五路財神賜福灌頂
http://www.lighten.org.tw/light/inde...8-41&Itemid=56
Printable View
https://s1.upanh123.com/2017/01/10/521611395_ma277a.jpg
( http://blog.xuite.net/mar1974444/twb...86%E5%91%A2%3F )
為何念咒加持於紙錢,錢會一直來呢?
1、誦變億咒:21遍
嗡 桑巴啦 桑巴啦 布嘛啦薩 啦瑪哈藏巴巴 吽呸 梭哈
2、大悲咒:1080遍
南無.喝囉怛那.哆囉夜耶. 南無.阿唎耶.
na-mo ha-la-ta-na ta-la-ya-ya na-mo a - li - ya
婆盧羯帝.爍缽囉耶.菩提薩埵婆耶
va-lo-ki-di s-va-la-ya po-ti-sa-ta-va-ya
摩訶薩埵婆耶.摩訶迦盧尼迦耶.
ma-ha-sa-ta-va-ya ma-ha-ka-lu-ni-ka-ya
唵.薩皤囉罰曳. 數怛那怛寫.
om sa-pa-la-va-i su-da-na-da-shia
南無悉吉慄埵.伊蒙阿唎耶.
na-mo-s-ki-li-do i-mo-a-li-ya
婆盧吉帝.室佛囉愣馱婆.
va-lo-ki-di s-pa-la-len-ta-va
南無.那囉謹墀.醯利摩訶皤哆沙咩
na-mo na-la-ki-di hi-li-ma-ha-pa-ta-sa-me
薩婆阿他.豆輸朋. 阿逝孕.
sa-va-a-ta du-su-bon a-ja-yun
薩婆薩哆.那摩婆薩哆.那摩婆伽.
sa-va-sa-ta na-mo-va-sa-ta na-ma-va-ka
摩罰特豆. 怛姪他.
mo-va-tu-du ta-ja-ta
唵.阿婆盧醯. 盧迦帝. 迦羅帝. 夷醯唎.
om a-va-lu-hi lu-ka-di ka-la-di i-hi-li
摩訶菩提薩埵. 薩婆薩婆. 摩囉摩囉.
ma-ha-po-ti-sa-ta sa-va-sa-va mo-la-mo-la
摩醯摩醯.唎馱孕.俱盧俱盧.羯蒙
mo-hi-mo-hi li-do-yu gu-lu-gu-lu ke-mon
度盧度盧.罰闍耶帝. 摩訶罰闍耶帝.
du-lu-du-lu va-ja-ya-di ma-ha-va-ja-ya-di
陀囉陀囉. 地唎尼. 室佛囉耶.
ta-la-ta-la di-li-ni s-pa-la-ya
遮囉遮囉. 摩麼.罰摩囉. 穆帝隸.
ja-la-ja-la ma-ma va-ma-la mu-di-li
伊醯伊醯.室那室那. 阿囉嘇.佛囉舍利.
i-hi-i-hi s-na-s-na a-la-sam pa-la-jia-li
罰沙罰參.佛囉舍耶.
va-sa-va-sem pa-la-jia-ya
呼嚧呼嚧摩囉. 呼嚧呼嚧醯利.
hu-lu-hu-lu-ma-la hu-lu-hu-lu-hi-li
娑囉娑囉. 悉唎悉唎. 蘇嚧蘇嚧.
sa-la-sa-la si-li-si-li su-lu-su-lu
菩提夜.菩提夜.菩馱夜.菩馱夜. 彌帝唎夜.
pu-ti-ya pu-ti-ya pu-da-ya pu-da-ya mei-di-li-ya
那囉謹墀.地利瑟尼那.
na-la-ki-di di-li-sa-ni-na
波夜摩那.娑婆訶.
ba-ya-ma-na swa-ha
悉陀夜. 娑婆訶.
si-da-ya swa-ha
摩訶悉陀夜. 娑婆訶.
ma-ha-si-da-ya swa-ha
悉陀喻藝.室皤囉耶. 娑婆訶.
si-do-yu-i s-va-la-ya swa-ha
那囉謹墀. 娑婆訶.
na-la-ki-di swa-ha
摩囉那囉.娑婆訶.
ma-la-na-la swa-ha
悉囉僧.阿穆佉耶. 娑婆訶.
si-la-sen a-mu-ka-ya swa-ha
娑婆摩訶.阿悉陀夜. 娑婆訶.
sa-va-ma-ha a-si-da-ya swa-ha
者吉囉.阿悉陀夜. 娑婆訶.
jer-gi-la a-si-da-ya swa-ha
波陀摩.羯悉陀夜. 娑婆訶.
pa-ta-ma ka-si-da-ya swa-ha
那囉謹墀.皤伽囉耶. 娑婆訶.
na-la-ki-di ba-ka-la-ya swa-ha
摩婆利.勝羯囉夜. 娑婆訶.
ma-va-li som-ka-la-ya swa-ha
南無喝囉怛那.哆囉夜耶. 南無阿唎耶.
na-mo-ha-la-ta-na ta-la-ya-ya na-mo-a-li-ya
婆嚧吉帝. 爍皤囉夜. 娑婆訶.
va-lo-ki-di s-ba-la-ya swa-ha
唵.悉殿都. 漫多囉. 跋陀耶. 娑婆訶.
om si-dian-du man-ta-la ba-ta-ya swa-ha
3、般若波羅蜜多心經:1080遍
觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時, 見五蘊皆空,度一切苦厄。舍利子! 不異空,空不異色;色即是空,空即 是色;受想行識,亦復如是。舍利子 是諸法空相,不生不滅,不垢不淨, 增不減。是故空中無色,無受、想、 行、識,無眼、耳、鼻、舌、身、意 無色、聲、香、味、觸、法,無眼界 乃至無意識界;無無明,亦無無明盡 ;乃至無老死,亦無老死盡;無苦、 、滅、道,無智亦無得。以無所得故 菩提薩埵,依般若波羅蜜多故,心無 罣礙;無罣礙故,無有恐怖,遠離顛 夢想,究竟涅槃。三世諸佛,依般若 羅蜜多故,得阿耨多羅三藐三菩提。 故知般若波羅蜜多,是大神咒,是大 咒,是無上咒,是無等等咒,能除一 苦,真實不虛。故說般若波羅蜜多咒 ,即說咒曰:揭諦,揭諦,波羅揭諦 波羅僧揭諦,菩提薩婆訶。
4、紅觀音超度六道心咒:(1080遍)
唵啊吽、啥、唵嘛尼貝妹吽、啥、哇 夏沙嘛哈
5、寶篋印陀羅尼咒:1080遍
唵 薩瓦 達他嘎達 烏思你沙 達嘟 母得拉哩
薩瓦 達他嘎單達 薩達 嘟尾部西達 地思提地 吽吽 梭哈。
6、靈火天庫咒(所願成就咒):1080遍
嗡,薩瓦.貝補拉,補拉,素拉,素拉,阿瓦 雅,阿瓦大雅候,班渣,怕拉,那卡
7、金剛薩埵百字明咒:1080遍
嗡。別炸薩埵沙媽雅。媽奴巴拉雅。 炸薩埵爹奴巴地叉。遮佐咩巴娃。蘇 卡欲咩巴娃。蘇甫卡欲咩巴娃。晏奴 拉多咩巴娃。沙爾娃。司地。咩不拉 叉。沙爾娃。嘎嘛。蘇渣咩。即達木 司哩任古魯吽,哈哈。哈哈。火。邦 嘎溫。沙爾娃。打他嘎打。別炸媽咩 渣。別至巴娃。嘛哈沙媽雅。薩埵阿 吽呸。
8、補闕真言:(至少21次)
唵 都魯都魯 渣雅嘛卡嘿 梭哈
-----------------------------------------------------------------
每日誦持完畢後的迴向文:
弟子XXX 願以誦持 X XXX 經 (咒) 之功德力
迴向
十方三世諸佛菩薩 以及 大慈大悲觀世音菩薩 的佛力加持
依此殊聖功德力再迴向給生活在台灣 離島的全國人民同胞.
祈求諸佛菩薩護持 與大慈大悲觀音菩薩護佑.
渡過此病毒來襲,政治動盪以及 經濟風暴 等問題.
全國人民 災病遠離,生活安樂富足.
國泰民安 風調雨順,國運昌隆.世界和平,
人人有工作,人人有錢賺,身體健康,家 美滿,萬事如意.
--------------------------------------------------------------------------
[豐財菩薩真言]
(1) 唵 阿利也 陀羅阿利 娑婆訶
(2) 唵 阿利也 補迦伐底 娑婆訶
[蓮師財神總攝]
唵阿吽 邊雜咕嚕 惹(ㄖㄚˇ)大那特 雜爾
薩爾哇 悉地 帕拉 吽
[寶源度母咒]
唵 達列 度達列 都列 渣木別 哈野 達那咩爹舍以 梭哈
[財寶天母真言]
瑪瑪 巴蘇 答列 梭哈
[財源天母咒]
唵 巴速達瑞以尼 梭哈 唵 希利 速 梭哈
唵 巴速希利耶 梭哈 唵 希利巴 七 梭哈
唵 巴速希利耶 梭哈
[毗沙門天王真言]
(真言) 曩莫 三滿多沒馱喃 吠室囉伐拏野 娑婆賀
(心中心真言) 唵 彈那馱羅野 娑婆訶
[給薩財神心咒]
唵阿吽 班乍日 瑪哈 咕嚕 瑪尼 惹乍 沙爾哇 悉地 帕拉吽
[大聖歡喜天(象頭財神)心咒]
唵 儗哩 虐 娑婆訶
[象頭王財神咒]
(象王咒) 嗡 忠木 嘎那巴滴 梭哈
(明妃咒) 嗡 巴惹(ㄖㄚˇ) 嘎大耶 梭哈
(明妃咒) 嗡 哇嘎喋 當木慶 賓達 吽呸
(明妃咒) 嗡 忠木 嘎那巴滴 惹(ㄖㄚˇ)那悉地 梭哈
[堅牢地神咒]
南無三曼哆 母馱喃 唵 部啦部啦 寧 舍利三滿哆 阿投阿投 阿逗阿
毘利帝比 毘利帝比伊 梭哈
[雨寶菩薩咒]
唵 室利寶賜 梭哈 唵 缽賜托利 缽賜托來 嘛呢賜之
尼寶帝尼 缽賜 梭哈
[總財神心咒]
唵 嘛呢貝咩吽啥 嘛嘛 叭蘇達利 梭哈
嘛尼 拉那 沙爾哇 悉地 吽吽 哈
[五路財神之白財神咒]
唵 悲瑪 卓達 阿惹(ㄖㄚˇ)呀 臧 拉 夕大呀 吽呸
[五路財神之黃財神咒]
嗡 臧巴拉 雜咧札耶 梭哈
[五路財神之紅財神咒]
(父尊) 唵 臧巴拉 雜咧札呀 達南美木滴 舍以
(母尊) 唵 札格以尼 臧巴拉 桑木巴惹(ㄖ ˇ) 梭哈
[五路財神之黑財神咒]
唵 臧巴拉 雜咧札呀 梭哈
唵 宜扎尼 穆杭 扎瑪瑞以 梭哈
[五路財神之綠財神咒]
唵 臧巴拉 雜咧札呀 梭哈
唵 (頂輪) 阿 (喉輪) 吽 (心輪) 杭木 (密輪) 恰 (頂輪)
[財寶天王咒]
唵 貝夏 哇那耶 梭哈
除障香能化,色身香味觸五妙義加上本 有加持虹光~
點除障香可加念靈火天庫咒~
靈火天庫咒又名(所願成就咒),能夠把 球的五大化成鬼須要的色身香味觸五 義,當然
如果鬼須要衣服,聞到靈火天庫咒又名( 所願成就咒所加持的東西,它就能化給 使用,也就
是滿足他的欲望,他如果是餓鬼,須要食 物和水,就會變成他須要的東西,就是心 經上說的色
不異空,空不異色的道理,物質加持靈火 天庫咒能化成鬼須要救度的能量,如果 想的是錢,
就會化成錢,佛陀的法就是這麼神奇,念 咒的五色光能夠化成他須要的東西,佛 也說一個
人要累積相當多的功德,身體才能化五 光,五色光是鬼最喜歡的,當然化不出 關係,就是
要累積功德,如何累積功德而成佛,就是 要*(供養十方法界),供養十方法界的功 最大,每天
一直供養十方法界的鬼神菩薩佛和護 ,得到的回報就是讓你的身體化出彩虹 色的虹光,
有可能在今世就辦的到,為何供養十方 界最大),因為一切鬼神都是未來佛,十 方法界有多
少佛,他們都給你一點五色光就能成佛, 而你只要專心的念靈火天庫咒加持燒 就可以了
習俗拜 土地公 就會幫你的工作順利,業績直上,賺大錢
靈火天庫咒又名(所願成就咒):
在一本(金剛薩埵成佛法-普賢密藏9) 書中第345頁,
和密宗一百廿五法-普賢密藏11裡面,
也有靈火天庫咒又名(所願成就咒):
嗡,薩瓦.貝補拉,補拉,素拉,素拉,阿瓦 雅,
阿瓦大雅候,班渣,怕拉,那卡
靈火天庫咒加持於金紙上,土地公就會 你的工作順利
,業績直上,賺大錢。
僅供大家參考!
靈火天庫咒(所願成就咒):
嗡,薩瓦~貝補拉~補拉~素拉~素拉~阿瓦 雅,阿瓦大雅候,班渣,怕拉,那卡
加持於金紙上1000遍,我都是加持1000遍, 地公就會幫你的工作順利,業績直上, 大錢
唸過最有效的招財咒是寶篋印陀羅尼 ,1天21遍,消災解業求懺悔財富自然就 來
為何念金剛薩埵百字明咒108遍加持於 錢,錢會一直來呢?
是鬼報答人嗎 ?
用金剛薩埵百字明咒必須要念過大悲 1萬遍才有用 !
我前天才知道,原來燒紙錢加持在紙錢 以增加人的壽命,之前都是用念的,鬼 當然會把我的身體當成他們認為的錢 ,所以會吸身體的氣
把咒加持於紙錢,燒紙錢可以增加財運 壽命,這一招很厲害
念金剛薩埵百字明咒108遍加持於紙錢, 錢可以買越多越好,這樣可一次通通 持108遍,當然遍數越多功效越大
金剛薩埵百字明咒是度亡咒,對財運的 助是很大的
切記度亡法門比黃財神的法門更有力
因為鬼需要的是功德力來超度,而就是 個原因,他也就是我認為的(冥亡財神 )
這一個法,可以家裡外面就可以做了,只 要一般燒金紙的金爐的爐子就可以了
你的工作是業務員,更適合,因為此法鬼 會幫你拉客戶
或許你念咒燒的數目就是你的年終獎 ,真的很神奇
燒紙錢污染空氣,那你開車不是污染空 ,
紙錢是大自然的樹做的,所以有正向能 不用擔心汙染空氣 因為這個念這咒,加持於紙錢,會把紙錢 的值增加,
基本上念經與燒紙錢的目地應該不是 了賺錢
若你是有神鬼論者,要這樣相信的話 是無所謂
但我到是覺得是為了使心靈平靜或是 安心的
若是硬要說燒紙錢跟念經能賺錢
還不如說因為心靈平靜使的工作效率 昇
神清氣爽使好運跟著來
達到錢一直來的感覺
這還比較實際
但是用金剛薩埵百字明咒必須要念過 悲咒1萬遍才有用
因為念過一萬遍的大悲咒,手心的氣門 會通,才有氣加持於紙錢上
註明大悲咒是基礎咒,例如大樓沒有基 是會倒的原理是一樣的
如果沒有念到大悲咒1萬遍就念金剛薩 百字明咒,加持在紙錢上就沒有力量, 是欺騙鬼的一種行為,鬼就會生氣,就 被處罰
心存善念,我們所作的事也會是善的,不 要把念經,念咒,
當作賄賂佛菩薩的工具.只要你祈願的 是善的,你就會和佛菩薩相應,燒紙錢 會污染空氣,破壞大自然.想要賺錢,就 要努力循正當的管道,不要貪,你就知足 ,就會認為你已賺大錢了,阿彌陀佛 。
東方陰公、女陰魂換財法
一般人聽到『東方陰公與女陰魂』都 害怕,其實此兩位乃為地府之財庫官 陽間人
們的財庫也都是由兩位財庫官管理, 是名稱上一般人之接受度有限罷了。
此法為將符令與庫銀由法師配合求財 之生辰八字地址等做法後,請土地公 陰神
為吾傳送到地府之東方陰公女陰魂財 官,使其陰財來換取陽財之財庫法,
求財 者得財後必須達謝亦必須多做功德。
請八路財神送到土地公====>請土地公送 到地府====>東方陰公女陰魂財庫官
====>使其陰財來換取陽財之財庫法。
求財 者得財後必須達謝亦必須多做功德。
壽生錢金元寶(金剛經108遍)====>庫錢銀 寶(地藏經108遍)====>陽間錢幣(心經108 )
蓮花元寶能轉運補財嗎
其實燒蓮花元寶,要來補運轉運的話 要有一定的儀軌的喔!不是說隨便燒 就真的會這樣啊!重點是折蓮花的人 他在折時的心態也會影響蓮花元寶幫 補運轉運的功效。你想想當神明拿取 朵你折的蓮花上面滿滿都是你不願的 心情而非你的厄運和善心,那你覺得 有用嗎?呵呵~~
如果你真真懶的折,那不如就去買補 金來燒也同具相同效果。
如果你真真懶得去神明那裡做,也可 在家中自己來。
今天就為了你,將補財轉運法的儀軌 出吧!讓有緣的師兄姊們都能轉運補
1.擇日:選擇每月農曆14~15日晚上的 晨10點到12點之間
2.祭品:五路財神金5盒,補運錢5支, 地水5支,金元寶10個,蓮花1個(用 神金或是補運錢所折的蓮花,金元寶 是用財神金折的。)三種水果(除石 榴、芭樂之外皆可),另外天公金及 金在廟中也有也要拿一份,以上的東 :五路財神金,補運錢,天地水,金 元寶,財寶蓮花都要在農曆初10晚上完 成準備好,供於壇城前,先如法皈依 悔業障後,請傳承諸佛菩薩慈悲敕化 持,念財神咒108遍,觀想財神放黃色 增益光加持。
3.於當天晚上,如法修持財神法,並將 以上的物品在修法加持完之後,請財 移駕至金紙爐的上方虛空,將這些補 的金元寶取去,化入補入弟子OOO的本 命元神財庫中,唵阿吽梭哈。
4.若能在修此法的這15日中,準備一個 神的項鍊(要先開好光),受此法的 加持,並且過過爐火清淨(沾沾財氣 ,然後配掛,每日念財神咒至少324遍 此法的感應效益將會大大的展現出來 。當然也不要忘了發善願力行佈施。
呵呵~~你參考參考。我之前辦過好 次啦!用過的師兄姊都說讚,很有感 !
Phương pháp lấy sạn thận mà không cần mổ
http://nutras.blogspot.com/2013/05/p...an-mat-va.html
http://media.bizwebmedia.net/sites/9...7/hong_hoa.jpg
Hồng hoa
Mã sản phẩm: 04
Giá bán (Đã có VAT)
650.000 ₫ / 1kg
Mô tả ngắn
Hồng hoa được dùng chữa bế kinh, đau kinh, ứ huyết sau khi đẻ, khí hư, viêm tử cung, viêm buồng trứng. Còn dùng chữa viêm phổi, viêm dạ dày.
Hồng hoa
Tên gọi khác của cây hông hoa
Cây hồng hoa cò gọi là cây rum – Tên khoa học Carthamus tinctorius L ,
Nơi trồng cây hồng hoa
Trước đây cây này được trồng nhiều ở Hà Giang hiện nay thì được chồng ở nhiều nơi. Ngoài ra được chồng ở nhiều nươc như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập, Nhật Bản.
Mô tả cây hồng hoa
Cây nhỏ, sống hàng năm, cao 0,6 - 1m hay hơn. Thân đứng, nhẵn, có vạch dọc, phân cành ở ngọn. Lá mọc so le, gần như không cuống, gốc tròn ôm lấy thân. Phiến hình bầu dục hay hình trứng dài 4-9cm, rộng 1-3cm, chóp nhọn sắc, mép có răng cưa nhọn không đều, mặt lá nhẵn, màu xanh lục sẫm, gân chính giữa lồi cao. Cụm hoa đầu ở ngọn thân; bao chung gồm nhiều vòng lá bắc có hình dạng và kích thước khác nhau, có gai ở mép hay ở chóp, hoa nhỏ, màu đỏ cam, đẹp, đính trên đế hoa dẹt. Quả bế, hình trứng, có 4 vạch lồi.
Mùa hoa tháng 5-7; quả tháng 7-9.
hồng hoa
hồng hoa
Bộ phận dùng của hồng hoa
Hoa - Flos carthami, thường gọi là Hồng hoa. Hạt và dầu hạt cũng được sử dụng.
cây hồng hoa tươi
cây hồng hoa tươi
Thành phần hóa học của hồng hoa
Trong hoa có sắc tố màu đỏ là carthamin (0,3-0,6%) không tan trong nước và một số sắc tố màu vàng tan trong nước. Còn có isocarthamin sẽ chuyển dần thành carthami, luteolin 7-glucosid và 3 - rhamnoglucosid của kaempferol. Hạt chứa 20-30% dầu, 12-15% protein. Dầu này giàu về các glycerid của các acid béo không trung hoà, có hàm lượng đến 90%.
Tính vị, tác dụng của hồng hoa
Hồng hoa có vị cay, tính ấm; có tác dụng phá ứ huyết, thông kinh, sinh huyết và hoạt huyết. Còn có tác dụng tẩy, làm toát mồ hôi, kích thích và làm dịu đau. Hạt có tác dụng xổ, lợi tiểu, làm long đờm và điều kinh.
Công dụng của hồng hoa
Chỉ định và phối hợp: Hồng hoa được dùng chữa bế kinh, đau kinh, ứ huyết sau khi đẻ, khí hư, viêm tử cung, viêm buồng trứng. Còn dùng chữa viêm phổi, viêm dạ dày, tổn thương do bị ngã hay bị đánh ứ huyết sưng đau. Liều dùng 3-8g hoa sắc uống hoặc ngâm rượu uống. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Ở Ấn Độ, Hồng hoa được dùng làm thuốc an thần và điều kinh; cũng dùng để chữa sởi, vàng da. Dầu hạt được dùng chữa thấp khớp và chữa các vết loét. Hạt dùng xổ và dùng trị thấp khớp.
Hồng hoa, từ thời Tuệ Tĩnh đã được dùng nhuộm tơ lụa cho có màu đỏ và dùng làm thuốc. Ngày nay, người ta cũng trồng Hồng hoa làm hàng rào, lấy hoa để nhuộm, làm thuốc và còn dùng hạt để lấy dầu. Dầu này sau khi tinh chế, dùng để ăn như dầu hướng dương, còn dùng để thắp sáng, nấu xà phòng, chế sơn, mỹ phẩm... Khô dầu Hồng hoa chứa 20-60% protein dùng làm thức ăn chăn nuôi. Hạt không bóc vỏ, ép dầu xong dùng làm phân bón.
Đơn thuốc có hồng hoa
1.Cây hồng hoa chữa sau khi đẻ máu xấu không ra, đau bụng, bị ngất mê man, phụ nữ kinh bế lâu ngày, huyết tích thành hòn:
Hồng hoa, Tô mộc (gỗ vang), Nghệ đen đều 8g, sắc rồi chế thêm một chén rượu vào uống (Lê Trần Đức).
2.Cây hồng hoa trục thai chết trong bụng ra:
Hồng hoa đun với rượu mà uống; hoặc dùng Hồng hoa, rễ Gấc, gỗ Vang, Cỏ nụ áo, vỏ cây Vông đồng, lá Đào, Cỏ xước, sắc rồi chế thêm đồng tiện vào mà uống (Tài nguyên cây thuốc Việt Nam)
3.Cây hồng hoa phòng và chống bệnh ban sởi:
Hạt Hồng hoa 3-5 hạt nhai nuốt, chiêu nước (Tài nguyên cây thuốc Việt Nam).
4.Cây hồng hoa chữa đơn sưng chạy chỗ này sang chỗ khác:
Mầm cây Hồng hoa giã vắt lấy nước cốt uống, bã thì đắp. (Lê Trần Đức)
5.Hồng hoa chữa kinh nguyệt không đều, kinh đau bụng, kinh nguyệt xấu, hư khí, viêm dạ con, viêm buồng trứng, có khi dùng uống cho ra thai chết trong bụng. Liều dùng trung bình mỗi ngày uống 4g đến 10g dưới dạng thuốc sắc.
Địa điêm bán hồng hoa ? Mua hồng hoa ở đâu
ĐC: 347 Trần Hưng Đạo P10, Q5, TP. HCM là địa chỉ đáng tin cây cung cấp hồng hoa
Caythuocthiennhien.com thu mua chế biến và bán hồng hoa khô. Sản phẩm của chúng tôi đã được qua kiểm đinh chất lượng. Chúng tôi là địa chỉ tin cậy của người tiêu dùng, là nơi phân phối hồng hoa khô uy tín chất lượng nhất. Hoàn trả lại sản phẩm và đền bù nếu như sản phẩm bị hư hỏng, va không đúng sản phẩm. Hãy liên hệ với chúng tôi theo sđt: 0961815518
2 thăng (2 lít) nước
pháp lệnh (dharma-sravana)
Luật tạng (zh. 律藏; sa., pi. vinaya-piṭaka)
vinaya: luật 律trong tiếng Sanskrit.
Giới luật, tiếng Phạn là Vinaya (Tỳ-ni), dịch là Luật, có nghĩa là pháp luật ...
Xin cho biết chu sa, hùng hoàng, khinh phấn, thiên hoa phấn và hồng táo là những vị thuốc gì và có thể tìm mua ở đâu?
Chu sa (còn gọi là châu sa, đơn sa, xích đơn, quang minh sa, thần sa), tên khoa học Cinnabaris, là một loại đá có màu đỏ trong, thành phần chủ yếu là sunfua thủy ngân thiên nhiên. Y học cổ truyền xem chu sa là một vị thuốc vị ngọt, tính hơi hàn và có độc, vào được kinh tâm, có tác dụng trấn tĩnh, an thần, minh mục và giải độc. Ðược dùng để chữa các chứng bệnh như tâm phiền bất an, mất ngủ, ngủ hay mê, kinh quý, điên cuồng, kinh giản, trẻ em hay khóc đêm, mụn nhọt, thũng độc, họng sưng, miệng lở... Tuy nhiên, vì trong thành phần có HgS nên tuyệt đối không được dùng trực tiếp hoặc gián tiếp với lửa bởi khi đó chất HgS sẽ kết hợp với O2 tạo thành SO2 và Hg rất độc. Các y thư cổ đều nói chu sa phải dùng sống tuyệt đối, không dùng lửa vì có thể gây chết người và cũng không được dùng lâu, dùng nhiều vì có thể làm cho người thành si ngốc.
Hùng hoàng (còn gọi là thạch hoàng, hùng tinh, hoàng kim thạch, hoàng thực thạch, hắc hoàng, thiên dương hoàng, kê quan thạch). Tên khoa học Realgar, là một loại khoáng vật dùng để làm thuốc có thành phần chủ yếu là asen sunfua (AsS), trong đó asen chiếm chừng 70,1%, sunfua 29,9%. Theo y thư cổ, hùng hoàng vị cay đắng, tính ấm, có độc, vào được hai kinh can và vị; Có công dụng giải độc, sát trùng, táo thấp và trừ đàm; Thường dùng để chữa các chứng ung nhọt, nha cam tẩu mã, hầu phong hầu tý, ghẻ, trùng tích, sốt rét, rắn độc cắn, tràng nhạc, trĩ viêm loét... Tuy nhiên, đây cũng là một vị thuốc có độc nên khi dùng cần hết sức thận trọng và phải được thầy thuốc chuyên khoa chỉ định.
Khinh phấn (còn gọi là hồng phấn, cam phấn, thủy ngân phấn), tên khoa học Calomelas, là một loại muối thủy ngân clorua (Hg2Cl2) được chế bằng phương pháp thăng hoa. Vị thuốc này được dùng cả trong Ðông và Tây y. Theo Ðông y, khinh phấn vị cay, tính lạnh, có độc, vào được 3 kinh can, thận và đại tràng; Có công dụng trừ đàm, trục thủy, thông tiện (dùng trong), công độc, sát trùng, chống ngứa, làm sạch vết thương (dùng ngoài); Thường được dùng để chữa các chứng kinh phong, đàm ủng suyễn nghịch, thủy thũng chướng mãn, đại tiểu tiện bất lợi, mụn nhọt, lở ngứa, trứng cá đỏ... Tây y coi khinh phấn là một vị thuốc trừ giun, lợi đại tiểu tiện và thông mật. Tuy nhiên cả Tây và Ðông y đều xếp khinh phấn vào loại thuốc nguy hiểm.
Thiên hoa phấn (còn gọi là qua lâu căn, qua lâu phấn, thiên qua phấn, hoa phấn), tên khoa học Radix Trichosanthis Kirilowii, là rễ phơi hay sấy khô của cây qua lâu. Theo y học cổ truyền, thiên hoa phấn vị ngọt hơi đắng, tính hơi hàn, vào được kinh phế và vị; Có công dụng thanh nhiệt sinh tân, nhuận phế hóa đàm, tiêu thũng bài mủ; Thường được dùng để chữa các chứng bệnh có sốt nóng, môi khô miệng khát, tiêu khát (tiểu đường), phế nhiệt táo khái, lở loét, thũng độc... Muốn có thiên hoa phấn, sau khi thu hoạch hạt qua lâu ít lâu (vào mùa thu hay mùa xuân), người ta đào rễ, rửa sạch đất cát, cạo bỏ vỏ ngoài, cắt thành từng đoạn ngắn, bổ dọc, phơi khô rồi xông diêm sinh để bảo quản.
Hồng táo là tên gọi khác của đại táo, có tên khoa học Ziziphus jujuba Mill. Trong y học cổ truyền đại táo là một trong những vị thuốc hết sức thông dụng, có vị ngọt, tính ấm, công dụng bổ trung ích khí, dưỡng huyết an thần. Nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy, đại táo có tác dụng cải thiện công năng miễn dịch, chống mệt mỏi, bảo vệ tế bào gan, hạ huyết áp, giảm ho, trừ đờm và chống ung thư.
Chu sa, hùng hoàng và khinh phấn có thể tìm mua ở các hiệu thuốc Ðông y lớn có giấy phép kinh doanh. Tuy nhiên vì chúng là những vị thuốc có độc cho nên khi dùng phải hết sức thận trọng, nhất thiết phải được các thầy thuốc chuyên khoa chỉ định và hướng dẫn cụ thể.
Nguồn: Thư viện điện tử
http://elib.dostquangtri.gov.vn/ntmn...=72&IDhoi=2973
SINH SẢN NUÔI DƯỠNG TRẺ
第二節 生育類符咒
生育類符咒,具體可分為求子、孕育 生產和養育四類。
一、求子符咒
使不育婦女在庚日或辰日面向正東站 ,口中念咒語三次:“天精地精,雨 成人;天氣下降,一物成形,各保安 寧。”然後由施術者判符,並將所判 符與香木一起火化後令該婦吞服。
之二:用朱砂二錢,猩紅二錢,雞血 錢,溶合後,在五色綢緞上判符。判 時念道:“天圓地方,律令九章,神 將感應,小孩吉昌。謹請:南斗六郎 北斗七星、太上老君,急急如律令。 然後用生鐵四兩,折柳木四兩,三家 (以有兒為條件)院內土一升,新筷 一根,小兒鞋一雙,裹肚一個,茅香 兩,安息香三錢,青石、白石各一塊 同埋於臥室門檻下。同時在該婦梳妝 用的鏡子上,畫一小兒頭符即可。
PHÙ CHÚ VỀ SINH SẢN NUÔI DƯỠNG TRẺ
Gồm có các loại phù:-
-Cầu có con.
-Nuôi dưỡng thai.
-Sinh con.
-Nuôi con.
1.- Phù chú cầu có con:-
*Bài 1:- Thầy cho người phụ nữ chậm có con nầy đứng day mặt về hướng Đông vào ngày Canh hoặc ngày Thìn . Thầy niệm ba lần câu chú sau:- “Thiên tinh địa tinh , vũ kết thành nhân ;thiên khí hạ giáng , nhất vật thành hình , các bảo an ninh”. Thầy họa một lá phù cầu tử, dùng gỗ thơm đốt lửa, đốt lá hù ấy cho người đàn bà uống. Trong vòng một tháng người ấy có thai.
*Bài 2:- Dùng Châu sa:- 2 chỉ, Tinh hồng :- 2 chỉ, Máu gà:- 2 chỉ; trộn đều ba thứ lại, dùng hỗn hợp ấy vẽ phù cầu tử trên mảnh vải ngũ sắc. Vừa vẽ vừa niệm chú :- “Thiên viên địa phương , luật lệnh cửu chương , Thần Tướng cảm ứng , tiểu hài cát xương . Cẩn thỉnh :Nam Đẩu Lục Lang 、Bắc Đẩu Thất Tinh 、Thái Thượng Lão Quân , cấp cấp như luật lệnh .”
Sau đó dùng thêm :- Sinh thiết ( 4 lạng), gỗ cây liễu (4 lạng), đất nền nhà ( 1 lít), đũa ăn cơm còn mới (1 đôi), một đôi giày trẻ con, một cái trống cơm nhỏ; một lạng mao hương, ba chỉ an tức hương, thanh thạch, bạch thạch trộn lại thành khối. Chôn tất cả những thứ trên dưới ngạch cửa phòng ngủ của vợ chồng. Trên tấm gương (kiếng) trang điểm của người vợ thường dùng, Thầy họa một hình đầu đứa trẻ làm phép. Ít lâu sau, người vợ sẽ có thai.
==============
PHONG TỤC DÂN GIAN TRUNG HOA--中 華 民 間 風 俗
( http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=2400.30 )
*Tinh Hồng :- 2 chỉ / 猩紅二錢
.Tinh Hồng ( 猩紅 )
.2 chỉ ( 二錢 )
七彩色紙
多用於農曆七月,一般用來拜七姐用 ,傳聞有人火化七色彩紙的時候看見 紙變成色彩鮮艷的布疋。除七姐旦外 ,盂籣節亦有人會化七色紙的,代表 布疋給陰人用。
=
https://s1.upanh123.com/2017/01/11/T...019741465e.jpg
名称: 祭祀 七色烧纸
规格:长20宽15CM左右 每包140张(标价为1包的价)
宝贝描述:本祭祀七色烧纸,由福建 达香庄在深圳总经销,质量保证,特 出售,请买家放心购买。
每包里有七种颜色
规矩
春节、清明、七月十五、十月初一,
最好是在这四个节日提前几天烧,
因为过节都是要提前采购的,
人间如此,
阴间也是一样,
烧纸不写具体的名子也是可以的,
写上“某门历代祖宗收”,
这样你家的祖先就可以收到,
至于他们的去向就不要问了,
升天的可以拿这些钱做善事,
给子孙积福,
还在鬼道的祖先自然可以用这些钱来 东西,
没钱花的鬼看到别人家子孙给送钱花 是很羡慕的,
烧纸时先拿三张给圈外的孤魂野鬼!
为什么要给祖先烧纸呢?
因为纸钱中国鬼道众生所用的货币,
需要让阳世间的人来烧才可以生效,
每个家族的祖先都是有在鬼道的,
所以后代给祖先烧纸天经地义,
阴间也有要饭的规,
这多半是生前无德,
后代没有祭祀的,
如果后代有这个能力而不去送钱,
祖先沦落到要饭的地步,
就属于子孙不孝,
也有祖先找子女要钱的,
一般都是会梦到的,
但是有些断灭论者梦到了也不会予以 睬,
这样的话祖先可能会无可奈何,
但是他们也是有办法的,
可以趴人身上,
被附的人就会很难受,
渐成病灶,
去医院也解决不了,
成为中西医治不了的病。
https://world.taobao.com/item/44224225398.htm
===========
五龍衣
五龍衣通常會跟五龍符是一起用的。
===============
https://s1.upanh123.com/2017/01/11/20kyba098d0.jpg
金元寶
在祈福抑是祭祀先人、陰神,都可以 來火化。
===========
https://s1.upanh123.com/2017/01/11/hl5168a.jpg
紅利(鴻利)
紅利是在年尾用的居多,在清潔神位 ,便會在神位前方貼幾張紅,利取其 圖厚利之意,紅利的大小尺碼有多款 ,神樓較大則用大些的,神樓細小則 小一些之尺碼。
不過,在搬新屋時要安新的神樓,亦 妨貼上紅利。
紅利無論天神也好,祖先也好,地主 好,大門也好,都是可以貼的。
==========
https://s1.upanh123.com/2017/01/11/5dbfb214.jpg
五疊寶
拜天官用,以招福招財之用。
=========
https://s1.upanh123.com/2017/01/11/fc00d37.jpg
福錢
錢寶一種
( http://www.loksifu.com/w_info_blog.asp?id=250 )
Vị thuốc nam trị đau nhức
Posted by: taolaadmin September 16, 2015 in Bài thuốc hay Leave a comment
inShare
massage-body-Yall-Spa-khuyen-mai-gia-re (6)
Thời tiết thay đổi khí hậu khắc nghiệt, mưa gió trong thời gian chuyển mùa cộng với chứng nhức mỏi toàn thân, đau nhức, nhất là vết bầm tím, ứ huyết, đau cơ, đau mình, nhức mỏi chân tay, ta có thể vận dụng những cây cỏ và động vật sống tự nhiên để trị bệnh dưới nhiều phương pháp rất hữu hiệu. Nếu kết hợp cả với liệu pháp xoa bóp bấm huyệt thì kết quả lại càng rất khả quan.
Bài thuốc Dùng trong
day-ba-muoi-87da5
Cây và vị thuốc thổ phục linh.
Bài thuốc nước:
Các vị Tang ký sinh, dây chiều, kê huyết đằng, đan sâm, xích thược, thục địa, thổ phục linh, thiên niên kiện, độc hoạt, khương hoạt, đỗ trọng, mỗi vị 12g; ngưu tất 10g; đảng sâm 20g; hoài sơn 16g; nhục quế 6g. Tất cả đem thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày sẽ đỡ hẳn.
Lấy rễ cây xấu hổ, thái thành lát mỏng, phơi thật khô, sao qua, tẩm rượu rồi sao vàng, 20-30g, sắc uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với rễ hoa cúc tần, rễ bưởi bung, mỗi vị 20g; rễ đinh lăng và cam thảo dây, mỗi vị 10g; cũng sắc uống.
chua-benh-xuong-khop-bang-cay-xau-ho
Hoa cây xấu hổ
Hoặc rễ xấu hổ 10g; thân lá cối xay, cây muống biển, cây lạc tiên, rễ cỏ xước, lá lốt, mỗi vị 3g. Tất cả phơi khô, hãm hoặc sắc uống, thường xuyên bệnh sẽ thuyên giảm dần.
Quả sau sau, hoa thông hoặc lõi cây thông (tùng tiết) mỗi vị 20g. Sắc uống.
Bài dùng thuốc rượu:
Ba loại thịt rắn:Hổ mang, cạp nong hay cạp nia và rắn ráo, lau khô bằng giấy bản (không rửa nước vì sẽ làm thịt có mùi tanh), chặt thành từng khúc, tẩm rượu gừng, nướng cho vàng thơm. Giã nhỏ, ngâm rượu theo tỷ lệ một phần thịt rắn với 3 phần rượu 40o trong 15-20 ngày, cất càng lâu càng tốt. Nếu cẩn thận còn chôn cả bình rượu rắn xuống đất để hàng năm mới dùng. Mỗi ngày uống 20ml sau bữa ăn chiều. Có thể ngâm thịt rắn với các vị thuốc có nguồn gốc thực vật như ngũ gia bì, hà thủ ô, kê huyết đằng, thiên niên kiện (tác dụng bổ, mạnh gân xương), hồi hoặc quế (làm thơm và thêm nóng). Có khi còn ngâm 3 loại rắn với hải sâm để tăng cường sinh lực như “rượu tam xà – hải sâm” của Viện công nghệ sinh học thuộc Trung tâm khoa học kỹ thuật công nghệ quốc gia.
Để tăng phần hấp dẫn, thường để nguyên cả 3 con rắn (đã bỏ nọc độc) ngâm rượu trong thời gian dài để uống. Rượu ngũ xà (hổ mang, cạp nong, hổ trâu, rắn ráo và rắn sọc dưa) ngâm với chim bìm bịp cũng có tác dụng như rượu tam xà.
tải xuống
Có thể dùng tắc kè 24g, ngâm với vỏ quýt 3g, đại hồi 1g, trong rượu 35o để được 300ml. Các dược liệu khác: Đảng sâm 40g, huyết giác 3g cũng ngâm với rượu 35o trong 10-15 ngày được 700ml. Hòa lẫn hai rượu với nhau, thêm 60g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít. Lọc kỹ. Ngày uống hai lần, mỗi lần 15-20ml sau bữa ăn và trước khi đi ngủ,30 phút.
Bài thuốc dùng ngoài
Thuốc xoa bóp dạng tinh dầu: Tinh dầu thu được bằng cất kéo hơi nước của các cây tràm, bạch đàn, khuynh diệp (từ lá), thiên niên kiện (thân rễ), dầu nóng (vỏ thân), chổi xuể (cả cây) được dùng nguyên chất hoặc pha loãng trong cồn với tỷ lệ 10-20%. Các tinh dầu lại có thể phối hợp với nhau thành một hỗn hợp gọi là cao xoa nước như: Dầu chổi gồm tinh dầu chổi 70ml, tinh dầu tràm 20ml, dầu lạc 10ml; dầu Cửu Long gồm tinh dầu hương nhu 25ml, tinh dầu bạc hà 235ml, tinh dầu khuynh diệp hay tràm 90ml, dầu lạc 650ml.
xoa-bop
Khi dùng, lấy tăm bông hay miếng gạc tẩm thuốc, xoa đều lên chỗ đau nhức rồi nắn bóp. Ngày làm 2-3 lần, thường xuyên thì rất tốt.
Rượu thuốc hoặc cồn thuốc:
Có 2 loại: Rượu thuốc đơn có một loại dược liệu và rượu, thuốc kép có nhiều dược liệu hơn. Dung môi để pha chế rượu thuốc hoặc cồn thuốc là cồn ethylic với độ cồn thường là 70-90o tùy theo từng loại dược liệu. Thời gian ngâm là 7-10 ngày, lâu hơn càng tốt.
Có thể chế rượu thuốc đơn với các dược liệu như rễ ô đầu, con rết, mật gấu chó (tỷ lệ 10%), vỏ cây dầu nóng, lá thông tươi, rễ kim sương, thân rễ sa nhân (20%).
Rượu thuốc kép lại được bào chế theo công thức sau:
Huyết giác 40g, địa liền 20g, thiên niên kiện 20g, bột long não 15g, đại hồi 12g, quế chi 12g, cồn 70o vừa đủ 1.000ml.
Hoa thanh hao 60g, địa liền 20g, bột long não 10g, cồn vừa đủ 1.000ml. Phương pháp dùng như dạng tinh dầu.
3
Dạng cao dán: Nhựa sau sau, nhựa cây thông, mỗi thứ 40g; sáp ong, dầu vừng, mỗi thứ 10g. Cả 2 đun chảy và đánh đều, để nguội, phết lên giấy, rồi đắp vào chỗ đau.
Hoặc củ ráy dại, củ nghệ già, hạt gấc (bỏ vỏ cứng), gai bồ kết, mỗi thứ 100g; quả bồ kết 200g; tùng hương 100g; hồng đơn 50g; dầu vừng 500g. Củ ráy, nghệ, hạt gấc thái mỏng, ngâm vào dầu 5 ngày rồi rán cho dược liệu cháy xém, lọc bỏ bã, lọc qua vải; sau đó tiếp tục đun đến bao giờ dầu sánh đặc. Cho tùng hương vào dầu, quấy cho tan đều. Cuối cùng, hòa bột gai bồ kết, quả bồ kết sao tồn tính và bột hồng đơn đã rang khô vào, đảo thật nhuyễn. Lúc cao còn đang nóng, phết lên giấy hay vải mỗi miếng độ 5g. Khi dùng, dán cao vào chỗ đau nhức, cứ kiên trì như vậy dần dần sẽ đỡ nhức mỏi và có thể khỏi hẳn.
Bải viết liên quan Vị thuốc nam trị đau nhức
http://vuonduocthao.vn/tin-tuc/bai-t...m-tri-dau-nhuc
TRẠNG NGUYÊN KIM
狀 元 金
(Trạng Nguyên Kim)
A.-
典故:
相傳明朝時,在四川省梓潼這個 鎮落上,出了一位文人,名叫王龍光 字天寵,王家世代務農,但王龍光上 進心強,務農之餘仍寒窗苦讀,一心 進仕途,改善家境。好不容易家裏湊 一點錢,王龍光滿懷希望進鄉參加鄉 試,可是他居然連科考的第一關都無 考上,倍感失望及懷著一顆愧咎的心 到家中,其妻張氏倍感訝異之餘仍不 忘鼓勵他再接再勵;張氏心中暗想, 非是考運不濟,不然怎麼連個秀才都 不上呢?於是,她跑到文昌帝君廟, 虔誠地祈求帝君,由於夫君此次參加 舉考試,幾乎快散盡家中財產,張氏 法拿出任何祭奉的祭品,於是她想了 一個辦法,將文昌帝君畫在一張張的 紙上,很誠心的把這些畫像一張張燒 帝君,一心祈求帝君賜與她的夫君擁 有好的考運,望能金榜題名,張氏持 不懈地畫著.
(Mão Trạng Nguyên)
TRẠNG NGUYÊN KIM
A.- Truyền thuyết và điển cố :-
Tương truyền ở triều nhà Minh (TQ), tại tỉnh Tứ Xuyên, có một thị trấn nhỏ tên là Tử Đồng. Nơi đây, có một văn nhân tên Vương Long Quang, tự Thiên Sủng.
Họ Vương từ nhiều đời, chuyên về nghề nông. Đến đời Long Quang, cũng theo nghiệp cũ. Nhưng vừa làm ruộng, ông ta lại phát tâm cầu học mạnh mẽ, bất cứ lúc nào rỗi rảnh, đều chăm chỉ đọc sách, mong mỏi sau nầy đổ đạt thành danh, cải thiện cuộc sống gia đình cho đở khổ sở vất vả.
Đến kỳ thi Hương, họ Vương cũng rán thu xếp việc nhà để tham dự, hy vọng sẽ đạt được kết quả không khó, vì tài học của chàng từng được nhiều người nể phục. Nhưng quái ác làm sao, liên tiếp hai khoa mà chàng Vương vẫn không thể nào vượt qua khỏi cửa ải đầu tiên nầy được. Trước sự thất bại ê chề ấy, chàng Vương quá đổi hỗ thẹn, không dám trở về nhà ban ngày, sợ mọi người trông thấy cười chê.
May mắn sao, vợ họ Vương là Trương Thị, rất cảm thông tình cảnh của chồng, vì biết rằng tài học của chàng nếu không nói là xuất sắc, thì cũng đâu đến nổi quá tệ, không đậu nổi kỳ thi sơ đẳng nầy . Vậy thì tại sao chàng không thi đậu ?
Sau nhiều ngày đêm trằn trọc thao thức, Trương Thị nghĩ ra một cách là “đến miếu thờ Văn Xương Đế Quân để cầu khẩn”. Nàng liền tức tốc đến miếu, nhưng vì nhà quá nghèo, không thể mua sắm được lễ phẩm để dâng cúng. Trong cảnh khốn cùng ấy, phước chí tâm linh (phước đến thì tâm nãy sinh ra) , nàng bèn lấy những tờ giấy vàng, thành tâm chú ý vẽ những bức hình của Văn Xương Đế Quân, rồi mang đến miếu, vừa khấn nguyện vừa đốt từng tờ, từng tờ một cách chậm rãi, cầu mong cho chồng mình được “bảng hổ đề danh”, nở mày nở mặt với thiên hạ.
Suốt ba năm liền , hễ lúc nào rảnh, Trương Thị đều làm công việc họa hình tượng Văn Xương Đế Quân và đốt lên để cầu nguyện van vái cho chồng thi đậu.
(Trạng Nguyên Kim)
三年後,王家變賣了所有家當,湊足 一筆盤纏讓王龍光進鄉考試,王龍光 裏清楚全家人的希望,都寄託在他身 上,只許成功,不可失敗,而張氏更 不敢怠慢,一張張畫著文昌帝君,祈 文昌帝君保佑王龍光金榜題名,王龍 光在這趙的科舉之途,倍感順利,好 冥冥之中有神的幫助。
正所謂心誠則靈,黃天不負苦心人, 龍光在這次的考試,得到黃帝的賞識 一舉高中狀元。當他衣錦還鄉,看到 妻子虔誠的畫著文昌帝君的畫像,細 之下才知道,在他趕考的這段時間, 氏便是如此虔誠的祈求文昌帝君,難 怪他總覺得冥冥之中得有神助,順順 利一路考到殿試,高中狀元,於是, 龍光為了答謝文昌帝君,便請張氏畫 更多的金紙,燒給文昌帝君,以示感 。
爾後,這件事傳開來,各方文人只要 進京趕考,求取功名,都會仿照,求 昌帝君賜與智慧及考運。漸漸的,人 們就將這種畫有文昌帝君的金紙稱作 元金。
狀元金其靈驗神威被後人所肯定,而 傳至今,幫助多少眾人心想事成,步 高昇。
(Bút Văn Xương)
Rồi đến kỳ thi năm đó, nàng cố gắng thu xếp gia đình, tìm đủ cách xoay xở tiền bạc gạo thóc , lương thực để động viên cho chồng đi thi.
Vương Long Quan lúc đầu cũng ngần ngại, nhưng được sự cổ vũ hết sức nhiệt tình của vợ, chàng hăng hái lên đường ứng thí, với quyết tâm cao nhất là phải đạt kết quả cao nhất !
Lần nầy, lúc làm bài thi, chàng Vương linh cảm như là có một “lực lượng siêu hình” nào đó đang phò trợ mình. Chàng hết sức bình tỉnh, thư thái, sáng suốt làm bài một cách nhanh chóng.
Thật quả là may mắn làm sao ! Chàng Vương liên tiếp vượt qua hai kỳ thi Hương, thi Hội một cách dễ dàng. Chàng mừng quá, vội vàng nhắn tin về cho gia đình, một mặt gia đình gởi tiếp tế lương thực, tiền bạc để chàng đi thi tiếp khoa thì Đình.
Trương Thị được tin vui, vô cùng mừng rỡ. Một mặt lo vật chất gởi đến cho chồng, một mặt nàng đem hết sức tập trung vào việc họ hình tượng Văn Xương Đế Quân để tiếp tục cúng bài Ngài nhiều hơn.
Trời cao không phụ người có chí. Khoa thi đó, họ Vương được đích thân Hoàng Đế khảo thí và chấm đậu Trạng Nguyên. Sau đó, cho Vương được “vinh qui bái tổ” theo đúng nghi thức long trọng xưa nay.
Được mặc “áo gấm về làng” , quan chức địa phương sở tại nghênh đón, chàng Vương vui mừng gặp lại gia đình trong lúc Trương Thị vẫn còn đang thực hành việc “họa tượng cúng bái”. Hỏi ra mới biết cớ sự, vì lâu nay Trương Thị chỉ âm thầm làm công việc ấy mà không dám nói cho ai biết, kể cả chồng. Vương Long Quang vô cùng cảm động trước nghĩa tình của người vợ thân yêu, chàng phụ giúp nàng họa thêm rất nhiều hình tượng Đế Quân và tổ chức đến Miếu Thờ cúng tạ với đầy đủ lòng thành và phẩm vật trọng thể.
Câu chuyện nầy nhanh chóng lan truyền ra khắp nơi, mọi người vừa xúc động về người vợ thương chồng, vừa tin tưởng mạnh mẽ vào sự hiển linh phò trợ của Ngài Văn Xương Đế Quân.
Về sau, người ta chế tạo sẵn một loại giấy vàng bạc, trên có in hình tượng Ngài Văn Xương Đế Quân, gọi là “Trạng Nguyên Kim” , để cho mọi người có nhu cầu mua về mà đốt cúng bái cho tiện.
考試制度從古代就慢慢傳承下來, 方人士莫不以此做為求取功名的捷徑 直到現代化的今天,依然脫離不了“ 考試”這個制度,不論是學生時代的 考,公務人員的高普考,在再都脫離 了這個制度,人說考試是七分實力, 三分靠運氣,運氣著實佔有很大的比 ,而本公司設計的這份狀元金只是將 時候失傳已久的風俗再度發揚出來, 此狀元金一盒裏有六份,分別代表文 宮的六位星將(一)上將,建立威武;( )次將,匡正左右;(三)貴相,調理文 緒;(四)司祿,獎賞功進;(五)司命, 防災咎;(六)司中,主佐理。本狀元 不單單恭請文昌帝君為您啟發智能, 以達到考試順利,而是恭請文昌宮內 六位星君齊來幫助您的智慧及運氣達 最高境界。
(Đồ dùng trang bị cho học sinh để được hảo vận học hành tốt)
Trong xã hội từ xưa đến nay, việc thi cử gần như là một việc tối hệ trọng của con người. Học sinh thì phải thi liên tục nhiều kỳ, từ nhỏ đến lớn, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, trong nước ra ngoài nước v.v… Nhân viên, cán bộ cũng phải tham dự nhiều kỳ thi đủ loại, đủ kiểu vẻ. Từ trẻ đến già, thế hệ nầy qua thế hệ khác, việc thi cử cứ liên tục, liên tục không bao giờ gián đoạn.
Nhưng có một điều hết sức quan trọng là, đúng như người xưa đã từng nói :- “Học tài thi phận”.
Câu nói nầy kinh qua thực tế của bản thân mọi người, ai cũng phải công khai hoặc ngấm ngầm công nhận là “vô cùng giá trị”.
Có người còn dám lớn tiếng nói, đi thi thì mình chỉ thực hiện có bảy phần thực lực, ba phần còn lại, hoàn toàn nhờ vào “ơn trên định đoạt”.
Mới nghe ý nầy, có lẽ nhiều người phản đối, nhưng cứ tự mình thật thà ngồi nhớ lại những kỳ thi mà mình đã tham dự từ trước đến nay thử xem, có ai dám khẳng định, cả quyết là “hoàn toàn do mình định đoạt kết quả” không ?
Loại Trạng Nguyên Kim do công ty chúng tôi sản xuất, là theo phong tục đã thất truyền từ lâu, nay mới tìm lại được, công bố ra để làm lợi cho đa số nhân sinh sĩ tử.
(Những kiểu Tháp Văn Xương)
Một hộp “Trạng Nguyên Kim” theo đúng phong tục xưa, là phải có “sáu phần” mới đủ để dâng cúng sáu vị Tinh Quân theo phù hộ là:-
1.- Thượng Tướng :- giúp mình bình tỉnh, tự tin.
2.- Thứ Tướng :- hỗ trợ hai bên .
3.- Quí Tướng:- mở mang chữ nghĩa, đầu óc sáng suốt.
4.- Tư Lộc:- khuyến khích, động viên mình hăng hái tiến lên.
5.- Tư Mệnh:- giúp mình tránh được tai nạn, rũi ro.
6.- Tư Trung:- phù hộ cảnh thuận bên ngoài cho mình.
Như vậy, phải hiểu cho rõ là, cầu nguyện trong việc học hành thi cử, không phải chỉ cầu một mình Ngài Văn Xương là đủ, mà còn phải cầu thêm sáu vị Tinh Quân vừa kể mới đủ tác dụng tốt, giúp mình bình tỉnh, sáng suốt, thuận lợi may mắn trong khi thi cử, đạt được kết quả tốt đẹp.
(Những kiểu Tháp Văn Xương)
從以前到現今都有考試制度,讓 下的莘莘學子頭痛不已,但除了自助 天助之外,是否可借用其他力量呢? 當然有,那就是倚靠神助,來達到目 ,也許找對方法就不一樣了。
但若近期有升遷機會之人或選舉之候 人也可拜文昌帝君,祈求能升遷上去 選舉之人能高中,也就是七分靠自己 之外,三分也要靠神明的力量。
所以敬拜文昌帝君時,一般會選 狀元金紙,以祈求開啟智慧,高中狀 ,升官發財,並準備芹菜(勤學)、 蔥(聰明)、蒜(算數)、菜頭(好 頭)、粽子(高中)、包子(包中) 供品來祭拜,表達願望及心意。
(Trạng Nguyên Kim)
Từ xưa đến nay, biết bao sĩ tử đã trải qua những kỳ thi rất đau đầu. Lúc đi thi, người nào cũng cố gắng phấn đấu bản thân, gọi là “tự trợ”, kế nữa là cầu xin trời giúp đỡ (thiên trợ). Như vậy, còn có ai, cái gì “trợ” nữa không ? Xin thưa. Là có “thần trợ”. Về khoản nầy, có rất nhiều cách khác nhau. Trong đó, pháp môn cầu xin Ngài Văn Xương Đế Quân là đáng tin cậy nhất. Có rất nhiều học trò đi thi, rất nhiều người trải qua những cuộc tuyển cử …ai thành tâm cầu nguyện van vái đều được Đức Đế Quân gia hộ phù trì cả.
Do đó, câu nói rằng “bảy phần kết quả là do bản thân mình phấn đấu, ba phần còn lại phải cậy dựa thần minh” không phải hoàn toàn hàm hồ vô lý đâu ! Ai đã trải qua thực tế đều phải công nhận là đúng !
(Tháp Văn Xương khai quang)
Khi cúng bái Ngài Văn Xương Đế Quân, tất cả đều chọn dùng Trạng Nguyên Kim để đốt cúng bái là hiệu quả tốt nhất.
Tác dụng của Trạng Nguyên Kim gồm có :-
-cầu cho học giỏi, thông minh, sáng suốt
-cầu cho thi đậu cao.
-cầu cho thăng quan phát tài.
(Rau cần)
(Hành lá)
(Tỏi)
(Thái đầu = củ cải trắng)
(Bánh tông = bánh ú)
Click this bar to view the full image.
(Bánh bao)
*Muốn đạt được kết quả, cần phải trang bị thêm những phẩm vật sau đây để cúng kiếng:-
-rau cần ( để được siêng năng)
-hành lá, củ hành (thông) ( để được thông minh)
-củ tỏi (toán) (để tính toán nhanh lẹ)
- thái đầu (củ cải trắng) (để được may mắn)
-bánh tông (bánh ú) (để được đậu cao)
-bánh bao ( để được vào khuôn khổ)
Những thức nầy cũng biểu lộ sự mong cầu và đức tính tốt của người học.
(Văn Xương Đế Quân)
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=2902.45
https://s1.upanh123.com/2017/01/11/M...3_big312ed.jpg
(Kim ngân chỉ :- Giấy vàng bạc)
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=2902.60
NGŨ LỘ GIA VẬN KIM
五 路 家 運 金
(Ngũ lộ gia vận kim)
A.-
典故:
民間傳說在元朝,有一對張姓貧 夫婦,育有四個兒子。大兒子叫金山 老二叫清木,老三叫水源,老四叫火 炎一家六口十餘年來都過著貧窮潦倒 生活。
(Phật Di Lặc)
有一天家門口出了一位老和尚身 袈裟要來化緣。此時張家,家無分文 好請和尚老師父進來屋中喝水解渴, 一片誠心感動了老師父,此時慈悲的 師父便替張姓夫婦指點一條迷津,告 張姓夫婦家中只要再添一丁,則五行 相生時,家運必可興旺,人旺、財旺 延子孫,當老師父交代完畢之後,就 為一道光芒而消失離去張姓夫婦馬上 跪地拜謝,必想必定是神仙指點,事 一年果然張姓夫婦又再添了一丁,當 子哇哇墜地之後,此時老和尚又再度 出現,滿臉微笑向張姓夫婦忙著跪地 謝感激不已,老師父便娃娃命名為土 ,老師父告訴張姓夫婦如今您張家已 擁有金、木、水、火、土等五行貴子 十二天後,五行相生,必可大富大貴 隨手拿了一束〈五路家運金〉送給張 姓夫婦,叫張姓夫婦拿到門口見天的 方燒香對天呼請補運公前來為弟子( 女)彌補家運,香過一半便可燒化( 五路家運金)張姓夫婦不敢怠慢,馬 就完成老師父的交代,一進到屋內時 一看老師父不知何時早已離去了,只 有在桌上留了一張(五路家運金)附 一張便條要張姓夫婦今後發揚(五路 運金)普渡眾生,補運公留筆,夫婦 看完便條恍然大悟雙雙跪地拜謝,原 老師父就是補運公。轉眼過了十二天 長子金山在山上工作時,無意中當鋤 頭落地處,忽然間發現黃土三寸下方 處皆是閃閃發光的金沙,因此,張家 了此金礦山之後,一家團結合作開採 金礦,數月後,便是家財萬貫,富甲 方。
Click this bar to view the full image.
(Bổ Vận Công = Thần bồi bổ vận tốt)
(Ngũ tử hưng dương)
A.- Truyền thuyết và điển cố :-
Truyền thuyết dân gian kể rằng, vào thời nhà Nguyên, có vợ chồng họ Trương nọ rất nghèo khổ, sinh ra bốn đứa con trai. Đứa thứ nhất tên Kim Sơn, thứ hai tên Thanh Mộc, thứ ba tên Thủy Nguyên, thứ tư tên Hỏa Viêm. Một nhà sáu miệng ăn nên cảnh nhà suốt hàng chục năm qua luôn nghèo đói, túng thiếu.
Một hôm nọ, vừa mở cửa ra thì thấy có một Lão Hòa Thượng, y áo chỉnh tề đứng trước cửa để “hóa duyên” (khất thực). Nhà họ Trương vốn rất nghèo, một xu cũng không có, nhưng lòng thành tin tưởng Phật pháp thì lớn, họ Trương thành khẩn mời vị sư vào nhà, đem nước lã ra mời Ngài giải khát.
Lão Sư cũng hoan hỉ vào nhà, uống nước xong, mới đem những điều đạo lý ra giảng giải cho vợ chồng nghe, nhất là công đức của việc tu tạo phước điền. Nhân hỏi thăm gia cảnh, biết nhà đã có bốn con trai và tên tuổi, nhà sư vui vẻ chỉ dạy là nên sinh thêm một đứa con trai nữa thì mới đủ “ngũ hành”. Nhờ vào ngũ hành tương sinh mà gia vận mới hưng thịnh, vượng người vượng tài, thoát khỏi cảnh bần hàn cơ cực, phúc lộc sẽ truyền lâu dài xuống đến con cháu về sau.
Vợ chồng họ Trương rất mừng nhưng lại lo lắng, chỉ bốn đứa mà còn đói lên đói xuống, nay sinh thêm biết có nuôi nổi chăng ? Nhưng nhà sư đạo mạo đáng kính đã dạy, chẳng lẽ là điều nói chơi sao ? Hai vợ chồng đang còn bán tín bán nghi, nhà sư cáo từ, vừa bước ra sân bổng hóa thành một đạo hào quang bay mất. Vợ chồng vừa mừng vừa sợ, vội vả quì xuống đất nhắm thinh không mà lạy lia lịa, biết đây là vị Thần Tiên đến chỉ điểm cho.
Click this bar to view the full image.
(Ngũ tử tiếp phước)
(còn tiếp)
Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
langduthegioitaba, anhlam, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 03, 2009, 06:00:37 am gửi bởi nhuocthuy » Logged
君 子 之 交 淡 若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY
--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心
Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline
Bài viết: 7361
Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57226
Xem hồ sơ cá nhân
Re: PHONG TỤC DÂN GIAN TRUNG HOA--中 華 民 間 風 俗—Phần 5
« Trả lời #79 vào lúc: Tháng Chín 03, 2009, 06:04:31 am »
(tiếp theo)
(Ngũ tử)
Năm sau, quả nhiên vợ họ Trương hạ sinh thêm đứa con trai. Ngay lúc vừa sinh xong, Lão Hòa Thượng lại xuất hiện. Vợ chồng họ Trương quá đỗi vui mừng, quì bái tạ không ngớt. Sư phụ bảo đặt tên cho đứa nhỏ là “Thổ Sinh”. Ngài giảng giải rằng, như vậy là có năm đứa con trai, đầy đủ ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, đáng gọi là “năm quí tử”. Chỉ cần mười hai ngày sau, ngũ hành tương sinh đầy đủ, gia vận nhất định sẽ chuyển biến tốt. Sau đó, Ngài lấy ra một tờ “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” trao tặng cho vợ chồng họ Trương , dạy cách sử dụng, rồi biến mất.
Vợ chồng họ Trương mừng rỡ, chẳng dám chậm trễ, lật đật thi hành. Hai người thắp hương, ra trước sân thành tâm quì xuống khấn nguyện tên họ, tuổi, chỗ ở …, cầu xin Ngài “Bổ Vận Công” gia ân ban phước, cải đổi vận số cho gia đình. Nhang cháy được hơn phân nữa, đem tờ giấy “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” ra đốt theo lời thầy dặn, vợ chồng tha thiết cầu nguyện và lạy tạ rất lâu.
Khi ấy bổng nhiên từ trên không bay xuống một tờ Ngũ Lộ Gia Vận Kim và tờ giấy đại ý cho biết rằng, chính là Ngài Bổ Vận Công xót thương vợ chồng hiền lành mà nghèo túng, mới thị hiện thành nhà sư để dạy bảo cách thức làm “thay đổi vận hạn”, chuyển xấu thành tốt bằng cách đốt Ngũ Lộ Gia Vận Kim và cầu nguyện. Vợ chồng họ Trương thấy việc phi phàm lạ lùng nên hết sức mừng rỡ, lễ bái lạy tạ mãi không thôi.
(Ngũ lộ gia vận kim)
(Bia ghi tích truyện)
Chẳng mấy chốc đã qua mười hai ngày, đứa con trai lớn của họ là Kim Sơn, nhân khi lên núi đào củ khoai rừng về nấu ăn thay cơm, bổng phát hiện dưới cái hố đào khoai ấy có rất nhiều “kim sa” (cát vàng) óng ánh. Nó thấy lạ, bèn hốt hết đem về nhà khoe với cha mẹ. Vợ chồng họ Trương mừng rỡ, đem số cát vàng ấy ra thị trấn bán , được rất nhiều tiền.
Sau đó, cả gia đình từ từ ra công khai thác chỗ “quặng vàng” ấy, chẳng bao lâu có được tiền bạc dồi dào, trở nên phú hộ giàu có hơn người. Hai vợ chồng không quên bố thí, giúp đỡ cho nhiều người đói khổ trong vùng.
(Ngũ lộ chiêu tài kim)
此傳說被傳開之後,村民個個都 著懷疑的心去求助張姓夫妻索取(五 家運金)請補運公幫忙,沒想到竟然 個個都有所感應而應驗萬分,倍受好 而流傳至今,用於初一、十五或初二 十六,拜拜時燒化(五路家運金)補 家中不足財運及家運,所以世人稱此 紙叫(五路家運金)。
家運的不順,家庭就不和睦,會間接 響財運、事業工作運,那要怎麼辦? 許可借著神明的力量來化解來達到目 的,也就是天時、地利也要人和。這 運若到,自然而然,運就順利,工作 順利,賺大錢。
(Phù chiêu tài)
(Bổ Vận Công hộ ngũ tử)
Câu chuyện kỳ thú ấy chẳng mấy chốc đã được đồn đại ra ngoài. Mọi người đổ xô đến hỏi thăm. Sau khi biết chuyện, họ xin vợ chồng họ Trương cho mượn tờ giấy “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” để xem, rồi mướn thợ vẽ bắt chước vẽ theo mẫu để mang về nhà áp dụng cúng tế lễ bái Bổ Vận Công. Quả nhiên, ai thực hành theo đều có kết quả tốt, thay đổi vận hạn, chuyển hung hóa cát, tài lộc dồi dào.
Nhưng cũng theo sự dặn dò của nhà sư, chỉ đốt giấy và cầu nguyện vào những ngày mùng một và rằm, hay mùng hai mười sáu âm lịch thì mới linh nghiệm, mang lại kết quả bồi bổ gia vận và tài vận cho gia đình.
Từ đó, Ngũ Lộ Gia Vận Kim được truyền bá rộng rãi cho đến nay.
Gia vận mà không thuận, sinh ra trong nhà thiếu sự hòa thuận đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến tài vận và sự nghiệp là lẽ đương nhiên rồi. Tình huống ấy chỉ có thể dùng sức mạnh của thần linh hỗ trợ mới hóa giải xấu thành tốt mà thôi. Đó chính là yếu tố quan trọng thứ ba trong “Tam Tài” :- thiên thời, địa lợi, nhân hòa vậy.
Tục ngữ có câu :- “Hòa khí sinh tài” thật vô cùng hay ho. Hòa khí mang lại tiền bạc, no ấm, hạnh phúc cho mỗi mỗi gia đình. Thực tế chứng minh rõ ràng điều ấy.
(Mèo chiêu tài)
(Cúng phẩm)
C.-
在寺廟的燒法:
1上鮮花素果供品。
2點香拜拜呼請廟裡眾神明,弟子(信 )○○○,住在○○○,今日借您這 個地方補全家家運希望您幫忙轉達給 運公知道。
3香過半,燒金。(先燒廟裡主神金紙 再燒五路家運金)
4收供品,祭拜完成。
C.- Phương pháp sử dụng :-
Click this bar to view the full image.
C1.- Đốt giấy ở chùa miếu:-
*Trình tự cúng đốt “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” :-
1.-Sắp bày phẩm vật cúng lên bàn .
2.-Thắp hương , xá ba xá, đưa nhang lên trán khấn :-
“Đệ tử tên họ…….., ……tuổi, hiện ở …………..
Nay con xin phát tâm đốt “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” nầy để cầu xin Bổ Vận Công phù hộ cho gia đình con được cải đổi vận hạn, chuyển hung thành cát, tài vận dồi dào, công việc tiến triển khả quan ….
Kính xin Bổ Vận Công chứng minh lòng thành, hộ trì cho con được như sở nguyện.
Con sẽ nhớ ơn và nhất định đốt cúng “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” lần nữa để đền ơn Ngài”.
3.-cắm nhang vào lư hương, lạy ba lạy.
4.-khi nhang cháy đến hai phần ba, đốt giấy của vị Thánh Thần thờ ở Miếu đó trước, rồi mới đốt giấy “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” .
5.-thu thập cúng phẩm.
6.-lễ thành.
(Ngũ hành sinh khắc)
在家的燒法:
1上鮮花素果供品。
2點香拜拜,呼請五路補運公,弟子( 女)○○○,住在○○○,今日獻一 份五路家運金,補全家家運,希望您 佑我全家大小,平平安安,工作順利 大錢。
3香過半,燒金。
4燒化後淋一杯清水。
5收供品,祭拜完成。
(Linh vật chiêu tài)
C2.- Đốt giấy ở nhà :-
*Trình tự cúng đốt “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” :-
1.-Sắp bày phẩm vật cúng lên bàn .
2.-Thắp hương , xá ba xá, đưa nhang lên trán khấn :-
“Đệ tử tên họ…….., ……tuổi, hiện ở …………..
Nay con xin phát tâm đốt “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” nầy để cầu xin Bổ Vận Công phù hộ cho mọi người trong gia đình con được bình an mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi, vận hạn hanh thông, công việc tiến triển tốt đẹp, tiền bạc được thuận lợi lâu dài …
Kính xin Bổ Vận Công chứng minh lòng thành, hộ trì cho con được như sở nguyện.
Con sẽ nhớ ơn và nhất định đốt cúng “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” lần nữa để đền ơn Ngài”.
3.-cắm nhang vào lư hương, lạy ba lạy.
4.-khi nhang cháy đến hai phần ba, đốt giấy “Ngũ Lộ Gia Vận Kim” .
5.-đốt xong, dùng ly nước sạch tưới lên tro cho khỏi bay.
6.-thu thập cúng phẩm.
7.-lễ thành.
THẤT ĐÓA TỊNH THÂN THẢO
七 朵 靜 身 草
(Bảy thứ cây cỏ tịnh thân)
典故:
中國早在夏、商、周三代就有惡月、 日說,且以夏季為最,因炎夏暑熱, 蟲滋長,瘴氣叢生,疫病易犯,加上 食物青黃不接,農作極度繁忙,這些 給夏季罩上陰鬱的影子。緣此,相應 除災去邪的活動也必然產生,其中以 藥草煎湯沐浴的方式廣為流行,而沐 的藥草種類頗多,不同藥草的組合都 具不同的用途。根據民間的傳說,戰 國時代,以養士聞名的孟嘗君田文生 五月五日,當時百姓視五月及五月五 為邪月、邪日,田文的父親相信習俗 深怕田文帶災難給田家,便命令僕人 田文抱至荒郊野外丟棄,幸虧母親不 心,私下將他寄養在親戚家,但田文 從一出生落地就哭鬧不休,眼黑唇紫 手腳滿瘡,母親四處求醫,仍不見好 ,後遇一高齡老人,目視田文一刻後 ,就對田文的母親說:「此兒鬼魅纏 ,毒及五臟,魂魄出走,不死亦將危 家人。」母親聽完,又驚恐又傷心, 跪地哀求老人,老人經不起田文母親 苦求,便告訴她說:「有一法可試, 三聖草沐浴,其為至陽之物,將塵鬼 魅,另添君子花,可治百毒。」田文 親依著老人的指示,取得材料煎煮後 幫田文洗身沐浴,連續數月,田文漸 漸不哭不鬧,身上的毒亦不藥而癒, 文長大後,還當了齊國的宰相。從此 三聖草與君子花煎湯沐浴可以除邪治 病的療效流佈民間。直到晉朝以後, 材料取得不易,才漸為人們遺忘。
Một ngày nọ, có một ông lão mặt mày quắc thước, tiên phong đạo cốt đến xin gặp mẹ con Điền Văn. Sau một hồi ngắm nghía đứa trẻ, ông cụ bảo :- “Thằng nhỏ nầy bị quỉ mị ám bao trùm thân thể, chất độc đã vào ngũ tạng, hồn phách không còn, nếu không chết thì sau sẽ gây tai vạ cho gia đình”. Bà mẹ nghe nói vô cùng thương tâm, quì xuống khóc lóc lạy lục van xin ông lão ra tay cứu giúp. Lão ông cảm động trước tình cảm mẫu tử tình thâm, nên ôn tồn bảo :- “Giờ chỉ còn có cách là, phải tìm cho được loại “TAM THÁNH THẢO” là loại cây cỏ “chí dương”, có khả năng trừ tà xua quỉ, lại cho thêm “QUÂN TỬ HOA” có khả năng trừ bách độc, hai thứ đem về nấu rồi xông tắm cho nó nhiều lần, may ra sẽ khỏi”.
Bà mẹ Điền Văn mừng rỡ, vội cho người đi tìm hai loại “Thánh Thảo” trên, về nấu nước tắm gội cho Điền Văn. Mấy tháng sau, Điền Văn hết khóc la, mình mẫy cũng sạch sẻ dần dần, khỏe mạnh hay ăn chóng lớn.
Sau nầy Điền Văn trưởng thành, là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, học hành thông minh giỏi dang, được vua Tề tin dùng, phong dần đến chức Tể Tướng nước Tề.
Click this bar to view the full image.
(Mạnh Thường Quân)
Từ đó, công dụng thần diệu của hai loại Tam Thánh Thảo và Quân Tử Hoa được phổ biến rộng rãi trong dân gian. Mọi người thi nhau đi tìm hai loại ấy về xông tắm cho người nhà trong mùa Hè hoặc lúc có người đau ốm, hiệu quả vô cùng.
Đến đời Tấn, thời tiết thay đổi khiến hai loại thánh thảo trên mọc rất ít, khó tìm kiếm. Lâu dần, mọi người trở thành quên lãng câu chuyện truyền thuyết lạ lùng thú vị trên, không còn ai nhắc nhở đến hai loại cỏ tiên trên nữa.
(Thiên lý đằng = Thiên lý quang)
Click this bar to view the full image.
(Vạn diệp hương)
(Bách linh thanh)
據研究,三聖草是三種長於海拔 千公尺以上,屬陽性,乾生植物,喜 長於高山岩峭地,俗名分別為萬葉香 、千里藤、百靈青、葉皆呈針狀,這 種植物的特性是抗寒,愈冷愈茁壯, 其抗寒,深具至陽之氣,所以陰寒之 物懼之,而葉似利劍,能斬除異物; 子花較普遍,為蘭末、艾鬚、菖蒲、 芙蓉,<本草經>記載:艾鬚、菖蒲 可以明耳目、益心智、除疲勞、消火 蘭末、水芙蓉在習俗上是淨身之物。 七種植物的組合,在二千多年前的民 間是祛邪、除病、驅瘟的妙方;而從 天科學的角度來看,亦是建立在一定 療作用的基礎上,可收衛生保健之效 。因此,淨身草的問世,對繁忙的現 人來講,是莫大的福音。
七朵淨身草是以前老祖先的時代 留下的智慧結晶,由七種不易取得植 所製作而成,在<本草經>記載:艾 鬚、菖蒲可以明耳目、益心智、除疲 、消火;而蘭末、水芙蓉在習俗上是 身之物,所以具有趨邪避煞、保健作 用。在現代化的社會之中是不易取到 ,在都市裡就更難拿到了,因此,淨 草的問世,對繁忙的現代人來講,是 莫大的福音。
(Lan mạt)
(Ngải tu)
Click this bar to view the full image.
(Xương bồ)
Theo tài liệu nghiên cứu, Tam Thánh Thảo là loại cây cỏ chỉ mọc trên những vùng đất có độ cao hơn 2.000 mét so với mặt biển. Tính chất của nó là “thuần dương”, sức chịu đựng cao đối với thời tiết lạnh lẽo hay mưa tuyết. Loại cây cỏ nầy thường thấy trên núi cao có những hóc núi hiểm trở cheo leo. Người ta tìm thấy ba thứ khác nhau là :- “Vạn Diệp Hương”, “Thiên Lý Đằng” , “Bách Linh Thanh” nhưng có đặc tính gần giống nhau nên gọi chung là “Tam Thánh Thảo”. Đặc điểm thuần dương của ba loại nầy giúp cho nó chống chọi với giá rét âm hàn, lá của chúng có hình dạng như lưỡi kiếm nên có khả năng trừ tà khí .
“Quân Tử Hoa” thì tương đối phổ biến hơn. Gồm có các thứ :- lan mạt, ngải tu, xương bồ, thủy phù dung . Theo sách “Bản Thảo Kinh” ghi chép, ngải tu, xương bồ có dược tính làm sáng mắt tỏ tai, sảng khoái tâm trí, tiêu trừ mệt mỏi, giáng hỏa. Lan Mạt và Thủy Phù Dung theo tập tục thì dùng làm thanh tịnh thân thể. Tổng hợp bảy loại trên lại thì gọi là “Thất Đóa Tịnh Thân Thảo”, trong dân gian đã lưu truyền ứng dụng chúng suốt hơn hai ngàn năm nay, khả năng giải độc trừ tà khí, chống ôn dịch … rất hiệu quả.
Click this bar to view the full image.
(Thủy phù dung )
(Hoa thủy phù dung)
Nhìn bằng khía cạnh Y học, cũng dễ nhận ra những dược tính chắc chắn của nó, cho nên dùng vào mục đích vệ sinh thân thể thì cũng vẫn tốt, không cần đề cập đến những yếu tố “thần bí” khác. Đây quả là “Tin Mừng” lớn cho quần chúng lao động vậy.
Tóm lại, “Thất đóa tịnh thân thảo” là vốn quí của tổ tiên nhiều đời lưu truyền lại qua kinh nghiệm thực tế của nó.
Ngày nay, chúng ta cần phải bảo tồn thành quả tốt đẹp ấy, nhân rộng ra để làm lợi ích cho tuyệt đại đa số quần chúng.
==========
Tra từ: 君子花
君子花
V Tra Hán Việt Tra Pinyin
Có 1 kết quả:
君子花 quân tử hoa
君子花
quân tử hoa Copy liên kết
Từ điển trích dẫn
1. Chỉ hoa sen. Hoa sen ở gần bùn mà không nhiễm mùi hôi tanh, nên người ta ví với người quân tử ở trong đám tục mà không theo thói tục.
2. Chỉ hoa cúc. ◇Cao Khải 高啟: "Cúc bổn quân tử hoa, U tư khả tương thân" 菊本君子花, 幽姿可相親 (Cúc lân thi 菊鄰詩) Cúc vốn là hoa quân tử, Kín đáo thuỳ mị, có thể thân.
Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Một tên chỉ hoa sen, vì hoa sen được coi là loài hoa quân tử, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=2902.90
THẤT BẢO XUÂN THẢO HÔI
七寶春草灰
(Một bộ Thất bảo xuân thảo hôi)
A.-
七寶春草灰是老祖先們用春天的稻草 化剩下來的灰燼及能避邪去煞氣的花 (如 艾草‧‧‧等)所製成的春草灰。一 人在送神(農曆十二月二十四日)或 個月農曆十五、十六日才使用它。希 望祈求賺大錢,能存有錢。
內容物包含:沉粉一包、春草灰一包 八顆珍珠、八張金箔。
春草灰:代表賺錢會「春(存)錢」 意。
八顆珍珠:代表前途一片光明的意思
八張金箔:代表八方進財,賺大錢。
Click this bar to view the full image.
(Xuân thảo)
Click this bar to view the full image.
(Bát khỏa trân châu = tám hột ngọc trai)
(Bát trương kim bạc = Tám tờ vàng mỏng)
A.- Truyền thuyết và điển cố :-
“Thất bảo xuân thảo hôi” (tro cỏ xuân bảy báu) đã có từ ngàn xưa, tổ tiên chúng ta (TQ) thu hoạch những loại cỏ , hoa thơm trong mùa Xuân, đốt thành tro lưu lại dùng làm vật trừ tà khử ác khí. (trong đó như là cây thuốc cứu v.v…).
Loại tro nầy dân gian thường dùng trong Lễ Tiễn Thần ngày hai mươi bốn tháng chạp, hoặc các ngày rằm, mùng một; mười bốn, ba mươi (hoặc 29 , tháng thiếu) với ý nguyện mong cầu sự tốt đẹp về tiền bạc.
Thành phần của Thất bảo xuân thảo hôi gồm có :-
-một túi bột trầm.
-một túi bột tro hoa cỏ mùa Xuân đốt ra.
- tám hạt trân châu (ngọc trai)
-tám tờ giấy vàng mỏng.
*Ý nghĩa:-
-“xuân thảo hôi” :- tiền bạc sinh sôi nẩy nở như cỏ xuân, tồn tại lâu dài.
-tám hạt ngọc trai :- tượng trưng cho tiền đồ sáng sủa, đẹp đẽ như trân châu.
- tám tờ giấy vàng mỏng :- tương trưng cho “bát phương tiến tài” (tám hướng tiền vào), tiền bạc sung túc.
(còn tiếp)
Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, nguyenthuy, chonhoadong, tadamina, mavuong, anhlam, langduthegioitaba
Logged
君 子 之 交 淡 若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY
--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心
Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline
Bài viết: 7361
Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57226
Xem hồ sơ cá nhân
Re: PHONG TỤC DÂN GIAN TRUNG HOA--中 華 民 間 風 俗—Phần 5
« Trả lời #101 vào lúc: Tháng Chín 09, 2009, 05:54:44 am »
(tiếp theo)
(Kim lô gia đình = lư hương)
Click this bar to view the full image.
(Kim lô chùa miếu)
Click this bar to view the full image.
B.-
1家中有供奉神佛者可使用。
2家中有供奉祖先牌位者適用。
3所有寺廟有香爐者可使用。
Click this bar to view the full image.
(Lễ tống thần)
B.- Đối tượng thông dụng :-
1.- Trong nhà có thờ Thần, Phật.
2.- Trong nhà có thờ Tổ Tiên.
3.- Các lư hương tại chùa , miếu
Đều có thể sử dụng loại tro nầy.
C.-
1先拜拜請示神明或祖先是否可以清金 ,香過半,擲杯要有聖杯才可以。
2使用方法首先將香爐灰,全部倒出用 網過濾一下,將雜物和香腳放入燒金 的金桶內,有機會和金紙燒化為宜。 濾後的香爐灰重新倒入香爐內約八分 ,多餘的香灰,同樣放入金桶內。
3將沉香粉在香爐內放入薄薄一層。
4然後將春草灰撒在最上面,輕輕搖平 可,(春草灰代表「春錢」的意思) 。
5將夾在紙內的金箔輕輕的放入香爐周 (請勿用手指觸摸到金箔,如金箔有 所破損,並不影響八方進財)。
6將八粒珍珠放入香爐中間,象徵團圓 明的意思。
7點香拜拜,告知神明或祖先,已經清 完成即可。
(Ba kết quả Xin keo)
(Hai miếng keo)
(Cách cầm hai miếng keo)
(Thánh bôi = xin được keo một âm một dương)
(Keo thánh cười, hai mặt dương)
(Âm bôi = hai mặt âm)
C.- Phương pháp sử dụng :-
1.- Cho bột trầm vào lư hương trước, có thể cho một lớp bột trầm, một lớp tro xuân thảo, lớp trên mặt phải là tro xuân thảo.
2.- Sàng sãy bột tro cho kỹ lưỡng(loại bỏ tạp vật). Đốt những tờ “kim chỉ” (giấy tiền vàng)
bỏ vào trộn chung cho đều với tro. Đổ tất cả vào lư hương thờ Thần, Phật, Tổ Tiên, mỗi cái đầy khoảng tám phần mười. Để lư hương trên một cái đĩa lớn hơn. Phần tro thừa, để riêng mang đến bỏ vào lư hương công cộng (thiên công lô, chùa, miếu) (không nên đổ bừa bãi).
3.- Đặt tám hạt ngọc trai chính giữa trên mặt lư hương, tượng trưng cho sự sum họp đoàn tụ.
4.- Xếp tám tờ giấy vàng mỏng xung quanh lư hương (trong đĩa). Cẩn thận khi dùng tay đặt nhẹ những tời vàng mỏng nầy, tránh đừng để bị rách. Tượng trưng cho tám hướng tiền bạc tụ về.
5.- Thắp hương khấn vái trình Thần, Phật, Tổ Tiên. Xin keo, nếu được là tốt. Chưa được, thắp hương vái nguyện xin lại lần nữa (không quá ba lần).
6.- Chờ nhang tàn, thu thập cúng phẩm. Lễ thành.
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=2902.90
五色金、五路家運金;八路發財金, 生蓮花3朵、金元寶20個。
敬拜土地公步驟
八路發財金」及「五路家運金」
https://zh-tw.facebook.com/94168.ABC...091635/?type=3
《东厨司命灶王灵签》
清代《灶君经/灶君灵签》(灶君神像/司命宝誥志心皈命礼/刮锅忌/东厨司命九灵元王定福真君劝善文/金光咒…)/(嘉庆二十四年宝山金世琛敬譔/道光二十五年元性道人拜识/程应星熏沭百拜谨识/俞塘钮芳山识)
http://weibo.com/5792368498/DreKWF1T...d1484138411480
http://book.kongfz.com/item_pic_1351_253645182/
Theo lương y Vũ Quốc Trung, phòng khám đa khoa chùa Cảm Ứng, Hà Nội, các vị thuốc đông y thường nhiều thành phần, trong đó có những vị nguồn gốc khoáng chất, có độc như diên đan, hùng hoàng, khinh phấn, lộ cam thạch… Loại thuốc cam chữa lở miệng thường có diên đan, hay còn gọi là duyên đơn, hồng đơn… Trong một số bệnh có thể sử dụng để uống nhưng với liều rất nhỏ và được chế biến nghiêm ngặt. Khi dùng bên ngoài, cũng cần phải bào chế cẩn thận, không dùng dài ngày vì thuốc dễ hấp thụ qua da, tích luỹ trong cơ thể gây nhiễm độc mạn tính. Hồng đơn thành phần chủ yếu là ôxít chì (Pb304). Đó là chất bột, màu đỏ cam hoặc vàng cam. “Hiện nay, không loại trừ việc người ta đã sử dụng ôxít chì nhân tạo bằng cách oxy hoá chì nên hàm lượng chì rất cao vì vậy đã dẫn đến ngộ độc, thậm chí tử vong”, lương y Vũ Quốc Trung cảnh báo.
http://tccn.vietstock.com.vn/PrintVi...ticleID=181680
===============
Thuốc cam dùng ngoài này thành phần chính là hồng đơn (còn gọi là: Hoàng đơn, duyên đơn, đơn phấn, tùng đơn, châu đơn) có màu đỏ sẫm tươi dạng bột. Thành phần chính của hồng đơn là chì oxyd (Pb3O4). Theo tài liệu cổ, hồng đơn dùng bôi ngoài thì đuổi được độc và làm cho mau lên da non.
là cho dùng thuốc cam có hồng đơn (thành phần chính là chì oxyd) thậm chí còn chế làm viên hoàn cho trẻ nhỏ uống dẫn đến nhiều trường hợp ngộ độc đáng tiếc xảy ra./.
http://doanhnghiepdautu.net/y-te-cuo...i-ngo-doc.html
=============
Sao riêng từng vị (trừ hồng đơn, mai hoa, thanh đại) rồi tán nhỏ mịn, trộn đều.
http://duocphambinhminh.com/ca-muc-m...-vi-thuoc-quy/
============
HỒNG HOA VÀ HOA HỒNG
Hồng hoa và hoa hồng là hai cây khác nhau, Hồng hoa là Carthamus tinctorius thuộc học cúc còn Hoa hồng là Rosachinensis thuộc họ Hoa hồng.
Hồng hoa
Là cây thảo cao khoảng 1m, cụm hoa mầu đỏ cam đẹp, mùa ra hoa vào tháng 5 đến tháng 7, hái hoa đúng vào lúc hoa có màu hồng cho nhiều hoạt chất, phơi khô trong mát để dùng. Trong hồng hoa có chứa một sắc tố mầu hồng gọi là Carthamin, ngoài ra còn chứa một sắc tố màu vàng . Theo các y văn cổ: Sách bản thảo thông nguyên ghi: Hồng hoa tiêu ứ, tán thũng, sản hậu huyết trệ và sổ thai chết lưu trong bụng. Sách Chu Đan Khê đời Nguyên ghi: Hồng hoa dùng nhiều thì tán huyết, dùng ít thì nuôi huyết. Sách Mâu Hy Ung ghi: Hồng hoa là yếu dược hành huyết, huyết xấu ra hết thì các chứng cấm khẩu, đau bụng khỏi cả, tử thai trong bụng cũng theo ra. Sách Thạch Ngoan ghi: Hồng hoa giải nọc độc, tán huyết ứ nên hòa đồng tiện mà dùng thì hơn nhưng dùng nhiều quá thì huyết ra nhiều có hại.Tóm lại:theo đông y hồng hoa có tác dụng phá huyết xấu, sinh huyết mới, chữa kinh nguyệt bế tác, thông kinh, mất kinh, sản hậu ứ huyết, sổ thai chết lưu, khí hư, viêm tử cung, viêm buồng trứng còn dùng chữa viêm phổi, viêm dạ dày, tổn thương do đòn, ngã, hay bị đánh ứ huyết sưng đau. Còn có tác dụng tẩy, giải nhiệt và ra mồ hôi. Ở Ấn Độ hồng hoa được dùng làm thuốc an thần và điều kinh cũng dùng để chữa sởi, vàng da.
Phàm không phải ứ trệ và phụ nữ có thai chớ dùng. Liều dùng trung bình mỗi ngày 3-8g, dưới dạng thuốc sắc hay thuốc ngâm rượu. Ngoài tác dụng làm thuốc hồng hoa còn được dùng để nhuộm tơ, lụa và thực phẩm có mầu đỏ đẹp, không độc.
Đơn thuốc có hồng hoa:
1/ Tứ vật đào hồng: Xuyên khung 6g, đương quy 12g, thục địa 24g, bạch thược 12g, đào nhân 6g, hồng hoa 6g sắc uống ngày 1 thang. Thuốc có tác dụng phá huyết, hành ứ, chữa có kinh nguyệt bế tắc, sản hậu ứ huyết.
2/ Chữa bệnh nhiệt thai chết lưu trong bụng: dùng hồng hoa nấu với nước giếng trong, hòa với đồng tiên, uống kiến hiệu ngay.
3/ Chữa sản hậu huyết vựng, trong lòng buồn bực: dùng hồng hoa 40g, tán nhỏ , rượu hai chén sắc chia hai lần uống, nếu cấm khẩu thì cậy răng cho uống.
4/Chữa các chứng phong: dùng hồng hoa 40g, rượu 1 bát to, sắc còn một nửa uống làm hai lần, nếu chưa khỏi lại làm thêm một liều nữa.
5/ chữa chứng hầu tê (nghẹn cổ) dùng hồng hoa tươi giã vắt lưng bát nước uống thấy khỏi thì thôi.
6/ chữa sau khi đẻ máu xấu không ra, đau bụng bị ngất mê man, phụ nữ kinh bế lâu ngày, huyết tích thành hòn: hồng hoa, tô mộc, nghệ đen đều 8g sắc rồi cho thêm một chén rượu vào uống
7/ phòng và chống bệnh ban, sởi: hạt hồng hoa 3 đến 5 hạt nhai chiêu nước uống.
Hoa Hồng
Cây hoa hồng ra hoa quanh năm, chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9; hoa có màu sắc thay đổi, từ trắng, hồng, đến đỏ có mùi thơm dễ chịu, trồng làm cảnh, hoa đẹp. Trong hoa có tinh dầu mà thành phần chủ yếu là citronellol, geraniol, phelenthyl alcol và stearoptenes . Hoa có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm, tiêu sưng.
Công dụng: Hoa dùng chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, đinh nhọt, viêm mủ da, lao cổ và bệnh bạch hầu. Liều dùng 6-10g hãm uống hoặc tán bột uống. Bột hoa hồng còn dùng cầm máu, chữa băng huyết, tiêu chảy, dùng cản thận trong trường hợp tiêu hóa khó khăn. Rễ hoa hồng chữa đòn ngã, tổn thương, bạch đới, di tinh, dùng 10-15g, dạng thuốc sắc, cũng dùng hoa tươi và lá giã đắp đòn ngã, tổn thương. Người có thai không dùng được.
Bài thuốc có hoa hồng:
1/ Kinh nguyệt không đều, đau bụng: hoa hồng, ích mẫu mỗi vị 10g, sắc uống.
2/ Lao hạch: hoa hồng 9g, hạ khô thảo 15g sắc uống.
3/ Ho trẻ em: hoa hồng bạch hấp với đường phèn cho uống ít một.
BS Nguyễn Đức Minh
CÂY THUỐC QUANH TA
http://www.suckhoetimmach.com/2010/0...a-hong_05.html
hồng đơn chu sa, mỗi vị 4g
http://yhoccotruyenvn.com/chua-benh-...co-truyen.html
======
hồng đơn, hồng hoa, chu sa
https://thaoduocminhtam.com/cay-thuo...nb-hyland.html
viên có vị hồng đơn (là khoáng chất chì)
đường đỏ (hồng đường) 20g
[PDF]CÁC VỊ THUỐC NGUỒN GỐC KHOÁNG VẬT Chương này chỉ giới ...
vanxuanpharma.com.vn/.../17-cac-vi-thuoc-nguon-goc-khoang-va...
Translate this page
Còn gọi là hoàng đơn, hồng đơn, duyên hoàng, đơn phấn, tùng đơn, châu ... Theo tài liệu cổ duyên đơn là một vị thuốc có vị cay, tính hơi lạnh và không độc; .
NhỮng BÀi ThuỐc ChuyÊn TrỊ Bong GÂn Sai KhỚp
Đôi điều tâm sự về những bài thuốc xoa bóp trị thương bong gân sai khớp của Y HỌC CỔ TRUYỀN DÂN TỘC được trích ra ở đây.:
Nhìn vào kho tàng Y DƯỢC dân tộc thật vô cùng phong phú qua trang sử ngành y dược chúng ta phải nhìn nhận, thật đáng trân trọng quí mến lẫn phục tài đức người xưa đã nghiên cứu sáng chế những bài thuốc hay, quí giá để lại cho đời sau. Giả sử các vị ấy không để lại công trình nghiên cứu củ a mình thì ngày nay chúng ta làm sao biết họ là ai ? và những bài thuốc quí đó cũng chẳng biết được để bây giờ thực dụng.
Còn nói đến việc nghiên cứu về y dược thì mấy ai sánh kịp với các danh y thời xưa như: Trọng Cảnh, Đan Khê, Đông Viên, Nghiêm Dung Hoà, Tuệ Tỉnh, Hải Thượng Lãn Ông... Tất cả các Ngài đã cống hiến biết bao nhiêu công lao của mình vào công cuộc nghiên cứu ra những bài thuốc hay rất có giá trị để chữa bệnh, và bây giờ trở thành nền tảng để nghiên cứu DƯỢC HỌC.
Bằng vào những dự kiện đó tôi đã mạnh dạn trích ra một vài bài thuốc của người xưa để lại, công việc vốn là thực dụng nhưng hiến ích cho đồng môn, là biện pháp tốt, rất tin tưởng trong việc trị thương làm mau lành, vả lại số liệu nghiệm chứng về dược sẽ không cần thiết nữa đã có dư uy tín.
BÀI THUỐC LÀM CAO TRỊ SAI KHỚP:
Các vị thuốc như sau:
Tục đoạn 1 lượng
Xuyên khung 1 lượng
Điền thất 1 lượng
Cốt toái bổ 1 lượng
Hồng Hoa 1 lượng
Sanh quân 2 lượng
Thảo ô 1 lượng
Đơn - Bì 1 lượng
Quy Vỹ 2 lượng
Cầm xạ lạc 1 lượng
Tự nhiên đồng 2 lượng
Nga Truật 1 lượng
CÁCH BÀO CHẾ: Đem 12 vị thuốc tán nhuyễn thật mịn (ở dạng bột). Dùng 12 lượng dầu mè và 3 lượng sáp ông nấu cho chảy ra hết, sau đó đổ thuốc tán vào đánh quết thành cao.
*. Chuyên trị trật khớp xương, làm tiêu sưng hết nhức, tùy theo vết thương lớn nhỏ, phết (bôi) vào chổ bị thương, dùng băng lớn bao (băng) lại khoảng từ 3 đến 4 ngày thay băng làm thuốc 1 lần.
BÀI THUỐC TIẾP CỐT THÔNG MẠCH THANG:
Chuyên trị: Về đường XƯƠNG SỐNG bị SAI KHỜP, bồi bổ Tỳ - Thận - Máu, dùng 3 thang sắc uống, gồm có các vị thuốc sau đây:
1. Lão Thục điạ 6 chỉ
2. Sơn thủ nhục 3 chỉ
3. Nhục Thung dung 6 chỉ
4. Cốt Toái bổ 6 chỉ
5. Phục Linh 4 chỉ
6. Cổ Chỉ 3 chỉ
7. Câu Kỷ 3 chỉ
8. Đổ trọng 4 chỉ
9. Đơn bì 2 chỉ
10. Khiếm thiệt 4 chỉ
11. Thố tư tử 3 chỉ
12. Tục đoạn 4 chỉ
Sắc thuốc dùng sêu ấm đất hoặc bẳng sành. Nước 3 chén sắc còn 1 chén, uống lúc thuốc còn ấm.
HOẶC: BÀI THUỐC LÀM THÔNG MẠCH TIÊU VIÊM GÂN CỐT SAI LẠC MAU BÌNH PHỤC
Các vị thuốc sau đây:
Đương quy 5 chỉ
Cốt thoái bổ 3 chỉ
xuyên tục đoạn 3 chỉ
Nhu Hương 2 chỉ
Xuyên gia bì 3 chỉ
Thủ ô 5 chỉ
Huỳnh cầm 2 chỉ
Liên kiều 2 chỉ
Mộc dược 2 chỉ
Sanh địa 5 chỉ
Dùng ấm sắc thuốc, nước 3 chén còn 1 chén, uống thuốc còn ấm.
BÀI THUỐC PHÒNG THÂN CỦA NGƯỜI LUYỆN VÕ:
CHUYÊN TRỊ; Các chứng trật đả, bị thương đến hôn mê bất tỉnh, tình trạng bị ứ huyết công phạt đến hệ thần kinh sinh dưỡng bên trong làm đau nhức. Trong uống ngoài thoa, vết chảy máu cầm ngay, đây là bài thuốc rất hiệu nghiệm còn có tên là Thất Ly Tán của các bậc tiền bối lưu truyền.
Gồm các phương thuốc như sau:
Xa hương 1 phân 2 ly
Nhủ hương 1 chỉ rưởi
Mộc dược 1 chỉ rưởi
Hồng hoa 1 chỉ rưởi
Mai phiến 1 phân 2 ly
Huyết kiệt 1 lượng
Trân châu 1 chỉ 2 phân
Nhụy trà 2 chỉ 4 phân
Thiên niên kiện 5 chỉ
Cốt toái bổ 2 chỉ 4 phân
Nhục thung dung 1 chỉ 4 phân
CÁCH BÀO CHẾ:
Các vị thuốc tán mịn, bỏ vào ve, đậy nấp kín, kẻo tiết hơi.
CÁCH DÙNG:
Mỗi lần dùng từ 7 ly đến 1 phân rưởi uống với rượu hay nước ấm. Bị nặng uống mỗi ngày 3 lần trong 3 ngày khỏi bệnh. Không nên dùng nhiều, hoặc quá liều lượng không tốt, người trạng thái bình thường không nên dùng.
BÀI NGỌC CHÂN TÁN:
CHUYÊN TRỊ: Chứng phong đòn gánh rất hay, hoặc bị chấn thương vào 36 Đại huyệt nằm bất tỉnh, hoặc bị va chạm mạnh trúng nhằm các hệ thần kinh làm co giật méo miệng, lưng uốn ván. Mau chóng cho nạn nhân dùng trong uống ngoài đắp thuốc này. Rất công hiệu, vết thương đang chảy máu đấp thuốc sẽ cầm ngay.
Gồm các phương phuốc như sau:
Khương hượt 1 lượng
Phong phòng 1 lượng
Bạch chỉ 1 lượng
Bạch phụ tử 2 lượng
Thiên ma 1 lượng
Sanh nam tinh 1 lượng
(sao chế nước gừng)
CÁCH BÀO CHẾ: Các vị thuốc đem tán mịn để vào chai được phong kín, giữ thật kỹ kẻo ẩm ước tiết hơi để dùng lâu.
CÁCH DÙNG: Mỗi lần uống từ 1 đến 2 chỉ với rượu hoặc nước ấm. Bên ngoài dùng thuốc này đấp vào vết thương để cầm máu, rất hiệu nghiệm.
BÀI THUỐC VẠN LINH CAO:
Phương thuốc gồm có các vị:
Hạt cân thảo 1 lượng
Thấu cốt thảo 1 lượng
Đinh hương 1 lượng
Đương quy 1 lượng
Tự nhiên đồng 1 lượng
Huyết kiệt 1 lượng
Mộc dược 1 lượng
Xuyên khung 8 chỉ
Xích thược 2 lượng
Hồng hoa 1 lượng
Ngưu tất 5 chỉ
Ngũ gia bì 5 chỉ
Thạch xương bố 5 chỉ
Thương truật 5 chỉ
Mộ hương 3 chỉ
Tân giao 3 chỉ
Xà Xàn tử 3 chỉ
Nhục quế 3 chỉ
Xuyên phục thử 3 chỉ
Bán hạ (chế) 3 chỉ
Thạch hộc 3 chỉ
Tỳ giải 3 chỉ
Hồ cánh cốt 1 ống xương
Lộc nhung 3 chỉ
Xạ hương 2 chỉ
CÁCH BÀO CHẾ: Gói huyết kiệt, mộc dược, xạhương, tán thâït mịn nhuyển thành bột, để riêng còn 22 vị thuốc dùng làm dầu phong tẩm 3 ngày. Sau đem nấu liên tục 3 ngày, thuốc cạn châm thêm nước, sao cho nước thuốc đen lại, rồi nhắc xuống lọc lậy nước bỏ xác, gia thêm hồng đơn 5 cân vào nước thuốc, đem nấu tiếp tục, quậy đều cho đến khi nào nước thuốc cô lại thành cao, nhắc xuống cho 3 vị thuốc Huyết kiệt, mộc dược, xạ hương, hòa chung vào quết đều xong để nguội.
CÁCH BẢO TRÌ THUỐC CAO: đổ vào bịch nylon cột chặt, cẩn thận hơn bỏ vào keo đậy kín, kẻo bị tiết hơi tránh được độ ẩm và giữ được lâu khi dùng nên phết (phần thuồc) lên miếng vải sạch đã được khử rùng, tránh phết thuốc lên loại giấy kiếng hay nylon để đấp vào vết thương để tránh trường hợp dùng thuốc bó (đáp) quá nóng hay nhớt, không thoát hơi dễ gây phản ứng da, lở loét.
NGUYÊN TẮC DÙNG THUỐC: Các bài thuốc lưu truyền ở đây nhằm vào 2 mục đích:
Trấn thống: Giảm đau, thông huyết, phá huyết
Tiếp Cốt: Sinh Xương, làm cơ gân mau lành, giúp cho vết thương mau bình phục.
BÀI THUỐC CAO DÁN HAY CÒN GỌI LÀ THẦN HIỆU TRẬT ĐÃ TÁN:
Phương dược liệu gồm có:
Cầm xạ lặc 5 chỉ
Sanh quân 5 chỉ
Điền thất 5 chỉ
Huyết kiệt 5 chỉ
Xuyên ô 5 chỉ
Thảo ô 5 chỉ
Phù dung điệp 3 chỉ
Cương huỳnh 1 chỉ
Qui vỹ 5 chỉ
Bạch chi 3 chỉ
Tất cả đem tán mịn (nhuyễn) khu dùng lấy vừa đủ để đấp vào vết hương hòa chung vời rượu nếu xương bị gãy và đã được lấy lại độ lệch của xương rồi thì gia thêm cốt toái bổ, tục đoạn, mỗi thứ 2 chỉ, đem đấp, bó chặt vào chổ trật, gãy của xương hay khớp.
BÀI THUỐC UỐNG KHI BỊ TRẬT KHỚP HAY GÃY XƯƠNG:
Có tên là: QUY GIAO THANG phương thuốc như sau:
Đương quy 1 lượng
Tần giao 3 chỉ
Độc hượt 3 chỉ
Tục đoạn 4 chỉ
Cốt toái bổ 3 chỉ
Ngũ gia bì 3 chỉ
Tuế Tân 1 chỉ
Ngưu Tất 3 chỉ
Chích thảo 1 chỉ
Đỗ trọng 4 chỉ
Xuyên khung 5 chỉ
Nước sắc 3 chén còn lại 1 chén, uống thuốc lúc còn ấm ấm, nên uống liên tục 3 thang, sau đó đổi thuốc, thang uống thuốc tán hoàn viên Bài Tiếp Cốt Tử Kim Đơn
BÀI THUỐC: TIẾP CỐT KIM TỬ ĐƠN:
Gồm các vị thuốc sau:
Địa long 1 lượng
Xuyên ô 1 lượng
Long cốt 2 lượng
Địa miết trùng 2 lượng
Lộc giác giao 2 lượng
Xích thạch phì 2 lượng
Tự nhiên đồng 3 lượng
Hược thạch phi 4 lượng
Nhu hương 1 lượng
Mộc dược 1 lượng rưỡi
Xạ hương 5 phân
CÁCH BÀO CHẾ: Tất cả đem tán mịn dùng lộc giác giao hòa thành nước, chế hòn nhỏ, dùng châu sa làm thành áo.
Mỗi lần uống 1 hoàn với rượu hoặc nước trà nóng, trong ngày từ 2 đến 3 lần liên tục dùng như vậy cho đến khi lành vết thương
CHỬA BONG GÂN VÀ TRẬT KHỚP CỔ, SỐNG LƯNG, BẢ VAI, CÁNH CHỎ, CỔ TAY, XƯƠNG ĐÙI, ĐẦU GỐI, CỔ CHÂN, RÃNH GÓT.
. SAI KHỚP CỘT SỐNG CỔ HAY BONG GÂN SỐNG CỔ:
CÁCH KHÁM TỔNG QUÁT:
Tư thế cột sống lành mạnh bình thường
Không lên gân các cơ cột sống.
Yêu cầu nạn nhân thay đồ chỉ mặt đồ lót, bảo nạn nhân đứng thẳng người
Quan sát từ phía sau.
Ta thấy đường trọng tâm chạy dọc theo các gai sống (tạo nên đường thẳng C - 7 đến S - 1) chạy qua kẻ mông và kéo thẳng dài xuống chạm đất chính giữa 2 mắt cá trong.
Ta thấy hai vòng vai cân xứng ngang bằng, hai mỏm xương bả vai đối xứng
Đường nối 2 mào chậu cũng bằng nhau cân xứng.
Tam giác cạnh thân (kẻ hở thân mình và hai chi trên) hai bên giống nhau.
Khi bị lệch (vặn vẹo) , đi không thẳng người, nghiêng lệch, không cân xứng.
CÁCH CHỬA:
để nạn nhân torng tư thế ngồi, 2 chân duổi thẳng, 2 tay chống vào giữa khoảng đùi bên trong.
Người chửa trị đứng vế phía sau lưng nạn nhân, tay trái đỡ tay phải cùng bợ cằm nạn nhân, dùng 2 cánh chỏ để tỳ trên vai của nạn nhân. Kế tiếp người chửa trị dùng đầu gối phải đặt vào đường rãnh lưng ngay đốt sống cổ C - 7.
Gối ấn nhẹ và từ từ gia tăng kình lực độ vừa phải về phía trước cùng lúc hai tay bợ cằm nâng hàm, nhấc đầu lên lập tức sẽ nghe tiếng kêu nhỏ trong xương, hiện tượng bong gân và khớp đã vào vị trí nguyên trạng (bình thường).
Công việc chửa trị cần phải xoa bớp thuốc và uống thuốc (có htể dùng thuốc hoàn tán bổ gân xương).
GHI CHÚ:
Xương cổ thứ nhất là đốt sống cổ chống đở phần đầu, nối với xương đầu, đốt thứ hai là xương trụ, dùng làm trục quay của đầu. Bởi vậy đầu xoay được nhờ vào bộ phận này. Nạn nhân trật khớp cổ, tức là trật chổ khớp xương này.
Chứng trạng bị nặng là khớp trật hẳn ra ngoài làm hôn mê, nguy hiểm đến tính mạng, nếu chữa vào khớp cũng bị tàn tật (phải đeo một cỗ giả để đở phần đầu). Còn trường hợp nhẹ bong gân sai khớp có thể trị được, chứng trạng nầy phần đầu cúi gục xuống hoặc đầu nghiêng sang một bên, tức là chưa trật khớp hẳn ra ngoài, cổ có thể cố gắng ngẩng mặt hoặc ngã đầu về phía sau hay ngược lại, cổ giử phần đầu cho thẳng nhưng thấy đau buốt, hoặc muốn xoay ngang nhìn qua trái sang phải chuyển động một cách khó khăn và đau đớn khó chịu là phải chữa ngay bằng phương pháp trên.
Công việc chữa trị xong nếu thấy cột xống mà không đở nổi phần đầu thì phải cho nạn nhân nằm an dưỡng để điều trị cổ giữ yên không cử động trong thời gian ngắn ngày, phòng độ lệch có thể bị bong gân sai khớp trở lại.
CÁCH ĐIỀU TRỊ:
Dùng thuốc cao (trị bong gân sai khớp) dán vào chổ đau hoặc bó thuốc tán, cách 2 ngày thay băng kiểm tra lại chổ đau và dán hay bó thuốc lại 1 lần cho đến khi bình phục thì không cần băng bó nữa.
II. TRƯỜNG HỢP SỬA TRẬT HOẶC BỊ CỤP SỐNG LƯNG:
Trạng chứng chổ bị thương lồi ra, đốt sống bị trật rất dể nhận dạng tư thế sống lưng không thẳng, làm cho thân người hơi cong và không ngữa ra sau được, nạn nhân đau nhức đi, đứng, nằm rất khó khăn.
CÁCH ĐIỀU TRỊ:
Phải kiểm chứng dùng tay sờ ấn chổ bị thương để biết rõ trật, cụp thế nào, đốt sống trật ra ngoài, hay trật vẹo sang trái hoặc phải.
Kỹ thuật dùng thủ pháp điều trị đốt xương trật, lồi ra:
Cho nạn nhân nằm sấp để 2 chân duỗi thẳng, nhờ một người phụ ngồi xuống tư thế quỳ chân phải, dùng 2 tay nắm lấy 2 chân nạn nhân kế tiếp người cứu chữa, đứng về bên hông trái nạn nhân, dùng đầu gối phải đặt đúng vào chổ đốt sống lồi ra, kế tiếp dùng tay vòng qua nách bợ đỡ ngực giao với vai trước. Tất cả đã vào trong tư thế chuẩn bị.
THỰC HÀNH:
Dùng 2 tay NÂNG và NHẤC mặt nạn nhân lên cách mặt đất chứng 25 cm đến 30 cm cùng lúc đầu gối ấn đè xuống, đồng thời người phụ việc cứu chữa kéo mạnh 2 chân của nạn nhân, sao cho giãn dài ra .
Kỹ thuật kéo giãn của người phụ việc: Trong tư thế quỳ một chân mông ngồi về gót phải còn chân trái gập lại (giống tư thế quỳ sửa võ phục) dùng 2 tay nắm lấy 2 chân nạn nhân giựt mạnh, kéo ngã ngữa người ra sau, động tác này phải ăn khớp với động tác NHẤC, NÂNG, ẤN đè gối của người cứu chữa chính. Khi nghe tiếng đốt xương sống lồi ra đã khớp vào, cũng cần dán thuốc cao hay bó thuốc kẹp nẹp vào chổ vết thương, khoảng từ 3 ngày đến 5 ngày kiểm tra lại 1 lần, thay băng rửa sạch vết thương bằng nước đun sôi để ấm pha thêm một ít rượu trắng, lấy tay sờ nắn chổ xương trật xem đã được liền lạc chưa, xong xuôi lại bó nẹp và băng lại như cũ, bên trong vẫn đấp thuốc cho đến khi nào vết thương lành hẳn thì không cần bó nữa. Thời gian bó thuốc bên ngoài cũng cần uống 3 thang Tiếp cốt thông mạch để cho vết thương mau lành. Điều quan trọng là tuyệt đối không làm việc nặng như: đội, vác, kéo, gánh. bưng, đẩy trong một thời gian dài nếu không sẽ bị trật lại, và có thể sẽ bị tàn tật suốt đời, hoặc trầm trọng hơn sẽ bị thiệt mạng.
Trường hợp bị trật, cụp lưng vẹo sang bên trái hoặc phải: vết thương trật ở vị trí L - 1 hoặc L - 2 và L - 3 thuộc vùng Mạng môn huyệt.
CÁCH CHỮA KHỚP:
Cho nạn nhân nằm sấp 2 chân duỗi thẳng 2 tay buông lỏng cặp bên hông.
Người cứu chữa, sau khi đã khám nghiệm vết thương, nếu turờng hợp bị trật khớp ngay đốt L- 5 bên dưới huyệt Mạng môn đốt bị trật lệch vẹo sang bên trái. Người cứu chữa phải đứng ngang hông bên phải nạn nhân, dùng gót chân phải để vào vị trí đốt xương trật với kỹ thuật là đạp ấn đè nhấn đốt sương trật sao cho vào khớp, kế tiếp là cúi người xuống dùng 2 tay nắm lấy cẳng chân phải của nạn nhân kéo lên, cùng lúc đó người thứ ba phụ việc cứu chữa ngồi xuống cũng dùng 2 tay nắm lấy cẳng chân còn lại kéo giãn thẳng. Chú ý đến điều này là 3 động tác nói trên phải ăn khớp với nhau nhịp nhàng cùng một lúc, khi chổ bị trật phát ra một tiếng kêu nhỏ RẮC thì biết là khớp đã vào vị trí nguyên trạng. Sau đó chữa bằng phương dược liệu giống như phần trên. Tất cả các vết thương bị trật khớp tuy khác nhau về tư thế, nhưng cách chữa trị lấy khớp cũng tương tự gần giống như 2 cách trên còn thuốc trị thương về đông y dược cũng gần giống nhau tuy có gia giảm vài vị hoặc về liều lượng chút ít cũng tùy thuộc vào vết thương nặng nhẹ, lớn nhỏ.
Đáng lưu ý một điều, thường thường nạn nhân bị trật khớp rất đau nhức giống như gãy xương, nhưng khi khớp được đưa vào vị trí cũ sẽ hết đau ngay. Đó là cách kiểm chứng rõ rệt nhất, và chỉ trong 7 ngày hay quá lắm là 15 ngày sau là khỏi hẳn. Sự vâïn động trong phạm vi chức năng cơ chế của khớp cột sống cũng trở lại của trạng thái bình thường.
CÁCH THỨC NẸP ĐỂ BÓ CỘT SỐNG:
Nẹp để bó cột sống dùng bằng (thông mộc): khúc cây có thiết diện 3 cm X 4 cm có về dài bằng cột sống phía trong có khoét rãnh cho hợp với xương sống, có khoan lỗ để xỏ dây buộc quanh mình.
III. TRƯỜNG HỢP BỊ BONG GÂN TRẬT KHỚP VAI (BẢ VAI):
Trập hớp xương bả vai thường xẩy ra lúc té ngã sai kỹ thuật hay nhào lộn lỡ đà dùng vai để chịu, hay vung tay đập banh ở độ cao quá đà lại bị một sức mạnh bên ngoài tấn công vào mà khớp vai không chịu nổi, làm chấn động trật khớp vai ra ngaòi, chứng trạng cho thấy tỏi xương cánh tay tuột ra ngoài ổ chảo, thòng xuống nách. Hoặc ngược lại đưa lên trên...
CÁCH CHỮA TRỊ:
Trường hợp thứ nhất khớp thụt xuống: Cho nạn nhân ngồi thẳng lưng trên ghế hoặc đứng thẳng người cũng được. Dùng thủ pháp nắn xương và thoa bóp cho bớt tê nhức. Người chữa đứng đối diện với nạn nhân, tay trái nắm lấy tay phải nạn nhân đưa vào nách của người bị nạn, tay phải vội nắm lấy cùi chỏ của nạn nhân, tay trái nắm lấy cườm tay, kế tiếp 2 tay liền đẩy gập cánh tay của người bị nạn lại, kế đó dùng ức bàn tay (chưởng tay phải ấn đẩy cùi chỏ của nạn nhân vào bẹ sườn), thủ pháp này giống như thế đòn bẩy để bẩy tỏi xương cánh tay đưa ngang. Khi thấy tỏi xương lồi ra ngang, thì người cứu dùng thủ pahp nâng, đẩy mạnh cùi chỏcủa nạn nhân đưa lên, chỏm tỏi xương lọt vào ổ chảo, liền nghe tiếng kêu khẻ, RẮC là khớp đã vào.
Trường hợp thứ 2, khớp trật đưa lên trên: tư thế nạn nhân và người chữa trị cùng thủ pháp lấy lại khớp cũng giống như trường hợp thứ nhất, chỉ khác về động tác, thay vì nâng nhấc thì ngược lại trì kéo đưa xuống. Phần kế tiếp là băng và bó thuốc hoặc dán thuốc cao tán giống như đã trinh bày ở phần trên, ... Tùy theo vết hương nặng hoặc nhẹ mà gia giảm liều lượng cho hợp lý vết thương. Thí dụ nạn nhân quá mệt thì phải cần dùng Nhân Sâm, nếu bị ứ huyết sưng phù bầm tím,thì phải uống Xuyên Điền Thất hay Huyết kiệt, nếu bị dập, móp xương thì phải uống Cốt Toái Bổ. Trường hợp tiểu tiện, đại tiện bị bí tắc thì phải dùng Xa tiền tử, Chỉ Xác, Đại hoàng, nếu gân xương đau nhức thì phải uống Tần giao, Tục đoạn, xuyên khung, bắc đổ trọng, các vị thuốc đó sẽ giúp nối liền mau lành gân xương, hoạt huyết, trân thống giảm đau làm mạnh gân cốt.
IV. TRƯỜNG HỢP BỊ TRẬT KHỚP CÁNH CHỎ (LỌI CÙI CHỎ):
Nguyên nhân:
Té ngã chống tay sai kỹ thuật, nhưng sự trật khớp lại nhiều chứng trạng khác nhau vì tư thế té ngã khác nhau tạo cơ chế độ lệch, nhằm vào 3 yếu tố để xẩy đến bong gân trật khớp: Lực chấn thương, lực co rút của cơ, trọng lực. Có thể nói là tùy mỗi trường hợp té ngã khác nhau mà 1 - 2 hoặc 3 lực trên tác động vào vị trí chổ khớp của 2 đầu xương trật khớp ra ngoài điển hình là khớp cánh chỏ khi trật khớp thấy cánh tay ngắn lại.
Hiểu được cơ chế này rất quan trọng vì muốn lấy lại khớp nhẹ nhàng, không gây tổn thương phụ mà có kết quả tốt thì phải hóa giải hết các lực trên. Điều quan trọng là cần khám thật kỹ chứng trạng vết thương, trật ra phía trước hay trật về phía sau, hoặc trong ngoài, hoặc khớp, xương trật ra nhưng có bị gãy không, đầu xương trật ra có đâm ra ngoài da hay không. Từ đó áp dụng thủ pháp, kéo giãn, đẩy nâng nhấn ấn bóp xoay lấy lại độ lệch thân xương, bóp khớp lay bẻ gập cho chổ đầu xương lồi ra được ăn vào khớp. Nêu muốn mau lành vết thương nên uống 3 thang Tiếp cốt thông mạch thang, ngoài xoa thuốc trật đả, hoặc dán cao hay bó thuốc trị bong gân trật khớp.
Thủ pháp sửa khớp cánh chỏ:
Để nạn nhân đứng hay ngồi trên ghế với tư thế thẳng lưng, nhờ một người phụ giúp đứng về phía sau quàng tay qua vai và nách để giữ nạn nhân. Tư thế người chữa trị: Đứng trước đối diện nạn nhân, tay phải nắm lấy cườm tay, tay trái nắm lấy cụm xương trật khớp, lấy đầu chi trên của khớp làm chuẩn, vừa kéo giãn vừa ấn đẩy cho khớp vào: Tay trái tiếp với tay phải, kéo cánh tay nạn nhân cho giãn thẳng, lúc đó nhiệm vụ của tay trái là nắn thẳng xương sao cho 2 đầu xương gối vào với nhau, khi bóp nắn thấy xương đã đúng khớp thì tay phải đang kéo giãn thẳng lập tức ấn mạnh, tay trái nâng ấn bóp khớp rồi từ từ nhẹ nhàng bẻ gập khéo cánh tay nạn nhân lại, trong lúc gập ta cố ý lay mạnh cho khớp xoay để ăn khớp vào nhau, như thế nạn nhân sẽ bớt đau, kỹ thuật đó gọi là Diệu Thủ, nhưng cũng có trường hợp làm không đúng phương pháp cũng tiếng kêu RẮC một cái kèm theo là tiếng thét của nạn nhân vì xương bị gãy, và bệnh trạng đang nhẹ thành nặng. Bởi vậy việc chữa thương phải hết sức thận trọng trong việc nghiên cứu, cần phải có thầy hướng dẫn và thực tập nhuần nhuyễn để viẹâc cứu chữa có hiệu quả tốt.
V. BONG GÂN SAI KHỚP XƯƠNG CƯỜM TAY (CỔ TAY):
Nguyên nhân: Chống tay té ngã sấp hoăc ngã ngữa ra sau sai kỹ thuật thường bị trật khớp cườm tay. Trường hợp nặng khớp trật hẳn ra ngoài hoặc trật ra ngoài phân nữa khớp, nhẹ thì chỉ vẹo khớp, bong gân bao khớp, cũng làm đùn gân lại sưng phù lên đau nhức khó chịu và cườm tay không cử động được.
Phương pháp chữa trị:
Để nạn nhân đứng hay ngồi tùy ý, nhờ một người đứng phía sau ôm giữ nạn nhân, bảo nạn nhân đưa tay bịsai gân hay trật khớp ra phía trước.
Người chữa trị:
Đứng về phía trước đối diện với nạn nhân, dùng tay phải nắm lấy bàn tay bị thương, ngón tay cái để trên lưng bàn tay, bốn ngón còn lại để dưới lòng bàn tay nắm 4 ngón tay của nạn nhân. Bàn tay trái nắm lấy cườm tay ngay chổ trật sai khớp, giữ chặt lấy hổ khẩu (giáp khớp cườm tay). Tay phải tiếp lại khớp, bàn tay phải dùng ngón cái ấn mạnh xuống. Cùng lúc đó ngược lại bàn tay trái nắm chặt hổ khẩu lại nhấc lên, khớp sẽ vào vị trí nguyên trạng phát tiếng kêu (rắc) thì ngưng ngay, đó là trường hợp nạn nhân ngã chống tay để ngữa lòng bàn tay, thì kỹ thuật sửa khớp như vậy, còn ngược lại nạn nhân té ngã chống tay mà để bàn tay úp sấp (lòng bàn tay chạm đất) thì kỹ thuật sửa khớp phải làm ngược trở lại. Sau khi đã lấy lại khớp rồi, công việc điều trị: Bắng cách băng bó (có thuốc bên trong) cho vết thương mau lành, để tránh trường hợp lỏng khớp: Vì sự vững của khớp còn tùy thuộc vào hai yếu tố: sức cơ và cách cấu tạo của khớp. Vì trật khớp ra ngoài có thể ảnh hưởng đến hai yếu tố trên.
Sức cơ yếu:
Đây là di chứng tạm thời, do sự bất động trong thời gian điều trị trật khớp, chứng trạng nhận định ban đầu bệnh nhân sau khi được băng bó khớp, cầm nắm rất yếu, thì không nên lo âu nên chịu khó luyện tập sau một thời gian sẽ trở lại bình thường.
Tổn thương khớp: Hoặc tổn thương phần mềm, như: Đứt dây chằng hoặc là rách bao khớp hay bị mẻ đầu xương của khớp có rất nhiều nguyên nhân có thể lúc té ngã bị chấn thương gây ra cũng có thể lúc đưa khớp vào, người chửa trị làm sai kỹ thuật lấy khớp.
Trường hợp nầy đã bị tổn thương phần mềm, dù sau thời gian chữa và điều trị cho vết thương lành hẳn, nhưng phải tránh cố gắng dùng sức hay làm việc nặng có thể bị trật lại.
Trở lại việc chửa trị lấy khớp. Sau việc lấy khớp là xoa bóp vào chổ trật cho thông kinh mạch để giảm bớt đau nhức, kế tiếp là dán thuốc cao VẠN LINH và uống thuốc Tiếp Cốt Thông Mạch Thang, đã nói thật kỹ ở phần trên, sau khi đã dán thuốc cao xong (bao quanh khớp cườm tay) rồi lấy băng vải (bề ngang 5 phân) băng bó ngay chổ trật, cách thức băng bó phải đúng kỹ thuật làm sao vừa ít tốn băng lại vừa giữ được khớp chặt vững và được êm vết thương cũng như về mỹ quan phải gọn gàng, sạch. Về phần thay băng cũng giống trường hợp trật khớp cột sống, sự kiêng cử ăn uống: Cấm ăn gà, vịt, tôm, cua, trái cây thơm, Măng tre , đồ xanh và sống.
VI. CÁCH CHỬA TRỊ NGÓN TAY BỊ BONG GÂN TRẬT KHỚP:
NGUYÊN NHÂN:
Khi xử dụng trái đấm hay chém xỉa, sai kỹ thuật, hoặc bị đá trúng, cũng như bất cẩn trong lúc làm việc có thể xẩy ra trật khớp xương ngón tay.
CHỨNG TRẠNG:
Khớp xương (đốt) ngón tay bị trật, ngay chổ khớp trật thường biến dạng sưng phù, ứ huyết, cơ vận động, thần kinh cảm giác bị tê liệt, sự co duỗi khó khăn. Đó là trường hợp nhẹ, nặng hơn sẽ không cử động được, một sự va chạm thật nhẹ cũng làm cho nạn nhân đau buốt.
PHẦN THỰC HÀNH CÁCH LẤY LẠI KHỚP:
Để nạn nhân đứng hoặc ngồi đều được cả, nhưng phải đối diện với người chửa, tay trái nắm lấy bàn tay bị trật, ngón tay cái trên lưng của ngón trật còn 4 ngón để dưới, thí dụ trật khờp lưng của ngón tay út, thì bàn tay trái dùng ngón cái đặt trên, 4 ngón để ở dưới nắm giữ chặt trên khớp lưng của ngón út. Bàn tay phải dùng ngón tay cái và ngón trỏ làm thành gọng kềm, kẹp vào giữa ngón tay út ngay lóng trật. Sau 30 giây xoa bóp xung quanh vết thương làm cho kinh mạch bớt căng cơ, ứ huyết, 2 bàn tay lại đặt vào vị trí như trên, dùng ngay thủ pháp ấn đẩy, kéo giãn thẳng ngón tay, Nâng nhấc, kềm giữ và ghịt ngược lại đốt xương trật, thuận đà bẻ gập cho đốt khớp xương vào khớp khi nghe tiếng kêu khẻ của đốt xương lọt vào khớp thì không được ấn nữa, lại từ từ kéo nhẹ ngón tay duỗi ra. Sau đó dùng nẹp mỏng và nhỏ bằng ngón út, bó chặt vào chổ khớp trật (vết thương). Trong có dán thuốc trật đả.
VII. CÁCH CHỮA TRẬT KHỚP XƯƠNG ĐÙI:
Cổ xương đùi, khung chậu - (khớp háng) giáp khớp vào nhau, với chức năng của chúng là hoạt dộng co, giãn để có thể đi, đứng , chạy, nhảy, nằm ngồi. Nếu bị tai nạn làm xương đùi trật ra khớp háng thí dụ: Trật háng phải, trật ra trước: háng dang, xoay ngoài. Trật ra sau: háng áp, xoay trong.
Khi khám nạn nhân thấy chứng trạng đầu gối ngã dựa vào chân kia, bắp đùi thâu ngắn lại, là cổ xương đùi trật ra sau, ngay vị trí chổ trật khớp, cổ xương đùi và xương chậu sưng nhức, không ngồi và đi đứng được.
CÁCH LẤY LẠI KHỚP XƯƠNG ĐÙI:
Trước khi dùng thủ pháp để chữa, thấy chổ bị trật sưng to tụ máu bầm, ta mau dùng phương pháp xoa bóp xung quanh vết thương để cho kinh mạch và cơ gân bớt căng, giảm sự đau nhức cho nạn nhân, sau đó sờ nắn cổ xương đùi, định được vị trí để tìm cách đưa cổ xương đùi vào khớp. Sau đó:
Để nạn nhân nằm ngữa, nhờ một người phụ giúp đứng ở phía trước mặt nạn nhân, người khum xuống tay trái nắm cổ chân nạn nhân, bị trật khớp chân nào thì cầm cổ chân ấy, kế đến dùng chưởng tay phải áp đặt vào gót chân phải của nạn nhân, thí dụ đây là trường hợp nạn nhân bị trật khớp háng bên phải, còn trướng hợp bị trật khớp bên trái thì cầm ngược lại, trong tư thế chuẩn bị ấn đẩy tới trước sao cho chân của nạn nhân được co gập lại, đầu gối chạm vào ngực.
Người cứu chữa đứng về hông bên phải cuả nạn nhân, cúi khom lưng dùng tay phải ấn gối nạn nhân, trong khi đó người phụ giúp dùng sức mạnh ấn đẩy cho đầu gối của nạn nhân co gập lại, người cứu chữa dùng tay trái sờ nắn tìm đầu chóp xương cổ trên, lấy chưởng tay trái ấn đẩy mạnh xuống cho chỏm xương đùi cổ trên, lọt vào bao khớp. Thông thường thì cho rằng khớp đã vào, nhưng trong thực tế chỏm xương đùi chưa tiếp khớp với diện nguyệt của xương chậu, bởi vậy cần phải thực hiện như sau: Người cứu chữa dùng chưởng tay trái ấn mạnh một lần nữa, kế tiếp tay phải đang giữa đầu gối của nạn nhân, lập tức banh ngang khớp háng cứ từ từ mà ấn cho đến khi có tiếng kêu thật khẻ (rắc) thì ngưng ngay, sau đó lại nhắc từ từ lên cao cho gối khép lại, cùng lúc ấy người phụ giúp thấy ám hiệu bảo, kéo giãn thì lập tức kéo giãn thẳng chân và ghịt ngang cho chân của nạn nhân dang (hở) ra. Vì động tác này là động tác sau cùng lấy lại khớp háng, cũng là công việc hóa giải các lực: Như Lực chấn thương, lực co rút của các cơ , và trọng lực.
Trường hợp bị trật khớp háng bên trái: Trật ra trước, háng dang, chi dưới trái ngắn, xoay ngoài. Đau chói vùng trước háng (tam giác Scarpa) thì kỹ thuật lấy khớp pahỉ làm ngược trở lại, nếu trật về (ra) sau háng áp (khép) thì cách lấy lại khớp cũng tương tự giống như trường hợp trật khớp háng bên phải, trật ra sau háng áp, như phần trên đã trình bày, nhưng chỉ khác một chút là đổi vế, còn cách dùng thuốc điều trị cũng giống như các trường hợp bị trật khớp như trên.
VIII. CÁCH CHỮA: SỬA TRẬT KHỚP ĐẦU GỐI:
CHỨNG TRẠNG:
Đầu gối trật về phía trứơc, thì xương ống chân (xương chày, xương mác) đưa ra phía trước, còn xương đầu gối ngắn lại, còn trật khớp vế phía sau thì ngược lại, đầu dưới xương đùi và xương bánh chè đưa ra về phía trứơc đầu xương ống chân (chày, mác) trật ra khỏi khớp lòi ra phía sau.
Trong trường hợp nặng, nạn nhân vừa bị gãy xương. Đùi và khớp trật ra phía trước, chúng ta xử lý ra sao?
CÁCH CHỮA TRỊ:
Đầu tiên dùng thủ pháp (nắn xương) mằn mò xem xương đùi đầu dưới gãy ngang hay hãy chéo vát, nếu trường hợp xương gãy ngang, thì không nguy hiểm bằng gãy chéo vát, nhưng phải cẩn thận nắn nhẹ, mằn mò xương cũng như nâng nhắc ấn đẩy khi tiếp nối xương bị gãy lại sao cho ăn khớp, không nên bẻ vạn vì có thể mãnh xương gãy rất bén và nhọn đâm hay cứa đứt kinh mạch mà gây nguy hại cho nạn nhân.
Phần tiếp xương đã xong ta mau chóng dùng nẹp bó chặt trong đã có thuốc và băng lại.
Có 2 cách chữa trị lấy khớp:
Trường hợp thứ nhất: khớp trật về phía trước, dùng thủ pháp chữa như sau:
để nạn nhân gối hai tay chống về đằng sau có thể tỳ người ngã gnữa về sau đưa chân bị trật khớp ra phía trứơc, người chữa trị đứng bên hông phía chân sau, khum lưng tới trước, tay phải nắm chặt gót chân nạn nhân, tay trái đặt tên xương bánh chè, ấn tại khớp đầu gối với kỹ thuật vận sức ở chưởng tay động tác thật từ từ để đưa khớp vào cùng lúc đó tay phải nắm gót chân cũng từ từ ấn đẩy cho chân nạn nhân từ từ co gập lại, rồi nhẹ nhàng đặt chân nạn nhân xuống để trong tư thế co gập như vậy, người cứu dùng chân của mình đặt chồng lên bàn chân của nạn nhân rồi đạp giữ chặt, lấy đầu gối người cứu, chêm vào đầu trên xương ống (chày mác) nạn nhân, kế tiếp là dùng hai bàn tay đan vào nhau nhắc nâng từ từ ống xương đầu dưới của xương đùi, trong thủ pháp này người cứu phải thực hiện nhịp nhàng cùng lúc dùng đầu gối của mình làm thế tỳ ấn đẩy để đưa đầu trên của 2 ống chân (chày, mác) vào khớp. Khi nghe tiếng kêu khẻ (rắc) là biết 2 đầu xương đã vào khớp thì ngưng ngay. Sau cùng ta làm thêm một động tác nữa là ta phải nắm cổ chân, tay trái đặt trên xương bánh chè nắm gĩư ở đó, rời dùng sức từ từ kéo giãn cho khớp gối duỗi thẳng, đây là cách hóa giải lực cơ (cơ tứ đầu đùi) bọc lấy xương bánh chè hoàn về vị trí cũ (bình thường).
Muốn vết thương mau lành, dùng bài Tiếp Cốt Thông Mạch Thang, ngoài dùng thuốc đấp và bó chữa trị gân xương, nên giữ sao cho êm vết thương khoảng thời gian từ 3 đến 4 ngày thay băng rửa vết thương đấp thuốc mới và băng bó lại cho đến khi nào thấy vết thương lành hẳn thì mới được tháo băng. Kiêng ăn các thứ xanh, lạnh, thịt trâu, bò, gà, vịt, tôm, cua, trái cây có nhiều mắt, nhiều gai, khi vết thương lành hẳn cũng phải tập luyện để hồi phục Cơ Xương.
Trường hợp thứ hai: Khớp trật về phía sau, dùng thủ pháp tương tự như trường hợp thứ nhất, nhưng động tác lấy khớp thì ngược lại.
IX. CHỨNG TRẠNG THÔNG THƯỜNG TRẬT KHỚP CƯỜM CHÂN:
Căn cứ vào vị trí của khớp, khớp bị trật thường gặp các chứng trạng sau:
cườm chân bị trật khớp ra phía sau: Bàn chân phía trước thu ngắn lại, chõ gót chân phía sau dài lồi ra, biết khớp đưa ra phía sau.
Trường hợp khớp mắt cá (bên đưới): Khớp trật ra ngoài, tức bàn chân lật vào trong, hoặc khớp trật vào trong thì ngược lại.
Cườm chân bị trật, khớp đưa về phía trước: Bàn chân dài ra, gót chân lõm vào
Cườm chân trật khớp phía ngoài: Làm bàn chân lật ra sau.
Cườm chân trật khớp phía trong: bàn chân lật tới trước, ống chân thụt xuống cạm đất thâu ngắn lại.
Trường hợp bong gân khớp cườm chân: Là trường hợp nhẹ, tuy nhiên không thấy chứng trạng trật khớp, nhưng vẫn bị sưng, đau nhức.
Trường hợp không bị trật khớp cườm chân, hay bong gân như trên, nhưng bị thụng gân gót: vị trí rãnh gót và diện khớp sên sau cũng làm sưng nhức.
CÁCH CHỮA TRỊ:
Tất cả chứng trạng trên đều gây ra sưng nhức mạch máu không thông bị ứ đọng, từ cườm chân đến cả bàn chân hoàn toàn bị tê liệt. Bởi vậy việc đầu tiên phải dùng thủ pháp thoa bóp, bấm huyệt cho bớt đau nhức. Sau đó đặt nạn nhân vào tư thế thuận lợi nhất để dùng kỹ thuật lấy lại khớp. Công việc bắt đầu là nắn xương để biết khớp trật về phía nào. Sau đó tìm cách kéo giãn thẳng khớp cườm chân và xương ống chân,với một lực kéo giãn vừa phải để có thể ấn đẩy chổ xương trật (hay độ lệch thế xương) đưa về ngay khớp, với kỹ thuật nắn xương phải ngược lại tư thế trật khớp, thì khớp trở lại vị trí cũ (bình thường). Nếu bị trật khớp ở trường hợp nặng thì cũng phải bó cặp nẹp bằng loại nan tre trong có thuốc cho đến khi nào lành hẳn, cũng theo cách thức thay băng rửa vết thương làm thuốc giống như bong gân trật khớp khác, và cũng phải kiêng cữ.
KỸ THUẬT LẤY LẠI KHỚP CƯỜM CHÂN:
Để nạn nhân trong tư thế nằm sấp, hai chân duỗi thẳng,hai tay cặp bên hông, chân nào bị trật khớp co lên,. Người chữa khom lưng xuống dùng một chân đạp vào kheo chân của nạn nhân, và 2 tay nắm gót chân và bàn chân. Thí dụ: Trường hợp nầy nạn nhân bị trật khớp cườm chân trái: thì người chữa dùng chân trái đạp vào kheo chân trái nạn nhân, bàn tay trái nắm gót, bàn tay phải nắm bàn chân kế tiếp.
Động tác thứ nhất: Cùng một lúc, chân trái đạp kheo thì ghì giữ chặt hai tay nhấc bàn chân của nạn nhân lên, nhưng phải thật từ từ để thăm dò độ giãn chỉ vừa phải một lực tương đối để có thể nắn xương đưa xương bị trật về ngay khớp, như thế là cách hoá giải được lực cơ co lại.
Động tác thứ hai: Vẫn giữ nguyên động tác thứ nhất, hai bàn tay vẫn nắm gót và bàn chân của nạn nhân, tay trái nắm gót giữ làm trụ còn tay phải thì từ từ xoay bàn chân của nạn nhân theo chiều xoắn ốc, khi nghe tiếng kêu khẻ (rắc) thì ngưng ngay, đó là hiện tượng khớp đã vào. Sau đó thực hiện phần băng bó thuốc.
X. SỬA TRẬT KHỚP RÃNH GÓT:
NGUYÊN NHÂN:
Nhảy xuống độ cao khi rơi xuống dùng gót chịu lại, ảnh hưởng sự phản lực của mặt đất chấn động đến phần mềm lớp gân gập rãnh gót, nên xương của gót bị lỏm vào, chứng trạng sưng nhức phần gót đi không được.
CÁCH SỬA KHỚP:
Để nạn nhân nằm sấp 2 tay đặt xuôn 2 bên lườn 2 chân cũng duỗi thẳng.
NGƯỜI CHỮA TRỊ:
đứng về phía chân bị thương, người khom lưng phía trước, dùng tay trái nắm cổ chân, tay phải nắm mõm gót, chân trái đạp vào kheo chân nạn nhân để có thể tỳ kéo giãn, kế tiếp tay trái nắm giữ chặt lấy 5 đầu ngón chân ấn xuống cùng một lúc tay pahỉ nắm phần trên nhượng gót, lấy sức mạnh kéo nhấc lên sao cho xương củ gót trở về nguyên trạng, động tác này hai tay phải cùng một lúc thuận chiều nhau, tay ấn tay nhấc lên, khi nghe tiếng kêu khẻ (rắc) thì ngưng ngay tức lớp gân gập rãnh gót đã nhả ra và diện khớp sên sau được trả về vị trí cũ (bình thường). Cũng cần băng bó và điều trị giống như trên.
PHẦN THAM LUẬN
Khi dùng thủ pháp nắn xương để chữa bong gân sai khớp, động tác phải dùng đến: NÂNG, NHẤC, ẤN, ĐẨY, KÉO, GHÌ, XOAY, LAY, GIỰT, cho thật NHANH GỌN CHUẨN XÁC, nhẹ quá khớp không vào, mạnh quá KHỚP cũng không vào lại để dị tật về sau dễ trật lại, vẫn biết rằng độ tuổi nhi đồng thiếu niên Cơ khớp xương chóng lành, nhưng cơ khớp sai sẽ thành dị tật.
Do đó việc chữa thương, chúng ta phải hết sức cẩn trọng chỉ cần Một lực vừa đủ, Một kỹ thuật nhuần nhuyễn, một bí quyết chuẩn xác đó là phương cách tốt nhất, hiệu quả cao nhất trong việc cứu chữa.
Có những trường hợp bị bong gân không cần chữa vẩn lành đó là những trường hợp nhẹ, nhưng nếu biết BÍ QUYẾT lấy lại sẽ khỏi ngay tại chổ không phải một tuần lễ sau mới khỏi, kéo dài sự đau đớn mà lại để dị tật về sau, cho nên cách chữa cấp thời ở đây lại cần thiết cho HLV đang phụ trách LỚP VÕ THUẬT.
Chúng tôi trình bày tập tiêu luận này được xây dựng trên cơ sở học tập hướng dẫn do ân su truyền dạy, cộng thêm sự tham khảo một số tài liệu cùng sự góp ý của giáo sư bác sỉ.
Nhưng bất cứ công trình nào dù thật tuyệt vời, vẫn để lại sai sót, đó là định luật không bao giờ thay đổi, chúng tôi quyết tâm làm, cố gắng hết sức để hoàn thành tiểu luận này để đóng góp, để phục vụ xây dựng MÔN PHÁI cũng không tránh khỏi định luật sai sót, rất mong được sự đóng góp chung lòng phục vụ MÔN PHÁI đó là CÁI NGHĨA vào đời SỐNG VÕ ĐẠO thật sự.
Võ Sư : Nguyễn Văn Vang
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...i-Kh%E1%BB%9Ap
OM TARE TUTTARE TURE SARVA DUKTEN BIGHANEN BAM PHE SOHA
Oṃ_ Tāre tuttāre ture, mama sarva duṣṭan vighnān Hūṃ phaṭ svāhā
OṂ TĀRE TUTTĀRE TURE SARVA VIGANNA (?Vighnaṃ) VAṂ HŪṂ
PHAṬAḤ (?Phaṭ) SVĀHĀ
http://rywiki.tsadra.org/index.php/The_Twenty-one_Taras
Tất Bát (lá Lốt)
BÀI THUỐC “KỲ PHƯƠNG BÁ CHỨNG THẬP NHỊ LINH HOÀN” CỦA DÒNG HỌ TẠ.
- Cô Lan:
Con xin phép đại diện Cửu huyền Thất tổ của dòng họ Tạ, bên ông ngoại con là Tạ Tuyết, Đông Y Sĩ, người tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Từ tổ tiên, từ nguồn cội, ngày hôm nay muốn tiếp xúc với con có vấn đề gì dạy bảo? Con xin phép được nghe- Con chào người. Xin cho biết người là ai vậy?
- Thần Tổ nghiệp- đại diện Tổ nghiệp dòng họ Tạ đây Cô Hai.
- Cô Lan: Dạ, con kỉnh chào người. Thế người có điều gì dạy con? Con có thể giúp gì cho người, hoặc người có thể giúp gì cho con?
- Tổ nghiệp:
Mười hai vị thuốc có thể cứu được sinh mệnh một con người- bất kể là bệnh gì. Trần bì, bán hạ, chi tử, cao lương khương, tục đoạn... Mấy vị rồi? Kim ngân hoa, la hán quả, bột nếp… Mấy vị rồi? Đợi ta một chút. Câu kỷ tử, linh chi, hoài sơn… Mấy vị rồi? Xuyên bối mẫu. Đúng, mười hai vị- Bây giờ lấy giấy viết ra ghi lại đi:
- Trần bì, 12g
- Bán hạ,12g
- Chi tử, 12g
- Cao lương khương, 12g
- Tục đoạn, 12g
- Kim ngân hoa, 20g
- Bột nếp, 100g
- Linh chi, 20g
- Hoài sơn, 20g
- Xuyên bối mẫu, 12g
-La hán quả, loại đã làm thành viên: 6 viên.
-Câu kỷ tử, 12g
** Dẫn chất mật ong. Nhào thuốc bằng bột nếp. Câu kỉ tử để nguyên.
1- Trần bì, sao vàng tán nhuyễn.
2- Bán hạ, sao vàng tán nhuyễn.
3- Chi tử, sao vàng tán nhuyễn.
4- Cao lương khương, sao vàng tán nhuyễn.
5- Tục đoạn, sao vàng tán nhuyễn.
Có thể là tất cả... chỉ trừ Câu kỉ tử để nguyên, tất cả các vị còn lại sao vàng tán nhuyễn. Nhồi với bột nếp, vo viên tròn bằng ngón tay út. Mỗi một buổi ăn cơm uống mười viên với nước ấm.
Sức khỏe ngày càng tăng,
Tật bệnh tiêu trừ,
Bá chứng dần ổn,
Trường lực tĩnh tâm,
Lưu thông khí huyết,
Âm dương tương hợp,
Điều chỉnh mọi lệch lạc, bất ổn của cơ thể.
Hết.
Cô Hai- đại diện dòng họ Tạ, nghiệp tổ nghiệp tông tặng Cô Hai bài thuốc quí. Cô Hai mua về tự làm lấy mà uống đi. Sinh lực mỗi ngày một tăng. Sinh lực, cường lực, tâm lực, khí huyết lưu thông... Cơ thể ngày càng nhẹ nhàng, khỏe mạnh. Cô Hai làm trước đi để rồi thấy tác dụng của nó mà lưu truyền cho bá tánh. Đây là bài thuốc quí gia truyền của dòng họ Tạ, người Quảng Đông, Trung Quốc, tặng cho đứa cháu có tâm lực hành đạo độ đời. Đây là Kỳ Phương Bá Chứng, gọi là bài thuốc “Kỳ Phương Bá Chứng- Thập Nhị Linh Hoàn”.
Con ghi cái tên như vậy: “Kỳ Phương Bá Chứng- Thập Nhị Linh Hoàn”- Bảo truyền của gia tộc dòng họ Tạ, Quảng Đông, Trung Quốc. Kính tặng bá tánh thập phương, tự chứng nghiệm sau mười ngày dùng thuốc.
- Cô Lan:
Con xin cảm ơn. Con tạ ơn Tộc tổ dòng họ Tạ. Con xin người, người còn dạy con điều gì nữa không? Con có điều gì làm cho Tộc tổ chưa được hài lòng không? Tộc tổ tông đường có cần con hỗ trợ một chút gì hay không? Người dạy con điều gì con xin nghe. Con sức khỏe quá kém, chính vì vậy con sẽ ngay lập tức mua bài thuốc này và sử dụng bài thuốc này trong mười ngày như người nói.
- Tổ nghiệp:
Đúng vậy, Cô Hai. Làm thử đi rồi tác dụng nó như thế nào sẽ biết.
- Cô Lan:
Dạ thưa người, như vậy tức là người chỉ có thế thôi, người không có điều gì rầy con, dạy con cả có phải không?
- Tổ nghiệp:
Không có gì cả. Tộc tổ Tông đường chỉ muốn tặng cho Cô Hai một bảo bối gia truyền thế thôi. Tôi đi đây. Chào Cô Hai.
- Cô Lan:
Con tạ ơn người.
http://www.vilaiphap.org/thu-vien-sa...hap/chuong-24/
(神煞): hay Thần Sát Tinh (神煞星), là tên gọi những ngôi sao chiếu mạng quyết định việc tốt xấu của con người. Một số sao Thần Sát thường dùng như:
(1) Thiên Ất Quý Nhân (天乙貴人), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, với người lớn hơn mình, với người khác phái, thích xã giao.
(2) Thiên Y (天醫), người gặp sao này thì có năng lực rất mạnh như học tập, lý giải, quán sát, mô phỏng, tâm hiếu kỳ, tâm nghiên cứu, trực giác, v.v.
(3) Thiên Đức (天德), người gặp sao này thì có tài trí mưu lược xuất sắc, tâm vinh dự cao, năng lực lớn, phàm mọi việc gặp hung dữ hóa thành tốt, được quý nhân giúp đỡ.
(4) Nguyệt Đức (月德), người gặp sao này thì có duyên với mọi người, xã giao, tâm cung kính, tâm trách nhiệm, năng lực thích ứng cao.
(5) Nguyệt Đức Hợp (月德合), người gặp sao này thì có năng lực quán sát, đối ứng, bàn chuyện kinh doanh rất mạnh.
(6) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì trong đời này có tiền tài dư dật, kinh tế không bao giờ gặp nguy cơ, có quý nhân giúp đỡ, thường có phước, có năng lực làm thân, kết duyên lành với mọi người.
(7) Văn Xương (文昌), người gặp sao này thì có năng lực viết lách, văn nghệ, học tập.
(8) Tam Kỳ Quý (三奇貴), người gặp sao này thì có năng lực học tập tinh chuyên, sức tập trung mạnh, đầu óc làm việc linh mẫn, cơ trí nhạy bén, dễ thành nhân tài có kỹ năng chuyên nghiệp, như công trình sư, nhà tư vấn, v.v.
(9) Lục Tú (六秀), là ngôi sao có năng lực viết văn trác việt, người gặp sao này thì có năng lực học tập, tư duy rất mạnh, thuộc nhà nghệ thuật ở trạng thái tĩnh như họa sĩ, nhà thư pháp, sáng tác khúc từ, v.v.
(10) Thập Linh Nhật (十靈日), là ngôi sao thuộc về tôn giáo, người gặp sao này thì có trực giác linh nhuệ, khéo quán sát lời nói, nhìn sắc mặt người, năng lực lãnh ngộ, khéo hiểu ý người, v.v.
(11) Khôi Cương (魁罡), người gặp sao này thì về ăn uống nên thận trọng, chớ ăn thịt bò, chó; duyên hôn nhân rắc rối, tai tiếng, có đủ tinh thần độc lập tự chủ, năng lực tổ chức mạnh.
(12) Học Đường (學堂), người gặp sao này thì có năng lực bắt chước, sáng tác, tưởng tượng, lý giải.
(13) Học Sĩ (學士), người gặp sao này thì có tâm nghiên cứu, lòng hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, có năng lực học thuộc lòng, nhớ dai.
(14) Kim Quỹ (金匱), người gặp sao này thì có đầy đủ năng lực sáng tác, lãnh ngộ, cầm quyền, quyết đoán, quy hoạch.
(15) Tấn Thần (進神), người gặp sao này thì có ý thức chủ quan rất mạnh, kiêu ngạo, tự phụ, không chịu phục tùng bất cứ ai, nóng nảy.
(16) Lộc Thần (祿神), người gặp sao này thì có thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang.
(17) Bối Lộc (背祿), đại diện cho những người xem thường tổ tiên, ly hương biệt xứ, không được hưởng phúc ấm của tổ tông.
(18) Kiến Lộc (建祿:代表建功立業白手自足,不得 視庇蔭,不宜合夥生意), đại diện cho những người tạo công lập nghiệp tay trắng một mình, không được phúc ấm của song thân.
(19) Chuyên Lộc (專祿), đại diện cho những người thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang.
(20) Quy Lộc (歸祿), đại diện cho những người giao tế rộng rãi, tài lộc đầy đủ, tránh chuyện vay mượn, có thể tránh kiện tụng.
(21) Hoa Cái (華蓋), người gặp sao này thì có tâm cầu học, tự động tìm tòi, tự ngộ để đạt đến kết quả cao, có thiên tánh về mỹ thuật, thiết kế, trang hoàng, âm nhạc; về phương diện văn học thì rất hứng thú và có thiên tài; đây là ngôi sao chỉ chuyên về nghệ thuật, tôn giáo, nên có tánh nghiên cứu, muốn tìm cầu, năng lực học tập, tính chất mẫn cảm.
(22) Cô Thần (孤辰), người gặp sao này thì có tánh cách cô đơn, trầm mặc, không nói nhiều, tâm trong sạch, ít ham muốn, thường an phận, không có tâm cầu tiến.
(23) Quả Tú (寡宿), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái rất ít, duyên hôn nhân cũng mong manh, chủ nghĩa độc thân.
(24) Nguyên Thần (元辰), là sao hao tổn, miệng tiếng.
(25) Kim Dư (金輿), là sao về tài của cùng với quan hệ phối ngẫu, được hỗ trợ về chuyện phối ngẫu, kỹ thuật.
(26) Kim Tinh (金星), người gặp sao này thì anh minh, trí tuệ, dũng cảm, quả quyết, kiên nhẫn, cương nhu đều có đủ, chú trọng vinh dự, quyền uy.
(27) Thiên Xá (天赦), người gặp sao này thì một đời bị kiện tụng cửa quan, lao ngục, tai hại ngoài ý muốn, một đời thường đều có thể gặp xấu hóa tốt, có kinh động nhưng không nguy hiểm.
(28) Phước Tinh (福星), người gặp sao này thì có quý nhân tương trợ, kinh tế phát triển, một đời tài lộc, ăn uống sung túc, có duyên xã giao, năng lực kết duyên lành.
(29) Tướng Tinh (將星), người gặp sao này thì hiển đạt về quan quyền, có thể nắm quyền bính trong tay, có năng lực quản lý, quyết đoán, cơ trí.
(30) Dịch Mã (驛馬), là sao đổi dời, đi xa, biến động.
(31) Âm Dương Sát (陰陽煞), người gặp sao này thì nên tiến hành duyên hôn nhân chậm, không nên sớm, mới có thể trừ được lo âu thay đổi chuyện hôn nhân, nên thận trọng trong việc giao tế với người khác phái, mới có thể tránh được chuyện thị phi, tranh giành.
(32) Kiếp Sát (劫煞), người gặp sao này thì có cơ trí linh mẫn, phản ứng nhạy bén, tâm háo thắng.
(33) Quải Kiếm Sát (掛劍煞), người gặp sao này thì dễ mắc phải các bệnh tật về gân cốt, đường ruột, cơ quan vận động, v.v., hằng ngày nên đề phòng các vật kim loại bén nhọn, vật nguy hiểm gây thương tích; dễ bị thương tích đánh đập, ngã quỵ, té xuống đất.
(34) Câu Giao (勾絞), là sao phiền phức về chuyện cảm tình, hôn nhân.
(35) Đào Hoa (桃花), đại diện cho sức hấp dẫn, thu hút, năng lực thưởng thức, trang sức, có duyên xã giao.
(36) Thiên Hỷ (天喜), là sao vui sướng, như ý, có cảm giác thâm sâu, năng lực hòa đồng, tình người.
(37) Hồng Diễm (紅艷), là sao nghệ thuật lãng mạn, có đủ năng lực thưởng thức, thiết kế trang phục, trang hoàng, có duyên với người khác phái.
(38) Hồng Loan (紅鸞), người gặp sao này thì có duyên với người khác phái, tư tưởng lãng mạn, có năng lực phối hợp sắc màu nghệ thuật tranh tĩnh vật.
(39) Lưu Hà (流霞), người gặp sao này thì trong quá trình sinh sản dễ gặp nguy hiểm, lưu sản, dễ mắc bệnh tuần hoàn huyết dịch về tim mạch.
(40) Vong Thần (亡神), là sao ẩn tàng, không lộ hiện tung tích, người gặp sao này thì giỏi về mưu lược, vui, buồn, tức giận đều không thể hiện ra ngoài sắc mặt.
(41) Dương Nhận (羊刃), là sao về chức võ, chủ yếu người gặp sao này thì có tâm háo thắng, không chịu khuất phục, dõng mãnh, đảm đương, lanh lẹ.
(42) Huyết Nhận (血刃), là sao thương tích ngoài ý muốn, bất ngờ, người gặp sao này thì hằng ngày nên thận trọng về bỏng lửa, thương tích đánh đập, các vật kim loại, bén nhọn, chú ý về giao thông.
(43) Phi Nhận (飛刃), là sao gặp công kích bất ngờ, tranh tụng, thị phi.
(44) Cách Giác (隔角), là sao chủ về việc kiện tụng cửa quan, miệng tiếng, thị phi; nếu gặp Hình Xung (刑沖) thì ắt sẽ có tai họa về kiện tụng, lao ngục.
(45) Không Vong (空亡), kim loại rỗng thì kêu to, lửa trống thì sẽ phát lớn, cây rỗng thì mục, đất rỗng thì lỡ sụt; người gặp sao này thì vô duyên với thân thích, nên tinh tấn tu hành.
Ngoài ra, còn có 12 ngôi sao Thần Sát, được gọi là Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, gồm:
(1) Thái Tuế (太歲), có câu kệ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋 、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện.
(2) Thái Dương (太陽), có câu kệ rằng: “Thái Dương cát tinh chiếu, cầu tài ngộ trân bảo, âm dương hữu hòa hợp, định cảm phước lai bảo (太陽吉星照、求財遇珍寶、陰陽有和 、定感福來保, Thái Dương sao tốt chiếu, cầu tài gặp của báu, âm dương có hòa hợp, tất có phước đến nhà).” Người gặp sao này chủ yếu chiếu sáng hóa tốt, lấy lễ đãi người, thông minh cần mẫn, có chuyện vui giáng lâm.
(3) Tang Môn (喪門), câu kệ là: “Tang Môn tối vi hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phá tài tinh ngoại hiếu, nùng huyết kiến tai nghinh (喪門最爲凶、孝服重重逢、破財幷外 、濃血見災迎, Tang Môn thật rất hung, tang phục lại trùng phùng, phá tài thêm bất hiếu, máu chảy thấy tai ương).” Người gặp sao này chủ yếu có đám tang, khóc lóc, hiếu sự hay hung tai, bị trộm cướp, con nhỏ sợ bị mất mạng vì xe cộ.
(4) Thái Âm (太陰), câu kệ là: “Thái Âm nhập mạng lai, thiêm hỷ hựu tấn tài, quý nhân tương tiếp dẫn, canh tác ngộ tài phong (太陰入命來、添喜又進財、貴人相接 、耕作遇財豐, Thái Âm gặp mạng này, thêm vui lại có tài, quý nhân thường giúp đỡ, canh tác gặp của hay).” Sao này chủ yếu tích tụ tài của hoặc thuộc loại ngũ quỷ đem tài của đến, người gặp sao này kinh doanh rất tốt, mỗi ngày càng phát tài, rất hợp với người nữ.
(5) Quan Phù (官符), có câu kệ là: “Quan Phù nhập mạng hung, khẩu thiệt quan ty trùng, phá tài kiêm ngoại hiếu, tác phước đảo thương cùng (官符入命凶、口舌官司重、破財兼外 、作福禱蒼窮, Quan Phù gặp mạng hung, miệng tiếng chốn quan trường, phá tài thêm bất hiếu, làm phước cầu khắp cùng).” Người gặp sao này thường gặp kẻ tiểu nhân, tất gây ồn ào nơi cửa quan, chọn bạn nên cẩn thận, nên khuyên kẻ tiểu nhân làm phước.
(6) Tử Phù (死符), bài kệ rằng: “Tử Phù nhập mạng lai, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ mẫu thê nhi khắc, tác phước miễn tai ương (死符入命來、孝服重重逢、父母妻兒 、作福免災殃, Tử Phù gặp mạng đây, tang phục lại chất chồng, mẹ cha vợ con khắc, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu có tai họa đột xuất như hình phạt của quan ty, bệnh tật, tranh đấu, phá tài, v.v. Người gặp sao này nên thận trọng khi đi băng qua khe nước, nên tìn đường vòng mà đi.
(7) Tuế Phá (歲破), bài kệ rằng: “Tuế Phá nhập mạng lai, nhật nguyệt phá tiền tài, lục súc hữu tổn thất, hợp gia vĩnh vô tai (歲破入命來、日月破錢財、六畜有損 、合家永無災, Tuế Phá gặp mạng đây, trời trăng phá tiền tài, gia súc có tổn thất, cả nhà hết ương tai).” Tuế Phá có nghĩa là xung phá Thái Tuế, chủ yếu làm hao phá tài vật cũng như trong nhà nhiều tai họa kéo dài trong nữa năm.
(8) Nguyệt Đức (月德), bài kệ rằng: “Nguyệt Đức nhập mạng lai, tứ quý tấn hoành tài, tại gia dã vô sự, xuất lộ dã vô tai (月德入命來、四季進橫財、在家也無 、出路也無災, Nguyệt Đức gặp mạng đây, bốn mùa thêm tiền tài, trong nhà cũng vô sự, ra đường chẳng hung tai).” Sao này chủ yếu là đức của người lớn, được gọi là Long Đức (龍德), nhờ bố thí, làm việc thiện tạo lợi lạc, trăm việc gặp xấu hóa thành tốt.
(9) Bạch Hổ (白虎), bài kệ rằng: “Bạch Hổ khiếu nhai nhai, nhân đinh tổn huyết tài, ngưu sự tài quá khứ, mã sự hựu tấn lai (白虎叫涯涯、人丁損血財、牛事才過 、馬事又進來, Bạch Hổ kêu hoài hoài, người thêm tổn tiền tài, chuyện trâu về quá khứ, chuyện ngựa lại về đây).” Sao này chủ yếu có tai họa về tang lễ, phá tài, họa về xe cộ, thương tật; nếu có hóa giải thì sẽ nhẹ bớt; nếu không hóa giải thì quá xấu.
(10) Phước Đức (福德), bài kệ rằng: “Phước Đức nhập mạng du, niên nguyệt tấn tứ ngưu, thiêm hộ tinh tấn khẩu, tài hỷ lưỡng toàn chu (福德入命遊、年月進四牛、添戶並進 、財喜兩全週, Phước Đức đến mạng chơi, năm tháng tăng bò trâu, thêm nhà lại thêm người, tài vui cả hai tròn).” Sao này chủ yếu tốt đẹp, hanh thông, vui vẻ, có thiên tướng, được trời phù hộ, đến đâu gặp xấu hóa tốt, đại thành công.
(11) Điếu Khách (吊客), bài kệ rằng: “Điếu Khách nhập mạng hung, nội ngoại hiếu phục phùng, quan tai tinh nùng huyết, tiểu khẩu đa tao độn (吊客入命凶、內外孝服逢、官災並濃 、小口多遭迍, Điếu Khách đến mạng hung, trong ngoài tang phục chung, tai vạ máu loang chảy, thận trọng miệng tiếng tăm).” Sao này chủ yếu về tang phục, chuyện hung tai, bệnh tật, lo buồn khóc than, trộm cắp, tai nạn về cốt nhục.
(12) Bệnh Phù (病符), bài kệ rằng: “Bệnh Phù nhập mạng hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ phục hữu hình khắc, tác phước miễn tai ương (病符入命凶、孝服重重逢、父服有刑 、作福免災殃, Bệnh Phù đến mạng hung, tang phục lại trùng phùng, thân phụ mang hình phạt, làm phước miễn tai ương).” Sao này chủ yếu bệnh kéo dài lâu, trong một năm hay vài tháng, kỵ thấy xe tang hoặc ăn các đồ tang lễ, nên cúng tế thì có thể giải được.
Tôi đã mất 40% trọng lượng cơ thể ra sao: lịch sử của người đàn ông đã mất 33 kg
Đây là câu chuyện của Hoàng Dương - người đàn ông nặng 97 kg ở tuổi 30 và đã gần đến ngưỡng tới bệnh nan y.
Dương nhận ra rằng anh chưa sẵn sàng để chấp nhân cuộc đời của một ông già béo phì và bị tiểu đường. Anh chọn cách khác.
Tôi biết tôi phải tìm đến những biện pháp quyết liệt hơn. Tôi phải khiến cân nặng của mình trở lại bình thường. Tôi thật đáng thương. Tôi kéo khóa quần cỡ XXXL trên vong eo 112-118cm của mình một cách khó khăn. Tôi thường xuyên thay cúc vì chúng không thể chịu được bị kéo căng.
Việc tìm một chiếc áo vừa vặn trở nên thật khó khăn. Áo phông cỡ XXL căng lên; áo sơ mi cài cúc bó sát cực kỳ chặt vào người tôi khi tôi ngồi xuống. Khi tôi nằm trên ghế bành hoặc trên giường, tôi cảm thấy mình giống cá voi mắc cạn.
Tôi dẫn đến tình trạng này vì vài lý do bắt nguồn từ tuổi thơ của tôi.
Tôi chưa bao giờ chạy đủ một km từ đầu đến cuối không cần nghỉ ngơi và đi bộ chậm, trong cuộc đời mình.
Vào 2015, tôi nặng 97 kg và gần như sắp bị tiểu đường.
Và tôi quyết định rằng tôi cần phải thay đổi cuộc đời mình. Tôi đã lo cho vợ tôi rất nhiều. Tôi không muốn cô ấy trở thành góa phụ.
Tôi bắt đầu với chế độ ăn, như mọi khi.
Tất cả các chế độ ăn đều hoạt động theo một quy tắc giống nhau: Nếu bạn tiêu thụ ít calories hơn mức bạn đốt đi, cân nặng của bạn sẽ giảm.
Nhưng vì một số lý do không rõ, bạn tăng cân và thậm chí là nhiều hơn về sau.
Sau vài tháng ăn kiêng, tôi nhận ra rằng giảm calories là chưa đủ. Tôi cần thứ khác. Có tác dụng hơn và hiệu quả hơn.
Nên tôi đến phòng gym. Nhưng tôi vẫn chưa có được kết quả mình mong muốn. Quá là tra tấn về thể xác và tinh thần. Quá nhiều thứ cấm cho những gì tôi thích - và không có thành quả gì dù chỉ một chút - tất cả đều là lý do cho sự trầm cảm của tôi.
Tôi bắt đầu uống nhiều hơn và tăng cân trở lại bù vào số tôi đã cố gắng giảm, và thêm 8kg.
Nó rất rõ ràng, điều này không thể kéo dài hơn và khi vợ tôi rời bỏ tôi, tôi nhận ra tôi phải chiến đấu vì chính bản thân mình.
Cuộc đời mới của tôi bắt đầu với một cuộc hẹn với nhà trị liệu tâm lý. Tôi có thể tưởng tượng mình đã thảm hại đến ra sao: một người mạnh mẽ nặng 97kg, đẫm nước mắt và mắt sưng lên. Anh ta lau nước mắt bằng khăn tay, than thở về việc anh ta thảm hại và nghèo như thế nào.
Tất nhiên, tất cả những vấn đề của tôi đã được chỉ ra. Không cần bác sĩ thì cũng rõ ràng là tôi đang phải chịu áp lực tâm lý từ sự thừa cân nhưng tôi cần một giải pháp cho vấn đề của mình.
Bác sĩ Hoàng Lan yêu quý của tôi đã đưa nó cho tôi. Không, đó không phải là khóa trị liệu tâm lý. Giải pháp cho mọi vấn đề của tôi là một hộp nhỏ Green Coffee
Khi tôi nhận món quà này, tôi thậm chí không thể tưởng tượng rằng mọi thứ có thể trở nên đơn giản đến vậy. .
Tất nhiên, tôi ngay lập tức hỏi Hoàng Lan về sản phẩm này. Một cách ngắn gọn: Green Coffee- là một sản phẩm mới trong lĩnh vực giảm cân hoặc, nói chính xác hơn, một chất giảm béo cấp tốc. Bạn nên dùng một cách nghiêm ngặt theo hướng dẫn. Trong cùng lúc đó, bạn không cần phải có chế độ ăn kiêng nào cả. (Bạn có thể tìm thêm thông tin trên website chính thức của nhà sản xuất)
TÌM HIỂU THÊM
Sau đó, tôi bắt đầu tìm thông tin về sản phẩm này và tìm thấy một bài báo khoa học ở đó có giải thích chi tiết. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa.
Tôi chưa bảo giờ nghĩ rằng quá trình giảm cân có thể thật dễ dàng như vậy!
Do sự tăng tốc quá trình đốt mỡ và thải độc, bạn sẽ giảm cân rất dữ dội. Thực tế, đó là tất cả những gì tôi cần.
Bạn có thể mua Green Coffee chỉ trên mạng. Sản phẩm chưa được bán rộng rãi lắm.
Dù sao, tôi đã ghé qua trang web và đặt hàng một gói (thêm vào với gói mà bác sĩ đã đưa cho tôi) Green Coffee Rất tiện là nó không cần phải đặt cọc, nó khiến mọi thứ dễ dàng hơn.
Nhưng tôi muốn nói rằng tôi đã không mở hộp thứ hai. Hộp đầu tiên là đủ.
Tôi sẽ không giấu, tôi vẫn tiếp tục chơi thể thao một tuần một lần - để giữ sức khỏe (tôi không muốn có dấu hiệu của bệnh tiểu đường, vì với Green Coffee tôi có thể ăn bất cứ thứ gì tôi muốn)
Chỉ sau 2 tuần, tôi đã bị choáng vì thành quả - giảm 8.3 kg! Tôi đã không thể tin điều đang xảy ra với cơ thể mình. Tôi đang giảm cân , cơ thể tôi đang trở nên gọn hơn và thân hình của tôi đang thay đổi ngay trước mắt tối! Không còn thở gấp. Tôi trở nên nổi tiếng với phụ nữ Tôi sẽ bí mật nói với bạn rằng sức mạnh của dương vật cũng tăng lên vài lần! Cùng lúc đó, tôi chẳng từ chối bản thân mình điều gì!!!
Chỉ người lười mới không thể giảm cân bằng cách này!
Một hộp là đủ cho tôi suốt 3 tháng!
Tôi đã dành rất nhiều tiền cho quần áo. Tôi đổi cỡ áo mỗi 2 tuần. Tôi bắt đầu với áo cỡ XXL. Giờ đây tôi mặc cỡ M .
Ngày 12 tháng Tư, 2016 Tôi nặng 67 kg - giảm hơn 30 kg trước khi rơi vào trạng thái trầm cảm. Trong tất cả, nhờ Green Coffee tôi đã giảm 33kg .
Ấn tượng, đúng không?
Trải nghiệm giảm cân này đã dạy tôi rằng tôi có thể đạt được bất kỳ thứ gì. Tôi cảm thấy như mình đang đứng đầu thế giới. Tôi chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc và tốt hơn thế! Mục đích duy nhất trong đời tôi là để tăng cường sức khỏe của mình. Vâng, nó đã đạt được.
Phần còn lại là để quyết định xem vấn đề nào sẽ là vấn đề tiếp theo.
Tôi muốn nói với những người đọc bài viết của tôi rằng bạn không nên bỏ cuộc việc giảm cân vì bạn sẽ không chú ý rằng bạn sẽ tăng thêm 10kg một năm ra sao và nó sẽ là quá muộn để làm điều gì đó. Thêm vào đó, giảm cân với Green Coffee thật dễ dàng khi bạn thậm chí không để ý rằng mình đang bắt đầu "biến mất".
Bạn có thể đặt hàng chính hãng Green Coffee chỉ trên website của CHÍNH nhà sản xuất. Đây là đưỡng dẫn đến website của họ .
http://nowths.info/rndr/MC_male_hall...AAAAAAE9QO5TAA
KỲ DIỆU BÀI THUỐC CHỮA BỆNH VIÊM XOANG TỪ 7 LOẠI CỎ DẠI
Đăng ngày: 14/10/2016 15:15:05 bởi: Thaitran / Lượt xem: 1029 Cỡ chữ
Hàng chục năm nay, bà Hà Thị Ly ngụ tại xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, đã chữa khỏi bệnh viêm xoang cho rất nhiều người bằng một bài thuốc đơn giản mà không ai ngờ tới. Bài thuốc được làm từ bảy loại cỏ dại. Bà Ly cho biết không cần lặn lội đến nơi để khám bệnh mà có thể tự làm tại nhà với công thức đơn giản dưới đây.
chữa bệnh viêm xoangBà Hà Thị Ly và bài thuốc chữa bệnh viêm xoang
Bài thuốc dân gian
Đặc biệt, bà Ly lại không tự nhận mình là “thần y” , bà cũng chưa từng đọc một quyển sách nào về y dược cả, cũng chưa một lần được đào tạo qua chữa bệnh.
Bí quyết ở đây chỉ là công thức chữa bệnh viêm xoang đã được người xưa truyền lại từ rất lâu. Rất giản dị bà nói “ bao đời nay các cụ đã dùng có hiệu quả thì nay con cháu cứ thế mà làm theo”.
Theo lời vị “lang y chân đất” này cho biết muốn trị được bệnh thì phải biết nguyên nhân gây bệnh trước. Ví dụ như mũi bị viêm nhiễm làm cho sự lưu thông không khí giữa các xoang không được thực hiện, chất nhầy ở niêm mạc xoang tiết ra nhiều nhưng không lưu thông được, là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có hai phát triển. Do cơ địa từng người mà có thể bị dị ứng với hóa chất, phấn hoa, hay đang bị dị ứng về mũi. Một số nguyên nhân khác như viêm da dị ứng , tình trạng viêm mũi kéo dài; hay mắc bệnh hô hấp như viêm phế quản, giãn phế quản, hen phê quản, do mỗi trường khói bụi, ô nhiễm, hoặc mất vệ sinh răng miệng,… đều là những nguyên nhân có thể dẫn đến căn bệnh viêm xoang này.
Sau hàng chục năm tiếp xúc và khám chữa bệnh cho hàng ngàn bệnh nhân, bà đã đúc kết ra những dấu hiệu để nhận biết căn bệnh này như sau:
+ Đau nhức vùng má, nhức vùng gáy, nhức ở giữa hai măt, hai lông mày vào tầm 10h sáng.
+ Dịch chảy qua mũi và họng, dịch có thể loãng hoặc đặc, dịch màu trắng đục hay màu xanh xanh, vàng và có mùi hôi.
+ Mũi bị nghẹt một bên hoặc cả 2.
+ Điếc mũi: giai đoạn nặng, phù nhiều khiến cho mùi không thể len lỏi vào khứu giác, đặc biệt nếu không chữa được thì sẽ ăn lên mũi hoặc xuống cổ.
Bài thuốc đơn giản:
Công thức của bài thuốc chữa bệnh viêm xoang của bà rất đơn giản chỉ từ 7 cây cỏ dại. Bà Ly không biết tên phổ thông hay tên khoa học của những loại cây này mà chỉ liệt kê theo tên người dân địa phương hay gọi sau:
Cây chà là
Cây hang dẻo
Cây cứt lợn
Cây mạy đúc phi
Cây càng cật
Cây giàng giàng
Cây khâu mấu
Những cây này khi được lấy về cần thái nhỏ, đem phơi khô trong khoảng 2 tuần nắng. Sau đó, cho vào nồi đem đun sôi trong 4 tiếng đồng hồ rồi bắc xuống. Người bệnh múc một bát thuốc để uống, rồi xông khi nước còn nóng. Khi xông cần trùm khăn lên đầu để thuốc lan tỏa khắp vùng xoang, bài thuốc có tác dụng thông mũi, làm tan dịch nhầy và diệt xoang.
chữa bệnh viêm xoang
Xông hơi chữa bệnh viêm xoang từ 7 loại cỏ dại
Cuối cùng lấy nước ấm khoảng 35- 40 độ và bỏ vào vài lát tỏi cùng 1 chút muối, dùng này để rửa mặt , vùng mũi để khử trùng.
Để trị bệnh hiệu quả hơn thì bà còn một bài thuốc phụ nữa gồm 2 loại cây là mạy nát phi và cò kèng. Mỗi lần lấy nửa cân để đun sôi nước cho 3 lần tắm.
Và cần lưu ý là thời gian uống thuốc phải đúng theo bà chỉ và kiêng tuyệt đối với những chất phá thuốc” Tuyệt đối kiêng chất tanh từ tôm, cua, cá,… không ăn thịt trâu, thịt lợn sề, không hút thuốc, uống rượu bia.
Đã hơn 70 tuổi, nhưng trông bà vẫn rất khỏe mạnh, ngày ngày bà vẫn vào rừng để hái thuốc dù vất vả nhưng bà nói: “ Giúp người là chính, tiền đó chỉ là tiền công tôi đi tìm thuốc. Ai không có tiền thì tôi biếu luôn”.
Bài thuốc của bà cũng được ông Lã Văn Lợi ( Hội trưởng hội Đông y xã Bắc Lãng ) xác nhận về hiệu quả của bài thuốc chữa bệnh viêm xoang của bà Ly . Ông Lợi nói: “ Việc bà Ly chữa được bệnh viêm xoang là có thật, những bài thuốc đã được chúng tôi lưu lại cho đời sau”.
Bài viết nên xem:
https://dongduocgiatruyen.com/ky-die...-7-loai-co-dai
Mẹo cực hay và đơn giản giúp bạn đuổi sạch kiến
http://www.lamthenao.vn/gia-dinh/meo...sach-kien.html
LONG VƯƠNG THỦY CUNG LINH ỨNG QUẺ XÂM
( 100 QUẺ XÂM )
http://thatsonthanquyen.net/forum/in...g-que-xam.208/
TUYỂN TẬP THẦN BÍ VÀ ĐẠO
http://upanh.ucoz.com/_ld/0/45_Tuyen_Tap_Than_.pdf
Kinh Sách Nghi Thức Đại Toàn Lời Chỉ Dẫn
Lời Chỉ Dẫn
In bài này Email
Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman";}
Lời Chỉ Dẫn
Đây là những nghi thức tụng niệm thuần bằng quốc ngữ với văn pháp Việt ngữ. Nghi thức nào cũng bắt đầu bằng thiền hành và thiền tọa để giúp ta thực hiện được sự tĩnh tâm và an lạc trước khi tụng kinh và niệm Bụt. Mục thiền hành chỉ nên giảm bớt khi bên ngoài có mưa gió hoặc không có địa điểm thuận lợi.
Sử Dụng Chuông Mõ
Đây là nghi thức khai chuông mõ đơn giản nhất. Ba tiếng chuông đầu được thỉnh cách xa nhau đủ để mọi người có thì giờ thở ba hơi (vào, ra) sau mỗi tiếng chuông. Ký hiệu | chỉ cho việc thức chuông (thức có khi gọi là nhắp, có nghĩa là đặt dùi chuông vào vành chuông và dí mạnh vào để báo hiệu rằng sẽ có một tiếng chuông vọng lên, nhằm chuẩn bị cho mọi người phát khởi chánh niệm). Khi nghe chuông, lập tức trở về với hơi thở và thở thật êm dịu theo bài kệ "Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười".
Ký hiệu C chỉ cho chuông, ký hiệu M chỉ cho mõ. Ký hiệu m chỉ cho tiếng mõ nhỏ.
| C C C | m m m mm m m C M C M C M M MM M |
Sau tiếng nhắp | là Duy na bắt đầu xướng để tụng. Tiếng mõ thứ nhất đi với tiếng kinh thứ hai, tiếng mõ thứ hai đi với tiếng kinh thứ tư, và từ đó cứ mỗi tiếng kinh là một tiếng mõ. Đầu câu cuối của bài kinh thì có tiếng chuông. Tiếng kinh áp chót được đặt giữa hai tiếng mõ, và tiếng kinh chót đi với tiếng mõ chót. Ví dụ:
Phép Bụt cao siêu mầu nhiệm
m m m m m
Cơ duyên may được thọ trì
m m m m m m m
Xin nguyện đi vào biển tuệ
m m m m m m m
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.
C m m m m mm m C
Khi trì tụng Tâm Kinh và các bài đà la ni (chú), tiếng mõ nên thỉnh mau hơn, dồn dập hơn, trong khi giọng tụng chỉ nên theo một nhịp trầm. Các bài tụng khác như khai kinh, quy nguyện, hồi hướng v.v... đều nên tụng chậm rãi, vừa trầm vừa bổng để có đủ nhạc tính.
Các câu xướng và tán như dâng hương, tán dương hay lễ Bụt đều có thể đi theo với lễ nhạc cổ truyền. Các bạn nào chưa quen, xin thỉnh một cuộn băng để nghe mà học.
Các Buổi Công Phu ở Chùa
Cùng với sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn này, Lá Bối đã cống hiến sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000 để sử dụng tại các chùa. Sách này có tới mười bốn buổi công phu khác nhau. Ngoài ra, sách còn có nghi Chúc Tán Rằm và Mồng Một, nghi Chúc Tán Tổ Sư, nghi Cúng Ngọ, nghi Thọ Trai, nghi Truyền Giới Sa Di, nghi Tụng Giới Sa Di, một phần phụ lục có Kệ Tán, Thi Kệ Nhật Dụng, và những chỉ dẫn về sự thực tập ba cái lạy.
Nghi Thức Công Phu Tại Gia
Nghi thức này có thể được sử dụng hàng ngày tại gia đình, vào buổi khuya trước khi đi ngủ, hoặc buổi sáng khi thức dậy. Ít nhất người tu tại gia cũng nên sử dụng nghi thức này mỗi tuần một lần vào thứ bảy hay chủ nhật. Nghi thức này không bắt đầu bằng thiền hành; nhưng nếu ta có thể bắt đầu nghi thức bằng ba mươi phút thiền hành thì rất quý. Đã có nhiều gia đình biết thực tập thiền hành chung mỗi ngày, và rất được an lạc nhờ pháp môn này. Ít nhất mỗi tuần gia đình bạn nên thực tập thiền hành chung một lần, vào dịp cuối tuần. Nếu chưa biết cách thiền hành, xin đọc cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ.
Khi nào muốn rút ngắn bớt nghi thức, ta có thể không tụng Tâm Kinh. Bài tụng Quay Về Nương Tựa cũng là một bài lễ nhạc có thể hát được.
Nghi Thức Sám Hối
Nghi thức sám hối có thể trì tụng mỗi tháng một lần. Bài Sám Nguyện là một tấm gương để chúng ta tự soi, và kết quả của sự tự soi này là ta thấy được những vụng về do nếp sống thiếu chánh niệm hàng ngày của ta tạo ra, do đó ta có thể chuyển đổi cách nhìn và cách tiếp xử của ta trong đời sống hàng ngày để phẩm chất an lạc và hạnh phúc được nâng cao.
Nghi Thức Chúc Tán
Nghi thức chúc tán được thực tập mỗi tháng hai lần vào các ngày rằm và mồng một trong giờ công phu sáng và vào sáng mồng một Tết. Bắt đầu nghi thức, vị chủ lễ xướng bài dâng hương hoặc cử bài ấy lên để đại chúng cùng hòa theo trong điệu tán truyền thống của thiền môn. Rồi vị chủ lễ quỳ xuống trước Tam Bảo thay đại chúng xướng bài chúc tán theo điệu xướng truyền thống. Tiếp theo là công phu hàng ngày của thiền môn.
Sau mục Quán Nguyện, tất cả mọi người đứng dậy lạy thù ân. Đây là một phần đặc biệt của nghi thức chúc tán. Chúng ta lạy để biểu lộ niềm biết ơn của chúng ta với Bụt, Tổ, cha mẹ, Thầy, bạn và mọi loài. Nghi thức này đem lại cho ta nhiều niềm vui và tưới tẩm được những hạt giống ân nghĩa và thương yêu trong ta.
Nghi Thức Chúc Tán Tổ Sư
Nghi Thức Chúc Tán này được sử dụng trong những ngày kỵ giỗ các vị tổ sư khai sáng môn phái, hoặc các vị tổ sư khai sơn và thừa kế truyền đăng của đạo tràng mình đang cư trú và hành đạo.
Mỗi đạo tràng nên đưa vào nghi thức pháp hiệu của các vị tổ sư liên hệ trực tiếp đến công trình khai sơn và hoằng hóa tại chùa mình.
Nghi Thức Gia Trì Nước Tịnh
Nghi thức này được sử dụng trong các dịp xuống tóc, thiết lập bàn thờ, đàn tràng, cúng nhà mới, cúng đất đai, khai trương cửa hàng, văn phòng, v.v... Ý nghĩa của nghi thức là nương vào tâm đại bi của Bồ Tát Quan Thế Âm để làm lưu xuất nước tịnh cam lộ mà rảy lên và làm cho thanh tịnh, tươi mát, sống dậy và trị liệu tất cả những gì được nước cam lộ rưới xuống. Một bát nước trong và một nhành liễu cần được chuẩn bị trước khi hành lễ. Nước trong tượng trưng cho định lực, nhành liễu linh động tượng trưng cho trí tuệ.
Nghi Thức Tẩy Tịnh và Nhập Liệm
Nghi thức này được sử dụng để rưới nước cam lộ lên nhục thân người quá cố và trên quan tài để đem lại sự tươi mát và thanh tịnh. Xin xem những lời chỉ dẫn trong Nghi Thức Gia Trì Nước Tịnh. Một bát nước trong và một nhành dương liễu cần được chuẩn bị trước khi hành lễ. Nước trong tượng trưng cho định lực, nhành liễu linh động tượng trưng cho trí tuệ.
Nghi Thức Thành Phục (Thọ Tang)
Nghi thức này được sử dụng để những phần tử trong tang gia tiếp nhận tang phục.
Nghi Thức Thọ Trai
Nghi thức này thường được sử dụng trong mùa an cư vào giờ ngọ trai tại các thiền viện và tại các chùa, nhưng các vị đã thọ Năm Giới và Giới Tiếp Hiện Tại Gia cũng được thực tập trong các khóa thiền tập hoặc trong các ngày hành trì Bát Quan Trai Giới.
Nghi Thức Ăn Cơm Yên Lặng
Nghi thức này có thể được thực tập tại tư gia trong những ngày quán niệm, có hay không có sự tham dự của các bạn trong tăng thân. Mỗi tuần ít nhất nên thực tập nghi thức này một lần vào dịp cuối tuần với những người sống chung với mình.
Nghi Thức Cúng Thất
Theo tín ngưỡng Thân Trung Ấm, người quá cố có thể vãng sinh hoặc đi đầu thai ngay sau khi qua đời, hoặc có thể trải qua thời gian từ một tuần lễ đến tối đa là bảy tuần lễ trước khi đi tái sinh hoặc vãng sinh. Trong thời gian này Thân Trung Ấm trải qua bảy lần chuyển hóa. Sự thực tập chánh niệm, trì tụng kinh điển, trai tăng, bố thí, tạo tác công đức của thân nhân và bạn bè người quá cố có thể làm phát sinh ra rất nhiều năng lượng hộ niệm và yểm trợ cho sự chuyển hóa ấy một cách tích cực. Vì vậy mỗi bảy ngày lại có một lần trì tụng, cầu nguyện, phóng sanh và cúng dường gọi là cúng thất. Lần cúng thất cuối cùng gọi là Chung Thất, được tổ chức long trọng hơn cả. Nghi thức Cúng Thất có thể được bổ túc bằng một trong những kinh điển chọn ở phần kinh văn, như Kinh Thương Yêu, Kinh Phước Đức, Kinh A Nậu La Độ, Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân, Kinh Kim Cương, Kinh Người Áo Trắng, v.v... Trì tụng các kinh này rất bổ ích cho người quá cố và cho những người trì tụng.
Nghi Thức Cúng Ngọ
Nghi thức này được sử dụng tại thiền viện để dâng cơm cúng Bụt vào giờ trưa trước khi khai bảng báo giờ ngọ trai của đại chúng. Tại tư gia, vào những ngày rằm hay mồng một hoặc vào những dịp đặc biệt như Nguyên Đán, Trung Nguyên, Cúng Nhà Mới, v.v... ta cũng có thể sử dụng nghi thức này để cúng dường.
Nghi Thức Thí Thực
Nghi thức này là để thí thực cho các giới cô hồn, được sử dụng tại các chùa trong buổi công phu chiều. Trên bàn thờ cô hồn có cháo, gạo, muối và nước trong. Tại tư gia vào chiều ngày rằm tháng bảy, ta cũng có thể tổ chức cúng cô hồn và sử dụng nghi thức này. Trong nghi thức có bài kệ kinh Hoa Nghiêm rất nổi tiếng: "Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo" và rất nhiều bài chân ngôn. Nghi thức này có mầu sắc Mật Tông. Cần có nhiều định lực và tụng không vấp váp thì sự trì tụng và cúng dường mới thành công. Nên tụng thong thả để đừng vấp váp.
Các Nghi Thức Tụng Giới
Nghi thức tụng giới cho thiếu nhi gồm có ba phép Quay Về Nương Tựa và Hai Lời Hứa, có thể được cử hành riêng hoặc với Nghi Thức Tụng Năm Giới. Thiếu nhi từ mười tuổi trở lên, nếu muốn, có thể ở lại để tham dự lễ tụng Năm Giới. Riêng về Nghi Thức Tụng Giới Tiếp Hiện thì các em không nên tham dự, vì nghi thức khá dài. Ta có thể tổ chức tụng Giới Tiếp Hiện vào một ngày giờ khác để các buổi tụng giới đừng kéo ra dài quá. Ví dụ tuần này tụng Năm Giới thì tuần sau tụng Giới Tiếp Hiện. Nghi thức Tụng Năm Giới cần được một vị có đạo đức hướng dẫn làm chủ lễ. Vị này có thể là một vị đang hành trì Giới Lớn, Giới Sa Di, Giới Bồ Tát hoặc Giới Tiếp Hiện. Nếu không có một trong những vị nói trên thì vị chủ lễ phải là một người đang hành trì Năm Giới và có giới thể thanh tịnh. Các nghi thức tụng giới của người xuất gia không được in trong sách này. Các thiền viện và tăng thân xuất gia nếu muốn có nghi thức ấy xin viết thư về Làng Mai, chúng tôi sẽ vui lòng kính gởi. Tất cả các nghi thức đều có phần thực tập Yết Ma theo truyền thống để hợp thức hóa lễ tụng giới.
Nghi Thức Truyền Thọ Năm Giới
Người chủ lễ nghi thức này là một người có đạo đức được đại chúng kính nể, đang hành trì Giới Khất Sĩ, Giới Nữ Khất Sĩ, Giới Bồ Tát Xuất Gia hay Giới Tiếp Hiện Xuất Gia đã được truyền đăng làm Giáo Thọ hoặc đã được đặc biệt cho phép trao truyền Năm Giới.
Nghi Thức Truyền Thọ Giới Tiếp Hiện
Thầy truyền giới Tiếp Hiện hướng dẫn nghi thức này ít nhất phải là một vị Giáo Thọ trong giáo đoàn Tiếp Hiện, được phụ tá ít nhất là bởi ba thành viên Tiếp Hiện thuộc chúng Chủ Trì dòng Tiếp Hiện. Các thành viên của chúng Đồng Sự dòng Tiếp Hiện và các bạn hữu đều được mời tham dự để hộ niệm.
Thi Kệ Nhật Dụng
Đây là những bài thi kệ cần được học thuộc lòng để thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Gốc rễ của các bài thi kệ nhật dụng này có thể tìm thấy trong nhiều kinh điển, nhất là kinh Hoa Nghiêm. Trong thiền môn, ta có tập Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu của thiền sư Độc Thể, gồm có những bài thi kệ để thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày dành cho các giới xuất gia. Những bài thi kệ mà bạn thấy trong phần này của nghi thức đều bằng quốc ngữ, dễ nhớ, dễ tập, có thể áp dụng cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
Kệ Chuông
Trong phần này có nhiều bài kệ thỉnh chuông, nghe chuông và ngồi thiền. Các bài kệ ngồi thiền này được xướng hoặc tán theo điệu truyền thống (điệu Nhất Canh Dĩ Đáo, Ngũ Canh Dĩ Đáo và Lôi Cổ Tùng Xao) đi theo ba hồi chuông bảo chúng. Các bài kệ này được xướng hoặc tán khoảng mười phút sau tiếng chuông báo hiệu giờ thiền tọa đã thỉnh, lúc ấy mọi người đã có mặt và đã ngồi sẵn ở thiền đường. Đại chúng đáp ứng lại lời niệm Bụt ba lần trước khi đi vào thiền tập.
Phần Kinh Văn
Những kinh văn được in ở phần sau của Nghi Thức đã được trích dịch trong hai Tạng Hán và Pali. Người dịch là thiền sư Nhất Hạnh. Đó là những kinh tiêu biểu cho giáo lý đạo Bụt, hiệu quả của sự tụng đọc không thể đo lường được. Ta có thể đọc một trong những kinh này trong Nghi Thức Công Phu Hàng Ngày, sau khi tụng Tâm Kinh Bát Nhã. Người đọc có thể là vị Duy Na, vị Duyệt Chúng, hay bất cứ người nào có mặt trong buổi tụng kinh có giọng đọc rõ ràng, trong sáng, có thể diễn tả được ý kinh. Tuy những kinh này có thể trì tụng theo tiếng mõ, nhưng thỉnh thoảng cũng nên để một người đọc thôi, đọc tự nhiên không theo tiếng mõ, trong khi mọi người ngồi ngay ngắn lắng nghe lời Bụt. Như thế ta chú tâm được hoàn toàn vào nghĩa lý của lời kinh. Những lời quán nguyện về các đức Bồ Tát Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền và Địa Tạng cũng có thể đọc theo cách này.
Vào những dịp đặc biệt như đầu năm, ta có thể chọn Kinh Phước Đức; khi phóng sanh và làm việc phước thiện, chúng ta chọn Kinh Thương Yêu; cầu siêu độ ta có thể chọn Kinh A Nậu La Độ, Kinh Giáo Hóa Người Bệnh hay Kinh Trung Đạo Nhân Duyên... Thật ra kinh nào tụng trong dịp nào cũng có lợi lạc cả. Những kinh này nên được thỉnh thoảng đem ra học hỏi và đàm luận, nếu có thể thì với sự có mặt của một vị giáo thọ, bởi vì nghĩa lý của các kinh ấy rất thâm diệu tuy lời kinh rất đơn giản. Các kinh này đều rất thiết thực cho sự học hỏi và tu tập hàng ngày của chúng ta.
Phần Phụ Lục
Bài Sám Quy Mạng là do thiền sư Liễu Nhiên, núi Di Sơn, sáng tác, được trích từ sách Thiền Môn Nhật Tụng, phần công phu sáng. Nguyên văn chữ Hán, do thiền sư Nhất Hạnh dịch năm 1956.
Các bài Thi Kệ Nhật Dụng có hiệu lực giúp ta sống đời sống hàng ngày trong chánh niệm. Giới cư sĩ bây giờ cũng có thể thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày như người xuất gia, vì vậy các bài thi kệ đã được in vào Nghi Thức.
Các bài Kệ Chuông, Thiên Long Hộ Pháp và Kệ Vô Thường cần được sử dụng trong các buổi công phu tại chùa. Một số trong các bài ấy cũng có thể được sử dụng trong các buổi công phu tại gia nữa.
Nghi Thức Ăn Cơm Im Lặng cũng có thể được áp dụng ít ra là vài lần trong tuần, trong nếp sống tại gia. Thực tập nghi thức này, ta có thể thiết lập được sự an tĩnh và sự hòa đồng trong gia đình, do đó nếp sống tỉnh thức được thực hiện dần dần trong đời sống hàng ngày.
Bài Phòng Hộ Chuyển Hóa (Đệ tử chúng con từ vô thỉ) in ở phần phụ lục vốn đã được thiền sư Nhất Hạnh biên tập từ năm 1951, in ở sách Gia Đình Tin Phật năm 1952 và tái bản năm 1953 với đầu đề là Phát Nguyện Tu Trì. Văn bản được in trong sách này đã được chính tác giả nhuận sắc vào năm 1993.
Tóm lại cuốn Nghi Thức Tụng Niệm này sẽ tác động trực tiếp đến đời sống gia đình một cách tốt đẹp. Giới trẻ sẽ thấy lời kinh gần gũi, dễ hiểu, có thể đem áp dụng vào đời sống. Thực tập tụng niệm theo nghi thức này một thời gian, giới trẻ sẽ tiếp nhận nhiều hạt giống tốt của Phật pháp làm vốn liếng tâm linh cho hiện tại và tương lai.
Về Danh Từ Bụt
Đạo Bụt truyền qua nước ta từ thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây Lịch. Chúng ta đã gọi Buddha là Bụt ngay từ đầu. Trong văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích) cho tới ngày nay ta vẫn tiếp tục gọi Buddha là Bụt. Trong thiền môn và trong giới học giả, chúng ta đã tiếp tục gọi Buddha là Bụt cho tới thế kỷ thứ 15, khi nước ta bị quân nhà Minh xâm chiếm. Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm hết các trước tác cũ mới của Đại Việt và chở về Kim Lăng. Hai nhà cán bộ văn hóa của nhà Minh là Hạ Thanh và Hạ Thì được chỉ thị thi hành triệt để chính sách này tại Đại Việt. Thư tịch đạo Bụt của nước Minh được chở sang cho người Đại Việt sử dụng. Chúng ta đã bắt đầu theo người Minh gọi Buddha là Phật từ lúc ấy.
Các tác phẩm chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông (như Cư Trần Lạc Đạo Phú, Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca ...) và của thiền sư Huyền Quang (Vịnh Hoa Yên Tự Phú), những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn chương bác học của ta ở thế kỷ 14, vẫn còn gọi Buddha là Bụt.
Vậy học sử dụng trở lại danh từ Bụt không phải là một hành động lập dị mà chỉ là một hành động trở về với truyền thống văn hóa của dân tộc.
Về Phương Pháp Tụng Kinh, Niệm Bụt Và Đi Kinh Hành
Niệm Bụt, dù là Bụt Thích Ca hay Bụt A Di Đà, bồ tát Quán Âm hay bồ tát Địa Tạng, ta không nên chỉ niệm bằng miệng mà không niệm bằng Tâm. Nếu chỉ niệm bằng miệng, ta sẽ mau chóng trở thành một cái máy niệm, chỉ phát được âm thanh mà không phát ra được năng lượng chánh niệm. Niệm bằng Tâm, ta sẽ tiếp nhận được năng lượng của Bụt vốn có sẵn trong ta dưới hình thức hạt giống Phật tính và chánh niệm; năng lượng ấy cũng có mặt trong vũ trụ. Và chỉ khi nào năng lượng trong tâm ta phát sinh thì ta mới tiếp xúc được với năng lượng trong vũ trụ. Trong khi niệm Bụt, ta không thoát ra ngoài khung cảnh bây giờ và ở đây, trái lại, ta thực sự có mặt. Với năng lượng Bụt trong tâm ta, những gì ta đang thấy và đang nghe đều là những gì Bụt đang thấy và đang nghe đồng thời. Vì thế, niệm giúp cho ta an trú trong định, và định làm biểu hiện cõi Bụt trong khung cảnh hiện tiền. Ta sẽ tiếp xúc được với thế giới của bản môn và của tịnh độ ngay trong khi niệm Bụt, và ta có an lạc và vững chãi cũng ngay trong khi niệm Bụt. Niệm Bụt ở đây không còn là một lời cầu khẩn hay kêu gọi mà là một sự thực tập làm cho Bụt và thế giới của Bụt có mặt trong ta và quanh ta ngay trong giờ phút thực tập.
Khi thực tập kinh hành, nên chú tâm tới sự xúc chạm giữa bàn chân và sàn chánh điện, đi từng bước an lạc và thảnh thơi như bước trong Tịnh độ không khác, mỗi bước đi đều có giá trị nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước đi đều đem lại thêm chất liệu chánh niệm, vững chãi và thảnh thơi vào cơ thể và vào tâm thức. Bước đi như in xuống dấu vết niềm an lạc của mình trên mặt đất.
Thay Đổi Kinh Văn, Sám Nguyện Và Kệ Tán
Phần lớn các nghi thức đều có phần trì tụng kinh văn, và Tâm Kinh Bát Nhã thường được đưa ra làm Kinh văn trì tụng. Tuy nhiên hành giả có thể chọn một kinh văn thích hợp trong số các kinh văn có mặt trong sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn này để thay thế cho Tâm Kinh, và thay thế những bài Sám nguyện và Kệ Tán trong nghi thức bằng những bài Sám Nguyện và Kệ Tán thích hợp mà mình ưa thích. Những bài này có thể tìm trong phần Phụ Lục.
http://www.thuvien-thichnhathanh.org...n/309-li-ch-dn