-
Sóc Trăng (Ba Xuyên) - trước 1975... (1)
Của Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam · Cập nhật khoảng 3 năm trước · Chụp tại Soctrang, Vietnam
Sóc Trăng
Lịch sử
Nguồn gốc tên gọi
Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là "xứ", "cõi", Kh'leang là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang). [1]
Đại Nam nhất thống chí viết về sông Ba Xuyên thuộc địa bàn tỉnh An Giang nhà Nguyễn như sau: "... Sông Ba Xuyên ở phía Nam hạ lưu sông Hậu Giang, cách huyện Vĩnh Định 8 dặm về phía Bắc, trước là sông Ba Thắc, rộng 15 trượng sâu 8 thước, đi về phía Nam 15 dặm, đổ ra cửa biển Ba Xuyên, đi về phía Tây 60 dặm đến trường Tàu, tức là chỗ tàu biển đỗ. Ở đây người Trung Quốc và người Cao Miên ở lẫn lộn, chợ phố liên tiếp, lại 65 dặm đến ngã ba sông Nguyệt, tục gọi là Sóc Trăng, ... Năm Kỷ Dậu (1789) hồi đầu thời trung hưng đặt bảo Trấn Di ở phía Bắc sông Ba Thắc, tức sông này."[2]
Hình thành
Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất Sóc Trăng xưa thuộc đất Ba Thắc (Bassac), thuộc Chân Lạp. Trước khi chính quyền chúa Nguyễn chính thức tiếp quản vùng đất này, năm 1739, từ Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ khai thác tiến về phía sông Hậu, lập thêm bốn đạo Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang, Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Sóc Trăng). Trong đó, Trấn Di thuộc đất Ba Thắc và năm 1778, phủ Ba Thắc thuộc quyền quản hạt của dinh Long Hồ.
Tháng 10, mùa đông năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Ánh cho họa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (sau gồm Vĩnh Long - An Giang) cho liền lạc nhau. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong dinh Long Hồ. Dinh này ban đầu đặt lỵ sở ở Cái Bè (thôn An Bình Đông, Cái Bè ngày nay), sau dời qua ấp Long An, thôn Long Hồ. Sau đó lại dời đến bãi Bà Lúa (trên cù lao Hoàng Trấn), đổi tên thành dinh Hoằng Trấn. Năm Canh Tý (1780), chúa Nguyễn lo ngại ở đây có nhiều người Khmer, nếu có biến thì bãi Bà Lúa quá xa không ứng phó kịp, nên đổi thành dinh Vĩnh Trấn, và dời trị sở về thôn Long Hồ (TP. Vĩnh Long ngày nay).
Đại Nam nhất thống chí viết rằng: Đất Ba Thắc (sau là phủ Ba Xuyên tỉnh An Giang) nguyên là đất Cao Miên, đến đầu thời trung hưng cơ nghiệp chúa Nguyễn của Nguyễn Ánh (tức là khoảng sau năm 1788, sau khi lấy lại được vùng đất Nam Hà (Miền Nam Việt Nam) từ tay nhà Tây Sơn), Nguyễn Ánh lập đất đó thành phủ An Biên và cho người Man (người Cao Miên) lập đồn điền ở đây. Đến năm Nhâm Tý (1792) Nặc Ấn (Ang Eng tức Narayanaraja III (1779-1796)) từ Xiêm La trở về Cao Miên. Nguyễn Ánh cắt đất Ba Thắc trả về cho Nặc Ấn. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), quan phiên (người Cao Miên) là Trà Long xin đặt quan cai trị [đất ấy], Minh Mạng liền đổi tên phủ là Ba Xuyên và cho đặt chức an phủ sứ để quản phủ này.[3] (Phủ An Biên (có lẽ thuộc dinh Vĩnh Trấn) này có lẽ là khác với phủ An Biên của Hà Tiên (tỉnh) nhà Nguyễn chỉ mới đặt ra vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826)[4].) Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu viết: "....Con Tôn là Ấn thay lên làm vua, nước Trà Và đến xâm lược, Ấn chạy sang nước Xiêm ở bên ấy. Sai Chiêu Trùy Biện giữ nước. Đến lúc Ấn về lập tức sai sứ đem phương vật sang cống ta. Vua cho đất Ba Thắc (năm Minh Mệnh thứ 16 lại đặt chỗ này làm phủ Ba Xuyên)..."[5]. Như vậy, đất Ba Thắc của Cao Miên, bắt đầu thuộc chúa Nguyễn (do Nặc Ong Nhuận (Ang Tong tức vua Ramathipadi II), (khoảng năm 1756-1757) dâng cho chúa Nguyễn Phúc Khoát cùng với đất Trà Vinh[6]) giai đoạn 1757-1792; rồi lại về Cao Miên giai đoạn 1792-1835; đến sau đó lại thuộc Việt Nam (thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn).
Đến năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Vĩnh Trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh[7], đất Nam Hà thuộc nhà Nguyễn được lập thành 5 trấn là: (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên). Trấn Vĩnh Thanh (tức Vĩnh Trấn) gồm 1 phủ (trước là châu) là Định Viễn và 3 huyện là Vĩnh An (trước là tổng Bình An), Vĩnh Bình (trước là tổng Bình Dương), Tân An. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong huyện Vĩnh Bình[cần dẫn nguồn]. Năm 1820, trấn Vĩnh Thanh có 1 phủ (Định Viễn) là 4 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định và Tân An. Srok Treang thuộc huyện Vĩnh Định[cần dẫn nguồn]. Năm Minh Mạng thứ 13 Nhâm Thìn (1832), trong cuộc cải cách hành chính lớn nhất thời nhà Nguyễn độc lập, Minh Mạng chia 5 trấn Nam Kỳ thành 6 tỉnh, riêng trấn Vĩnh Thanh được chia thành 2 tỉnh: Vĩnh Long và An Giang.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn thành lập phủ Ba Xuyên cho thuộc vào tỉnh An Giang (tỉnh An Giang nhà Nguyễn), từ đất Ba Thắc cũ. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện là Phong Nhiêu (Bãi Xàu), Phong Thạnh (Nhu Gia) và Vĩnh Định (Ba Xuyên)[cần dẫn nguồn].
Thời Pháp thuộc, Pháp bãi bỏ Lục tỉnh, chia Nam kỳ ra làm 4 khu vục với 19 hạt (arrondissement). Sóc Trăng được thành lập và trở thành một trong 19 hạt của Nam Kỳ bấy giờ. Tuy nhiên không lâu sau thì chính quyền Pháp tái lập tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng trở thành một phần của tỉnh Bạc Liêu. Đến năm 1953, tỉnh Sóc Trăng được thành lập trên cơ sở gồm 5 quận Sóc Trăng, Kế Sách, Long Phú, Lịch Hội Thượng và Thạnh Trị.
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sát nhập Bạc Liêu và Sóc Trăng, lập thành tỉnh Ba Xuyên, còn tỉnh lỵ có tên là Khánh Hưng. Đến năm 1957, tỉnh Ba Xuyên bao gồm 8 quận, 16 tổng, 73 xã:
Quận Châu Thành có 12 xã; quận lị: Mỹ Xuyên. Gồm 2 tổng: Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa.
Quận Thạnh Trị có 12 xã; quận lị: Thạnh Trị. Gồm 3 tổng: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Lợi.
Quận Long Phú có 12 xã; quận lị: Long Phú. Gồm 2 tổng: Định Hòa, Định Mỹ.
Quận Giá Rai có 4 xã; quận lị: Phong Thịnh. Gồm 1 tổng: Long Thủy.
Quận Vĩnh Lợi có 9 xã; quận lị: Vĩnh Lợi. Gồm 2 tổng: Thạnh Hòa, Thạnh Hưng.
Quận Bố Thảo có 8 xã; quận lị: Thuận Hòa rồi chuyển sang Thuận Phú. Gồm 2 tổng: Thuận Phú, Thuận Mỹ.
Quận Lịch Hội Thượng có 8 xã; quận lị: Lịch Hội Thượng. Gồm 2 tổng: Định Chí, Định Phước.
Quận Phước Long có 8 xã; quận lị: Phước Long. Gồm 2 tổng: Thanh Bình, Thanh Yên.
Năm 1958: sắp xếp lại còn 7 quận, 14 tổng, 68 xã: quận Châu Thành đổi thành Mỹ Xuyên, quận Bố Thảo đổi thành Thuận Hòa, bỏ quận Lịch Hội Thượng, quận Thạnh Trị bỏ tổng Thạnh Lợi, quận Long Phú có thêm tổng Định Phước.
Năm 1964, chính quyền VIệt Nam Cộng hòa tách một phần tỉnh Ba Xuyên để tái lập tỉnh Bạc Liêu. Năm 1968, chuyển quận Kế Sách từ tỉnh Phong Dinh sang tỉnh Ba Xuyên.
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Ba Xuyên và tỉnh Phong Dinh hợp nhất thành tỉnh Hậu Giang.
Từ 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ tỉnh Hậu Giang.
Di tích
Bửu Sơn tự (hay chùa Đất Sét): Đây là một am thờ đã qua nhiều đời của dòng tộc họ Ngô, có tất cả tượng Phật đến linh thú, bảo tháp, đỉnh trầm đều được làm từ đất sét. Phần lớn do ông Ngô Kim Tòng sáng tạo trong suốt 42 năm (1928-1970).
Ngoài ra, trong chùa còn có 6 cây nến lớn hai cây nặng 200kg hai cây nến nhỏ nặng 100kg và 3 cái đỉnh bằng đất mõi cái cao 2m.hai cây nến nhỏ đã đốt liên tục trong 40 năm kể từ năm 1970 khi ông Ngô Kim Tòng qua đời. Sáu cây nến lớn chưa đốt, mỗi cây sẽ có thời gian cháy liên tục khoảng 70 năm.
Chùa Mã Tộc (hay chùa Dơi): Chùa được xây dựng cách đây 400 năm [cần dẫn nguồn]. Chùa còn có tên là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của khoảng 1 triệu con dơi[cần dẫn nguồn], phần lớn có sải cánh 1-1,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m. chúng treo mình trên những cành cây chung quanh chùa để ngủ suốt ngày,đến chiều tối mới bắt đầu lần lượt bay đi kiếm ăn ở những nơi có nhiều vườn trái cây cách xa
Hòa An Hội Quán (chùa Ông Bổn): Chùa được xây dựng vào năm 1875.chùa thờ ông bổn(Bổn Đầu Công).Chùa được xây dựng với kiến trúc độc đáo của người hoa chất liệu toàn bằng đá, gỗ quý từ Trung Quốc chở qua. Di tích này được trải qua 7 đợt trùng tu nhưng vẫn giữ được những giá trị nghệ thuật kiến trúc.Rằm tháng giêng hàng năm nhân tết nguyên tiêu chùa đều có tổ chức lễ hội đấu đèn lồng.
Chú giải
^ [1]
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, tỉnh An Giang, trang
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, tỉnh An Giang, trang 156.
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 26, tỉnh Hà Tiên, trang 7.
^ Đại Việt địa dư toàn biên, trang 319.
^ Đại Việt địa dư toàn biên, Nguyễn Văn Siêu, Truyện nước Cao Man, trang 318.
^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 29, tỉnh Vĩnh Long, trang 117.
Trích lược: Wikipedia
https://www.facebook.com/media/set/?...7802174&type=1
-
Ông chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy nước ra xung quanh, vừa đọc to những lời cầu nguyện:
"Nhất xái thiên thanh" - Trời luôn thanh bình
"Nhị xái địa linh" - Đất thêm tươi tốt
"Tam xái nhơn trường" - Người sống muôn tuổi
"Tứ xái quỷ diệt hình" - Quỷ dữ bị tiêu diệt.
Đọc xong, ông chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng "ca công tiếp giá", lập tức đoàn hát bộ nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bộ bắt đầu. Các tuồng hát bộ sau đây thường được diễn tại miếu bà: Trần Bình Trọng, Sát Thát, Lưu Kim Đính, Trưng Nữ Vương v.v...
http://vnthuquan.org/truyen/truyente...a3q3m3237n1n4n
-
Giới thiệu Thủy Tề Chúa Xứ Cổ Miếu Bạc Liêu
Hình Ảnh Thủy Tề Chúa Xứ Cổ Miếu Bạc Liêu
Hình Ảnh Miếu Bà Cửu Thiên ở Tp Trà Vinh - Trà Vinh
http://tyvn.vn/thang-tich-chuyen-muc-noi-dung/13
-
thiet ke web, Thue xe, thiet ke website, am thanh anh sang, cho thue am thanh anh sang
Thứ năm, 10 Tháng 5 2012 19:30 | Viết bởi Hoàng Minh
Gửi
Đất Sóc Trăng quê mùa nước mặn
Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai
Hỏi ra em đã theo trai mất rồi
Sóc Trăng vùng đất ngày xưa tuy đồng chua nước mặn, nhưng có những ưu thế trời cho, dân lành lúa tốt, ruộng vườn mênh mông.Gửi
Sóc Trăng nước mặn đồng bằng
Dân lành lúa tốt, của hằng trời cho
Kế Sách, Ba Rinh, Xa Mo
Lắm vườn nhiều ruộng, không lo thất mùa
Ba Thắc địa danh đại diện cho Sóc Trăng xưa, vùng đất giồng gò cao, nhờ nước mưa, mỗi năm chỉ làm lúa một vụ mùa. Gạo Ba Thắc nổi tiếng thơm ngon.
Gặp cơm Ba Thắc thơm ngon
Chan nước mắm Hòn ăn chẳng muốn thôi
Ngày xưa hương vị của những món ăn Sóc Trăng vẫn lưu truyền trong dân gian qua những câu ca dao, khi ai đó một chuyến xuôi về lục tỉnh, món ăn rất dân dã mà mãi để lại trong lòng người nhiều ấn tượng không phai.
Ai về thẳng tới Năm Căn
Ghé ăn bánh hỏi Sóc Trăng, Bãi Xàu
Mắm nêm, chuối chát, khế, rau
Tôm càng Đại Ngãi cặp vào khó quên
Và người ta cũng không quên nhắm thêm một ly rượu mang một hương vị của một xứ sở từ con người Sóc Trăng hiếu khách.
Ngó lên trời mưa sa lác đác
Ngó xuống đất hạt cát nằm nghiêng
Rượu Ba Xuyên rót đãi người hiềnGửi
Trước là đãi bạn, sau giải phiền cho anh.
Quê hương Sóc Trăng, vùng đất hiền hòa, trải qua bao nỗi thăng trầm của lịch sử đã để lại trong lòng mọi người những dấu ấn không phai. Qua những câu ca dao, chúng ta càng thấy thấm đậm chất dân dã mộc mạc một thời xa xưa. Ngày nay tình hình kinh tế xã hội đã phát triển một đoạn đường dài, vùng đất Sóc Trăng đã thay đổi rất nhiều, từ cơ sở hạ tầng, nét văn hóa, nếp sinh hoạt. Xuyên suốt theo chiều dài lịch sử, nhiều câu chuyện, nhiều kỳ tích về con người, về vùng đất nầy được nói đến, từ thành thị đến nông thôn đã thay đổi hẳn diện mạo, nhưng những nét đặc trưng của Sóc Trăng thì không bao giờ thay đổi. Ai đó xa quê, ai đó xuôi về miền tây, nên có một chuyến ghé thăm Sóc Trăng.
Đến với tỉnh Sóc Trăng, điểm đầu tiên là thành phố Sóc Trăng, chúng ta vào bằng ba cửa ngỏ chính, theo tuyến quốc lộ 1A từ Cần Thơ – Sóc Trăng đi qua cổng Trà Men vào trung tâm thành phố, theo tuyến quốc lộ 1A từ Bạc Liêu – Sóc Trăng đi qua cổng Trà Tiêm, theo tuyến Nam Sông Hậu vào trung tâm thành phố theo tuyến quốc lộ 60.
GửiThành phố Sóc Trăng là tỉnh lỵ và là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh Sóc Trăng. Dân số trên 174.000 người, trong đó có trên 60% người kinh, người Khmer chiếm 23,4% và người Hoa chiếm 16,4% có nét đặc trưng rất đặc sắc xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, sự hòa quyện giao thoa văn hóa tuyệt vời của 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer. Các nơi tham quan gồm:
Chùa Dơi ở khóm 9 phường 3, có khuôn viên rộng trên 7ha, được xây dựng vào thế kỷ XVI. Mỗi ngày tại đây có khoảng 200 - 300 lượt khách đến hành hương, tham quan. Đến đây các bạn có thể tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, ngoạn cảnh trong không gian thanh tịnh, ngắm nhìn những kiến trúc, hoa văn đặc trưng của đồng bào Khmer Nam Bộ, đặc biệt là tận mắt nhìn đàn dơi tự nhiên hàng ngàn con ngụ cư trong khuôn viên chùa.
Chùa Khléang ở phường 6 được xây dựng vào thế kỷ XV trên diện tích rộng gần 4ha. Chùa có giá trị về mặtGửi kiến trúc, được trang trí bởi những đường nét hoa văn hài hòa, chạm khắc tinh vi, thể hiện sự giao thoa về nghệ thuật độc đáo của 3 dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer. Cửa vào chính điện được mạ son thếp vàng, bộ kinh Phật được viết trên lá thốt nốt… đã làm nổi bật ngôi chùa cổ được công nhận di tích cấp quốc gia.
Chùa Đất Sét tại phường 5 được nhiều người tìm đến bởi những tượng được tạo từ Gửiđất sét như tháp Đa Bảo 13 tầng, cao 4,5m, tháp Bảo Tòa cao 2m, Lục Long đăng với sáu con rồng quay đầu ra chung quanh, đuôi chụm vào nhau, phía dưới là bông sen được phủ ngoài bằng nước sơn, kim nhũ. Bên cạnh những vật phẩm được làm bằng đất sét, trong chùa còn trưng bày 8 cây đèn cầy rất to, trong đó có 6 cây với trọng lượng 200kg/cây.
Thành phố Sóc Trăng còn có nhiều di tích thắng cảnh nổi tiếng như chùa Trà Tiêm ở phường 10, chùa Ông Bổn ở phường 1, Chùa La Hán ở Phường 8, Chùa Phước Nghiêm ở Phường 5 đặc trưng Phật giáo người Hoa, Nhà truyền thống văn hóa Khmer trên đường Nguyễn Chí Thanh, khu văn hóa hồ nước ngọt ở phường 6. Đặc biệt, thành phố Sóc Trăng còn là nơi tổ chức Lễ hội Óoc om boc – Hội đua ghe ngo truyền thống vào dịp rằm tháng 10 âm lịch hàng năm, là 1 trong 15 lễ hội lớn cả nước, thu hút vài chục ghe ngo các tỉnh đồng bằng Nam Bộ cùng hàng trăm ngàn du khách trong nước và quốc tế về Sóc Trăng trẩy hội. Những lời thơ như mời gọi, như tha thiết
Về Sóc Trăng nghe em
Ta đưa nhau đi dưới phố hoa đèn
Lễ hội mùa nầy, người đông như nước lũ.
Câu hỏi, câu chào, ôi sao quá thân quen
Đến với TP. Sóc Trăng, người ta còn được thưởng thức những món ngon đặc sản nổi tiếng không đâu bằng như : bún nước lèo, bún gỏi dà, lẩu mắm (đồng quê – hải sản), đặc biệt hai loại đặc sản bánh pía và lạp xưởng không thể thiếu trong giỏ quà tặng người thân.
Từ thành phố Sóc Trăng đi các huyện theo các tuyến hương lộ tỏa ra như hình sao, mỗi nơi có những nét đặc trưng riêng:
Đến với Vĩnh Châu ấn tượng nhất là cái nắng gió vùng biển và nét đẹp những cô gái Khmer da nâu tóc vàng, những chàng trai tóc quăn da đen, ai đó đã viết lên những câu thơ: Gửi
“Về Vĩnh Châu nên nước da cũng đen”
Bởi nắng quá và mèng ơi gió quá
Trong tao tác nghe có điều rất lạ
Như lâu rồi sông nước đã thân quen
Hay
Vĩnh Châu gió muối nắng hè
Tóc em một thuở vàng hoe bụi đường
Những người nơi ấy thân thương
Con tôm hạt lúa vấn vương cả đời.
GửiĐúng vậy lời thơ đã nói lên một nét cơ bản của Vĩnh Châu, vì đây là vùng nuôi tôm lớn nhất tỉnh. Xưa kia, người ta quen gọi Vĩnh Châu là quận Trà Nho, nay gọi là thị xã Vĩnh Châu, nơi đây cộng đồng lâu đời người Việt, người Khmer, người Hoa vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng, thông thường ở đây người ta nói được cả 3 thứ tiếng. Vĩnh Châu có bờ biển dài hơn 43 km, nên ngành thủy sản rất phát triển, ngoài hải sản đánh bắt được ngoài biển, nghề nuôi tôm sú đã phát triển nhiều năm nay. Đặc biệt, hành tím là đặc sản đặc trưng vùng này, tiêu thụ cả vùng và xuất cảng sang các nước lân cận. Đến Vĩnh Châu, ra về ai cũng không quên mua vài kí củ hành tím và củ cải muối về làm quà cho bà con.
Đến với Ngã Năm, nghe qua cái tên gọi dân gian đã lâu đời chúng ta cũng đoán được địa danh của vùng nầy.Gửi Huyện lỵ nằm tại thị trấn Ngã Năm, là giao điểm của năm nhánh sông. Do đó nói đến Ngã Năm không ai không biết đến chợ nổi Ngã Năm, vườn cò Tân Long là những điểm du lịch có món cháo cò trụng với năn rất hấp dẫn. Ngoài ra, Ngã Năm cũng rất nổi tiếng với mắm cá lóc, mắm cá rô không xương và rượu đế ST được nhiều người trong, ngoài tỉnh ưa thích. Có lời thơ chan chứa tình quê đôi với Ngã Năm
Mắm chưng hột vịt thịt bằm
Thương sao hương vị Ngã Năm quê mình
Dòng sông và những hành trình
Chia ra năm ngã nặng tình quê hương
Nền kinh tế chủ yếu là trồng lúa, cơ sở công nghiệp lớn nhất là khu nhà máy xay xát hiện đại do Vương Quốc Đan Mạch tài trợ và tới đây Tổng công ty lương thực miền Nam sẽ hình thành một cụm nhà máy xay xát còn bề thế hơn. Đến Ngã Năm đừng quên mua vài kí mắm lóc, mắm cá rô về làm quà cho bà con.
Đến với Kế Sách là đến với một huyện có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, có nhiều cù lao, cồn bãi Gửiđược phù sa sông Hậu bồi đắp nên có lợi thế để phát triển vườn cây ăn trái với nhiều loại như: Cam sành Ba Trinh, mít nghệ An Mỹ, bưởi da xanh Kế An, bưởi năm roi Kế Thành, chôm chôm Phong Nẫm, măng cụt An Lạc Tây...Về Kế Sách chúng ta luôn gặp những người dân hiền hòa hiếu khách, đặc biệt những chàng trai chân chất, những cô gái duyên dáng, miệng luôn cười, giọng nói ngọt lịm, tạo cho người đến một lần phải lưu luyến. Bởi vậy khi nói về Kế Sách người ta đúc kết bằng hai câu thơ:
Kế Sách là xứ trái cây
Con gái duyên dáng, con trai chân tình.
Đến với Châu Thành là đến với một huyện cửa ngỏ vào TP. Sóc Trăng, nơi có khuGửi công nghiệp lớn nhất tỉnh, khu công nghiệp An Nghiệp có sức thu hút trên 30 doanh nghiệp đã và đang đi vào hoạt động. Địa bàn huyện chủ yếu là sản xuất về nông nghiệp. Đặc biệt tại đây Gửilà nơi tập trung sản xuất hai món đặc sản nổi tiếng của tỉnh Sóc Trăng, đó là bánh pía và lạp xưởng Vũng Thơm. Theo tuyến quốc lộ 1A vào TP Sóc Trăng chúng ta gặp những hãng lớn như Tân Huê Viên, Quảng Trân, Mỹ Trân trưng bày chủ yếu hai sản phẩm độc đáo nầy. Dĩ nhiên đến Sóc Trăng dù bận rộn thế nào mà không mua vài kí lạp xưởng, dăm phong bánh pía là điều vô cùng thiếu sót.
Đến với Mỹ Xuyên đến một huyện chỉ cách TP. Sóc Trăng chừng 5km theo hướng biểnGửi Đông. Chợ Mỹ Xuyên khang trang ở trung tâm thị trấn, vòng ra sau chợ đi qua cầu Chà Và bắc trên con rạch nhỏ là tới khu phố với nhiều cơ quan hành chính của huyện. Dấu xưa còn lưu lại là những ngôi nhà kiểu Pháp, mái ngói, tường xây sơn vàng, phía trước là Gửicon đường nhựa chạy dọc con rạch uốn khúc mang tên Bãi Xàu. Khu thương cảng Bãi Xàu, ngày xưa là khu vực lớn, có nhà việc của hương chức, hội tề, có bưu điện, nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước do Pháp xây dựng, đặc biệt có công xi rượu Bảy Xàu nổi tiếng miền Tây. Ngày nay như các huyện lân cận Mỹ Xuyên là huyện sản xuất chủ yếu về nông nghiệp và nuôi tôm sú.
Đến Mỹ Xuyên có 2 món để chúng ta thưởng thức, đó là bò nướng ngói và bánh cóng Đại Tâm. Đây là loại bánh làm từ thịt heo băm nhuyễn, bột sắn và hột đậu xanh, với nước nắm chua ngọt. Ngoài ra cũng không quên mua một món khoái khẩu làm quà, đó là mắm tép Nhu Gia.
Đến với Trần Đề là đến với một huyện ven biển, dân chúng làm nghề đánh bắt hải sản, đây cũng là khu vực nuôiGửi tôm sú ứng dụng công nghệ cao. Cách trung tâm huyện khoảng 6 km là cảng cá Trần Đề với hàng trăm ghe tàu neo đậu chật kín, đa số là tàu đánh cá của Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu nhộn nhịp đông vui. Dưới nước là tàu biển san sát, trên bờ lớp lớp xe đông Gửilạnh, từng tốp người cả đàn ông lẫn phụ nữ kẻ bốc xếp, người cân đong. Tàu đánh cá chiếc đưa tôm cá lên, chiếc mang dầu, nước đá, thức ăn xuống chuẩn bị chuyến đi biển dài ngày, chiếc nổ máy rẽ sóng ra khơi. Có khoảng 500 chiếc tàu đánh bắt xa bờ như vậy ra vô mỗi ngày. Ở đây có đầy đủ dịch vụ hậu cần tàu biển như xăng dầu, nước đá, thực phẩm, bốc xếp, đặc biệt thích hợp ghe tàu neo đậu tránh bão. Từ đây chỉ mất 30 phút là tôm cá vô nhà máy đông lạnh nhờ đường giao thông thuận lợi. Sau đó, thủy sản xuất khẩu cũng sẽ lên đường về cảng Sài Gòn qua đường Nam Sông Hậu vừa hoàn thành, rút ngắn thời gian 7-8 giờ so với trước đây. Đứng trên cầu cảng nhìn ra, cửa biển Trần Đề rộng mênh mông, không khó để hình dung khi dông gió nổi lên thì nơi đây nguy hiểm như thế nào, để rồi thấm thía cái tên Ba Xuyên tiền nhân đặt cho vùng đất này
Đến với Thạnh Trị một huyện nằm theo tuyến quốc lộ 1A, khu hành chinh nằm tại thị trấn Phú Lộc, nền kinh tếGửi chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một số khu vực nuôi tôm càng xanh và cá đồng. Đến thăm Thạnh Trị, chắc hẳn du khách sẽ được thưởng thức món ăn đặc sản của vùng này, đó là khô trâu. Khô trâu Thạnh Trị được chế biến theo kiểu cổ truyền, thịt trâu bắp được lát thành những miếng mỏng lớn hơn bàn tay, tiếp theo là ướp gia vị vào gồm sả bằm, muối, tỏi, ớt,… khoảng nửa ngày cho ngấm. Sau đó đem phơi nắng hoặc sấy trong lò. Khô thành phẩm sẽ là những miếng khô thật mỏng, thơm lừng vị sả và mùi thịt trâu đặc trưng.
Đến với Mỹ Tú một huyện chủ yếu sản xuất về nông nghiệp, khu vực chịu phèn mặn và đầm lầy, do thổ nhưỡng Gửinhư thế cây tràm sinh sôi phát triển, nơi chúng ta nên tham quan là rừng tràm Mỹ Phước, nơi đây được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt, cây cối um tùm. Trong kháng chiến, Khu Trung tâm của di tích là nơi diễn ra các cuộc họp, hội nghị để đưa ra nhiều quyết định quan trọng của cấp chỉ huy cao nhất Sóc Trăng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khu căn cứ có tổng diện tích khoảng 310 ha, trong đó bao gồm: hầm nổi, hầm chìm, hội trường, nhà làm việc, rừng tràm bao bọc xung quanh. Hiện nay nơi đây là điểm du lịch rất thú vị đậm chất đồng quê dân dã. Do địa thế đầm lầy có một loài cây (họ cói) sinh sôi và phát triển mạnh trở thành nguồn kinh tế đáng kể cho địa phương, đó là cây bồn bồn, đọt non được làm thành dưa bồn bồn, một sản vật độc đáo của vùng đầm lầy đã trở thành món ăn khoái khẩu, mà nhiều người dân phương xa đến đây, vào quán phải gọi cho được món dưa bồn bồn hoặc phải tìm kiếm mua cho được mang về nhà.
Đến với Long Phú một huyện có ba lợi thế, sản xuất nông nghiệp, trồng lúa và vườn cây ăn trái ở các xã dọc sôngGửi Hậu. Trong đó, nhờ vào các yếu tố tự nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản tương đối phát triển, Long Phú là một trong những huyện có diện tích nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là tôm) lớn ở Sóc Trăng, là huyện được đầu tư xây dựng Trung tâm điện lực Long Phú tại xã Long Đức và sắp tới là thương cảng đặt tại thị trấn Đại Ngãi.
Dù chiến tranh đã lùi xa, tình hình kinh tế xã hội đã phát triển một đoạn đường dài, vùng đất Long Phú đã thay đổi rất nhiều, nhưng trong ký ức mọi người khi nhắc đến miền quê nầy vẫn không quên hình ảnh đẹp của những chàng trai cô gái gắn liền với những địa danh của một thời chiến tranh khốc liệt xa xưa như lời thơ ai đó đã viết:
Qua Rạch Già ghé thăm Long Phú
Lên Chợ Vàm về Phú Hữu thân thương
Đi trên sông nước quê hương
Nhớ anh du kích chống xuồng đánh Tây.
Gửi Đến với Cù Lao Dung một địa danh nghe hiền hoà dung dị, là một dãy cù lao chạy dọc trên sông Hậu đổ ra biển, càng về cuối càng nở phình ra để tạo thành 2 cửa sông lớn: Định An và Trần Đề. Cù Lao Dung xưa còn gọi là Cù Lao Hổ Châu, đến Cù Lao Dung cho thuyền chạy ven sông trong bầu không khí mát rượi của rừng bần, đi vào trong xóm chúng ta sẽ thấy những vùng mía bạt ngàn và những bờ bao ngoằn ngoèo xẻ dọc ngang nối liền các mảnh rẩy khu vườn. Các cô gái chăm sóc rẩy mía nước da trắng thùy mị, người dân ở đây hiếu khách, nam nữ đa số biết ca vọng cổ rất muồi mẫn. Nói đến Cù Lao Dung ngoài vùng chuyên canh cây mía người ta hay nhắc đến một đặc sản hiếm hoi đó là cá bống sao kho sả ớt hoặc canh chua cá bống sao nấu bần. Lời ca dao xưa người ta thường ngâm nga:
Gió đưa nhành trái la đà
Cù Lao Dung đó mấy xa cũng gần
Bống Sao đem nấu chua bần
Nặng mang tình đất nhẹ nâng tình ngườiGửi
Nếu ai có dịp về Cù Lao Dung một chuyến, đi thuyền ra bãi biển xem bà con thụt cá bống sao, lúc về nhớ chọn mua vài kí, hái vài trái bần rồi ghé quán ăn nhờ cô chủ nấu cho một nồi canh chua bần và kho với sả ớt, ăn với gạo lúa thơm Sóc Trăng, chắc chắn sẽ không có gì thú vị bằng.
Những năm gần đây sự giao lưu kinh tế văn hóa với các nước láng giềng trở thành bình thường gần gũi. Huyện Cù lao có số đông các cô gái lấy chồng xa xứ, điều gì đã khiến những cô gái tay lấm chân bùn, ở những vùng quê hiu hắt, chưa từng bước chân ra khỏi lũy tre làng, bờ ruộng, rẩy mía, dám vượt hàng ngàn cây số để kết hôn với người chồng không cùng ngôn ngữ, chênh lệch tuổi tác, vân vân và vân vân. Một anh bạn về thăm quê Cù Lao Dung, gặp người quen trong xóm hỏi thăm bé Tư, bé Ba... Anh đặt câu hỏi rồi bùi ngùi tự trả lời bằng nỗi xốn xang.
Về Cù Lao nghe xót trong lòng
Thương người em gái lấy chồng xứ xa
Ao sâu ruộng mía sau nhà
Tình quê theo mãi chuyến phà sang sông
GửiTrong trái tim mỗi người, tình yêu quê hương có lẽ là thứ tình cảm thiêng liêng nhất. Mỗi người sinh ra, ai cũng có cội nguồn, trong trái tim mình, ai cũng có một góc trời quê hương. Về Sóc Trăng là về lại với quê hương, dù gặp bao cay đắng ngọt bùi, nhưng chúng ta sẽ tìm được những kỷ niệm thật ngọt ngào, những tình cảm thật chân quê. Một chuyến về thăm Sóc Trăng, tham gia những ngày trẩy hội, ghé phố phường hoặc xuôi về tận những vùng quê, chắc chắn rằng chúng ta sẽ nhận ra trong lòng mình có một góc quê hương thật tuyệt vời, thật dễ thương.
HOÀNG MINH (CHS 68-75)
http://www.hoangdieusoctrang.com/hoa...soc-trang.html
-
Độc đáo nét kiến trúc chùa Ông
14:00 | 10/02/2016
|
(PetroTimes) - Từ lâu, chùa Minh Hương (hay còn gọi là chùa Ông, chùa Quan Thánh Đế quân) được xem là một trong những ngôi chùa linh thiêng bậc nhất Sài Gòn. Nơi đây là địa chỉ tâm linh quen thuộc của cộng đồng người Hoa, người Việt và cả du khách thập phương.
Chùa Minh Hương tọa lạc ở số 184 Hồng Bàng, P.12, Q.5, TP HCM. Sở dĩ Minh Hương được gọi là chùa Ông hay chùa Quan Thành Đế Quân là vì chùa thờ Quan Vân Trường ở chánh điện; đây cũng chính là tục thờ của người Hoa và nhiều người Việt.
Chùa Ông không quá bề thế về quy mô, chùa nằm yên tĩnh và uy nghiêm giữa khu trung tâm náo nhiệt của Q.5. Chính không gian thoát tục, cùng kiến trúc độc đáo và những câu chuyện tâm linh bí ẩn đã khoác lên ngôi chùa chiếc áo linh thiêng và lôi cuốn.
doc dao kien truc chua ong
Cửa vào chùa chùa Ông
Chúng tôi đến chùa vào một ngày thường cuối năm, không phải những ngày cao điểm lễ bái Rằm hay Mùng 1 nhưng khách đến viếng chùa vẫn khá đông. Có người thì chủ yếu đến tham quan, chụp ảnh, đó là những du khách nước ngoài. Người thì đến thấp hương lễ bái rất cung kính và thành tâm, họ là những người thường xuyên đến đây để cầu nguyện về chuyện kinh doanh buôn bán hằng ngày của họ.
Đến chùa Ông, ấn tượng đầu tiên đập ngay vào mắt đó chính là lối kiến trúc độc đáo chủ yếu bằng gốm và gỗ. Khắp nơi từ ngoài cổng, mái vòm đến các cột trong chùa đều chạm trổ hoa văn dày đặc. Đặc biệt là trên đỉnh mái chùa là mô hình phù điêu thu nhỏ bằng gốm sứ và phù điêu nghệ thuật cổng tam quan. Hai bên của hai mái vòm cong vút là tượng ông Tơ, bà Nguyệt vươn tay.
doc dao kien truc chua ong
Một phần kiến trúc độc đáo trước cửa chùa
doc dao kien truc chua ong
Một góc trên mái chùa
Chánh điện của chùa thờ bức tượng Quan Thánh Đế mặt đỏ râu dài, áo bào uy nghi. Bên phải có tượng thờ 5 bà Ngũ Hành và bên trái là tượng ông Bổn (ông Địa). Tượng Bồ tát Quán Thế Âm nằm ở bên trái khuôn viên chùa, tượng Phật Di Lặc thì được đặt bên phải, lúc nào cũng đèn nhang nghi ngút khói. Ngay bên trái cửa vào Chánh điện là tượng ngựa Xích Thố cao to, màu nâu đậm.
Bên trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như: tượng thờ bằng gỗ lim có niên đại trên 300 năm, lư hương kiểu cổ, sư tử đá, giá trưng kích thương, các bộ bàn, ghế, giường, đồ gỗ xưa…
doc dao kien truc chua ong
Bên phải chánh điện chùa Ông
Một đặc điểm ấn tượng khác khuôn viên chùa là có hàng chục nén nhang vòng lớn hình chóp nón màu đỏ được treo lơ lửng trên đỉnh đầu.
Các nén hương này do Phật tử phát tâm tạ lễ, trên mỗi nén nhang có treo một mẫu giấy màu đỏ ghi lại lời cầu nguyện của chủ nhân gửi đến đấng linh thiêng. Họ thấp nhang rồi treo nó lên trần chùa. Mùi hương trầm cứ thế lan tỏa khắp nơi, vừa tôn thêm nét thiêng liêng huyền diệu vừa tạo nên nét tĩnh tâm đến lạ thường. Được biết là những nén nhang này thắp đến 2 tuần mới cháy hết…
doc dao kien truc chua ong
Chánh điện thờ Quan Công trong chùa
doc dao kien truc chua ong
Thờ ngựa Xích Thố
Theo quan sát của chúng tôi, anh Huy (40 tuổi, nhà ở quận 6) là người lễ bái thuần thục, nghiêm trang nhất trong các khách đến viếng chùa hôm ấy. Lễ xong, chúng tôi có đến trò chuyện với anh. Anh chia sẻ rằng rất hay đến chùa thấp hương, trước là cầu sự bình an cho mình và người thân, sau là cầu cho công việc kinh doanh được thuận lợi.
Hỏi vì sao chọn chùa này để cầu nguyện, anh Huy cho biết do anh có nhân duyên với chùa. Cách đây mấy năm anh tình cờ vào chùa, sau lần đó anh cảm thấy phù hợp, có niềm tin nên dần dần thường xuyên đến, dù chùa Ông không phải là địa chỉ tâm linh duy nhất của anh ở Sài Gòn này.
Còn chuyện chùa linh thiêng thế nào thì anh Huy bảo tùy vào niềm tin của mỗi người. Bản thân anh cũng nghe là chùa Ông rất linh thiêng, cầu được ước thấy, nhưng anh thì không dám khẳng định, chỉ biết mình thành tâm kính tin thì sẽ có kết quả tốt. Và bản thân anh cũng đã từng đạt được sở nguyện trong chuyện làm ăn.
doc dao kien truc chua ong
Trong chùa có rất nhiều đồ cổ
Được biết, vào những ngày Rằm, mùng 1 khách đến chùa rất đông; đặc biệt nhất là đêm Giao thừa và ngày Vía Quan Thánh Đế Quân 24/06 ÂL hàng năm thì khách đến đông nghẹt, đến mức không có chỗ để đứng.
Kỳ 2: Chùa Ông linh thiêng như thế nào?
http://petrotimes.vn/stores/news_dat...chua-ong_2.jpg
http://petrotimes.vn/doc-dao-net-kie...ng-382616.html
-
Nghỉ Dưỡng Trần Đề
Trần Đề là huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng.Trần Đề không chỉ có nền văn hóa ba dân tộc mà còn nổi tiếng với nhiều địa danh,di tích: Giồng Chát, Cảng cá Trần Đề, Chùa ông Bổn người Hoa, Nhà thờ Bãi Giá, Chùa Dơi,.. Hãy để Mytour hỗ trợ bạn để có 1 chuyến đi thú vị, tiết kiệm bằng cách đặt phòng khách sạn Trần Đề ngay bây giờ với giá từ VND.
-
Miễu Bà Ngũ Hành phường Bửu Hoà
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=ERXwIhpBi4k
NGÀY VÍA "MẸ NAM HẢI" QUAN ÂM PHẬT ĐÀI TẠI BẠC LIÊU | Về miền tây
-
Ăn kiểm Vu lan thắng hội
18/08/2013 08:14 GMT+7
TT - Ở thị trấn Cầu Kè (huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh), mùa Vu lan có một món chay khá độc đáo, ai đã một lần thưởng thức đều tấm tắc ngợi khen. Đó là kiểm. Ngoài ra, ở vài tỉnh, thành phố khác cũng có điểm bán kiểm.
Ăn kiểm Vu lan thắng hội Phóng to
Thưởng thức kiểm bán trên vỉa hè đường Nguyễn Đình Chiểu, TP Cần Thơ - Ảnh: P.S.Lộc
Nhiều người dân ở Cầu Kè nói ăn kiểm tại nhà vẫn không ngon bằng tại chùa - chùa Ông Bổn. Chùa Ông Bổn là tên dân dã, tên chữ là Vạn Niên phong cung. Cung ở đây có nghĩa là miếu. Vu lan thắng hội ở Vạn Niên phong cung không diễn ra vào ngày rằm tháng 7 mà bắt đầu từ ngày 25 đến 28 tháng 7 âm lịch. Trong các ngày 25 đến 27, chùa liên tục tổ chức những buổi trai đàn, gọi “làm chay”. Bá tánh hàng chục ngàn người từ các tỉnh thành xa gần nô nức đến dự, xem ông Bổn với thế lực siêu nhiên rạch lưỡi, quất trái chông nhọn sắc quanh mình, múa kiếm... trong tiếng nhạc Tùa lầu cấu nôn nao, thúc giục, đều được dùng cơm chay hưởng lộc, trong đó có món kiểm.
Kiểm được làm từ bột khoai, bột báng, tàu hủ ky, khoai lang, phổ tai, nấm mèo, khoai cau, khoai mì, chuối xiêm chín, mít chín, cơm dừa, bí rợ... đặc biệt là sa kê, cùng nguyên liệu “cốt lõi” là nước dão dừa và nước cốt dừa. Tất cả các nguyên liệu trên cho vào nồi cùng nước dừa dão, muối, đường, hầm trên bếp. Kiểm chín tỏa mùi thơm béo, múc ra tô, chan nước cốt dừa, rắc đậu phộng rang (đã tách vỏ lụa) đâm sơ lên mặt.
Múc một muỗng củ quả này cho vào miệng, ta nghe vị ngọt của chuối xiêm chín, bí rợ, khoai lang, khoai cau và mít hầm rục; của những miếng tàu hủ ky dai thơm mùi khói bếp; của những hột bột báng nở tròn trơn tuột; những sợi cơm dừa, những cọng bột khoai giòn dai sần sật tê mê miệng lưỡi... Hòa trong vị ngọt mặn béo của nước cốt dừa là vị béo của đậu phộng rang nổ giòn trong răng. Nhưng nổi bật hơn hết là cái “vị không vị” của sa kê. Những miếng sa kê làn lạt, dai dai, khẽ nhai vị ngọt, vị mặn, vị béo của nước kiểm từ bên trong tiết ứa đầy vòm họng, càng ăn càng bắt mê.
Không biết kiểm có nghĩa là gì, là tiếng Việt hay tiếng Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) của đồng bào Hoa định cư hàng trăm năm tại vùng đất xa xôi của tỉnh Trà Vinh này? Có thể đoán kiểm là món ăn được thăng hoa từ món tàu thưng, có nghĩa canh đậu của người Tiều. Tàu thưng được nấu bằng đậu xanh hột, nhãn nhục, táo tàu... với nước dão dừa xiêm. Trong quá trình định cư tại đồng bằng sông Cửu Long, người Tiều lấy vợ người Việt để phụ trách nấu nướng. Từ đó món tàu thưng được các bà nội trợ Việt giản lược một số nguyên liệu, hòa trộn món bí hầm dừa thành kiểm, vừa giữ bản sắc ẩm thực Tiều vừa có nét văn hóa ẩm thực Việt đồng bằng sông Cửu Long - là nước cốt dừa.
Thưởng thức kiểm ở Vạn Niên phong cung ngon tuyệt là vì nguyên liệu tươi nguyên nấu trong chảo đụng. Kiểm còn được các bà thợ nấu dồn tâm dồn ý vào, những mong thánh thần phò trợ ông bà cha mẹ họ siêu sanh miền lạc cảnh, riêng gia đình họ làm ăn tấn tới trong suốt một năm dài. Có lẽ vì vậy mà món ăn “có thần” khiến ta luyến nhớ?
Đủ 4 thành phần
Nguyên tắc đầu tiên là thực phẩm phải đủ bốn thành phần của ô vuông thức ăn đó là: chất đường, chất đạm, chất béo và chất khoáng, vitamin. Dinh dưỡng học ví von “cái áo” thức ăn cần có vạt, tay, cổ và túi, nút áo, không được thừa hay thiếu.
Kiểm là món ăn chay nhưng đầy đủ bốn thành phần: chất đường (bột khoai, bột báng, chuối, đường...), chất đạm (tàu hủ ky, nấm, sa kê, đậu xanh, đậu phộng, ngũ cốc...), chất béo (dão, cốt dừa...), khoáng và vitamin (các loại trái...), nên chắc chắn là một thực phẩm chay rất thích hợp cho mọi người.
TS.BS TRẦN BÁ ThOẠI
http://static.new.tuoitre.vn/tto/i/s...8/pp4b2CLT.jpg
Thưởng thức kiểm bán trên vỉa hè đường Nguyễn Đình Chiểu, TP Cần Thơ - Ảnh: P.S.Lộc
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=-fhxTSBi_oM
Le Nguyen Tieu - Chua Ong Te Bac Lieu 2014 (part 1)
Jason Ma
Jason Ma
-
Quan Vân Trường (nên còn được gọi là chùa Quan Đế Thánh quân). Ngoài thờ Quan Vân Trường, chùa còn thờ Quan Âm, năm bà Ngũ Hành, ông Bổn (ông Địa), ông Mã (ngựa Xích Thố)
https://anvietnam.net/2016/07/15/chu...a-ong-sai-gon/
-
Tín ngưỡng thờ Ông Bảo và nguyên tiêu thắng hội (03/07/2007)
Trần Dũng(*) Hằng năm, cứ sau tết Nguyên đán, vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, đông đảo bà con người Hoa khắp nơi trong tỉnh Trà Vinh, từ Cù lao Dung, Long Phú, Kế Sách bên kia sông Hậu, từ Thành phố Hồ Chí Minh và khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lũ lượt bao xe, bao đò kéo nhau về Phước Thắng cung (chùa Ông Bảo) xã Đại An, (Trà Cú) cùng người dân địa phương trẩy hội Nguyên tiêu
Trần Dũng(*)
Hằng năm, cứ sau tết Nguyên đán, vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, đông đảo bà con người Hoa khắp nơi trong tỉnh Trà Vinh, từ Cù lao Dung, Long Phú, Kế Sách bên kia sông Hậu, từ Thành phố Hồ Chí Minh và khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lũ lượt bao xe, bao đò kéo nhau về Phước Thắng cung (chùa Ông Bảo) xã Đại An, (Trà Cú) cùng người dân địa phương trẩy hội Nguyên tiêu. Nguyên tiêu thắng hội là một lễ hội dân gian truyền thống khá tiêu biểu của cộng đồng người Hoa trên đất Trà Vinh.
1. Thần phả, hành trạng Ông Bảo
Ông Bảo hay Bảo công, vị thần được thờ tại Phước Thắng cung, là cách gọi vắn tắt mà đầy lòng tôn kính của đồng bào người Hoa Trà Kha - Đại An dành cho Bảo sanh đại đế. Tương truyền, ngài sinh trưởng ở vùng Phúc Kiến, vào thời Xuân Thu bên Trung Quốc. Từ nhỏ, ngài tỏ rõ tư chất thông minh nên được các vị tiên trên núi dạy cho phép tiên và các thuật linh đơn. Vào tuổi thanh niên, ngài kết thân với Lâm Ngạc Nương (người sau này được sắc phong là Thiên Hậu nương nương) nhưng không lập gia đình mà rày đây mai đó, tiêu dao cùng cỏ cây mây nước và chẩn mạch, bốc thuốc cứu nhân độ thế. Danh tiếng ngài lẫy lừng khắp một miền Hoa hạ xuống tận Giang Nam. Tuy vậy, khi nghe tin thân mẫu mình lâm bệnh nặng, ngài vội vã trở về cố quán thì bà đã vĩnh viễn ra đi trước đó vài ngày. Thọ tang xong, buồn bã trong lòng, nghĩ bụng y thuật tiên ba cũng không cãi được số trời nên ngài cho tất cả sách vở, y cụ vào hòm khóa lại, đưa lên gác cất còn chìa khóa thì quăng giữa sông Hoàng Hà, thôi không theo đuổi nghề thuốc nữa.
Năm tháng qua mau, trăng tròn rồi trăng khuyết, hết đông rồi sang hạ, thấm thoát hơn chục mùa xuân đào nở, chim ca, ngài vẫn ẩn mình trong vách núi. Một bữa, từ dưới bến sông có tiếng kêu khóc xôn xao. Động lòng từ tâm, ngài lần dò bước chân xuống núi, mới hay người vợ trẻ của chàng ngư phủ đang hồi nguy kịch trong cơn vượt cạn khó khăn. Đã định trở về lều cỏ nhưng mấy lần chẳng thể quay bước trước sự khóc than, năn nỉ của dân làng, ngài lại xắn tay lo cho mẹ tròn con vuông. Chàng ngư phủ vui mừng khôn tả, ngày hôm sau ra sông Hoàng Hà câu con cá chép lớn mang lên núi tặng vị đại phu. Nhận quà tạ ơn, hôm sau, ngài mang cá ra bờ sông phóng sinh nhưng lạ thay, trước khi từ biệt, cá chép cứ nhìn ngài chăm chú. Ngài đưa tay xuống nước thì trong miệng cá nhả ra chiếc chìa khóa như món quà tạ ơn mà khi nhìn kỹ, ngài kinh ngạc nhận ra đó chính là chiếc chìa khóa mà hơn mười năm trước mình đã từng quẳng đi.
Biết rằng số trời đã định, ngài trở về lều cỏ, vác chiếc hòm xuống, đêm chong đèn đọc sách, ngày lên rừng hái thuốc, tiếp tục cuộc đời rày đây mai đó, chẩn mạch bốc thuốc cứu người. Năm đó, thái hậu đương triều lâm bệnh nặng mà các ngự y danh tiếng chốn triều trung đều vô phương thúc thủ. Nghe danh, vua truyền triệu ngài vào cung chẩn đoán. Ba lần nhà vua bày trò thử thách, ngài đều bình thản vượt qua. Lần thứ nhất, vua cho buộc sợi chỉ vào chân giường trong cung cấm, rồi cho người kéo đầu kia sợi chỉ ra ngoài sân cho ngài ngồi nghe mạch. Tuy cầm sợi chỉ, miệng mỉm cười, ngài bảo: "Mạch mộc, chẳng phải mạch nhân!"; Lần thứ hai, vua cho buộc sợi chỉ vào tay cung nữ. Ngoài kia, ngài bảo: "Mạch nhi, chẳng phải mạch lão!"; Lần thứ ba, vua cho buộc sợi chỉ vào tay viên thái giám. Ngoài kia, ngài bảo: "Mạch trung, không phải mạch nữ!". Cuối cùng, tin tài phục đức, vua cho buộc chỉ vào đúng tay thái hậu. Ngài nghe mạch rồi bốc ba thang thuốc. Thái hậu uống xong, liền khỏi. Nhà vua và triều thần mừng rỡ truyền ban thưởng, mới hay ngài đã lẳng lặng hồi hương khi nào mà chẳng ai hay biết. Quân lính, theo lệnh vua, ùn ùn mang lễ vật theo tạ ơn. Bỏ ngoài tai chuyện lợi danh, ngài lánh sâu vào rừng núi và chết khô trên cây đại thụ để khỏi vương vào vòng xa hoa phù phiếm. Lá, thân, rễ cây đại thụ ấy trở thành vị thuốc chữa bách bệnh. Cảm công đức ngài, vua sắc phong mỹ hiệu Bảo sanh đại đế, truyền cho thần dân trăm họ thờ ngài như vị thần cai quản về sinh mạng, sức khỏe con người.
Con người, nhất là con người nông nghiệp lạc hậu, ai mà không quan tâm đến vấn đề sống chết, sức khỏe và không tin tưởng vào vị thần có sứ mệnh cai quản những vấn đề trọng đại ấy. Thần Bảo sanh đại đế, vừa là một vị thần của tín ngưỡng dân gian, vừa xem qua thần phả và hành trạng rõ ràng mang dáng dấp khá tiêu biểu của Lão giáo, một trong ba tôn giáo lớn trong lịch sử Trung Hoa.
Khi di cư sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Nam Bộ Việt Nam, cũng là những nước văn minh nông nghiệp, người Hoa mang theo cả vị thần Bảo sanh của mình và nhanh chóng được cả cộng đồng cư dân bản địa cùng tôn thờ.
2. Kiến trúc, phối tự của chùa Ông Bảo Đại An
Chùa Ông Bảo, hay Phước Thắng cung, là một cơ sở tín ngưỡng quan trọng của đồng bào người Hoa tỉnh Trà Vinh, tọa lạc tại ấp Mé Rạch, xã Đại An, huyện Trà Cú, cách chợ Trà Kha hơn cây số về hướng tây. Trà Kha là chợ xã Đại An, nơi đây có một quần cư thuộc loại sung túc nhất của Hoa kiều Trà Vinh, với hàng trăm hộ mang nguồn gốc Triều Châu, Phước Kiến, Quảng Đông... Làm ăn, sinh sống trên đất Việt, hòa đồng nếp ăn, nếp ở với cộng đồng người Việt, người Khmer chung quanh nhưng người Hoa Trà Kha vẫn giữ gìn nhiều phong tục, tập quán truyền thống như một bản sắc văn hóa dân tộc.
Nơi được đồng bào người Hoa Trà Kha chọn xây dựng chùa Ông Bảo là một vuông đất gò cao ráo, có nhiều cây sao, dầu cổ thụ, nhìn ra con sông nhỏ, vốn là chi lưu của dòng sông Hậu, theo đúng thuật phong thủy. Ngôi chùa được xây dựng đúng theo lối kiến trúc truyền thống của người Hoa, với ngôi tiền sảnh, chánh cung, hậu cung, tất cả trên cùng một trục, mặt nhìn về hướng nam. Từ ngoài nhìn vào, trước tiên là ngôi tiền sảnh, rộng rãi, khoáng đạt dùng để bà con thập phương đến chiêm bái, cúng kiến. Phía ngoài tiền sảnh có đặt bia đá ghi công đức của những người hằng tâm hằng sản dâng cúng xây dựng, trùng tu ngôi chùa. Phía trong cùng là hậu cung giống như kho chứa xe nhà giàn, đồ cúng tế... Ngay trên cửa chính tiền sảnh có đặt bức hoành phi với ba chữ Phước thắng cung theo lối đại triện. Hai bên cửa là cặp câu đối ca tụng công đức của đức ông Bảo sanh:
Cứu cấp thừa nguy diệu diện giảng liều ân tứ tạo;
Hành nhơn phước tụng từ vân phổ biến lợi quần sanh.
Ở cặp cột chính chánh cung, ngay trước bài vị đức ông cũng có cặp câu đối:
Bảo dục quần sanh công đoài đại đế;
Quảng thi phước đức ân ngưỡng tôn vương.
Màu sắc chủ đạo trong nội thất tiền sảnh, chánh cung chùa Ông Bảo là màu đỏ truyền thống của người Hoa. Ở mỗi thân cột, đều có chạm nổi hình rồng theo môtíp rồng mây gặp hội.
Từ chánh cung nhìn ra, hai phía tả hữu là Đông lang và Tây lang, vốn là nhà khói (nhà bếp) và nơi đãi ăn uống đối với khách thập phương đến chiêm bái. Phía sau hậu cung, nơi gò cao nhất của “cuộc đất” là miếu thờ sơn thần.
Tại ngôi chánh cung bài vị của Bảo sanh đại đế được thờ ở chính giữa, hai bên là bài vị của Quảng trạch tôn vương và Phúc đức chánh thần, tức là hai vị thần chuyên cai quản việc làm ăn tiền bạc và việc cội nguồn phước thiện lâu dài. Đây chính là bộ ba hình thành thế chân vạc giữ gìn cho cuộc sống con người được vững chãi bền lâu: Sức khỏe - tiền tài - phúc đức theo quan niệm truyền thống của người Trung Hoa. Và, cũng như ở mọi cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng khác của người Hoa, còn có một bộ ba khác cũng được phụng thờ ngay trong nội thất ngôi chánh cung là Quan thánh đế, Châu Xương, Quan Bình. Sự có mặt của Quan Công trong tất cả các nơi thờ tự của người Hoa khiến cho không ít người, kể cả các thế hệ người Hoa trẻ tuổi sau này, lầm tưởng Ông Bổn, Ông Bảo... chính là Quan thánh đế.
Dần dần, theo thời gian, những người có trách nhiệm trong Hội chùa Ông Bảo đã đưa thêm một số vị thần thánh, tiên Phật... vào cùng phối tự trong khuôn viên Phước Thắng cung. Dãy nhà Tây lang, vốn được dùng làm nơi họp hội và đãi đằng khách thập phương, nay được dùng làm nơi thờ Phật, theo thế tả cung hữu tự. Ở phía hoa viên bên kia lộ, một tượng Phật bà Quan thế âm cũng được dựng lên, do một phật tử Việt kiều về thăm quê, phát tâm cúng dường. Như vậy, trong khuôn viên ngôi chùa Ông Bảo đã có sự hiện diện của đầy đủ ba tôn giáo lớn là Lão giáo (ông Bảo), Khổng giáo (Quan công), Phật giáo (các vị Phật), theo tinh thần tam giáo đồng nguyên, đã chi phối một thời gian dài đời sống văn hóa tinh thần dân tộc Hoa cũng như dân tộc Việt trong lịch sử. Không những thế, ở góc xa hơn của phía Đông lang còn có một ngôi miếu thờ Neakta, một vị thần dân gian của người Khmer của nhiệm vụ bảo an phum sóc; ở góc khuôn viên phía Tây lang lại có ngôi miếu thờ bà Chúa Xứ, một vị thần dân gian mà người Việt vay mượn của người Chăm trên bước đường Nam tiến, có chức năng cứu hộ người đi trên sông, trên biển.
Hiện tượng phối tự nhiều đại biểu của các tôn giáo khác nhau trên cùng một cơ sở tôn giáo - tín ngưỡng là một biểu hiện của hiện tượng hỗn dung tín ngưỡng thường thấy ở Nam Bộ và, có lẽ, cũng là một phần tính cách con người Nam Bộ. Đất mới, người mới, môi trường cảnh quan mới, điều kiện sinh sống mới... khiến người ta không thể bảo thủ với tín ngưỡng, niềm tin mang tính cội nguồn của mình mà phải dang tay ra, đón nhận, hòa nhập, tích hợp, giao lưu với những tín ngưỡng, những vị thần thánh, tiên phật của các dân tộc anh em cùng cộng cư. Ngược lại, sự xuất hiện của các vị Neakta, bà Chúa xứ được trân trọng thờ kính... ngay trong khuôn viên ngôi chùa Ông Bảo đã giúp cho cơ sở tín ngưỡng này không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của bà con người Hoa mà còn được người Khmer, người Việt trong vùng coi như cơ sở tâm linh chung, mà mỗi người dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo cùng có trách nhiệm lui tới chăm sóc, chung tay nhau lúc hội hè, đình đám. Tình đoàn kết thắm thiết giữa các dân tộc càng được củng cố, tăng cường không chỉ trong cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu mà còn ngay trong đời sống tâm linh.
3. Nguyên tiêu thắng hội
Phước Thắng cung, tức chùa Ông Bảo, ở xã Đại An, huyện Trà Cú có khá nhiều cuộc cúng tế theo ngày vía đức ông Bảo sanh, đức ông Quảng trạch, đức ông Phúc đức, vía bà Chúa xứ, ngày cúng Neakta... Thế nhưng quan trọng nhất, được nhiều người biết đến nhất và được xem là một trong những lễ hội tiêu biểu của bà con người Hoa Nam Bộ là Nguyên tiêu thắng hội và lệ cúng Trùng cửu.
Lệ cúng Trùng cửu, hay Trùng dương, được cử hành trong chín ngày, chín đêm từ ngày cuối cùng của tháng Tám đến hết ngày mồng chín tháng chín âm lịch trong khuôn viên Phước Thắng cung. Đây là dịp để người Hoa các nơi tề tựu về cùng nhắc nhở nhau lưu truyền, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa chiêm bái những vị thần chuyên trách về sức khỏe, tiền tài, phúc đức để cầu cho chuyện làm ăn hanh thông, cầu cho phong điều võ thuận, quốc thái dân an...
Nguyên tiêu thắng hội là một lễ hội tưng bừng được tiến hành trong hai ngày rằm và mồng sáu tháng Giêng âm lịch. Tuy trung tâm chính vẫn là ngôi chùa Ông Bảo nhưng địa bàn trẩy hội mở rộng ra khắp xã Đại An, nay là hai xã Đại An và Định An. Vào trưa ngày rằm, hàng ngàn bà con người Hoa từ các huyện trong tỉnh Trà Vinh, từ Long Phú, Cù lao Dung, kế Sách bên kia sông Hậu, từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã hành hương về đây. Cùng lúc đó, hàng ngàn nam thanh nữ tú người Việt, người Khmer từ các xã trong huyện Trà Cú và các huyện lân cận cũng đổ về để được đắm mình trong không khí lễ hội. Ngôi chùa Ông Bảo được trang hoàng lộng lẫy, với màu đỏ là màu chủ đạo, cờ xí rợp trời.
Trưa ngày rằm, Ban trị sự hội chùa Ông Bảo, dưới sự hướng dẫn của vị cố vấn, tiến hành nghi thức khai đàn nhập hội. Ban trị sự cùng các bậc bô lão người Hoa địa phương hai hàng tựu vị trước án thờ Đức ông. Trong hương đăng nghi ngút, người ta dâng lên những bánh trái, hoa quả, thức ăn chai lạt và kính báo đức ông đêm Nguyên tiêu đã đến, cung thỉnh Đức ông về ngự và chuẩn bị các nghi thức rước lộc thánh. Sau khi Ban trị sự lui ra, người dân địa phương và khách thập phương đến chiêm bái, dâng cúng, van vái những điều lành cho năm mới hoặc tạ ơn về những điều tốt đẹp mà Đức ông đã ban cho trong năm qua. Việc cúng tế được kéo dài suốt buổi chiều ngày rằm tháng Giêng âm lịch.
Cùng lúc đó, người ta chuẩn bị các nghi thức rước lộc thánh. Đám rước bao gồm một kiệu hương đăng, một kiệu Đức ông (tượng trưng bằng chiếc lư hương cung thỉnh trên án thờ Đức ông), một kiệu âm binh. Đi đầu là một đoàn lân, rồi đến “bộ liệt” (do những vị trung niên có đức hạnh hóa trang thành Tam Tạng, Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng) cùng một đạo âm binh thiên tướng tạo không khí vui nhộn. Đặc biệt, mỗi năm, đi theo đám rước đều có một linh vật cầm tinh trong năm âm lịch (năm nay là con gà trống) do nghệ nhân địa phương Trầm Kim Lại chế tạo bằng khung tre, dán giấy bồi. Kéo kiệu, bao giờ cũng là trai tráng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo nhưng phải là người địa phương. Khi đám rước lộc thánh kéo từ chùa Ông Bảo (ấp Mé Rạch) ra đến cầu Trà Kha cũng là lúc hai đám rước khác từ chùa Ông Quan (thờ Quan thánh đế - Giồng Đình, Định An) và từ chùa Ông Bắc (Cá Lóc, Định An) kéo tới hội lại thành đám rước chung. Trong nhịp trống lân giục giã, theo nhịp điệu vui mắt của “bộ liệt” và linh vật cầm tinh, dưới sự hộ tống của đạo âm binh thần tướng, trong tiếng reo hò của đám trẻ con đi theo, đám rước đến Bảo an miếu, cung thỉnh bà Thiên Hậu (tượng trưng bằng chiếc lư hương trong miếu thờ bà) lên đồng vị song song trên kiệu Đức ông. Đây chính là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực xưa cũ, bao giờ có dương (Đức ông) cũng phải có âm (bà Thiên Hậu) mới có thể tạo ra sự sinh sôi, nảy nở, bảo đảm cho cuộc sống đầy đủ bền lâu. Đám rước cứ thế tiếp tục đến thất Cao đài, rồi quay lại chùa Nô Đôn (chùa Cò) như cùng cung thỉnh đại biểu các tôn giáo cùng dự cuộc vui của quần chúng để cùng nhau phù trợ cho người dân trong năm mới. Trên các nẻo đường mà đám rước đi qua, dân chúng, Hoa cũng như Việt, Khmer đều lập bàn hương án, khói hương nghi ngút trước cửa nhà. Đi đến đâu, đại diện chủ lễ ban phát lộc thánh bao gồm bánh trái cho trẻ con, liễn thờ cho từng gia đình để mỗi người mỗi hộ đều được trọn năm sống trong sự chở che, phò trợ của Đức ông.
Trước đây, mỗi lần chuẩn bị vào đám rước Nguyên tiêu, Ông Bảo đều đạp đồng về nhập xác. Xác ông đi trên lửa đỏ, uống dầu phun lửa, dùng dao bén rạch lưỡi lấy máu vẽ bùa... Sau đó, xác ông theo đám rước đi khắp nơi để trấn áp ma quỷ, bảo vệ sự an lành cho người dân. Ngày nay, sau khi “xác ông” cũ chết đi, chưa có “xác mới” hữu duyên hữu phước để đức ông nhập về nên nghi thức này không được thực hiện.
Thực ra, đoạn đường mà đám rước đi qua cũng chỉ vài cây số nhưng do lượng người trẩy hội quá đông, có năm lên đến vài chục ngàn người mà mỗi gia đình đều muốn cung thỉnh Đức ông dừng trước hương án nhà mình vài phút nên khi đám rước trở về đến chùa Ông Bảo cũng đã là nửa đêm. Sau khi đưa ông Bảo, bà Thiên Hậu, Ông Quan, Ông Bắc và chư vị tiên Phật, thần linh khác cùng tề tựu trên án thờ trong chính cung, đông đảo người trẩy hội vui chơi suốt đêm trong hoa viên nhà chùa, dưới ánh trăng rằm lung linh huyền ảo.
Sáng ra, đám rước lại hình thành để cùng tiễn bà Thiên Hậu, Ông Quan, Ông Bắc và chư vị tiên Phật, thần linh khác trở về nơi đã được cung thỉnh tối qua. Ban quản trị, bà con địa phương và khách thập phương trẩy hội lại trở về Phước Thắng cung chiêm bái, cầu nguyện Đức ông lần nữa cho chuyện làm ăn, tài lộc, sức khỏe, phúc đức bản thân, gia đình, làng xóm được hanh thông vuông tròn và hẹn nhau mùa trẩy hội Nguyên tiêu năm sau.
T.D
(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)
(*) Sở Văn hóa - Thông tin Trà Vinh.
BẢN QUYỀN VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Giấy phép số 197/GP-BC do Bộ VHTT cấp ngày 27/10/2005
Địa chỉ: Số 1 - Liễu Giai - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04.62730768
Email: banbientapj@vass.gov.vn
In bài viết
Đóng lại
http://vncvanhoa.vass.gov.vn/UserCon...5-1ebadc8612da
-
-
-
https://www.youtube.com/watch?v=MU9LjGxD1O8
hoa cài mái tóc.(bá đạo)chỉ có ở sóc trăng
-
Trong Tỉnh Phong Dinh có 550 Tăng Ni
- 20 Tăng ở 13 chùa Cổ sơn môn và Lục Hoà Tăng
https://hoavouu.com/a24028/phan-thu-ba-a
-
TĨNH GIÁO HỘI BA XUYÊN
(báo cáo ngày 29. 4. 1970)
Tỉnh Ba Xuyên thuộc miền Khánh Anh; ruộng đất phong phú, sinh lầy và sông rạch nhiều. Dân chúng chất phát hiền lành, chỉ sống nghề nông phu cáy. Tỉnh Ba Xuyên có nhiều giáo phái .
TOÀN TỈNH
- 6 Chùa Ông Bổn
https://hoavouu.com/a24028/phan-thu-ba-a