VIETNALANDA
http://vietnalanda.org/tchnghanhtri.html
Printable View
VIETNALANDA
http://vietnalanda.org/tchnghanhtri.html
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ-RA-NI
( Cư sĩ THANH TÂM tạm dịch nghĩa )
Kính lễ ( Nam mô ) Thế Tôn, Đấng Thế Tôn Đại Giác cao cả của Tam-giới. Như vậy, OM ( Vô kiến đảnh tướng của Như Lai ) thanh tịnh toả sáng khắp nơi, thanh tĩnh của tự nhiên tràn đầy rừng rậm. Hãy tưới nước phép cho con, Hỡi Đấng Thiện Thệ Tối Cao - Hãy tưới cho con nước Cam Lồ Bất Tử - Hãy ban cho con, ban cho con tuổi thọ. Thanh tĩnh, thanh tĩnh, thanh tĩnh, cái hư không - Thanh tĩnh của Phật Đảnh Tôn Thắng với nghìn ánh sáng làm con người kinh động mà giác ngộ.
Thần lực của tất cả các Đấng Như Lai nắm giữ Đại Ấn Kim Cương bao phủ con người thanh tĩnh. Thanh tĩnh khi mọi trở ngại và nghiệp chướng tiêu tan. Thanh tĩnh tuổi thọ tăng. Thệ nguyện giữ gìn bảo pháp. Cõi chân như tràn đầy muôn ngàn thanh tĩnh. Thanh tĩnh tuệ giác hiện rõ.
Tối thắng, tối thắng, tối thắng! Tưởng niệm, tưởng niệm. Tất cả Chư Phật nắm giữ Thanh Tĩnh!
Hỡi Đấng Kim Cương Tạng, con ( người cầu nguyện ) xin cầu nguyện đạt đến TRÍ TUỆ KIM CƯƠNG. Tất Cả Chúng Sanh Thanh Tĩnh, Tất Cả Định Mệnh Thanh Tĩnh, tất cả Đấng Như Lai an ủi, khiến được giác ngộ, giác ngộ, giác ngộ. Thanh tĩnh khắp nơi. Thần lực của tất cả các Đấng Như Lai nắm giữ Đại Ấn. Svàhà! ( thành tựu tất cả ).
***
BÀI CẦU NGUYỆN TÁI SANH VỀ CÕI TỊNH ĐỘ CỦA PHẬT A DI ĐÀ( Đại Sư Karma Chagme- bản đọc Tạng ngữ)
( https://vi-vn.facebook.com/Ngagyur-N...0526741759245/ )
https://www.youtube.com/watch?v=msWrMwhPplw&sns=fb
Bảo tạng về Đức Phật Dược Sư được giữ gìn và lưu truyền trong phái Nyingmapa theo hai dòng truyền Kama( giáo truyền ) và Terma( phục tàng) cho đến ngày nay. Có rất nhiều các Khai Mật Tạng Tôn Giả hoằng truyền các bảo tạng về pháp tu Dược Sư Phật, nổi tiếng là Bốn Bộ Y Dược Học của Dược Vương Hộ Đức Yuthogpa Yonten Gonpo, Tôn giả Longsal Nyingpo dòng Kathokpa, Tôn giả Bất Dị Kim Cương Migyur Dorje dòng Payul, Tôn giả Biến Thánh Đại Lạc Chokgyur Dechen, Tôn giả Adzom Drukpa dòng Longchen Nyingthig v.v.
Trong số các Bảo Tạng phục tàng này thì bảo tạng về Phật Dược Sư của Tôn giả Migyur Dorje là được lưu hành rộng rãi nhất. Các Đạo sư của các phái Kagyudpa như : Drikung, Drukpa, Karma Kamtsang, Shangpa , Barom, Taklung v.v đều sử dụng bảo tạng này. Bảo tạng này được chư Phật hộ niệm và được khai quật lại từ Kho Tàng Hư Không- Namcho . Nếu hành giả thành tâm trì trai, giữ giới tu trì thì Công Đức và lợi ích không thể nghĩ bàn như đã được diễn tả trong Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Đức Kinh, lược thuật một vài lợi lạc như sau:
- Tăng chúng tránh được tội phá giới, nếu lỡ phá giới thì được hoàn thanh tịnh trở lại
- Nếu có tạo nhân bị đoạ vào ba đường ác thì được thanh tịnh không phải sanh vào những nơi ấy, lại mau chóng được giải thoát, dần dần đạt thành Phật quả
- Đời này không thiếu cơm áo, tài vật phong túc. Tất cả bệnh ma, chú trớ , trù ếm v.v đều được tiêu diệt
- Thường được Kim Cương Thủ Bồ Tát, Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương, mười hai Đại Tướng Dược Xoa và hai mươi ngàn quyến thuộc theo hộ vệ
- Có thể tránh được mười tám kiểu chết phi thời, chết oan, tránh được các kẻ thù,các mãnh thú
- Tất cả các nguyện vọng đều được thành tựu viên mãn.
Tại Tây Tạng ngày trước , các vị lãnh đạo , các vị thành tựu giả vĩ đại đều tu nghi quỹ và Bổn Tôn Dược Sư này. Nay trích dịch một phần ngắn lễ tán cho các hành giả sơ cơ hoặc những người không có nhiều thời gian có thể hành trì, nhưng tốt nhất là nên nhận ban Phước khẩu truyền hoặc quán đảnh từ những vị thầy đủ phẩm tính có sự trao truyền ân phước của dòng phái.
Thế Tôn mắt từ nhìn tất cả chúng sanh,
Nghe Thánh danh Ngài, tiêu tan khổ ác đạo,
Trừ ba bệnh độc, Phật Đà Dược Dư Tôn
Lưu Ly Quang Vương Như Lai, con đảnh lễ!
Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật!
TÊ DA THA! ÔM BÊ KAN DZÊ ,BÊ KAN DZÊ ,MA HA BÊ KAN DZÊ ,RA DZA SA MÚT GA TÊ SÔ HA
NYINGMA KATHOK VÀ DRIKUNG KAGYUD PHÁP BẢO:
THẾ GIAN TỰ TẠI SƯ TỬ HỐNG QUAN THẾ ÂM-BẢO TẠNG CỦA LONGSAL DORJE NYINGPO (QUẢNG HIỂN KIM CƯƠNG TÂM TUỶ TÔN GIẢ)
Thế Gian Tự Tại Sư Tử Hống Quan Âm Như Lai có tên Phạn là Guru Singhanada- Tiếng Tạng là Jigten Wangchug Sengghe ,là pháp tu thuộc cấp độ Kriya Tantra- Sự Mật Tục . Đây là pháp vô cùng trân quý để câu triệu,
hàng phục Bát Đại Long Vương và bình lặng tất cả những chướng ngại do tộc loại rắn rồng gây ra như; lũ lụt, giông bão, lốc xoáy, lở đất v.v các loại bệnh ngoài da, các vùng có các loại rắn dữ gây tổn hại . Đây là pháp chính yếu để làm và gia trì các loại Lubum- Long Vương Bình để bảo hộ cho các Chùa, tự viện, làng xóm, gia tộc được bình an.
http://s1.upanh123.com/2016/12/05/Gu...anadafb4ad.png
獅子吼觀音咒:
Om ah hrih simha nada hum phat
嗡 啊 嘿哩 星哈 那打 吽 呸
( https://vi-vn.facebook.com/Ngagyur-N...0526741759245/ / http://blog.xuite.net/etazen888/twbl...9A%84%E3%80%82 )
Truyền thừa pháp tu Chuẩn Đề trong Tạng Mật
Hiện nay, dòng truyền thừa về Chuẩn Đề Phật Mẫu vẫn còn lưu truyền trong các phái của Tân Mật như : Sakyapa Karma Kagyud, Drikung Kagyud, Drukpa Kagyud( do Khamtrul Rinpoche đời thứ 8 truyền thừa) và một vài Đạo sư theo truyền thống Rime nắm giữ. Tuy nhiên, hình tướng của Chuẩn Đề Phật Mẫu hoàn toàn khác xa với Đông Mật và truyền thống Chuẩn Đề tại Việt Nam. Quý Phật tử muốn tu tập pháp môn này có thể xin thọ nhận quán đảnh hoặc khẩu truyền từ ngài Drubpon Sodnam Jorphel Rinpoche ( dòng Drikung- Nepal) , hoặc Dordzong và Khamtrul Rinpoche ( dòng Drukpa ở Tashijong, Ấn Độ),Shangsa Rinpoche ( Karma Kagyud).
Dòng truyền thừa Nyingmapa là dòng phái được ban phước vô cùng lớn lao bởi Đức Phật A Di Đà- Vô Lượng Quang Như Lai . Tổ sư sáng lập ra Nyingmapa là Đại Sĩ Liên Hoa Sanh chính là một hoá thân từ chủng tử tự HRI trong tim Đức Phật A Di Đà. Vì thế trong truyền thống Nyingmapa có đầy đủ các pháp tu về Đức Phật A Di Đà, Đức Quan Thế Âm trong các thân tướng hiền hoà hay phẫn nộ khác nhau tuỳ theo căn cơ, sở thích và duyên nghiệp kết nối của các loại chúng sanh. Những pháp tu này giúp cho hành giả bậc thượng , trung căn có thể chứng được quả vị của Đức A Di Đà ngay khi còn tại thế hoặc tiến lên Thập địa Bồ tát, những hành giả hạ căn có thể nương nhờ pháp đọc tụng Kinh,trì niệm hồng danh, mật ngữ của Đức A Di Đà cùng với pháp Phowa - chuyển di thần thức để vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Trong vô số các bảo tạng được truyền trao bởi Đức Liên Hoa Sanh, những pháp nổi danh có thể kể ra là:
1- pháp tu A Di Đà của truyền thống Kathog do Tôn giả Trí Tuệ Tạng Bồ Tát- Kathog Deshek Kadampa với mật chú ÔM A MI TA BHA HRI và pháp chuyển di thần thức Phowa của Tôn giả Longsal Nyingpo
giúp cho hàng trăm ngàn người đắc thân ánh sáng cầu vồng và vô số người vãng sanh.
2- pháp tu A Di Đà của Tôn giả Bất Dị Kim Cương Mingyur Dorje với mật chú ÔM A MI ĐÊ QUA HRI và pháp chuyển di thần thức Phowa.Pháp tu này chính Đức Phật A Di Đà hiện thân trao truyền quán đảnh và khẩu truyền cho Ngài vì thế pháp tu này được các dòng truyền thừa khác đặc biệt là Karma Kagyud, Drikung Kagyud, Drukpa Kagyud, Shangpa Kagyud , Barom Kagyud v.v tu tập và trao truyền rộng rãi
3- Pháp chuyển di thần thức vãng sanh Tịnh Độ- Phowa nổi danh là pháp của Tôn giả Nyida Sanggye (được trao truyền và giữ gìn trong phái Nyingma và truyền thừa Drikung), của Tôn giả Thangtong Gyalpo,của Tôn giả Rigdzin Godem,Terdag Lingpa,Jigme Lingpa, Chogyur Lingpa v.v và hàng trăm pháp chuyển di thần thức khác nhờ thực hành Bổn Tôn.
Xin trân trọng kính ghi lại lời cầu nguyện ngắn đến Đức Phật A Di Đà của Thánh Tăng Kyabje Trulzhik Rinpoche ( Bậc Thầy của Đức Dalailama ) giới thiệu với huynh đệ đồng đạo để chúng ta cùng nhau tu tập và cùng vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà!
"Pháp luân thường chuyển nơi Cực Lạc Tịnh Thổ,
Mắt từ thường xuyên quan sát các chúng sanh,
Thệ nguyện rộng sâu độ khắp chúng hữu tình,
Thế Tôn Vô Lượng Quang Phật, con đảnh lễ!
ÔM A MI ĐÊ QUA HRI"
========
Bài cầu nguyện ngắn để vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà- Amitabha Buddha- Vô Lượng Quang Phật( do hoá thân Đức A Di Đà- Tôn giả Bất Dị Kim Cương thuyết)
Ê ma hô- Tuyệt vời thay!
Hy hữu Thế Tôn Vô Lượng Quang Như Lai,
Bên phải của Ngài là Đại Bi Quan Âm,
Bên trái là Đấng Đại Thế Chí Bồ Tát
Vô lượng chư Phật Bồ Tát nhiễu quanh Ngài.
Cõi nước đủ đầy vô lượng các hỷ lạc,
Có tên gọi là Cực Lạc Thanh Tịnh Bang
Nguyện khi mạng chung chúng con sanh về đó,
Không gặp chướng ngại, nhiễu phiền của Trung ấm.
Từ sen sanh ra thấy được Đức Di Đà,
Với lòng sùng kính con dâng lời khẩn nguyện ,
Cúi xin chư Phật Bồ Tát khắp mười phương,
Ban phước chúng con vãng sanh không chướng ngại!
Tê da tha! Pen cha đri da a wa bô đa na dê sô ha
======
Bài cầu nguyện tái sanh về Cõi Cực Lạc Tịnh Độ - Dechen Zhing gyi monlam - do hoá thân Đức A di Đà ( Terton Mingyur Dorje) trứ tác được Nxb Tôn Giáo cấp phép
Truyền thừa pháp tu Chuẩn Đề trong Tạng Mật
Hiện nay, dòng truyền thừa về Chuẩn Đề Phật Mẫu vẫn còn lưu truyền trong các phái của Tân Mật như : Sakyapa Karma Kagyud, Drikung Kagyud, Drukpa Kagyud( do Khamtrul Rinpoche đời thứ 8 truyền thừa) và một vài Đạo sư theo truyền thống Rime nắm giữ. Tuy nhiên, hình tướng của Chuẩn Đề Phật Mẫu hoàn toàn khác xa với Đông Mật và truyền thống Chuẩn Đề tại Việt Nam. Quý Phật tử muốn tu tập pháp môn này có thể xin thọ nhận quán đảnh hoặc khẩu truyền từ ngài Drubpon Sodnam Jorphel Rinpoche ( dòng Drikung- Nepal) , hoặc Dordzong và Khamtrul Rinpoche ( dòng Drukpa ở Tashijong, Ấn Độ),Shangsa Rinpoche ( Karma Kagyud).
http://s1.upanh123.com/2016/12/06/19...687_n30c47.jpg
http://s1.upanh123.com/2016/12/06/12...295_n12787.jpg
Chuẩn Đề Phật Mẫu dòng Drikung
http://s1.upanh123.com/2016/12/06/58...954_n7ba3a.jpg
Chuẩn Đề Phật Mẫu dòng Karma Kagyud
cõi Tịnh độ như là Cực Lạc (Dewachen), Núi Huy Hoàng (Ngayabling)
( https://vi-vn.facebook.com/permalink...bstory_index=0 )
Đàn tràng được thiết kế theo đồ hình Dược Sư Mạn-đà-la với hình ảnh như một hoa sen nở trọn tám cánh. Mỗi cánh sen có một Đức Phật được bố trí theo chiều thuận nghịch như sau:
1. Đức Thiện Danh Xưng Kiết Tường Như Lai, ở quốc độ tên là Quang Thắng, cách thế giới Ta-bà 4 hằng hà sa Phật độ; 2. Đức Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai, ở quốc độ tên là Diệu Bảo, cách thế giới Ta-bà 5 hằng hà sa Phật độ; 3. Đức Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Như Lai, ở quốc độ tên là Viên Mãn Hương Tích, cách thế giới Ta-bà 6 hằng hà sa Phật độ; 4. Đức Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai, ở quốc độ tên là Vô Ưu, cách thế giới Ta-bà 7 hằng hà sa Phật độ; 5. Đức Pháp Hải Lôi Âm Như Lai, ở quốc độ tên là Pháp Tràng, cách thế giới Ta-bà 8 hằng hà sa Phật độ; 6. Đức Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, ở quốc độ tên là Thiện Trụ Bảo Hải, cách thế giới Ta-bà 9 hằng hà sa Phật độ; 7. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, ở quốc độ Tịnh Lưu Ly, cách thế giới Ta-bà 10 hằng hà sa Phật độ.
Bảy Đức Phật này đều ở về phương Đông.
Ngụ ý sâu xa ở Pháp hội Dược Sư Thất Châu này là Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni muốn dạy cho chúng ta phải hướng về nẻo ánh giác mà tiến tu, quá trình tu tập phải trải qua bảy giai đoạn được tượng trưng mật nghĩa bằng bảy thế giới của bảy Đức Phật ở phương Đông.
Phương Đông là nơi mặt trời xuất hiện, xua tan bóng tối đêm dài. Càng gần Ta-bà bao nhiêu thì càng cách xa mặt trời bấy nhiêu. Trái lại, càng xa Ta-bà bao nhiêu thì càng lại gần mặt trời bấy nhiêu. Đó là ý nghĩa vi diệu của Pháp hội Dược Sư mà chúng ta cần phải quán niệm:
Muốn gần ánh sáng giác ngộ thì phải tránh xa với hắc ám vô minh. Học Phật là bắt chước cách sống, cách làm, cách nghĩ, cách nói luôn tỉnh thức của Đức Phật, để chuyển hóa cách sống, cách làm, cách nghĩ, cách nói thường mê lầm của chúng sanh. Tu tập theo đạo Phật là phải đem tuệ giác tỉnh thức của Đức Thế Tôn để chiếu soi lại cuộc sống của phàm tình để thấy rõ mình là ai, mình đang bước đi trên con đường nào, con đường đó có đưa mình đến cung điện Niết-bàn, an vui hạnh phúc không?
Dược Sư là thầy thuốc; Dược Sư cũng có thể hiểu là một phương thuốc.
Lưu Ly Quang là ánh sáng trong suốt như ngọc lưu ly, tượng trưng cho ba nghiệp thân khẩu ý hoàn toàn thanh tịnh.
Danh hiệu của bảy Đức Phật chính là bảy phương thuốc để trị liệu thân bệnh, tâm bệnh, nghiệp bệnh của chúng sanh bằng sự thanh tịnh. Nói theo tinh thần Phật học thì hồng danh đức hiệu của mỗi Đức Phật là một phương thuốc; là một pháp hành mà người học Phật phải ứng dụng trong sinh hoạt hàng ngày để chuyển hóa khổ đau đem lại an vui hạnh phúc.
Tu tập theo kinh Dược Sư, hành giả phải lắng lòng thanh tịnh trì niệm danh hiệu của từng Đức Phật cho miên mật, nghĩa là phải thường xuyên uống thuốc (Dược Sư) để đào thải các chất phàm phu hắc ám ở trong mỗi chúng ta, và làm cho ánh sáng lưu ly an lành xuất hiện, càng giảm vô minh si ái tăm tối, thì càng tăng ánh sáng lưu ly tươi đẹp.
Pháp môn xưng danh là một phương pháp tự kỷ ám thị, mà hiệu lực không thể đo lường, nếu chúng ta áp dụng một cách chí thành chí khẩn. Nhưng hiệu lực ấy có cùng không có, ít hay nhiều đều tùy thuộc vào sự hiểu biết của chúng ta đối với ý nghĩa nằm trong đức hiệu của chư Phật.
Có hiểu sâu ý nghĩa ấy mới thấm thía vào lòng ta, ám ảnh ta. Rồi thời gian sẽ khắn khít với ta và trở thành nguồn cảm hứng, từ đó sẽ lưu xuất ra những tư tưởng, ngôn ngữ và hành động tương xứng với ý nghĩa ấy.
Ba cõi do tâm tạo; Muôn pháp từ thức biến. Thiên đường địa ngục, đau khổ an vui đều do tâm ta quyết định
Tu học theo Pháp môn Dược Sư là phải thắp đèn trí tuệ liên tục. Treo Thần phan năm sắc (phong độ, cách sống luôn tươi đẹp) để trang nghiêm tự thân, trang nghiêm pháp hội.
Đem chất liệu từ bi đượm thấm ba nghiệp để lời nói, hành động và ý nghĩa đều có tính dược, hầu chuyển hóa khổ đau của kiếp người và trị liệu những chứng bệnh trầm kha trong cuộc sống.
Giải kết giải kết giải oan kết
Nghiệp chướng bao đời đều giải hết
Rửa sạch lòng trần phát tâm thành kính
Đối trước Phật đài cầu xin giải kết.
Quy mạng Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương.
Xin Ngài ban ánh sáng lưu ly thanh tịnh cho mọi người để được sống an lành trong tuệ giác từ bi của Đức Phật.
( http://phamnghiemtrai.com.vn/cua-han...vuong-nhu-lai/ )
Daśa Cakra Kṣitigarbha Dhāraṇī from The Ten Wheel Sūtra of the Essence of Earth (Kṣitigarbha)
Sunday, August 21, 2016
Posted by:
Karma Dorje: ཀརྨ་རྡོ་རྗེ།
It is said in The Ten Wheel Sūtra of the Essence of Earth (Kṣitigarbha), “All comfort, happiness and peace in this world come from making offerings to the Rare Sublime Ones (the Triple Gem). Therefore, those who want comfort, happiness and peace should always try to make offerings to the Rare Sublime Ones.” - Lama Zopa Rinpoche; Soquel, CA USA 1999
Dasa Cakra Kṣitigarbha Dhāraṇī in Sanskrit with English translation:
namō ratna trayāya nama āryakṣitigarbha bōdhisattvāya mahasattvāya
Adoration to the Triple Treasure, adoration to Ksitigarbha Bodhisattva Supreme Being,
tadyathā
Thus:
kṣam-bhū, kṣam-bhū, kṣud kṣam-bhū,
Auspicious One! Auspicious One! Crushing, Auspicious One!
ākāśa kṣam-bhū, vāraka kṣam-bhū, ambu kṣam-bhū, vaira kṣam-bhū,
Open Air, Auspicious One! Obstacles, Auspicious One! Water, Auspicious One! Revengeful, Auspicious One!
vajra kṣam-bhū, a-lōka kṣam-bhū, dama kṣam-bhū,
Thunderbolt, Auspicious One! Ominousness, Auspicious One! Subduing, Auspicious One!
satyama kṣam-bhū, satya nir-hara kṣam-bhū, vyavalōka kṣapa kṣam-bhū,
Truthful, Auspicious One! Removing from the first Yoga Age, Auspicious One! Look upon the process of a day, Auspicious One!
upaśama kṣam-bhū, nayana kṣam-bhū, prajna sam-bhū tirana kṣam-bhū,
Tranquility of mind! Auspicious One! Carrying, Auspicious One!
Awakened One is delighted, manifest superhuman power, Auspicious One!
kṣana kṣam-bhū, visvariya kṣam-bhū, śasta lāva kṣam-bhū.
Every Instant, Auspicious One! Flows that resemble water, Auspicious One!
Gathering of Noble Teachers, Auspicious One!
vyāḍa su jya ma hirē damē samē, cakrē-sē cakra ma hirē
Wicked person brought forth to oppression subdued and tranquil.
Not banded belonging the wheel and serving.
kṣinē bhirē hṛd-grah saṁvara vratē. śiri prabhē pra-cara vartanē
The weakened, and intimated, Overpower the minds! Keep back! Shutting out the external world! Radiant of lights uniformly setting in motion passage.
ratna-palē cala cala śiri milē ekārtha, takki ṭhakkura darē darē,
Jewel protector of the earth move, moving the destruction uniformly into one notion,
Chief of rationalist! Hold! Hold!
milē badhē tadē akulē ku milē mi-ri aṅgo-citta avi ala-girē pra-ghṛ
To fix and appropriate confused ashore. Destruct hindrances. Accomplish minds protecting and preventing poisonous diseases of the eyes.
kuṭṭa samanē jaṅgē jaṅgē jaṅgule, huru huru huru, kuru stu.
Grind in one point. Dawn! New Dawn! The Growing of Water! Fire! Fast, fast, fast to the country (ancient Aryan - Northern Himalaya) Of everlasting happiness
milē mi mi lidhē, milē tarē, bha dada hara hira hirē, huru huru ru.
To fix! Construct! Construct! To fix! Lapping! To fix! Aspirate out delusion! Destroyed! Removed! Stripped away! Fast! Fast! Dashing to pieces.
hava-rāja vi-ṣōdhanē svāhā kali-yuga vi-ṣōdhane svāhā
Hail! Hail! Purifying Samadhi arise from emotion (Cycle of Birth and Death)! Hail! Hail! Purify the End of the World!
kaluṣa-mana vi-ṣōdhanē svāhā kaluṣa-mahā-bhūta vi-ṣōdhanē svāhā.
Hail! Hail! Purifying Deluded Imaginary, and Arrogance!
Hail! Hail! Purifying the non-equilibrium of the great Five Elements!
kaluṣa-rasa vi-ṣōdhanē svāhā kaluṣa-ōja vi-ṣōdhanē svāhā.
Hail! Hail! Purifying Filthy Taste!
Hail! Hail! Purifying adverse oddities!
sarva asa pari-pūraṇi svāhā sarva sasya saṁ-padanē svāhā.
Hail! Hail! All dust set to accomplishment! Hail! Hail! Bestowing all Merits!
sarva tathāgata adhisṭhitē svāhā.
Hail! Hail! All Tathāgata (Thus Come One) will increase the blessings!
sarva bōdhisattva adhisṭhita anu-moditē svāhā.
Hail! Hail! All Bodhisattvas has rejoiced, and giving blessings!
Phật Thuyết Kinh Thất Ức Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà Ra Ni
Thursday, May 26, 2016
Posted by:
Tâm Tịnh
( http://www.wisdomcompassion.org/sing...%C3%A0-Ra-Ni-1 )
Phật Mẫu Chuẩn Đề với 18 cánh tay ở phía trước, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát với 1000 cánh tay ở phía sau, giơ cao lên Phật A Di Đà ở trên đầu.
Lúc bấy giờ Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ. Khi ấy Thế Tôn tư duy quán sát. Vì thương xót các chúng sanh ở vị lai, Ngài thuyết Pháp Chuẩn-đề Đà-ra-ni này, là tâm của bảy ức Phật mẫu. Đức Phật liền nói chú rằng:
" Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đà, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Áán, Chiết Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Đề, Ta Bà Ha "
Phạn:
Namaḥ Saptānāṃ Samyaksaṃbuddha Koṭīnāṃ Tadyathā Oṃ Cale Cule Cundī Svāhā
Phiên âm Việt:
Nam Ma Sắp Ta Nam, Săm Dắc Săm, Bu Đà, Khô Ti Nam, Thát Dà Tha, Ôm Tra Lề, Tru Lề, Trun Đì, Sô Hà
Nghe cách trì tụng:
Dịch nghĩa mỗi chữ bằng tiếng Phạn:
Namaḥ: Con Quý ý với mẹ
Saptānāṁ: Bảy
Samyaksam: Hoàn hảo giác ngộ
Buddha: Phật
Koṭīnāṁ: Một KOTI là tương đương với mười tỷ
Tadyathā: Khi câu thần chú được phát biểu
Oṃ: Một từ linh thiêng đó được coi là một biểu tượng cho với âm thanh gốc của vũ trụ
Cale: Một biến thể tên của Phật Mẫu Chuẩn Đề
Cule: Thêm một biến thể tên của của Phật Mẫu Chuẩn Đề
Cundī: Sự thanh tịnh
Svāhā: Điều này là sự thật!
Dịch nghĩa hoàn thành:
Con quy y với mẹ của bảy chục tỷ hoàn hảo giác ngộ chư Phật. Đây là câu thần chú: Oṃ! Sự thanh tịnh của Chuẩn Đề, Chuẩn Đề, Điều này là sự thật!
Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, hay Ưu-bà-di nào thọ trì đà-ra-ni này và đọc tụng đủ 800.000 biến, thời năm tội vô gián cùng tất cả những nghiệp tội đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay sẽ đều tiêu diệt. Ở mọi nơi sinh ra, họ đều gặp chư Phật và Bồ-tát. Họ sẽ có được tất cả các vật dụng như mong muốn. Đời đời họ sẽ thường được xuất gia và thọ trì trọn vẹn luật nghi tịnh giới của Bồ-tát. Họ sẽ thường sanh vào cõi trời người, không đọa vào ác thú, và luôn có chư thiên hộ vệ.
Nếu có thiện nam tín nữ nào tụng trì đà-ra-ni này, thì gia đình của họ sẽ không gặp tai nạn và bệnh tật não hại. Mọi việc làm của họ sẽ thuận lợi. Lời nói của họ sẽ được mọi người tin tưởng.
Nếu có ai tụng chú này đủ 100.000 biến, thời ở trong mộng họ sẽ thấy được chư Phật, Bồ-tát, Thanh Văn, hay Duyên Giác, và còn tự thấy trong miệng ói ra vật đen.
Nếu ai phạm trọng tội thì hãy tụng đủ 200.000 biến, thời ở trong mộng họ cũng thấy chư Phật Bồ-tát và cũng tự thấy mình ói ra vật đen.
Nếu ai phạm năm tội ngỗ nghịch thì sẽ không có mộng lành như thế. Trong trường hợp đó, họ phải nên tụng đủ 700.000 biến, thời sẽ được điềm tướng như ở trước. Hoặc cho đến ở trong mộng, họ tự thấy mình ói ra vật màu trắng tựa như là cháo sệt. Phải biết đây là dấu hiệu thanh tịnh và tội của người ấy đã diệt trừ.
Tiếp theo đây, Ta sẽ giải thích phương thức để dùng đại đà-ra-ni này.
Nếu lấy phân của con bò đen trát lên khu đất sạch ở trước tượng Phật hoặc ở trước tháp để làm một Pháp đàn hình vuông với kích cỡ tùy theo hoàn cảnh. Lại tùy theo khả năng của mình mà dùng hương hoa, tràng phan, lọng che, ẩm thực, và đèn đuốc để cúng dường. Lại tụng chú vào nước hương và rưới xung quanh trên dưới để kiết giới. Ở bốn phía góc và chính giữa của mạn-đà-la đều đặt một bình nước hương. Người trì chú ở trong Pháp đàn, mặt xoay về hương đông, gối phải quỳ, và tụng chú 1.080 biến. Những bình nước hương liền tự động xoay chuyển. Kế đến, hai tay bưng nhiều loại hoa khác nhau, chú 1.080 biến, và rải lên bề mặt của một tấm gương. Hành giả lại nhìn thẳng vào tấm gương ở trước và cũng tụng chú 1.080 biến, thời sẽ thấy được hình tượng của Phật và Bồ-tát. Một lần nữa, hãy chú 108 biến vào những bông hoa như ở trước và rải cúng dường chư Phật Bồ-tát. Sau đó, hành giả sẽ nhận được câu trả lời của bất cứ điều gì muốn hỏi.
Nếu mắc bệnh do ma quỷ gây ra, hãy chú vào bó cỏ tranh và phẩy qua người bệnh, lập tức sẽ khỏi.
Nếu có trẻ nít nào bị ma nhập, hãy sai một đồng nữ xoắn chỉ ngũ sắc làm thành sợi dây. Cứ mỗi lần chú xong một biến thì hành giả cột thành một gút, niệm đủ 21 biến, rồi đeo trên cổ đứa bé. Sau đó, chú bảy biến vào những hạt cải và rải lên mặt của nó, lập tức sẽ khỏi.
Lại có một cách khác là vẽ hình của người bệnh trên một miếng giấy, rồi dùng cành liễu đã trì chú đánh vào hình vẽ người bệnh ở trước mặt của họ, lập tức sẽ khỏi.
Lại có một cách khác để trị người bị ma nhập ở nơi xa. Hãy chú bảy biến vào cành liễu, rồi đưa cành liễu cho người sẽ đến đánh hình vẽ người bệnh ở trước mặt của họ, lập tức sẽ khỏi.
Nếu có ai trên đường đi mà tụng chú này, thời họ sẽ không sợ gặp phải giặc cướp hay thú dữ.
Nếu có ai thường trì chú này, không một cuộc tranh tụng nào mà chẳng thắng. Giả sử họ muốn băng qua sông hồ hay biển lớn, hãy tụng chú này trước khi đi thì sẽ không gặp nạn thú dữ ở trong nước.
Nếu có ai bị xiềng xích hay giam cầm trong lao ngục, hãy tụng chú này thời liền được giải thoát.
Nếu có quốc gia nào gặp lũ lụt và hạn hán thất thường, hoặc dịch bệnh hoành hành. Hãy trộn chung bơ, hạt mè với gạo trắng, rồi dùng ba ngón tay móc lấy một dúm, chú một biến lên nó, và rảy vào trong lửa. Ngày đêm sáu thời, hãy thực hành phương pháp này liên tục không gián đoạn suốt bảy ngày bảy đêm. Sau đó, tất cả tai ương và dịch bệnh thảy đều diệt trừ.
Lại có một Pháp là in hình tượng của tháp lên bờ sông hay trên bãi cát. Khi tụng chú đủ 600.000 biến rồi ấn xuống để làm thành hình tượng của tháp, họ sẽ thấy Quán Thế Âm Bồ-tát, Đa-la Bồ-tát, hay Kim Cang Thủ Bồ-tát. Hết thảy sở cầu đều được tùy tâm mãn nguyện. Hoặc thấy Bồ-tát cho tiên dược, hoặc thấy Bồ-tát thọ ký quả Bồ-đề cho họ.
Lại có một Pháp trong lúc đi nhiễu bên phải hình tượng của cây Bồ-đề, hãy tụng chú đủ 10 triệu biến, họ sẽ lập tức thấy Bồ-tát thuyết Pháp cho họ. Như họ muốn theo Bồ-tát thì liền được tùy tùng.
Lại có một Pháp trong lúc đi khất thực, hãy luôn trì chú này, thời họ sẽ không bị ác nhân, chó dại, hoặc gặp những việc khác như thế não hại.
Nếu có ai ở trước tháp, hoặc ở trước tượng Phật, hoặc ở trước tháp có xá-lợi mà trì tụng chú này 300.000 biến, rồi lại vào ngày rằm của đêm trăng sáng, họ thiết đại cúng dường và chánh niệm tụng chú suốt một ngày một đêm mà không ăn. Họ sẽ thấy Kim Cang Thủ Bồ-tát và còn được Bồ-tát dẫn người ấy đến cung điện của ngài.
Lại có một Pháp là đi đến ở trước tháp mà Đức Phật chuyển Pháp luân đầu tiên, hoặc ở trước tháp của nơi Đức Phật đản sanh, hoặc ở trước tháp mà Đức Phật bước xuống bực thềm báu từ trời Đao-lợi, hoặc ở trước tháp có xá-lợi. Nếu ở trước các tháp như vậy mà tụng chú và đi nhiễu bên phải, thời họ sẽ liền thấy A-bát-la-thị-đa Bồ-tát và Ha-lợi-để Bồ-tát. Tùy theo sở cầu của người ấy, các ngài thảy đều mãn nguyện cả. Giả sử họ cần tiên dược, các ngài liền cho tiên dược. Các ngài lại vì họ mà thuyết Pháp và chỉ bày Bồ-tát Đạo.
Nếu có ai tụng đà-ra-ni này, mặc dù vẫn chưa ngồi Đạo Tràng, nhưng sẽ luôn có tất cả Bồ-tát làm thiện hữu của họ.
Lại nữa, Pháp đại Chuẩn-đề đà-ra-ni này là đại minh chú. Tất cả chư Phật quá khứ đã tuyên thuyết. Tất cả chư Phật vị lai sẽ tuyên tuyết. Tất cả chư Phật hiện tại đang tuyên thuyết. Ta nay cũng tuyên thuyết như vậy, là vì muốn lợi ích cho hết thảy chúng sanh và khiến họ đắc vô thượng Bồ-đề.
Giả sử có chúng sanh nào phước bạc, không có chút căn lành, không có căn khí, hay chẳng có Pháp Bồ-đề Phần, mà nếu nghe được Pháp đà-ra-ni này, thời họ sẽ mau chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nếu ai có thể luôn nhớ tụng trì chú này, họ sẽ thành tựu vô lượng căn lành."
Khi Phật thuyết Pháp Đại Chuẩn-đề Đà-ra-ni này, có vô lượng chúng sanh xa rời trần cấu và đắc đại minh chú công đức của Đại Chuẩn-đề Đà-ra-ni. Họ thấy chư Phật, Bồ-tát, và các thánh chúng trong mười phương. Sau đó, họ đảnh lễ Phật rồi cáo lui.