hi hi hi Cậu vẫn khỏe chứ ? hi hi
hi hi hi Cậu vẫn khỏe chứ ? hi hi
Dạ cám ơn, rh05 vẫn khỏe ạ! Hiii
QUẢNG KẾT THIỆN DUYÊN
Đời sống tu học của người Phật tử, trong cuộc sống nhân sinh điều quý giá nhất chính là sự “Quảng Kết Thiện Duyên”, tự mình biết gieo nhân thiện hành cho cuộc sống của chính mình. Nên việc kết thiện duyên rất quan trọng để kết nối việc thiện cảm và gieo duyên Phước lành cùng mọi người. Vậy làm thế nào để chúng ta cùng kết một Thiện Duyên có ý nghĩa ?… đối với cái nhìn của người có tâm từ bi, luôn khoan dung và độ lượng; biết tha thứ người khác chính là tha thứ cho chính mình.
Trong cuộc sống Nhơn Sinh chúng ta có duyên mới gặp nhau trong tình thân bằng quyến thuộc hoặc tình đạo hữu; dù là thiện duyên hay là nghịch duyên cũng không ngoài “Nhân Quả” của đời trước chúng ta đã từng (vay+trả) gieo duyên kết nối oan trái (thuận hay nghịch) nhiều đời; đều do sự vô minh tham ái, ích kỷ lợi danh che khuất “Bổn Tánh Diệu Mình” của chính mình. Khi các duyên hội đủ chúng sẽ đến với cái Quả mà mình đã từng gieo trong các Nhân “Thiện hay Ác” của quá khứ hoặc hiện tại.
Duyên lành cho người có thiện duyên gặp được giáo lý Phật và quý Thầy cùng các bạn đồng tu (Thiện Hữu Tri Thức) đã từng giúp đỡ trên con đường tu học đạo và đời; mới có được một đời sống an vui hạnh phúc; mới hoàn thiện được cuộc sống an cư lạc nghiệp.
Muốn tránh xa được các việc bất thiện (Chư Ác Mạc Tác - Chúng Thiện Phụng Hành) nên cần phải biết tìm cho mình một minh sư để dẫn dắt cho đời sống mình, biết đi theo Chánh Pháp, giúp mình tìm ra chân lý để tu tập hoàn thiện được đời sống con người. Chính là “quảng kết thiện duyên” mới có một đời sống an lạc hiện tại và vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 ĐẠO ĐỨC TRONG ĐỜI SỐNG 】
“Quan Niệm Đời Sống Thế Gian” có người cho rằng; mỗi người sinh ra trong đời này đều mang một số mạng riêng của mình (giàu hay nghèo do trời định, số phận con người sinh ra mang nhiều biến dạng khác nhau… người có trí tuệ, người thì ngu si, bệnh tật yểu mạng hay thọ mạng sống lâu..v.v…) vậy thứ hỏi ông trời hay thượng đế có công bằng chăng ?!…
“Quan Niệm Đời Sống Đạo Phật” mỗi người chúng ta sinh ra đều mang một cái Nghiệp (số phận) khác nhau… là do “Nhân Quả” nghiệp duyên bất đồng… tất cả mọi sự nghiệp thế gian (giàu nghèo, bệnh tật, yểu mạng hoặc tứ chi đầy đủ cường tráng sống lâu, trí tuệ minh mẫn, phước đức tràn đầy…) đều do Nhân Quả của chính mình mà ra.
“Đạo Đức Trong Đời Sống” chính là căn bản đời sống của con người biết gieo “Nhân” thiện duyên trong hằng ngày tích tụ các Thiện Nghiệp cho đời sống hiện tại và vị lai… để có được một “Quả Lành” trong kiếp người sinh ra thân tướng được trang nghiêm, tứ chi đầy đủ, trí tuệ minh mẫn, phước đức tuệ mạng lâu dài… sinh ra đời đời gặp được Phật pháp.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 TÂM CẢNH VIÊN DUNG 】
Hành giả tu hành Phật thừa; hằng sống trong Chánh Niệm Tỉnh Thức “6 căn” không phan duyên ô nhiễm theo ngoại cảnh "6 trần" thì “6 căn và 6 thức” tự nhiên thanh tịnh. Không cần chuyển hóa các pháp tạo tác gì cả; biết buông bỏ ngã chấp và pháp chấp làm dao động, mê mờ, che lấp "Chơn Tâm" (Phật Tánh) của chính mình mà thôi. Tu là để trở về sống với bản thể chơn tâm tự tánh của chính mình, tự thanh tịnh an lạc, tự sáng suốt chiếu soi (tự an định, an nhiên thanh tịnh) tuỳ duyên bất biến, tuỳ duyên vô nhiễm.
Tổ Đạo Tín dạy: 6 Căn không duyên theo (không chạy theo, không trụ vào các hình danh sắc tướng...) 6 Trần thì Trần Cảnh tự nhiên vắng lặng (trong tâm). Nếu Tâm ta không chấp vào mọi việc Thiện, Ác (không bám víu, không thụ, không dính mắc, không trụ... ...) cũng không bỏ (không diệt trừ) thì trọn ngày đối cảnh mà Cảnh vẫn lặng (tức là cảnh không chi phối được tâm ta) nên cũng chẳng cần diệt trừ hết muôn vật mới có vắng lặng. Tức là mình không mê mờ (không quên) Chơn Tánh (tánh không) thì tâm cảnh kia tự nhiên vắng lặng thanh tịnh.
Tổ Huệ Năng dạy: Gốc Tánh mình vốn sẵn có Tự Định, tự Tịnh nhưng vì (Mắt) thấy Cảnh (rồi Tâm chạy theo cảnh, đem cảnh vào Tâm) tưởng cảnh (Nhớ cảnh, dính mắc vào cảnh, chấp cảnh là thật) nên Tâm mới bị rối loạn (dao động). Nếu thấy cảnh (động tịnh, thuận nghịch) mà Tâm chẳng dao động, rối loạn (Tâm bất động, vẫn an định) thì mới thật là "Chơn Định" .
Tu Hành; chính là tịnh hoá “tam nghiệp thuần hòa - giữ gìn các giới hạnh thanh tịnh” (lục căn bất nhiễm lục trần) chuyển hoá nghiệp hoặc vô minh tích tụ nhiều đời làm ô nhiễm (tâm thức) tham, sân, si, mạn....tà kiến triền phược “thân tâm” tạo nghiệp thọ quả sinh tử luân hồi...(12 Nhân Duyên).. Hành giả khi giác ngộ các pháp duyên sinh huyễn hợp (biết huyễn lìa huyễn) là giải thoát... "Tu chính là chuyển hóa cái tâm sinh diệt - Quy về với tâm bất sinh-bất diệt"... Không nên lầm chấp vào các pháp huyễn hoặc làm chướng ngại Đạo Hạnh tiến hoá đời sống tự lợi, lợi tha; tuỳ nghiệp duyên cảm ứng của mình tu học nối tiếp “tuệ căn” vào đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(Sưu tầm)
BẢY ĐIỀU GIỚI HẠNH TẠI GIA TU HỌC
1- Phật tử khi đã “Quy y Tam Bảo” cần phải giữ trọn 5 giới (Thập Thiện) không làm các điều ác (tam nghiệp thuận hòa - lục căn thanh tịnh) phát “Bồ Đề Tâm” cần làm các điều thiện. Người Phật tử tu học hằng sống trong Chánh Niệm.
2- Tu học trong đời sống không ngoài “Nhân Quả” hằng sống trong chánh niệm tỉnh thức (nội tâm hỉ lạc) cần tịnh hoá được (3 nghiệp) thân khẩu ý vọng tưởng phiền não "nghiệp hoặc vô minh" (Tam Nghiệp hằng Thanh Tịnh) đời sống người tu mới có an lạc tự tại giải thoát.
3- Bạn tu (3 nghiệp) thân khẩu ý chưa thanh tịnh? "6 căn, 6 thức" còn đắm nhiễm "6 trần" liễu có giải thoát được về Cực Lạc không ?... tu "Thiền-Tịnh-Mật" cũng phải giữ Năm giới (Thập Thiện) không cho "6 căn" ô nhiễm duyên theo "6 trần" thì "6 thức" mới được Thanh Tịnh.
4- Cần xa lìa mọi sự tham ái danh lợi, buông bỏ mọi sự chấp trước vi ký dục lạc; đừng than số phận hận đời “vì gieo nhân thất đức” nên nghiệp mình cưu mang. Tội kia sám hối chưa tròn, duyên trần nay trả nghiệp mình đã vay.
5- Bổn phận làm Cha Mẹ nên gieo Phước lành để lại “Nhân Từ, Đạo Đức, trí Tuệ” cho con và chính mình. Không phải vàng bạc ngọc châu báu; là Đạo Đức làm Người Chánh trực Chơn Thiện Mỹ.
6- Dù bạn có học rộng THIÊN KINH VẠN QUYỂN cũng phải bắt đầu tu từ (THÂN KHẨU Ý) chuyển hoá được (3 Nghiệp) tất cả “Vô Minh Phiền Não” tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thụ kiến, giới cấm thủ kiến... tà kiến (thập triền) mới là người tu Chơn Chánh.
7- Người học Phật cần phải giữ trọn giới hạnh tu tập Tuệ Quán (quán xét lỗi mình - đừng xét lỗi người) lời nói có Lễ Nghĩa Nhân Từ, Đức Hạnh Khiêm Cung; có Lợi Lạc cùng mọi người và giữ “Nhân, Nghĩa, Lễ, trí, tín” làm tròn bổn phận đạo hiếu của người Phật Tử tại gia tu học giữ gìn chánh hạnh.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
12 ĐIỀU AN LẠC TRONG ĐỜI SỐNG
1. Biết xa lìa mọi tham ái, dục vọng, sân hận, si mê, ngã mạn triền phược gây nên vọng tưởng vô minh phiền não khổ đau. - là Phước Lành Cao Thượng Nhất dẫn đến An Vui và Hạnh Phúc trong đời sống.
2. Không kết giao với người ác, cần phải biết thân cận với bậc hiền trí, và tôn kính bậc sư đáng kính.
3. Tự chọn cho mình ở nơi thích nghi, đã có tạo công đức trong quá khứ, và tâm Chánh Niệm hướng về Chánh Đạo.
4. Học nhiều hiểu rộng, lão luyện tinh thông thủ công nghiệp, giới hạnh thuần thục trang nghiêm, có lời nói Lễ Nghĩa, Nhân Từ Đạo Đức.
5. Hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ, thương yêu tiếp độ vợ con đời sống an lạc, hành nghề Chánh hạnh.
6. Rộng lượng bố thí, tâm tánh trực giác, giúp đỡ họ hàng, và tạo nghiệp chân chánh.
7. Loại trừ và ngăn ngừa các nghiệp ác, biết thận trọng xa lìa các chất say mê, vững vàng giữ gìn phẩm hạnh đạo đức.
8. Đức hạnh biết tôn kính, khiêm tốn, biết sống thiểu dục tri túc, biết ơn đúng lúc và lắng nghe Giáo Pháp Phật.
9. Nhẫn nhục, biết vâng lời, thường gặp gỡ quý vị Thiện Tri Thức, bậc Sa Môn và tùy thời luận đàm về Giáo Pháp.
10. Tự kiểm soát mình, biết sống đời Thánh Thiện Nhân Từ, quán tri Tứ Thánh Đế, Chánh Niệm Tỉnh Thức, liễu ngộ Niết Bàn.
11. Người biết tu tâm không bám chấp phan duyên dao động khi tiếp xúc với thế gian pháp, Không Ưu Sầu Phiền Muộn, Vô Nhiễm và An Định.
12. Đối với ai đã thực hành viên mãn hoàn thiện các pháp trên, biết tuỳ duyên thuận pháp, xứng tánh tu tập không thất bại, đi khắp mọi nơi đều được Viên Dung Tự Tại, An Lạc và Hạnh Phúc.
Đó là Phước Lành An Lạc Hạnh Phúc Cao Thượng Nhất Của Đời Sống Nhơn Sinh.
Người Phật Tử Tu Học biết tuân theo 12 điều trên. Thực hành đúng lời Phật dạy... đời sống mới có an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ DI LẠC TÔN PHẬT
(sưu tầm)
ƯNG VÔ SỞ TRỤ - NHI SANH KỲ TÂM
Kinh Kim Cang: Nhất Thiết Hữu Vi Pháp, Như Mộng, Huyễn, Bào, Ảnh, Như Lộ Diệc Như Điện, Ưng Tác Như Thị Quán…
..."Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm" là không sanh Tâm Phan duyên bám víu vào các hình, danh, sắc, tướng và các Pháp...(Nhị Ngyên) KHÔNG chấp trước như: Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, Mũi ngửi mùi, Lưỡi nếm vị, thân xúc trạm, ý sanh Tâm Phân biệt.
Kinh Kim cang nói: Nhứt thiết hữu vi pháp như mộng, như huyện, như bào, như ảnh, như lộ diệc như điện.... tất cả đều do duyên sinh hòa hợp mà thành; không nên chấp trước Trụ nơi âm thanh sắc tướng sanh Tâm...
("Ưng Vô Sở Trụ" là Tâm không có bám víu, chấp trước, trụ vào nơi các pháp thiện ác; và các hình tướng sai biệt; vui buồn, giận ghét, có không, được mất, danh lợi. Không sanh Tâm hiếu kỳ, ích kỷ tị hiềm tham đắm vào các cảnh giới dục lạc,; sanh tâm si mê; được toại ý thì vui; không toại ý thì buồn; giận hờn oán trách; dẫn đến sự tà kiến tạo nghiệp thọ quả).
"Ưng Vô Sở Trụ" nghĩa là không trụ vào tất cả các Pháp tướng; thì Chơn tâm mới hiển lộ. Vì tất cả các pháp chuyển động, vạn vật biến đổi vô thường không ngừng trong vũ trụ. Cũng như tâm thức chúng ta niệm niệm không ngừng trong "Ngũ uẫn" hay là ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều do cả thảy duyên hợp thành... không có thật thể. Nên xa lìa không chấp thụ gọi là "vô sở trụ".
Kinh kim cang nói :
Nhược Dĩ Sắc Kiến Ngã
Dĩ Âm Thanh Cầu Ngã
Thị Nhơn Hành Tà Đạo
Bất Năng Kiến Như Lai.
Hành giả nếu giác ngộ được những nguyên lý duyên sinh như huyễn. xa lìa "tứ tướng" không bám víu trụ vào bất cứ một pháp nào cả thì Chơn Tâm mới tự hiện.
- "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" là tông chỉ của kinh Kim Cang, và hiểu được câu này là ta đã biết cách trụ tâm và hàng phục tâm. Phật dạy muốn trụ tâm và hàng phục tâm, hành giả không nên trụ chấp vào bất cứ ở một pháp tướng nào dù đó là Phật hay quả vị chánh giác. Hành giả trực nhận chơn tâm bằng tâm "vô trụ", như tâm vô trụ của các vị Thiền sư "đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền"....
..."Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" không chỉ là yếu chỉ tu hành chuyển hoá nghiệp thức "tam độc" chấp trước vào 4 tướng còn bị "sở tri chướng" làm chướng ngại thân tâm, giúp cho thường sống trong Tỉnh giác xã ly tham dục phan duyên theo ngoại cảnh...
... Hành giả biết tự tin nơi mình, làm chủ được bản thân, không chấp trước bám víu ô nhiễm theo bất cứ hoàn cảnh nào. Biết quay về sống với Phật Tri Kiến (bổn giác diệu minh) an trụ nơi Chơn Tâm, thường hằng tỉnh giác ứng hoá như nhiên, tuỳ duyên vô nhiễm an nhiên tự tại.
__ Tóm lại "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" là biểu thị các tính chất vô sở trụ không thể tưởng tượng nổi của tâm giác ngộ. Đó là tâm như hư không vô sở hữu, nhưng đó lại là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, nó biểu thị rằng không gian, thời gian và số lượng đều là ảo hóa, đều là không có thật. Trong tâm giác ngộ đó thì không có chỗ trụ, không chấp có, không chấp không, cũng chẳng phải không có, chẳng phải không. Tóm lại là không để lọt vào tứ cú. Tình trạng đó không thể dùng ngôn ngữ và lời nói để diễn tả được, mà phải chứng nghiệm, thiền Ấn Độ gọi là nhập niết bàn, hay chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác; các tổ thiền sư quy về với “bản lai diện mục” và thiền Trung Hoa gọi là kiến tánh thành Phật.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
HỌC PHẬT ĐỂ GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT
- Học Phật là để giác ngộ (thấy-biết) hiểu rỏ Nghiệp-Duyên và Nhân-Quả trong vũ trụ vạn hữu và giử trọn “5 giới hạnh” tu tập (10 thiện nghiệp) phát Bồ Đề Tâm tự độ và độ tha, giác hạnh mới viên mãn. Tu học đạo hạnh “giác ngộ giải thoát” không phải để tìm cầu cảnh giới lạc thú nơi an tịnh vắng lặng trong cảnh giới Phật hay cực lạc tịnh độ riêng mình.
- Học Phật để biết nương theo chơn lý thánh đế (Tứ Diệu Đế) giữ gìn các giới hạnh, trang nghiêm thân tâm, tu tập “tam nghiệp thuận hoà - lục căn thanh tịnh” tăng trưởng tuệ căn... để chuyển hoá các Nghiệp Thức vô minh phiền não (tam độc) tham, sân, si, mạn... tà kiến triền phược theo tập quán mê tín nhiều đời; để được an lạc trong đời sống hiện tại và vị lai.
- Học Phật để hoàn thiện “Tự Tánh Diệu Minh” của mình, để báo ơn Cha Mẹ nhiều đời và 10 phương chư Phật, Bồ Tát và các vị thánh hiền đem ánh sáng chơn lý đến khắp mọi nơi cho tất cả pháp giới chúng sanh. Biết nương theo tu tập giử tròn giới hạnh bổn phận của người Phật tử tu học theo đạo hạnh bồ Tát tự độ và độ tha, nguyện cùng pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo.
CHƯ ÁC MẠC TÁC
CHÚNG THIỆN PHỤNG HÀNH
TỰ TỊNH KỲ Ý
THỊ CHƯ PHẬT GIÁO.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 NHƯ LAI THANH TỊNH THIỀN 】
Phật dạy: Nên biết rỏ: “Thiền pháp” là yếu chỉ tu tập dẫn đến con đường “giác ngộ giải thoát” hợp với "lý Bát Nhã Trung đạo" còn gọi là Nhất thừa thiền, Phật thừa thiền, Như Lai Thanh tịnh thiền, hay "Tối thượng thừa thiền" nên không chấp trụ vào một thân tướng thiền nào Cố định hay đặc biệt nào cả; chỉ xem các tướng thiền ngồi, đi..vv... các pháp thiền là phương tiện trong một giai đoạn nhất định nào đó theo căn cơ, thói quen, sở thích và chọn lửa của người tu mà thôi.
"Thiền Tâm" cốt ý là luôn luôn Tĩnh thức giữ Tâm vắng lặng, Thanh Tịnh an Lạc trong mọi hoàn cảnh thuận nghịch, vui buồn, éo le, trớ trêu trong cuộc sống thực tế hằng ngày tức là không lúc nào quyên sống với Chơn Tâm vốn tự định, tự Thanh Tịnh sáng suốt thường trụ bản nhiên. - Phật Pháp không rời xa nhơn thế. "Thiền Tâm" không ngã mạn không tị hiềm (không sợ, không ngán) không rời xa thế sự.. viên dung tự tại tuỳ duyên vô nhiễm.
Hành giả Tu theo "Thiền Tâm" của Phật không câu nệ, không bị lệ thuộc vào một thân tướng Thiền nào nhất định cả như ngồi đi..vv..., không bị ràng buộc vào một hoàn cảnh đặc biệt nào cả như có học cao, giàu sang, mạnh khỏe, xuất gia, cảnh vắng..vv... vẫn sinh hoạt bình thường như mọi người nhưng họ biết cách Tâp luyện làm sao (như thế nào) để cho những sinh hoạt tầm thường đó có thể làm trống tâm họ không bị dính mắc, lôi cuốn và bị trói buộc bám víu vào những trần cảnh vui buồn, yêu ghét, tham, sân, si, mạn... tà kiến triền phược vào các hình, danh, sắc, tướng thuận nghịch; nên dể bị vướng mắc "trụ Tâm thức sanh diệt" vào một chỗ để có định theo thân tướng cố định lầm chấp sai biệt, do chưa được nghe, hiểu, đọc nghiên cứu về Pháp Môn "Thiền Tâm" của tâm pháp Bát Nhã Trung Đạo.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
TƯỞNG NIỆM ĐỨC PHẬT NHẬT NIẾT BÀN - VÔ NGÃ TRONG ĐẠO PHẬT
"Vô Ngã" là mục tiêu cứu cánh của đạo Phật dẫn đến con đường Trung Đạo hầu mong giúp cho chúng sinh vượt khỏi những trạng thái Tâm Thức hữu hạn, đi đến vô hạn “Niết Bàn” mặc dù là Đức Phật đã dọn sẳn con đường “giác ngộ giải thoát” lý tưởng ấy nhưng không phải ai cũng đủ thắng Phước, phá vỡ được mọi lớp vô minh nghiệp hoặc sinh diệt, để đi đến đích cuối cùng là "Vô Ngã" vị tha. Hầu hết phàm phu chúng ta đều chấp ngã rất sâu nặng, bị kẹt vào Ngã sở và Ngã ái.
Vô Ngã là gì ?... Vô là không, Ngã là cái Tôi, "Bản ngã hay Tự Ngã" như vậy “Vô Ngã” là không có cái (Tôi ) thực thể cố định ở trong mỗi con người. Thân thể con người là do duyên hợp của hai thành phần là: sắc thân (vật chất) và tâm linh (tinh thần). Sắc thân do Tứ Đại (đất nước gió lửa) hợp thành. Còn Tâm thì do các yếu tố "Thọ, Tưởng, Hành, Thức" chấp thủ. Đức Phật dạy: Cái gì do nhiều Duyên hợp thành thì không có thực thể của cái Ngã, chỉ là duyên sinh huyễn hợp.
“Ngã” (tôi) là hai thành phần “vật chất và tâm linh” luôn quyện vào nhau mới sinh ra ảo giác cái Tôi có thật, đồng thời bản tánh cố chấp vào đó rất mãnh liệt cho nên mỗi người đều có một cảm giác cái Tôi khác với mọi người và mọi vật bên ngoài. Cũng vì cái Tôi này mà sinh ra ích kỷ chỉ muốn lợi mình; không muốn lợi người, nên mới phát sinh Tâm bất thiện như: tham lam, sân hận, đố kỵ, kiêu ngạo, ác kiến v.v... Vì thế con người chúng ta ai cũng mang sẳn cái Bản Ngã trong mình một bản năng hưởng thụ, bướng bỉnh, cố chấp, thành kiến, chủ quan, hẹp hòi v.v... là do chú trọng vào cái Tôi.
Đức Phật đã dạy chúng ta diệt Bản Ngã để đi đến Vô Ngã hoàn toàn. Khi không hiểu được lẽ Vô Thường của cuộc đời, vạn vật, cây cỏ, con người nên ta xem trọng cái Ngã (tôi) của mình; trong (vũ trụ vạn hữu) trái đất, vạn vật, thực vật, động vật không tồn tại vĩnh cữu, tất cả đều theo sự tuần hoàn sinh diệt của vũ trụ.- Tất cả mọi chúng sinh, vạn hữu trên thế gian không ai có thể tự tồn tại độc lập một mình được mà đều có tương quan chặt chẽ với nhau. Sỡ dĩ chúng ta không nhận ra điều này bởi vì chấp ngã đã tạo ra cái Tôi riêng biệt khác với mọi người, tạo ra thành bức tường vô hình ngăn cách giữa người với người.
Tất cả những hạnh phúc, vui tươi hay đau khổ của con người, nó là sự kết quả sinh thành bởi những hành động của con người gây ra… là do Tâm làm chủ và ý vẫn hành tạo tác. Thật vậy tất cả chúng ta không ai muốn mình đau khổ. Nói đến "Vô Ngã" là nói đến mấu chốt vô cùng quan trọng trong tiến trình của người (Phật Tử) tu tập đạo hạnh cho những ai đi trên con đường tu học cầu đạo gíac ngộ giải thoát.
Hành giả; muốn đạt được "Vô Ngã" trước tiên phải biết buông bỏ hết ngã chấp và pháp chấp. Đức Phật đã tìm ra được con đường “giải thoát”, giác ngộ sau 6 năm khổ hạnh và 49 ngày nhập Đại Định dưới cội cây bồ đề. Ngài đã thoát khỏi Nghiệp thức sinh diệt luân hồi sanh tử; vì lòng Từ-Bi nguyện hoá độ chúng sanh, hòa nhập với vạn vật, sống một đời thánh thiện an lạc hạnh phúc cao thượng. Đức Phật đã tìm ra được con đường đi đến giác ngộ giải thoát…/ bài pháp đầu tiên được đức Phật khai thị giáo lý “Tứ Diệu Đế” về sau thành giáo đoàn Phật giáo.
Đức Phật là một Vị Giáo Chủ, một bậc Thánh tuyệt đối. Phật lấy việc giáo hóa chúng sinh từ nơi mê lầm trở về con đường giác ngộ, từ đau khổ đến an vui hạnh phúc, thoát khỏi trầm luân sanh tử, là mục tiêu tối thượng trong đời hành Đạo của Ngài. giáo lý "Vô Ngã" là thánh tánh Niết Bàn, dẫn đến con đường trung đạo. Đức Phật dạy cái Ngã (tôi) là đầu mối của mọi sự tranh chấp vì danh lợi; xung đột mâu thuẩn là do chấp Ngã mà ra… Vô Ngã là không chấp có cái Tôi, là cánh cửa dẫn đến an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
ĐẠO PHẬT KHÔNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN
Chúng ta đang sống trong thời gian dịch nạn, thế giới loạn ly… sanh diệt biến đổi vô thường. Không nên sợ hại, mọi sự việc đều có Nhân Quả của nó, nên bình tâm cẩn trọng giữ gìn sức khỏe biết tự phòng hộ cho mình và mọi người trong gia đình và xã hội, biết tu tâm tích đức mới có được sự bình an.
Mỗi người đều có một Nghiệp riêng của mình, cần phải biết chọn cho mình một đời sống an vui hạnh phúc; đừng nên để cho Nghiệp sở thích dẫn mình vào nơi ô nhiễm trước môi trường u mê (Vô Minh) đoạ lạc trong các cảnh phiền não trầm luân khổ hài.
Mọi sự việc “ưu, bi, khổ, não” do tự mình gieo nhân "thiện hay ác" đều bị Nghiệp lực chia phối trong quy luật “Nhân Quả” theo định mệnh (Nghiệp) riêng của chính mình. Không có Thượng Đế và Trời Phật nào giáng họa hay ban phước cho mình cả.
”Thượng Đế Bổn Mình Triết Từ Ái Hiện Ngã Thân”上帝本明哲 慈愛现我身
- Thượng Đế hay Trời Phật rất công bằng.
- Không ban phước và giáng họa cho ai cả.
- Mọi sự việc đều tất nhiên có “Nhân và Quả của nó.
Chúng ta muốn biết “Nhân” quá khứ hãy nhìn vào “Quả” hiện tại... muốn biết “Quả” vị lai. Nên nhìn vào mọi việc mình gieo “Nhân” của chúng ta hiện tại đang làm... mọi sự trong thế gian và xuất Thế gian không ngoài Nghiệp Duyên trong Nhân Quả.
Chỉ có “đạo đức chơn lý” con người biết tu nhân tích đức hướng thiện tu học, thực hành “Bát Chánh Đạo” thẹo con đường Thánh Đế mới giúp cho chúng ta có một đời sống giác ngộ an vui hạnh phúc... nối tiếp “Thiện Căn Phúc Đức” tăng trưởng trí tuệ trong đời sống hiện tại và đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
NHẨN LÀ CỘI NGUỒN TRĂM PHƯỚC
Tu tâm cần phải học chữ Nhẩn “một câu nhịn chín câu lành” Nhẩn là trăm phước sinh ra “Trí Tuệ” làm người không ai tránh khỏi sự sai lầm; tuỳ theo mọi sự việc làm của mình nặng nhẹ. Người biết hành vi lời nói lỗi lầm của mình làm sai; mới là người “Quân Tử” biết sữa sai lại lỗi lầm của mình. Người không biết nhẩn lỗi “sám hối” sữa lại những lỗi lầm mới là người làm sai. "tà không thể thắng được chánh". ngựa đi được đường dài mới biết con ngựa có sức mạnh hay không.
- Chúng ta tu đạo, tu tâm chì vì tu sữa lại lỗi lầm của mình từ quá khứ và hiện tại. Làm người không ai tránh khỏi sai lầm cả! đời sống phải có Từ tâm và Đức hạnh. Cuộc sống trong đời cần phải có “Nhân Từ” làm người không có “nhân từ đức hạnh” thì đạo quả khó mà viên thành. Tu không tròn đạo hạnh; thì đời sau phải trả “Quả”. - làm con cần phải biết hiếu dưởng Cha Mẹ và tôn kính yêu thương lẫn nhau cùng mọi người trong gia đình và xã hội... Mới là người có đạo nghĩa biết Tu tâm (tu đạo). Xây dựng cuộc sống hạnh phúc hiện tại và tương lai...
- Tu Hành giả; cần phải biết buông xã mọi sự biên kiến “Chấp Ngã và Chấp Pháp” dung hòa cùng mọi giới hạnh “Kiến Tánh KhởiTu” học tập và thực hành "Đức Nhẩn" viên dung cùng mọi người. Nhẩn là đứng đầu của Trăm Phước. "Nhẩn" là Mẹ chư Phật 3 đời sinh ra “Trí Tuệ". Bất luận Thuận cảnh hay Nghịch cảnh “Thiện hay Ác” đều là tấm gương cho chúng ta soi lại chính mình; để biết quy về với Chơn Tâm Thường Trụ "Tỉnh Giác" thấy biết tỏ tường các pháp duyên sinh như huyễn.
Không nên để chúng làm chướng ngại thân tâm và sự tiến hoá tu tập theo con đường Đạo Hạnh Bồ Đề.
Kinh Kim Cang nói :
"Nhất Thiết Hữu Vi Pháp,
Như Mộng, Huyễn, Bào, Ảnh,
Như Lộ diệc Như Điện,
Ưng Tác Như Thị Quán"...
Tạm dịch :
"Thấy, Biết" tất cả pháp thiện ác, đúng sai, phải quấy, vui buồn, được mất, khổ đau, và mọi hình tướng sai biệt (Có và Không) các pháp đều như giấc mộng, huyễn hoặc, như đầu xương trên ngọn cỏ, ánh trăng dưới đáy nước, như bóng mây thoáng qua, đồng như điện chớp. Quán xét được như vậy; hành giả sẽ được an lạc tự tại giải thoát".
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 VÔ NGÃ TRONG ĐẠO PHẬT 】
"Vô Ngã" là mục tiêu cứu cánh của đạo Phật dẫn đến con đường Trung Đạo hầu giúp cho chúng sinh vượt khỏi những trạng thái Tâm Thức hữu hạn, đi đến vô hạn Niết Bàn. Mặc dù là Đức Phật đã dọn sẳn con đường giải thoát lý tưởng ấy nhưng không phải ai cũng đủ thắng Phước, phá vỡ lớp vô minh nghiệp hoặc sinh diệt, để đi đến đích cuối cùng là "Vô Ngã" vị tha. Hầu hết phàm phu chúng ta đều chấp ngã rất sâu nặng, bị kẹt vào Ngã sở và Ngã ái.
Vô Ngã là gì ?... Vô là không, Ngã là cái Tôi, "Bản ngã hay Tự Ngã". Như vậy Vô Ngã là không có cái "Tôi" thực thể cố định ở trong mỗi con người. Thân thể con người là do duyên hợp của hai thành phần là: sắc thân (vật chất) và tâm linh (tinh thần). Sắc thân do Tứ Đại (đất nước gió lửa) hợp thành. Còn Tâm thì do các yếu tố "Thọ, Tưởng, Hành, Thức" chấp thủ. Đức Phật dạy: Cái gì do nhiều Duyên hợp thành thì không có thực thể của cái Ngã, chỉ là duyên sinh huyễn hợp.
Hai thành phần vật chất và tâm linh luôn quyện vào nhau mới sinh ra ảo giác cái Tôi có thật, đồng thời bản tánh cố chấp vào đó rất mãnh liệt cho nên mỗi người đều có cảm giác cái Tôi khác với mọi người, mọi vật bên ngoài. Cũng vì cái Tôi này mà sinh ra ích kỷ chỉ muốn lợi mình; không muốn lợi người, nên mới phát sinh Tâm bất thiện như: tham lam, sân hận, đố kỵ, kiêu ngạo, ác kiến v.v... Vì thế con người chúng ta ai cũng mang sẳn cái Bản Ngã trong mình một bản năng hưởng thụ, bướng bỉnh, cố chấp, thành kiến, chủ quan, hẹp hòi v.v... là do chú trọng vào cái Tôi.
Đức Phật đã dạy chúng ta diệt Bản Ngã để đi đến Vô Ngã hoàn toàn. Khi không hiểu được lẽ Vô Thường của cuộc đời, vạn vật, cây cỏ, con người nên ta xem trọng cái Ngã (tôi) của mình; trong (vũ trụ vạn hữu) trái đất, vạn vật, thực vật, động vật không tồn tại vĩnh cữu, tất cả đều theo sự tuần hoàn sinh diệt của vũ trụ.- Tất cả mọi chúng sinh, vạn hữu trên thế gian không ai có thể tự tồn tại độc lập một mình được mà đều có tương quan chặt chẽ với nhau. Sỡ dĩ chúng ta không nhận ra điều này bởi vì chấp ngã đã tạo ra cái Tôi riêng biệt khác với mọi người, tạo thành bức tường vô hình ngăn cách giữa người với người.
Tất cả những hạnh phúc, vui tươi hay đau khổ của con người, nó là kết quả trung thành bởi những hành động của con người gây ra mà Tâm là chủ và ý vẫn hành tạo tác. Thật vậy tất cả chúng ta không ai muốn mình đau khổ. Nói đến "Vô Ngã" là nói đến mấu chốt vô cùng quan trọng trong tiến trình tu tập đạo hạnh cho những ai đi trên con đường tu học cầu đạo gíac ngộ giải thoát.
Để đạt được "Vô Ngã" thì đầu tiên là phải buông bỏ được hết ngã chấp và pháp chấp. Đức Phật đã tìm ra được con đường giải thoát giác ngộ sau 6 năm khổ hạnh và 49 ngày nhập Đại Định dưới cội cây bồ đề. Ngài đã thoát khỏi Nghiệp thức sinh diệt luân hồi sanh tử; vì lòng Từ-Bi nguyện hoá độ chúng sanh, hòa nhập với vạn vật, sống một đời thánh thiện an lạc hạnh phúc cao thượng. Đức Phật đã tìm được con đường đi đến giải thoát; - đầu tiên được đức Phật khai thị giáo lý “Tứ Diệu Đế” về sau thành giáo đoàn Phật giáo.
Đức Phật là một Vị Giáo Chủ, một bậc Thánh tuyệt đối. Phật lấy việc giáo hóa chúng sinh từ nơi mê lầm trở về con đường giác ngộ, từ đau khổ đến an vui hạnh phúc, thoát khỏi trầm luân sanh tử, là mục tiêu tối thượng trong đời hành Đạo của Ngài. giáo lý "Vô Ngã" là thánh tánh Niết Bàn, dẫn đến con đường trung đạo. Đức Phật dạy cái Ngã (tôi) là đầu mối của mọi sự tranh chấp vì danh lợi; xung đột mâu thuẩn là do Chấp Ngã mà ra, Vô Ngã là không chấp có cái Tôi, là cánh cửa dẫn đến an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ 】
Trong toàn bộ giáo lý tu học theo các pháp môn trong đạo Phật tu hành chỉ là biết quy trở về với “Phật Tánh” của mình, quay về với tự tánh thanh tịnh "Bổn Thể Diệu Minh" viên dung bình đẳng trong mọi sự ý niệm, hành vi tạo tác nên giữ cho tâm tĩnh lặng; lời nói nhu hoà, lễ nghĩa khiêm cung (không làm các điều ác - nên làm các việc thiện) tâm không vọng tưởng tham ái dục lạc, vọng cầu các việc danh lợi, trong cuộc sống biết “thiểu dục tri túc” tâm thường an định. Hằng sống trong đạo đức nhân từ, giữ đúng giới luật là điều kiện để tu tập thành tựu “Chánh Niệm Tỉnh Thức” trang nghiêm đức hạnh, gieo nhân Phước lành cho hiện tại và đời vị lai.
Tu học đúng theo luật Nhận Quả “không làm điều ác - thực hành các việc thiện” người làm các điều ác… mà không biết hối cải thì nhất định sẽ rước lấy quả báo ác và đau khổ. Nhưng cái gì thúc đẩy chúng ta nói điều ác và làm điều ác? Đó chính là tâm chúng ta. Trái lại, khi chúng ta nói lời thiện, làm các điều thiện, do tâm chúng ta nghĩ thiện, thì không nghĩ tà, không làm các điều ác... thực hành “Bát Chánh Đạo” sẽ giúp cho chúng ta không tái sanh vào các cõi ác, được tái sanh vào các cõi lành. Nghĩa là, con người thiện vẫn luân hồi, nhưng chỉ luân hồi trong các cõi an lành. Thế nhưng, mục đích tối hậu của đạo Phật là siêu việt lên trên thiện và ác, đạt tới lý tưởng giác ngộ và giải thoát, đạt tới cảnh giới toàn giác như Đức Phật vậy.
Hành giả sống trong chánh niệm, tâm an định và thiền quán trong sự tĩnh lặng; gọi là Thiền, Nếu thực hành miên mật đúng pháp... giúp chúng ta đạt tới chỗ tâm hoàn toàn không còn vướng mắc sẽ được giải thoát. Kinh Kim Cang, một bản kinh Đại thừa nổi tiếng có câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Nghĩa là tâm vị Bồ Tát tuy đối diện với sắc, với thanh, hương, vị, xúc, pháp... tức là với mọi cảnh trần bên ngoài; không chấp thủ, không vướng mắc, thật sự buông xả mới giải thoát cái tâm vô trụ và không chấp thủ đó, cũng gọi là cái tâm vô niệm, cái tâm dứt bỏ các niệm, các ý nghĩ, cái tâm hoàn toàn bình lặng và thanh tịnh, lâu dài và an định, thì có thể nói đó là một bước tiến bộ rất lớn trên con đường tu tập đạo giác ngộ để thành tựu con người lý tưởng, tức là thành Phật.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 THIỀN VÔ TƯỚNG 】
Thiền giả; Tu Thiền bằng cách hợp nhất Tâm Tánh: là một lối Thiền không có một đối tượng gì để chuyên Tâm vào cả, tác động đột khởi của "Tâm Diệu Minh" tuyệt đỉnh; là cốt tủy của tất cả giáo pháp thiền.
Đối với những người chưa vào được cổng "không" thì đây là một pháp Tu khó nhất. Nhưng đối với những người đã vào được, thì đây là một pháp môn dễ nhất. Tất cả những luyện tập và tu tập khác chỉ là những phương tiện chuẩn bị cho "Nó". Điểm cốt yếu của pháp tu này là nhận ra được bản "Tánh Diệu Minh" (Chơn Tâm) của tâm mình, hoặc ít ra cũng thoáng thấy được "Nó" một khi đã nhận ra được Tâm Tánh này. Thiền giả sống được với "Nó" rất an nhiên tự tai.
Hành giả hẳn đã thâm nhập vào (bản lai diện mục) bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu không chút khó khăn. Trong động hoặc trong tịnh, cái ý thức của "Diệu Minh Chơn Tánh" hẳn luôn luôn chiếu sáng (Tịnh Minh ) trong hành giả. Mặc dù sau khi nhận ra hoặc thấy-biết “Tâm Tánh” vẫn còn một con đường dài để đi, cái thoáng (thấy-biết) đầu tiên được tất cả các hiền triết trong Phật giáo xem là điều quan trọng nhất, mà tất cả các hành giả mong cầu được.
Thiền giả; một khi đã vào được cái "cổng không cổng" này rồi. Thiền Định không còn là một tu tập hoặc một nỗ lực nữa. Bấy giờ "Nó" đã trở thành một tác động tự nhiên ngẫu phát của đời sống Tâm linh. Nhưng muốn để đạt được cái "cổng không cổng" này. Hành giả; phải tu tập chăm chỉ vào pháp môn "không có gì để tu này" sẽ có một người bạn "đồng hành" Chơn thật, luôn luôn sống làm bạn với chúng ta. Nó chính là (Bản Lai Diện Mục) nay ta đã gặp lại, theo con đường giác ngộ "tự giác, giác tha", tự lợi, lợi tha, giác hạnh mới viên mãn.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 Y PHÁP BẤT Y NHƠN - Y NGHĨA BẤT Y NGỮ 】
- Nguồn Giáo Lý Đạo Phật (Tứ Thánh Đế) và các giáo pháp trong Đạo Phật được phát triển từ "Đức Phật Thích Ca" và các vị Tổ Sư đến nay, đã hơn 2500 năm. Chúng ta chỉ là người hậu học. Bất luận là lời Phật hay Tổ hoặc chư vị Thánh hiền giáo thuyết... Chúng ta cần phải có "Chánh Tri Kiến" nếu quán xét đúng "Chơn Lý". Tu tập thực hành được an lạc, thì nên y pháp phụng hành... Không nên chấp trước phân biệt giáo môn hay chủng tộc, cần phải có tâm từ bi bình đẳng; buông bỏ mọi thành kiến bản ngã. Biết tuỳ duyên ứng dụng, để Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.
- Phật Pháp xiển dương các pháp “Vô Ngã, Vô Thường, Khổ” trong thế gian biến đổi sanh diệt chẳng dừng (thành trụ hoại không) “sinh trụ hoại diệt” là Phật khai thị cho tất cả chúng sinh hiểu rõ và thấy biết mọi pháp thế gian đều do cả thảy duyên sinh huyễn hoá hợp thành, không ngoài "Nhân-Quả". Đức Phật thuyết tất cả pháp đều là phương tiện, mục đích là cứu khổ ban vui (Như Ngón Tay Chỉ Trăng) giúp cho chúng sinh tuỳ duyên thuận pháp, lìa khổ được vui, chuyển hoá các Nghiệp thức vô minh của kiến-tư hoặc "ái, thụ, hữu" trong (12 Nhân Duyên) sinh, lão, bệnh, tử, để khai ngộ "Phật Tri Kiến" ứng dụng tu tập nối tiếp Huệ căn trong hiện tại và vị lai.
- Học giả, tu học Phật theo giáo lý (Tứ Thánh Đế) tu tập Chánh hạnh theo con đường "Bát Chánh Đạo" hằng sống với chánh niệm tỉnh thức trong Phật tánh của mình; Mọi ý niệm hành vi, thấy biết cần phải có chánh tri kiến; biết tuỳ duyên thuận pháp buông bỏ mọi sự chấp trước của "Ngã Kiến" bị (Thập Triền) tham ái, dục vọng, si mê... không phan duyên bám víu ô nhiễm theo trần cảnh "Thất tình, Lục đục" lôi cuốn "6 căn" đắm nhiễm "6 trần" làm cho "6 thức" đọa lạc (18 giới) không được an định nên mới tạo Nghiệp trầm luân vào các cảnh khổ. Hành giả muốn có được an vui, giải thoát các cảnh khổ; cần phải có Chánh tri kiến, hằng sống trong Chánh Niệm tỉnh thức; thì mọi sự suy nghĩ mới chân chánh trong "tuệ quán", niệm tưởng mới an định; trí tuệ sẽ hiện bày... mọi ý niệm hành động lời nói việc làm dù thiện hay ác mới không sai lầm; đời sống mới có được an lạc tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
NGUYÊN NHÂN KHỔ và PHIỀN NÀO
- Nguồn gốc của mọi sự khổ do Vô Minh Vọng Tướng sinh khởi "kiến tư hoặc" chấp trước sai lầm vọng tưởng si mê, tham ái dục lạc danh lợi triền phược che khuất “Bổn Tánh Diệu Minh” của mình; làm cho con người bị (thất tình- lục dục) tạo Nghiệp bị Phiền Não đau khổ đọa lạc trong tam giới lục đạo luân hồi... “NGUYÊN NHÂN là ở nơi mọi sự CHẤP TRƯỚC THẤY-BIẾT PHÂN BIỆT VỌNG TƯỞNG PHIỀN NÃO nguồn gốc nơi VÔ MINH".
- Trong đời sống hằng ngày của chúng ta thường xúc chạm với mọi sự việc "đời hay đạo" và biết bao nhiêu dục vọng tham ái sân hận si mê chìm sâu trong tiềm thức; hằng tiếp diễn trong đời sống vọng tưởng của chúng ta. Nên cần phải thấy-biết tỉnh thức chánh niệm "Tuệ Quán" nhìn thấu tỏ tường tất cả mọi sự việc Nghiệp Duyên của trần cảnh ô nhiễm theo kiến tư hoặc và trần sa nghiệp hoặc vô minh; hành giả mới có thể chuyển hoá được các vi tế nghiệp hoặc vô minh phiền não.
- Hành giả khi đã giác ngộ được các pháp vô ngã duyên sinh như huyễn. Không còn chấp trước vào các pháp nhị nguyên . Thất- Biết "tuỳ duyên thuận pháp - xứng tánh khởi tu” tâm cảnh hợp nhất thể nhập Chơn Như tự tánh vô sanh diệt; xa lìa được mọi dục vọng, tham ái, sân hận, si mê... tà kiến của các pháp sanh diệt ái dục nghiệp hoặc vô minh” ái biệt ly khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ, sinh lão bệnh tử khổ... làm chủ được sinh tử. Mới có được an lạc tự tại, vô ngại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
BÀI HỌC NGÀN VÀNG - PHƯỚC HOẠ VÔ MÔN - TỰ TÂM CHIÊU CẢM…
Trong đời sống thế gian (người tu học) trước khi muốn làm việc gì… cũng cần phải suy nghỉ đến hậu Quả của nó.!!! “một câu nhịn… chín câu lành” (nhẫn nhục sinh trí tuệ) phước họa vô môn - tuỳ tâm cảm ứng… … theo “Nghiệp Duyên và Nhân Quả” của mình.
“Tâm” là sự sống của muôn màu (vạn pháp tuỳ tâm sinh) thiên đàng hay địa ngục do tâm tác ý sinh khởi… … “ý dẫn đầu các pháp (thiện ác) tạo Nghiệp theo Nhân Quả hiện hành… trong đời sống Nghiệp Duyên dẫn đến an vui hay đau khổ. Người làm chủ được thân tâm mới có an lạc và hạnh phúc.
Hạnh Phúc không phải tự nhiên mà có… mỗi một tâm niệm cảm xúc và tri giác cần phải có tuệ quán “Chánh Tri Kiến” trong Chánh Niệm Tỉnh Thức cần có Chánh Tư Duy không phan duyên theo dục lạc danh lợi… vì Ngã mãn lợi lạc cho bản thân mình; làm tổn thương cho người khác… vô tình không hay biết mà nguy hại đến bản thân tạo Nghiệp mà không hay.
Hành giả; muốn có một đời sống an lạc hạnh phúc, cần phải biết giữ gìn đạo đức “Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín” giới hạnh thanh tịnh (không làm các việc ác - thực hành các điều thiện) theo lời Phật dạy… giữ trọn “năm giới” tu tập (thập thiện) trang nghiêm đạo hạnh mới có an lạc hạnh phúc ngay trong hiện tại và đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
huynh richard hieu dep trai, hoc gioi, con nha giau, de thuong, tam ly
【 8 ĐIỀU GIỚI HẠNH TU HỌC 】
1. Tham khảo tu tập trang nghiêm thân tâm giữ gìn giới hạnh
2. Không ngần ngại kết bạn với những bậc thiện hữu tri thức
3. Khuyến tấn chia sẻ Phật pháp cùng mọi người đồng tu
4. Chân thành học hỏi các giáo pháp vô phân biệt tông môn
5. Tạm mượn ngôn tự để làm phương tiện hiện bày chơn lý
6. Không phân biệt giới tánh chủng tộc trọng hay khinh
7. Nói năng lễ nghĩa khiêm cung không lìa Kinh Phật dạy
8. Phát tâm Bồ Đề tin sâu nhân quả tu học bất thối chuyển
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
hì hì, cám ơn khoatin6 có lời đẹp nha, lâu rồi gặp lại, chúc khoatin6 nhiều điều tinh tấn tốt lành nha
【 PHẬT PHÁP BẤT LY THẾ GIAN PHÁP 】
Học giả khi đã phát tâm chí nguyện tu tập hạnh Bồ đề, thì không còn sự phân biệt vào các giáo môn, hay giáo thừa nào cả. Vì đã nhận ra "Nhất Thiết Pháp Duy Tâm Tạo", muôn sự muôn vật, vạn pháp vốn không có tự tánh, Phật và chúng sinh vốn cùng một bản thể. Chẳng qua là vì sở chấp, và tâm niệm của mọi người mà sinh ra mỗi ý niệm và hành động khác nhau. Cũng do một tâm này; vì ôm giữ Ngã chấp và Pháp chấp, để cho Căn, trần, thức làm chủ... ... Gọi là tâm phàm phu phải gánh chịu biết bao nhiêu đời "Nghiệp" khổ não. Hành giả nếu biết buông bỏ mọi sở chấp, lúc nào cũng giữ tâm được rỗng lặng. Tuy sống ở thế gian ô nhiễm mà khác gì đang sống ở nơi cảnh giới Niết Bàn Thanh Tịnh.
Phật pháp chẳng thể tách rời thế gian giác, nhờ tất cả những hoàn cảnh của cuộc đời thuận nghịch, vui buồn oán hận, được mất trong mọi sự; danh lợi, ích kỷ của cuộc sống nhân sinh... Do vậy mà chúng ta mới có thể điều phục được thân tâm trong đời sống hằng ngày mọi sự vô thường biến đổi của tâm thức. Chúng ta mới có cơ hội thấy được những vi tế nghiệp hoặc ứng hiện trong tâm thức. Hành giả mới biết rõ nội tâm của mình tu tiến đến đâu. Đời sống là tấm gương giúp cho chúng ta soi rọi lại chính mình, để cố gắng tinh tấn chuyển hóa các nghiệp hoặc vô minh từ nhiều đời nhiều kiếp.
Hành giả khi bước vào đạo hạnh bồ tát, thực hành tự lợi và lợi tha, tâm vô sở cầu (Tu như huyễn Pháp, Hành như huyễn sự) vì đã biết rõ trong Nhân có Quả. Tuỳ theo pháp tu và pháp hành mà không chấp vào các việc mình đã làm, tập hạnh các vị Bồ tát đem ánh sáng Chân lý đạo mầu của chư Phật chuyển hoá cuộc đời đau khổ thành cực lạc ngay trong cuộc sống hiện tại. Nối liền đạo và đời, dung hòa tuỳ thuận an vui. Tu không phải chỉ lo giải thoát cho mình (tiêu cực) mà phải biết đến gia đình và xã hội nhân sinh. Vì bồ tát đạo không còn mâu thuẫn giữa xuất thế và nhập thế. Không còn phân biệt chúng sinh và bồ tát. Chỉ sống trong Đạo hạnh một cách trọn vẹn tích cực; vì Đạo và Đời chỉ là một, quyết chẳng rời xa Đạo Hạnh Bồ Tát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 CẢNH GIỚI CHỨNG ĐẠO 】
Học giả, trải qua thời kỳ kiến đạo hay ngộ lý hoặc kiến tánh. Kiến tánh rồi phải khởi tu, nương vào các pháp môn tham thiền hoặc niệm Phật hay trì chú... tu tập theo các giáo pháp thực hành cốt yếu để chuyển hoá các tập nghiệp tích tụ từ lâu đời, bởi vô minh... Do "thân, khẩu, ý” tạo nghiệp tham, sân, si đắm chìm trong dục vọng, tạo ra vô số nghiệp nhân trong sinh tử luân hồi từ xưa đến nay. Cho nên cần phải biết trường kỳ tu tập trưởng dưỡng tuệ căn (Chân tâm) lý sự viên dung, sự sự vô ngại, mới viên thành đạo quả.
Hành giả; tu đạo Trí lực và Nguyện lực phải tương ưng, Hạnh lực phải tinh tấn, mọi sự thấy biết và việc làm được hợp nhất thì sự tu tập mới có hiệu quả. Vì đạo không phải là lý thuyết suông, ta cần phải có chánh tri kiến để thực hành, muốn có Chánh Tri Kiến; thì cần phải trau dồi Huệ học (Giới-Định-Huệ) “Văn, tư, tu”.. Giữ gìn giới hạnh nghiêm minh, tâm thường chánh niệm tỉnh giác, thì tiêu trừ được "hiện nghiệp lưu thức" mới có thể được tự tại an lạc, giải thoát khỏi sự ràng buộc của (tam độc) tham, sân, si, mạn... ác kiến triền phược.
Sự tu học tùy mỗi căn duyên bất đồng, chỉ đòi hỏi ở chỗ nỗ lực tinh tấn huân tập các thiện pháp vào nơi tự tánh Chơn Như, cho đến khi nào được thuần chơn. Hành giả cần phải biết... "Không phải ngộ rồi liền được cực quả". Ngộ chỉ là điều kiện tiên quyết, Phải biết giữ gìn chánh niệm, trưởng dưỡng thánh thai (Huệ Mạng) thường an trụ tỉnh giác mới chuyển hoá được các tập nghiệp (Căn, trần, thức) mới tiêu trừ các tập khí phan duyên theo tình ý si mê, vọng tưởng.
Học giả; khi thấu triệt được chân lý của vũ trụ nhơn sanh và các pháp vốn là "Bình đẳng Nhứt Như” thì tự nhiên buông bỏ được sự chấp Ngã, chấp Pháp, không còn chấp vào sở hành và sự chứng đắc... Hành giả chỉ thầm hội cùng Chân lý, nương vào đó Tâm được bình lặng, an nhiên tự tai. Không còn bị ràng buộc vào Ngã chấp và Pháp chấp... Hành giả được giải thoát ngay trong kiếp sống hiện tiền. Sự chứng đắc bất khả tư nghì cảnh giới vô sở đắc của bực thánh nhân, tự hành hoá tha vì hạnh nguyện vào đời vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 CHÂN TÂM & VỌNG TÂM 】
“Tâm Phật và Chúng sinh” vốn cùng một bản thể (bổn nhiên thanh tịnh) bất sinh bất diệt; chỉ khác “Ngộ và Mê” ngộ là Phật, mê làm chúng sinh… do vọng niệm bất giác sinh khởi chuyển thành “Vọng Tâm”... như sóng với nước cùng một bản thể “Diệu Minh Chơn Tánh” do tâm vọng động sinh khởi cái tâm thấy biết (ý căn) duyên theo bóng dáng sáu trần chấp thủ bị ái nhiễm thành vô minh muôn màu sai biệt trong giác thể”... Ví như: “quặng lẫn trong thau vàng” khi nào vàng được lọc sạch không còn quặng nữa. Khi ấy vàng sẽ được nguyên trở lại.. thì Chân tâm tự hiện bày.
- Kinh Thủ Lăng Nghiêm: Phật dạy cội nguồn của Tâm là nơi xuất sanh và cũng là nơi trở về (sanh hay diệt tùy theo các nhân duyên tụ tán) của vô lượng sanh thể, sanh khí, sanh tướng của chúng sinh, bao gồm tất cả dạng loài chúng sinh trong ba cõi (Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới), trong sáu đường (Trời, Người, thần A Tu La, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục), và cả mười pháp giới (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, thanh Văn, và sáu đường nêu trên).
- Như thế, gán ép cho “Tâm” nói riêng và cho đạo Phật nói chung bất kỳ một danh hiệu nào, một nhãn hiệu nào… đều không chuẩn xác và xứng hợp. Tâm ví như “hư không trùm khắp pháp giới”… cứu cánh của Tâm chính là nguồn sống cả thảy thiên sai vạn biệt của tất cả chúng sinh mà ở tận cùng nguồn sống ấy lại là “Giác Thể Thanh Tịnh” chu biến pháp giới bản thể chung cùng bất sinh, bất diệt “thanh tịnh bình đẳng” ở nơi mỗi chúng sinh, tuỳ nghiệp duyên cảm ứng diệu dụng.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 TỰ TÁNH THANH TỊNH 】
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật dạy: nếu "Căn và Trần" tức là "Năng và Sở" đều dứt thì "Tánh Giác" tự hoàn phục Viên Diệu, Hay là: "Năng và Sở "đều dứt tuyệt thì gọi là " Thấy (Phật) Tánh ". Tánh này xưa nay vẫn trong sạch (Thanh Tịnh) yên lặng (Tịch Tỉnh) chẳng có một chút lay động (thường định), không thuộc về "Có, Không"; lìa ngoài "nắm (lấy, thủ, trụ, thọ) bỏ "; tánh thể vốn tự nhiên, như nhiên. Thấy-Biết tỏ tường như vậy mới gọi là "Thấy (Phật) Tánh" (Kiến Tánh).
Do đó khi "ý" đã Vô Niệm, Vô Phân Biệt, Vô Trụ Tức là không còn mảy may Hư vọng thì "ý thức" cũng vô niệm, vô phân biệt, vô trụ nên các thức khác cũng đồng vô niệm, Vô phân biệt, vô trụ vậy. => Khi "ý Thức" được Vô Phân biệt thì gọi là " Trí ".
Khi "ý Căn" (thức thứ 7 hay mạt na thức) và "ý Thức" (thức thứ 6) đã Vô Phân Biệt thì thành "Trí Vô Phân Biệt" tức là được "Tánh Không" tròn đầy nên "ý Căn" được Thanh Tịnh Trang Nghiêm và các Căn còn lại cũng đồng loạt cùng được Thanh Tịnh Trang Nghiêm.
__ Đây là cách Tu ngắn gọn, giản tiện nhất. Thật ra Tu cách nào cũng đều phải quy về "Ý Căn" mới giải quyết trọn vẹn được Vọng Tưởng, Vọng Niệm của Tâm Thức.
Kinh Lăng Già Tâm Ấn Phật dạy:
"Nếu lìa bỏ được Tâm thức Phân biệt thì Chơn Như Tánh hiện ra". Hay là lìa bỏ các phân biệt thức thì được "Vô Phân Biệt Trí" chứng vào Tịch Tĩnh nhẫn đến Như Lai Thanh Tịnh địa.
Tổ Đạo Tín dạy:
"Ý" (Căn) là chủ của 6 Căn . Nếu bặt dứt "ông chủ" (tức là "Ý" không sanh niệm Phân biệt, đối đãi.v.v...) thì những Tâm Phan Duyên (tâm thức, vọng tâm, tâm chạy theo Trần cảnh âm thanh sắc tướng ...) tự vong (tự biến mất).
Nếu một Niệm không sanh khởi; lìa bỏ cái Tâm (thức) Phân Biệt thì " Ý Căn " phải dứt; duyên vọng (tưởng) nọ liền tự thôi (tự dừng, không phá quấy, ngăn ngại nữa) thì 6 Trần còn làm bạn với ai được nữa. Tức là không còn đối tượng "Căn" để cho Trần tiếp xúc nên trở thành vô dụng.
Cho nên 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, Thân, ý) không Duyên với 6 Trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) thì Trần cảnh (tuy vẫn hoạt động ồn náo Lăng xăng ở bên ngoài) tự nhiên vắng lặng (ở trong Tâm vì không đem cảnh vào Tâm).
"Chơn Tâm" (Phật Tánh, Pháp Thân ... ...) vốn "Không"; cảnh Trần vẫn vắng (ở trong Tâm) song người đời quên "Chơn" mà chấp "Vọng" nên mới có cảnh Lăng xăng.
Nếu Tâm ta "không chấp (không lấy, không thọ) không bỏ" (tức là chấp nhận tất cả) thì trọn ngày đối cảnh (chứ không phải ly cảnh, tránh cảnh, chối bỏ cảnh) mà cảnh vẫn lặng, cũng chẳng cần dứt bặt tâm (diệt tâm không còn biết gì nữa) và cảnh; chẳng cần dẹp bỏ hết muôn vật rồi mới có vắng lặng tức là nếu mình "không mê muội (không quên) Chơn Tánh (vốn không) thì cảnh tự vắng vậy.
Cho nên Kinh nói: "Thấy (biết) tất cả pháp mà không chấp vào chỗ mình thấy, biết là đúng vậy". Thấy biết suốt các pháp là thấy biết "Tâm và Cảnh" rõ ràng vậy. "Chơn Tâm" vì không chấp có biết nên nói Chơn Tâm vốn không. "Chơn Cảnh vì không có chấp tướng" nên nói cảnh vắng vậy.
Chơn Tâm vì không khởi (sanh) phân biệt (thích, không thích, danh lợi, thương nghét, cao thấp, khen chê, phê phán.v.v...) nên vắng lặng mà thường diệu dụng chiếu soi nên nói là "không biết".
"Không Tướng" (vô tướng) chính là ở nơi cảnh tướng mà không chấp tướng (không trụ, không thọ, không dính mắc vào các hình, danh, sắc, tướng) chứ không phải dẹp bỏ hết muôn vật mới có "không tướng".
Chiếu rõ (thấy biết rõ) các cảnh mà Tâm thường vắng lặng diệu dụng (không sanh niệm Phân biệt đối đãi với các pháp nhị nguyên...) nên nói là "Không Tướng" (vô tướng) tức là "Chơn Không Diệu Hữu".
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
Chúng ta thường cho rằng chỉ vì mình hiểu được một điều gì trên phương diện tri thức, hoặc tưởng mình đã hiểu, mà việc ấy có nghĩa rằng mình đã thật sự đạt ngộ. Đấy là một ảo tưởng lớn lao. Cần phải có sự chín mùi, thuần thục của sự tu tập, qua nhiều năm học lắng nghe, tư duy, quán tưởng, thiền định và thực hành kiên trì…
Nếu không, thì sẽ có một mối nguy gọi là “Kiến nuốt mất Hành.” Một giáo lý cao siêu mãnh liệt có thể kéo theo một nguy cơ trầm trọng. Khi tự lừa dối mình - tưởng mình đã giải thoát hết tư tưởng cảm xúc, mà kỳ thực tuyệt nhiên bạn chưa có khả năng làm chuyện ấy; hoặc tưởng mình đang hành động một cách tự nhiên như thiền sư thực thụ - thì bạn chỉ có đang kết nạp, tích lũy vô số ác nghiệp. Như một bậc thầy nói, và điều này tất cả chúng ta đều có thể mắc, là:
Mặc dù Kiến ta bao la như bầu trời.
Mà hành động và niềm tôn kính đối với nhân quả nơi ta nhỏ nhiệm, vi tế như hạt bụi.
(sưu tầm)
12 ĐIỀU AN LẠC TRONG ĐỜI SỐNG
1. Biết xa lìa mọi tham ái, dục vọng, sân hận, si mê, ngã mạn triền phược gây nên vọng tưởng vô minh phiền não khổ đau. - là Phước Lành Cao Thượng Nhất dẫn đến An Vui và Hạnh Phúc trong đời sống.
2. Không kết giao với người ác, cần phải biết thân cận với bậc hiền trí, và tôn kính bậc sư đáng kính.
3. Tự chọn cho mình ở nơi thích nghi, đã có tạo công đức trong quá khứ, và tâm Chánh Niệm hướng về Chánh Đạo.
4. Học nhiều hiểu rộng, lão luyện tinh thông thủ công nghiệp, giới hạnh thuần thục trang nghiêm, có lời nói Lễ Nghĩa, Nhân Từ Đạo Đức.
5. Hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ, thương yêu tiếp độ vợ con đời sống an lạc, hành nghề Chánh hạnh.
6. Rộng lượng bố thí, tâm tánh trực giác, giúp đỡ họ hàng, và tạo nghiệp chân chánh.
7. Loại trừ và ngăn ngừa các nghiệp ác, biết thận trọng xa lìa các chất say mê, vững vàng giữ gìn phẩm hạnh đạo đức.
8. Đức hạnh biết tôn kính, khiêm tốn, biết sống thiểu dục tri túc, biết ơn đúng lúc và lắng nghe Giáo Pháp Phật.
9. Nhẫn nhục, biết vâng lời, thường gặp gỡ quý vị Thiện Tri Thức, bậc Sa Môn và tùy thời luận đàm về Giáo Pháp.
10. Tự kiểm soát mình, biết sống đời Thánh Thiện Nhân Từ, quán tri Tứ Thánh Đế, Chánh Niệm Tỉnh Thức, liễu ngộ Niết Bàn.
11. Người biết tu tâm không bám chấp phan duyên dao động khi tiếp xúc với thế gian pháp, Không Ưu Sầu Phiền Muộn, Vô Nhiễm và An Định.
12. Đối với ai đã thực hành viên mãn hoàn thiện các pháp trên, biết tuỳ duyên thuận pháp, xứng tánh tu tập không thất bại, đi khắp mọi nơi đều được Viên Dung Tự Tại, An Lạc và Hạnh Phúc.
Đó là Phước Lành An Lạc Hạnh Phúc Cao Thượng Nhất Của Đời Sống Nhơn Sinh. Người Phật Tử Tu Học biết tuân theo 12 điều trên. Thực hành đúng lời Phật dạy... đời sống mới có an lạc hạnh phúc, tự tại giải thoát.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 ĐỨC HẠNH TRONG ĐỜI SỐNG 】
- Gia Đình có giới hạnh, biết giáo dục con để trở thành người có nhân từ đạo đức chơn chánh, biết tôn trọng ông bà cha mẹ cùng mọi người trong gia đình. Con không hẳn chỉ là học lời của cha mẹ dạy; còn nhìn cách làm của cha mẹ sống có nhân từ và đạo đức, biết cách cư xử làm tròn bổn phận cha mẹ. Cách duy nhất hành động của cha mẹ biết làm gương cho con, mới gây lên ấn tượng mạnh mẽ trong tâm thức của các con. Đôi khi những điều mình dạy nó phản tác dụng, mà là những việc làm của mình nó mới đi vào tâm thức của các con.
- Bổn phận làm Cha Mẹ cần là phải biết dùng lời ôn hoà, có lễ nghĩa nhân từ đạo đức, làm gương cho con. Chính mình biết thương yêu cha mẹ hay ông bà của mình. Bổn phận làm con cũng cần phải biết hiếu thảo với cha mẹ, dung hoà cùng anh chị em trong gia đình, khi cha mẹ nói điều gì ta cũng phải nên nhẹ dạ trả lời chứ không nên lớn tiếng cãi lại thì con chúng ta tự nhiên sẽ ngoan ngoãn vâng theo, khi con lớn lên sẽ tự hiếu thảo với chúng ta thì trong cuộc sống gia đình mới có sự hoà thuận kính mến và an lạc.
- Chúng ta cần phải biết sống đời đạo hạnh nhân từ, giữ trọn giới hạnh của người Phật tử tu học tại gia, hành đúng với các điều thiện, biết “thiểu dục tri túc” có lòng từ bi, chơn thật, làm những điều tốt đúng với đạo đức "Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín" làm gương cho các con thì sẽ tự nhiên thấm nhuần vào tâm thức của các con; trong gia đình sẽ tự nhiên có an lạc, hạnh phúc, con cháu sẽ ngoan ngoãn sống có lễ nghĩa và hiếu thuận cùng với gia đình và mọi người trong xã hội.
- Ngược lại, khi chúng ta sống không có nhân từ đạo đức, không giới hạnh chơn thật, vô đạo nghĩa thì con cái sẽ ảnh hưởng từ người Cha và Mẹ; Người con sẽ tự nhiên hư hèn. Khi ta khuyên con những điều thiện, nhân nghĩa đạo đức thì Ta cần phải làm gương và thực hành sống cho đúng với các lời khuyên của mình; lời nói chúng ta mới có giá trị. Người khác nghe mới tuân theo các lời nhân từ lễ nghĩa, khiêm cung và chơn thật. Lời nói, việc làm phải thực hành đúng với lời Phật và các vị thánh hiền dạy; thì cuộc sống gia đình mới có an vui hạnh phúc.
Kính Chúc Các Bạn An Lạc Hạnh Phúc
(sưu tầm)
【 VÔ NGÃ TRONG ĐẠO PHẬT 】
"Vô Ngã" là mục tiêu cứu cánh của đạo Phật dẫn đến con đường Trung Đạo hầu giúp cho chúng sinh vượt khỏi những trạng thái Tâm Thức hữu hạn, đi đến vô hạn Niết Bàn. Mặc dù là Đức Phật đã dọn sẵn con đường giải thoát lý tưởng ấy nhưng không phải ai cũng đủ thắng Phước, phá vỡ lớp vô minh nghiệp hoặc, để đi đến đích cuối cùng là "Vô Ngã" vị tha. Hầu hết phàm phu chúng ta đều chấp ngã rất sâu nặng, bị kẹt vào Ngã sở và Ngã ái.
Vô Ngã là gì ?... Vô là không, Ngã là cái Tôi, "Bản ngã hay Tự Ngã". Như vậy Vô Ngã là không có cái "Tôi” thực thể cố định ở trong mỗi con người. Thân thể con người là do duyên hợp của hai thành phần là: sắc thân (vật chất) và tâm linh (tinh thần). Sắc thân do Tứ Đại (đất nước gió lửa) hợp thành. Còn Tâm thì do các yếu tố "Thọ, tưởng, Hành, thức" chấp thủ. Đức Phật dạy: Cái gì do nhiều Duyên hợp thành thì không có thực thể của cái Ngã, chỉ là duyên sinh huyễn hợp.
Hai thành phần vật chất và tâm linh luôn quyện vào nhau mới sinh ra ảo giác cái Tôi có thật, đồng thời tính cố chấp vào đó rất mãnh liệt cho nên mỗi người đều có cảm giác cái Tôi khác với mọi người, mọi vật bên ngoài. Cũng vì cái Tôi này mà sinh ra ích kỷ chỉ muốn lợi mình, nên mới phát sinh Tâm bất thiện như: tham lam, sân hận, đố kỵ, kiêu ngạo, ác kiến v.v... Vì thế con người chúng ta ai cũng mang sẵn cái Bản Ngã trong mình một bản năng hưởng thụ, bướng bỉnh, cố chấp, thành kiến, chủ quan, hẹp hòi v.v... là do chú trọng cái Tôi.
Đức Phật đã dạy chúng ta diệt Bản Ngã để đi đến Vô Ngã hoàn toàn. Khi không hiểu được lẽ Vô Thường của cuộc đời, vạn vật, cây cỏ, con người nên ta xem trọng cái Ngã (tôi) của mình. Trái đất, vạn vật, thực vật, động vật không tồn tại vĩnh cữu, tất cả đều theo sự tuần hoàn sinh diệt của vũ trụ.
Tất cả mọi chúng sinh, vạn hữu trên thế gian không ai có thể tự tồn tại độc lập một mình được mà đều có tương quan chặt chẽ với nhau. Sỡ dĩ chúng ta không nhận ra điều này bởi vì chấp ngã đã tạo ra cái Tôi riêng biệt khác với nhau; vì nghiệp thức vô minh tạo thành bức tường vô hình ngăn cách giữa người với người.
Tất cả những hạnh phúc, vui tươi hay đau khổ của con người, nó là kết quả sinh thành bởi những hành động của con người gây ra mà Tâm là chủ và ý vẫn hành tạo tác. Thật vậy tất cả chúng ta không ai muốn mình đau khổ. Nói đến "Vô Ngã" là nói đến mấu chốt vô cùng quan trọng trong tiến trình tu tập cho những ai đi trên con đường tu học cầu đạo gíac ngộ giải thoát.
Để đạt được "Vô Ngã” thì đầu tiên là phải buông bỏ được hết ngã chấp và pháp chấp. Đức Phật đã tìm ra được con đường giải thoát giác ngộ sau 6 năm khổ hạnh và 49 ngày nhập Đại Định dưới cội cây bồ đề. Ngài đã thoát khỏi Nghiệp thức luân hồi sanh tử. Từ-Bi nguyện hoá độ chúng sinh, hòa nhập với vạn vật, sống một đời thánh thiện cao cả an lạc hạnh phúc. Đức Phật đã tìm ra con đường đi đến giác ngộ giải thoát, về sau thành một giáo đoàn Phật giáo.
Đức Phật là Vị Giáo Chủ, một bậc Thánh tuyệt đối. Phật lấy việc giáo hóa chúng sinh từ nơi mê lầm trở về con đường giác ngộ, từ đau khổ đến an vui hạnh phúc, giải thoát khỏi trầm luân sanh tử, là mục tiêu tối thượng trong đời hành Đạo của Ngài. Giáo lý "Vô Ngã" là thánh tính Niết Bàn, dẫn đến con đường trung đạo. Đức Phật dạy cái Ngã (tôi) là đầu mối của mọi sự việc tranh chấp, xung đột mâu thuẩn do Chấp Ngã mà ra. “Vô Ngã” là không chấp có cái Tôi, là cánh cửa dẫn đến an lạc tự tại, vô ngại giải thoát... hòa cùng vũ trụ vạn hữu pháp giới chúng sinh đồng đáo bị ngạn.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
Hỏi:
Phật và Tổ khác nhau như thế nào?
Đáp:
Phật là chứng quả Phật, Tổ là ngộ bằng Phật nhưng chưa chứng quả Phật. Tại sao? Vì tập khí thế gian và xuất thế gian chưa dứt sạch, cũng có người tập khí thế gian sạch; tập khí xuất thế gian còn. Ngộ bằng Phật, dụng còn rất xa.
(trích khai thị của Hòa Thượng Thích Duy Lực)
HẠNH PHÚC HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Hạnh Phúc không phải ở đâu xa cả; ngay thực tại nơi chính mình, trong mọi sự mãn nguyện từng giây phút hiện tại nơi mình, Bất cứ hoàn cảnh nào khi chúng ta cảm nhận được sự mãn nguyện trong cuộc sống từng bước chân an lạc thảnh thơi tràn đầy nguyện vọng tương lai... Mọi sự vô thường biến đổi của vũ trụ vạn hữu tuy không có gì tồn tại. Nhờ sự biến đổi ấy nên vạn vật và con người mới có sự tiến hoá những niềm hy vọng lạc quan trong tâm thức tràn đầy mỹ mạn.
Tất cả mọi sự phiền não đau khổ, vui buồn oán hận, si mê uất ức tích tụ mọi chướng ngại trong đời sống nhân sinh; tiềm ẩn trong tâm thức; đến một lúc nào đó chúng ta “Tỉnh Thức và Giác Ngộ" được giáo lý Phật dạy… trong những niềm vui chân thật Hạnh Phúc của một tinh thần trí tuệ sung mãn... Sẽ hoá giải được mọi sự dục vọng tham ái chấp trước tà kiến “mê tín dị đoan" và những thành kiến hẹp hòi của Tâm kiêu ngạo, Ngã mạn vì bản Ngã tự cao tự đắc...
Hành giả khi nào thật sự "Giác Ngộ" mới cảm nhận được niềm vui của nội tâm “Hỉ Lạc” hiện có một niềm vui tĩnh lặng trong Tâm hồn không bao giờ biến đổi. Cần phải buông bỏ được những Tham ái, Sân hận, Si mê, Ngã mạn, Tăng thượng mạn... Tà kiến triền phược; trong mọi đau khổ vui buồn oán ghét vì danh lợi trong cuộc sống thành công hay thất bại của mọi sự việc đời, đều như mộng, huyễn, bào, diệc như điện. đến và đi, có và không, được và mất chỉ là duyên sinh huyễn hoá chẳng có gì tồn tại...
Cần phải sống với Tâm Từ Bi chơn thật phát tâm Bồ Đề cung kính bình đẳng. biết thiểu dục tri túc ở mọi hoàn cảnh với niềm vui trong cuộc sống gia đình và xã hội, Cần phải biết đùm bọc thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. trong tình thương đầm ấm và dung hoà cùng mọi người trong đời sống đạo đức. Biết tự chọn cho mình một con đường Thánh Đế đúng theo chơn lý tu tập để chuyển hoá các Vô Minh, Nghiệp Hoặc, Phiền Não, Nghiệp Duyên nhiều đời. Thực hành các giới hạnh thanh tịnh trên con đường Giác Ngộ Giải Thoát theo nghiệp duyên của mọi người Tu chứng vào cảnh giới (Chơn, Thiện, Mỹ) an lạc hạnh phúc hiện tại và vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 3 ĐIỀU CHUYỂN HOÁ NGHIỆP CĂN 】
1. TIN SÂU NHÂN QUẢ tu học theo lời Phật dạy... khi xúc chạm vào việc đời, nếu gặp mọi chướng duyên và nghịch cảnh, nên hoan hỷ bằng lòng chấp nhận với những “Nghiệp Duyên” (Nhân Quả) oán hận tương báo của nhiều đời đã gây nên, hiện đang nhận lấy và cố gắng tu tập hoá giải với tâm từ bi, khoan dung và tha thứ bằng lòng với mọi sự cảm ứng của mình trong đời sống hiện tại không ngoài Nghiệp Duyên và Nhân Quả.
2. SÁM HỐI các lỗi lầm của mình trong quá khứ và hiện tại đã gây tạo trong nhiều đời trước, nay giác ngộ được lời Phật dạy… nguyện tinh tấn tu học “giữ trọn giới hạnh thanh tịnh” từ nay về sau quyết tâm tu học trang nghiêm đạo hạnh. Không dục vọng si mê, tham ái vọng tưởng các việc bất chính, hằng giữ “Chánh Niệm Tỉnh Thức” không làm việc ác (nếu các nghiệp cũ chưa trả hết mà tạo thêm nghiệp mới) thì sẽ chồng chất các Nghiệp khổ.
3. PHÁT BỒ ĐỀ TÂM giữ trọn các giới hạnh thanh tịnh, tu tập “Lục Hoà Kính” (Quảng Kết Thiện Duyên) thực hành các thiện nguyện dung hoà cùng mọi giới tánh, không tham ái dục lạc danh lợi, tu học “Thập Thiện” tam nghiệp thuận hoà, lục căn thanh tịnh, tích lũy các phước lành và trang nghiêm công đức, hằng sống trong “Chánh Niệm Tỉnh Thức” thực hành “Bát Chánh Đạo” làm nguồn sống tu học tăng trưởng (Trí Tuệ) thiện căn cho đời sống hiện tại và vị lai.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 KIẾN TÁNH KHỞI TU 】
Người kiến tánh chỉ là mới nhận thấy được Tánh Phật của mình thôi. Không phải thấy tánh rồi thì thành Phật liền. Khi đã nhận ra được Tánh Phật, thì cần phải phát (tứ vô lương tâm) tinh tấn lập hạnh nguyện tu tập "Giới, Định, Huệ" và các thiện pháp... (tam tụ lục hoà) giữ gìn các giới hạnh nghiêm minh, thực hành (tứ thánh đế) bát chánh đạo, lục độ ba la mật... ... tuỳ hạnh nguyện gieo nhân tu tập của mình mà thành tựu đạo quả.
Hành giả thật sự thấy được tự tánh phật của mình, sống được với tri kiến Phật, thì không còn bị tình thức vọng tưởng làm dao động, vị ấy đã không còn si mê dục lạc, danh lợi, và “thất tình lục dục” làm ô nhiễm, và không còn bị ái nhiễm tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, tà kiến (ác kiến) và các pháp thế gian... và xuất thế gian triền phược nữa. Vì người ấy đã xa lìa được tam giới.
Tu hành khi chuyển ngược được tham, sân, si thành "giới, định, huệ” tức siêu lên ba cõi. Tuy nhiên, tham, sân, si (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) chẳng có thực tánh. Vì tham, sân, si: do các huyễn tướng giả hợp, tự tánh vốn không (không tánh). Nếu có thể soi ngược trở lại thì sẽ thấy rõ: Tánh của tham, sân, si tức là tánh Phật. Ngoài tham, sân, si tuyệt nhiên không có tánh Phật nào khác, đã chuyển hoá được "tam độc” thì Phật Tánh tự hiện.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
* Tổ là Phật đã Thành, là tiếp nối Vị Phật đi trước đã được “Ấn Chứng”.
Những lời Nói -viết trên chỉ đúng với tính cách của 2 Ngài: Ngũ Tổ với Lục Tổ mà thôi.
( Ngũ Tổ phải là Phật đã Thành, Nên mới Ấn Chứng và Truyền Y Bát, Lục Tổ phải mười mấy năm sau mới chánh thức đăng đàn, Giảng Pháp.)
【 CHỦ & KHÁCH 】
Kinh Lăng Nghiêm: Phật dạy (Chủ và Khách - Động và Tịnh) cái "Động" là (phân biệt tiền trần) cái "Tịnh" là (phân biệt pháp trần) đều thuộc về (hình) bóng ở trong gương. Bóng có chỗ trả về (cho hình thật) còn thể của gương thì không có chỗ trả về (vì gương là hình thật chứ không phải bóng). "Khách" có chỗ về "Chủ" không có chỗ về. Không nhận gương (không nhận chủ) mà nhận bóng trần (nhận khách) thì Tâm tánh của ông lấy cái gì làm "Chơn Tâm Thường Trụ" ?...
Hành giả nên biết "Tánh" của tất cả Pháp vốn là "Không"; cho nên chối bỏ cảnh ở bên ngoài mà chỉ nương vào trong (theo nội tâm) như các vị Tiểu thừa và ngoại đạo thì mới là trạng thái tương tợ như bất động, vì kỳ thật trong ký ức các Niệm "chủng tử ngoại cảnh ngoại vật" vẫn tồn tại (vẫn còn). cho nên cái hình bóng Pháp trần bất động Tịch Tĩnh nằm yên chưa phát sanh trong Mạt Na Thức (ý căn) và A Lại Da Thức vẫn chưa thể "chuyễn hoá" diệt trừ được.
Do thấy biết người Tu học lúc ban sơ cho đến nay có nhận thức Sai lầm là nhận "Vọng" (vọng tâm) làm "Chơn" (chơn tâm) vì vô minh lầm chấp Tu tập. nên Phật mới từ mẫn dùng các ví dụ cụ thể, thiết thực dễ hiểu mà bất cứ ai... dù có học nhiều bằng cấp cao hay dốt nát không biết một chữ, dù giàu sang hay nghèo hèn, dù xuất gia hay tại gia, dù già hay trẻ, nam hay nữ, dù mạnh khẻo hay bịnh tật... vẫn lãnh hội được ý chỉ mà Phật muốn truyền đạt như dùng sự Thấy co duỗi của cánh Tay; sự Nắm Mỡ của bàn Tay; cái Đầu quay qua quay lại khi thấy sự phóng quang để chỉ rõ và gạn hỏi ông Anan và đại chúng về tánh chất của sự giao động, thay đổi và sự không thay đổi, thường trụ.
Nhờ đó mà ông Anan và đại chúng Thấy và hiểu được nơi Thân mình hay lay động (co duỗi, nắm mỡ....) và nơi Tâm thức chạy theo cảnh trần lăng xăng (tâm thức chạy theo cái thấy của giác quan (căn) mà thay đổi theo sự co duỗi, nắm mỡ....) nên biết là Thân và Tâm thức thuộc về "động" (giao động, thay đổi), là Khách trần, là hình bóng trong gương. Còn "Diệu Tánh" tự định sẵn có thì luôn luôn bất động nên thấy biết được cả hai tình trạng là "có chạy theo cảnh" mà thay đổi tức là "Động" và "không chạy theo cảnh" tức là "Tịnh". cái bất động đó (Tánh Thấy-Biết) là Ông Chủ.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
ĐỜI SỐNG THẾ GIAN BIẾN ĐỔI VÔ THƯỜNG
- Trong đời sống thế gian vạn vật biến đổi vô thường; con người thường hay chạy theo dục lạc, danh lợi địa vị, để thỏa mãn dục vọng, tham cầu tư lợi cuộc sống. Được thì vui, Mất thì buồn; sanh tâm tạo "Nghiệp" thù oán, sân hận, si mê, hành sự bất chánh... Bởi vô minh đã che khuất (Phật Tánh) bổn tánh của mình. Cho nên chúng ta phải biết sớm tỉnh thức tu tập (Trí Tuệ) theo lời Phật dạy... thực hành các thiện pháp. Biết "Thiểu Dục Tri Túc" thì đời sống mới có thể được an lạc.
- Trong đời sống không ai hoàn hảo cả, bởi chúng ta đều chịu trong "định nghiệp" chi phối; nếu chúng ta biết sớm tỉnh thức và giữ gìn giới hạnh "thập thiện" (10 Giới Hạnh) và "Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín" hằng sống trong “Chánh Niệm” tỉnh thức biết giữ trọn giới hạnh (Nhân Từ, Đạo Đức, Từ Bi) biết tu tập theo con đường "Bát Chánh Đạo" mới có thể chuyển hoá được các phiền não, nghiệp hoặc vô minh tạo nghiệp trầm luân khổ hải, đọa lạc vào trong lục đạo luân hồi.
- Chúng ta muốn có một cuộc sống gia đinh an lạc, tình vợ chồng đầm ấm, phải biết tôn trọng với nhau, trong gia đình hoà ái, biết hiếu dưỡng song thân với tấm lòng chân thật, nhân hậu từ ái, tình duyên vợ chồng cần phải giữ giới hạnh trong sạch liêm khiết, sống trọn tình vợ chồng, không sa ngã tham ái sắc dục. Chỉ có vậy thì tình yêu thương của “vợ chồng” mới có được một tình yêu thương chân thật hạnh phúc, làm tròn được bổn phận của người làm Cha và Mẹ, thì cuộc sống gia đình mới có an vui hạnh phúc.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 TU PHƯỚC và TU HUỆ 】
Phật Tử, cần phải ”Tu Phước và Tu Huệ” nếu tu không có Phước sẽ gặp nhiều chướng duyên, dễ bị chướng ngại trên con đường tu hành. Vì vậy ta phải biết tu Phước, kết nhiều Thiện Duyên. Làm các việc Phước Thiện tích tụ Công Đức trong cuộc sống hằng ngày đối Nhân xử thế cần phải có Nhân Từ, Lễ Nghĩa, Khiêm Cung, Lời Nói cần dung hòa cùng tất cả mọi người, làm các điều thiện, gọi là tu phước.
Bố Thí Pháp hoặc tài thí phải có sự Chân thật không Hư dối. Không vì danh lợi, hành hạnh lợi tha (phàm việc gì tự lợi phải có lợi tha). Hành giả thực hành bố thí (Tu Phước) không phân biệt giới tánh, chủng tộc giai cấp sang hèn, cần khắc phục Tâm tham vọng; bằng cách tập làm hằng ngày (những nơi có tiện nghi) trong cuộc sống Tuỳ hoàn cảnh của mình mà bố thí gieo Nhân thiện căn (Phước Điền) tinh tấn tu học “Giới Đinh Tuệ”.
"Tu Huệ" học giả! cần có một nền tảng giáo lý căn bản (Trạch Pháp) giữ giới tu tập theo hoàn cảnh của mình tuỳ duyên thuận pháp... tu hành hạnh (Tứ Nhiếp Pháp) bố thí pháp, thực hành ái ngữ, lợi hành, đồng sự (Lục Độ Ba La Mật) bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn... tu tập miên mật sẽ phát sinh Trí Huệ. Hành giả cần phải Chân thật, Bình đẳng, phải phát Tâm từ bi, gieo Nhân thiện căn, Bố Thí tài hay thí pháp không nên trụ nơi danh, tướng, không vì danh lợi, pháp Thí ấy mới đúng là "Chơn Thí" không mong cầu báo đáp. Việc làm ấy mới đúng với hành vi Chơn Chánh.
Hành giả, thực hành đúng những lời Phật dạy để gieo nhân Bồ Đề giữ gìn Giới hạnh, tu tập “thập thiện pháp” gieo Nhân Phước lành, tích tụ các công đức tăng trưởng Trí Huệ. làm các công việc Từ thiện; sống “thiểu dục tri túc” biết Cung kính (Tam Bảo) và giữ lễ nghĩa tôn trọng hiếu dưỡng ông bà Cha Mẹ. Trong cuộc sống đạo đức biết Khiêm cung, từ ái, dung hòa cùng tất cả anh, chị, em trong gia đình mới có an lạc, đời sống tu học mới Chơn Thiện Mỹ.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 TÌNH CHA NGHĨA MẸ 】
- Trong đời sống nhân sinh, con người sống không thể thiếu tình thương cha mẹ, nói đến chữ "Tình" thì không có thứ tình yêu thương nào có thể sánh bằng tình thương của cha mẹ. Đó là một thứ tình yêu thiêng liêng, cao cả, mênh mông sâu như biển thẳm không bờ. Một thứ tình thương không đối tượng so sánh, cũng chẳng bút mực, ngôn từ nào có thể diễn tả trọn vẹn, chỉ có thể tạm ví như ngọn Thái Sơn hay nước trong nguồn chảy ra. Tình cha nghĩa mẹ thiêng liêng suốt đời ta không thể trả hết.
- Con là nún ruột của mẹ, là hòn Ngọc quý của cha. Một người Mẹ hiền và Cha lành luôn luôn sống hy sinh vì con; bất luận sự gian lao khổ cực bao bọc nuôi con cho đến ngày lớn khôn. Nhất là Ơn nuôi dưỡng sinh thành của Mẹ. khi nhìn thấy con vui thì mẹ mừng; thấy con ốm đau, thì mẹ sót thương vô cùng đau lòng. Cha Mẹ nuôi con không tính tháng ngày.. Chỉ mong con sớm lớn lên trở thành người tài, có nhân từ đạo đức làm người trong đời sống gia đình và xã hội. Cha Mẹ mới được an vui.
- Cha Mẹ là nguồn sống “Phước Báu Thiện Duyên” quý nhất ở trên đời này! Người nào còn Cha Mẹ phải biết trân trọng yêu thương, Một khi lỡ mai sau Cha Mẹ không còn, sẽ nuối tiếc ân hận. Bởi vì trên đời này chỉ có cha và mẹ là cao quý nhất không gì sánh bằng... "Công Cha Như Núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chạy Ra".- Một người Cha lành và Mẹ hiền luôn luôn sống trong sự hy sinh cả cuộc đời của mình dành cho con.- Bổn phận làm con cần phải biết hiếu thảo với Cha Mẹ, làm tròn đạo hiếu người làm con, mới là người Phật tử Chơn Chánh tu học tại gia.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(sưu tầm)
【 TÌNH DUYÊN VỢ CHỒNG 】
- Hai người yêu thương bên nhau “vợ chồng” sống chung sẽ không tránh khỏi những sự cãi vã, điều quan trọng nằm ở chỗ khi cuộc cãi vã kết thúc. Sự tranh cãi không quan trọng đúng sai của ai, đàn ông là người trượng phu sẵn lòng tha thứ, cần phải dỗ dành người mình yêu thương thì tình cảm sẽ tự nhiên đến với bạn, đó cũng là sự khoan dung độ lượng của bạn. Cho nên, sau cuộc cãi vã, đàn ông nên dỗ dành người phụ nữ của mình, đàn bà cũng nên có tấm lòng độ lượng khoan dung người mình yêu thương, điều này không liên quan gì đến việc ai đúng ai sai cả, mà là tình yêu, là lòng bao dung, và cũng là trách nhiệm chung của đôi bạn, hạnh phúc sẽ đến với bạn.
- Trong cuộc sống chúng ta, biết bao lo toan áp lực công việc, rất dễ khiến cho con người tinh thần căng thẳng, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn, khi bạn bước vào tuổi trưởng thành đến khi cuộc sống tạm ổn định. Bạn không nên bỏ lỡ những cơ hội tình tứ lãng mạn, dành cho người mình yêu thương mới khiến cho đời sống bạn hạnh phúc và tinh thần phấn trấn hơn. Bạn không nên có quan niệm già rồi mà còn tình tứ gì nữa. "Gừng già, gừng càng cay" chúng ta cũng cần phải thể hiện sự yêu thương lạng mạn với vợ chồng mình yêu thương nhau, mới tăng thêm tình cảm sâu đậm của đôi bạn, thì cuộc sống bạn mới có an lạc và hạnh phúc.
- Thực sự trong đời sống của tôi cũng đã trải qua nhiều lần thăng trầm của cuộc sống gia đình và bản thân đã từng phải trả nghiệp gặp những khó khăn trong đời tôi và cuộc sống gia đình. Nhờ sự tu học giác ngộ được giáo lý nghiệp duyên trong “Nhân Quả” theo lời Phật dạy... không ngừng tinh tấn khắc phục mọi chướng duyên; mới thay đổi được cuộc sống của đời tôi ! "Được hồng ân chư Phật gia hộ" ... Tri ân tất các bạn và những người thân hữu của tôi. Nhất là người bạn đời của tôi luôn luôn ở bên cạnh tôi trong suốt hơn 50 năm giúp đỡ tôi trong cuộc sống gia đình và trở duyên cho tôi trên con đường tu học đạo giác ngộ.
* Kính Chúc tất cả các bạn sống trong Tình Yêu Hạnh Phúc Chơn Thiện Mỹ.
(sưu tầm)