Hơi dài ti tí nhưng hay bửa sau đọc tiếp
Printable View
Hơi dài ti tí nhưng hay bửa sau đọc tiếp
Ừ ! thì ai cũng có hạt gióng bồ đề nhưng lại bị vô minh che khuất ánh nắng khiến hạt gióng không thể nẩy mầm
Hạt giống Bồ Đề là cái khả năng thành Phật của chúng hữu tình. Tất cả chúng sinh điều có hạt giống Bồ Đề, điều có khả năng thành Phật, chỉ trừ Nhất Xiển Đề.
Phát Bồ Đề Tâm tức là phát lời Nguyện thành Phật độ tất cả chúng hữu tình.
Phát Tâm Bồ Đề [Ribur Rinpoche - Hồng Như Việt dịch ]
Phát Tâm Bồ Đề
How to Generate Bodhicitta
Ribur Rinpoche giảng
Hồng Như chuyển ngữ
Ribur Rinpoche
Tâm bồ đề là tâm nguyện vì lợi ích chúng sinh mà cầu giác ngộ. Tâm này quả thật kỳ diệu tuyệt vời. Một trong những vị sư phụ của Lama Atisha có lần nói với ngài như sau: "dù biết được quá khứ vị lai, thấy được linh ảnh đấng Bổn tôn, hay nhập định vững như trái núi, tất cả so với tâm bồ đề đều chẳng có gì đáng nói." Chúng ta ngược lại phục lăn những thành tựu nói trên. Hoặc chính bản thân, hoặc nghe ai khác làm được những việc như vậy - thấy được linh ảnh của Phật, thấy được chuyện quá khứ vị lai, định vững như trái núi - chúng ta sẽ thấy đây thật là việc hy hữu tuyệt vời. Thế nhưng sư phụ của ngài Atisha lại nói "tất cả so với tâm bồ đề đều chẳng có gì đáng nói, vì vậy con hãy lo tu tâm bồ đề".
Dù có tu theo pháp tu Đại Thủ Ấn [Mahamudra], Đại Viên Mãn [Dzogchen], hay hành trì hai giai đoạn phát khởi và viên thành của Mật tông Tối thượng Du già, dù quán được linh ảnh của nhiều đấng Bổn tôn Pháp Chủ, nếu thiếu tâm bồ đề thì những việc như vậy vẫn chẳng mang đến cho quí vị chút lợi ích nào cả.
Đại bồ tát Shantideva có nói "mang hết tám vạn bốn ngàn pháp môn ra khuấy lại, tinh túy của tất cả chính là tâm bồ đề". Mang sữa ra khuấy sẽ gạn được bơ. Tương tự như vậy, mang hết tám vạn bốn ngàn pháp môn ra quán chiếu, tinh túy đều nằm ở tâm bồ đề.
Vì vậy đã là con Phật thì điều quan trọng nhất là phải cố gắng hết sức để có tâm bồ đề không dụng công, hay ít ra cũng phải gắng đạt cho được loại tâm bồ đề có dụng công.
Ribur Rinpoche thị tịch vào tháng 01 năm 2006, nhập định thế kiết già năm ngày sau khi dứt hơi thở, lưu lại hàng ngàn hạt ngọc xá lợi. Hiện nay Phật tử có thể chiêm bái ngọc xá lợi của thầy Ribur qua các buổi chiêm bái Tâm Bảo Điện Ngọc Xá Lợi thuộc Dự Án Di lạc. Xin xem hình nghi lễ trà tì và một số xá lợi khi vừa nhặt trong tro ra ở bìa sau sách này.
================================================== ===============
Xin mời Quý đạo hữu tham khảo về tâm bồ đề và nghiên cứu thêm, tránh việc tự mình nghĩ, tự mình định nghĩa, làm sai lệch ý như lai mà mang tội, VQ không dám giảng mà chỉ đưa lên từ trang web nầy
http://nalanda.batnha.org/giaophapte...he-hng-nh-book, các vị có thể down load , in ra mà tham khảo, tu tâm bồ đề phước đức vô lượng.
Amitaba
cụ già vân quang ơi cho ông nội hỏi cụ rành phật pháp như vậy sao cụ kg đi cày và gieo giống bồ đề (truyện đức phật đi cày và người nông dân) chỉ thấy cụ toàn đi đổ dầu châm lửa ,cụ biết tội ấy như thế nào kg? cụ nên niệm phật cho nhiều nha.
@Vân Quang: Huynh đi đúng hướng rồi!
Chúc mừng huynh! Hy vọng sẽ có duyên "đồng hành lộ", Kim bàng lộ, Kim quang Tuệ, Kim quang Tuế,... Vân linh Quang!!!
Nhã Kính!
Thanks ,
Đạo bất khả tầm, khi tâm chưa thanh tịnh bạn à! Tâm còn động thì chẳng thể cầu đạo.
Bác Nhathien77 quên rồi, còn tiếng thủy triều sao không nghe kể nhỉ?
Tai nghe đâu đó sóng rào
Gió vi vu thổi như ru lòng người
@Cùng quý đạo hữu mắc lỗi dịch nghĩa Phật ngữ theo ý mình, VQ không phải muốn bắt lỗi Quý vị và cho rằng quý vị thấp kém hay trí tuệ chưa đủ, mà mình nói ra vì lợi ích của mọi người, mình nói ra để các vị thấy sai thì sửa, tội làm sai lệch ý nghĩa Phật ngữ hay ý kinh là rất lớn, do đó không phải ai muốn giảng pháp là giảng, người hậu học và sơ căn như VQ chỉ dám bàn luận cho thật rõ nghĩa , mà không dám giảng, khi bàn luận vẫn phải dựa vào kinh điển, nhiều khi vài tháng sau lại thấy không ổn lại đi hỏi người biết nhiều hơn, ví như câu "ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" trong kinh Kim cang, đúng ra phải là "Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" chữ Ứng tiếng Hoa phải nhờ người bạn người Hoa đọc dùm, và tham khảo thêm Kinh Kim Cang tiếng Anh , thì thấy không phải chữ Ưng mà là chữ Ứng.
Nếu biết người ta sai mà mình không nói, chính mình là người mang tội nhiều hơn cả họ. Do đó, với tâm không tôi xin Quý vị nên cố gắng đọc thêm kinh sách để hiểu Phật nói gì, Phật khuyên ta như thế nào ta cố làm theo, chỉ cần làm theo lời Ngài, Ngài là vị Thầy tối thượng thì chắc chắn sẽ không sai đường.
Amitaba
-----------------------------------------------
SƯ HUYNH LẠI SẮP SỬA RỒI
Mệt sư huynh ghê!tâm chúng sanh có sẳn hạt bồ đề đó là hạt giống ko được chắc ,ko được bền ,nên đôi khi phát tâm từ bi hay tu ,hay làm cái gì về lòng từ bi đều ko bền dễ bị hư ,dễ bị bỏ quên khiến hạt bồ đề ko phát triển ,nếu kéo dài hạt sẽ chết ko phát triển ,chứ ko phải ko giống hạt hat bồ đê của chư phật và bồ tát ,hạt bồ đề của chư phật và bồ tát là bền bỉ chắc thiệt ,ko hư dối ,dẫu luân hồi ko thay đổi ,ko hư ,ko nhiễm bởi sâu mọt.
Phật và bồ tát cũng giống như chúng sanh từ thân sắc đến thân tứ đại ,chỉ khác là tâm bồ đề được tu luyện chắc thiệt nên có sự bảo về bao bọc ko sợ hư thôi sư huynh à!
A DI ĐÀ PHẬT:not_worthy::not_worthy::not_worthy:
Thiện tai thiện tai.
Chỉ có tai chứ không có thiện
Thiện tai thiện tai.
Chỉ có tai chứ không có thiện
__________________
VÂN QUANG COI VẬY CHỨ HIỀN KHÔ HÀ !!!ỔNG LA VẬY CHỨ KO SAO?ỔNG LA MỘT HƠI LÀ HẾT LA HE.....HE......
Tóm tắt về bồ đề để chúng ta cùng phân biệt trong mỗi chúng sanh có sẳn tâm bồ đề hay hạt giống bồ đề hay chưa?:
I. Giải thích "Bồ Đề"
Bồ đề là dịch âm Phạn ngữ Bodhi, nhiều chỗ dịch là đạo, có chổ dịch là giác.
Chữ đạo có hai nghĩa: nghĩa thông thường là đường, nghĩa suy diễn là đức lý (bản thể siêu việt). Bồ đề mà dịch là đạo, là lấy cái nghĩa đức lý, và đức lý ấy chính là sở y của bồ đề sẽ nói ở nghĩa thứ 8.
Bồ đề mà dịch là giác, là cái giác trong chữ giác ngộ. Tuy giác là nghĩa chính của bồ đề, nhưng không bao hàm được nghĩa đức lý, huống chi còn có thể lẫn lộn với cảm giác, tri giác, ác giác, là những cái giác trái với bồ đề. Tất cả cái giác này, đối với bồ đề, đích thị gọi là mê. Do đó, bồ đề là giác, nhưng là cái giác chống mê, hết mê, cái giác thuần chính mới là nghĩa chữ bồ đề.
Vì nghĩa của chữ bồ đề như trên đây nên ngài La Thập đã dịch là vô thượng trí tuệ - tuệ giác siêu việt (Trí độ luận cuốn 44), và ngài Tăng Triệu cho biết không có chữ nào hơn để dịch, vì bồ đề là cái chân trí giác ngộ bản thể siêu việt một cách chính xác (Duy ma kinh chú).
2. Loại biệt của bồ đề: Bồ đề là giác, giác thì phải hết mê. Nên giác hiện hành thì mê phải tiêu diệt. Do đó mà phải là tuệ giác của liệt vị thánh giả hết mê mới là bồ đề. Ngoài ra, không có tuệ giác của ai được gọi bằng danh hiệu ấy.
Thánh giả hết mê có thể phân ra ba, nên bồ đề có ba loại khác nhau, đó là Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề, Vô thượng bồ đề.
3. Tự tánh của bồ đề: Tự tánh, hay tự thể tướng, ở đây nghĩa là bản thân. Bản thân bồ đề, theo tam thừa cọng pháp, tức là cả ba loại bồ đề, thì nó là vô lậu tuệ (tuệ này chính là tuệ tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh); còn theo đại thừa bất cọng pháp, tức riêng vô thượng bồ đề, thì nó là 4 trí thanh tịnh.
Lấy 4 trí thanh tịnh làm bồ đề thì thật tam thừa thánh giả chưa được gọi là bồ đề,
Vì lẽ Thanh văn và Độc giác chưa phải biến tri, còn Bồ tát chưa phải vô thượng, mà phải vô thượng chánh biến giác của Phật địa mới thật là bồ đề.
Pháp tu phát tâm bồ đề "BẢY ĐIỂM NHÂN QUẢ"
Khi tu theo pháp tu bảy điểm nhân quả , người tu bắt đầu bằng cách quán TÂM BÌNH ĐẲNG (TÂM XẢ), rồi lần lượt quán từng đề mục như sau:
1. Thấy tất cả chúng sinh đều là cha mẹ của mình
2. Nhớ lại ơn nặng cha mẹ chúng sinh
3. Muốn đền trả ơn ấy
4. Đại TỪ
5. Đại BI
6. Đại NGUYỆN (Tâm nguyện phi thường)
7. Tâm bồ đề
Sáu bước đầu là nhân đưa tới bước thứ 7 là quả
Quý vị không nên xem pháp tu nầy là quá cao vượt quá khả năng của mình, thái độ như vậy là không đúng, Quý vị không nên sợ hải, Pháp tu nầy thật sự thâm sâu mãnh liệt, cứ noi theo nó mà luyện TÂM, từng bước từng bước một chắc chắn sẽ thành công.
Tôi sẽ post lên đây pháp tu nầy, để Quý vị cùng nghiên cứu và tu theo, có những bài tập và người tu theo những bài tập nầy chừng vài năm thành quả ngoài sự mong đơi (có thể nói tu một đời cũng chưa được như vậy),thật không thể nghĩ bàn.
Amitaba
Huynh Vân Quang giỏi phật pháp quá hà .
Bước 1: QUÁN TÂM BÌNH ĐẲNG ( QUÁN XẢ)
Muốn luyện cho tâm mình thấy được tất cả chúng sinh đều đã từng là mẹ của mình,việc đầu tiên cần phải làm là phát triển tâm bình đẳng . Cũng như trước khi họa hình , chúng ta cần xem kỹ mặt vẽ có bằng phẳng hay không, phäi cho thật bằng phẳng không lồi lõm thì mới có thể vẽ.
Ở đây cũng vậy trước khi quán tất cả chúng sinh là mẹ tâm của ta đối với tất cả chúng sinh phải tuyệt đối bình đẳng . Nói cách khác, phäi san bằng tâm lý thiên vị phân biệt, Đừng cảm thấy thân thiết với người nầy xa lạ với kẻ kia. Vì vậy phải phát triển tâm bình đẳng , còn gọi là TÂM ĐẠI XẢ
Bây giờ tôi sẽ hướng dẫn phương pháp luyện Tâm Bình Đẳng. Vị nào đã từng nghe qua phương pháp này rồi, xin hãy thiền quán theo lời giảng. Còn vị nào chưa từng nghe qua, xin chú ý lắng nghe ghi nhớ. Xin tất cả quý vị ngồi đây hãy cố gắng “khởi chí nguyện phát Bồ Đề Tâm” nghĩ rằng mình nhất định phải có cho được Tâm Bồ Đề. Như tôi có nói, pháp tu này do các vị Lama dòng Kadampa dạy, hữu hiệu vô cùng, nhất là pháp tu kết hợp Bảy Điểm Nhân Quả và Hoán Chuyển Ngã Tha do Lama Tông Khách Ba truyền dạy. Vì vậy xin quý vị hãy chăm chú lắng nghe, phát khởi tâm nguyện cho thật mãnh liệt, như sau: “Tôi nhất định sẽ tu theo, nhất định sẽ phát Tâm Bồ Đề”.
“TÔI NHẤT ĐỊNH SẼ TU THEO , NHẤT ĐỊNH SẼ PHÁT TÂM BỒ ĐỀ”
Bây giờ hãy quán tưởng phía trước có ba người: một người luôn làm quý vị khó chịu, nghĩ tới thôi đã cảm thấy mất vui. Kế bên là một người quý vị luôn cảm thấy thương yêu, nghĩ tới thôi đã cảm thấy hân hoan vui vẻ. Kế bên lại có một người hoàn toàn xa lạ, không làm lợi, cũng không gây hại cho quý vị. Nghĩ đến ba người như vậy, quý vị cảm thấy ghét bỏ người mình không ưa, quyến luyến người mình thích và dửng dưng đối với kẻ lạ.
Bây giờ, quý vị hãy nghĩ tới người mình ghét, tự hỏi “ người này thật ra đã làm gì tôi? Tại sao tôi lại ghét đến như vậy?” Quý vị sẽ thấy thật ra quý vị ghét như vậy chỉ vì người ấy trong kiếp hiện tại đã từng làm hại quý vị một tí. Ngang đây nên quán về sự biến chuyển của khái niệm bạn và thù tong pháp tu Lam – rim dành cho bậc trung căn. Đây là một trong những khiếm khuyết của luân hồi: chúng ta không thể biết chắc ai là bạn, ai là thù. Có khi đang bạn lại biến thành thù, có khi đang thù lại trở thành bạn. Phải nghĩ như vầy: “Mặc dù người ấy đã từng hại tôi trong đời này, nhưng từ vô lượng đời kiếp quá khứ cũng đã nhiều lần lo lắng chăm sóc tôi. Trong kiếp hiện tiền dù có hại tôi chăng nữa, cũng vẫn ít lắm so với mối quan tâm đã từng chia sẻ cho nhau từ vô lượng kiếp trước. Vậy mà tôi lại xem người ấy như kẻ thù chân chính, thật quá sai lầm”. Quý vị nên suy nghĩ như vậy nhiều lần để dần dần san bằng cảm giác thù ghét.
Bây giờ hãy nghĩ đến người mà quý vị yêu thương, luôn khiến quý vị vui vẻ hạnh phúc khi gặp mặt. Quý vị cho rằng đây là người bạn chân chính, thân thiết hơn bất cứ một ai, quyến luyến đến nỗi không muốn rời xa dù chỉ trong chốc lát. Nếu xét kỹ vì sao lại như vậy, sẽ thấy lòng yêu thích ấy chỉ đến từ chút ít lợi lạc người kia mang đến cho quý vị. Nhận được một ít lợi lạc nên quý vị cảm thấy hân hoan vui vẻ. Nhưng thật ra quý vị phải thấy rằng: “Mặc dù kiếp này người ấy đã mang chút ít lợi lạc đến cho tôi, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trong các đời kiếp vô lượng về trước, người này đã từng là kẻ thù của tôi, đã từng làm hại tôi đến nỗi chỉ thấy mặt thôi là đã phát ghét. Cho dù người ấy đã có làm lợi cho tôi, đang làm lợi cho tôi, và sẽ làm lợi cho tôi chăng nữa, cũng không nên vì vậy mà yêu quý quyến luyến quá độ, vì người ấy cũng đã từng làm hại tôi rất nhiều rồi." Cứ suy nghĩ vậy cho thật nhiều, rồi sẽ từ từ bỏ được cảm giác tham đắm.
Bây giờ quán tới người xa lạ. Khuynh hướng tự nhiên của quý vị đối với người này sẽ là: “Tôi không quen, cũng không quan tâm. Người này có liên hệ gì tới tôi đâu, trong quá khứ cũng không, trong hiện tại cũng không, trong tương lại cũng không nốt, việc gì tôi phải quan tâm đến người ấy?” Thái độ như vậy hoàn toàn sai lầm. Quý vị phải nghĩ như thế này: “tuy rằng bây giờ người ấy đối với tôi chẳng phải bạn cũng chẳng phải thù, nhưng trong rất nhiều đời kiếp về trước đã từng là người thân của tôi. Vì vậy tôi không thể dửng dưng.” Phải suy nghĩ như vậy nhiều lần để san bằng cảm giác dửng dưng đối với kẻ lạ, tương tự như khi quý vị tập san bằng cảm giác thương ghét đối với người thân kẻ thù.
Vậy khi ngồi thiền, trước tiên quý vị phải nghĩ rằng hoàn toàn không có lý do gì để mình phải ghét kẻ thù, vì kẻ thù cũng đã từng là bạn thân của mình trong nhiều đời quá khứ. Cần quán như vậy rất nhiều lần để san bằng cảm giác ghét bỏ, mở tâm bình đẳng đối với người mình ghét. Rồi lại nghĩ rằng cũng chẳng cần phải quyến luyến người mình thương, vì người mình thương bây giờ cũng đã từng là kẻ thù trong nhiều kiếp trước. Quán như vậy nhiều lần để san bằng cảm giác tham luyến, mở Tâm Bình Đẳng đối với người mình thương.
Khi quán ba loại người như vậy, chúng ta nhìn họ qua ba lăng kính khác nhau: bạn, thù và kẻ lạ. Tuy vậy không ai cứ mãi là bạn, là thù, hay là kẻ lạ. Vì vậy chúng ta chẳng có lý do gì để mà ghét người này, thương người kia, hay dửng dưng với kẻ nọ.
Nếu xét kỹ lại xem ba người kia thực sự là ai, sẽ thấy họ đều là chúng sinh, đều giống nhau ở điểm cùng muốn được hạnh phúc, cùng không muốn khổ đau. Vì vậy không có lý do gì lại dựa vào lòng thương ghét hay dửng dưng của mình để phân họ ra thành ba loại người như vậy. Quý vị phải tập nhìn như vậy, cho thật nhiều lần, đến một lúc nào đó, quý vị sẽ thấy cúng sinh ai cũng như ai, tình cảm quý vị dành cho mọi loài đồng đều như nhau. Đây là kết quả mà quý vị cần phải đạt đến.
Dù cho mỗi ngày quý vị có tụng câu Tứ Vô Lượng Tâm: Nguyện cho chúng sinh / cùng được hạnh phúc / và mầm hạnh phúc / nguyện cho chúng sinh / cùng thoát khổ đau / và mầm khổ đau v.v. nhưng nếu không có Tâm Bình Đẳng thì trong thực tế tụng như vậy cũng giống như là tụng “nguyện cho chúng sinh cùng được hạnh phúc và mầm hạnh phúc, nhưng mà chỉ nguyện cho chúng sinh nào tôi thích thôi, mặc kệ chúng sinh tôi không thích.” Dù quý vị có tụng câu này siêng năng thiết tha đến đâu chăng nữa, nếu chưa có Tâm Bình Đẳng thì tất cả cũng chỉ là ngôn từ, không phải Tứ Vô Lượng Tâm thật sự.
Do đó Tâm Bình Đẳng quan trọng vô cùng. Dù phải tốn nhiều năm thắng nhập thất chỉ để miên mật tu Tâm Đại Xả, cũng là việc rất nên làm. San bằng được cảm giác thương ghét đối với người thân kẻ thù là điều vô cùng lợi lạc cho tâm thức của mình.
....
Còn tiếp
Amitaba
(Đại sư Ribur Rinpoche thuyết giảng)
SƯ HUYNH VÂN QUANG
P bài hay mà nhiều nữa mai mốt muội p qua d đ kia để giúp cho bá gia đọc ha , ghi là của VÂN QUANG phát tâm he......
lâu wa kg thấy tỷ phi dai viết bài nhất là colony công công biến đâu mất ,còn hôm offline thấy quạ đen biến thành bồ câu hiền dễ sợ.
Tại mắc cỡ ý mà