Ý nghĩa Chú Nguyện
( http://tubiquanam.org/?page_id=1244 )
Chú nguyện là đặt hết Tâm thành vào sự cầu nguyện. Thông thường người Phật tử, thiện nam tín nử hay đến xin Chư Tăng chú nguyện cầu an khi gia đình tai nạn, ốm đau, hay cầu siêu khi thân nhơn quá vãng. Chư Tăng khi gặp cảnh đau khổ của chúng sanh, cho dầu họ không cầu khẩn, mình cũng phải chú nguyện, mới trọn đạo Từ Bi, cho đến với loài vật cũng vậy.
Trước khi chú nguyện, chư Tăng phải giải thích cho người:
1) Rõ lý nghĩa trước khi hành Phật sự;
2) Có đức tin Tam Bảo và lý nhơn quả một cách sáng suốt.
Chú nguyện nếu được kết quả, có khi nhờ ân đức của Chư Phật, Chư Thiên các đấng vô hình; có khi nhờ công đức của Chư Tăng, lại phải nhờ “người đứng xin chú nguyện” có công đức cùng không!
Thí dụ:
1- Công đức của ơn linh:
Ông Sáu Lê Văn Mãnh, cầu Bắc Cần Thơ có người con bị bắt, đương khi chạy lo bối rối thì vừa gặp đức Thầy trên bến đò Cái Vồn. Ông bèn quỳ ngay dưới chân đức Thầy đảnh lễ và khóc lóc, thinh cầu Thầy cứu nạn.
Đức Thầy cười và nói: “Không sao đâu, chừng mươi bữa nữa tháng con ông sẽ về chớ có lo gì”.
Quả nhiên, sau đó hơn mười hôm người con trai ông Sáu ấy được thả về. Chuyện ấy đồn xa, bao nhiêu người nói: “Đức Thầy là bực tiên tri, có phép huyền diệu lắm”!
Tôi nghe vậy nên đến bạch đức Thầy xin chỉ giáo.
Đức Thầy dạy rằng:
– Đó không phải do sức tôi mà nên việc. Phàm một người phát lòng Bồ đề, hành Bồ tát đạo tế độ chúng sanh là có chịu mạng lịnh của chư Phật, thay quyền đức Phật tế độ chúng sanh, cho nên chư Thiên đều phải theo ủng hộ vị đó. Khi vị đó có nhơn duyên tiếp độ ai, cầu nguyện đến chư Thiên là chư Thiên ủng hộ. Như vậy, thì sức oai linh đó của Chư Thiên chớ không phải của người phàm.
Vả lại, có nhiều khi chuyện xảy ra do Chư Thiên dắt người tiến vào cõi đạo. Vì Chư Thiên xét thấy người có thiện căn mà chưa về với Tam Bảo, nên phải đúng dịp đó khiến người sanh nảy đức tin, sau khi thoát nạn, tức nhiên người sẽ Quy Y Tam Bảo.
Đó là trường hợp đặc biệt. Còn thường thường mình phải cầu, chư Thiên mới giúp, và cũng phải do nhơn duyên của mình tiếp xúc với người xin cầu nguyện. Như tôi mới vừa về đến đây thì vừa gặp ông Sáu đương chạy lo, khóc lóc và xin tôi chú nguyện. Vậy là tôi có nhơn duyên phải độ người, đó là phận sự của tôi. Phận sự, nhơn duyên và nguyện lực liên quan nhau. Vì phận sự, vì nhơn duyên nên tôi mới xin với Chư Thiên là những vị Hộ Pháp lúc nào cũng theo người tu hành trì giử giới, để trợ duyên trên bước đường hoằng hóa. Tôi đã xin với chư Thiên và tự dự định số ngày mươi bữa nửa tháng là để thời gian chư Thiên liệu lo. Nhưng chưa biết người này ắc được chư Thiên độ hay không, cho nên tôi không nói rằng: “Con ông chắc chắn được về,” chỉ nói nửa vui nửa thật rằng: “Ông Sáu đừng lo chi, cứ làm lành làm phước, ăn chay, phóng sanh thì mươi bữa nửa tháng cậu ấy trở về chớ gì. Kết quả đó là do Chư Thiên chớ tôi hoàn toàn không có phép gì cả.
Vậy, chúng ta muốn cầu nguyện cho ai, một mặt phải khuyên họ sám hối tội lỗi đã qua, răn ngừa tội lỗi sắp tới (trì giới), nương về Tam Bảo Quy Y, làm việc phước lành, bố thí để gieo duyên, giải nghiệp, và một mặt chúng ta cầu nguyện đến ơn trên chư Phật, chư Thiên thì phần nhiều được kết quả.
2- Công đức của Tăng:
Có một Thầy Tỳ-Kheo đang đi khất thực đến trước nhà một sản phụ đang chuyển bụng, nhưng sanh không được. Nghe tiếng rên la thảm thiết, Thầy Tỳ-Kheo động lòng liền quay về: Bạch Phật xin dạy pháp cứu an!
Phật bảo:
– Thầy phải trở lại nhà ấy đứng chú nguyện rằng: “Từ lúc xuất gia cho đến giờ, tôi không sát hại và không làm tổn thương một sanh mạng nào cả, tôi xin đem công đức ấy hồi hướng cho người được qua cơn sanh sản khó khăn.”
Thầy Tỳ-Kheo làm y lời Phật dạy, quả nhiên kết quả.
Theo đó, chúng ta thấy Chư Tăng phải có công đức để hồi hướng cho người thì chú nguyện mới được kết quả.
Công đức của Chư Tăng có ba: quá khứ, hiện tại và vị lai.
a) Công đức Quá khứ: Như câu chuyện “Thầy Tỳ Khưu cứu sản phụ là công đức quá khứ. Chúng ta gặp trường hợp cứu độ người, phải nguyện đem công đức trì giới và độ sanh trong bao nhiêu năm xuất gia vừa qua hồi hướng cho người như vậy.
b) Công đức Hiện tại: Ví như mình còn tham hoặc sân hay si, khi người đến xin cứu độ, liền đó mình phải diệt ngay tham, sân, si, tức thì mình đã có công đức hồi hướng độ họ. Hoặc mình chưa thu thúc lục căn, chưa thanh tịnh tứ oai nghi, liền đó mình phải thu thúc, phải thanh tịnh, tức thì mình đã có công đức hồi hướng độ người.
c) Công đức Vị lai: Như mình tu hành giải đải hay không giải đải, muốn tu chừng ba năm, bảy năm rồi thôi, khi người đến xin cứu độ, mình xét mình ít công đức, liền đó phát nguyện hoặc tu suốt kiếp, hoặc tu vĩnh kiếp bất thối chuyển, hoặc tập những hạnh khó, tu những pháp cao v.v…, tức thì mình đã có công đức hồi hướng độ người.
Phần này quan trọng nhứt, và công đức này lớn nhứt, vì khi mình vừa phát nguyện, nhứt là “phát lòng Bồ đề, thệ độ chúng sanh” thì liền được chư Phật thọ ký, có Chư Thiên theo trợ duyên. Và khi phát nguyện như vậy, mình đã kết nhơn duyên với người, người sẽ được mình độ từ hiện tại cho đến những kiếp vị lai; khi mình thành đạo ở Quốc độ nào thì do nguyện lực chiêu cảm, người cũng sanh vào Quốc độ ấy để cùng mình tiếp nối nhơn duyên trong quá khứ.
Sức mạnh của nguyện lực huyền diệu vô biên, khi ta vừa chú Tâm nguyện độ là đã có phước lực gia hộ đến người rồi.
3- Công đức của người đứng xin chú nguyện:
Mẹ chàng thanh niên kia bịnh ngặt, lương y bảo phải có thịt thỏ tươi hòa với thuốc chữa bịnh mới lành. Người này vào rừng bắt được thỏ. Bắt được thỏ rồi, như vì thương mà thả thỏ đi. Khi về nhà, vào bên giường mẹ cầu nguyện: “Theo hạnh Từ Bi của Phật, con đã thả thỏ, nếu việc làm “tha giết” ấy mà có công đức, thì cầu xin ơn trên gia hộ cho mẹ con được dứt bịnh tình.”
Quả nhiên, mẹ chàng lần lần khỏi bịnh. Theo đó, chúng ta thấy “người đứng cầu nguyện” hoặc “xin chú nguyện” phải có công đức. Công đức của người cũng đủ giải nghiệp tội cho người thân, vì đau khổ chẳng qua duyên nghiệp.
Nghiệp tội như nợ nần, có công đức mới trang trải được. Nếu người có sẵn công đức, không cần phải cầu nguyện, bằng như chưa có, hoặc có ít, phải làm phước thêm. Làm phước tức cầu nguyện rồi. Công đức lớn như:Bố Thí pháp. Trực tiếp thuyết cho người, nghe gián tiếp nhờ Tăng sư thuyết cho người nghe, hoặc in kinh, sách cho người xem. Tổ chức những cuộc tuyên dương chánh pháp như trai tăng, trai đàn, trai hội, đại thí hội v.v…
Công đức thường thường như: Tự tu thân tâm, quy y Tam Bảo, giới sát trì trai, phóng sanh, bố thí v.v…
Hoặc là tấm lòng kính trọng ngôi Tam Bảo, có mặt hay có lời xin với Tăng sư chú nguyện giúp mình.
Người đứng ra cầu nguyện đem tên tuổi thân nhơn mình đến bạch rõ với chư Tăng về việc mình xin chú nguyện thế nào; chư Tăng chứng minh mặc niệm cho mình liền lúc ấy, hoặc những lúc thiền định, kinh hành, quán tưởng, chư Tăng để tâm chú nguyện cho mình.
Tổ chức lễ chú nguyện tại Chùa, tại Tịnh Xá, hoặc tại nhà thí chủ, trai tăng trong bữa ngọ, hay dâng nước trong buổi chiều; thí chủ phải sắm đèn, nhang, bông trái cho ra lễ cúng, và phải lễ bạch chư Tăng việc mình xin.
Cần nhứt thí chủ phải có đức tin trọn vẹn, có tâm khẩn thiết chí thành có những cử chỉ làm cho chư Tăng xúc động mãnh liệt mà phát từ tâm, trương bi nguyện thì sự chú nguyện mới nhiều hiệu lực, mới chóng đắc thành.
![[THẾ GIỚI VÔ HÌNH] - Mã nguồn vBulletin](images/misc/vbulletin4_logo.png)