-
GỌI ĐOÀN
Hỡi anh em trong nhà Nam-Việt !
Nhớ nước ta hùng liệt thuở xưa.
Ngàn năm Bắc địch vày bừa,
Mà còn đứng dậy tống đưa quân thù.
Hồn chiến-sĩ ngàn thu rạng tỏ,
Gương anh-hào chói đỏ như châu.
Non sông thanh bạch một bầu,
Ngọn cờ độc-lập bay hầu khắp nơi.
Lịch-sử cũng rạng ngời mấy đoạn,
Lắm anh-hùng hảo-hán xuất thân.
Sanh vi tướng tử vi thần,
Câu châm ngôn ấy truyền lần đến nay.
Tới Nguyễn-trào sa tay một phút,
Lũ Tây-dương bòn rút mấy mươi năm.
Thương dân ruột tím gan bầm,
Rửa chưa xong hận còn căm mối hờn.
Nay chẳng lẽ ngồi đờn những bản,
Vong-quốc-ca cho bạn chung nghe.
Thôi thì ta hãy hiệp bè,
Cùng nhau đoàn-kết đặng khoe sức hùng.
Khắp Bắc, Nam đùng đùng một trận,
Ấy mới mong quốc-vận phản hồi.
Trước là dẹp lũ Tây bồi,
Sau đưa quốc-tặc qui hồi Diêm-cung.
Nếu nay chẳng vẫy-vùng cương-quyết,
Thì ắt là tiêu-diệt giống nòi,
Muôn năm chịu kiếp tôi đòi,
Thân người như thế còn coi ra gì?!
GỌI ĐOÀN THANH NIÊN
Hỡi thanh-niên trong nhà Nam-Việt,
Thanh-niên đừng mài-miệt truy-hoan.
Cùng nhau hiệp bạn vầy đoàn,
Luyện rèn thao-lược đặng toan báo cừu.
Cứu được nước danh lưu thanh-sử,
Noi tinh thần quân lữ Phù-Tang.
Lòng yêu tổ-quốc hoàn toàn,
Xông pha chiến địa gian-nan sá-gì,
Chớ có ngủ li-bì trong mộng,
Để dân ta mãi sống khốn cùng.
Á-đông súng nổ đùng đùng,
Thì ta cũng phải vẫy-vùng thoát-ly.
Đừng nhu-nhược mê-si tửu sắc,
Mà buông tha lũ giặc cùng đường.
Thanh-niên nghĩa-vụ phi thường,
Phận là phải biết yêu thương giống nòi.
Nay chẳng lẽ ngồi coi thắng bại,
Của cọp rồng trên giải đất ta.
Một mai cọp đã lìa nhà,
Biết rồng có chịu buông tha chăng cùng?
Vậy anh em phải chung lưng lại,
Dùng sức mình đánh bại kẻ thù.
Tỏ ra khí-phách trượng-phu,
Vung long-tuyền-kiếm tận tru gian thần,
Xưa nước đã bao lần khuynh đảo,
Được cứu nguy nhờ máu anh-hùng.
Hy-sinh báo quốc tận trung,
Đem bầu nhiệt huyết so cùng sắt gang.
Việt-Nam là giống Hồng-Bàng,
Muôn đời xa lánh tai-nàn diệt vong.
Sàigòn, năm 1943
“TẶNG ĐOÀN THANH-NIÊN ÁI-QUỐC”
Vừa nghe nói Đoàn Thanh-Niên ái-Quốc,
Lòng sĩ-tăng bổng bật sự vui say.
Âu là Trời đã sẵn bày,
Non sông chìm đắm có ngày phục hưng.
Khắp Á-Đông tưng-bừng náo-nhiệt,
Nô-nức nhau kiến-thiết quốc-gia.
Kẻ sang hải-ngoại về nhà,
Người trong tăng-lữ cũng là ước-ao.
Bấy lâu đã khát-khao tự-trị,
Thanh-Niên Đoàn chuẩn-bị xong chưa?
Chừng nào sức mạnh có thừa,
Diệt-trừ kẻ bạo cho vừa lòng dân.
Gương trung-nghĩa Thánh Thần cảm động,
Ắt có ngày mở rộng cơ-quan.
Từ Nam ra Bắc xa ngàn,
Nhưng lòng phải một mới toàn mưu hay.
Chừ dầu có đắng cay rán chịu,
Đợi cơ Trời kết-liễu thù chung.
Làm cho rõ mặt anh-hùng,
Làm cho địch-thủ rùng rùng bó tay.
Vậy mới đáng làm trai Nam-Việt,
Chen vai cùng hào-kiệt Phù-Tang.
Gánh-gồng bảo-bọc giang-san,
Giữ-gìn biên-cảnh bằng an đời đời.
Trăm họ mới thảnh-thơi nhàn-nhã,
Lo đắp-bồi văn-hóa ngàn năm.
Tham quan chừng ấy vắng tăm,
Mọt dân chừng ấy kiếm tầm đâu ra.
Đôi lời thô-kịch ngâm-nga,
Tặng viên Đoàn-Trưởng gọi là yêu nhau.
Sàigòn, năm 1943
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
NHẪN ĐỢI THỜI CƠ
Vì có nhiều anh em bổn-đạo phân-vân về chỗ mùa hạ năm Quí-Mùi (1943) đã qua mà chưa thấy chuyện gì có thể cho là phù hạp với câu:
"Qua năm dê đến lúc mùa hè. Trong bá tánh biết ai hữu chí"
nên Đức Thầy có làm mấy bài thi dưới đây:
Bay hồn khiếp vía kể từ đây,
Nhắn gởi cho ai vội trách Thầy.
Trời hạ năm dê chưa nữa nữa,
Tuần-huờn máy tạo cũng lần xây.
Lần xây thiện-tín rõ chơn Thầy,
Chớ nóng tánh phàm chớ vội quây.
Ngày lụn tháng qua năm sẽ đến,
Trẻ già sẽ thấy cái hay hay.
Hay hay nam-nữ thỏa lòng khuây,
Nếu chẳng thì ra lại trách Thầy.
Muốn sớm tạn nhìn e úa rụng,
Trì tâm tu niệm để rồi đây.
Rồi đây úa rụng xót lòng thay,
Uổng tiếc công-trình bấy đến nay.
Có khó mới khôn, khôn rảnh khó,
Gìn tâm thiện niệm bớ râu mày.
Râu mày biết giữ đạo tâm chay,
Đắc quả thành công cũng có ngày.
Thất-Tổ Cửu-Huyền nơi chín suối,
Những mong hậu tấn biết tâm chay.
Tâm chay hậu tấn rán tu thân,
Bến giác chẳng xa cũng chẳng gần.
Trời Phật thương người lo độ tận,
Muốn lo giải-thoát phải tu thân.
Tu thân thiện-tín phải chuyên cần,
Lục-tự Di-Đà giữ Tứ Ân.
Rán nhẫn trăm phần dầu khó nhẫn,
Dạ thưa quan chức phận làm dân.
Làm dân bá nhẫn thị lương hiền,
Chữ nhẫn lời truyền Phật, Thánh, Tiên.
Gương trước Hớn,Tần, Hàn-Tín nhẫn,
Đã không khổ nhục khỏi ưu-phiền.
Ưu phiền trăm mối suốt canh thâu,
Thiện-tín chưa thông lẽ nhiệm-mầu.
Mãng sợ sông Ngân cầu lỗi nhịp,
Lo chi ô-thước chẳng xong cầu.
Xong cầu bờ giác bến sông mê,
Thế-sự nhân-sanh hết nhúng trề.
Đạo-pháp huyền-vi thâm diệu diệu,
Chẳng màng thế sự tiếng khen chê.
Sàigòn, năm Quí-Mùi (1943)
BÀ-RÁ
Bà-Rá mấy năm nhốt tội nhơn,
Hành-hà những kẻ mến giang-sơn.
Bao giờ cuộc thế xoay chiều mới,
Tháo củi tuông mây đặng rửa hờn.
Sàigòn, năm Quí-Mùi (1943)
ĐI CHƠI ĐÊM VỚI ÔNG LUẬT-SƯ MAI-VĂN-DẬU
Cùng ông thầy kiện đi chơi,
Hứng luồng gió mát thảnh-thơi tấm lòng.
Đi vừa giáp đặng một vòng,
Ngồi lại bàn đá ngó mong trên trời.
Sao một nơi, trăng một nơi,
Trời xinh cảnh lịch tuyệt vời như tranh.
Đi ngang bồn cỏ xanh xanh,
Ổng quên luật-lệ ổng đành bước lên.
Rầy ông, ông giả đò quên,
Phải mà có lính biên tên sổ cò.
Rồi đi nhiều nỗi quanh co,
Ngay đường khám lớn nhỏ to luận bàn.
Bỗng đâu một tiếng la vang,
Nắm tay ổng kéo chạy sang cạnh lề.
Ấy là tiếng "ách-ta-lê"(1),
Không đứng chỉnh-tề chúng bắn dập xương,
Sàigòn, mùa thu năm 1943
(1) Halte là! (Hiệu lịnh bảo đứng lại).
AN-ỦI MỘT TÍN-ĐỒ
Con thuyền bát-nhã sang sông,
Miệng ngoài gọi khách lòng trong ngại-ngùng.
Đã từng dựa kẻ nâu-sùng,
Cớ sao tâm trí còn tùng ngoại duyên.
Muốn lên tiên được cảnh tiên,
Nấc thang vinh-hạnh Thầy riêng cho mình.
Từ đây đến buổi thanh-bình,
Muôn người niệm Phật quả mình biết bao.
Trồng cây mà chẳng rấp rào,
Để cho gió lại tạc vào gốc lay.
Lòng người chẳng ớt mà cay,
Bị câu tài-sắc đổi thay khôn lường.
Một mai đến số vô-thường,
Công kia với tội có lường kịp chăng?
Sàigòn, năm 1943
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
NĂM GIÁP-THÂN (1944)
CHO CÔ KÝ GIỎI Ở BẠC LIÊU
Rày đã tu thân lánh bụi hồng,
Dạ đừng suy nghĩ chuyện minh-mông.
Để tâm yên tĩnh tầm chơn-lý,
Phổ cứu nhơn-sanh khắp đại-đồng.
Cô hai cô đã đi về,
Mà sao tâm não nhiều bề ưu tư.
Làm sao gỡ mối sầu tư,
Cho Thầy cho bạn cũng như cho mình?
Viết cho cô diệu ít hàng,
Chuối già ăn hết rõ ràng mười hai.
Nội nhà ngó thấy bằng nay,
Từ đây sắp đến không ai dám mời.
Tưởng ăn vài trái đố chơi,
Ai dè bao-tử là nơi kho tàng.
Sàigòn, năm 1944
ẠC-NÚC
Ạc-Núc từ khi đến đất nầy,
Giết đà vô số kẻ thù Tây.
Làm cho chí-sĩ nhà Nam-Việt,
Chẳng đội trời chung với lũ mầy.
ĐỜ-CU
Người Pháp bây giờ mới phục hưng,
Trẻ già múa nhảy tửng-từng-tưng.
Đờ-cu hội hiệp lăng-xăng xộn,
Đứa biểu đầu đi đứa biểu đừng.
Sàigòn, năm 1944
MUỐN LÁNH PHỒN-HOA
Muốn lánh phồn-hoa, lánh thị-thành,
Tìm nơi non thẩm ngõ mai danh.
Đợi cơ thiên-địa xây vần đến,
Chờ cuộc phong-lôi đổi vận lành.
Sớm hứng sương trong cùng vũ-trụ,
Chiều mong gió mát với trời thanh.
Xa nơi đa sự điều cao hạ,
Muốn lánh phồn-hoa lánh thị-thành.
Sàigòn, năm 1944
còn tiếp
Nam Mô A DI Đà Phật
-
NĂM ẤT-DẬU
(1945)
KHUYẾN NÔNG
Hỡi đồng-bào! Hỡi đồng-bào!
Thần chết đã tràn vào Trung-Bắc,
Ngày lại ngày siết chặt giống nòi;
Lật qua các báo mà coi,
Thấy con số chết xem mòi kinh nguy.
Cũng tại vì Tây-di bày kế,
Phá-hoại nền kinh-tế nước ta.
Làm cho điên-đảo sơn-hà,
Làm cho điêu-đứng con nhà Lạc-Long.
Bổng phút đâu cuồng phong một trận,
Quân Phù-Tang khai hấn bất kỳ.
Còn đâu mưu khéo giải vi,
Còn đâu hoãn kế trong kỳ viện binh?
Dầu những kẻ vô tình với nước,
Cũng tỉnh hồn mơ-ước tự-do.
Tiếng vang độc-lập reo hò,
Từ Nam chí Bắc nung lò khí thiêng.
Quyết phen nầy kết-liên một khối,
Đem máu đào tắm gội giang-san.
Giờ đây xem lại mùa-màng [1],
Năm rồi miền Bắc tan-hoang còn gì.
Chỉ có xứ Nam-Kỳ béo-bở,
Cơ-hội nầy bỏ dở sao xong.
Cả kêu điền-chủ phu-nông,
Đứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.
Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
No dạ dày là chước đầu tiên.
Nam-Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung-cấp cho miền Bắc, Trung.
Quân-đội Nhựt cần dùng lương thảo,
Cũng phải ăn lúa gạo Nam-kỳ.
Ta còn ngần ngại nỗi chi,
Mà không cày cấy kịp thì hỡi dân?!
Điền-chủ phải một lần chịu tốn,
Giúp áo quần, giúp vốn thêm lên.
Muốn cho dân được lòng bền,
Mua giùm canh-cụ là nền khuếch-trương.
Giá mướn phải thường thường dễ thở,
Xử ôn-hòa niềm-nỡ yêu nhau.
Cùng chung một giọt máu đào,
Phen nầy hiệp sức nâng cao nước nhà.
Kẻ phu-tá cũng là trọng trách,
Cứu giống-nòi quét sạch non sông.
Một phen vác cuốc ra đồng,
Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.
Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,
Chí hy-sinh dầu thác cũng cam.
Miễn sao cho cánh đồng Nam,
Dồi-dào lúa chín gặt đam về nhà.
Chừng ấy mới hát ca vui-vẻ,
Ai còn khinh là kẻ dân ngu.
Không đem được chút công-phu,
Không đem sức-lực đền-bù nước non.
Gởi một tấc lòng son nhắn-nhủ,
Khuyên đồng-bào hãy rủ cho đông.
Nắm tay trở lại cánh đồng,
Cần-lao, nhẫn-nại Lạc-Long tổ truyền.
Sàigòn, tháng tư năm Ất-Dậu (1945) ( Hiệu chính: [1] có ấn bản ghi:
” Giờ đây đem lại mùa-màng”).
ĐÍNH-CHÁNH
Gần đây lắm kẻ ngoa truyền,
Một bài sấm-ngữ nơi miền Hậu-giang.
Nói rằng: tháng tám tai nàn,
Tối-tăm trời đất tan-hoang cửa nhà.
Kẻ gần rồi đến người xa
Từ trong thôn dã đến ra thị-thành.
Hại cho quốc-kế dân-sanh,
Ruộng đồng tươi đẹp dân đành ngó lơ.
Thương thay những kẻ ngu khờ,
Lầm mưu gian-trá ngẩn-ngơ ưu-sầu.
Hỏi rằng: Sấm bởi nơi đâu,
Nói: "Ông Hòa-Hảo làm đầu truyền ra".
Buộc lòng tôi phải đính ngoa,
Cho trong toàn quốc gần xa được tường.
Chuyện ấy là chuyện hoang-đường,
Của bọn phá-hoại chủ-trương hại mình.
Anh em ta hãy đồng tình,
Nếu gặp "nắm óc" đem trình "Công-An".
Chúng ta giải-quyết lẹ-làng,
Đừng để chuyện huyễn tràn lan ra nhiều.
Ký tên: HÒA-HẢO
Sàigòn, tháng tư năm Ất-Dậu (1945)
Còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
YÊU NƯỚC
Yêu nước bao đành trơ mắt ngó,
Thương đời chưa vội ẩn non cao.
Quyết đem tâm sự tâu cùng Phật.
Coi lịnh từ-bi dạy lẽ nào.
Phụng-Hiệp, tháng tư Ất Dậu (1945)
Bài nầy Đức Thầy đọc tại Phụng-Hiệp lúc đi khuyến
nông; sau khi diễn thuyết, Đức Thầy hỏi câu nầy: "Tôi là
một nhà tu hành, lẽ thì vào chốn non cao, núi thẳm, tu tâm dưỡng tánh, cớ nào hôm nay lại xen vào chánh trị?!"
Không ai nói gì, Đức Thầy có vẻ buồn, cau chơn mày rồi ngâm bài thơ tứ tuyệt trên đây.
(Do theo lời ông Mai-Ngọc-Quế thuật lại).
HỒI CHUÔNG CẢNH TỈNH NHỮNG KẺ TRÔNG TÂY,
HẪNG-HỜ VỚI NẠN ĐÓI BẮC-KỲ
Nam-kỳ có một lũ hề,
Mày râu nhẵn-nhụi chuyên nghề buôn dân.
Nhờ ơn Mẫu-quốc vinh thân,
Giờ toan mua tảo bán tần nữa sao?
Dửng-dưng trước nghĩa đồng-bào,
Đói cơm khát nước trông vào thống tâm.
Làm ngơ, giả điếc, giả câm,
Tay ôm hủ bạc, mắt đăm đăm chờ.
Vái rằng: "Mẫu-quốc gặp cơ."
Trở qua Nam-Việt con thờ muôn năm.
Dầu con nay ở xa-xăm,
Chớ lòng thương nhớ đứng nằm không yên.
Trước kia "nước mẹ" xin tiền,
Của muôn trong túi con liền tuôn ra.
Ngày nay tuy chẳng lại qua,
Con cũng lén-lén cúng cha ít nhiều.
Đồng-bào con chết bao nhiêu,
Con để mặc kệ quạ diều bươi thây".
Ai ơi còn ước mơ Tây,
Mắt kia quá tối lại Thầy chữa cho.
SĨ-CUỒNG (biệt hiệu của Đức Thầy)
Tháng tư năm Ất-Dậu (1945)
CAI TỔNG CHÁNH (CÙ-LAO GIÊNG) xướng:
Giữ đạo từ lâu kín nhẹm mầu,
Để lòng tầm đạo biết nơi đâu.
Ngửa mong bái-ái từ-bi hóa,
Trông lượng ơn Thầy chỉ đạo sâu.
ĐỨC THẦY đáp họa
Kín nhẹm lòng nhơn ấy mới mầu,
Đức là đạo cả chớ nơi đâu?
Duyên lành sẵn có ơn trên hóa,
Bồi đắp nền nhơn đức lại sâu.
Long Xuyên, tháng 4 Ất Dậu 1945
(Ðức Thầy ứng khẩu đáp họa liền bằng cách đọc cho
một người tín-đồ chép vì lúc ấy Ngài đang dùng cơm).
"PHỤ-NỮ CA DIÊU"
Ngán thay bổn-đạo đàn bà,
Lắm lời điêu-xảo gần xa đều tường.
Làm cho hoen-ố Phật-đường,
Không rèn được đức khiêm-nhường từ-bi.
Tu còn ái-ố sân-si,
Tu còn nhiều tánh dị-kỳ trần mê.
Khó mong cửa Phật dựa kề,
Càng gần địa-ngục nhiều bề thảm thương.
Tỉnh tâm đốt nén tâm hương,
Nguyện rằng đệ-tử một đường lo tu.
Ăn-năn kẻo uổng công phu...!
Sa-đéc, ngày 28-7-45
(trong lúc Đức Thầy đi Khuyến-nông)
TẶNG THI-SĨ VIỆT-CHÂU
Thi-sĩ Việt-Châu tức là ông Nguyễn-xuân-Thiếp mà hầu hết anh em tín-đồ đều nghe danh. Là văn-sĩ kiêm thi-sĩ, ông Việt-Châu có viết một tập thơ xuất sắc, nhan đề "Lông ngỗng gieo tình" để kể lại đoạn tìnhduyên của Trọng-Thủy và Mị-Châu.
Trong khi cùng ngồi xe với Đức Thầy trên đường về Sàigòn, ông có trao cho Đức Thầy xem tập thơ ấy. Đức Thầy liền ngâm hai câu thơ dưới đây để phê bình gián-tiếp áng văn kiệt-tác của ông Việt-Châu.
"Mị-Châu ơi hỡi Mị-Châu,
Mê chi thằng chệt để sầu cho cha!"
Liền đó, Đức Thầy bảo ông Việt-Châu thử làm thi tả cảnh ngồi trên xe trên đường về Sài gòn. Thấy ông Việt-Châu nặn óc mãi mà không ra thơ, Đức Thầy liền ứng khẩu đọc bài dưới đây:
Xe về chở theo chàng thi-sĩ,
Bảo làm thi mãi nghĩ không ra.
Vậy mà giữa chốn phồn hoa,
Vang danh thi-sĩ hiệu là Việt-Châu.
Quen thói viết thơ sầu thơ cảm.
Không dìu dân hắc ám qua truông.
Ngâm nga giọng quá u buồn,
Làm cho độc-giả quay cuồng mê-ly.
Theo dõi gót từ-bi mấy bữa.
Phàm tâm kia đã rửa hay chăng?
Ðương cơn sóng dậy đất bằng,
Thi-nhân đứng ngó để tăng-sĩ làm.
Tăng-sĩ quyết chùa, am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật-Đà nam-mô.
Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật,
Bụi hồng trần rứt sạch cửa không.
Chuông linh ngân tiếng đại-đồng,
Ta-bà thế-giới sắc không một màu.
Sài-Gòn đến, trống lầu đã trở.
Đề-huề nhau cửa mở xuống xe.
Khuyến nông chấm dứt mùa hè...
Trên đường về Sàigòn, tháng 6 năm Ất-Dậu (1945)
còn tiếp
Nam Mô A DI Đà Phật
-
ĐI KHUYẾN NÔNG VỀ
Lìa Sài-gòn trong vòng hai tháng,
Khi lộn về tiệm quán tanh-banh.
Bởi chưng pháo lũy phi hành,
Quăng bom mù quáng tan-tành còn chi.
Động lòng của kẻ từ-bi,
Tây-Phương tấu lại A-Di Phật-Đà.
Rằng: bên thế-giới ta-bà,
Chúng-sanh tàn-sát cũng là vì tham.
Di-Đà mở cuộc hội-đàm,
Cùng chư Bồ-Tát quyết đam phép lành.
Tịnh bình rưới khắp chúng-sanh,
Làm cho giác-ngộ hiền lành như **ta.
Công-đồng hoạch-định san-hà,
Nước ai nấy ở nhà nhà tự-do.
Sàigòn, tháng 6 năm Ất Dậu (1945)
TỰ THÁN
Gió hiu-hắc bên rừng quạnh-quẽ,
Nhìn non sông đượm vẻ tang-thương.
Mối tình chủng-loại vấn-vương,
Thấy quân xâm-lược hùng cường căm gan.
Vừa toan rút gươm vàng ngăn giặc,
Bổng họa đâu gieo rắc bất-kỳ.
Cường quyền một lũ ngu-si,
Oan nầy hận ấy sử ghi muôn đời.
Truyền khắp nước muôn lời vu cáo,
Dùng trăm ngàn thói bạo hiếp dân.
Làm cho trong nước rẻ phân,
Làm cho giặc Pháp một lần sướng rang.
Vậy cũng gọi an bang định quốc,
Rồi rút lui bỏ mất thành trì.
Giống nòi nỡ giết nhau chi?
Bạng duật tương trì lợi lũ ngư ông.
Đoàn hậu tấn có lòng yêu nước,
Khá nhìn xem gương trước răn mình.
Riêng ta hai chữ nhục vinh,
Thoảng cười thế sự nhân tình quá đen.
Lòng dân chớ khá xem khinh,
Bạo tàn giết mất nhân tình thì thua.
Miền Đông, cuối năm Ất-Dậu (1945)
NHỮNG BÀI SÁNG-TÁC
NĂM BÍNH-TUẤT (1946)
TIẾNG SÚNG BÊN LẦU
Nước non tan vỡ bởi vì đâu ?
Riêng một ta mang nặng khối sầu.
Lòng những hiến thân mưu độc-lập,
Nào hay tai họa áp bên lầu.
Bên lầu tiếng súng nổ vang tai,
Trời đất phụ chi kẻ trí tài.
Mưu quốc hóa ra người phản quốc,
Ngàn thu mối hận dễ nào phai.
Từ ấy lao mình vượt khổn nguy,
Băng rừng lội suối giả man-di.
Ngày mong ải Bắc oan nầy giải,
Đem sức ra nâng lá quốc-kỳ.
Nhưng khổ càng mong càng vắng bặt,
Trời Nam tràn ngập lũ Tây-di.
Biết bao đồng chí phơi xương máu,
Thức-giả nhìn nhau hỏi tội gì ?
Vì tội không đành phụ nước non,
Phô bày tiết-tháo tấm lòng son.
Ngăn phường sâu mọt lừa dân-chúng,
Chẳng nệ thân danh nỗi mất còn.
Nếu mất thôi đành xong món nợ,
Nay còn há dễ ngó lơ sao ?
Dọc-ngang chí cả dù lao-khổ,
Thất bại đâu làm dạ núng-nao.
Thất bại đâu làm dạ núng-nao,
Non sông bao phủ khí anh-hào.
Phen nầy cũng quyết đền ơn nước,
Máu giặc nguyện đem nhuộm chiến-bào.
Miền-Đông, năm 1946.
(Trong khi Đức Thầy ẩn lánh Việt-Minh và người Pháp
vừa mới tái chiếm Nam-Việt)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
ĐỒNG ĐẢNG TƯƠNG TÀN
Người đồng đảng giết người đồng đảng,
Ai Việt-minh, Cộng-Sản là ai ?
Đương cơn quyền lợi đắm say,
Anh hùng chí-sĩ râu mày thế ư ?
Đường muôn dặm lời thư một khúc,
Giờ giặc đà tá túc nhà ta.
Ai ra nưng đỡ san-hà,
Ai ra cứu vớt nước nhà lâm nguy ?
Phát-xít sẽ tầm truy tàn-sát,
Không đảng nào mà thoát tai-ương.
Nghĩ càng bực-tức đau-thương,
Giết nhau để lợi cho phường xâm-lăng.
Mìền-Đông, năm 1946
CHÍ NAM NHI
Nam nhi mang chí cả,
Bao tấm lòng sắt đá.
Thương giống-nòi dẹp bã vinh-huê,
Lướt đạn bôm giữ vững một lời thề:
Tàn-sát hết quân thù xâm-lược,
Tranh độc lập tự-do cho nước,
Cho giống nòi rạng-rỡ trước năm châu.
Khí thiêng-liêng sông núi nhiệm-mầu,
Un-đúc giống anh-hùng vang bốn bể.
Gương sáng ấy soi chung hậu thế,
Anh em ôi ! theo dõi gót cùng ta.
Ra tay quét sạch san-hà,
Ra tay bồi-đấp nước ta hùng-cường.
Miền-Đông, ngày 10 tháng giêng Bính-Tuất (1946)
*
RIÊNG TÔI
Rứt áo cà-sa khoác chiến-bào,
Hiềm vì nghịch cảnh quá thương-đau.
Bên rừng tạm gởi thân cô quạnh,
Nhìn thấy non sông suối lệ trào.
Nhìn thấy non sông suối lệ trào,
Lòng nguyền giữ vững chí thanh-cao.
Ai người mãi quốc cầu vinh nhỉ,
Hậu thế muôn thu xét thử nào ?
Hậu thế muôn thu xét thử nào ?
Lòng nầy yêu nước biết là bao ?
Vì ai gieo-rắc điều hồ-mị,
Đành ngó non sông nhuộm máu đào.
Đành ngó non sông nhuộm máu đào,
Thời-cơ độc nhứt cứu đồng bào.
Muôn ngàn chiến-sĩ chờ ra trận,
Bỗng vướng gông cùm chốn ngục-lao.
Miền-Đông, năm 1946
*
TIẾNG CHUÔNG CẢNH-TỈNH
Hãy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn chiến-sĩ,
Mở lòng ra thương nghĩ sanh-linh.
Đồng-bào ai nỡ dứt tình,
Mà đem chém giết để mình an vui.
Dù lúc trước nếm mùi cay đắng,
Kẻ độc-tài đem tặng cho ta.
Sau nầy tòa-án nước nhà,
Sẽ đem kẻ ấy mà gia tội hình.
Lúc bấy giờ muôn binh xâm-lược,
Đang đạp vày non nước Việt-Nam.
Thù riêng muôn vạn cho cam,
Cũng nên gát bỏ để làm nghĩa công.
Khắp Bắc Nam Lạc-Hồng một giống,
Tha thứ nhau để sống cùng nhau.
Quí nhau từng giọt máu đào,
Để đem máu ấy tưới vào địch quân.
Đấng anh-hùng vang lừng bốn bể,
Các sắc dân đều nể đều vì.
Đồng bào nỡ giết nhau chi,
Bạng duật tương trì lợi lũ ngư-ông.
Hỡi những kẻ có lòng yêu nước,
Nghe lời khuyên tỉnh được giấc mê.
Anh em lớn nhỏ quày về,
Hiệp nhau một khối chớ hề phân ly.
Đả-đảo bọn Nam-Kỳ nô-lệ,
Kiếp cúi lòn thế-hệ qua rồi.
Lời vàng kêu gọi khắp nơi,
Anh em chiến-sĩ nhớ lời ta khuyên.
(Viết vào lối tháng 2 tại Miền-Đông năm 1946 để khuyên anh em tín-đồ Hòa-Hảo chấm dứt các cuộc xung-đột với Việt-Minh).
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
QUYẾT RỨT CÀ-SA
Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,
Quyết rứt cà-sa khoác chiến-bào.
Ðuổi bọn xâm-lăng, gìn đất nước,
Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao.
Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao,
Nòi giống Lạc-Hồng hiệp sức nhau.
Tay súng tay gươm xông trận địa,
Dầu cho giặc mạnh há lòng nao.
Dầu cho giặc mạnh há lòng nao,
Nam-Việt ngàn xưa đúc khí hào.
Lúc giặc xâm-lăng mưu thống-trị,
Anh-hùng đâu sá cảnh gian-lao.
Anh-hùng đâu sá cảnh gian-lao,
Chiến-trận giao-phong rưới máu đào.
Miễn đặng bảo tồn non nước cũ,
Giữ an tánh-mạng cả đồng-bào.
Miền-Đông, năm 1946
TẶNG HỘI-ĐỒNG CỐ-VẤN NAM-KỲ
Tám ông Cố-vấn Hội-đồng,
Phùng mang trợn mắt ra công bán nòi.
Hô hào nghinh-tiếp quân voi,
Về vày mộ tổ để vòi mề-đay.
Thinh múa mỏ, Phát khoe tài,
Nam-Kỳ hiến-pháp sắp bày mị dân.
Nào là chấn-chỉnh (củng-cố) hương-lân,
Để cho lũ chó làm sân săn mồi.
Vụng-về thay, bọn Tây-bồi !
Sắm tuồng vẽ mặt mà giồi phấn đen.
Ngàn muôn cử chỉ đê-hèn, Cúi-lòn,
bưng bợ tập rèn công phu.
Lòng mong dân nước dại ngu,
Để đám nghị mù tự-tiện làm quan.
Nào ngờ trong lúc dở-dang,
Nghị Phát vắng số suối vàng vội đi.
Nghị Thinh lụy nhỏ lâm-ly,
Than rằng bạn nỡ bỏ đi giữa chừng !
Họp bàn tính kế trùng hưng,
Vợ bạn đã nửa chừng xuân nhưng còn.
Ra tay dìu-dắt bốn con,
Suối vàng bạn hỡi lòng còn ghen không ?
Muôn dân như chửa vừa lòng,
Ước sao cả lũ vào tròng Diêm-La.
Từ nay trong nước Nam ta,
Thề rằng chẳng chịu đẻ ra giống nầy.
Miền-Đông, năm 1946
*
NGHỊ THINH VỚI CAO ỦY D'ARGENLIEU
NGHỊ THINH: Dạ dạ… Dám bẩm quan Cao-Ủy,
Thậm chí nguy, thậm cấp chí nguy !
Rối beng trật-tự Nam-Kỳ,
Bạn tôi Nghị Phát mạng phi mất rồi.
Còn bảy ông ngồi trơ mỏ chó,
Lòng những lo sóng gió bất kỳ.
Nếu không phương pháp phòng nguy,
Ức tình tôi sẽ điện đi hoàn-cầu.
Cho thế-giới góp thâu tài-liệu.
Rằng Việt dân chẳng chịu phục tòng.
Thế nầy cai-trị sao xong,
Trả nước lại nó mới hòng ngủ yên.
D'ARGENLIEU: Quan Cao-Ủy mặt liền sầm lại,
Lũ dân gì kỳ quái lạ thường.
Máy bay tàu chiến biểu-dương,
Rõ-ràng Đại-pháp hùng-cường thế ni,
Mà chúng vẫn khinh-khi sự chết,
Chẳng lẽ ta giết hết trẻ già,
Bằng không, muốn dứt can qua,
Giao cho việc nước việc nhà nó toan.
Mình làm khách bàn quan khi khỏe,
Nước Việt-Nam son trẻ ra đời,
Cộng-hòa đem lại khắp nơi,
Muôn dân an lạc thảnh-thơi phú-cường.
NGHỊ THINH: Nghị Thinh nghe bèn òa tiếng khóc:
Thế còn công khó nhọc tôi đâu ?
D'ARGENLIEU: Mua cho ông một vé tầu,
Ba-ri đến đó ngõ hầu dung thân.
Miền-Đông, năm 1946.
*
TÌNH YÊU
Ta có tình yêu rất đượm nồng,
Yêu đời yêu lẫn cả non sông.
Tình yêu chan-chứa trên hoàn-vũ,
Không thể yêu riêng khách má hồng.
O*O
Nếu khách má hồng muốn được yêu,
Thì trong tâm chí hãy xoay chiều.
Hướng về phụng-sự cho nhơn-loại,
Sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
O*O
Ta đã đa mang một khối tình,
Dường như thệ-hải với sơn-minh.
Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng-sinh.
Miền-Đông, năm 1946
(Một thiếu-nữ ở Saigòn thầm yêu Đức Thầy trong khi Ngài còn ẩn lánh V.M và Pháp; thấy vậy, Đức Thầy bèn viết ba bài thi trên đây để cảnh tỉnh cô ấy).
*
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
LẤY CHỒNG CHỆT
Lúc Đức Thầy đang ẩn lánh 1946, Ngài có gặp một cô gái Việt lấy chồng Ngô. Tức cảnh, Ngài có làm bài thi sau đây (dùng biệt-hiệu Hoài-Việt):
Cô ơi, nước Việt-Nam thiếu gì trai trẻ,
Mà vội đi lấy lẽ « ba Tàu » ? !
Của tiền quí báu là bao,
Đem tuổi mười tám so vào bốn mươi ?
Rồi nuôi tánh biếng lười mê ngủ,
Để ngày kia ủ-rủ đau thương.
Khi ba Tàu xách gói hồi hương,
Vàng bạc tóm, bỏ cô thơ-thẩn.
Cô nhìn theo muôn vàn tiếc hận,
Cô vì chàng mà bẩn tiết-trinh.
Cô tủi thân, cô lại bất bình,
Nhưng muộn quá, tuổi xuân không trở lại.
Trông tương-lai cô đầy sợ hãi,
Hoa úa tàn người lại rẽ khinh.
Cô tiếc rằng phải tuổi còn xinh (xanh),
Cô sẽ chọn người chồng Nam-Việt.
Ở trong hàng thanh-niên, thanh-niết,
Tuy nghèo hèn mà biết thỉ chung.
Yêu-đương nhau đến phút cuối cùng,
Vợ chồng ấy mới chân hạnh-phúc.
Ta là khách phương xa tá-túc,
Thấy sự đời vẽ khúc văn-chương.
Thấy đời cô chìm-đắm trong gió sương.
Than ít tiếng gọi hồn chủng-loại.
Việt-Nam ! người Việt-Nam mau trở lại !
Yêu giống nòi có phải hơn không ?
Dầu sao cũng giống Lạc-Hồng !
Miền-Đông, năm 1946
TẾ CHIẾN-SĨ TRẬN VONG Ở VƯỜN THƠM
Trên linh-tọa hương trầm nghi-ngút,
Tấc lòng thành cầu chúc vong linh.
Sa-trường hỡi các sĩ-binh,
Vườn Thơm tuyệt mạng hiến mình non sông.
Thiệt chẳng hổ giống-dòng Nam-Việt,
Từng nêu cao khí-tiết Lạc-Hồng.
Đã mang lấy nợ non sông,
Quyết lòng báo quốc tồn vong sá gì.
Gương yêu nước đáng ghi đáng nhớ,
Chí hy-sinh nhắc-nhở mai sau.
Sống không hổ kiếp anh-hào,
Không ham tiền bạc sang giàu cá-nhân.
Thân chiến-sĩ vì dân vì nước,
Vì tự do hạnh-phước đồng-bào.
Bao nài nguy hiểm gian lao,
Một năm kháng-chiến ra vào chông-gai.
Bôm, đạn thét không phai tâm ý,
Súng gươm rền nung chí hùng anh.
Quyết đem xương máu hy-sanh,
Hy-sanh cứu nước rạng danh muôn đời.
Thù giặc Pháp làm người phải trả,
Trừ tham quân bởi quá ngang-tàng.
Nước mất đâu dễ ngồi an,
Mượn gươm Lê, Lý dẹp tan quân thù.
Ngày hôm ấy tàn thu sương đượm,
Quân Pháp đem lực-lượng tấn-công.
Máy bay, tàu thủy, súng đồng,
Lục quân cơ-khí quyết lòng hại dân.
Chúng gặp phải liên-quân anh-dũng,
Hạ phi-cơ, tuốt súng, lấy bôm.
Quanh tàu vây chặt mấy vòng,
Cả kinh giặc Pháp phục tòng rút lui.
Phận rủi-ro riêng xui mạng bạc,
Khiến anh-hùng cởi hạc xa bay.
Nước non đang thiếu anh-tài,
Tử thần vội cướp đưa ngay chầu Trời.
Hồn tử-sĩ nghe lời than tiếc,
Trừ tham quân tận diệt xâm-lăng.
Nam binh sát-khí đằng đằng,
Thề-nguyền thành lũy đạp bằng mới thôi.
Kẻ chết đã yên rồi một kiếp,
Người sống còn tái tiếp noi gương.
Lòng thành thắp một tuần hương,
Vái hồn liệt-sĩ bốn phương tụ về.
Nơi làng vắng cam bề đơn giản,
Lễ mọn nầy trước án bày ra.
Hiển-linh xin chứng gọi là….
Quéo-Ba, ngày 1-10-46 (Bính-Tuất)
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
CỤ PHẠM-THIỀU Mời ĐỨC THẦY Tham-Chánh
Mưa gió thâu canh mãi dập-dồn,
Âm-u tràn ngập cả càn-khôn.
Hỡi ai thức ngủ trong đêm ấy,
Có thấu tai chăng tiếng quốc-hồn ?
Sao còn khoắc-khoải nhớ hiềm xưa ?
Trang sử chùi đi những vết nhơ.
Gìn-giữ tim son không chút bợn,
Mặc tòa dư-luận thấu hay chưa.
Sao còn lãnh đạm với đồng bang,
Toan trút cho ai gánh trị-an ?
Thảm kịch « tương tàn » chưa hết diễn,
Long-Xuyên Châu-Đốc lụy muôn hàng.
Sao còn ngần-ngại chẳng ra tay,
Trước cảnh xâm-lăng cảnh đọa-đày ?
Ngọn lửa binh đao lan khắp đất,
Phật Trời soi thấu cũng châu mày.
Chẳng áo cà-sa, chẳng chiến-bào,
Về đây tham-chánh mới là cao.
Non sông chờ đợi người minh-triết,
Chớ để danh thơm chỉ Võ-Hầu.
TRƯỜNG-PHONG
(biệt hiệu của cụ Phạm-Thiều)
ĐỨC THẦY họa:
Những nỗi đau thương mãi dập-dồn,
Càng nhiều luân-lạc lại càng khôn.
Lặng nhìn thế sự nào ai ngủ !
Chờ dịp vung tay dậy quốc-hồn.
Từ-bi đâu vướng mối hiềm xưa,
Nhưng vẫn lọc-lừa bạn sạch nhơ.
Nếu quả tri-âm tri-ngộ có,
Thì là hiệp lực hiểu hay chưa ?
Nhìn sang Trung-quốc khách lân bang,
Cứ cố xỏ ngầm sao trị an ?
Nếu thiệt hai bên đồng hiệp trí.
Kẻ gây thảm kịch phải qui hàng,
Lắm kẻ chực hờ đặng phỗng tay,
Mà sao chánh-sách bắt dân đày.
Vẫn còn áp-dụng vì phe đảng ?
Chẳng muốn xông ra sợ cháy mày !
Thà ở trong quân mặc chiến-bào,
Ngày qua sẽ biết thấp hay cao.
Nào ai đem sánh mình minh-triết,
Mà dám lăm-le mộng Võ-Hầu ?
HOÀNG-ANH (biệt hiệu của ĐỨC THẦY)
Miền-Đông, ngày 1 tháng 10-1946
NĂM ĐINH-HỢI
(1947)
ANH PHIỆT XƯỚNG: (1)
Non nước ngửa nghiêng vẫn ngủ ỳ ?
Ai ôi tỉnh dậy, dậy rồi đi.
Đi lo sự nghiệp trai thời loạn,
Khỏi thẹn người xưa lúc gặp thì.
ĐỨC THẦY họa:
Lặng-lẽ tính toan đâu ngủ ỳ !
Chỉnh-tu binh mã để rồi đi.
Khi đi muông sói đều tan-vỡ,
Rõ mặt hùng-anh tạo thế thì...
Miền-Đông, mùa xuân năm 1947
(1) Bài nầy của anh mười Phiệt, thuộc nhóm Bình-Xuyên (làm đã từ lâu) đọc có ý kích-thích Đức Thầy trong khi Ngài đang nằm nghỉ trưa. Đức Thầy liền ứng khẩu đáp họa liền làm cho anh em Bình-Xuyên vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt.
còn tiếp
Nam Mô A Di đà Phật
-
TẾT Ở CHIẾN - KHU
Tặng bạn ngày xuân chén rượu nồng,
Uống rồi vùng-vẫy khắp Tây-Đông.
Đem nguồn sống mới cho nhơn loại,
Để tiến, tiến lên cõi đại-đồng
O*O
Rượu xuân càng nhắp càng say,
Gió xuân càng thổi thì tài càng tăng.
O*O
Ngày tết năm nay ở chiến-khu,
Bưng-biền gió lốc tiếng vi-vu.
Xa xa súng nổ thay trừ-tịch,
Dân Việt còn mang nặng mối thù,
O*O
Mối thù nô-lệ trả chưa xong,
Pháp-tặc còn trêu giống Lạc-Hồng.
Dùng thói dã-man mưu thống-trị,
Thì ta quyết chiến dễ nào không !
O*O
Dễ nào không dám gắng hy-sinh,
Giữ vững non sông đất nước mình.
Tự lập nghìn xưa gương chói rạng,
Anh-hùng khởi xuất chốn dân-binh.
O*O
Dân-binh Nam-Việt mấy ai bì ?
Không súng tầm-vông cũng vác đi.
Xông lướt trận tiền ngăn giặc mạnh,
Liều thân cứu nước lúc lâm nguy.
O*O
Nước lúc lâm nguy há đứng nhìn,
Lòng mang Đại-Nghĩa để thân khinh,
Máu đào xương trắng phơi đầy nội,
Quyết đổi tự do mới thỏa tình,
O*O
Thỏa tình được sống dưới trời Đông,
Tổ phụ ngày xưa rất đẹp lòng.
Nhìn thấy cháu con không thẹn mặt,
Từ đây non nước thoát nguy vong.
Bình-Hòa (Chợ-lớn) ngày 2-1 Đinh-Hợi (1947)
*
KỶ-NIỆM RỪNG CHÀ-LÀ
Rừng Chà-Là, rừng Chà-Là vạn tuế... !
Thành lũy ấy chông gai bao xiết kể,
Muôn quân thù đâu dám dẫm chơn vô.
Đây là nơi tướng Việt thiết mưu-mô,
Chờ cơ-hội quét tan loài xâm lược.
Tranh độc-lập để bảo-tồn non nước,
Biết bao lần chúng giặc phải cuồng-điên.
Vì đem quân cả phá Bình-Xuyên,
Chạm trán với chiến binh hùng-dũng.
Một năm qua bền gan không nao-núng,
Dù thảo-lương thiếu túng chịu gian-nan.
Nơi rừng xanh chịu lắm cảnh cơ-hàn,
Mưa nắng táp gió sương dầu-dãi.
Nước Nam-Việt ở ven bờ Nam-hải,
Ngàn xưa từng chống lại họa xâm-lăng.
Bạch-Đằng Giang công-nghiệp ấy ai bằng
Quân Việt ít đánh tan Mông-Cổ mạnh.
Nay giặc Pháp buông lung kiêu-hãnh,
Ỷ-lại vào tàu-chiến với phi-cơ.
Nơi sa-trường chúng gặp cảnh bất ngờ,
Sức kháng-chiến ngàn xưa nay sống dậy.
Nơi Hành-dinh gió vàng phe phẩy,
Khách viễn phương mượn lấy tờ hoa.
Vài câu văn thô kịch gọi là,
Để kỷ-niệm chốn « Bình-Xuyên » anh-dũng.
H.H. tặng chiến-sĩ Liên-khu Bình-Xuyên (2-1947)
*
còn tiếp
Nam Mô A Di Đà Phật
-
PHỤ - LỤC
Những bài không rõ thời-gian tính sáng-tác,
và những phương thuốc gia-truyền
NHỮNG BÀI SAU ĐÂY KHÔNG RÕ ĐỨC
THẦY VIẾT TẠI ĐÂU VÀ HỒI NÀO
LO NƯỚC
Nước Việt trẻ già mãi ngóng trông,
Ngày nào hưng phục cõi trời Đông.
Lẽ đâu Tạo-hóa riêng cay độc,
Đày khắc mãi chi giống Lạc-Hồng.
*
NỢ NƯỚC
Một phen nợ nước lâm đền,
Đạo làm thần-tử cho bền chí trai.
Thừa cơ xoay trở gót hài,
Vung gươm Thần-Thánh dẹp loài cẩu phiên.
*
KHÔNG KHÔNG
Đại đạo giáo dân, dân bất tri,
Khai năng bạch phát đãi hà thi.
Công-danh phú-quí chung huờn mộng,
Kỳ-cá miên qui thố nhứt kỳ.
*
TỈNH GIẤC MƠ
Một giấc mơ-màng, một giấc say,
Tỉnh hồn mới biết cuộc trần-ai.
Trần-ai rày đã xa phiền lụy,
Rán bước qua truông kẻo nữa hoài.
*
Nợ thế âu toan tròn nợ thế,
Đường tu sớm liệu vẹn đường tu.
O*O
SẦU BÁ TÁNH
Cúi lạy Tây-phương chốn Phật-đàn,
Vưng lời truyền dạy các chư bang.
Âu-sầu bá tánh gieo tình ác,
Bị lũ con buôn quá tráo hàng.
*
GÌN TỤC CỔ
Cũng dòng dân Việt cũng màu da,
Sao lại chê bai thói tục nhà.
Phong-hóa lễ-nghi trề nhúng bỏ,
Gia nghiêm nghĩa tiết choán Nam-gia !
*
LỐ VỪNG HỒNG
Khói tỏa mây ung sương mịt mù,
Vừng hồng vừa lố cảnh trời thu.
Ruộng sâu đã cấy chờ bông trái,
Thì sẽ ấm no thoát ngục tù.
O*O
Ngục tù giam hãm mấy mươi năm,
Nhớ lại quặn đau khúc ruột tằm.
Rày gặp mưa nhuần ân Thánh-đế
Tưới cho trăm họ bớt mê lầm.
*
XÉ-XÂU NHAU
Gẫm thấy cuộc đời xô-xát mãi,
Dắt tay nhau đến bãi tha-ma.
O*O
Gió Á mưa Âu bùng sấm dậy.
Hãi hùng tranh chiến xé xâu nhau.
Hồng-trần trở lại màn u-ám.
Khắp cả chúng-sanh nhuộm máu đào.
CHUYỂN PHÁP-LUÂN
Lòng thương lê-thứ đáo ta-bà,
Thừa chuyển pháp-luân dụng khuyến ca.
Cảnh tỉnh người mê về cõi ngộ ,
Dạy răn kẻ tục vượt nê-hà.
*
LÚC TA TỈNH
Tỉnh giấc mơ màng cảnh mộng hoa,
Tỉnh lòng lê-thứ chữ nhơn hòa.
Tỉnh thân tầm đạo xa trần-tục,
Tỉnh chuyện gần xa tiếng thiết-tha.
O*O
Tỉnh biết đời nay lỗi đạo hằng,
Tỉnh tâm già trẻ bớt làm nhăng.
Tỉnh câu phụ tử tình thâm ấy,
Tỉnh hết vạn dân biết thượng tằng.
*
CHO MỘT VỊ SƠ TÂM
Duyên lành mới gặp cảm tình ông,
Rõ việc mở mang giống Lạc-Hồng.
Bí hiểm cơ-huyền nơi diệu lý,
Nhiệm mầu Phật pháp chốn thần thông.
Trau tria nhục thể về nơi cũ,
Chùi rửa tim gan một tấc lòng.
Cố tưởng ước mơ đời thạnh trị,
Ngặt vì vận bĩ bắt cuồng ngông.
*
CHÍ THANH CAO
Một thân quyết chí phá lâm tòng,
Dắt chúng đời nầy liễu diệu thông.
Nhắc nhở con hiền noi tục cổ,
Kêu chừng trẻ thảo góc trời đông.
Ngày thanh mong tưởng cho mau tới,
Đêm vắng ước mơ lộ vẻ hồng.
Sẽ được hiệp hòa non phụng gáy,
Trung thần thỏa dạ hết chờ trông.
*
BÁO-HIẾU ÐẠO NHÀ (1)
Quảy đơm cúng tế lệ xưa nay,
Sát vật trâu heo đứa mị bày.
Kẻ mất cho ăn suy khó hiểu,
Người còn bạc đãi lạ lùng thay.
Cháu con báo hiếu theo Nhà-Phật,
Cha mẹ qua đời thủ lễ chay.
Trong sạch nghĩa nhân vầy mới đáng,
Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay.
(1) Bài nầy Ðức Thầy, thuyết-giảng tại Tổ-Ðình Hòa
Hảo, khuyên tín-đồ không nên sát sanh trong lễ giỗ
quảy đơm.
VÀI TOA THUỐC NAM
Mà Đức Thầy đã dùng từ năm 1939 để trị
Bịnh cho bá-tánh thập phương.
_____________
1.- BỊNH HO
É tía, rau tần, rễ chanh, gừng lùi, lá bưởi, bông thọ, rễ chòi mòi (sao), một xu nhơn trần, một xu trắc bá diệp.
***
2.- BỊNH BAN
Chổi đực, vòi voi, hắc-sửu, rau bợ, rể chòi mòi, năm thứ đậu, đọt tre mở một nắm (sao chín).
***
3.- BỊNH THƯỜNG
Lá xoài, lá ổi, lá mít, lá bưởi, bông trang hay là bông thọ (để sống).
***
_____________
33 TOA THUỐC GIA TRUYỀN MÀ ĐỨC THẦY ĐÃ GIAO CHO ANH EM TÍN-ĐỒ Ở BẠC-LIÊU HỒI THÁNG 6 DL. 1945, TRONG LÚC NGÀI ĐI KHUYẾN NÔNG.
1.- CẢM MẠO (thuốc tán)
Xuyên hậu phát 1 lượng, Quản trần bì (sao) 1 lượng, Bạch bì 1 lượng, Xuyên khung (sao) 1 lượng, Sa nhân 1 lượng, Bạch khấu 1 lượng, Bạch trực (sao) 2 lượng, Thương trực (sao) 2 lượng, Cam thảo 1 lượng, Thảo quả 2 lượng, Hoát hương 2 lượng, Thạch cao 1 lượng, Chánh thần khúc 1 lượng.
Tán khô để vô ve, mỗi lần uống 1 chỉ với nước gừng, trị nóng lạnh, mới cảm, nhức đầu, thổ tả, đau bụng, ban trái.
2.- CẢM GIÓ (thuốc ban)
Sa sâm 2 chỉ, Kiết cánh 1 chỉ, Phục linh 1 chỉ, Tiền hồ 2 chỉ, Độc huợt 2 chỉ, Sài hồ 2 chỉ, Cam thảo 1 chỉ, Xuyên khung 1 chỉ, Chỉ xát 1 chỉ, Khương huợt 1 chỉ, Sanh cương 2 chỉ.
Uống rồi trùm lại chờ đổ mồ hôi
***
3.- Cảm ba bốn ngày sắp lên, nửa trong nửa ngoài, nóng lạnh từ hồi, cổ không thông, khô cả nước miếng hoặc làm rét.
Sài hồ 3 chỉ, Bạch bì sâm 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Thảo quả 3 trái, Chế bản hạ 2 chỉ, Hoàng cầm 3 chỉ, Thương trực (sao) 2 chỉ, Hậu phát 2 chỉ, Gừng sống 4 lát.
Uống hai nước.
***
4.- Ho gió, mới cảm trong mười ngày thì cứ uống
Tử tô diệp 2 chỉ, Bạc hà 2 chỉ, Quế tiện 1 chỉ, Hạnh nhơn 2 chỉ, Sanh cương 5 lát, Trần bì (sao) 2 chỉ, Tang bạch bì 3 chỉ, Đại phúc bì 2 chỉ, Trầm hương tốt (gói riêng) 2 chỉ, Ma hoàng 1 chỉ, Tô tử 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ.
Sắc uống hai nước.
***
5.- Trị bịnh ho vừa phát nóng lạnh dữ lên thì ho dữ-dội ấy là cảm gió vào phổi hóa nóng nhiều.
Sa sâm 3 chỉ, Kiết cánh 2 chỉ, Cát căn 2 chỉ, Chỉ xác (sao) 2 chỉ, Tử tô diệp 2 chỉ, Tiền hồ 2 chỉ, Phục linh cũ
2 chỉ, Nam mộc hương 1 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Chế bản hạ 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Uống hai nước.
***
6.- Ho thuộc về thận
Trạch tả 3 chỉ, Táo nhục 3 chỉ, Thiên môn đông 2 chỉ, Ngưu tất 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Lão thục địa 8 chỉ, Mạch môn đông 3 chỉ, Hạnh nhơn 2 chỉ, Phục linh cũ 3 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Mẫu đơn 3 chỉ.
Sắc 2 nước vắt nước cốt chia ra hai phần uống 2 lần.
***
7.- Ho gió lâu quá mà thuốc nào cũng vô hiệu
Kha tử (nướng cho vàng) 5 chỉ, Cam thảo 2 chỉ.
Hai vị nầy chung lại, sắc uống, hiệu nghiệm như thần.
***
8.- Ho ra huyết ói cả tô, lúc đầu vừa ói ra nó nặng ngực (thượng tiêu)
Đại hoàng tốt (sao rượu cho khô) 2 chỉ, Xuyên hoàng liên 3 chỉ, Huỳnh cầm 4 chỉ.
Sắc hai nước uống hai lần, cho ỉa đừng sợ (mệt mà bổ). Xổ rồi lại uống thang dưới đây:
Văn thảo (sao) 2 chỉ, Lão thục địa 8 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Thiên môn đông (khử bỏ tim) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Phục linh cũ 3 chỉ, Mạch môn đông 2 chỉ, Đơn bì 4 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Đông hoa 2 chỉ.
Hốt 1 thang sắc hai nước, vắt lấy nước cốt uống hai lần, uống luôn 3 thang thì hết, nếu uống mà sôi bụng ỉa ấy là Lão thục địa xấu, phải mua thứ tốt.
***
9.- Đàn bà huyết băng cầm lại rồi còn đương mệt nhọc lại hóa ho nhiều
Phòng đản sâm 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Mạch môn đông (khử bỏ tim) 2 chỉ, Công giao châu 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Lão thục địa 5 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Phục linh cũ 2 chỉ, Bạch thược (sao) 3 chỉ, Đông hoa 2 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Tam thốc can 2 chỉ, Kỳ ngại khô 1 chỉ.
Sắc hai nước, uống hai lần. Uống năm thang mới giảm và hết.
***
10.- Đàn bà đường kinh đi râm-rỉ cả 10 ngày hay nửa tháng mà không dứt
Tam thốc can 3 chỉ, Viễn chí 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Chánh phục thần 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Chá hoàng kỳ 4 chỉ, Quảng mộc hương (gói riêng không sắc) 6 chỉ, Đại qui đầu 3 chỉ, Tàng táo (sao) 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Long nhãn nhục 2 chỉ.
Sắc hai nước, uống hai lấn, uống ba thang thì hết, cữ ăn hành, tỏi.
***
11.- Huyết hư, cảm mạo, nóng lạnh, không có mồ hôi, đường kinh quá kỳ không đi
Lão thục địa 5 chỉ, Bạch thược 2 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Tử tô diệp 2 chỉ, Kiết cánh 2 chỉ, Pháp hạ 2 chỉ, Phục linh 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Tiền hồ 2 chỉ, Càn cát 1 chỉ, Chỉ xác (sao) 2 chỉ.
Sắc hai nước, chia ra uống hai lần, uống 3 thang đổi toa.
***
12.- Điều hòa huyết, trị huyết nóng đau bụng, nhức mỏi, đường kinh trồi sục
Lão thục địa 3 chỉ, Xuyên khung 3 chỉ, Chế hương phụ 1 chỉ, Ích mẫu 2 chỉ, Bạch thược 3 chỉ, Đương qui 3 chỉ, Ô dước 2 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc hai nước uống hai lần.
***
13.- Điều kinh, đàn bà kinh kỳ trồi sục, đau bụng nhiều ít không chừng
Trạch tả (sao) 3 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Bạch thược 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Lão thục địa 7 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Mẫu đơn 3 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Đương qui 3 chỉ.
Sắc hai nước uống nhiều thang mới hết.
***
14.- Thuốc sản hậu (trong 15 ngày mà hóa các chứng bịnh gì cứ uống. Còn trong 8 ngày thì cứ uống chớ ngại chi)
Đương qui vĩ 7 chỉ, Đào nhân 3 chỉ, Cam thảo chá 2 chỉ, Xuyên khung 5 chỉ, Bào cương 2 chỉ.
Nước lã 1 chén, nước đái 1 chén, sắc còn 7 phân, thêm 1 chung nước đái vô chén thuốc, thuốc sắc rồi uống ấm. Khi mới sanh đẻ hốt hai thang, sắc thang trước lấy nước nhứt, lại sắc thang sau lấy nước nhứt uống vô, rồi lấy cái xác của hai thang (sắc rồi) sắc nước nhì cũng như cách trên bảo vậy. Nếu uống liền bốn thang như vậy thì càng tốt.
***
15.- Thuốc ỉa nước nhiều và nóng nhiều.
Trạch tả 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Sanh cương 5 lát, Phục linh 3 chỉ, Biên đậu (sao) 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Sài hồ 3 chỉ, Đại táo 3 trái, Hoài sơn (sao) 3 chỉ.
Sắc 2 nước uống ấm.
***
16.- Tỳ vị, quá hư lạnh, sanh ra ỉa nước, ăn không vô.
Bạch trực (sao) 3 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Hắc phụ tử 3 chỉ, Hắc cương 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Biên đậu (sao) 3 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc hai nước uống hai lần. Chừng vài thang thì hết ỉa.
***
17.- Ăn chậm tiêu, sình bụng no hơi, đau bụng, hoặc lạnh tay chơn, ói mửa ỉa ra nước mà không thôi.
Phòng đản sâm 4 chỉ, Càn cương 2 chỉ, Hắc phụ tử 2 chỉ, Cam thảo chích 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 3 chỉ.
Hốt 1 thang sắc hai nước uống hai lần, uống 3 thang đổi toa.
***
18.- Ăn không tiêu, đau bụng,
ngăn ngực, nghẹn trong cổ
Phòng đản sâm 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Mạch nha (sao) 2 chỉ, Thần khúc 2 chỉ, Đại táo 3 trái, Phục linh 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Bào cương 1 chỉ, Sơn tra 2 chỉ, Gừng sống 5 lát.
Sắc hai nước uống ấm.
***
19.- Bịnh kiết đi sông nhiều,
rặn nhiều và ra đàm ít
Bạch thược (sao) 3 chỉ, Xuyên hoàng liên 4 chỉ, Vỏ lựu nướng 5 chỉ, Thương trực (sao) 4 chỉ, Quảng mộc hương 3 chỉ.
Chung lại tán nhỏ, thêm vô một chỉ nhựa bông, tán chung. Uống mỗi lần 1 chỉ. Chừng 3 lần hết bịnh (Cần thêm nhiều cho dứt căn). Đàn bà đẻ uống cũng được.
***
20.- Trị bịnh uất mới có, xổ êm
Sài hồ 3 chỉ, Đại hoàng 3 chỉ, Sanh cương 4 lát, Chế bản hạ 3 chỉ, Sanh chỉ xác 3 chỉ, Xích thược dược 2 chỉ, Huỳnh cầm 2 chỉ, Đại táo 3 trái.
Uống một nước để lâu ước chừng 2 giờ xem có đi sông chăng hoặc có sôi ruột mà chưa sông thì uống thêm nước nhì; như có sông mà ít thì uống thêm nửa nước nhì. Uống thuốc xổ thì nên dè-dặt vì bịnh hư dễ xổ, bịnh thiệt khó xổ. Vậy nên mình coi thêm bớt cho vừa ý.
***
21.- Xổ rửa sạch độc cũ, đau lâu uất bón phong nhiều, ung độc ghẻ chốc, nóng trong mình
Phòng phong 2 chỉ, Bạch thược 1 chỉ, Xuyên khung 1 chỉ, Phát tiêu (để riêng) 2 chỉ, Liên kiều 1 chỉ, Kiết cánh 1 chỉ, Ma hoàng 1 chỉ, Huợt thạch 15 phân, Đại hoàng 2 chỉ, Bạc hà 1 chỉ, Cam thảo 1 chỉ, Chi tử 1 chỉ, Huỳnh cầm 1 chỉ, Bạch trực (sao) 2 chỉ, Kinh giái 1 chỉ, Thạch cao 15 phân.
Sắc 2 nước uống 2 lần (uống quá sức thuốc có hại).
22.- Thuốc tiêu trị bá chứng như: Thũng thực vật, bại xụi
Hương phụ tử chế 1 cân (chia 4 phần tẩm muối, tẩm gừng, tẩm nước đái, tẩm giấm trọn đêm, sao cho cháy một chút). Hắc sửu nửa cân (phân nửa sao, phân nửa để sống). Ngũ linh chỉ 1 cân (rửa sạch, tẩm giấm sao cháy một chút). Tạo giác nửa cân (để sống).
Bốn vị chế xong đều tán nhỏ, khuấy hồ gạo vò viên bằng hột bắp, mỗi lần uống 30 hoàn với nước trà tống hạ, như uống nhiều bằng 2 thì xổ êm, uống ít thì tiêu.
***
23.- Đau lưng
Trạch tả (sao) 3 chỉ, Mẫu đơn 3 chỉ, Lão thục địa 7 chỉ, Đổ trọng (sao muối) 2 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Phục linh 3 chỉ, Thục đạn 2 chỉ.
Sắc hai nước uống ấm.
***
24.- Tức và lói ra sau lưng
Sài hồ 4 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Phục linh 4 chỉ, Bạc hà 2 chỉ, Hương phụ chế 3 chỉ, Bạch thược (sao) 4 chỉ, Đương qui 3 chỉ, Cam thảo 1 chỉ, Ô dước 2 chỉ.
Sắc hai nước thêm 5 lát gừng sống.
***
25.- Phong đau mình, nhức mỏi,
bổ huyết và hành huyết, bổ khí
Lão thục địa 4 chỉ, Xuyên khung 3 chỉ, Phòng đản sâm 4 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Độc huợt dương 2 chỉ, Xuyên
túc đoạn 2 chỉ, Bạch thược (sao) 3 chỉ, Đại qui đầu 3 chỉ, Phục linh cũ 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Chá hoàng kỳ 2 chỉ, Linh tiên 2 chỉ.
Sắc hai nước uống hai lần. Uống 2 thang nghỉ. Rồi uống toa thuốc dưới đây:
Độc huợt 2 chỉ, Đổ trọng (sao) 3 chỉ, Tế tân 1 chỉ, Tần giao 2 chỉ, Quế tâm 1 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Phòng phong 2 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Tang ký sanh 3 chỉ, Ngưu tất 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Phục linh 2 chỉ, Bạch thược 2 chỉ, Thục địa 4 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc 2 nước chế thêm một chung nhỏ rượu, chia ra làm hai, uống luôn hai, ba thang mới hay. Bịnh có bớt, uống thêm càng tốt.
***
26.- Mạnh tỳ vị, mau tiêu,
bổ về phần khí cho sanh huyết
Phòng đản sâm 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Đại táo 3 trái, Sanh cương 5 lát, Phục linh cũ 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 3 chỉ, Liên nhục (sao) 2 chỉ.
Sắc hai nước uống cho nhiều.
***
27.- Ăn ngủ không được, mệt,
lạnh tay chơn nghẹn cổ, chóng mặt
Trạch tả (sao) 3 chỉ, Mẫu đơn bì 3 chỉ, Lão thục địa 7 chỉ, Hắc phụ tử 1 chỉ, Đỗ trọng (sao muối) 2 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, Phục linh cũ 2 chỉ, nhục quế (gói riêng) 1 chỉ, Ngưu tất 2 chỉ.
Hốt 1 thang sắc hai nước, vắt xác lấy nước cốt quế ngâm riêng nước sôi để nguội, lấy ra ngâm lại, lần thứ nhì, rót lại hai nước quế và nước thuốc chung vô 1 tô, trộn đều chia làm hai uống hai lần, uống hơi nguội một chút, cử ăn hành, tỏi và tiêu vì phạm thuốc.
28.- Ăn ngon ngủ nhiều
Đại đương qui 3 chỉ, Long nhãn nhục 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Chánh phục thần 2 chỉ, Quảng mộc hương (gói riêng) 5 phân, Tàn táo (sao) 2 chỉ, Viễn chí 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Chá hoàng kỳ 4 chỉ, Cam thảo 2 chỉ.
Sắc hai nước uống ấm. Mộc hương để ngoài, mài riêng, thuốc sắc tới rồi chế vô trộn đều chia ra hai phần uống hai lần.
***
29.- Bổ tim, dưỡng tỳ, trị bịnh hồi hộp, làm
cho ăn ngủ ngon, mạnh tinh-thần khí lực
Phòng đản sâm 3 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Lão thục địa 4 chỉ, Đương qui lớn 3 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Hoàng kỳ chá mộc 4 chỉ, Sanh cương 5 lát, Phục Linh 2 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Bạch thược (sao) 2 chỉ, Viễn chí 2 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Nhục quế 1 chỉ.
Sắc hai nước uống ấm.
***
30.- Bổ trung chơn, trị đau lâu, ăn ngủ ít, tay chơn bải-hoải, mồ hôi ra nhiều, cổ chẳng thông, có đàm nhiều.
Hoàng kỳ chá mộc 4 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Đại đương qui 3 chỉ, Thăng ma 2 chỉ, Đại táo 3 trái, Cam thảo 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Bắc sài hồ 2 chỉ, Trần bì (sao) 2 chỉ, Sanh cương 5 lát.
Sắc hai nước uống ấm.
***
31.- Chận cử rét (lạnh nhiều hơn nóng)
Bắc sài hồ 3 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Bạch trực (sao) 3 chỉ, Lá Thường sơn tẩm rượu (sao) 5 lá, Chế bản hạ 3 chỉ, Điều cầm 2 chỉ, Phục linh 2 chỉ, Thảo quả 3 chỉ.
Sắc hai nước, uống trước khi làm cữ một giờ.
***
32.- Chận cữ rét (nóng nhiều hơn lạnh)
Lão thục địa 4 chỉ, Xuyên khung 2 chỉ, Bắc Sài hồ 3 chỉ, Chế bản hạ 3 chỉ, Cam thảo 2 chỉ, Thảo quả 3 chỉ, Bạch thược 3 chỉ, Đại táo 3 trái, Lá Thường sơn tẩm rượu (sao) 5 lá, Đương qui 3 chỉ, Điều cầm 2 chỉ, Phòng đản sâm 3 chỉ.
Sắc hai nước, uống trước khi làm cữ một giờ.
***
33.- Con nít ói sữa
Thiên sanh ư trực 1 chỉ, Phòng đản sâm 1 chỉ, Phục linh 5 phân, Xuân sa nhơn 8 phân, Cam thảo chá 5 phân, Hoài sơn 1 chỉ, Biên đậu 1 chỉ, Hoát hương 3 lá.
Hốt một thang để vô chưng cách thủy, một chén còn lại bốn phân cho uống, chẳng cần mấy thang, con uống nước nhứt, mẹ uống nước nhì, cứ uống cho nhiều thì mau hết. Đừng để lâu vì bịnh nầy hay hại con nít.
đến đây đã hết, xin cảm ơn các bạn đã đọc. nếu ai mà có duyên thì nên tu tâm, tu tánh
Nam Mô A Di Đà Phật
-
-
-
-
-
-
"Bao giờ Chúa xuất An Giang
Bấy giờ thiên hạ bạc vàng đầy kho "
Bữa trước bt có theo chiếc ghe lên Hồng Ngự mua cát vàng về Bạc Liêu bán , đi ngang qua cái miếu thờ Phật Giáo Hòa Hảo thấy 2 câu thơ này trên vách tường . Ngoài ra , khắp các vách tường chỗ nào cũng có đề thơ , thơ như nửa điên nửa tỉnh , nhiều quá nên bt nhớ không hết .
Bác rambon có nghe qua 2 câu thơ này chưa ?
-
Đợi bạc vàng đầy kho thì còn lâu đấy