-
Thổ công làm chủ nền nhà
Thổ thần là chủ khu đất
Thổ địa cũng là môn khấu thổ địa tiếp dẫn tài thần: thần thổ địa trực ở cổng để tiếp dẫn thần tài vào nhà
Thổ phủ bảo hộ các kho hàng
Thổ kỳ cai quản mặt đất nói chung
Tiền hậu địa chủ tài thần gồm 2 vị tiền địa chủ tài thần và hậu địa chủ tài thần
Tiền địa chủ tài thần là thần tài của chủ đất trước, thờ vị thần này là có ý báo bổn tư nguyên, tức là baó đáp cái gốc nhớ đến cái nguồn
Hậu địa chủ tài thần là thần tài của chủ đất sau, tức là thờ vị thần của chủ đất hiện nay
(theo Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc: Thần tài – tín ngưỡng và tranh tượng).
http://dichvudocungbinhduong.com/kie...-sang-184.html
-
* Thờ Ông PHÚC ĐỨC / PHƯỚC ĐỨC ( Có lai lịch rõ ràng ) - 福德 =) PHÚC ĐỨC CÔNG / PHƯỚC ĐỨC CÔNG ( 福德 公 )
. PHƯỚC ĐỨC MIẾU: 福德廟 / 福德庙 = THỔ ĐỊA CÔNG MIẾU ( Kiến trúc đẹp ) - 土地公廟
https://m.xuite.net/blog/k0919634783/twblog/130586684
https://news.cts.com.tw/cts/society/...171730574.html
. PHƯỚC ĐỨC CỔ MIẾU: 福德古廟 / 福德古庙
=====
* Thờ ÔNG ĐỊA / THỔ ĐỊA - 翁地 / 土地 ( Chung Chung không có lai lịch rõ ràng ) =) THỔ ĐỊA CÔNG ( 土地 公 )
. THỔ ĐỊA MIẾU: 土地廟 / 土地庙
https://3g.163.com/dy/article/G8EQSC...l?spss=adap_pc
https://3g.163.com/dy/article/G8EQSC...l?spss=adap_pc
https://kknews.cc/culture/yzqrqaa.amp
. THỔ ĐỊA THẦN MIẾU: 土地神,廟 / 土地神,庙
https://zhuanlan.zhihu.com/p/36005857
-
-
Tăng Phước Tài thần TÀI TUYỀN TINH QUÂN - 增福財神財帛星君
TÀI TUYỀN TINH QUÂN - 財帛星君: còn gọi là Tăng Phúc Tài thần - 增福財神, thường được vẽ cùng Phúc, Lộc, Thọ và Hỉ thần. Tài Tuyền Tinh quân là một vì sao trong Bắc Đẩu thất tinh được miêu tả là vị thần da vẻ trắng trẻo, tay cầm một cái bồn chứa đầy vàng bạc, trên bồn có bốn chữ Chiêu Tài Tiến Bảo - 招財進寶.
http://nguyentienquang-huongtram.blo...n-tai.html?m=1
-
* Ngày 22/ 07 ÂL: Vía Tăng Phước Tài thần TÀI TUYỀN TINH QUÂN - 增福財神財帛星君
http://www.tuhai.com.vn/forums/index...ic=4453.0;wap2
=====
财帛星君
财帛星君是汉族民间信仰的一位财神 属于文财神,又称增福相公,增福财 ,福善平施公。有人说其姓李名诡祖 ,今山东省淄博市一带人。传说李诡 生日九月十七。魏孝文帝时任河北曲 县令,清廉爱民,去世后立祠祭祀。 唐明宗天成元年(926年)被赐封“神 增福相公”,元代(被赐封“福善平 公”。曲周有祭祀李诡祖的“增福庙 ”和李相公墓。供奉财帛星君寄托了 族劳动人民一种祛邪、避灾、祈福的 好愿望。
财帛星君李诡祖是一位身着锦衣,腰 玉带,左手捧着一只金元宝,右手拿 写有招财进宝的卷轴,相貌厚重,乃 富贵无限之相的官员。“招财进宝” 字由此而来。一般人家悬挂财帛星君 于正厅,祈求财运、福运。
http://generoch1.blogspot.com/2016/0...st_42.html?m=1
-
大伯公护法神
【文武判官】
这个职称最早出现在唐代,是地方长 的幕僚,其职务主要是辅佐处理政事 台湾的城隍庙通常都配有两个判官, 一文一武,因此称为文,武判官。文 武判官分立于城隍爷左右两侧,可说 城隍庙基本的成员。
但因土地神是地方上的基层行政神, 所管邻里间的大小事情土地公公都必 亲身躬行,而民众也将土地公视为地 方父母神,所以不管是生,老,病, ,订盟誓约,考试求职,升官求财, 往都会向土地公禀明并求其庇佑,但 以土地爷一个老人家实在无力去处理 有大,小琐事,故在一些土地公庙里 会配祀文武判官,来协助土地公分担 业务,并调查人间善恶。
小的土地公祠,可能只立个土地公小 像,外加个小香炉而已,大的土地公 ,还祀有他的从属神─文判官,武判 官,虎爷。一般土地庙中,文武判分 土地公两侧,文判在左,武判在右。 武判既为土地公的左右手,自然也须 有所分工,一般文判负责的较属文书 务,有点像师爷性质,而武判官则有 像护卫,专门冲锋陷阵,缉凶击恶, 亦因工作性质不同,所以在造形上也 有了很大差异。
【文判官】
由于文判官主要负责文书业务,因此 造型往往为白面书生状,面貌较武判 温和,清秀,扮相通常为慈眉善目, 头戴乌纱帽,一手持朱砂笔,一手持 死簿。
【武判官】
武判官因为是执行各项较为「吃力」 业务,因为武判官的职责就是在文判 判决之后,负责执行犯人应得的罪行 。所以其造型自然较为威武,有人认 是整个土地庙各种神像造形中最有张 及动势的。且因其为武判,为衬其威 仪,在脸部的造形,往往是怒目竖眉 肌肉紧缔,而其标准的扮相就是高举 锤,有时手中尚有戟或鞭等法器,似 乎要击毙为非作歹的宵小,令人不寒 栗。
武判官的造型,是和文判官相对的, 胡须而言,一般的武判官,也多蓄有 须,不过有些庙的武判官就不蓄胡子 。其肤色也有皮肤色,黑色,褐色的 同。而武判官所戴的冠帽,就有较多 同的种类,如一般官帽式,乌纱帽式 ,战盔式,捕头帽式等。
🙏🙏🙏
#文武判官 萬家發神像貿易有限公司借图片👍🤝 ❤️
https://m.facebook.com/story.php?sto...58187778297248
-
https://m.facebook.com › posts
Kết quả tìm kiếm trên web
THỔ THẦN. Không những trong phong... - Kiến Trúc Nhà Đẹp | Facebook
Hiện nay lăng mộ, tháp mộ có sự xuất hiện của bia đá Thổ thần 土神 (được người đời tôn xưng là Chính thần 正神 hay Phúc Đức chính thần 福德正神) hiện
-
THỔ THẦN.
Không những trong phong thủy âm trạch của người Trung Hoa, mà trong phong thủy âm trạch của người Việt Nam, cũng như các kiến trúc đền, chùa, miếu mạo, lăng tẩm ... của người Việt cũng có tục Thờ Thổ Thần trong tín ngưỡng tâm linh.
Thổ thần hay Thổ địa, là một trong ba vị thần phổ biến và gần gũi nhất của dân Tàu, ở Việt nam trước đây thì có Sơn Thần sau này thì có thờ cả: Sơn Thần, Thổ Thần và Thủy Thần.
Trong tín ngưỡng dẫn gian có câu '' Đất có thổ công sông có hà bá'' hay như câu ''long thần, thổ địa'' đều ám chỉ các vị thần cai quản đất đai, nguồn nước. Trong tín ngưỡng dân gian, Thổ địa là phúc thần, chuyên trách bảo hộ địa phương. Thuở ban sơ, khi mới thiết chế lễ nghi, đã có tục thiên tử tế trời, sĩ đại phu tế đất, để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Thời hiện đại thì Thổ địa đã được biên chế chính quy, ngoài nhiệm vụ khuyến nông, thần còn ban phước, trợ tài, phù hộ bình an. Do vậy ở các khuôn viên tâm linh nào đều phải có điện thờ ''Thổ Địa''. Thổ địa lại được chia ra Chính thần và Hậu Thổ.
- Chính thần (正神) là vị thần cai quản toàn khuôn viên đạo diện cho vị thần cai quản long mạch khu vực đó hay công trình và đôi khi còn được đạo dụ sắc phong của nhà vua].
- Hậu Thổ (后土) đại diện cho vị thần cai quản huyệt vị của ngôi mộ để tránh cho những người xấu (cả người dương lẫn vong âm) đến phá hoại long mạch, huyệt vị hay trấn yểm mộ phần.
Hiện nay lăng mộ, tháp mộ có sự xuất hiện của bia đá Thổ thần 土神 (được người đời tôn xưng là Chính thần 正神 hay Phúc Đức chính thần 福德正神) hiện tồn ở Huế và mộ số kiến trúc âm trạch của các quận công thời xưa.
---------------------------------------------------
NGUỒN GỐC
Trước tiên là tự dạng: do chữ Thổ 土 có hình dạng như thập tự cắm trên mặt đất, nên có kẻ bàn đây là totem bộ lạc Hữu Hùng của Hiên Viên (Huỳnh đế). Đó là bàn láo, cốt giành hình tượng thánh giá chứ chẳng chứng cớ gì. Bởi thực ra, hai nét ngang của Thổ, nét trên tượng trưng mặt đất, nét dưới là lòng đất, nét sổ là thân cây bám rễ vươn cao.
“Thuyết văn giải tự” do đó giải nghĩa: Thổ dưỡng nuôi vạn vật. Lời này cho thấy chữ Thổ chỉ xuất hiện khi loài người đã biết trồng trọt, canh tác.
Đất bao dung cung cấp vật thực cho người, nên Thổ địa được tôn Phúc Đức chánh thần, Phúc Đức lão gia, Phúc Đức bá công…
Các cổ tịch Trung Hoa như Hiếu kinh, Tả truyện, Xuân thu Công Dương giải hỗ… đều có ghi chép về tục sùng bái Thổ thần. Theo đó thì xưa gọi thần đất là Xã[2], thần lúa là Tắc. Hai chữ Xã Tắc 社稷 vì vậy hàm nghĩa đất nước ông bà.
Lễ ký còn ghi rõ: Vào tháng Trọng xuân, lấy ngày đầu tháng làm lễ tế thần Xã trong dân[3].
Theo Tả truyện, cháu đời thứ 11 của Viêm đế (Thần Nông) tên Câu Long 句龍, có công bình định chín châu, được phong tước Công, quan làm Hậu Thổ 后土; sau khi mất, ông được thờ làm thần Xã. Lễ tế thần Xã chia Xuân thu nhị kỳ, là Xuân Xã và Thu Xã.
DÂN TỤC
Xã là thần đất, tất phải có cương vực phân minh; mỗi vùng đất lại có đặc thù riêng, khiến ông Xã được cách tân, thành thần Thổ địa để đáp ứng thổ nhưỡng tùy nơi, nên trong dân gian, mỗi vùng đất đều có truyền thuyết riêng về Thổ địa. Đây chỉ lược kê vài thuyết phổ biến:
1. Đời Chu có Trương Phúc Đức, sinh vào mùng 2 tháng Hai năm Châu Võ vương thứ 2 (1.134 tr.Cn). Đức từ nhỏ đã thông minh hiếu thuận, đến năm 36 tuổi đảm nhận quan Tổng thuế, một đời cần chính thanh liêm, thọ đến 102 tuổi. Dân chúng nhớ ơn, chất đá làm miếu thờ. Đồn rằng Đức sống thanh liêm nên chết đi còn hiển hách, vẫn phù hộ dân chúng làm ăn thịnh vượng; triều đình phong làm Phúc Đức chánh thần 福德正神.
2. Thuyết khác kể rằng: đời Chu có vị Thượng đại phu, do nhậm chức phương xa, để vợ con cùng nghĩa bộc Trương Minh Đức ở lại quê. Xảy có gia biến, phu nhân phải thác, nghĩa bộc đã không quản gian nguy, địu con chủ lên lưng, xông pha ngàn dặm giúp nó tìm cha. Dọc đường bị trận bão tuyết, Trương Minh Đức cởi áo bọc kín giữ ấm cho tiểu chủ. Khi Thượng đại phu hay tin tìm tới nơi thì con gái hãy còn thoi thóp, nhưng Đức đã chết cóng. Lúc ấy bỗng sấm nổ vang, mây hồng tụ lại thành hàng chữ: “Nam thiên môn đại tiên Phúc Đức chánh thần”. Châu Võ vương cảm động khen rằng: “Người trung nghĩa dường ấy xứng làm bậc đại phu”.
3. Thuyết khác lại kể: xưa có ông lão nhặt được quả trứng trong lùm, đem về cho gà ấp. Chừng nở ra thấy là con rắn, ông vẫn tận tâm nuôi nấng. Con rắn sau thành tinh quậy phá cả vùng. Ông lão cho là do mình gây nên tội nghiệt, nên thề quyết tự tay tru diệt yêu tà, rốt cuộc cả rắn lẫn người đều chết. Cảm ân đức ấy, dân làng lập đền thờ. Nhà vua biết chuyện, ban tước Công cho ông lão, sắc phong làm Thổ địa công.
CHỨC NĂNG
Thổ địa tuy là phúc thần, nhưng chức năng chỉ tương đương viên quan địa phương, bảo hộ dân chúng trong làng xóm. Chỉ khi được triều đình sắc phong, Thổ địa làng sẽ đội mão Tể tướng (do lời tán thán của Châu Võ vương), chính thức làm Phúc Đức chánh thần, tương đương Thành hoàng trong huyện thị.
Tập tục thời xưa, mỗi làng mạc đều có miếu Thổ địa. Trẻ mới sinh đầy tháng là được ẵm tới miếu làm lễ ra mắt Thổ địa, tương tự thời nay làm chứng nhận khai sinh hộ tịch. Người già mất đi, gia quyến cũng tới miếu thắp nhang, khấn rõ tuổi tên người chết, nhờ Thổ địa dẫn lối siêu sinh, ấy là làm chứng tử.
Người Mân Nam (tức Phúc Kiến, Hakka) tin rằng ngoài chức năng bảo hộ nông nghiệp, Thổ địa còn giúp phù trì công việc mua bán thuận lợi; nên ở Đài Loan, dân chúng đồng nhất Thổ địa với Thần tài, là thủ hộ cho công ty, hãng xưởng.
Ở Quảng Đông, Hong Kong, Macao, Triều Châu, Đài Loan, bên cạnh ông Thổ địa (Thổ địa công 土地公), còn đặt thêm tượng phối ngẫu của ông, tức bà Thổ địa (Thổ địa bà 土地婆) phụ trách đỡ đần bình an cho phụ nữ.
Người Phúc Kiến gọi Thổ địa là Bá công 伯公, kiêm thêm việc canh giữ mộ địa được yên lành, nên nghĩa trang Phúc Kiến luôn có miếu Bá công. Vào 16 tháng Chạp hàng năm, người ta ra thắp nhang dâng lễ, tạ ơn vất vả của Bá công, xong mới tảo mộ người thân.
HÌNH TƯỢNG
Về chất liệu, tượng Thổ địa được nắn đất, chạm gỗ, khắc đá, đúc đồng tùy nơi. Còn hình dạng chung thì Thổ địa thường là vị trưởng giả hiền từ, nhưng tướng mạo mỗi nơi có khác nhau: nơi thị tứ thì Thổ thần ra dáng phú ông, tay cầm thẻ ngọc Như ý hoặc đồng tiền, thoi vàng; chốn thôn quê thì Thổ thần chống gậy tiên phong đạo cốt; ở chỗ sơn lâm, Thổ thần cưỡi cả cọp, rồng, kỳ lân; đất văn học thì Thổ thần được tạo hình quan văn nho nhã.
Dân Đài Loan có truyền thuyết Thổ thần cai quản cả chúa sơn lâm[4], nên đặt thêm tượng cọp phủ phục dưới bệ thần, kêu bằng “Hổ tướng quân”, giúp đuổi tà ma dịch bệnh.
MIẾU THỜ
Miếu Thổ thần còn gọi miếu Phúc Đức (người Phúc Kiến gọi Bá công miếu 伯公廟), hầu hết đều do dân chúng tự dựng nên, xuất hiện khắp hương thôn tới thị thành.
Miếu đa phần đơn sơ, vách đất che rơm cũng linh thiêng, thậm chí có khi chỉ cần ba hòn đá chất vệ đường cũng thành miếu Thổ địa[5].
TỤC CÚNG MÙNG 2, 16
Lễ cúng miếu Thổ địa thuở xưa chia làm Xuân Xã 春社, nhằm mùng 2 tháng Hai âm lịch; và Thu Xã 秋社, trùng với tiết Trung thu. Dư dả thì dâng phẩm vật đủ tam sinh[6], lỡ eo hẹp thì miếng thịt hoặc ít trứng gà, trái cây cũng đủ tỏ tâm thành.
Thổ thần ngày thêm thân thiết, nên dần được người Tàu rước về thờ cúng tại gia, mỗi ngày thắp nhang đảnh lễ. Riêng các nhà làm nghề buôn bán, do đồng nhất Thổ thần với Tài thần, nên mỗi tháng vào mùng 2 và 16, đều làm lễ cúng Thổ thần để cầu mua may bán đắt. Lệ cúng này gọi Tác nha 作牙, hoặc Nha tế 牙祭.
Nha 牙 ở đây là ngà voi. Số là vào cổ đại, trong mỗi quân doanh đều có lá đại kỳ, do chỗ cán của đại kỳ này, ở tay cầm thường làm bằng ngà voi, nên đại kỳ còn gọi Nha kỳ 牙旗, là tượng trưng chiến thần phù trợ đại quân. Mỗi tháng, trong quân đều long trọng tế Nha kỳ vào ngày mùng 2 và 16, vừa là cầu nguyện thần linh, cũng là dịp tiệc tùng thắt chặt tình đồng đội vào sinh ra tử. Vào 2 ngày này, các cửa hàng trong thành cũng được hưởng sái, từ thịt cá heo gà cho tới nhang đèn mắm muối, đều tấp nập người mua. Lệ Tác nha do đó dần thành tục cúng Thổ thần cả của giới doanh thương.
Vía Thổ thần mùng 2 tháng Hai được lấy làm ngày đầu tiên cúng Tác nha trong năm, nên gọi Đầu nha 頭牙; ngày 16 tháng Chạp theo đó là ngày cuối cúng Thổ thần trong năm, gọi Vĩ nha 尾牙. Vào hai ngày này, các chủ doanh nghiệp đều làm tiệc lớn, vừa là lễ tạ thần linh, vừa để khao thưởng nhân viên sau năm dài vất vả; nhất là Vĩ nha rất được trọng, là bữa lễ tất niên của mọi doanh nghiệp Tàu.
BÀN THỜ
Bàn thờ Thổ địa thường đặt dưới đất, dựa vô tường và quay ra cửa chính. Lệ đặt bàn thờ lối này có từ đời Minh, được cắt nghĩa bằng giai thoại về Chu Nguyên Chương.
Chương là kẻ thất phu lỗ mãng, nhưng từ khi lên ngôi thì chuyên tâm học hành, văn tài trở nên xuất chúng, có thể tự thảo chiếu thư, trước tác sách vở. Một hôm vi phục xuất tuần, Chương gặp Giám sinh nọ, đôi bên trò chuyện tương đắc, kéo nhau đi nhậu. Trong quán lúc đó đầy khách, Chương bèn rinh tượng Thổ thần trên bệ xuống đặt dựa vách, rồi phủi đít lên bàn thờ, ngồi đối ẩm với Giám sinh. Hỏi quê đâu thì Giám sinh nói ở Trùng Khánh. Chương nhân đó ra vế đối:
千里為重, 重水重山重慶府 Thiên lý vi trùng, trùng thủy trùng sơn Trùng Khánh phủ;
(Ngàn dặm gặp nhau, trùng nước trùng non là phủ Trùng Khánh – Câu này ý tứ bình thường, ngặt chỗ chơi chữ: Trùng 重 trên là chữ Thiên 千, dưới chữ Lý 里).
Giám sinh đối lại:
一人成大, 大邦大國大明君 Nhất nhân thành đại, đại bang đại quốc đại minh quân
(Một người nên lớn, vừa lớn đất lớn nước, vừa lớn vị vua hiền – chữ Đại 大 gồm Nhất 一 và Nhân 人 ghép thành).
Được nịnh “minh quân” đối với Chương đã thành nhàm, ông chỉ lấy làm lạ: sao tên Giám sinh kia biết mình là vua. Vừa tính gặng hỏi thì Giám sinh đã phẩy tay áo, hóa gió bay mất.
Chương đi rồi, chủ quán bê Thổ thần đặt lên chỗ cũ. Đêm đó, chủ quán chiêm bao bị Thổ thần quở trách: “Hoàng đế đã định vị ta ngồi dưới đất, sao ngươi dám cãi đem để lên trên?”[7] Từ đó, bàn thờ Thổ địa được đặt dưới đất.
Tuy địa vị có phần thấp kém, không thể so với Ngọc hoàng Đại đế, Quan âm Bồ tát, Quan thánh Đế quân… Nhưng Thổ địa gần gũi thân thiết với dân hơn hết, nên được thờ cúng rộng rãi khắp mọi nhà.
Bài vị Thổ thần phía trên thường là 4 chữ lớn “Phúc đức chánh thần”, hai bên là đôi liễn:
福而有德千家敬 Phúc nhi hữu đức thiên gia kính;
正則為神萬世尊 Chánh tắc vi thần vạn thế tôn.
(Đã phúc lại đức, ngàn nhà kính ngưỡng; Ngay thẳng nên thần, muôn đời tôn sùng).
Hoặc có khi hàm súc, đanh gọn như lời nguyền:
安仁自安宅 An nhân tự an trạch;
有土必有神 Hữu thổ tất hữu thần.
(Giữ lòng nhân thì nhà cửa tự yên ổn; Có đất ấy tất phải có thần ấy).
THỔ ĐỊA CỦA TỘC VIỆT
“Đất có Thổ công, sông có Hà bá”. Dễ nhận ra: cả Thổ công lẫn Hà bá của Việt tộc đều mang đậm ảnh hưởng của Tàu, và đặc biệt những chỗ biến cải lại thành ra tùy tiện, vô căn cớ.
Cổ tích Bắc Việt gom chung nguyên bộ Thổ địa, Thần tài với Táo quân thành mối tình tay ba, với người chồng trước làm “Thổ địa” trông coi nhà cửa, chồng sau làm “Thổ công” coi sóc bếp núc, và người vợ là “Thổ kỳ” quản việc chợ búa[8]. Nhưng trong thờ tự lúng túng lý giải không ra: tại sao lại có Thần tài đực rựa ngồi chung ban thờ với Thổ thần?
Ngộ nữa ở chỗ tạo hình: trong bàn thờ, Thổ địa là ông râu dài gầy gò nhưng quắc thước, còn Thần tài chính là ông ăn vận kiểu nông dân nhưng lại có bụng phệ. Tới chừng Tết múa lân thì ông Địa lại đổi dạng, ngó bộ y chang Thần tài. Vậy là sao?
Đó là những nghi vấn chẳng nhà văn hóa-phong tục nào, cả ta lẫn Tàu, có thể lý giải thỏa đáng, thôi cứ xí xái bỏ qua. Điều tệ hại nhất của Việt tộc không phải những tiểu tiết đó, mà ở tục cúng Mùng 2, 16.
Người Việt chỉ mới thờ cúng Thổ địa dạo gần đây. Đừng nói ngoài Bắc trước kia, dân chúng buộc phải tỏ ra vô thần cho hợp với “triết lý duy vật” của cộng sản; còn trong Nam, tuy có sống chung đụng với người Tàu, nhưng cũng chẳng người Việt nào thờ Thổ thần trong nhà, hoặc có chăng chỉ là hình thức “bàn Thông thiên” đặt ngoài sân. Việc cúng lạy vào Mùng 2, 16 Âm lịch lại càng không thể có.
Vậy mà khoảng hai, ba mươi năm trở lại đây, thì các nhà kinh doanh-dịch vụ, công ty đã đành mà công sở cũng vậy, từ khắp trong Nam ngoài Bắc đều có kiểu cúng cô hồn vào tối mùng 2, 16 hàng tháng. Việc này được giải thích là “phong tục cúng cô hồn”, là phát xuất tự cái tâm từ bi bác ái, thương tuốt âm binh cô hồn các đẳng. Nói thì hay nhưng thực tế thế nào? – Có nghe người Việt khấn vái mới hay: té ra người ta van nài âm binh đừng quấy rối!
Khác với người Tàu cúng thần minh bằng tâm thế hướng thiện tích cực, người Việt lạy cô hồn với tâm thế xua tà tiêu cực. Nên cúng xong, người Tàu ung dung dọn mâm cúng xuống, gia đình vui vẻ quây quần thưởng thức miếng ngon; còn người Việt cúng xong phải đổ bỏ lễ vật, chớ dám động tới.
Tục ngữ có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Cúng thần linh thì tinh thần cũng nhờ đó thêm sáng láng; còn cứ cúng ma quỷ vong hồn thì chỉ tổ ngày càng u tối, riết sẽ thành âm binh cả lũ.
_________
[1] Gồm Thổ thần, Tài thần và Táo quân.
[2] Theo Tả truyện, Xã nguyên nghĩa là đơn vị hành chánh cơ bản, gồm 25 nóc gia: Nhị thập ngũ gia vi nhất xã 二十五家為一社.
[3] Nguyên văn: Trọng xuân chi nguyệt, trạch nguyên nhật mệnh dân Xã 仲春之月,擇元日命民社 (Trọng xuân là tháng Hai âm lịch].
[4] Thổ địa thần hạt sơn trung hổ 土地神轄山中虎.
[5] Miếu loại này gọi “miếu hình chữ Lỗi”, do chữ Lỗi 磊 gồm ba chữ Thạch 石 chồng lên nhau. Lối thờ tự bình dân này rất giống tục thờ ông Tà của người Kh’mer Nam bộ. “Ông Tà” tức Neak Ta, vị thần cai quản phum sóc. Có khi người Kh’mer chỉ cần đặt hòn đá trơn láng bên vệ đường, dưới gốc cây, là thành nơi thờ cúng ông Tà.
[6] Tam sinh 三牲: thời xưa gồm bò, dê và heo; thời nay đổi làm heo, gà và cá.
[7] Giai thoại Lý Công Uẩn đánh Hộ pháp Già lam, đày ra ba ngàn dặm, hình như là biến thể của tích này.
[8] Sự tích Ông đầu rau.
- Vinhhuy Le -
https://m.facebook.com/story.php?sto...07370226010202
-
-
公平正直 CÔNG BẰNG CHÍNH TRỰC
-
Ngài Thổ Địa
TRƯƠNG PHÚC ĐỨC / TRƯƠNG PHƯỚC ĐỨC
( PHƯỚC-ĐỨC Chánh Thần )
先生土地 - 張福德 - 福德正神
I. Danh Hiệu:
. 南無福德公
. NA MÔ PHƯỚC-ĐỨC CÔNG
II. Chơn Ngôn:
. 唵。福德。悉地吽 / 嗡。福德。悉地吽
. Án。PHƯỚC-ĐỨC。Tất-Địa Hồng
. OM。FUDE。 SIDDHI HUM
. OM。PUNYA。 SIDDHI HUM
III. Kinh Tụng:
PHÚC-ĐỨC CHÁNH THẦN KIM KINH ( 福德正神金經 ) = PHƯỚC-ĐỨC CHÁNH THẦN GIÁNG TẠO KINH ( 福德正神降造經 )
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...地公真經-)
http://www.boder.idv.tw/fdjj.htm
http://bruce196720091.blogspot.com/2...st_28.html?m=1
IV. Bộ Xâm PHƯỚC-ĐỨC Chánh Thần:
Có 28 Quẻ Thẻ ( Là Bộ Xâm ÔNG BỔN TRỊNH ÂN - CẢM THIÊN ĐẠI ĐẾ bị đảo Xâm )
-
OM AH VAISRAVANAYA NAMAH HUM SVAHA
OM, AGARUTTARA AGRA-VISAYE NAMAH SVAHA.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...iàu-có/page3
====
KINH TÔ TẤT ĐỊA
https://bdkamerica.org › dow...PDF
download - dBET Alpha PDF Version © 2017
7 thg 8, 1991 — vikate kata vikata katamkate bhagavati vijaye svaha. ... Om amrtodbhava namah svaha. {Om ... anaya hum bhagavan vidyaraja hum phat namah
-
PHÚC ĐỨC CHÍNH THẦN
Phúc Đức Chính Thần 福德正神 (Thổ Địa Công 土地公), hoặc xưng Phúc Thần 福神, Bá Công 伯公, Hậu Thổ 后土. Phúc Đức Chính Thần họ Trương 張 tên Phúc Đức 福德, đản sinh vào ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch.
Tín ngưỡng Thổ ĐỊa Công bắt nguồn từ sự sùng bái từ thời cổ đối với đất đai. Theo truyền thuyết, Thổ Địa Công có tấm lòng nhân hậu, vui với việc giúp đỡ mọi người, vả lại lại có nhiều công năng, nhân đó được đại đa số sùng kính thờ phụng. Có câu: “Điền đầu điền vĩ Thổ Địa công”, ý nghĩa là đầu ruộng cuối ruộng đều thấy có Thổ Địa Công, do đó có thể thấy Thổ Địa Công dường như không ai là không biết.
Việc thờ phụng Thổ Địa Công tuỳ theo sự biến hoá của bối cảnh thời đại mà thay đổi. Thổ Địa Công hiện tại không chỉ là sự tế bái của nông phu trong nông nghiệp, mà cũng là một trong nhữngvị thần minh mà người của các ngành các nghề đều sùng bái, nhân vì Thổ Địa Công không chỉ cai quản đất đai, mà còn có thể chiêu tài. Cho nên người coi giữ tự miếu nói rằng, từng có một pho tượng nhỏ Thổ Địa Công bị tín đồ lấy trộm, đến nay vẫn không biết thất lạc nơi nào.
Nguồn gốc thần minh
Truyền thuyết thứ nhất
Năm Trương Phúc Đức 張福德 30 tuổi giữ chức Tổng thuế quan của triều Chu, ông mất năm Chu Mục Vương 周穆王 thứ 3, hưởng thọ 102 tuổi. Sinh tiền ông là một vị quan chính trực, cũng là một vị quan rất giỏi lí giải ý đồ của người khác. Lúc ông làm quan, chỉ cần nghe nói có người không nộp thuế nỗi, ông liền cho chậm vài ngày, hoặc lấy tiền của mình nộp thay. Nhưng sau khi Trương Phúc Đức qua đời, vị Tổng thuế quan mới rất xấu, luôn thúc ép dân nộp thuế, lại còn ngược đãi họ, mọi người chịu không nỗi ông ta, lại thêm họ luôn nhớ đến Trương Phúc Đức, cho nên mọi người bắt đầu sùng bái Trương Phúc Đức và Trương phu nhân, hi vọng họ bảo hộ mọi người. Mọi người tôn xưng Trương Phúc Đức là Phúc Đức chính thần 福德正神. Sau khi Trương Phúc Đức trở thành thần, chỉ cần thấy có người có cuộc sống không tốt liền tìm cách giúp, nhưng Thổ Địa Bà nhiều lần ngăn trở, cho nên Thổ Địa Công lại thay đổi quyết định. Mọi người cảm thấy Thổ Địa Bà rất tự tư tự lợi, cho nên không muốn thờ phụng. Đó cũng là nguyên nhân vì sao nhiều miếu thờ hiện nay không có Thổ Địa Bà.
Đến thăm miếu Khai Chương Thánh Vương 開漳聖王chúng ta sẽ phát hiện không có Thổ Địa Bà, còn hiện vị trí ngồi của Thổ Địa Công là ở bên trái chủ Thần (Khai Chương Thánh Vương), người trong ban quản trị giải thích là đương thời dùng phương thức xin keo hướng đến Khai Chương Thánh Vương thỉnh thị vị trí của Phúc Đức Chính Thần.
Trương Phúc Đức hưởng thọ 102 tuế, 3 ngày sau khi qua đời, dung mạo ông vẫn không thay đổi, có một hộ nghèo dùng 4 tảng đá lớn vây lại thành gian nhà đá để phụng thờ. Chẳng bao lâu từ nghèo trở nên giàu, bách tính tin rằng được sự bảo hộ của thần minh, liền chung nhau xây dựng miếu, tạo một tôn tượng kim thân để thờ. Chu Mục Vương ban cho ông là “Hậu Thổ” 后土, đồng thời ban cho cặp đối:
Phúc nhi hữu đức thiên thu kính
Chính tắc vi Thần vạn thế tôn
福而有德千秋敬
正則為神萬世尊
(Phúc và có đức được thiên thu kính ngưỡng
Chính ắt làm thần được vạn thế tôn thờ)
Về sau Dao Trì Kim mẫu 瑤池金母 truyền lệnh bát tiên tiếp dẫn, phong làm “Nam Thiên Môn Đô Thổ Địa Thần” 南天門都土地神
Truyền thuyết thứ hai
Phúc Đức Chính Thần là gia bộc của một sĩ đại phu triều Chu. Do bởi chức quan của vị sĩ đại phu này là nơi vùng ven, ái nữ của vị sĩ đại phu lo cho phụ thân nên đã gọi gia bộc theo nàng lên đường, nhưng lộ trình rất xa, nửa đường lại gặp phải gió tuyết, tiểu thư rất lạnh, gia bộc bèn cởi y phục của mình để quấn giữ ấm cho tiểu thư, nhưng vị gia bộc lại chết vì quá lạnh. Sau khi gia bộc qua đời, trên trời bỗng xuất hiện ra 8 chữ “Nam Thiên Môn đại tiên Phúc Đức thần” 南天門大仙福德神, trời ban cho ông làm Phúc Thần. Vị sĩ đại phu cảm tạ đại ân đại đức của ông bèn lập miếu phụng thờ.
Chú của người dịch
1- Khai Chương Thánh Vương 开漳圣王 / 開漳聖王: Là tín ngưỡng dân gian Hán tộc vùng Phúc Kiến, Đài Loan và Đông Nam Á. Đây là phong hiệu của vị Thứ sử trấn nhậm Chương Châu 漳州 đầu tiên Trần Nguyên Quang 陈元光. Tín ngưỡng Khai Chương Thánh Vương开漳圣王có địa vị trọng yếu ở Đài Loan và Đông Nam Á
https://www.chuonghung.com/2021/02/d...-than.html?m=1
-
Phúc Đức Chánh Thần
Trong số các vị thần được người Hoa ở TP.HCM thờ cúng, có thể nói Phúc Đức Chánh Thần là một trong những vị thần có số lượng tín đồ đông đảo nhất. Vì thần chuyên cai quản đất đai, bảo hộ sự an cư lạc nghiệp cho cộng đồng người Hoa nơi vùng đất mới. Do đó, người Hoa đều thường xuyên cúng tế lễ bái Phúc Đức Chánh Thần, khẩn cầu ân tứ của thần. Ví như trong nhà có người ốm, con cái thi cử, con trai tòng quân, con gái xuất giá, mất tiền, tai nạn... người ta đều đến khấn cầu Phúc Đức Chánh Thần, cầu mong thần bảo hộ bình an, đại cát. Với những người hàng ngày xây dựng các công trình nhà cửa, quảng trường, cầu cống, đường sá... họ rất sùng kính Phúc Đức Chánh Thần, cúng tế đầy đủ những lúc động thổ xây dựng, hy vọng công trình được thuận lợi, người và vật đều bình an.
Ở TP.HCM, miếu thờ Phúc Đức Chánh Thần cổ kính nhất là Nhị Phủ miếu (quận 5) của người Hoa Phúc Kiến, tục gọi là miếu Ông Bổn. Trong miếu có thờ bài vị Nhị Phủ miếu Đại Bá Công. Theo lời kể của một thành viên Ban quản trị miếu, trước đây có một nhà khảo cứu người Hoa là ông Thi Đạt Chí, đã viết bài khẳng định Đại Bá Công hay Phúc Đức Chánh Thần được thờ ở Nhị Phủ Miếu là Châu Đạt Quan, một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Quốc (10).
Tượng thờ Phúc Đức Chánh Thần, đặt ở gian giữa chính điện, được làm bằng gỗ, cao 150cm, ngồi trên ngai, một tay gác trên tay ngai, một tay vuốt chòm râu dài. Hai gian bên thờ Quảng Trạch tôn vương và Thái Tuế gia gia.
Trước hương án thờ thần có tấm hoành phi khắc bốn chữ Ngô Thổ Địa dã (Ta là Thổ Địa) cùng câu đối:
Thổ sinh nhất kim, ngũ hành chúng trân quý
Địa trưởng vạn vật, tứ quý ca kình vinh
Như vậy, Phúc Đức Chính thần ở Nhị Phủ miếu mang đủ các yếu tố: thần thổ địa, thần tài và nhân thần (11).
Theo truyền thống của người Trung Quốc nói chung, ngày 2- 2 âm lịch là ngày đản sanh của Thổ Địa công. Trong ngày này, mọi gia đình đều làm gà, mổ vịt để làm lễ tế bái Thổ Địa công và Thổ Địa bà. Tại các miếu Thổ Địa công đều diễn ra các hoạt động biểu diễn nhằm chúc thần nghìn tuổi. Không chỉ vào ngày 2 - 2 âm lịch phải cúng tế Thổ Địa công, mà ngày 15-8 âm lịch cũng phải tổ chức thêm một lễ cúng tế nữa để cầu phúc; lễ tế này được gọi là Thu tế, nhằm cảm tạ Thổ Địa công đã bảo hộ. Còn về đồ tế lễ bao gồm gà, vịt, cá, thịt, hoa quả, kẹo bánh, đồ uống, tiền vàng, hương nến… Tất thảy đều có thể được, tùy vào tâm thành của tín chủ.
Ngoài hai ngày chính lễ nói trên, ngày mùng 2 và 16 âm lịch hàng tháng, các thương gia cũng đều tổ chức làm nha để tế bái Thổ Địa công, bởi vì Thổ Địa công cũng là thần bảo hộ thương nghiệp. Đặcc biệt, vào ngày 2-2 âm lịch là ngày tổ chức nha đầu (lễ tạ đầu năm), ngày 16-8 âm lịch thì tổ chức nha cuối (lễ tạ cuối năm). Thông thường, hai lễ nha này được tổ chức rất long trọng, hoành tráng.
Người Hoa Phúc Kiến ở Nhị Phủ miếu tổ chức lễ vía Phúc Đức Chánh Thần vào ngày 15-1 và 15-8 âm lịch. Sở dĩ hai ngày này, bởi theo quan niệm của cộng đồng người Hoa ở đây, ngày 15-1 là ngày sanh và ngày 15-8 là ngày mất của Phúc Đức Chánh Thần. Trong đó, ngày 15-1 âm lịch là ngày diễn ra lễ hội lớn nhất.
Trong suốt ngày 15-1 âm lịch kể trên, không chỉ người Hoa mà cộng đồng các dân tộc khác cũng đến dâng hương, lễ vật cầu mong được thần bảo hộ, độ trì, mua may bán đắt, cầu sức khỏe, cầu tài lộc… Lễ vật của người dân thì tùy theo điều kiện và tùy tâm cúng dường, nhưng thông thường sẽ gồm có trái cây hoặc bánh bao, hai cây nến, hương, dầu và bộ tiền - áo giấy. Ngoài ra, mọi người khi đến đây, đều có thể thỉnh và trả cho Hội quán một số tiền tương ứng chiếc đèn hoa đăng (mỗi năm chỉ được thỉnh một lần vào ngày 15-1 âm lịch), gọi là Bổn Đầu Công tài thần thánh đăng. Trên đèn, sẽ được dán một mảnh giấy màu đỏ, ghi tên tuổi của người thỉnh. Người thỉnh đèn có thể mang về nhà hoặc gửi treo tại miếu.
Ngoài ra, ở các hộ gia đình khác cũng giữ tập tục cúng tế Thổ Địa công vào ngày mùng một và rằm hàng tháng. Nhưng nói chung là lúc nào cũng có thể cúng tế, đặc biệt là những gia đình ở gần miếu Thổ Địa công, hàng ngày sáng tối đều có người đến đốt hương dâng lễ.
Riêng vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, đèn hương ở miếu lúc nào cũng cháy đỏ, các gia đình đều chuẩn bị lễ vật thành tâm dâng lên Thổ Địa công, các đội múa rồng đến tổ chức biểu diễn, thu hút hàng ngàn người xem. Nhân dịp này, hội quán cũng tổ chức các hoạt động công ích và từ thiện, như vận động tiền xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương, xóa đói, giảm nghèo, giúp người tàn tật, trẻ em nghèo… mang nhiều ý nghĩa.
Thực tế cho thấy rằng, không có người nào chỉ nhờ vào việc thờ phụng thần tài mà được thần ban cho của cải. Tất cả đều do sức lao động chính đáng và trí tuệ của con người để làm nên. Nhưng xét về mặt văn hóa tinh thần, tín ngưỡng thờ thần tài có tác dụng to lớn trong việc giúp con người thoát khỏi những áp lực về tâm lý, những lo toan trong đời thực, đem lại cho họ hy vọng vươn lên một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai.
http://thethaovietnam.vn/thoi-su-xa-...09-282233.html
-
Tài Bạch Tinh Quân
Tài Bạch Tinh Quân, hay Thái Bạch Kim Tinh hoặc Tăng Phúc Tài Thần, tên gọi đầy đủ là Đô Thiên Chí Phú Tài Bạch Tinh Quân, được dân gian xem là văn thần tài, có chức năng quản lý của cải vàng bạc trong thiên hạ, rất linh thiêng trong việc cầu tài và luôn sẵn sàng giúp đỡ những người lương thiện. Hình ảnh phổ biến về vị thần này là mặc áo choàng đỏ, đầu đội mũ ô sa, lưng thắt đai ngọc, khuôn mặt hiền từ, phúc hậu, râu đen dài, một tay cầm bức lụa Cung hỷ phát tài hoặc Chiêu tài tiến bảo, một tay cầm thỏi vàng.
Tài Bạch Tinh Quân là kết hợp của hai từ Tài Bạch và Tinh Quân, hay còn gọi là Khởi Minh, Trường Canh. Hai tên gọi này xuất hiện vào thời cổ, nguyên do là sao Kim thường mọc ở phía đông vào buổi sáng nên gọi là Khởi Minh và xuất hiện ở phía tây vào buổi chiều nên gọi là Trường Canh (3).
Theo học giả Từ Tấn (Trung Quốc), trên thực tế, trong các loại sách sử và sách về Đạo giáo, không có khảo lược về từ Tài Bạch Tinh Quân cũng như sự chuyển hóa của Thái Bạch Kim Tinh. Các tài liệu ghi chép cũng chỉ là nghe nói hay căn cứ theo sách. Vì vậy, Tài Bạch Tinh Quân chỉ là thần tài trong dân gian (4). Nhưng cũng có quan niệm cho rằng, Tài Bạch Tinh Quân vốn thực họ Lý, tên là Ngụy Tổ, người Ngũ Tòng Sơn, Tri Xuyên. Tại Ngũ Tòng Sơn, thị trấn Hồng Sơn, thuộc khu vực Tri Xuyên, thành phố Tri Bác, tỉnh Sơn Đông, có ngôi mộ của Lý Tướng công và miếu thờ Tăng Phúc Tài Thần (5). Nhưng vấn đề ở đây, Thần Quân Tăng Phúc Tướng Công vốn không phải là thần tài; từ khi nào ông mới trở thành một vị thần tài thì cho đến nay, vẫn chưa thể khảo chứng được. Chỉ biết rằng, dưới thời nhà Thanh, dân gian đối với chữ phúc lại nghiêng về nghĩa có nhiều tài phú. Cho nên rất có thể rằng tăng phúc với tài phú đi liền cùng nhau và ông đã nghiễm nhiên trở thành một vị thần tài (6).
Ở Tuệ Thành hội quán, ngày vía Tài Bạch Tinh Quân là ngày 22 - 7 âm lịch. Vào ngày này, hội quán chuẩn bị một mâm lễ vật bao gồm một con gà luộc, ba cái bánh bao, một bó xà lách, một cây hành tươi, một cây ngò, một chùm nhãn, một bao lì xì, hai cây nến, ba đôi đũa và ba chén rượu. Lễ vía diễn ra vào buổi sáng, do Ban quản trị hội quán chủ trì trong khoảng 10 phút, với trình tự đầu tiên là làm lễ cẩn cáo bà Thiên Hậu, vị thần được thờ chính ở hội quán, sau đó sẽ chuyển qua gian thờ Tài Bạch Tinh Quân với các nghi thức đơn giản như cử hành chiêng trống, dâng hương, dâng rượu và lễ vật, đọc văn tế, vái lạy... Ngoài ra, trong dịp này người dân đến hội quán viếng thần cũng rất đông (7).
http://thethaovietnam.vn/thoi-su-xa-...09-282233.html
-
Fude Zhengshen - Fude Zhengshen
Từ Wikipedia, Bách Khoa Toàn Thư MiễN Phí
Fude Zhengshen (Hanzi= 福德正神; bính âm=Fúdé zhèngshén; Hokkien:Hok Tek Ceng Sin,[1] thắp sáng Thần công chính của đức hạnh và phước lành) là một Chúa Trời thịnh vượng ở Thần thoại Trung Quốc. Anh ấy thường được coi là giống như Tu Di Gong hoặc cái tên được coi là danh hiệu chính thức sau này, nhưng thực ra cả hai đều là những bản thể khác nhau. Là một trong những vị thần lâu đời nhất theo thời đại, ông thường được coi là Houtu.[2]
Huyền thoại
Một trong những truyền thuyết kể rằng có một người đàn ông sống dưới triều đại của Vua Ngô của Chu; tên của anh ấy là Zhang Fu De. Ông sinh năm 1143 trước Công nguyên vào năm thứ hai của triều đại vua Ngô, vào ngày thứ hai của tháng thứ hai Lịch Trung Quốc. Anh ấy là một người trong sáng nhưng có trái tim nhân hậu khi còn nhỏ.[3] Khi lên 7 tuổi, anh đã học các tác phẩm Cổ điển của Trung Quốc và đồng cảm với người nghèo.[4] Zhang Fu De trở thành nhân viên quan thuế của chính phủ khi mới 36 tuổi và ông là một viên chức khôn ngoan, giỏi giang và được mọi người yêu mến. Ông mất năm 102 tuổi vào năm 1042 trước Công nguyên dưới triều đại của Vua Cheng of Zhou. Nhưng sau ba ngày, thi thể người quá cố của ông vẫn chưa thối rữa khiến mọi người kinh ngạc.[4]
Vị trí của anh ta là do Wei Chao đảm nhận, người đàn áp những người bị áp bức bởi tính cách tham lam và độc ác của anh ta. Nhiều người đã rời bỏ quê hương và trang trại của họ, và họ mong muốn có được một sĩ quan mới khôn ngoan giống như Zhang Fu De. Họ tôn thờ ông và gọi ông là Fude Zhengshen.[3] Một gia đình nghèo đã muốn xây một bàn thờ cho anh ta, nhưng họ chỉ có thể mua được bốn mảnh gạch để xây dựng. Họ sử dụng ba viên gạch làm tường và một viên làm mái nhà, viết tên của Fude Zhengshen bên trong nó và sử dụng một viên gạch vỡ lừa gạt như giá ba chân để đặt hương. Không ngờ, nhà nghèo lại trở nên giàu có khiến nhiều người quay sang tin tưởng vào Trương Phù Đề; đã xây dựng một ngôi đền cho ông. Một bài thơ nói rằng lòng tốt của Trương Phù Đề đã cảm động Mazu đến lượt ai đã gửi Ba Xian để đón anh ta lên thiên đường.[4]
Giáo phái
Cả Fude Zhengshen và Tudigong được mô tả là những ông già tóc trắng đang ngồi với bộ râu dài màu trắng. Sự khác biệt chính giữa hai vị thần là Fude Zhengshen là một vị thần giàu có không có liên hệ với trái đất trong khi Tudigong là một nhóm các vị thần đất cấp thấp với thời gian phục vụ hạn chế. Trong khi bàn thờ của Fude Zhengshen được đặt trên cao so với sàn nhà; Bàn thờ của Tudigong được xây dựng ngay trên mặt đất và thường đi kèm với vợ của Tudipo và Hushen hoặc thần hổ giúp anh ta xua đuổi ma quỷ.[3]
https://vi.vvikipedla.com/wiki/Fude_Zhengshen
-
hoa cái
(華蓋) Phạm: Puspa-cchatra. Cây lọng trang sức bằng hoa. Trong thần thoại cổ đại của Trung quốc truyền rằng khi Hoàng đế đánh nhau với Si vưu (. ), thì trên hư không thường có đám mây ngũ sắc giống như cây lọng hoa xuất hiện, che trên đầu Hoàng đế, gọi là Hoa cái. Bởi thế, đời sau, lọng của các đế vương dùng cũng được gọi là Hoa cái. Ở Ấn độ và vùng Tây vực, khí hậu nóng bức, người ta phần nhiều cầm ô (dù) che nắng, có người trang sức cây dù bằng hoa, gọi là Hoa cái. Trong các kiến trúc Phật giáo, như trên nóc cột kinh, tháp đá được chạm trổ rất tinh vi, trông giống như cây lọng, cũng gọi là Hoa cái, hoặc Bảo cái. [X. Phẩm Phân biệt hộ ma trong kinh Cù hê Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Pháp hoa huyền tán Q.2].
http://phatam.org/dictionary/detail/...8778/hoa-cai/9
-
https://vaidikapurnasthaanam.files.w...m › ...PDF
vaidika-mantrah-update-17dec20.pdf - WordPress.com
Om bhumi devyai namah •. ॐ भूमि देव्यै नमः। Oṁ vāgarthāviva ... tvameva sarvaṁ mama deva deva Om. ॐ त्वमेव माता च पित ..
-
Thổ Địa Công có tấm lòng nhân hậu, vui với việc giúp đỡ mọi người, vả lại lại có nhiều công năng, nhân đó được đại đa số sùng kính thờ phụng.
仁厚 nhân hậu
https://www.chuonghung.com/2021/02/d...-than.html?m=1
-
ÔNG BỔN ( 翁本 / 本翁 ) / ÔNG CÔNG ( 翁公 ) = BỔN ĐẦU CÔNG ( 本頭公 ) =) THỔ ĐỊA ( 土地 ) / THỔ ĐỊA CÔNG ( 土地公 )
=====
https://www.kyungnam.ac.kr › ...PDF
Kết quả tìm kiếm trên web
베트남 호찌민시의 중국 화인회관(華人會館)에 관한 연구
Mẫu), 관공(關公, Quan Công), 포공(包公, Bao Công), 본옹(本翁, Ông Bổn)등의 ... 특히 그 중에서 본옹(本翁) 은 본두(本頭, Bổn Đầu)라고도 불리는 민간신(民間神)으.
====
THỔ CÔNG VỊ ( 土公位 ) = ÔNG CÔNG ( 翁公 )
THỔ ĐỊA ( 土地 ) hay còn gọi là THỔ CÔNG ( 土公 ) / ÔNG CÔNG ( 翁公 ) , có nhiệm vụ canh giữ đất đai, trông coi vườn tược. Các quốc gia thuộc nền văn minh lúa nước rất tôn trọng Thổ Địa để cầu mong mùa màng bội thu, người và vật phát triển thịnh vượng, ấm no.
https://m.kienthuc.net.vn/phong-thuy...88372.html#p-5
https://onthiielts.com.vn/luyen-thi-...hu-de-tet.html
-
Hỏi: vài ngày trước khôi đang nằm suy nghĩ đến ông thổ địa, đột nhiên nhớ đến cảnh tôn ngộ không gọi thổ địa trong phim. Rồi trong đầu tưởng tượng mình đau đứng trong 1 khu vườn đọc chú an thổ địa rồi ngồi xuống tay trái vỗ xuống đất 3 lần, thì phía sau ót nổi da gà nhưng cảm giác dễ chịu hơn lúc niệm Phật. Có phải thổ địa bị đệ gọi lên? Xin huynh phoquang chỉ dạy. Có người nói bị rợn tóc gáy là do có vong ở sau lưng nhìn mình, điều này có đúng?
-
Teo Chew Temple/Chùa Ông Bổn. SVĐGiang
Chùa Ông Bổn
Teo Chew Temple
Houston, Texas
Sóng Việt Đàm Giang biên soạn.
Teo Chew Temple hiểu theo tiếng Việt là Đền Triều Châu là một ngôi đền rất đẹp, rất trang khang, khá mới tọa lạc tại một khu nhà ở sầm uất trên đường Turtlewood, kề cận nhà hàng Kim Sơn Bellaire. Đền Triều Châu này có mang tên Việt Chùa Ông Bổn. Bài viết này ghi lại một số chi tiết lịch sử và giới thiệu ngôi Đền/Chùa đặc biệt này.
Từ đường Turtlewood rẽ vào đền/chùa là một bãi đậu xe rộng. Nhìn thẳng vào Đền chính là một hồ phun nước tròn nhỏ với 12 sinh vật tượng trưng cho một con giáp (12 năm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Chính giữa bồn phun nước là tượng Phật Bà Quan Âm.
Ngay bên phải của lối vào có một bức tường khắc nổi và trên mặt đất là vòng Bát Quái Âm Dương . Và bên cạnh là một gazebo trang nhã.
Trưóc bậc thềm lên đền là một bức họa vẽ một Linh vật đầu và vẩy rồng, có bốn chân như chân ngựa và rất nhiều biểu tượng khác nhau như hoa mẫu đơn, bút nghiên, vò rượu, chắc chắn là bức họa có nhiều ý nghĩa nhưng người viết chưa được biết đến.
Một đôi sư tử canh gác đặt ngay trước cửa vào điện. Sư tử đực bên phải, và cái bên trái.
Như tên đền cho biết thì đây là đền do người Triều Châu Phúc Kiến xây cất, và tên Việt cho biết đền có thờ Ông Bổn nên có tên Chùa Ông Bổn.
Nguồn gốc người Triều Châu là một câu chuyện lịch sử lâu đời, khởi thủy là người nước Triệu (thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay) bị Tần Thủy Hoàng đàn áp giết hại. Người Triều Châu buộc phải tha hương sinh sống khắp nơi. Một số lui về phương Nam tỉnh Quảng Đông, một số lên Tây Bắc thuộc tỉnh Phúc Kiến. Ngày nay, có khoảng 2,5 triệu người Triều Châu sống tại Đại lục, trong khi đó có trên 10 triệu người Hoa gốc Triều Châu định cư ở nhiều nước Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Úc và Châu Âu. Vậy người Triều Châu có liên quan gì đến Ông Bổn và Ông Bổn là ai mà được tín ngưỡng dân gian trân trọng tôn lên thành thần thánh.
Ngay trên cửa chính vào đền có ghi bốn chữ (đọc từ phải sang trái) Bổn Đầu Công Miếu (Miếu Bổn Đầu Công)
Vậy Bổn Đầu Công hay viết tắt là Ông Bổn là ai?
Bổn Đầu Công, là vị thần bảo vệ đất đai và con người.
Về lai lịch Bổn Đầu Công, học giả Vương Hồng Sển trong tập Saigon Năm Xưa đã cho biết:
Nguyên đời Vĩnh Lạc (1403-1424), vua có sai ông thái giám Trịnh Hòa ( Cheng Ho), cưỡi thuyền buồm dạo khắp các nước miền Đông Nam Á ban bố văn hóa Trung Hoa, và luôn dịp mua về cho hoàng đế Minh Triều những kỳ trân dị bửu Ấn Độ,Xiêm La, Miến Điện, Cao Miên, Việt Nam, Chiêm Thành, Tân Gia Ba, Chà Và ,Nam Dương Quần Đảo...
Trịnh Hòa tỏ ra vừa nhà thám hiểm, du lịch, khảo cứu địa dư, ngoại giao, ngôn ngữ học, mỗi mỗi đều tài tình. Đi đến đâu, ông thi nhân bố đức, và đưa người Tàu đến lập nghiệp đến đó, hoặc chỗ nào có người Trung Hoa ở sẵn thì ông chỉnh đốn sắp đặt cho có thêm trật tự. Sau nầy ông mất, dân ngoại kiều cảm đức sâu, thờ làm phúc thần, vua sắc phong "Tam Bửu Công", cũng gọi "Bổn Đầu Công" (đọc theo tiếng Quảng là Pủn Thầu Cúng) gọi tắt là "Ông Bổn".
Tuy mang tên Việt là Chùa Ông Bổn và Đền Triều Châu, nhưng những nhân vật thờ chính là Đức Phật cùng nhiều vị Thần Thánh khác nhau. Tổng cộng theo tài liệu của đền thì đền thờ 14 vị Thần Thánh. Những vị Thần đuợc thờ là những biểu tượng cho giầu có, sang trọng, đạo đức …
Ngay cửa vào chánh điện đền là bàn thờ Ngọc Hoàng thượng đế. Bên trái vào tận cùng chánh điện là Thiên Hậu Thánh Mẫu, bên phải là Phật Bà Quan Âm. Ngoài bàn thờ Ông Bổn, dãy nhà bên phải là nơi đặt điện thờ Quan Công, bà Chúa Sanh (Chúa Sanh nương nương) và bà phu nhân Hoa Phấn (Hoa Phấn phu nhân). Một số vị Thần khác mang tên Quảng Trạch Tôn Vương, Quảng Đại Tôn Vương, Thái Tuế, Tề Thiên Đại Thánh, Tế Công Hòa Thượng…
a>
Do nguyên thủy chỉ là một đền miếu nên Chùa Ông Bổn không có Hòa thượng trụ trì hay tăng ni mà chỉ có một nhóm người do hội người Triều Châu chỉ định đảm trách viện hương khói cho chùa. Ngoài thờ Ông Bổn, Ngọc Hoàng Thượng đế, chùa thờ cúng nhiều vị Thần khác như đã viết ở trên (thờ đa Thần) là do người xưa quan niệm “Vạn Vật Hữu Linh”, tức mọi sự việc đều bị chi phối bởi một thần thánh nào đó
Trong những tín ngưỡng dân gian, thổ Địa cũng là một trong các Thần Tài, nên tập tục thờ Thần Tài rất phổ biến trong các cơ sở thương mại nói chung.
Vì màu đỏ tượng trưng cho vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe, may mắn, thịnh vượng nên màu đỏ đuợc dùng rất nhiều tại số lớn đền chùa người Việt và Trung Hoa. Và vàng tượng trưng cho sung túc giàu có nên các tượng Thần có thể là vàng ròng hay giát vàng (mạ vàng).
Gian nhà bên trái của đền chính là toà nhà thờ những người đã qua đời, nơi được trưng bài vị, hình ảnh,trong gian đầu tiên, hai gian tiếp là hũ tro của người quá cố.
November 08, 2017
Sóng Việt Đàm Giang
http://jsongviet.blogspot.com/2017/1...-svdg.html?m=1
-
Chào bạn !
Bạn đọc Chú AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN, và vỗ tay phải xuống đất 3 lần ( bằng ẤN AN THỔ ĐỊA ) là bạn đang AN ỦY THỔ ĐỊA vậy ! ( Dòng Pháp tôi, đều làm như vậy cả, theo Nghi Quỹ mỗi khi mà an bố Đàn Pháp ).
Việc TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA không có đơn giản như việc bạn nghĩ đâu. Người TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA phải ở cấp bậc nào, và phải là người có chức sắc trong giới tu đạo, và phải có SẮC ẤN SẮC LỆNH, cũng như tuổi đời, tuổi đạo, và phải ăn chay trong vòng mấy ngày trước khi triệu thỉnh.....nhất phải là: PHONG THỦY SƯ, ĐẠI SƯ, PHÁP SƯ...Có việc cần thiết thật thiết thực, thì mới được TRIỆU THỈNH; khi triệu thỉnh phải trình bày lí do.... Khi không mà tự ý TRIỆU THỈNH, như thế thì trật tự pháp giới sẽ bị đảo lộn, lúc ấy sẽ vi phạm Luật Thiên Điều ( Luật của Thiên Giới quyền uy ); thể nào cũng lãnh nghiệp, nhẹ thì thân thể xây xác, tổn phước tổn thọ; còn nặng thì mang họa xác thân...
Theo ĐẠO GIÁO, việc TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA, bằng việc đọc Chú KIẾT ẤN TRIỆU THỈNH và dậm CHÂN TRÁI ( Theo Mao Sơn Thuật Phái, và HUYỀN HẠC ĐẠO TRƯỞNG LIAN SHENG ( LIÊN SANH ) đã thực hiện vậy. Còn, Thầy Tuấn - Huyền Chân Tử tác giả Quyển KINH ÔNG TÁO thì đọc Chú Kiết Ấn, và co ĐẦU Ngón Chân Cái của bàn chân mà cào cào nhẹ xuống đất hoặc gõ xuống đất 3 lần, mỗi khi triệu thỉnh Thổ Địa vậy ).
Theo PHONG THỦY, thì các PHONG THỦY SƯ bấm QUYẾT THEO CUNG NGÀY GIỜ mà triệu thỉnh THỔ ĐỊA vậy.
Theo PHẬT GIÁO, thì dùng PHÁP ẤN PHẬT GIÁO Xác Tín mà TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA vậy ! ( Như: " ĐỐI THOẠI CÙNG PHÚC ĐỨC CHÍNH THẦN - THỔ CÔNG TINH QUÂN " của TUỆ MINH )
Còn, Phật tử chúng ta muốn TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA; thì cứ việc hành trì , và trì tụng cho đủ số, để tích lũy đến một lúc nào đó thì đủ túc số AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN, thì lúc đó Ngài THỔ ĐỊA sẽ tự hiển hiện thân ảnh cho chúng ta thấy và đàm luận mà thôi. Chớ nên vọng cầu, chớ nên vọng động, cứ từ từ....Như thế, sẽ không bị mạo phạm.
Liên quan đến việc TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA, Thầy Tuấn - Huyền Chân Tử tác giả Quyển KINH ÔNG TÁO thường hay kể và nhắc đến với tôi là: Có 1 vị đệ tử thấy thầy tác pháp đọc Chú vỗ đất TRIỆU THỈNH THỔ ĐỊA, thế là y về nhà làm y như vậy ( Chứ thầy ko có truyền ), thì Ngài Thổ Địa hiện ra và nói tại sao ngươi vỗ đầu ta ? Ta vặn cổ nhà ngươi ah ! ( Đúng là Thần mà bản tính vẫn còn khi bị mạo phạm ). Thì y trả lời thấy thầy làm sao thì làm vậy, Ngài Thổ Địa mới nói thì Ổng làm thầy mà, nể mặt thầy ngươi ta cảnh cáo và bỏ qua.
Còn, trong việc gọi THỔ ĐỊA đến nhận đồ cúng, thì:
. Theo, Đạo sư Lian Sheng ( Liên Sanh ) truyền: đứng trước bàn thờ THỔ ĐỊA - TÁO TÒA, đọc Chú AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN 3-7 lần, rồi dùng CHÂN TRÁI dậm xuống đất 1 lần.
. Theo các vị Thầy Pháp VN truyền lại cho con cháu mình: mỗi khi cúng Thổ Địa, thì quỳ trước bàn thờ Thổ Địa, sau khi khấn nguyện xong, tay trái cầm nhang, còn tay phải vỗ xuống đất 5 lần kêu tiếng " bạch bạch " để gọi Thổ Địa đến nhận đồ cúng vậy.
Theo Phật giáo Đại Thừa không cúng Tiền Vàng, nhưng theo tín ngưỡng dân gian, theo Đạo Giáo - Lão Giáo và Mật Tông, đối với các cõi giới khác nhau; thì mỗi khi Cúng Ngài Thổ Địa, thì tôi thường cúng 1 ít Tiền Vàng để tỏ lòng tôn kính với Ngài ( Tiền Vàng dành để cúng Thổ Địa chỉ 1 loại là đủ rồi. Đó chính là PHÚC KIM / THỔ ĐỊA CÔNG KIM ( 福金 /土地公金 ) dùng 5 tờ Vàng 5 tờ Bạc gấp thành Vàng Thoi mỗi khi cúng Thổ Địa là Ok, ứng nghiệm. Ko cần gì nhiều đâu, mọi việc ok mà lại có tài nữa ! )
Bạn đừng nên tưởng tượng nữa....Việc bạn nói : "... trong 1 khu vườn đọc chú an thổ địa rồi ngồi xuống tay trái vỗ xuống đất 3 lần, thì phía sau ót nổi da gà nhưng cảm giác dễ chịu...": việc này cho thấy chứng tỏ có LINH LỰC của THỔ ĐỊA, cũng chính là các Bộ hạ Quỷ Thần quyến thuộc của Ngài THỔ ĐỊA chứng biết cho việc làm của bạn vậy thôi ( Nên nhớ Ngài Thổ Địa có các Hộ Pháp Quỷ Thần của mình nữa nhák ! THỔ ĐỊA - ĐẠI BÁ CÔNG HỘ PHÁP THẦN / 土地 - 大伯公护法神 ). Giống như đồng cùng là ÁNH SÁNG, nhưng ÁNH SÁNG PHẬT thì ấm áp, an bình, nhu nhuyến, tràn đày sự từ bi bao la vô tận....đặc biệt Không có bóng, và không bị nhòe, chân thât. Còn ÁNH SÁNG CỦA MA thì chói mắt làm cho ta cáo gắt cao có bực bội, tham sân si....nổi lên, bức ta đến độ choáng ngộp như nước lũ tràn bờ.....ÁNH SÁNG MA CÓ BÓNG, VÀ BỊ NHÒE ( LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI CỦA PHI TÍCH THIỀN SƯ ). Hãy tu trì lâu dài, mà tự kiểm nghiệm lấy nhak ! )
Bạn nói " Có người nói bị rợn tóc gáy là do có vong ở sau lưng nhìn mình, điều này có đúng? " Ok ! Chính xác. Do sự thay đổi đột ngột trong môi trường tự nhiên vật lý, khi mà chúng ta có điện dương, còn ma có điện âm khi bất ngờ họ xuất hiện đến gần bên ta, hoặc khi ta đến một nơi nào đó âm u hoang vắng, sẽ phát sinh những điều tất yếu như bạn nói, cảm giác phát lãnh rờn rợn chạy dọc xương sống gai óc nổi khắp người lông tóc dựng đứng....vì vậy để khỏi bị tà khí ma chướng ám nhập; vì vậy, người tu trì hằng ngày thường đọc Chú HỘ THÂN CHƠN NGÔN để bảo hộ thân mình ( Năng lực CHÚ HỘ THÂN chỉ duy trì được trong vòng 24 giờ, sau 24 giờ phải Hộ Thân lại....Khi bạn đọc, Hộ Thân Chú thì cơ thể mình sẽ mặc giáp, và cơ thể luôn được giữ ấm bởi năng lực của chú pháp, và ko có 1 ngoại lực nào làm bạn phát lãnh cả ! )
Vài điều chia sẻ đến bạn và các bạn
Kính chúc các bạn vạn sự cát tường như ý
NA MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Phổ Quảng
Thân
P/S: Vào thời này, bệnh dịch đang nhiễu nhương hoành hành, thì AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN cũng là 1 Thần Chú khi trì tụng, thì có thể bảo hộ bản thân bạn và gia đình bạn vậy ! Điều này, đã từng ứng nghiệm tại ĐÀI LOAN ( TAIWAN ) thuở trước đây vậy !
-
Đại Bá Công
Ngôn ngữTải về PDFTheo dõiSửa đổi
Đại Bá Công (Tua Pek Kong) (tiếng Trung: 大伯公; bính âm: Dàbó Gōng, Hakka: Thai phak koong, Hokkien: Tuā-peh-kong, tiếng Mã Lai: Topekong, tiếng Indonesia: Toa Pekong), nghĩa là "Bác Cả" (theo cách gọi miền Bắc Việt Nam), "Bác Hai" (theo thông lệ miền Nam Việt Nam) là nhân vật được thờ trong một ngôi đền thuộc tín ngưỡng dân gian của người Hoa Mã Lai và người Hoa Singapore. Người ta cho rằng ông là người đến Penang trước 40 năm so với Francis Light vào năm 1746.
Đại Bá Công là người Khách Gia, tên thật là Trương Lý (giản thể: 张理; phồn thể: 張理). Khi đang trong vùng Sumatra, tàu của ông gặp sóng dữ và phải cập bến tại đảo Penang thuộc Malaysia, tại thời điểm đó, đảo này chỉ có 50 cư dân. Sau khi ông chết, người dân nơi đây xây đền Đại Bá Công và bắt đầu thờ phượng ông. Ngày nay, Đại Bá Công được người Hoa Mã Lai thờ cúng trên cả nước. Đền Đại Bá Công thường bị nhầm lẫn là thờ Thổ địa công, phần nào bởi nhiều nét giống nhau trong kiến trúc.
Trịnh Cảnh Quý (Chung Keng Quee) was a principal donor to the Haichu-yu (Sea Pearl) Đền Đại Bá Công (năm 1865 và năm 1868) tại Tanjung Tokong, Penang. Một Đền thờ Đại Bá Công khác ở Sibu với một tòa tháp bảy tầng theo lối kiến trúc Phật giáo đặc trưng, khiến nó trở thành một điểm nhấn của nơi này.
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Đại_Bá_Công
-
. 南無土地公星君
. NA MÔ THỔ ĐỊA CÔNG TINH QUÂN
-
五路武財神 NGŨ LỘ VÕ TÀI THẦN
=====
心,廟內也請有文昌帝君、土地公、 祖 ...
https://www.trygogo.com › Detail
北部財神廟大收集,看這篇一手掌握 神爺! - 自然主意| 酷覓星官方網站
9 thg 7, 2020 — 神明:土地公、五路武財神、文昌 帝君、月老星君。 拜拜方法:拿五柱香,先到天公爐拜 公祈福,參拜五路財神爺,參拜掌管 慧、考試、 升官的 ...
-
-
-
PHƯỚC ĐỨC CHÁNH THẦN TẢ HỮU HỘ PHÁP THẦN
( 福德正神左右护法神 )
福德正神
又稱「土地公」或「后土」。祂姓張 福德,周武王二年(西元前1134)二月 初二日出生,曾任朝廷總稅官,事親 孝,愛民如子,享年一百零二歲。據 壽終三日容貌不變,王母傳令八仙接 引,封為南天門都土地神。
土地公在神界行政系統中,所管轄為 一區域,屬於基層行政官,祂專精農 、熱心公益、心腸善良且溫厚篤實, 曾向玉皇上帝稟明,希望世人「民生 富、財源廣進、豐衣足食」,不願人 有貧富差別。
臺灣民間祭祀的土地公神像的造型, 都雕塑成福德圓滿老翁的相貌,類似 時員外的打扮。保安宮所奉祀的土地 公,係曲翅紗帽、袍笏登場、黑鬚儼 ,似相臣模樣。據耆老云因為本宮主 被敕封為帝,所以土地公也爵升一等 ,笏袍加身。
https://www.baoan.org.tw/devote.php?&lang=tw
-
THỔ ĐỊA TẢ HỮU HỘ PHÁP THẦN /THỔ ĐỊA CÔNG TẢ HỮU HỘ PHÁP THẦN / THỔ ĐỊA GIA TẢ HỮU HỘ PHÁP THẦN
( 土地左右护法神 / 土地公左右护法神 / 土地爺左右护法神 )
http://www.fafa01.com/post893575
-
Phúc Đức Chính Thần (Ông Bổn): Ngoài danh xưng “Phúc Đức Chính Thần”, trong dân gian còn gọi vị thần này bằng cái tên khá dân dã: “Ông Bổn”. Từ cách phân tích chiết tự, có thể thấy “Bổn” hay “Bản” (trong “Nhân chi sơ, tính bản thiện” hay “Bản sắc”) có nghĩa là “gốc”. Vì vậy, “Ông Bổn” có nghĩa là “Ông Tổ”. Ngoài những danh xưng ấy, nhân vật này còn được biết đến với nhiều cách gọi tên khác như “Bổn Đầu Công” hay “Đại Bá Công”.
Khác với Thiên Hậu Thánh Mẫu, có khá nhiều truyền thuyết khác nhau để lí giải nguồn gốc của Phúc Đức Chính Thần. Một là, về quan niệm cho rằng Ông Bổn là Thành Hoàng: Thành Hoàng là vị thần cai quản một vùng đất như bảo vệ vùng đất bình yên, xem xét và răng đe hành vi sai trái của người sinh sống tại một vùng đất nào đó. Vì vậy, xét về bản chất thì Thành Hoàng vốn là vị nhiên thần. Sau này, từ yếu tố tự nhiên ấy, con người gắn những nhân vật lịch sử có thật vào hình tượng của Thành Hoàng để hiện thực hóa khát vọng được che chở ấy. Hai là, về quan niệm cho rằng Ông Bổn là Thổ địa: Thổ địa hay Thổ thần là vị thần cai quản đất đai. Có quan niệm cho rằng “Thổ Địa” cũng chính là “Thần Tài” vì “do nông nghiệp chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử, nên đất đai cùng các loại nông phẩm từ đất sinh ra của cải chủ yếu, nên Thần Đất cũng là Thần Tài…”. Ba là, về quan niệm cho rằng ông Bổn là Nhân thần: Riêng nhận định này cũng đã phát sinh thêm hàng loạt các quan điểm khác. Ông là ai trong lịch sử? Có người cho rằng đó là Châu Đạt Quan – tác giả của quyển “Chân Lạp Phong Thổ Ký”. Đây là một nhân vật lịch sử sống dưới triều nhà Nguyên ở Trung Quốc. Là một nhà sử học kiêm nhà du ký, ông đã tham gia vào các đoàn sứ bộ đến nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Có lẽ vì là một sứ bộ nên sau khi ông mất, người Hoa đã tôn ông làm Ông Bổn với ý nghĩa “ông tổ di dân”. Mặt khác, với nhóm người Hoa Phúc Kiến, họ lại cho rằng Ông Bổn chính là thái giám Trịnh Hòa sống dưới thời Vĩnh Lạc (1403-1424) của Trung Hoa. Ông đã thực hiện hầu hết tất cả các chuyến thám hiểm đến các địa vực của các quốc gia trong khu vực. Hơn nữa, là người giỏi ngoại ngữ, ngoại giao và khảo cứu, Trịnh Hòa đi đến đâu đều dẫn người Hoa đến đó lập nghiệp. Vì vậy, sau khi ông mất đi thì được cộng đồng Hoa kiều tri ân và tôn thờ ông như một vị phúc thần.
Vậy, từ các quan điểm về lai lịch của vị thần này, quay trở lại với vấn đề đặt ra ở trên là do đâu lại xuất hiện tính rời rạc trong quan niệm về Phúc Đức Chính Thần. Thứ nhất là do mỗi nhóm người Hoa đều lựa chọn cho mình những truyền thuyết khác nhau để gán cho vị thần này. Người Hoa ở Việt Nam bao gồm khá nhiều nhóm khác nhau và do vậy, chính điều này đã tạo nên một sắc thái đa dạng khi truy nguyên nguồn gốc lai lịch của Ông Bổn. Lí do thứ hai là quan trọng hơn, đó là vì với hình tượng Ông Bổn, quyền năng của ngài đã có sự chuyển hóa theo sự biến chuyển của lịch sử. Đó là do tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở vùng đất Nam Bộ, từ một vị thần cai quản đất, ngài đã chuyển hóa chức năng của mình đa dạng hơn để người dân cầu tài lộc, làm ăn hanh thông cũng như buôn may bán đắt. Sự chuyển hóa này đã phán ảnh khát vọng hiện thực của người Hoa Nam Bộ. Hơn nữa, trong tiến trình lập nghiệp ở vùng đất mới, Ông Bổn – với tư cách là một vị phúc thần tại cố hương, cần phải được nhân hóa thành những nhân vật lịch sử cụ thể, điều này tạo ra sự gần gũi, tiếp thêm sức mạnh cho những lưu dân người Hoa trong những ngày đầu có mặt tại vùng đất mới.
https://m.facebook.com/story.php?sto...94228347585011
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-