https://uphinhnhanh.com/images/2017/09/20/cg8dctsm.jpg
http://tuyenphap.com/bai-cau-nguyen-...cat-tuong-1131
Printable View
Mới nhất
Bi hài những "khách sạn giường tầng" ở Hà Nội
Sập trường do động đất, 21 trẻ em tại Mexico thiệt mạng
Mùi thuốc trừ sâu nồng nặc sau đám cháy, nhiều học sinh phải nghỉ học
Ngoại trưởng Sergey Lavrov: Đã đến lúc hàn gắn lại quan hệ Nga-Mỹ
Khoe bút súng, bắn trọng thương bạn nhậu
Ngày 20/09/2017
Thời sự - Chính trị
"Ngâm"... quyết định giải quyết khiếu nại của dân 11 năm
15:16 14/04/2011
Ông Dủ thắc mắc quyết định ban hành từ năm 2000 (tính đến nay là 11 năm) nhưng gia đình ông không hề nhận được thì Chủ tịch UBND thị trấn Lịch Hội Thượng cho rằng quyết định giao cho ông Dủ mà thị trấn giao hôm nay là để tham khảo chứ không phải là tống đạt quyết định (?!).
Ông Trịnh Xái Dủ (73 tuổi, ngụ tại ấp Châu Thành, thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, Sóc Trăng) làm đơn gửi Báo CAND; các cơ quan chức năng của huyện Trần Đề và tỉnh Sóc Trăng, đề nghị làm sáng tỏ việc chính quyền địa phương "ngâm" quyết định giải quyết khiếu nại của ông đúng 11 năm.
Theo trình bày của ông Dủ, gia đình ông có phần đất diện tích 27m x 63m tọa lạc tại ấp Châu Thành, xã Lịch Hội Thượng, huyện Long Phú (tháng 4/2010, xã Lịch Hội Thượng được chuyển thành thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề). Phần đất này là đất của ông nội ông Dủ là Trịnh Minh, cầm cố của ông Trần Tính từ năm 1915, trên đó có 3 căn nhà, sau giao lại cho ông Trịnh Liếm (cha ruột ông Dủ) quản lý và sau này là ông Dủ tiếp tục quản lý...
Ông Trịnh Xái Dủ.
Sau 1975, phần đất trên ông Dủ vẫn quản lý và sử dụng làm kho chứa lúa, nấu rượu và nuôi heo. Đến năm 1990, chính quyền xã Lịch Hội Thượng yêu cầu ông phải di dời vì ô nhiễm và cho rằng đất này là đất công sản. Kể từ thời gian đó, toàn bộ khu đất nói trên bỏ trống, ông Dủ cho Ban quản trị chùa ông Bổn dùng làm sân đốt vàng mã và đậu xe cho bà con vào chùa. Cũng từ năm đó đến nay, ông Dủ nhiều lần làm đơn khiếu nại yêu cầu trả lại phần đất nói trên nhưng không hề nhận được hồi âm.
Vào đầu tháng 3/2011, UBND thị trấn Lịch Hội Thượng cho tráng lại khu đất nói trên thì bị ông Dủ ngăn cản với lý do đất ông đang khiếu nại chưa được giải quyết. Ngày 23/3, UBND thị trấn Lịch Hội Thượng mời ông Dủ đến trụ sở UBND thị trấn trao cho ông Quyết định giải quyết khiếu nại của… UBND huyện Long Phú ký ngày 31/3/2000.
Khi ông Dủ thắc mắc bởi quyết định ban hành từ năm 2000 nhưng gia đình ông không hề nhận được thì ông Trịnh Văn Bé - Chủ tịch UBND thị trấn Lịch Hội Thượng cho rằng quyết định giao cho ông Dủ mà thị trấn giao hôm nay là để ông Dủ tham khảo chứ không phải là tống đạt quyết định (?!). Khi ông Dủ yêu cầu kiểm tra lại hồ sơ lưu để biết quyết định đã tống đạt cho gia đình ông hay chưa thì không được đáp ứng.
Ông Trịnh Xái Dủ nói: "Tôi khiếu nại từ đó đến nay không hề nhận được quyết định giải quyết, bây giờ mới đưa quyết định ra là hoàn toàn sai trái vì quyết định đó đã đẩy gia đình tôi vào thế không thể khiếu nại bởi đã hết thời hiệu. Nhưng tôi vẫn khiếu nại bởi tôi chưa hề nhận được quyết định này. Nếu nhận được thì tôi đã khiếu nại lên UBND tỉnh để yêu cầu giải quyết". Như vậy, quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện Long Phú (nay là huyện Trần Đề), bị chính quyền địa phương "ém nhẹm" suốt 11 năm nay, không tống đạt đến ông Trịnh Xái Dủ (?!).
Đề nghị UBND thị trấn Lịch Hội Thượng và UBND huyện Trần Đề cần xem xét lại vụ việc để giải quyết một cách thấu đáo
N.Thơ - C.X.
http://cand.com.vn/thoi-su/Ngam-quye...11-nam-177119/
Những nơi có đông đảo người Hoa tại miền Nam, như: TP. Hồ Chí Minh (quận 1, 5, 6, 11); tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải đều có chùa chiền. Có điểm tập trung tu sĩ người Hoa đến tạm cư như trường hợp chùa Ông Bổn tại TP. Hồ Chí Minh. Về phương diện tín ngưỡng, trước khi những chùa người Hoa chưa có hệ thống tổ chức tu trì truyền thống, thì hình thức tổ chức vẫn theo tín ngưỡng dân gian.
Tại thành phố TP. Hồ Chí Minh - Chợ Lớn, nhiều ngôi chùa người Hoa được thiết lập trong mấy thế kỷ nay như: Chùa Thiên Hậu (Quảng Đông), chùa Bà (Hải Nam), chùa Tịnh Phúc (Phúc Kiến), chùa Ông hay Tam Đỉnh (Phúc Châu, Phúc Kiến), chùa Quang Vân (Phúc Kiến Chợ Lớn), chùa Thánh Mẫu Hộ Phòng (Quảng Đông TP. Hồ Chí Minh), miếu Thiên Hậu Chợ Quán (Quảng Đông TP. Hồ Chí Minh) chùa Bà, TP. Hồ Chí Minh (Quảng Đông, TP. Hồ Chí Minh), Vũ Miếu Thất Bang (tất cả người Hoa), chùa Bảo Sơn (Phúc Kiến, TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn), chùa Nhập Chính (Phúc Kiến TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn), chùa Hoà Chính (Triều Châu), chùa Đạt Thịnh (Phúc Kiến TP. Hồ Chí Minh, Chợ Lớn), chùa Quan Âm Tống Tử (Phúc Kiến Chợ Lớn), đền Ngọc Hoàng Đa Kao (tất cả người Hoa), chùa Phượng Sơn (Hội thợ sắt), chùa Trúc Lâm (Việt gốc Hoa), chùa Báo Ân (Lão giáo gốc Hoa)... chùa Nam Phổ Đà (chùa Tổ). (theo Tsai Maw Kuey- Les Chinois au Sud Viet Nam).
Căn cứ theo di chỉ chùa Hoa, những chùa miếu được xem là cổ xưa nhất của người Hoa trong vùng TP. Hồ Chí Minh - Chợ Lớn phải kể đến: chùa Giác Lâm (do Lý Thoại Long, người Minh Hương xây năm 1744 tại Phú Thọ); chùa Gia Thạnh (do người Minh Hương xây năm 1789 tại Chợ Lớn), chùa Giác Viên (năm 1820), Quan Võ Miếu thờ Quan Công (do người Minh Hương dựng năm 1820 tại TP. Hồ Chí Minh), chùa bà Thiên Hậu (do người Phúc Kiến xây năm 1830 tại Chợ Lớn), Tam Hội Miếu thờbà Chúa Thai Sinh (lập năm 1839), Quỳnh Phủ Hội Quán (do người Hải Nam xây năm 1875 tại Chợ Lớn... Ngoài ra, còn một số chùa miếu khác kiến tạo nhưng lại mang tên Hội quán các bang hay hội đoàn như Nhị Phủ Hội Quán (1835), Bửu Sơn Hội Quán (1871), Nghĩa Nhuận Hội Quán (1872), chùa Giác Hải (1887) Phước An Hội Quán (1900), Ôn Lăng Hội Quán (1901).
Những ngôi chùa người Hoa kiến lập tại vùng Gia Định TP. Hồ Chí Minh rất nhiều và đa dạng. Theo tài liệu của J. Ch. Balencie (trong Monographie de la province de Gia Dinh - 1899) thì có đến 43 chùa người Hoa trong vùng này. Một trong những ngôi chùa danh tiếng của người Hoa tại TP. Hồ Chí Minh là chùa Nam Phổ Đà, tọa lạc tại số 117 đường Hùng Vương, quận 6. Ngôi chùa này kiến lập năm 1945, do Hoà thượng Thống Lương và Hoà Thượng Thanh Thuyền đứng ra xây dựng. Đây là ngôi chùa Phật Giáo của người Hoa được tổ chức quy củ nhất, đặt nền tảng cho tổ chức Phật Giáo người Hoa ở thành phố. Giáo Hội Phật Giáo của người Hoa được Hoà thượng Siêu Trần và Hoà thượng Thanh Thuyền vận động thành lập vào năm 1968, và chính thức ra đời vào ngày 20/5/1972. Giáo Hội này mang tên là "Phật Giáo Hoa Tông". Hoà Thượng Siêu Trần là vị hội chủ đầu tiên (1972).Việc du nhập Phật Giáo của người Hoa gắn liền với cộng đồng người Hoa đến định cư.
Với những đợt di dân lớn của Mạc Cửu (Hà Tiên), của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vào thế kỷ XVII ở những tỉnh Mỹ Tho, Đồng Tháp, Cửu Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu... những người Hoa đến định cư tại những vùng đất này theo đường biển. Trong nhiều thế kỷ trước đây, cảng Đại Ngã (Sóc Trăng) đã là một cảng lớn, đón nhiều đợt người Hoa đến; vùng này cũng là nơi phát triển Phật Giáo người Hoa rất mạnh. Từ khi người Hoa đến định cư, phát triển ở vùng đất Nam Phần cho đến nay, về tín ngưỡng, những ngôi chùa thờ Phật thường bị đồng hoá với những miếu thờ thần linh từ nguồn tín ngưỡng dân gian. Thành thử nhiều chùa được gọi là miếu thờ bà Thiên Hậu, thờ ngài Quan Thánh là chùa Ông, chùa Bà. Về việc kiến lâp chùa chiền, do nhu cầu của nền tín ngưỡng dângian, nên đa số chùa người Hoa thường được kiến tạo ở những vị trí thích hợp của vùng đông dân cư. Kiến trúc, điêu khắc của chùa người Hoa có một số nét khác chùa Việt:
Chùa người Hoa thường dùng nhiều màu đỏ hay màu hồng trong mọi thể hình trang trí; đây là màu của sức sống vươn lên, niềm tin, may mắn. Bố cục quần thể chùa người Hoa thường theo dạng chữ "Tam" hay "Nội công, ngoại quốc". Dạng thức này thuận tiện cho việc bài trí nhiều bàn thờ, cúng vái, xin xăm, bói quẻ Mái và cổng tam quan của chùa người Hoa thường có dạng cao vút lên, nét cong ở các đầu đao. Mái cổng dựng hai lớp trở lên, một dạng "trùng thiềm điệp ốc" để nới rộng diện tích.
Những mẫu hình trang trí chùa người Hoa khá phức tạp: Hình rồng, phượng, lưỡng long triều nguyệt, tứ linh, tứ vật là mô hình phổ biến nhất. Hai bên sân chùa đều có xây la thành, điểm thêm cặp lân, trong tư thế chầu chực. Tháp chùa người Hoa chia làm hai loại: Một loại để đựng di cốt của các sư sãi viên tịch, có nhiều công đức trong xây dựng chùa; loại thứ 2: thờ Phật. Thờ phượng: Cách thiết trí thờ phượng trong một ngôi chùa người Hoa ở Nam Việt Nam cũng có những điểm đặc biệt, khác với chùa người Việt. Chẳng hạn như cách thiết trí trong chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải) tại phường Đa Kao (TP. Hồ Chí Minh) như sau: Ngay khi vào chùa, sẽ thấy trước tiên hai bàn thờ "Môn Quan Thần" và "Thổ Địa Thần" là nơi thờ những vị thần trấn áp tà ma quấy phá chùa. Sau đó là bàn thờ Phật, có bày những tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nhìn vào, khắp nơi khói hương lên nghi ngút, nhìn bên phải, có tượng đồ sộ vị Thanh Long Đại Tướng, bên trái có tượng đồ sộ Phục Hổ Đại Tướng. Sau bàn thờ Phật là chính điện: cung giữa thờ Ngọc Hoàng; cung bên phải thờ Chuẩn Đề Quan Âm; cung bên trái thờ Bắc Đế, tức Huyền Võ. Ở giữa gian thờ Ngọc Hoàng có sáu phi tượng chính: bên phải có ba vị, giữa là Quan Phu Tử, hai bên có Thiên Tướng và Thiên Thần; bên trái có ba vị: giữa là Văn Xương, hai bên cũng có Thiên Tướng và Thiên Thần. Trước bàn thờ Ngọc Hoàng có tấm đá quý, trên mặt có khắc bốn chữ Hán "Hoa Khai Phú Quý". Ở chính giữa trên bàn thờ có bức hoành phi ghi bốn chữ "Tiên Phật Giáng Lâm". Gian thứ nhì có treo sáu bức chạm bằng gỗ, trình bày các cảnh: Hoạt Vô Thường, Đông Nhạc Viện, Quan Âm Đường, Địa Tạng Vương, Tì Mệnh Quân và Dẫn Hồn Tiên. Gian thứ ba là Thập Điện Diêm Vương; ở hai bên tường có treo hình chạm nổi những hình phạt ở âm ty để trừng giới những kẻ từng làm nhiều điều gian ác trên trần gian.
Ở cuối gian phòng có ba khám thờ: khám ở giữa thờ Thành Hoàng Đế; khám bên phải thờ Thái Thế Thần và khám bên trái thờ Bảo Thọ Thần. Phía ngoài sân có bàn thờ của hai vị Thần Thanh Long và thần Bạch Hổ. Sau đây là mô hình chùa người Hoa tiêu biểu: Chùa Bà rất phổ biến khắp các vùng tụ cư người Hoa. Chùa Bà ở Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Trãi, quận V. Chùa Bà có tên là Thiên Hậu Miếu hay là Phò Miếu.
Chùa được kiến lập từ năm 1760, nhưng sau đó đã được trùng tu nhiều lần và nới rộng diện tích thêm. Chùa do Bang Quảng Đông điều hành. Theo người Hoa thì bà Thiên Hậu là một nữ thần, người Quảng Đông gọi là "A Phò" (Đức Bà). Theo tước phong của Trung Hoa thì gọi bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Người Phúc Kiến và Hải Nam thì thường gọi là "Đại Mẫu".
Người Hoa thường xem bà Thiên Hậu là biểu tượng của lòng nhân ái, xả thân vì mọi người. Trên bước đường di dân lập nghiệp, nguy nan luôn luôn đe doạ bởi sóng gió, bão tố, họ sợ hãi và luôn luôn cầu nguyện đến Bà Thiên Mẫu; bây giờ đến quê hương thứ hai, họ lập đền thờ để nhớ ơn. Chùa Bà giữ một vai quan trọng, không những đối với người Quảng Đông, mà ngay cả người Quảng Châu, Phúc Kiến, Hẹ... và cả người Việt nữa. Thành thử việc cúng bái ngày đêm không ngớt của thập phương ở Chùa Bà là đương nhiên. Chùa Bà được xây theo kiểu "hình cái ấn" là kiểu kiến trúc đặc trưng của người Hoa. Đây là một tổ hợp gồm bốn căn nhà liên hết với nhau, tạo thành một mặt bằng trông giống hình chữ "Khẩu" hay chữ "Quốc". Hai cơ sở phụ là trường học và hội quán. Phần dành cho việc thờ phụng là rộng nhất, gồm có ba điện thờ: tiền điện, trung điện và chính điện. Phần chính điện thờ tượng bà Thiên Hậu đặt ngay tại chính điện, với trang thờ và điện thờ lớn. Bên trong trang thờ đặt ba pho tượng của Bà, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ và đặt từ sau ra trước thẳng hàng nhau. Trên trang thờ có bức trướng ghi hàng chữ "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Phía trên điện thờ lại có khắc hành chữ "Thiên Hậu Cung". Trước điện thờ có đặt lư hương và ba dãy bàn thờ dùng làm nơi đặt lễ vật cúng bà. Gần đây, người Hoa chính quốc lại mang sang tặng thêm tượng đức Quan Thế Âm Bồ tát cũng được đặt tại bàn thờ này.
Bên phải chính điện là trang và điện thờ Bà Kim Huê (Mẹ Sinh, Mẹ Đậu), bên trái đặt tượng Long Mẫu Nương Nương. Bà Kim Huê là vị Nữ Thần được phong vào thời Khương Tử Nha đời nhà Chu đã đánh vua Trụ. Long Mẫu Nương Nương là vị Nữ Thần, con vua Thủy Tề. Theo truyền thuyết ghi chép lại thì nhân một hôm đi ngao du trên biển, có một ông lão đánh cá vô tình bắt được, thấy hình "con cá kỳ lạ" nên không nỡ giết, mà mang về nuôi. Một buổi tối nọ, tình cờ ông lão thấy vị thần hiện ra nửa người, nửa cá. ông liền đem ra thả xuống biển. Trước khi cá ra khơi, lão đánh cá nghe văng vẳng tiếng "cám ơn" và dặn: nếu khi ra biển đánh cá, gặp những cơn hoạn nạn, kêu cứu đến tên Long Mẫu Nương Nương, thì sẽ được cứu vớt.
Từ đó những dân chài trên biển thường cầu khẩu và cúng tế, lập nhiều miếu thờ. Phần trung điện không đặt trang thờ, mà đặt "lư pháp lam"; đây là đồ vật bằng sành, phía trên mặt có khắc những ô nhỏ, hình hoa, lá, chung quanh có viền bằng kim khí (vàng, bạc hay đồng). Lá pháp lam này có ghi niên hiệu Quang Tự thứ 12, đặt trên bàn đá cao. Dưới bộ lư, hai bên đặt chiếc kiệu lớn, sơn son, thếp vàng,dành để rước tượng bà trong những ngày đại lễ. Tại trung điện cótreo tấm hoành phi, ghi lại năm trùng tu xưa nhất, với hàng chữ "Hàm Hoằng Quang Đại". Phần tiền điện có đặt hai trang thờ nhỏ hai bên cửa ra vào; bên phải thờ "Phúc Đức Chính Thần"; bên trái thờ "Môn Quan Vương Tả". Phía sau cửa chính có hai tấm bia đá, ghi lại truyền thuyết về bà Thiên Hậu. Trên cửa, gần nóc là bức tranh lớn về ảnh "Bà Hiển Linh Trên Biển Cả".
Trong đoàn di dân từ miền Trung vào Nam khai phá vùng đất mới, có cả người Việt và những người từ Trung Quốc đến Việt Nam định cư vào nhiều thời điểm khác nhau. Phật giáo (PG) sử có đề cập đến sự hiện diện của nhiều Thiền sư Trung Hoa đến Việt Nam truyền đạo từ gần hai thiên niên kỷ trước. Với bề dày lịch sử đó đã có thể giúp định hình trên địa bàn cả nước và tại vùng đất mới Nam Bộ, đặc biệt là ở TP. Hồ Chí Minh-TP Hồ Chí Minh, một dấu ấn của PG trong cộng đồng người Hoa có mặt gần 300 năm qua tại đây. Nhưng xét về cơ cấu tổ chức, PG Hoa tông ra đời chỉ gần 30 năm trở lại đây. Số lượng cơ sở thờ tự cũng như tu sĩ tương đối ít. Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình phát triển đã dẫn đến hiện tượng trên. Đó cũng là biểu hiện tất yếu của quá trình hội nhập văn hóa (inculturation) của cộng đồng người Hoa vào cộng đồng Việt. Tìm hiểu những đặc điểm chính của PG Hoa tông ở Nam Bộ, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn quá trình hội nhập này.
Điểm dừng chân của các Thiền sư Trung Hoa vào Đàng Trong từ những thế kỷ XVI, XVII đã được ghi lại nhiều trên vùng đất Hội An thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng. Ở miền Đông Nam Bộ, nhiều chùa cổ còn đặt bài vị và nhắc đến sự có mặt của Thiền sư Bổn Quả (đời thứ 32) và Thiền sư Nguyên Thiều, đời thứ 33 của dòng Lâm Tế. Chùa Đại Giác, chùa Kim Cang, chùa Long Thiền... ở tỉnh Đồng Nai, thuộc Cù lao Phố xưa, đã có dấu chân hoằng hóa và những ngôi chùa do các Thiền sư Trung Hoa khai sáng và trụ trì. Tuy nhiên, rất hiếm chùa còn liên tục truyền thừa và duy trì sinh hoạt, nghi lễ thuần túy cũng như sử dụng kinh sách chữ Hán cho đến hiện nay. Tìm lại vết tích ấy có thể nhắc đến vài ngôi chùa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh xưa. Trung tâm tụ cư quan trọng của cộng đồng di dân từ Trung Quốc sang định cư thuộc quận 5 ngày nay, những điểm tập trung đầu tiên của nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau là các hội quán. Nhiều người Hoa có tuổi hiện nay còn nhắc đến vài địa điểm lớn như Nhị Phủ miếu, Ôn Lăng hội quán, Thất Phủ Quan võ miếu... có các tu sĩ PG tạm trú.
Trước năm 1930, những tu sĩ Hoa theo đạo Phật sinh hoạt theo từng chùa thuộc tông phái là chính, chưa có tổ chức Giáo hội.
Năm 1945, Hòa thượng (HT) Thống Lương và Thanh Thuyền xây dựng chùa Nam Phổ Đà (quận 6). Cùng thời gian này, tại quận 11 có chùa Trúc Lâm do HT Lương Giác xây dựng; chùa Hoa Nghiêm (quận Bình Thạnh) do HT Thọ Dã (1952); chùa Từ Ân (quận 11) do HT Hoằng Tu (1955); chùa Vạn Phật (quận 5) do HT Diệu Hoa và Đức Bổn (1959); chùa Thảo Đường do HT Diệu Nguyên xây dựng vào năm 1960 ở quận 6...
Như vậy, giai đoạn giữa thế kỷ XX, PG trong cộng đồng người Hoa được phục hồi và phát triển hơn so với trước đó, và đã tạo tiền đề cho sự ra đời cơ cấu tổ chức của Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam vào năm 1972, do HT Siêu Trần và Hòa thượng Thanh Thuyền đứng đầu. Lần đầu tiên, đạo Phật của các tu sĩ Trung Quốc truyền vào Việt Nam chính thức có tổ chức rộng rãi và có tư cách pháp nhân. Văn phòng đặt tại 360A Bến Bình Đông, quận 7. Trụ sở Trung ương ở số 195 Nguyễn Tri Phương, quận 5. Giáo hội có nội quy, điều lệ và mở đại hội thành lập Ban Chấp hành Trung ương vào ngày 20-5-1973.
Về phương diện thờ cúng, chùa của người Hoa có đặc điểm tượng thờ được đặt trong khánh để đảm bảo sự tinh khiết. Hầu hết các tượng đều được đưa về từ nhiều nước như Myanmar, Hồng Kông... Tam thế Phật là bộ tượng chính, đặt thờ bên cạnh bộ tượng 5 vị tại bàn ngoài cùng (5 vị này có khác với 5 vị được thờ tại các chùa cổ của người Việt) gồm : Phổ Hiền, Di Lặc, Quan Âm, Văn Thù, Địa Tạng Vương Bồ tát. Chùa Hoa còn thờ Phật Di Lặc và Ngọc Hoàng Thượng đế. Trên điện thờ, lư hương dùng đựng trầm được đốt trong các buổi đại lễ và ngọn đèn dầu phộng giữ cháy liên tục, tượng trưng cho chính pháp không bao giờ tắt !
Bia công đức là một điểm đặc thù trong các chùa miếu của người Hoa, ghi lại tên và số tiền quyên góp vào việc dựng và trùng tu chùa... Tùy theo từng nhóm ngôn ngữ khác nhau, mỗi chùa có nét riêng trong đọc tụng lời kinh và pháp khí sử dụng theo phong cách riêng.
Ngoài một số chùa đặt tượng 18 La Hán, chùa Thảo Đường còn có tranh vẽ 500 La Hán, theo phong cách thờ La hán ở Trung Quốc. Hai vị Hộ pháp trong chùa Hoa là Vi Đà Hộ pháp và Già Lam Thánh chúng.
Phía sau các chùa Hoa thường có Diên sinh đường, nơi đặt long vị của cư sĩ có công lớn với chùa. Trên các long vị này thường thờ Phật Dược Sư. Tên gọi Diên sinh đường vì là nơi chú nguyện phước báu cho các cư sĩ còn sống được mạnh khỏe, trường thọ. Khi cư sĩ đã mãn phần, được đưa vào đặt tại Công đức đường. Vào những dịp lễ lớn, chùa Hoa còn tổ chức lạy các bộ sám lớn như sám Tam Thiên Phật, sám Vạn Phật, sám Lương Hoàng... Lễ tạ chư Thiên là lễ lớn và riêng có đối với các Tăng sĩ Phật tử theo PG Hoa tông. Lễ được tổ chức sau ngày lễ lạy sám trong năm. Lễ vật phong phú với 10 loại 24 thứ khác nhau.
Ảnh hưởng của phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian in đậm trong nghi thức thờ cúng tại chùa Hoa. Giấy tiền vàng bạc được xếp thành hình ống, đặt lên dĩa thành tháp 7 tầng, hoặc có dạng hoa sen... Trong PG Hoa tông, lễ quy y và thọ giới không tiến hành đồng thời như ở chùa Việt. Sáng xuất gia, chiều thọ giới. An cư kiết hạ không tập trung Tăng Ni cùng tu học mà nhập thất riêng, mỗi người tự ở hẳn trong Tăng đường; tùy phát nguyện có thể từ 49 đến 100 ngày. Lễ truyền và thọ giới thường có tục đốt liều trên đỉnh đầu. Một trong những nguyên nhân làm cho PG Hoa tông có số lượng tu sĩ ít ỏi vì việc tu hành đòi hỏi sự kiên trì, không được hoàn tục, “thọ” nhiều giới..., trong khi cộng đồng người Hoa thì có tục con cái đông đúc mới là nhà có phúc lớn!
Khi hành lễ, Phật tử thường mặc áo tràng đen. Lúc hành lễ, Tăng sĩ có tục bó ống quần để bảo đảm sự thanh khiết.
Một trong những nét đặc thù của PG Hoa tông là công tác từ thiện - xã hội. Nhiều hội đoàn được hình thành từ việc bảo đảm cuộc sống của cộng đồng từ khi mới sang Việt Nam như Hội Sư Trúc Hiên (quận 5). Hoạt động chính của Hội là công tác từ thiện, bố thí áo quan, hộ niệm cho người qua đời, đặc biệt là thành lập đội cổ nhạc, chuyên phục vụ lễ hội truyền thống và đám tang. Hội Phật học mang tên Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm có trụ sở trung ương tại quận 5 và nhiều chi nhánh khắp Nam Bộ như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sa Đéc, Đà Lạt... Ban Hộ niệm của Hội được hình thành từ yêu cầu cúng cầu siêu cho các gia đình theo PG Hoa tông có người quá vãng cần cầu siêu và đưa cúng tại từ đường, nghĩa trang...
Hoạt động từ thiện - xã hội được đẩy mạnh trong các chùa thuộc PG Hoa tông còn xuất phát từ quan niệm hoạt động từ thiện để lại phúc đức cho con cháu! Riêng trên địa bàn quận 5, nơi có đông người Hoa và chùa Hoa, đã có nhiều gương làm việc thiện, điển hình như Sư cô Tuệ Độ ở tịnh xá Quan Âm, có trên 1.000 hội viên; Từ Đức tịnh xá có Thượng tọa Tôn Thật là Trưởng ban Từ thiện của Báo Giác Ngộ. Tháng 12-1998 đại trai đàn chẩn tế kỳ an, kỳ siêu được tổ chức, do PG Hoa tông đề xướng, sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với bệnh nhân nghèo. Từ tiền ủng hộ của các tấm lòng từ thiện, ban tổ chức sẽ phát chẩn cho người nghèo sống lang thang. Trai đàn Vạn Nhân Duyên được tổ chức để gây quỹ xây dựng trường Chính Giác (quận 11), Việt Tú (Mỹ Tho), Quảng Triệu (Thủ Dầu Một)...
Về việc truyền thừa, PG Hoa tông vẫn tiếp tục kế truyền các Thầy Tổ thuộc “Ngũ gia tông phái” ở Trung Quốc. Tuy vậy, phổ biến tại Việt Nam chỉ có hai dòng phái Lâm Tế và Tào Động. Đa số Tăng Ni người Hoa đều được truyền theo bài kệ của Trí Thắng Bích Dung : “Trí Huệ Thanh Tịnh...” của dòng Lâm Tế. Riêng dòng Tào Động chiếm số ít hơn, theo bài kệ pháp phái Vĩnh Xương Cổ Sơn: “Huệ Ngươn Đạo Đại Hưng...”. Chùa Từ Đức (quận 5), chùa Thảo Đường (quận 6)... đều thuộc phái Tào Động.
Những đặc điểm nêu trên của PG Hoa tông ở Nam Bộ là những nét lớn, chủ yếu, còn được lưu giữ đến nay, tạo nên nếp sinh hoạt đặc thù trong cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ. Đặc điểm ấy là bản sắc văn hóa Hoa trong PG ở Nam Bộ, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh. Gọi PG Hoa tông, theo sự phân phái trước đây để dễ phân biệt với nhiều giáo phái có mặt ở TP. Hồ Chí Minh trước năm 1975. Ngày nay, với một Ban Quản trị, đại diện có HT Đức Bổn, PG Hoa tông trực thuộc Giáo hội PG Việt Nam. HT là Thành viên Hội đồng Chứng minh và là Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội PG Việt Nam.
Dù rằng gần 300 năm qua, đã có khá nhiều ngôi chùa Hoa do các Thiền sư Trung Hoa sang truyền đạo đã dần dần bị biến đổi theo xu thế Việt hóa, nhiều lớp đệ tử của Sơ Tổ Nguyên Thiều đã là những Thiền sư Việt Nam, nhưng do quá trình cộng cư của hai cộng đồng Hoa - Việt mang tính hòa hợp, cố kết và tự nguyện nên những nét đặc sắc trong văn hóa PG vẫn còn được lưu giữ và được phát huy, nhất là trong lĩnh vực từ thiện - xã hội, đã góp phần lớn vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo; mang lại sự giàu mạnh và thịnh vượng cho đất nước mà người Hoa là thành viên trong cộng đồng 54 dân tộc nước .
So với những kiến trúc ở miền Bắc và miền Trung thì chùa chiền ở miền Nam Việt Nam tương đối ra đời chậm nhất. TP. Hồ Chí Minh cũng nằm trong trường hợp này, vì mãi cho đến thế kỷ 19 mới được nói đến. Một trong những ngôi chùa ở TP. Hồ Chí Minh được lập ra sớm nhất vùng này là chùa Giác Lâm. Ngôi chùa tọa lạc tại số 118 đường Lạc Long Quân thuộc quận Tân Bình. Theo nhiều tài liệu lịch sử ghi lại thì chùa này được thành lập sơ khởi vào năm 1744, nhưng thời gian đó chỉ là một am nhỏ và về sau đã được trùng tu lại cảnh trí như ngày nay là vào tháng 12 năm 1900.
Những công trình điêu khắc, kiến trúc và hội họa trang trí trong ngôi chùa như đã thấy hiện nay cũng bắt đầu xuất hiện từ 1900 trở về sau mà thôi. Từ cổng chính đi vào, qua tam quan thì trông thấy một cây bồ đề to lớn, được mang từ Ấn Độ sang vào năm 1902 do Hoà thượng Quảng Lạc cúng dường sau chuyến hành hương sang Phật tích. Cạnh cây bồ đề có nhiều ngôi tháp và miễu nhỏ thờ cúng những người góp công của trong đợt trùng tu sau này. Tháp thờ hoà thượng Quảng Lạc được xây dựng công phu bên cạnh chùa. Một pho tượng toàn thân của đức Quan Thế Âm Bồ tátngay vào con đường dẫn vào chính điện của chùa GiácLâm.
Những công trình kiến trúc cũng như điêu khắc hội họa khác ở mái chùa, cột chùa cũng như chung quanh chùa đều kết bằng sành sứ, muôn màu muôn vẽ, như những kiến trúc Trung Hoa hiện nay.
Vì ngôi chùa được quản trị do một Hội đồng Tín Hữu người Hoa Kiều gốc Quảng Đông hiện nay, cho nên những nghi thức hành lễ, cầu siêu, cầu an, đại trai đàn chẩn tế, lễ xá tội vong nhân, những ngày chính lễ Phật Giáo đều được cử hành theo đúng nghi thức tụng niệm Trung Hoa. Chúng ta có thể nhìn vào cách thờ phượng trong chùa thì rõ.
Chính điện thờ đức Phật Thích Ca trong tư thế Cửu Long tức là đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni. Đi sâu vào thì có tượng đức Phật Di Đà và Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, hai đức Phật biểu hiện cho quá khứ và cho vị lai của đức Thế Tôn. Những pho tượng kể trên đều được thỉnh từ Trung Hoa sang cho nên mọi đường nét đều trình bày tỉ mỉ, rườm rà và pha trộn những mô hình khác nhau.
Đặc biệt hơn hết là màu sắc trang trí vô cùng rực rỡ. Bên tả thờ đức Quan Công cùng với Trương Phi và Lưu Bị trong tư thế hành động cho nên rất linh hoạt, sống động lạ thường. Bên hữu thì thờ Quan Âm Thị Kính trong truyền thuyết bình dân. Ngài ngồi trên toà sen màu trắng trong, chung quanh có những vầng hào quang sáng chói. Một phần bên trái của hương án thờ chính, còn có bàn thờ đức Ngọc Hoàng Thượng Đế; bên trái có tượng của Thái Thượng Lão Quân; bên phải là tượng của Tam Đại Chính Thần tức là 3 vị hộ pháp cho đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Tất cả trở thành một cảnh trí trong huyền thoại mang tính chất bình dân.Trên chính điện có một toà linh đăng do 49 ngọn đèn chạm trổ công phu kết lại. Theo giải lý đây là biểu tượng của 49 cõi của cảnh giới cực lạc cung trời Đâu Suất đang chiếu sáng khắp mọi nơi. Vì chịu ảnh hưởng tín ngưỡng bình dân, cho nên phíaphải của chùa có nơi xin xăm, xin quẻ, thu hút rất đông đảo thiện nam tín nữ đến hành lễ và cầu xin, bói quẻ. Bài thơ của thiền sư Trung Hoa Thích Pháp Quang của Tổng Hội Phật Giáo Đài bắc khi đến viếng thăm ngôi chùa này được thoát dịch như sau:
Cảnh trí uy nghiêm, chốn nhiệm mầu, Hồi chuông Bát Nhã gửi về đâu? Ba ngàn thế giới mong siêu thoát, Một chốn trang nghiêm thoát bể dâu.
Trong chuyến vân du này, thiền sư cũng trao tặng nhiều kinh sách và pháp cụ cho chùa. Liên hệ của chùa Giác Lâm với Giáo Hội Đài Bắc rất chặt chẽ.
Nhìn đại thể về kiến trúc và cách thờ phượng thì chùa Giác Viên và Giác Lâm có nhiều điểm tương đồng và cũng được quản trị do một Hội đồng người Hoa gốc Phúc Kiến tại Chợ Lớn. Chùa Giác Viên toạ lạc tại khu Đầm Sen thuộc Quận 11 TP. Hồ Chí Minh. Theo những tài liệu và di chỉ còn lưu lại tại ngôi chùa này viết bằng hán văn thì chùa Giác Viên được xây vào năm 1793, trong thời kỳ chúa Nguyễn Ánh đang khởi binh đánh Tây Sơn. Chúa Nguyễn cũng nhiều lần đến trú ngụ trong khuôn viên của ngôi chùa. Hai đạo dụ sắc phong đời Gia Long chứng tỏ được điểm lịch sử này. Hoà Thượng Thích Hải Tịnh gốc Trung Hoa là người đứng ra cổ động xây dựng và sáng lập ngôi chùa này,trước khi giao lại cho một Hội đồng cư sĩ điều hành. Hoà thượng Hải Tịnh viên tịch vào tháng ba năm 1819 dưới đời vua Gia Long và cũng được nhà vua sắc phong là thánh sư.
Địa chỉ ngôi chùa hiện nay là 161/25/20 đường Lê Đại Hành. Phía ngoài có một cổng lớn, rồi qua một con đường khá lầy lội, trước khi đi vào sân chùa. Chung quanh sân chùa có nhiều ngôi mô xây bằng đá và nhiều bửu tháp nhỏ. Nơi đây thờ những vị sư kế tiếp nhau trụ trì, cùng những cư sĩ có công điều hành ngôi chùa qua những giai đoạn khó khăn khác nhau. Ngay trước cửa đi vào chính điện, có một chiếc lư lớn mà khách thập phương thường lên nhang đèn trước khi đi vào chính điện. Đây cũng là một trong những nơi lễ bái cầu phước của thập phương.
Đi vào chính điện, sẽ thấy nhiều bàn thờ sắp đặt qui mô. Thoạt tiên là bàn thờ và pho tượng của Hoà Thượng Hải Tịnh, vị khai sinh của ngôi chùa. Các hình vẽ khác nhau về vị sư này qua nhiều tư thế, do những danh họa Trung Hoa trình bày. Một bàn thờ đối diện với chính điện là các vị Thập Bát Kim Cương, các vị thần bảo vệ cho đức Phật như thường thấy ở những chùa miền Bắc đời Lý, Trần. Hai bên trái và phải là hình của Diêm Vương Thập Điện, tức là 10 vị phán quan của Âm Phủ. Đây là nơi cúng tế cho những vong hồn vừa khuất. Những bức tranh phát họa khung cảnh này được treo chung quanh điện thờ, với những chú thích nội dung của từng bối cảnh một.
Phía chính điện rộng lớn ở chính giữa có bàn thờ của đức Thích ca Mâu Ni cùng 12 vị Phật và Bồ Tát khác. Những tượng đó của Đức Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát...Trong chùa có nhiều câu đối, do những Phật Tử từ Hồng Kông, Đài Loan và Singapore trong những chuyến hành hương sang Việt Nam đã hỷ cúng. Có thể đọc được những câu sau đây: Vạn thế trang nghiêm tự, Chính quả đắc Niết bàn. Hay là: Vạn vật duy tâm tạo, Vãng sinh Tịnh Độ thiên. Những liên hệ của ngôi chùa này với những tổ chức Hoa Kiều trong ba quốc gia nói trên từ trước đến nay về nhiều phương diện khác nhau rất chặt chẽ. Cũng như ngôi chùa Giác Lâm, một gian lớn dùng để thiết lập bàn thờ dùng lễ xin xăm, bói quẻ được nhiều khác thập phương, nhất là người Hoa đến cúng tế và xin quẻ nhiều nhất. Dường như quanh năm suốt tháng chùa này không bao giờ vắng khách đến cúng tế thường xuyên. Chùa có ban Quản Trị gồm những thành viên chính trong Hội Tương Tế Quảng Đông và Triều Châu liên kết cho nên việc tổ chức và trùng tu liên tiếp rất chu đáo và toàn diện. Hằng năm có 4 ngày lễ lớn: lễ đầu năm (Nguyên Đán) lễ Phật Đản, lễ Xá Tội Vong Nhân và lễ Phật Bà Liễu Sinh.
Chùa Ngọc Hoàng, còn có tên là Phước Hải Tự là một trong ba ngôi chùa lớn do Hoa Kiều xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh (bên cạnh chùa Giác Lâm và chùa Giác Viên). Hội Tương tế Triều Châu quản trị toàn bộ những sinh hoạt và tài chính, trùng tu ngôi chùa này. Toàn thể ngôi chùa toạ lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu ở vùng Dakao. Những khách thập phương đến lễ bái chùa Ngọc Hoàng có thể đi vào chùa theo hướng của số 20 đường Điện Biên Phủ vào.
Hội đồng Tín đồ Phật Giáo Triều Châu hiện nay lo việc quản lý và trách nhiệm với chính quyền ngôi chùa này sau khi được chính quyền địa phương trao lại. Chế độ bán tự trị được tổ chức trong vòng hai năm gần lại đây. Như tên gọi, trọng tâm chính của ngôi chùa này là thờ phượng đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và chư thánh trên thiên đình, dưới chín tầng địa ngục... theo quan niệm của đạo Lão là chính; sau đó mới giành một phần để thờ Phật, nhất là hình tượng của đức Phật Bà Quan Thế Âm. Chùa được xây cất lần đầu tiên vào năm 1909, nhưng sau đó thì trải qua nhiều cuộc trùng tu, xây dựng bổ túc thêm tiền đình và hậu tổ, mới có được cảnh quan như ngày hôm nay. Chùa có khả năng thu hút khách thập phương, không ngày nào là không cúng lễ hương khói trong vùng Dakao.
Trên tổng thể, những phần chính của chùa Ngọc Hoàng bố cục như sau: Từ cửa chính đi vào bên trong, thoạt tiên có hai bàn thờ nhỏ bên ngoài; một bên thờ Môn thần và bên kia thờ Thổ thần. Đây là hai vị thần canh giữ ngôi chùa chống lại những tai kiếp từ nhiều phía đến, như quan niệm thờ cúng của người Trung Hoa. Một chiếc hộp Phước Sương lớn được đặt ngay nơi cúng bái để khách thập phương cúng lễ hương khói dễ dàng. Trước hết là bàn thờ của chư Phật, từ ngoài vào trong thấy có: Phật Mẩu Chuẩn Đề, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Phật Di Lặc, Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương và đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đức Thích Ca Mâu Ni tại chùa này chỉ được thờ ở một góc của những vị Phật kể trên, khác với cách bài trí của tất cả ngôi chùa khác. Vào trong thêm nữa là ba bàn thờ dùng để dâng hương hoa quả phẩm. Đi vào sâu cũng là chính điện là nơi thờ những vị Phật và Thần liên quan đến đến Ngọc Hoàng như Tứ đại Kim Cang, Đại Vương Minh Quang, Phật Mẫu Chuẩn Đề, Nam Tào, Bắc Đẩu.
Ngôi tượng Ngọc Hoàng ở phía giữa lớn nhất, uy nghiêm nhất và trang hoàng nhiều nhất. Hai hàng phướn rủ xuống hai bên tượng đức Ngọc Hoàng, có hai hàng chữ Vô lượng công đức và bên kia Tam thế cứu nhân, như những ngôi thờ Ngọc Hoàng khác tại các ngôi miếu Việt Nam.
Phần bên trái của chính điện có một phó điện để thờ những cô hồn uổng tử người Hoa trên đường đi tìm những vùng đất để phát triển trong toàn vùng Đông Nam Á Châu. Quang cảnh nơi đây cũng khá trang nghiêm dùng trong những lúc lên đồng bóng. Thành thử chính điện của căn này thờ đức Thanh Hoàng là chính yếu.
Hai bên tượng Thanh Hoàng có tượng Âm Quan và Thưởng Thiện, Phạt Ác là những vị thần điều động mọi việc xử lý của đức Thanh Hoàng. Hai bên phía ngoài có 10 tượng khác trình bày 10 cảnh trí của điạ ngục mà người chết sẽ phải trải qua trước khi được đầu thai. Những hình ảnh được mô tả theo lối hiện thực và bình dân. Ra phía ngoài, có tượng của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và đức Quan Âm nhưng lấy theo ý nghĩa của Quan Âm Thị Kính. Kim Hoa Thành Mẫu, thường được tôn xưng là pháp chủ của nữ giới được đặt ở ngoài cùng và được thờ bái vô cùng trang nghiêm. Qua những hình thái trên đây, ta có thể thấy được những đường nét chính như sau:
- Chủ yếu là thờ vị Ngọc Hoàng Thượng Đế của đạo Lão và những vị thần chung quanh Ngọc Hoàng.
- Mặt khác chùa cũng thờ nhiều Phật Bà Quan Thế Âm dưới những thể hiện và xuất xứ khác nhau. - Những tượng Phật kể cả đức Phật Thích Ca chỉ là phụ, trong mục đích tạo thêm danh nghĩa là cảnh chùa.
- Dân chúng thường xuyên đi lễ bái chùa này là người bình dân, xin xăm, cầu quẻ, mong sao có được những kết quả tốt trong những ngày tới.
Qua những cách bố cục như thế, chùa Ngọc Hoàng là một hình thức cầu kiến, bốc phệ, mê tín dị đoan hơn là tu tâm dưỡng tánh.
http://www.phattuvietnam.net/van-hoa...B%87t-nam.html
Phụ nữ Hội An ký tên đòi đập phá tượng Mã Viện (tượng này được dựng trong chùa Ông Bổn. Mã Viện là người đưa quân xâm lược nước ta mở đầu cho 500 năm nô lệ phương Bắc) và đóng cửa ngôi chùa này. Vì đây là tổ tiên của quân Bắc Kinh. Mã Viện lại là người có tội lớn với dân tộc nên không có lý do gì phải thờ ở Hội An. “Đơn đập phá chùa, tượng Mã Viện được hàng nghìn hội viên phụ nữ đồng thuận. Phụ nữ Hội An đồng loạt ký tên và mang đến Văn phòng Thị ủy Hội An”, ông Hà Phước Mai nhớ lại.
Một lần nữa phố cổ lại đứng trước nguy cơ bị phá. Buổi sáng Thị ủy Hội An gửi công văn cho ông Bí thư Hồ Nghinh, chiều đã thấy ông có mặt. Đứng trước hàng nghìn người, ông Nghinh khuyên ngăn: “Đình, chùa là chốn tâm linh, nhân dân đã tự tay xây dựng để chiêm bái hằng năm. Hơn nữa đây là hội quán của bà con người Hoa. Trung Quốc đang làm điều phi nghĩa, mang quân xâm lược nước ta, hơn lúc nào hết ta phải tranh thủ bà con người Hoa đứng về phía chính nghĩa của ta. Chùa Ông Bổn không chỉ thờ Mã Viện mà còn là nơi thờ các phúc thần khác. Theo tôi, ta vận động bà con cất bài vị Mã Viện đi thôi. Sau đó thì hàng ngàn người dân Hội An đã trấn tĩnh lại và không còn quyết tâm phá bằng được ngôi chùa này”.
Chính nhờ sự can thiệp kịp thời ấy mà Hội An còn giữ được đến tận ngày nay. Lời tiên đoán của ông Hồ Nghinh về việc Hội An sẽ tấp nập đón du khách và “hái” tiền cho tỉnh Quảng Nam cũng trở thành sự thật. Sự minh triết của ông Hồ Nghinh đã cứu nguy cho Hội An đến hai lần.
https://giadinh.vnexpress.net/tin-tu...i-2832903.html
Hội quán Phúc Kiến - Chùa Kim An
Tham quan phố cổ Hội An, ngắm những ngôi vườn tĩnh lặng và kiến trúc sang trọng của hội quán lớn nhất thành phố.
Hội quán Phúc Kiến (hay còn gọi là Chùa Kim An) là hội quán hoành tráng nhất trong sô 5 hội quán của Hoa kiều tại Hội An. Được Hoa kiều có nguồn gốc từ Phúc Kiến xây dựng để làm nơi hội họp, giao thương, về sau, hội quán được dùng làm nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần biển trong tín ngưỡng của họ. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều lễ hội văn hóa quan trọng trong năm, bao gồm lễ vìa Bà Thiên Hậu.
Bước chân qua cổng tam quan bằng đá để vào hội quán. Ngay sau cổng tam quan là sân vườn với những pho tượng, cây bon sai và đài phun nước chạm rồng tinh xảo. Hãy bước chầm chậm và tìm xem những họa tiết muông thú trên những bức bính họa, hình chạm trổ cũng như các tác phẩm nghệ thuật khắp khuôn viên. Mỗi linh vật trong các tác phẩm này đều mang một ý nghĩa riêng. Ví dụ, long tượng trưng cho quyền lực, trong khi quy lại là biểu tượng của sự trường thọ.
Thưởng thức những bức tranh và bích họa với đề tài chính là thần thoại và lịch sử vùng Phúc Kiến. Trầm trồ trước phong cách kiến trúc sặc sỡ, những họa tiết trang trí và chạm khắc cầu kỳ.
Chính điện là gian lớn nhất trong toàn khuôn viên hội quán, với tượng Thiên Hậu được thờ tự trang trọng trong tư thế thiền. Hai bên bà là tượng các vị hộ thần. Tiếp tục viếng tượng 3 bà Chúa sanh thai và 12 bà mụ, theo tín ngưỡng dân gian là những người mang lại hình hài và bảo trợ trẻ sơ sinh. Tương truyền, nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đã xin được con sau khi cúng viếng các bà.
Trong khuôn viên còn có tượng của những người đứng đầu 6 gia tộc Phúc Kiến đã góp công xây dựng hội quán vào cuối thế kỷ 17. Đây là các gia tộc đã chọn rời Trung Quốc đến Hội An định cư sau sự sụp đổ của Triều Minh.
Hội quán Phúc Kiến nằm tại trung tâm phố cổ Hội An, gần hội quán của các gia tộc khác. Hội quán mở cửa đón khách tham quan từ sáng sớm đến tối mọi ngày trong tuần.
https://www.expedia.com.vn/Assembly-...-Quan-Diem-Den
5. Ngoài những từ chỉ món ăn quá quen thuộc như hoành thánh, há cảo, xíu mại, xá xíu, lạp xưởng...người miền nam trước 1975 còn dùng khá nhiều từ gốc tiếng Hoa như pạc sỉu (cà phê sữa đá ít cà phê), xây chừng (cà phê đen li nhỏ), tài mà ( đại ma = cần sa), xộ khám (toạ giam = ngồi tù), nhị tì (nghĩa địa) tài chảy, a có (ca = anh), a chế (tỷ = chị), sườn xám (trường xiêm = áo dài), xí quách (trư cốt = xương heo)...trong tiếng Quảng Đông, cà na, pò pía, hủ tíu (phảnh), phá lấu, thím (thẩm = vợ của chú hoặc người phụ nữ trung tuổi), tía (cha), má (mẹ), thèo lèo (trà liệu = bánh kẹo ăn khi uống trà),bánh pía, tùa hia (đại huynh)...trong tiếng Triều Châu để sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Nguồn: Vien Huynh
Ảnh: Sưu tầm
http://anthropos.vn/nguoi-hoa-o-cho-...ban-chua-biet/
Nên tới Trà Vinh vào mùa nào?
Bạn có thể đến Trà Vinh vào bất cứ mùa nào. Ở đây có khá nhiều lễ hội, nếu đến Trà Vinh vào các dịp đó thì sẽ rất tuyệt, đặc biệt là ở huyệnCầu Kè.
Tháng 7 bảy âm lịch, lễ Vu Lan được tổ chức ở cả bốn chùa ông Bổn:
Chùa Giữa (Vạn Ứng Phong cung) trong các ngày 8, 9, 10;
ChùaCây Xanh (Niên Phong cung) trong 2 ngày 15, 16;
ChùaGiồng Lớn (Minh Đức cung) ngày 19, 20
ChùaChợ (Vạn Niên Phong cung) từ 25 đến 28. Lễ hội Vu Lan ở các chùa đều vui, nhưng rôm rả và đậm đà bản sắc dân tộc Triều Châu (Hòa) hơn hết là ở chùa Chợ (Vạn Niên Phong cung).
http://didauchoigi.com/cam-nang-du-l...h/news5878.htm
https://www.youtube.com/watch?v=_VQmKnHV5DA
Gõ Bo Lịch Hội Thượng Sóc Trăng
Thí vàng (phố dưới) 15/07/15 AL
Phong tục thí vàng quê mình 15/07/15 AL
https://www.facebook.com/llhtqt/phot...type=3&theater
https://www.youtube.com/watch?v=YUJ7ImDiK4E
Nhac song tran de moi 2017...
https://www.youtube.com/watch?v=INSq9X4a4zU
Nhac song tran de
https://www.youtube.com/watch?v=NVHQ68-j2iQ
nhạc organ cầu vồng sáu mưa
https://www.youtube.com/watch?v=rkw9-th_Ys8
Nữa vầng trăng khmer Trà Vinh ♥ Fc Chùa Lớn ♥
Tín ngưỡng thờ cúng thần Hổ của người Việt
Bởi Nguyễn Mạnh - 31/07/201551750
Facebook Tweet
Trong quan niệm của người phương Đông, hổ là một con vật linh thiêng, thuộc sứ giả của nhà trời xuống hạ giới ban phúc cho người lành, giáng họa cho kẻ ác, hướng con người đi đến chân, thiện, mỹ. Sự tích thờ thần hổ rất đa dạng mỗi vùng, mỗi dân tộc có sự tích thần hổ khác nhau, nhưng chung quy đều thể hiện con hổ có chức năng trừ tà ma, biểu thị cho quyền uy và sức mạnh.
SỰ TÍCH THỜ THẦN HỔ
Sự tích thờ thần hổ còn lưu truyền nhiều ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh như sau:
Vào thời An Dương Vương, người Việt còn đóng khố, cởi trần, định cư ở vùng đồng bằng và trung du, làm nghề nông và săn bắn. Ở làng nọ có một ông lão nhà nghèo, quanh năm vất vả mà vẫn không đủ ăn, không làm được nhà ở, ông phải lên rừng đốn nứa đem về làm bè và dựng thành lều ở trên sông Lam, ngày ngày tảo tần đơm đó và đưa đò để kiếm sống. Vùng này có nhiều hổ dữ, chúng thường bắt người ăn thịt. Một hôm có đoàn người đi lên rừng làm rẫy, gặp 5 con hổ đang ngồi rình trên hòn đá ven đường, chờ người đi qua để bắt. Ông lão đang chống bè trên sông trông thấy, liền kêu lớn cho đoàn người quay lại. Nghe tiếng động, hổ liền đuổi theo, bắt được một người và xé xác ăn thịt. Người xấu số đó lại chính lại cha ông lão chèo đò.
Lần khác, ông lão chèo bè đang đi trên sông thì có một con hổ xám chờ ông lão đến gần, nhảy xuống bè bắt ông. Nào ngờ, bè nứa bị choãi ra và một chân sau của hổ bị kẹp chặt lại. Hổ càng giãy thì chân sau càng lún sâu xuống và bị nứa cứa rách da thịt máu chảy đầm đìa. Hổ đau đớn gầm lên náo động cả khu rừng, muông thú đều hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Trong khi đó, ông lão hết sức bình thản, một tay cầm con dao, một tay cầm bó đuốc đến bên con hổ và nói: “Nhà ngươi dòng dõi ờ trên thượng giới, xuống hạ giới sinh sống, sao lại bắt con người để ăn thịt? Ta đã già yếu, xin hiến thân cho ông và xin từ nay trở đi ông đừng giết hại con người nữa”. Nói đoạn, ông cầm dao chặt cây nẹp bè cho bung nứa ra và lấy tro thấm dầu bôi cho cầm máu. Hổ cảm kích, hai chân sau quỳ xuống, hai chân trước đồng chầu cảm tạ hồi lâu, rồi mới chạy vào rừng.
Nhưng rồi, hồ xám vẫn thường lui tới ven đường, nơi có người qua lại để bắt ăn thịt. Một hôm, hổ xám vồ trúng ông lão đang đi đò. Khi kéo xác lên bờ, mới nhận ra là ân nhân của mình. Hổ hối hận, kêu gào ầm ĩ cả khu rừng. Sáng hôm Sau, dân làng đi làm, thấy xác ông lão bên đường và nhìn dấu vết biết là ông bị hổ vồ. Dân làng thương xót, chôn cất từ tế và tôn ông làm thần thổ địa của làng. Đêm đêm, con hổ xám về chầu trước mộ ông, kêu khóc thảm thiết và cuối cùng gục chết, hóa thành hòn đá bên mộ. Từ đó, các loài muông thú không đến phá hoại và dân làng làm ăn trúng mùa liên tiếp. Đặc biệt, hổ xám được dân làng thờ cúng và tôn là ông hổ Thần hổ, ông Ba mươi ông Năm dinh (những con hổ đá đặt ở đền chùa, miếu đều nằm trong thế quỳ, miệng há rộng và nhắc lại sự tích trên).
Trong những di tích ở Việt Nam người ta tìm thấy con hổ đá sớm nhất từ thời Trần với con hổ được thể hiện trên chiếc nhang án tại chùa Xuân Lũng (Phú Thọ). Đến thời hậu Lê con hổ xuất hiện ở lăng mộ Lê Lợi (Lam Kinh) – đó là con hổ ngồi dưới dạng rụt cổ, vai u như đang làm nhiệm vụ canh gác và giữ của cho người chết.
Đến khi Nho giáo phát triển, hổ được chạm khắc trên các công trình kiến trúc và thể hiện cho những người thi cử đỗ đạt với cụm từ thường gọi “Bảng hổ danh đề”. Trên bức bình phong tại cổng các đền chùa, người ta thường đắp con hổ đang bước xuống những bậc đá gập ghềnh. Với tư thế đó, hổ là hiện thân của âm cung, biểu hiện cho sức mạnh thế giới Diêm Vương và kiểm soát linh hồn khách hành hương. Người ta còn thờ Ngũ hổ để tượng trưng cho 5 phương: Hoàng hổ ở giữa gọi là Trung phương, Xích hổ là phương Nam, Lục hổ là phương Đông, Bạch hổ là phương Tây và Hắc hổ là phương Bắc. Tất cả đều mang ý nghĩa cầu mưa và cầu cho mọi sự sinh sôi, phát triển. Cũng có những nơi vào tối 30 Tết, người ta thường dùng vôi trắng vẽ hình hổ phục ở 4 góc sân nhà nhằm trừ đuổi tà ma, quỷ quái, cầu cho mọi người được khỏe mạnh, bình an, chăn nuôi, trồng trọt đều hanh thông, phát đạt.
Trong nhiều gia đình, người ta thường thờ thần Bạch Hổ, hoặc thần Ngũ Hổ, tức là năm thần Hổ năm sắc. Bàn thờ thường lập một nơi riêng, nhiều khi là ở một chiếc bàn xây ngoài sân, hay chiếc miếu xây ở ngoài vườn đối với những gia đình ở gần chân núi.
Bàn thờ Bạch hổ ở chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)
Bàn thờ Bạch hổ ở chùa Ông Bổn (Sóc Trăng)
Cúng Thần Hổ cũng cúng vào những ngày sóc vọng hoặc trong nhà có công việc gì cáo với gia tiên. Việc thờ cúng thần Hổ ngoài trầu rượu phải cúng mặn, phải dùng thịt sống hay trứng sống làm đồ lễ.
https://hanhtrinhtamlinh.com/tin-ngu...ua-nguoi-viet/
Giác Ngộ Online
Lễ “Bầu Ông” và tục thờ Bạch hổ ở đình Bình Thọ
Giác Ngộ - Cứ vào ký ức, tôi trực chỉ đến miếu thờ Bạch Hổ ở bến Phú Định. Miếu thờ cọp thì có đó, lệ cúng hàng năm vẫn còn nhưng tục Bầu Ông dân bổn xứ bảo "Không nghe ông bà nói!". Miếu thờ Ông Hổ ở xã Nhơn Đức (Nhà Bè) tìm suốt một ngày không ra. Chắc là được... giải toả đền bù rồi. Miếu thờ Ông Hổ Tăng Nhơn Phú, có lễ cúng mà không có tục Bầu Ông.
1. Từ những năm 80 của thế kỷ trước, trong những chuyến điền dã ở các tỉnh Nam Bộ, tôi được bô lão nhiều nơi kể về cổ tục Bầu Ông Cọp làm Hương cả của làng và theo đó, từ thời khai hoang đến tận cuối thế kỷ XIX, các làng ấy không ai dám đứng ra nhận chức Hương cả, bởi theo sự xác tín rằng kẻ nào cả gan như vậy tức thì bị cọp ăn thịt ngay! Tập tục này tôi ghi lại trong một số bài viết, đặc biệt là trong sách viết về đình ở Nam Bộ, xuất bản đã mười mấy năm nay. Thế rồi, khi tết Canh Dần sắp đến, thế nhân lại quan tâm về cọp và có người bán tín bán nghi hỏi tôi rằng: Tập tục Bầu Ông có thật hay không? Đáp: Có. Hỏi: Ở đâu? Chỉ cho tôi một chỗ đi! Thế là phải lục đống sổ tay điền dã, cái thứ sổ ghi chép đủ thứ tai nghe, mắt thấy ấy giờ kiếm cái cần tìm thì chúng trốn mất tăm. Ngồi giở từng trang thì có đến Tết mới rồi, nên không còn cách nào hơn là "đi giang hồ" một chuyến theo chỉ dẫn của ký ức và theo lối "đường đi ở miệng" của truyền thống nghề nghiệp.
bongho-1.jpg
Đàn thờ Bạch hổ, đình Bình Thọ
Cứ vào ký ức, tôi trực chỉ đến miếu thờ Bạch Hổ ở bến Phú Định. Miếu thờ cọp thì có đó, lệ cúng hàng năm vẫn còn nhưng tục Bầu Ông dân bổn xứ bảo "Không nghe ông bà nói!". Miếu thờ Ông Hổ ở xã Nhơn Đức (Nhà Bè) tìm suốt một ngày không ra. Chắc là được... giải toả đền bù rồi. Miếu thờ Ông Hổ Tăng Nhơn Phú, có lễ cúng mà không có tục Bầu Ông. Ghé về đình Tân Kiểng, nơi mà sách Gia Định thành thông chí có ghi rằng nhà sư Hồng Ân đánh cọp được dân thờ tự ở đình này thì thấy có miếu thờ "Cậu Tư". Đọc bài vị thì đoán rằng, Hán tự chữ "Ân" có mặt chữ giống "Tư" (suy nghĩ/ tư duy) nên viết nhầm "Ân" thành "Tư" - và dân chúng gọi là Cậu Tư, hiểu là "Cậu Bốn"... Thế mới biết, chuyện nhà sư Hồng Ân và đệ tử Trí Năng xắn tay áo cứu đời, đánh cọp dữ ở chợ Tân Kiếng hồi năm 1770 được sách sử ghi chép đàng hoàng mà thời gian còn làm sai lạc đến vậy thì tục Bầu Ông làm sao mà không mai một.
2. Đi ròng rã hơn mươi ngày, rồi hay hổng bằng hên: tôi gặp được cổ tục Bầu Ông hiện còn bảo lưu ở đình Bình Thọ, Thủ Đức. Ông thủ từ ở đình Bình Thọ, dắt tôi đến đàn thờ Bạch Hổ đặt ở bên phải trước sân đình để xác định nơi tổ chức lễ Bầu Ông của đình làng Bình Thọ hàng năm. Ông kể rằng, Bình Thọ xưa là một trong bốn thôn của xã Phước Long: Trường Thọ, Bình Thọ, Bình Thái, Bình Phú. Dân chúng sống bằng nghề ruộng và rẫy, đặc sản nổi tiếng là thơm song rừng vẫn còn nhiều. Mãi đến sau 1945, 1954 nhiều cây cổ thụ mới bị chính quyền lúc bấy giờ triệt phá.
bungho-2.jpg
Văn tế Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần/lễ Bầu Ông
Khi hỏi truyền thuyết về cọp ở địa phương, ông thủ từ bảo: Ông bà tôi kể rằng, xưa ở đây có nhiều cọp, còn tôi khi lớn lên thì không thấy cọp beo gì. Có chuyện đặc biệt: Thuở ấy, có một lão nông khi đem cơm ra ruộng cho công cấy, thấy một ông Cọp nấp ở bìa rừng. Ông Cọp ấy cầm lên để xuống nhiều lần một nhánh lá cây che mặt để nhìn ra đám công cấy ngoài ruộng. Chờ Cọp bỏ vào rừng, ông lão mon men đến nhặt cành lá ấy đưa lên nhìn xuyên qua đó ngó ra đám công cấy thì thấy trong đám thợ cấy có một người biến dạng thành con heo. Thấy lạ, ông lão gọi mấy người khác đến thử và tất thảy đều thấy cảnh tượng như vậy. Thế là các chủ ruộng và công cấy đoán chắc người có dạng heo khi nhìn qua cành lá ấy sẽ bị cọp vồ. Bởi vậy, khi ra về, người ta bố trí người ấy đi giữa và mọi người đi trước sau để bảo vệ. Thế nhưng đến một đoạn đường, ông Cọp nhanh như chớp không biết ẩn từ đâu phóng ra vồ đúng người ấy tha đi mất. Truyện kể này, xác tín rằng Trời không cho phép cọp bắt người ăn thịt, nó chỉ được bắt thú vật để sống. Riêng những người có số phận phải bị cọp ăn thì cọp nhìn qua cành lá sẽ thấy hình dáng họ biến thành heo. Kẻ ấy, cọp được phép ăn thịt. Theo ông thủ từ, từ đó, lệ cúng heo (hay đầu heo) cho cọp thường phải bẻ một nhánh lá cây đậy lên. Cọp đến thụ hưởng lễ vật cầm nhánh lá ấy, để nhìn: xác định đó đúng là heo thì cọp mới ăn. Đó là cổ tục, nay không còn thấy nữa, chỉ thấy tục lấy mỡ chài phủ kín đầu con heo cúng Bạch Hổ.
bungho-3.jpg
Về chuyện cọp ở vùng đất này, ông Trưởng ban Qui tế đình Bình Thọ, cho biết chính ông cố của mình bị cọp vồ ở Bình Thái. Bấy giờ, dân chúng đồng loạt đánh trống, mõ đuổi theo và đến tận chợ Nhỏ (Tăng Nhơn Phú) mới tìm được thi hài đã bị cọp ăn mất nội tạng. Mộ cụ cố của ông hiện tồn ở Bình Thái. Tính ra, sự việc này xảy ra vào hồi nửa cuối thế kỷ XIX.
Tất cả những dữ liệu về cọp kể trên giải thích việc thờ Sơn quân ở các đình làng ở vùng Thủ Đức - quận 9, đặc biệt là miếu Ông thờ cọp hiện tồn ở Tăng Nhơn A (xã Tăng Nhơn Phú, quận 9) cũng như tập tục Bầu Ông ở đình Bình Thọ.
3. Bình Thọ trước đây là một trong 4 thôn thuộc xã Phước Long (quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định)(1). Mỗi thôn đều có đình thần, nhưng tập tục cúng tế của đình Bình Thọ có phần đặc dị hơn các đình kia: Một là, đình thờ tượng thần Thành hoàng sớm nhất, sau các đình khác mới tạo tượng thần. Cái khác thứ hai, là đình Bình Thọ cúng đại lễ luôn mời hát bội về hát chầu cúng thần, còn các đình kia cấm tuyệt không được hát bội. Đặc biệt tập tục Bầu Ông là lễ thức riêng của đình Bình Thọ và các đình khác không có, mặc dù các đình khác có miếu/ đàn thờ "Sơn quân".
bungho-4.jpg
Học trò lễ dâng rượu cúng Bạch hổ
Lễ Bầu Ông ở đình Bình Thọ được tổ chức đúng vào lúc 0 giờ khuya ngày 15 rạng ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm, tức đêm trước ngày tổ chức Đại lễ Kỳ yên của đình (16 -2 ÂL). Đây là một lễ thức trang nghiêm và quy củ có tính chất điển lệ chứ không phải là hình thức thực hành nghi lễ dân gian. Cụ thể là lễ vật chu đáo (một con heo sống, một cỗ xôi trắng) với nghi thức tế lễ do học trò lễ thực hiện, có nhạc lễ tấu, theo lời xướng đọc nghi thức lễ bái, dâng lễ vật của viên chấp sự... Đại thể nghi thức tương tự như nghi thức tế thần Thành hoàng trong Đại lễ Kỳ yên. Tục Bầu Ông ở Bình Thọ có một bản văn tế chữ Hán nghiêm túc. Bản văn tế này được khắc trên gỗ cất giữ ở chùa Linh Sơn gần đình và mỗi khi tế lễ lại được in ra để xướng đọc và đốt đi. Điều này có khác với tập tục ở nơi khác, ở chỗ thay vì văn tế là một văn bản đựng trong cái ống tre - gọi là "Tờ cử", có nội dung rằng dân làng đồng lòng cử ông Cọp làm Hương cả. Theo tục truyền, mỗi năm, cứ đúng lệ, ông Cọp ra nhận lễ vật cùng "tờ cử" mới và trả lại "tờ cử" cũ. Nói chung, nghi thức của lễ Bầu Ông ở đình Bình Thọ đã được nâng cấp theo điển lệ tế tự chính thống Nho giáo, chứ không dừng lại ở hình thức cúng lễ các thần linh dân gian. Điều này cũng chỉ ra tầm mức quan trọng của tín ngưỡng thờ cọp đối với cộng đồng cư dân ở đây, đặc biệt là được bảo lưu khá lâu dài so với các địa phương khác; theo đó, tuồng như tín lý thờ cọp cũng biến đổi theo thời gian, chứ không phải được bảo thủ nguyên vẹn.
bungho-5.jpg
Miếu thờ Bạch hổ/ đường Bến Phú Định, TP.HCM
4. Theo ghi chép trong bài Văn tế cổ truyền được xướng đọc trong lễ Bầu Ông thì Thần Hổ được gọi là "Chúa Sơn lâm Mãnh hổ chi thần" trong khi đó trên bài vị ở đàn thờ lại đắp nổi hai chữ Hán "Bạch hổ" với phù điêu ở tấm hậu chẩm đắp nổi hình hổ trắng đứng ở góc trái (từ trước nhìn vào) trên bối cảnh "sơn lâm". Sự khác biệt này là một điều đáng lưu ý.
Rõ ràng là danh hiệu ghi trong văn tế thuộc tín lý truyền thống phổ biến trong tín ngưỡng thờ hổ ở Nam Bộ cũng như vùng đất này: Sơn quân chi thần hay gọi tắt Sơn quân (như ở đình Trường Thọ, kế bên đình Bình Thọ), Sơn lâm Hổ lang chi thần, Mãnh hổ Đại tướng quân, Lý Nhĩ Đại tướng quân, Sơn quân Mãnh hổ Lý Nhĩ chi thần... Đây là tín ngưỡng thờ cọp như vị thần bảo hộ cộng đồng, một tín lý bắt nguồn từ thực tế "Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um" của lưu dân thời khẩn hoang ở vùng đất mới. Còn tập tục thờ Bạch hổ thì bắt nguồn từ tín điều "Tả Thanh long - Hữu Bạch hổ" của thuật phong thủy, song chắc chắn hơn là tín lý của Đạo giáo được truyền bá vào xứ ta, trực tiếp từ các cộng đồng di dân người Hoa đến Nam Bộ.
bungho-6.jpg
Tượng Bạch hổ/ Miếu thờ Bạch hổ/đường Bến Phú Định, TP.HCM
Thanh long vốn là Thần Thương long, chủ quản phương Đông trong thần thoại Trung Hoa, tức chòm "thất tinh" (Giốc, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ) có bố cục hợp thành hình con rồng trên bầu trời hướng Đông. Còn Bạch hổ là vị thần chủ quản phương Tây trong thần thoại cổ đại Trung Hoa, tức chòm "thất tinh" (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Chủy, Sâm, Tất) cấu thành hình con hổ trên bầu trời phía Tây. Rồng ở phương Đông ứng với Mộc (một trong ngũ hành) nên thành Thanh long; hổ ở phương Tây ứng với hành kim nên có màu trắng: Bạch hổ. Bạch hổ, cùng Thanh long. Chu tước (Nam), Huyền vũ (Bắc) gộp lại thành tứ phương tứ thần. Đạo giáo thường dùng 4 thần này làm thần hộ vệ để tăng thêm oai nghi. Về sau Tứ phương thần được nhân cách hóa. Bạch hổ được gọi là "Giám danh thần quân". Chức trách của Thanh long và Bạch hổ canh gác các sơn môn đạo quán như Hộ pháp của chùa (2).
Trong thực tế, việc thờ Thanh long - Bạch hổ ở các đền miếu của người Hoa, cũng thấy lan sang đình miếu của người Việt, là cặp tượng Rồng xanh và Hổ trắng chứ không thấy thờ mỗi một Bạch hổ riêng biệt như trường hợp ở đình Bình Thọ và một số miễu thờ Bạch hổ khác (như miếu Ông Hổ ở đường Bến Phú Định, quận 8, TP.Hồ Chí Minh chẳng hạn). Hiện tượng này hẳn bắt nguồn từ tín lý khác.
5. Trong câu chuyện về tập tục Bầu Ông ở đình Bình Thọ, tôi gạn hỏi: Ông cọp ở bình phong trước đình là ông cọp vàng, còn ông cọp thờ ở đàn thờ lại là ông Bạch hổ? Ông thủ quỹ đáp: Chú biết tại sao không? Ông Bạch hổ là ông cọp tu, không ăn thịt người. Điều xác tín này là nếp nghĩ khá phổ biến ở Nam Bộ. Truyền thuyết về hai con cọp dữ ở núi Lớn (Thắng Nhì, Vũng Tàu) đã nhường hang của mình cho vị du tăng họ Trương làm cốc tu hành. Cứ sáng chiều, khi nghe tiếng mõ tụng kinh thì chúng đến bên cốc phủ phục nghe kinh và từ đó, không còn vào thôn quanh vùng bắt gia súc ăn thịt nữa.
Truyền thuyết tương tự ở chùa Chơn Tiên (Bà Rịa) cũng kể rằng Bạch hổ đã nhường hang cho Tổ khai sơn ngôi chùa này tu hành khi chưa kiến tạo tự viện và từ đó, Bạch hổ chỉ "trường trai" bằng mít chín trong rừng (3).
Các truyền thuyết trên, cũng như việc nhà sư Tăng Ngộ, Tổ khai sơn chùa Tôn Thạnh (Cần Giuộc, Long An) khi chặt phá cây rừng đắp con lộ từ chùa ra chợ dài 250 trượng thì "cọp dữ gặp ông đều cúi đầu mà đi qua không dám xâm phạm"...(4) đều biểu thị quan niệm "thiên nhân tương ứng", rằng: Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh. Ở đó, tuy có ánh lên quan niệm về việc chuyển đổi tính ác sang tính thiện, tức từ cọp dữ sang cọp tu, song không xác định rõ tín niệm Bạch hổ là loài cọp không ăn thịt người như truyện Bạch hổ của ông Tăng chủ (đại đệ tử của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên) ở Bảy Núi (An Giang). Ở truyện này, Bạch hổ chẳng những không ăn thịt người và thú vật mà còn trừ khử những loại cọp dữ khác ở núi Bà Độ Om (5). Câu chuyện chỉ rõ rằng Bạch hổ đối lập với bọn cọp dữ hại người, được gọi là hạm. Do đó, có sự xác tín rằng ở đâu có mặt Bạch hổ thì bọn cọp dữ không dám lai vãng. Chính vì vậy, Bạch hổ không chỉ là biểu trưng cho loài "cọp tu" mà còn có công năng xua đuổi bọn cọp dữ. Đây là tín lý phổ biến của tín ngưỡng thờ Bạch hổ ở xứ này.
Nói chung, ngày nay chúng ta khó truy cứu nguồn gốc của tín lý này, song qua các truyền thuyết đã trình bày trên, chúng ta thấy, khá gần gũi với điển tích Hoa Lâm nhị hổ (6) phổ biến của Phật giáo Bắc tông và thấy xuất hiện trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm của Trần Thái Tông (1218-1277):
(...) Thiền đạo nhược vô hướng vị, Thánh hiền hà khẳng quy y? Hoa Lâm cảm nhị hổ tùy thân, Đầu Tử tam nha báo hiểu (...)
(Nghĩa: Đạo thiền nếu không thú vị, Thánh hiền sao chịu quy y? Hoa Lâm khiến hai hổ cảm theo, Đầu Tử có ba chim báo sáng...) (7).
Chính việc các truyền thuyết về Bạch hổ ở Nam Bộ thường gắn với các thiền sư tôn túc, đạo cao đức trọng, nên giả thiết chúng bắt nguồn từ điển tích "Hoa Lâm nhị hổ" cũng có cơ sở minh chứng chứ không phải là đoán định vô bằng.
Huỳnh Ngọc Trảng (Giác Ngộ Xuân Canh Dần - 2010)
Chú thích (1) Văn tế lễ Bầu Ông ghi "Đại Nam quốc. Nghĩa An huyện, An Điền tổng, Bình Thọ thôn". (2) Xem Lão Tử - Thịnh Lê: Từ điển bách khoa Nho - Phật - Lão. Bản dịch của Trương Đình Nguyên và nhiều dịch giả khác/ Nxb Văn Học, 2001. (3) Xem Huỳnh Ngọc Trảng - Trương Ngọc Tường: Nghìn năm bia miệng. Nxb TP.HCM, 1992, tập I, tr 235-237; 299-301. (4) Đại Nam nhất thống chí/ lục tỉnh Nam Việt/ Tỉnh Gia Định. Mục Tăng thính. (5) Theo Đào Hưng - Vương Kim: Đức Phật thầy Tây An. Sài Gòn, 1953, tr.59-62; xem thêm: Liêm Châu: Bạch hổ tử chiến cùng Hắc hổ ở Núi Cấm/ Thiên Cẩm Sơn/ trong Mười đỉnh núi thiêng, Văn Nghệ Châu Đốc, 2002, tr 59-60. (6) Hoa Lâm nhị hổ: Hai con hổ được ngài Hoa Lâm Thiện Giác hàng phục. Hoa Lâm - Thiện Giác, người nối pháp của Mã Tổ Đạo Nhất, có hai con cọp theo làm thị giả. Tể tướng Bùi Hưu cảm phục bí thuật nhiếp hổ của ngài nên đem việc ấy thưa hỏi. Ngài đáp (Vạn tục 148, 104 thượng): "Sơn tăng thường niệm Quán Âm". Theo Từ điển Phật học Huệ Quang. Cảo bản, tr.2875. (7) Huệ Chi chủ biên: Thơ văn Lý - Trần. Nxb KHXH, H., 1988, tập II, quyển Thượng, tr.38-69.
https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=5B5003
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã
Chủ nhật, 26/04/2015 | 19:37 GMT+7
(ĐSPL) - Cửu Thiên Miếu tọa lạc trên một đồi đá thuộc núi Dài của huyện biên thùy Tri Tôn. Từ lúc hình thành, sự linh thiêng, huyền bí của Cửu Thiên Miếu đã được người dân xôn xao, ca tụng, cũng như vô vàn lời đồn chưa thể xác thực.
Đáng chú ý, tin đồn Trưởng Công an xã Lương Phi chính mắt thấy bạch xà khổng lồ hiện hình ở trên đồi Cửu Thiên Miếu gây không ít hoang mang cho người dân...
Huyền tích giếng tiên chữa bệnh, miếu bà ban con
Ông Lê Văn Tám (48 tuổi, ngụ ấp An Thành, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, An Giang), người có hơn 10 năm trông giữ Cửu Thiên Miếu (ấp An Thành, xã Lương Phi) cho biết, miếu này được Đức Bổn sư tức ông Ngô Lợi, người tạo lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, xây dựng cùng lúc với chùa Tam Bảo ở huyện Ba Chúc (An Giang).
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã - Ảnh 1
Cửu Thiên Miếu đơn sơ trên đồi đá (ảnh Hà Nguyễn).
Ban đầu, miếu chỉ được dựng lên từ tre trúc và lá rừng, theo thời gian và những huyền tích kỳ lạ truyền tụng, miếu được người dân sùng bái xây dựng khang trang. Ông Tám khẳng định Cửu Thiên Miếu sở hữu rất nhiều câu chuyện kỳ lạ.
Khung cảnh xung quanh Cửu Thiên Miếu rất kỳ bí. Miếu trơ trọi trên đồi đá tảng, mùa khô cây cối trơ cành lộ ra chi chít những tổ ong mặt quỷ hung tợn. Tuy nhiên, người dân cho biết, trong khu vực chưa bao giờ xảy ra chuyện ong chích người, dù loại ong này nổi tiếng cực độc.
Ông Tám chia sẻ: “Cửu Thiên Miếu thờ Cửu Thiên Huyền nữ, là bà tiên ở tầng thứ chín rất huyền diệu. Xưa, bà rất linh và hay trách quở trẻ con lên miếu quấy phá nhưng bây giờ đỡ nhiều rồi. Bây giờ, người ta chủ yếu lên đây xin con và xin trúng số, số đề”. Nói xong, ông Tám chỉ đường cho PV sang nơi có giếng tiên mà người dân thường đến lấy nước uống để trị bệnh.
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã - Ảnh 2
Một trong số 9 giếng tiên tại Cửu Thiên Miếu (ảnh Hà Nguyễn).
Theo quan sát của PV, giếng tiên chỉ là những ô nước lớn hơn bàn chân người một chút. Trên khu đá cạnh Cửu Thiên Miếu, PV ghi nhận có chín giếng tiên nhưng chỉ một số là còn nước, số khác đã khô cạn. Giếng còn nước thì màu nước đen kịt, không thể uống được. Vậy mà, bà Nguyễn Thị H. (64 tuổi, ngụ ấp An Thành, xã Lương Phi) sống dưới chân đồi Cửu Thiên Miếu khẳng định: “Nước giếng tiên đó quý lắm, nhiều khách hành hương đi xe đến đây để múc nước về dùng cho khỏi bệnh, ai hiếm muộn thì sẽ sớm có con trai”.
Để thêm bằng chứng, bà H. kể: “Gia đình tôi mới về đây sinh sống hơn tám năm nhưng đã chứng kiến nhiều việc kỳ lạ. Mấy năm trước, một người đàn ông chở theo vợ con đến miếu để tạ ơn đã kể lại cho tôi nghe chuyện của anh ta. Số là, lúc còn nhỏ, anh này được mẹ chở lên miếu vài lần để thắp hương. Bẵng đi khoảng mười mấy năm, anh này lớn lên lấy vợ nhưng chẳng may bệnh nặng, nghe nói là ung thư.
Anh ta buồn bã lấy xe chạy lung tung rồi chạy đến Cửu Thiên Miếu lúc nào không hay. Anh ta ra giếng tiên rửa mặt thì thấy tinh thần sảng khoái. Chợt nghĩ lấy nước giếng về uống cầu may, không ngờ, anh này khỏi bệnh, vợ sinh được thằng con trai kháu khỉnh. Vừa rồi, vợ chồng, con cái lên đây để tạ ơn”.
Bạch xà hiện hình dọa Trưởng Công an xã?
Ads by AdAsia
End of ad break in 13 s
You can close Ad in {40} s
Người dân ở xã Lương Phi còn truyền tai nhau Cửu Thiên Huyền nữ sẽ độ trì cho người muộn con, nhưng người đó phải có tấm lòng nhân hậu và thành tâm tin tưởng vào sự nhiệm màu của trời đất. Bà H. khẳng định: “Hễ thấy cặp vợ chồng nào mà dẫn một đứa nhỏ đến miếu cúng bái là biết ngay họ từng đến đây cầu con. Ngoài cầu con, nhiều người còn cầu làm ăn thuận lợi, cầu trúng số. Vừa rồi có người đến cúng heo quay trả lễ, không biết có phải trúng số không”.
Thực hư tin đồn chuyện bạch xà khổng lồ hiện hình dọa Trưởng Công an xã - Ảnh 3
Cổng Cửu Thiên Miếu dưới chân đồi đá (ảnh Hà Nguyễn).
Những câu chuyện mang màu sắc kỳ bí vẫn chưa dừng lại ở việc chữa bệnh, cầu con mà còn ly kỳ hơn, khi có tin đồn chính Trưởng Công an xã Lương Phi đã chạm trán bạch xà khổng lồ trên đỉnh đồi, nơi có Cửu Thiên Miếu tọa lạc.
Câu chuyện Trưởng Công an xã Lương Phi chạm trán bạch xà khổng lồ được bà H. kể lại tỉ mỉ với PV báo ĐS&PL. “Chính miệng Trưởng Công an xã Lương Phi kể cho chúng tôi nghe chuyện ông thấy bạch xà trên Cửu Thiên Miếu. Ông ta kể rằng, ông lên miếu kiểm tra an ninh trật tự cũng như phòng chống cháy rừng như mọi lần.
Ông đi cùng với một số công an viên khác nữa, tất cả họ đều nhìn thấy bạch xà nằm dưới tảng đá xung quanh có tre bao bọc. Ban đầu họ chỉ thấy một con rắn trắng nhỏ nhưng không biết tại sao càng nhìn nó lại càng lớn lên. Thấy chuyện lạ, họ sợ hãi, bỏ chạy xuống chân đồi. Định thần lại, họ trở lên đỉnh đồi thì không thấy bạch xà đâu nữa”, bà H. thuật lại.
Ngoài nguồn tin về bạch xà khổng lồ, bà H. cho biết: “Tôi còn nghe người dân sống lâu năm ở gần Cửu Thiên Miếu kể lại, hơn chục năm trước, ban đêm không ai dám đi ngang con đường dưới chân đồi. Họ kháo nhau, vào sáng tinh mơ thường thấy những dấu chân rất to in trên nền đất, chắc phải là ông Hổ lớn lắm mới để lại dấu chân to như thế. Thường những ai ăn ở ác nhơn sẽ bị dọa bằng những con ác thú khổng lồ, nên người dân ở đây rất cẩn trọng lời ăn tiếng nói”.
Chị Nguyễn Thị B. (32 tuổi, ngụ ấp An Thành, xã Lương Phi) kể thêm: “Hai năm trước, một tài xế chở xe đá ngang đây giữa trưa nắng đã bị lật nhào một cách kỳ lạ. Sau tai nạn, người tài xế này kể lại, anh ta chạy xe đến khu vực dưới chân đồi Cửu Thiên Miếu đúng 12h trưa. Đường rất vắng, tài xế chạy xe rất thong dong thì bỗng nhiên thấy ba người con gái chặn trước đầu xe”.
“Hễ tài xế cố lách xe sang trái thì họ xuất hiện bên trái, khi lách sang phải thì họ lại xuất hiện bên phải. Bởi vậy, người dân hai bên đường thấy xe tải cứ vòng vèo lung tung rồi lật nhào. Thế nhưng, người tài xế này không bị trầy xước gì hết, ai cũng kinh ngạc”, chị B. hào hứng kể lại.
Người dân xã Lương Phi còn biết bao câu chuyện ly kỳ xung quanh ngôi miếu cổ xấp xỉ trăm tuổi. Tuy nhiên, đằng sau những câu chuyện ấy cũng có vô số mục đích không tốt, làm mất an ninh trật tự địa phương.
Đem những hoài nghi vừa thu nhặt được từ người dân, PV đã liên hệ với Trưởng Công an xã Lương Phi (huyện Tri Tôn, An Giang) để xác thực thông tin, ông này cho biết: “Đúng là tôi có phát hiện một con rắn, nhỏ thôi nhưng không phải màu trắng. Chắc người dân nghe nhầm rồi đồn thổi thêm. Chuyện một nói mười vốn cũng không lạ gì, vả lại, bạch xà ở vùng Thất Sơn cũng không thuộc dạng hiếm, chỉ là lớn hay nhỏ thôi”.
Tất cả chỉ là tin đồn
Ông Phạm Minh Hải, Chủ tịch UBND xã Lương Phi cho biết: “Ban tế tự của Cửu Thiên Miếu hoạt động rất tích cực. Mỗi khi tổ chức cúng bái, lễ hội, họ đều xin phép địa phương. Tuy nhiên, chính quyền địa phương không phân công ông Từ trông coi miếu mà do người dân tự tín ngưỡng rồi ông này dành thời gian chăm sóc, nhang khói.
Những thông tin mà người dân đồn thổi đều là mê tín, không hề có thật. Những năm trước, đúng là có hiện tượng một số người dân đến miếu thắp nhang cúng vái khá đông nên chúng tôi phải cắt cử lực lượng để giải tán. Sau lần đó, địa phương chú ý nhiều hơn đến việc ngăn chặn các thông tin mê tín lan truyền trong nhân dân và thường xuyên cắt cử lực lượng để bảo vệ miếu. Vì miếu nằm trong địa điểm nhạy cảm trong công tác quản lý phòng chống cháy rừng”.
NGỌC LÀI - HÀ NGUYỄN
Xem thêm video: Thực hư tin có đỉa trong bụng người do ăn bánh kẹo
http://media.doisongphapluat.com/thu...ng-an-xa-1.JPG
http://www.doisongphapluat.com/tin-t...xa-a92282.html