Chenrezik, that was created and designed by Lama Tashi.
— Lama Zopa Borodin
Share this:
https://ktdblog.wordpress.com/2013/0...-19-21-at-ktd/
===========
https://kagyu.org/lama-tashi-dondup/
-
The Mantra Of Vikiranosnisa:- Nama Samantabuddhanam, Hrum.
Mantra dari Vikiranosnīsa:"Namah samanta buddhānām, hrum." (Menyembah hormat kepada semua Buddha! Hrum!).
https://buddhaksetra.forumotion.com/...hayana-suttram
==========
Vikìranosnìsa (Trừ Chướng Phật Đảnh)
Trừ Chướng Phật Đảnh Chơn Ngôn
Namah Samanta Buddhànàm Hrùm Vikìrana Panco-snìsa Svaha
http://www.chuadainhatnhulai.org/pdf...ankrit_Chu.pdf
=================
Trong tất cả Phật Đỉnh thì Tôn Thắng Phật Mẫu tức Tôn Thắng Phật Đỉnh hay
khử trừ tất cả phiền não nghiệp chướng, phá hoại tất cả sự đau khổ của nẻo uế ác.. nên
được xem là Tổng Thể của tám Phật Đỉnh. Ở trường hợp này thì Tôn Thắng Phật Mẫu
được xưng là Trừ Chướng Phật Đỉnh hay Xả Trừ Phật Đỉnh (Vikīraṇa-Uṣṇīṣa), Tồi
Toái Phật Đỉnh, Trừ Chướng Phật Đỉnh Luân...Tôn này là Hóa Thân (Nirmāṇa-kāya)
của Đại Nhật Như Lai Đỉnh Kế (Vairocana-tathāgatoṣṇīsa) biểu thị cho sức Thần
Thông không có chỗ sợ của Như Lai, có năng lực dứt sạch các ô nhiễm của nghiệp
khiến cho tất cả chúng sinh đều được an vui.
Vòng tròn phương Bắc vẽ Trừ Cái Chướng Phật Đỉnh (Vikīraṇa-Uṣṇīṣa)
Trong viên minh phía trước có chữ HRŪṂ ( ) biến thành móc câu, móc câu
biến thành Tôn Thắng Phật Đỉnh (Trừ Chướng Phật Đỉnh) ngồi Kiết Già trên đài hoa
sen, màu thịt trắng, hai tay để dưới rốn như vào Thiền Định, giữa lòng bàn tay nâng
một hoa sen, trên hoa có dựng một móc câu Kim Cương
http://sachbaoluutru.viengiac.de/Huy...ai-phat-bo.pdf
===========
Theo truyền thống Mật Giáo thì Phật Đỉnh Tôn Thắng là một trong 5 Phật Đỉnh
của viện Thích Ca thuộc Thai Tạng Giới Mạn Đà La (Garbhadhātu-maṇḍala) có tên
là Trừ Chướng Phật Đỉnh (Vikīraṇa-uṣṇīṣa) biểu thị cho Đỉnh Thần Thông không có
chỗ sợ hãi (vô sở úy) của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai (Śākyamuṇi Tathāgata).
Phật Đỉnh này có Chủng Tử là HRŪṂ ( ), Tam Muội Gia Hình là “Hoa Sen bên
trên có dựng móc câu”. Tôn này có công năng nhiếp phục, làm tiêu trừ mọi nghiệp
cấu của tất cả chúng sinh và khiến cho chúng trở thành thanh tịnh. Trong 5 Phật Đỉnh
hóa hiện từ đỉnh kế của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai thì Phật Đỉnh này là thù thắng
nhất cho nên hệ Mật Giáo dùng Phật Đỉnh Tôn Thắng làm Bản Tôn cho Pháp tu trì về
Tức Tai, trị bệnh… và xưng là Tôn Thắng Pháp.
http://sachbaoluutru.viengiac.de/Huy...-phap-kinh.pdf
-
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni
Hán dịch: Nước Kế Tân, sa môn Phật Đà Ba Lỵ
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Lời Sau Cùng
Môn Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni, đời Đường có quan thị ngự sử Võ Triệt thường trì tụng, sau nghe bạn đồng liêu là Tưởng Hình cũng thọ trì, nhưng văn cú và ngôn âm phần lớn đều sai khác; hỏi ra quan Thị Ngự Sử Tưởng Hình thọ học với ông Vương Khai Sĩ, và Vương Khai Sĩ lại được ngài Kim Cang Trí Tam Tạng truyền pháp. Trong khi truyền thọ ngài bảo: "— Tây Vức cũng ít có bản này. Ta đem theo Phạn bản đến đây, nên mật truyền lại cho ông".
Trong niên hiệu Khai Nguyên, có vị cư sĩ tinh tu ở non Ngũ Đài, người thường gọi là Vương Sơn Nhơn, cũng trì tụng chú này. Sau vì cầu siêu cho cha, ông tụng chú đến vài mươi muôn biến, cầu xin được biết nghiệp báo lành dữ và chỗ sanh của phụ thân. Nhưng kết cuộc không thấy chi, ông thối tâm muốn ra khỏi núi. Bỗng gặp một lão nhơn đón lại, bảo: "Hiền giả tụng trì thật là cần mẫn, nhưng vì cách Phật lâu xa, văn cú thất lạc, thiếu sót nhiều. Nên không mau được ứng nghiệm. Nay gặp nhau đây, tôi xin truyền lại toàn bản của thần chú". Vương Sơn Nhơn mời về đảnh lễ và thọ pháp. Lão nhơn dạy: "Hiền giả tụng chú bản này độ một ngàn biến sẽ thấy hiệu lực". Cư sĩ trì niệm y theo lời. Vài hôm sau lúc ban đêm, bỗng nghe tiếng ngọc hoàn bội khua thanh thao, giọng tiêu cầm dìu dặt, lần lần giáng xuống trước sân nhà, cư sĩ kinh lạ bước ra xem, thấy mấy mươi thiên nhơn vây quanh ủng hộ một vị thiên tiên tướng mạo siêu phàm đi đến. Vị thiên tiên hỏi: "Người biết ta chăng?" Cư sĩ thưa: "Kẻ dung phàm này mới được hân hạnh diện kiến". Thiên tiên nói: "Ta là phụ thân của người, năm rồi người trì tụng Tôn Thắng đà ra ni, ta được nhờ phước lực sanh lên cõi trời. Mấy hôm nay, y phước lại tăng gấp bội hơn trước, ta được làm vua trong hàng thiên tiên. Bản chú ngươi vừa trì tụng công hiệu thật không thể nghĩ bàn!" Nói xong, tất cả đồng bay về thượng giới, cư sĩ vui mừng, cúi lạy tiễn đưa. Từ đó về sau càng thêm tinh tấn.
Cũng vào thời đó, tại Đông Đô có ông Vương Thiếu Phủ tụng chú Tôn Thắng theo bản của ngài Phật Đà Ba Lỵ đã vài muôn biến, một đêm, ông mộng thấy vị Phạn tăng đi đến bảo: "Nhơn giả tụng niệm rất tinh thành, nhưng tiếc vì chú văn còn thiếu, nên công hiệu kém!" Thiếu Phủ đảnh lễ cầu thỉnh bản chú văn đầy đủ. Phạm tăng từ bi chấp thuận, khẩu truyền từng câu chân ngôn. Sau khi đã thông thuộc tất cả, ông bái tạ đưa vị Phạm tăng ra khỏi cửa, nhìn qua trời sáng như ban ngày. Thiếu Phủ trở vào nhà thấy tôi tớ còn đang nằm ngủ. Vừa lúc ông chợt tỉnh giấc, vội gọi kẻ đồng bộc trách bảo trời đã sáng sao chưa thức dậy? Chúng đáp rằng mới vừa nửa đêm. Lúc ấy ánh sáng bỗng tắt, trở lại đêm tối như cũ. Thiếu Phủ nhớ cơn thần mộng, lấy làm lạ, nhắm mắt tụng thần chú mấy biến thấy vẫn thông suốt. Từ đó, ông y theo khẩu truyền của vị Phạm tăng mà thọ trì.
Trong niên hiệu Thiên Bảo năm đầu, Thiếu Phủ đang nằm nơi tư thất, chợt tắt hơi. Vì nơi ngực còn ấm, người nhà không dám tẫn liệm. Đến 7 hôm sau, ông bỗng sống lại. Lúc ấy, kẻ háo sự trong thành bảo nhau đến hỏi về duyên cớ tái sanh. Tiếng đồn lan ra, Vưong Khai Sĩ và Vương Sơn Nhơn lúc ấy ở Đông Đô không quen biết nhau, cũng đồng đến thăm viếng. Trước mặt các quan khách, Vương Thiếu Phủ trần thuật như sau:
- Tôi vừa nằm nghỉ, chợt hôn mê, thấy có 2 sứ giả đến dẫn đem đi. Được vài mươi dặm, đến một gốc đại thọ, 2 sứ giả dùng lại tạm nghỉ, tôi cũng ngồi xuống theo. Bỗng nhớ tới chú Tôn Thắng, tôi liền nhắm mắt tụng luôn 21 biến. Lúc mở mắt nhìn quanh, không thấy 2 sứ giả đâu cả. Giây lát, có 4 vị khác đi đến quỳ thưa rằng: "Không biết ngài tu theo diệu pháp nào, khiến cho 2 sứ giả dẫn độ đều được sanh lên cõi trời?" Tôi đáp: "Tệ nhơn chỉ tụng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni". Bốn vị ấy cầu thỉnh: "Xin ngài vì chúng đệ tử tụng trì, cứu vớt cho khỏi vòng khổ nạn!" Tôi cũng nhắm mắt tụng 21 biến, lúc mở mắt ra, lại không thấy bốn vị đó.
Khoảnh khắc giữa hư không, có tiếng binh đao, một vị thần mặc tử bào, mang giáp trụ, quân thị vệ đông đảo, đến trước quỳ thưa rằng: "Tôi là thần Ngũ Đạo Minh Ty, địa vị tuy tôn quý, nhưng vẫn còn nhiếp về thần đạo. Sáu vị kia nhờ pháp lực của ngài, đều được sanh lên cõi trời. Xin mời ngài hạ cố đến tệ cư trì tụng, khiến cho đệ tử và chúng sanh nơi đó được nhờ phước ấm, đồng sanh lên thiên giới". Theo vị thần, tôi đi đến một khu thành quách to rộng, chu vi ước độ vài mươi dặm. Trong thành có rất đông tội nhơn, mang gông xiềng họp lại nơi sân rộng trước cung điện, có lẽ đang chờ khảo tra xử phạt. Vị thần dạy quân bày tòa cao đẹp, làm lễ thỉnh tôi lên ngồi, còn chính mình quỳ nơi trước, phía dưới, chắp tay lắng nghe. Tôi liền định tâm chí thành tụng đủ 49 biến, khi mở mắt ra nhìn bốn bề không thấy một ai cả, chỉ có gông xiềng đứt nát nằm ngổn ngang chung quanh. Còn đang kinh ngạc, bỗng có 4 sứ giả đến bảo tôi rằng: "Đức vua dạy mời ông đi nơi khác, vì ông đã làm rối loạn, phá hư trật tự chốn minh ty của chúng tôi". Kế đó họ đưa tôi vào một hang núi, và tôi được hoàn hồn sống lại. Sự tái sanh này chắc cũng nhờ oai lực không thể nghĩ bàn của Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni.
Vương khai Sĩ và Vương Sơn Nhơn nghe nói, mỗi người đều đọc bản chú của mình để so sánh với bản chú của Vương Thiếu Phủ thì thấy đồng nhau như một bản. Cả ba đều vui mừng, cùng nhau khánh hạ. Vương sơn Nhơn nói: "Bản của tôi thọ giáo nơi vị thánh công nơi non Ngũ Đài", Vương Thiếu Phủ bảo: "Tôi thọ học bản chú này với vị thần tăng". Vương Khai Sĩ nói: "Còn bản của tôi được thọ truyền bởi ngài Kim Cang Trí Tam Tạng, hiện Phạm văn bối diệp hiện còn lưu trữ". Ai nấy nghe nói đều kinh ngạc, khen là chuyện hy hữu.
Ngoài ra lại còn chuyện ông Trương Diệc trì chú Tôn Thắng cứu được cha mẹ khỏi khổ địa ngục, sanh lên cõi trời. Chuyện ông Trương Thừa Phước trì chú này khi bị minh ty đến bắt, đã không thọ khổ mà còn cứu vớt được tội nhơn ở cõi âm được siêu thoát. Truyện vài vị tăng trì chú Tôn Thắng cảm được xá lợi hiện và rất nhiều cảnh giới lành.
Những chuyện trên đây có ghi chép trong tập Gia Cú Linh Nghiệm Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni Ký. Sau tập này có chép bản văn đầy đủ của chú ấy, gọi là Cụ Túc Bản. Bút giả y theo Cụ Túc Bản so sánh với phiên âm của các bản khác, và tra cứu từ điển để dịch ra Việt ngữ cho đúng với Phạm âm. Riêng bản dịch của Pháp Thiên Tam Tạng nhan đề Tối Thắng Phật Đảnh Đà Ra Ni so với Cụ túc Bản văn cú đã đồng lại có phần rộng hơn. Sau khi hiệu kiểm, bút giả lại ghi thêm vào những văn cú mà Cụ túc bản không có để được càng đầy đủ. Mong rằng việc làm này, đem nhiều lợi ích cho người trì tụng.[] Thích Thiền Tâm
https://thuvienhoasen.org/p16a15403/...da-ra-ni#plist