http://www.cetyatathagata.com/2017/0...ntras-for.html
Printable View
http://1.bp.blogspot.com/-Nta_ISHMUF...E7%87%88-3.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...150112-1-2.jpg
http://3.bp.blogspot.com/-3Qeg9xNyOf...%E7%87%882.jpg
http://3.bp.blogspot.com/-0Me9oJoAnI...%E5%9F%8E1.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/08/J.jpg
( http://dharma-yinlung.blogspot.com/2015/01/ )
Dâng Tịnh Thủy (Nước)
Thủy trong rạng ánh Phật Đài
Nhiệm mầu Cam Lộ bệnh tai tiêu trừ
Cúng dường các Đấng Chân Như
Sạch tan ba nghiệp An Cư Đạo Tràng
NA MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng Tịnh-Thủy Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM ÂM-RỜ-TỐT_BA-VÊ SOA-HA ( 7 lần )
Dâng Cúng
Dương Chi Tịnh Thủy
( Dâng cúng Nhành Dương, Nước Tịnh / Cành Dương, Nước Sạch lên Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát )
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itledf6503.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itledafea0.png
Nay con đã đủ
Nhành Dương, Nước Tịnh
Cúi mong Đại Bi
Thương xót Nhiếp Thọ
.OM VAJRA-MAHACITTAM PUJA HOH ( 3 lần )
.OM GAGANAM SAMBHAVA VAJRA HOH ( 3 lần )
Nay con đã đủ
Nhành Dương, Nước Tịnh
Cúi mong Đại Bi
Thương xót Nhiếp Thọ
.OM VẮC-RA MA-HA CHÍT-TÂM PU-GIA HỐC ( 3 lần )
.OM GA-GA-NĂM SĂM-BA-VA VẮC-RA HỐC ( 3 lần )
Dâng Tâm Hoa (Hoa Quả)
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled23062.png
Tâm Hoa con kính lễ dâng
Đài sen thơm dịu trong ngần tinh anh
Quán Âm cảm ứng chí thành
Hào quang tỏa chiếu mây lành phủ che
NA MÔ TIÊU TAI GIÁNG KIẾT TƯỜNG BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng Hoa-Quả Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM AMRTE HUM PHAT ( 7 lần )
Tâm Hoa con kính lễ dâng
Đài sen thơm dịu trong ngần tinh anh
Quán Âm cảm ứng chí thành
Hào quang tỏa chiếu mây lành phủ che
NA MÔ TIÊU TAI GIÁNG KIẾT TƯỜNG BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng Hoa-Quả Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM AM-RỜ-TÊ HÙM PHẠT ( 7 lần )
心不散亂,近持誦三咒。持誦下咒時 集中於本尊、咒語和放光及回攝。
OM TARE TAM SVAHA
嗡 大咧 當 梭哈
OM TARE BHRUM SVAHA
嗡 大咧 布 梭哈
OM TARE HRIH SVAHA
嗡 大咧 啥 梭哈
OM TARE HUM SVAHA
嗡 大咧 吽 梭哈
http://www.siddharthasintent.org/ass...N/20170711.pdf
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...69915702_n.jpg
Chuỗi lưu ly 108 hạt, có kiềm theo lục tự
( https://www.facebook.com/phapbaomattong/?ref=py_c )
========
K biêt câu thân chú nay cua vi phât nao: án cu ru, kun la hri xoa ha.
Chuỗi tay đá Lapis Lazuli
-----------
Lapis Lazuli là những tinh thể đá có màu xanh dương xen lẫn với các chấm có màu sắc khác như trắng, nâu… Và đá có thể tìm thấy tại các nước Nga, Chi Lê, Mỹ hay vùng núi tại Pakistan và Afghanistan.
Người ta tin rằng đá Lapis Lazuli đến từ thiên đường nên có vẻ đẹp vô cùng đặc biệt và nhiều tác dụng có ý nghĩa về tâm linh.
Người Ai Cập cổ đại thường tôn thờ và đặt Lapis Lazuli trong các đền thờ để tỏ lòng thành kính với Đức Chúa Trời (bởi vì người ta nghĩ đá có nguồn gốc từ Thiên Đường). Đồng thời họ cũng hay đặt đá bên cạnh người đã ra đi với hi vọng viên đá có thể bảo vệ người trên Thiên Đường.
Nhiều tín đồ Phật giáo cho đá Lapis Lazuli có thể xua tan sự ốm yếu, khiến một người trở nên nhanh nhẹn và linh hoạt đồng thời hình thành sự chân thành và có thể tin cậy.là biểu tượng của sự thật lòng. Người nào mang đá trên tay sẽ nhận được sự yêu mến và tin tưởng của người xung quanh.có thể thanh lọc tạp chất trong cơ thể và tâm hồn.
Tràng hạt làm từ Lapis Lazuli có thể điều hòa tính cách, xua tan sự giận dữ và khiến đầu óc minh mẫn lúc làm việc. Ngoài ra, đá còn giúp bạn trở nên tự tin và làm chủ cảm xúc bản thân, đem lại sự mạch lạc rõ ràng trong lời nói. Đá còn có thể trừ tà, chống kẻ tiểu nhân đem tới may mắn và thuận lợi trong công việc.
Tác dụng chữa bệnh
Cho Lapis Lazuli tiếp xúc với trán có thể giúp ta tiếp xúc với quyền năng vô hạn khiến tâm hồn được mở rộng, tầm nhìn thông suốt và tăng năng lực ngoại cảm và trực giác.
Đeo đá thường xuyên dưới dạng dây chuyền sẽ nạp năng lượng cho vùng ngực, tránh mắc các bệnh về họng, cổ, tai, thanh quản, phổi, ngực và tuyến ức đồng thời giảm đau và làm dịu mắt vết sưng tấy, cải thiện và nâng cao hệ miễn dịch và năng lực phục hồi.
Đá Lapis Lazuli còn có tác dụng giảm đau, ngủ ngon, chống hoa mắt và tẩy uế.
Trong mật giáo thích hợp cho pháp tăng ích. Dùng để tăng trưởng phước báu
Và đặc biệt là Chiêu Tài Tiến Bảo
-----------
Chất liệu: Đá Lapis
Kích cỡ: 10 mm .
Giá inbox hoặc liên hệ 0932975776
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...46439319_n.jpg
https://www.facebook.com/Ph%E1%BA%A1...6401/?ref=py_c
KINH THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO
Hán dịch: Đời Đại Đường, Tam tạng Thật-xoa-nan-đà, người nước Vu Điền
Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Nguồn: http://tangthuphathoc.net
Trình bày: http://tinhtong.org
http://www.tinhtonghochoi.org/kinhSa..._TiengViet.pdf
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát - Mañjuśrī Bodhisattva
9 Tháng 11 2012 ·
Nam mô Công Ðức Luân Phật.
Nam mô Thắng Vương Phật.
Nam mô Bất Khả Hàng Phục Phật.
Nam mô Sơn Vương Thọ Phật.
Nam mô Như Thế Cả Thảy Vô Lượng Vô Biên Phật.
Nam mô Ta La Tự Tại vương Phật.
Nam mô Thắng Tạng Phật.
Nam mô Thế Gian Tự tại thân Phật.
Nam mô Kính Tượng Quang Minh Phật.
Nam mô Ðịa Xuất Phật.
Nam mô Quang Minh Công Ðức Phật.
Nam mô Kim Cang Sắc Phật.
Nam mô Trụ Trì Oai Ðức Thắng Phật.
Nam mô Như Thị Ðẳng Vô Lượng Vô Biên Phật.
Nam mô Thâm Pháp Quang Minh Thân Phật.
Nam mô Pháp Hải Hống Thinh Phật.
Nam mô Di Lưu Tràng Thắng Quang Minh Ý Phật.
Nam mô Phạm Quang Phật.
Nam mô Bảo Quang Minh Thắng Phật.
Nam mô Hư Không Thinh Phật.
Nam mô Pháp Giới Kính Tượng Thắng Phật.
Nam mô Luân Quang Minh Phật.
Nam mô Trí Quang Cao Kê Ðâu Ý Phật.
Nam mô Dà Dà Na Ðăng Phật.
Nam mô Lạc Thắng Chiếu Phật.
Nam mô Công Ðức Quang Minh Thắng Phật.
Nam mô Tịch Thắng Phật.
Nam mô Ðại Bi Tốc Tật Phật.
Nam mô Ðịa Lực Quang Minh Ý Phật.
Nam mô Nhứt Thiết Tu Diện Sắc Phật.
Nam mô Thắng Thân Quang Minh Phật.
Nam mô Pháp Thắng Túc Phật.
Nam mô A Ni La Tốc Hành Phật.
Nam mô Thanh Tịnh Tràng Cái Thắng Phật.
Nam mô Tam Thế Kính Tượng Phật.
Nam mô Nguyện Hải Lạc Thuyết Thắng Phật.
Nam mô Tàm Quí Tu Di Sơn Thắng Phật.
Nam mô Pháp Ý Phật.
Nam mô Niệm Kê Ðâu Vương Thắng Phật.
Nam mô Tuệ Ðăng Phật.
Nam mô Quang Minh Kê Ðâu Thắng Phật.
Nam mô Quảng Trí Thượng Phật.
Nam mô Pháp Giới Hạnh Trí Ý Phật.
Nam mô Pháp Hải Ý Trí Thắng Phật.
Nam mô Pháp Bảo Thắng Phật.
Nam mô Công Ðức Luân Phật.
Nam mô Thắng Vân Phật.
Nam mô Nhẫn Nhục Ðăng Phật.
Nam mô Thắng Oai Ðức Ý Phật.
Nam mô Thế Gian Ðăng Phật.
Nam mô Tốc Quang Minh Xa Ma Tha Thinh Phật.
Nam mô Tịch Tràng Phật.
Nam mô Ðại Nguyện Thắng Phật.
Nam mô Bất Khả Hàng Phục Tràng Phật.
Nam mô Trí Diệm Thắng Công Ðức Phật.
Nam mô Pháp Tự Tại Phật.
Nam mô Vô Ngại Ý Phật.
Nam mô Cụ Túc Ý Phật.
Nam mô Thế Gian Ngôn Ngữ Kiên Cố Hống Quang Phật.
Nam mô Nhất Thiết Thinh Phân Hống Thắng Tinh Tấn Tự Tại Phật.
Nam mô Chư Phương Thiên Phật.
Nam mô Hiện Diện Thế Gian Phật.
Nam mô Tri Chúng Sinh Tâm Bình Ðẳng Thân Phật.
Nam mô Hành Phật Hạnh Phật.
Nam mô Tối Thắng Phật.
Nam mô Hạnh Ðẳng Phật.
Nam mô Thanh Tịnh Thân Phật.
Nam mô Thắng Hiền Phật.
Nam mô Như Thị Ðẳng Thượng Thủ Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết Vô Lượng Vô Biên Phật.
Nam mô Bỉ Phật Diệu Pháp Thân Phật.
Nam mô Bỉ Chư Phật Sở Thuyết Diệu Pháp.
Nam mô Bỉ Phật Tam Thập Nhị Tướng Bát Thập Chủng Hảo vô lượng vô biên công đức.
Nam mô các thứ đạo tràng, cây bồ đề, các thứ hình tượng, các thứ tháp mầu, chỗ đi lại ngồi nằm mầu Phật ấy.
Nam mô Ðại Tăng Bồ Tát chẳng thối pháp luân, Tăng Thinh Văn chẳng thối, Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Ba Di, Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, các thứ trạng mạo tin pháp luân Nhưlai, chuyển pháp luân Như Lai, chẳng thể nghĩ bàn Bồ Tát Ma Ha Tát ấy, thảy đều qui mạng.
Nam mô mười sức, bốn không chỗ sợ, bốn trí vô ngại, giới định tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, như thế cả thảy vô lượng vô biên công Đức Phật ấy. Công đức như thế hồi thí tất cả chúng sinh, nguyện đặng A nậu đa la tam miệu tam Bồ Ðề.
Xá Lợi Phất! Qui Mạng:
Nam mô Thiện Nhãn Kiếp Trung, Thất Thập Na Do Tha Phật Xuất Thế.
Nam mô Thiện Kiến Kiếp Trung, Thất Thập Nhị Ức Phật Xuất Thế.
Nam mô Phạm Tán Thán Kiếp Trung, Nhứt Vạn Bát Thiên Phật Xuất Thế.
Nam mô Quá Khứ Kiếp Trung, Tam Thập Tam Thiên Phật Xuất Thế.
Nam mô Trang Nghiêm Kiếp Trung, Bát Vạn Tứ Thiên Phật Xuất Thế.
Nam mô Như Thị Ðẳng Vô Lượng Vô Biên Chư Phật.
Thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn diệt tất cả tội, hãy nên tắm rửa sạch, mặc áo mới sạch, niệm như thế cả thảy hiệu Phật, lễ bái nên nói như vầy: "Tôi từ thế giới vô thỉ đến nay, thân khẩu ý nghiệp, làm hạnh chẳng lành, nhẫn đến báng kinh Kinh Phương Ðẳng, năm tội nghịch..v..v.. nguyện đều thành tiêu diệt".
Xá Lợi Phất! Thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn đầy đủ hạnh Ba la mật, muốn hồi hướng Vô thượng Bồ Ðề, muốn đầy đủ tất cả Ba la mật chư Bồ Tát, hãy nói như vầy:
"Tôi học Bồ Tát Ma Ha Tát quá khứ, vị lai, hiện tại, tu hành xả lớn, mổ ngực xuất tim thí cho chúng sinh chư Bồ Tát Trí Thắng và vua Ca Thi..v..v..
Xả vợ con cả thảy bố thí kẻ nghèo thiếu, như Bồ Tát Bất Thối và vua A Thí La Na, Tu Ðạt Noa và vua Trang Nghiêm..v..v..
Vào trong địa ngục cứu khổ chúng sinh, như Bồ Tát Ðại Bi và Thiên Tử Thiện Nhãn..v..v..
Cứu chúng sinh ác hạnh, như Bồ Tát Thiện Hạnh và vua Thắng Hạnh..v..v..
Xả mão trời báu trên đảnh và lột da đầu mà cho, như Bồ Tát Thắng Thượng Thânvà Thiên Tử Bảo Kế..v..v..
Xả mắt bố thí, như Bồ Tát Ái Tác và vua Nguyệt Quang ..v..v..
Xả tai mũi, như Bồ Tát Vô Oán và Thiên Tử Thắng Khứ ..v..v..
Xả răng bố thí, như Bồ Tát Hoa Xỉ va vua tượng sáu ngà ..v..v..
Xả lưỡi bố thí, như Bồ Tát Bất Thối và vua Thiện Diện ..v..v..
Xả tay bố thí, như Bồ Tát Thường Tinh Tấn và vua Kiên Ý ..v..v..
Xả máu không hối, như Bồ Tát Pháp Tác và Thiên Tử Nguyệt Tư ..v..v..
Xả thịt và tủy, như Bồ Tát An Ổn và vua Nhất Thiết Thí ..v..v..
Xả ruột lớn ruột nhỏ, gan phổi tì thận, như Bồ Tát Thiện Ðức và vua Tự Viễn Ly Chư Ác ..v..v..
Xả lóng đốt thân, tất cả lớn nhỏ, như Bồ Tát Pháp Tự Tại và Thiên Tử Quang Thắng ..v..v..
Xả da thứa thân (*), như Bồ Tát Thanh Tịnh Tạng và Thiên Tử Kim Sắc nai chúaKim Sắc ..v..v..
Xả ngón tay chân, như Bồ Tát Kiên Tinh Tấn và vua Kim Sắc ..v..v..
Xả móng tay chân, như Bồ Tát Bất Khả Tận và Thiên Tử cầu Pháp Lành ..v..v..
Vì cớ cầu pháp, vào hầm lửa lớn, như Bồ Tát Tinh Tấn và vua cầu pháp mầu Tinh Tấn ..v..v..
Vì cớ cầu pháp, bán thân khoét tâm, chẻ xương, xuất tủy như Bồ Tát Tát Ðà Ba ôn và vua Kim Kiên ..v..v..
Chịu tất cả khổ não, như Bồ Tát Cầu Pháp Mầu (cầu diệu pháp) và Ðạ Vương Tốc hành..v...v..
Xả đại địa bốn thiên hạ và tất cả trang nghiêm như Bồ Tát Ðắc Ðại Thế Chí và Thiên Tử Thắng Công Ðức Nguyệt ..v..v..
Xả thân như Bồ Tát Ma Ha Tát Ðỏa và vua Ma Ha Bà La ..v..v..
Xả thân cho tất cả chúng sinh bần cùng khổ não làm kẻ hầu cấp sử, như vua Thi Tỳ ..v..v..
Tóm lại mà nói: Tất cả hạnh nguyện Ba La Mật chư Bồ Tát quá khứ, vị lai, hiện tại, con cũng thành tựu như thế..v..v..
Các tràng hoa hương mầu,các kỹ nhạc mầu , mười phương thế giới, tôi mừng theo cúng dường Phật, Pháp, Tăng, lại hồi phước đức ấy các chúng sinh cả thảy chẳng đọa đường dữ, nhân phước đức ấy đầy đủ tám muôn bốn ngàn các hạnh Ba La Mật mau đặng thọ ký A nậu đa la tam miệu tam Bồ Ðề mau đặng địa lớn chẳng thối chuyển, mau thành Vô Thượng Bồ Ðề.
Xá Lợi Phất! Hãy nên kỉnh lễ mười phương chư Phật.
Nam mô Bất Ðộng Phật.
Nam mô Tận Thánh Phật.
Nam mô Nhựt Quang Phật.
Nam mô Long Phấn Tấn Phật.
Nam mô Tự Tại Quang Minh Xưng Phật.
Nam mô Thập Quang Phật.
Nam mô Phổ Bảo Phật.
Nam mô Xưng Tự Tại Phật.
Nam mô Thắng Tạng Xưng Phật.
Nam mô Diệm Ý Phật.
Nam mô Bảo Tràng Phật.
Nam mô Trí Sơn Phật.
Nam mô Nhân Quang Phật.
Nam mô Sinh Thắng Phật.
Nam mô Di Lưu Tạng Phật.
Nam mô Trí Hải Phật.
Nam mô Ðại Tinh Tấn Phật.
Nam mô Di Lưu Công Ðức Phật.
Nam mô Thắng Tạng Phật.
Nam mô Trí Ðức Phật.
Nam mô Năng Dữ Vô Úy Phật.
Ðem nhân duyên công đức lễ Phật nay, nguyện đặng thân trang nghiêm của trăm phước tướng tốt tròn đầy...(1 lạy)
Pháp thân chư Phật, tốt theo hình, đầu như trái ma đà nacon và chúng sinh nguyện đều thành tựu...(1 lạy)
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lạy)
TÁN
Mười phương thế giới. Ba đời Năng Nhân.
Tiếng bi cứu vật diễn hồng danh.
Ðêm dài giác mê tình. Ba nghiệp gieo thành.
Tướng tốt nguyện nghiêm thân.
Nam mô Thiện Tuệ Ðịa Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
https://www.facebook.com/VanThuSuLoi...70368073050103
Thần Chú "Om Tare Tuttare Ture Soha"
Công khai · Tổ chức bởi Suối Nguồn Từ Bi
Quan tâm
clock
27 Tháng 8 2013 vào 0:00 UTC+07
Hơn 1 năm trước
pin
Hanoi, Ha Noi
Giới thiệu
Thảo luận
15 người đã tham gia · 6 người quan tâm
Chia sẻ sự kiện này với bạn bè
Chi tiết
Tán Dương 21 đức Quan Âm Tara
Thỉnh Phật
Kính lạy đức Quan Âm Tara,
Từ cõi Phổ đà la thanh tịnh,
Sinh ra từ chủng tự TAM màu xanh lá,
Với đức Phật A Di Đà trụ trên đảnh,
Hành trạng vi diệu, Mẹ của chư Phật ba thời,
Kính xin đức Quan Âm Tara cùng chư vị tùy tùng
Hãy cùng về thị hiện nơi đây.
Đảnh lễ
Chư Thiên thiện Thần đều cúi đầu đảnh lễ
Dưới gót chân sen của đức Phật bà;
Bậc cứu độ mọi loài thoát cảnh trầm luân;
Đối trước Phật Mẫu Quan Âm Tara,
Con chí thành đảnh lễ.
Tán Dương
OM - Kính lạy đấng đại cứu độ Quan Âm Tara tôn kính
Kính lạy đức Tara,
bậc đại hùng thần tốc,
Ánh mắt như tia chớp
đản sinh từ nhụy sen
Trổ từ giọt nước mắt
của Quan Âm Đại Sĩ,
Là đấng đại cứu độ
của cả ba thế giới.
Kính lạy đức Tara,
khuôn mặt ngài tròn đầy
Như trăm vầng trăng thu
Tỏa rạng ngời ánh sáng
Của ngàn vạn thiên hà.
Kính lạy đức Tara,
đản sinh từ nhụy sen
màu vàng tỏa ánh biếc
Tay trang nghiêm sen quí,
Bố thí và tinh tấn,
cùng tĩnh lự, tịnh giới,
Và an nhẫn, tu thiền,
là cảnh giới của ngài.
Kính lạy đức Tara.
là mũ miện cao quí
Của mười phương Phật đà.
Hàng phục vô lượng ma,
Viên mãn hạnh toàn hảo,
ngài là chốn nương dựa,
Của tất cả người con
của chư Phật Thế tôn.
Kính lạy đức Tara.
Hai chủng tự nhiệm mầu
TUTTARA và HUM
Ngài rót đầy ba cõi,
Dục, Sắc và Vô Sắc,
Đạp rung bảy thế giới,
Nhiếp thọ khắp chúng sinh.
Kính lạy đức Tara,
là bậc mà chư Thiên:
Đế Thích, Tích Lịch Thiên
Phạm Thiên, Phong Lôi Thần,
và các bậc Đế Thiên,
đều hết lòng sùng kính;
Cùng tất cả quỉ thần:
Khởi thi, Càn thát bà,
Và cả loài Dạ xoa,
đều hết lòng tôn vinh.
Kính lạy đức Tara.
Với âm TRAT và PHAT
Ngài phá hủy toàn bộ
mọi luân xa huyền thuật.
Đôi chân ngài nhấn xuống,
với chân phải co lại
và chân trái duỗi ra,
Trong muôn trùng lửa xoáy.
Kính lạy đức Tara,
Là đấng đại uy đức,
Với chủng tự TURE
diệt đội quân Ma vương.
Và gương mặt đóa sen
đầy oai thần phẫn nộ,
Ngài quét sạch thù địch,
không chừa sót một ai.
Kính lạy đức Tara,
tay trang nghiêm nơi tim
Mang ấn kiết Tam Bảo
tối thượng và tôn quí
Cùng pháp luân trang nghiêm,
thân phóng toàn ánh sáng
Chiếu tỏa khắp mười phương.
Kính lạy đức Tara.
Đỉnh đầu ngài tỏa rạng
Nguồn ánh sáng tươi vui.
Tiếng cười TUTTARA
Nở dòn tan rộn rã,
thu phục hết toàn bộ
Ma vương cùng Thiên vương.
Kính lạy đức Tara.
Ngài triệu thỉnh tất cả
Chư hộ thần sở tại
Chủng tự HUM oai nộ,
rung chuyển toàn thế giới,
Cứu vớt khắp chúng sinh
thoát mọi cảnh bần cùng.
Kính lạy đức Tara,
đỉnh đầu ngài trang nghiêm
Vầng trăng sắp độ rằm
đính ngọc châu sáng chói.
Từ trong lọn tóc ngài
có Phật A Di Đà
Phóng tỏa hào quang lớn
sáng vô lượng vô biên.
Kính lạy đức Tara.
Giữa biển lửa cháy rực
Sánh bằng lửa hoại kiếp,
ngài an định tự tại
Với chân phải đưa ra
và chân trái thu vào
hoan hỉ chúng đệ tử,
Ngài diệt trừ hết thảy
mọi đội quân thù nghịch.
Kính lạy đức Tara.
Với ánh mắt oai thần
Bàn tay vỗ mặt đất
và bàn chân trấn đạp
Cùng với chủng tự HUM
Ngài chinh phục bảy địa.
Kính lạy đức Tara,
bậc đại hỉ đại đức
Là cảnh giới đại lạc
của niềm vui niết bàn.
Với SVAHA và OM
Ngài chiến thắng toàn bộ
mọi tà ma ác quỉ.
Kính lạy đức Tara,
với chúng tăng hỉ lạc
Xé tan mọi sắc tướng
của thân xác kẻ thù.
Mười chủng tự trang điểm
lời nói ngài mầu nhiệm
HUM, chủng tự trí tuệ,
phổ độ khắp chúng sinh.
Kính lạy đức Tara.
Ngài dậm chân mặt đất
.và tuyên ngôn: TURE !
Chủng tự mang sắc HUM
Làm chấn động rung chuyển
cả ba tầng thế giới,
Cùng ba ngọn núi lớn
Tu Di, Man-da-ra,
và núi Vin-dhy-a.
Kính lạy đức Tara.
trên tay là vầng trăng
In bóng hình ngọc thỏ
tựa biển hồ cõi thiên.
Hai lần âm TARA
cùng với chủng tự PHAT
Ngài khiến cho tất cả
mọi chất độc tiêu tan.
Kính lạy đức Tara,
là nơi chốn nương dựa
Của tất cả Thiên Vương,
chư Thiên, Khẩn Na la;
Khoát áo giáp lộng lẫy
mang niềm vui trong sáng
đến cho khắp mọi loài,
Phá tan mọi ác mộng
cùng với mọi chấp tranh.
Kính lạy đức Tara.
Với đôi mắt Nhật Nguyệt
Tỏa ánh sáng rạng ngời,
ngài tuyên ngôn hai lần
Âm HARA và âm
TUTTARA mầu nhiệm
Diệt tan bịnh truyền nhiễm.
Kính lạy đức Tara,
trong sáng tam chân như
Sung mãn lực tự tại
Dẹp tan loài ác quỉ
La sát và Dạ xoa.
Trước TURE tuyệt bậc
con chí thành đảnh lễ.
Vậy đây là hăm mốt
lời đảnh lễ tán dương
Đức Quan Âm Tara
cùng chân ngôn của ngài.
Tán Dương 21 đức Quan Âm Tara (bản ngắn)
Để giúp mau chóng gom tụ bồ tư lương phước đức, đức Quan Âm Tara đích thân truyền bài nhất cú này cho thầy Jowo Atisha tôn kính.
Om- Chúng con kính lạy / bậc đại giải thoát / Quan Âm Tara
Tán dương TARE, / là bậc đại hùng,
Với TUTTARA / phá tan sợ hãi,
Ban mọi lợi lạc / cùng với TURE,
Đối trước SVAHA / chúng con đảnh lễ.
Minh Chú Chân Ngôn Quan Âm Tara
OM TARE TUTTARE TURE SVAHA
https://www.facebook.com/events/601511959893820/
藏傳佛教修法灌頂居家供養獻八供手 示圖
傳在藏傳佛教的修法中,最常使用獻 供的手印。透過八供的手印,出現無 珍奇的供養,來獻供給所有十方諸佛 菩薩及本尊。
供養一般是指以飲食、臥具、湯藥, 是花、香、瓔珞、塗香、伎樂等莊嚴 品,供養佛菩薩及聖眾,而在普賢十 大行願中,亦有“廣修供養”一項。 密宗亦是七支行願中的一支。
我們以眼、耳、鼻、舌、身、意所愉 之物來供養諸佛菩薩,雖然諸佛聖 眾 並不需要這些供養,但是,為 了增長眾生的福德,故接受供養。
供養除了上供諸佛外,並且也下施六 眾生。
在藏傳佛教以水(聖眾洗足水)、飲 (閼伽水),花、香、燈、塗香、果 樂等八供來獻供。
八供表義:1、事——結手印。2、 ——八功德水。3、智——八風不動 亦解釋作:二水——功德文。花—— 佈施。香——持戒。燈——忍辱。塗 ——勤——精進。食——禪定。樂— 慧——般若。
此八供在了義上,分別代表以下的意 :
水:自性三昧水,遠離一切雜染清淨
食水:八功德水,具足一切功德。
花:自心所流露的真華,心華開發, 光徧顯。
香:自性真香,時時以三昧火燃正法 香。
燈:正覺心燈,以智慧火燃體性燈, 念返聞,心燈常明照。
塗香:本淨之香,由裹溢表,芬芳浸 法界。
果:表無上佛果,發廣大菩提心自覺 他,成證圓滿佛果。
樂:以上妙音樂供養聖眾,發願成就 陀的清淨微妙離垢妙音,為眾生演說 法,樂說無盡。
https://6.share.photo.xuite.net/khen...48866510_m.jpg
修法灌頂獻曼達手印
獻八供手印
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48864292_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866570_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866655_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866745_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866764_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866802_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866815_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866886_m.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...48866939_m.jpg
http://blog.xuite.net/khentrulven/az...89%8B%E5%8D%B0
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...4279446134.jpg
3、虛空藏菩薩,為藏福德於虛無限 界之意,表示氣福可以無限生產和分 的可能性。在胎藏界曼荼羅中,虛空 藏菩薩是虛空藏院的主尊。東密虛空 菩薩求聞持聰明法觀想本尊形像,菩 全身為金色,相貌莊嚴,頭戴五佛寶 冠,在蓮花上半跏坐,容顏妙而怡喜 ,左手執白色蓮花,花上有如意寶珠 發出黃色光芒,右手結與願印,五指 垂下,將手掌向外。
原文網址:https://read01.com/eJg7xE.html
-----
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...4236314447.jpg
5、普賢菩薩,是騎白象行願的菩薩 印度古語的普賢稱「三曼多拔陀羅」 密宗亦稱普賢為善攝金剛、真如金剛 、如意金剛,還視為金剛薩同體。在 像上,普賢乘白象侍佛之右;文殊駕 子侍佛之左。據說普賢菩薩掌管諸佛 的理德、定德、行德;文殊菩薩則掌 諸佛的智德與證德。一般把普賢菩薩 為祈求延命的本尊。普賢單獨造像通 常騎六牙之白象,頭戴五佛冠,形如 月童子。
原文網址:https://read01.com/eJg7xE.html
https://read01.com/zh-tw/eJg7xE.html#.WjXsgm-LSUk
----
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...42486c6b6e.jpg
7、除蓋障菩薩。其德行為消除所有 切煩惱之障礙,為胎藏界曼荼除蓋障 之中尊,也是金剛界曼荼羅賢劫十六 尊之一。
原文網址:https://read01.com/eJg7xE.html
=======
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...9c9fe8a880.jpg
藥師灌頂真言之略探
( https://wangmu68.wordpress.com/2017/...5%A5%E6%8E%A2/ )
https://wangmu68.wordpress.com/2017/...5%A5%E6%8E%A2/
https://www.dharmazen.org/X1Chinese/D24Bible/E9-170.htm
https://read01.com/zh-tw/eJg7xE.html#.WjXsgm-LSUk
The Mantra Of Dharanimdhara:- Namaḥ Samantabuddhanam, Ṅam.(Homage To All Buddhas! Ṅam!)
Namaḥ Samantabuddhanam, Dharanimdhara Svaha
. (Homage To All Buddhas! O You Who Support The Earth! Svaha!)
Namaḥ Samantabuddhanam, Abhayamdada Svaha
. (Homage To All Buddhas! O You Who Bestow Fearlessness! Svaha!)
Namaḥ Samantabuddhanam, Jñanodbhava Svaha.
(Homage To All Buddhas! O You Who Have Risen From Knowledge! Svaha!)
https://vi.scribd.com/document/19624...d-Bodhisattvas
The Mantra Of Avalokitesvara:-
Namaḥ Samantabuddhanam, Saḥ.
(Homage To All Buddhas! Saḥ!)
The Mantra Of Vajrapani:- Namaḥ Samantavajranam, Vaḥ.
(Homage To All Vajras! Vaḥ!)
The Mantra Of Mañjusri:- Namaḥ Samantabuddhanam, Mam.
(Homage To All Buddhas! Mam!)
https://vi.scribd.com/document/19624...d-Bodhisattvas
Vô Lượng Thọ Phật Đà Ra Ni
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled0d4fd.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itledef3d2.png
( https://vi.scribd.com/document/19624...d-Bodhisattvas / https://www.wisdomcompassion.org/amitayusdharani )
==========
Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni
(Tên Phạn: Amitāyus Buddha) (Tên Tây Tạng: Tsepakmé: ཚེ་དཔག་མེད་)
Phật Vô Lượng Thọ là báo thân của Phật A Di Đà. Nhằm tăng tuổi thọ, phước báu và trí tuệ, đặc biệt là dẹp những chướng ngại của cái chết bất đắc kì tử.
Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni bằng chữ Tây Tạng và tiếng Phạn:
ༀ་ན༌མོ་བྷ༌ག་ཝ༌ཏེ། ཨ་པ༌རི་མི་ཏ་ཨཱ་ཡ ་རྫྙཱ་ན༌སུ་བི༌ནི ཤྩི༌ཏ་ཏེ༌ཛོ་རཱ་ཛ ཱ་ཡ།
ཏ་ཐཱ་ག༌ཏཱ་ཡ། ཨརྷཏེ་སམྱཀྶཾཾ་བུ དྡྷཱ་ཡ། ཏ༌དྱ༌ཐཱ།
ༀ་པུཎྱེ༌པུཎྱེ༌མ༌ ཱ༌པུཎྱེ། ཨ་པ༌རི་མི་ཏ་པུཎྱ ༌ ཨ་པ༌རི་མི་ཏ་པུཎྱ ༌ཛྙཱ༌ན༌སམྦྷཱ༌རོ་ ་ཙིཏེ།
ༀ་སརྦ་སཾསྐཱ་ར་པ་ ི་ཤུ་དྡྷ་དྷརྨ་ཏེ་ག ག་ན༌ས༌མུདྒ༌ཏེ༌
སྭཱ༌བྷཱ༌ཝ༌བི༌ཤུདྡྷ ༌མ༌ཧཱ༌ན༌ཡ༌པི༌ཪི༌ ༌ཪེ༌སྭཱཧཱ༎
ༀ་ན༌མོ་བྷ༌ག་ཝ༌ཏེ། ཨ་པ༌རི་མི་ཏ་ཨཱ་ཡ ་རྫྙཱ་ན༌སུ་བི༌ནི ཤྩི༌ཏ་ཏེ༌ཛོ་རཱ་ཛ ཱ་ཡ།
Namo Bhagavate Aparimitāyurjñānasuviniścitatejorājāya
ཏ་ཐཱ་ག༌ཏཱ་ཡ། ཨརྷཏེ་སམྱཀྶཾཾ་བུ དྡྷཱ་ཡ། ཏ༌དྱ༌ཐཱ།
Tathāgatāyārhate Samyaksaṃbuddhāya,Tadyathā:
ༀ་པུཎྱེ༌པུཎྱེ༌མ༌ ཱ༌པུཎྱེ། ཨ་པ༌རི་མི་ཏ་པུཎྱ ༌ ཨ་པ༌རི་མི་ཏ་པུཎྱ ༌ཛྙཱ༌ན༌སམྦྷཱ༌རོ་ ་ཙིཏེ།
Oṃ Puṇya Puṇya Mahāpuṇya Aparimitapuṇya Aparimitāyuḥ Puṇyajñānasambhāropacite,
ༀ་སརྦ་སཾསྐཱ་ར་པ་ ི་ཤུ་དྡྷ་དྷརྨ་ཏེ་ག ག་ན༌ས༌མུདྒ༌ཏེ༌
Oṃ Sarvasaṃskārapariśuddhadharmate
Gagaṇasamudgate
སྭཱ༌བྷཱ༌ཝ༌བི༌ཤུདྡྷ ༌མ༌ཧཱ༌ན༌ཡ༌པི༌ཪི༌ ༌ཪེ༌སྭཱཧཱ༎
Svabhāvaviśuddhe Mahānayaparivāre Svāhā
Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni bằng tiếng Phạn:
Namo Bhagavate Aparimitāyurjñānasuviniścitatejorājāya Tathāgatāyārhate Samyaksaṃbuddhāya, Tadyathā: Oṃ Puṇya Puṇya Mahāpuṇya Aparimitapuṇya Aparimitāyuḥ Puṇyajñānasambhāropacite, Oṃ Sarvasaṃskārapariśuddhadharmate Gagaṇasamudgate Svabhāvaviśuddhe Mahānayaparivāre Svāhā
Phiên Âm Việt:
Nam Mô, Ba Ga Vá Tê, O Pa Rì Mít Tà, Ây Da, Trà Na, Su Vì Nit Tri Tha, Thề Trô, Rà Trà Gia, Thát Thà Gà Tà Dà, Oa Há Tề, Săm Dắt Giác Săm Bu Đà Da, Thát Dà Tha, Ốm, Pun Gia, Pun Gia, Ma Ha, Pun Gia, O Pa Rì Mít Ta, Pun Gia, O Pa Rì Mít Thà Du, Pun Gia, Trà Na, Săm Bá Rô Pa Tri Thê, Ốm, Soa Và, Săm Kha Ra, Poa Rí Sút Đà, Đoa Mát Thề, Gà Ga Nà, Săm Mút Gà Tê, Soà Ba Và, Vì Sút Để, Ma Ha, Nà Giả Poa Rí Va Rì, Sô Hà
Toàn bài Đà Ra Ni trên có thể diễn dịch là:
“Quy mệnh kính lễ Đức Thế Tôn Vô Lượng Thọ Trí Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác.
Như vậy: OM
Tất cả hoạt động Tâm Ý đều là Pháp Tính cực thanh tịnh. Thanh tịnh như Tự Tính thắng thượng của Hư Không. Hãy phát khởi Thắng Nguyện rộng lớn để mau chóng đạt được sự an lạc thanh tịnh của Đại Niết Bàn”.
Thần chú ngắn bằng chữ Phạn và Tây Tạng:
ॐ अमरणि जीवन्तये स्वाहा ॥
ༀ་ཨ་མ་ར་ཎི་ཛི་ཝན ་ཡེ་སྭཱཧཱ༎
Oṃ Amaraṇi Jivanatiye Svāhā
Phiên Âm Việt:
Ôm, Ê Moa Ra Ni, Tri Van Na Ti Dê, Sô Hà
Vô Lượng Thọ Phật: Amitāyus Buddha
Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni - Tâm Tịnh
00:17 / 00:57
Thần chú Vô Lượng Thọ Phật - Tâm Tịnh
00:00 / 00:05
Kinh Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai ghi rằng: “Nếu có chúng sinh được thấy Đà La Ni này với nghe danh hiệu mà chí tâm viết chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, lễ bái thời người đoản thọ lại tăng thêm trường thọ, sống đủ trăm tuổi.
Nếu lại có người, hoặc tự mình viết hoặc dạy người viết thời sau này chẳng bị rơi vào Địa Ngục, Quỷ đói, súc sinh, cõi Diêm La Vương, Nghiệp Đạo Minh Quan... vĩnh viễn chẳng ở trong các nẻo ác đó chịu quả báo ác ấy.
Nếu viết Chú này liền đồng với viết chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng, liền đồng với việc tu sửa tám vạn bốn ngàn cái Tháp báu.
Nếu có nghiệp Địa Ngục thuộc năm tội Vô Gián. Do sức công đức đó cho nên nhóm nghiệp chướng ấy thảy đều tiêu diệt. Lúc lâm chung thời 99 câu chi Phật hiện ngay trước mặt đến nghênh đón người đó vãng sinh ở trong quốc độ Phật ấy.
Lại viết Chú này thì sau này vĩnh viễn chẳng thọ nhận thân nữ, hàng Tứ Thiên Vương âm thầm hộ vệ.
Nếu nghe Chú này, vĩnh viễn chẳng thọ nhận thân của nhóm chim bay, loài có bốn chân, loài có nhiều chân...mau thành Vô Thượng Bồ Đề.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói Già Đà (Gāthā: Kệ) đó là
Nếu vào trong tinh thất Đại Bi
Tai tạm nghe qua Đà La Ni
Giả sử sáu Độ chưa viên mãn
Người đó mau chứng Thiên Nhân Sư.
https://www.wisdomcompassion.org/voluongtho
Amitayus Root Dharani
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled424a1.png
无量寿如来根本陀罗尼(拔一切轻重 障得生净土陀罗尼)
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...yRaeH2f690.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...BwTDwbe690.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itledb00ef.png
( http://blog.sina.com.cn/s/blog_68b99b210102w8qx.html / https://vi.scribd.com/document/19624...d-Bodhisattvas )
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled68483.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled53403.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled02b7d.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled1ad81.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itledd6526.png
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled296b2.png
( https://vi.scribd.com/document/19624...d-Bodhisattvas )
藥師琉璃光如來消災除難念誦儀軌
【 唐-一行撰版 】
佛部心真言【 誦七遍 】
Om, jina jik svaha.
蓮華部心真言【 誦七遍 】
Om, a-lolik svaha.
金剛部心真言【 誦七遍 】
Om, vajra-dhrk svaha.
被甲真言【 誦五遍 】
Om, bhu jvala-teja hum.
轉雜染所成凈妙佛土真言【 誦七遍 】
Om, bhu kham.
迎請真言【 誦三遍 】
Om, jina jik ehyehi bhagavatosnisaya svaha.
獻閼伽水真言【 誦七遍 】
Namah samanta buddhanam. Om, gagana samasama svaha.
獻蓮華師子座真言
Om, kamala-simha asana svaha.
普供養真言【 誦三遍 】
Namah samanta buddhanam. Sarvatha kham ud-gate sphara heman gaganakam svaha.
佛大慈護真言【 誦四遍 】
Om, buddha maitri vajra raksa mam.
佛眼根本真言【 誦五遍 】
Namo bhagavatosnisaya. Om, ru ru sphuru jvala tisthat siddha locane sarva-artha-sadhane svaha.
藥師如來根本真言【 誦七遍至百零八遍 】
Namo bhagavate bhaisajya-guru-vaidurya-prabha-rajaya tathagataya arhate samyak-sambuddhaya. Tadyatha, om, bhaisajye bhaisajye bhaisajya-samudgate svaha.
加持數珠真言【 誦一百零八遍或一萬八千遍 】
Om, vajra-guhya-japa samaye hum.
十二藥叉真言【 誦四十九遍 】
Namo ratna-trayaya. Namah kumbhira vajra mekhala antira anila shantila indra pajra bahula candra catura vi-karaya. Namo bhagavate bhaisajya-guru-vaidurya-prabha-rajaya tathagataya arhate samyak-sambuddhaya. Tadyatha, om, bhaisajye bhaisajye bhaisajya- samudgate svaha.
奉送諸聖眾真言【 誦三遍 】
Om, jina jik gaccha gaccha bhagavatosnisaya svaha.
轉譯自:
《藥師琉璃光如來消災除難念誦儀軌 (一卷)-唐-一行撰。《大正新修 藏經》第十九卷密教部二第二零至二 二頁。藏經編號 No. 922.
( Transliterated on 13/7/2008 from volume 19th serial No. 922 of the Taisho Tripitaka by Mr. Chua Boon Tuan (蔡文端) of Rawang Buddhist Association (萬撓佛教會). 8, Jalan Maxwell, 48000 Rawang, Selangor, West Malaysia. )
R. B. A. Tel : 603-60917215 [ Saturday after 10.30 p.m. ]
Residence : 603-60932563 [ Monday to Sunday after 9.30 a.m. ]
Handphone : 6016-6795961. E-mail : chuaboontuan@hotmail.com
讀者如想知所念誦之陀羅尼可獲得的 益或修法,請參考密部大藏經。大藏 可在網上下載,其網址為:http://www.cbeta.org/
萬撓佛教會網址:http://www.dharanipitaka.net
注:有關咒語的讀音问题請安裝Skype軟 件用免费互聯網電話聯繫, 我的Skype名為 : chua.boon.tuan
https://cn.cari.com.my/forum.php?mod...age%3D1&page=2
DÒNG MẬT PHÁP VAJRAPANI
KIM CANG A-XÀ-LÊ
CÙNG NHÓM KIM CANG TỬ ĐỜI CHỮ NHẬT Thực Hiện
MẬT PHÁP DIỆU PHÁP:
CHÚ ĐẠI BI _ PHẦN 02: NGHI QUỸ CÔNG PHU NIỆM TỤNG THỌ TRÌ
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled5425c.png
( http://www.vajrapani.com/wp-content/...pdf-261216.pdf / http://www.vajrapani.com/mat-giao/ma...-tung-tho-tri/)
https://www.youtube.com/watch?v=OvykKVqH9MQ
CÂU CHUYỆN ĐẦY CẢM HỨNG VỀ LÒNG TIN CỦA NGÀI CHANDRAGOMIN VỚI ĐỨC TARA
Có một câu chuyện rất tuyệt vời về Đức Tara và đạo sư Ấn Độ vĩ đại, Ngài Chandragomin, vị đã giảng dạy ở Tu viện Nalanda vào thời cổ. Ngài là một học giả nổi tiếng, nhưng rất khiêm tốn và rất nghèo. Ngài chỉ sở hữu y áo, bát và bản văn Bát nhã Ba-la-mật. Ngày nọ, một bà lão ăn xin đến gặp Ngài trong nước mắt, xin Ngài một vài món đồ để bà có thể cho cô con gái sắp đi lấy chồng. Không có thứ gì giá trị, Chandragomin bắt đầu khóc. Ngài cầu nguyện đến bức hình Đức Tara vẽ trên tường trong phòng. Bức hình nhanh chóng trở thành người thật, cởi bỏ những quần áo lụa là và trang sức vàng bạc ra và đưa chúng cho Ngài để Ngài tặng cho con gái của bà lão ăn xin. Bức tranh này sau đó trở lại bức tường của Ngài và sau đó được biết tới là Tara Trần Trụi.
~ Đức Khenchen Palden Sherab Rinpoche và Đức Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche
Ảnh: Bạch độ mẫu Tara
www.vietrigpaoezer.org
==========
BẤT CỨ KHI NÀO CON CẢM THẤY ĐAU ĐỚN VÀ KHÓ KHĂN CON HÃY NHẤT TÂM NGHĨ ĐẾN ĐỨC TARA
Con phải nghĩ rằng sự khổ đau của chính con khá là bé nhỏ so với sự khổ đau của biết bao chúng sinh khác. Chẳng hạn như khi thầy ở trong lao tù trong suốt hai mươi năm – con có thể xem việc này là một vấn nạn – nhưng thầy chẳng phút giây nào nghĩ đến lúc mình được phóng thích. Thầy chỉ hành trì pháp Tara ngày qua ngày, chẳng hề nghĩ đến việc tự sát và thật sự cảm thấy rất hạnh phúc trong tâm.
Nếu con muốn thoát khổ thì con phải thay đổi tâm thức, chứ không phải là thân xác của con. Hãy khấn nguyện đức Tara mọi lúc và tụng chú của ngài để con không bao giờ quên ngài. Rồi thầy sẽ có thể giúp con vì thầy luôn hành trì pháp Tara. Mỗi khi nào con cảm thấy đau đớn và khó khăn, hãy nhất tâm nghĩ đến đức Tara.
~ Đức Garchen Rinpoche
Ảnh: Đức Lục Độ Mẫu
www.vietrigpamila.org
=======
HÃY ĐẶT TRỌN NIỀM TIN VÀO ĐỘ MẪU TARA BẠN SẼ NHẬN ĐƯỢC SỰ HƯỚNG ĐẠO VÀ MỌI VẤN ĐỀ SẼ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
Nếu đặt trọn niềm tin cậy vào Độ Mẫu Tara, bạn sẽ nhận được sự hướng đạo mà bạn cần và mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết, đặc biệt là những vấn đề liên hệ với một trong hai mươi mốt vị Độ Mẫu Tara, mỗi vị thị hiện để xử lý những vấn đề chuyên biệt. Vì vậy, mỗi vị trong chư vị Độ Mẫu Tara đều tồn tại vị Phật.
~ Đức Lama Zopa Rinpoche
Ảnh: Đức Bạch Độ Mẫu
www.vietrigpadzambala.org
======
CẦU NGUYỆN TỚI 21 ĐỘ MẪU TARA MỖI NGÀY ĐỂ THÀNH TỰU MỌI MONG CẦU
Hai mươi mốt hóa thân Tara tượng trưng cho hai mươi mốt hạnh nguyện, phù hợp với các mong cầu khác nhau của chúng sinh, giúp chúng sinh thành tựu tu tập và bảo hộ họ khỏi tai nạn nguy hiểm. Những ai có thể hành trì ba lần hoặc bảy lần cầu nguyện đến 21 Độ Mẫu mỗi ngày thì mọi mong nguyện rất dễ thành tựu, mọi chướng ngại sẽ dễ vượt qua.
~ Trích Pháp tu trì lục Độ Phật mẫu Tara và những lợi ích
www.vietrigpamani.org
============
KHI NIỆM DANH HIỆU ĐỨC TARA THÌ MỌI ƯỚC NGUYỆN CHÚNG SINH ĐỀU ĐƯỢC VIÊN MÃN
Đức Tara phát nguyện rằng bất kỳ người nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì tất cả những ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng được viên mãn.
Đức Tara nhìn thấy nỗi khổ của luân hồi vì mong nguyện thế gian của chúng sinh không được như ý, Ngài liền phát nguyện có đầy đủ năng lực giúp họ viên mãn được mọi sở cầu thế gian và dần giúp họ giác ngộ về chân lý tuyệt đối. Nếu biết thực hành nghi quỹ Tara một cách đúng đắn với Bồ Đề Tâm chân thật vì lợi ích giác ngộ cho hết thảy khổ não chúng sinh thì tất cả những gì mà chúng ta mong nguyện tự lợi lợi tha đều thành tựu.
Ảnh: Đức Lục Độ Mẫu Tara
www.vietrigpasangha.org
https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...57596872_n.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/17/kl.jpg
( https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/ )
ĐỨC BẠCH ĐỘ MẪU LÀ HOÁ THÂN CỦA ĐỨC PHẬT TRƯỜNG THỌ - AMITAYUS
Đức Bạch Độ Mẫu là hóa thân của Đức Phật Amitayus, Đức Phật Trường Thọ. Ngài có khả năng ban những năng lượng cụ thể về những hoạt động, những thiện hạnh. Nếu chúng ta sống trường thọ, sống lâu mà lại không làm được gì, không hoạt động, không làm lợi ích được cho cuộc đời, cho xã hội thì cuộc sống ấy không có ý nghĩa.
Bởi vậy khi chúng ta sống trường thọ và có sự gia trì của Đức Bạch Độ Mẫu, chúng ta sống ngày nào, sống giờ nào đều có thể có những hoạt động đem lại lợi ích cho cuộc đời, cho chúng sinh và cho thế giới. Là Báo thân của đức Phật Trường Thọ nên Ngài còn có khả năng ban năng lượng đặc biệt về tuổi thọ, Ngài còn hiện thân trong hình tướng của Báo thân.
~ Đức Gyalwang Drukpa XII
Ảnh: Đức Bạch Độ Mẫu
www.vietrigpa.org
=====
THỰC HÀNH PHÁP TU ĐỨC BẠCH ĐỘ MẪU BẰNG CÁCH BỐ THÍ VÀ PHÓNG SINH
Thực hành pháp tu về Đức Bạch Độ Mẫu, chúng ta cần hộ trì, bố thí như bảo vệ mạng sống, phóng sinh, cứu khổ. Đối với những người bệnh nhân, những người đau ốm chúng ta trợ giúp về thuốc men, hỗ trợ các phương pháp giúp cho họ sống khỏe, sống hạnh phúc. Tất cả những thứ đó là nhân, là hạt giống giúp cho chúng ta có thể đạt đến sức khỏe và trường thọ cho bản thân mình.
Sống trên cuộc đời này nếu ta không làm được gì lợi ích cho ai, không làm được gì để lợi ích cho xã hội, cho cộng đồng thì có lẽ cuộc sống ấy chẳng có giá trị gì. Bởi vậy, sống có ý nghĩa là kèm theo hành động. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta gắn liền kiếp sống, sự tồn tại của mình với những hành động lợi ích thiện hạnh cho tha nhân, đem lại sự bình an sức khỏe cho mọi người thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Đó là lý do Đức Bạch Độ Mẫu đứng đầu tiên trong sự gia trì về trường thọ.
~ Đức Gyalwang Drukpa 12th
Ảnh: Đức Bạch Độ Mẫu
www.vietrigpadzambala.org
======
PHÁP THỰC HÀNH MẠNH MẼ CHO SỨC KHOẺ VÀ SỰ TRƯỜNG THỌ
Thực hành Tara Trắng vô cùng mạnh mẽ trong việc hồi phục sức khỏe hay những năng lượng sự sống bằng việc hội tụ và điều hòa những nguyên tố tứ đại, nuôi dưỡng sức khỏe và tịnh hóa những chướng ngại trong cuộc đời. Bằng việc nương tựa vào Đức Tara trắng, chúng ta sẽ nhanh chóng tựu thành những mong ước, bất cứ những gì chúng ta cần trong cuộc sống thế gian hay xuất thế gian đều được viên mãn.
Pháp thực hành thiền quán này có thể được thực hiện cho chính bản thân mình hay người khác. Nó thường được thực hiện cho để loại bỏ những chướng ngại cho cuộc sống trường thọ hay sức khỏe. Nếu một người đang phải chịu đựng những đau khổ phiền não do bệnh tật hay sức khỏe, tai nạn, trầm cảm, hoặc mất đi những khát vọng, mục tiêu cuộc đời thì thực hành Tara Trắng đặc biệt mạnh liệt và lợi ích.
OM TARE TUTTARE TURE MAMA AYUH PUNYA JNANA PUSTIME KURU SVAHA.
www.vietrigpabardo.org
========
LỢI ÍCH VIỆC TRÌ TỤNG BỔN TÔN CHÚ CỦA ĐỨC BẠCH ĐỘ MẪU
Bạch Độ Mẫu (Tara trắng) là hoá thân xuất hiện từ hai giọt nước mắt từ bi của Đức Quán Thế Âm. Bồ Tát Quán Thế Âm với lòng bi mẫn bao la, mặc dù không ngơi nghỉ để giúp đỡ chúng sinh nhưng Ngài vẫn buồn rầu vô hạn khi thấy có nhiều chúng sinh tiếp tục rơi vào 3 cõi thấp như: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và có rất ít chúng sinh đạt được tiến bộ trên đường giác ngộ.
Trì tụng Bổn Tôn Chú của Bạch Độ Mẫu (Tara trắng) giúp tăng trưởng thọ mạng, kéo dài tuổi thọ, trừ hết thảy chết yểu, mạng sống ngắn ngủi, cùng các hung tai, uổng tử cực ác. Đặc biệt là dẹp những chướng ngại của cái chết bất đắc kì tử.
Vietrigpa.org
======
ĐỨC TARA TRẮNG (BỔN TÔN BẠCH ĐỘ MẪU)
Đức Tara Trắng là một trong hai mươi mốt thân tướng của Đức Tara và hóa hiện từ bàn tay trái của Đức Phật A Di Đà. Ngài là một Bổn Tôn đặc biệt đối với tất cả chúng sinh, nhưng đặc biệt là đối với phụ nữ với mái tóc dài đẹp, và bảo đảm cho sự đáp ứng nhiều loại mục đích được mong muốn, bởi Ngài là một thiên nữ giống như một viên ngọc như ý giải trừ chướng ngại cho sự trường thọ của chúng sinh.
www.kimcuongthua.org
THÔNG ĐIỆP BI MẪN CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM CHO CHÚNG SINH THẾ KỶ 20
Thiền quán về thánh tướng của Ta, trì tụng tâm chú của Ta, và cử hành nghi lễ chay tịnh vì Ta. Những ai nỗ lực thực hành như thế, mặc dù họ từng phạm một trong các tội ác ngũ nghịch đáng đọa vào địa ngục Vô gián, Ta vẫn sẽ dẫn họ tới cõi Cực Lạc Tây Phương.
~ Đức Quán Thế Âm
www.vietrigpabardo.org
https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/
PHẬT MẪU MARACHI - MA LỢI CHI
Phật Mẫu Marachi ( Ma Lợi Chi ) là một trong hai mươi mốt thân tướng của Đức Tara. Ngài có năng lực đặc biệt để ngăn chặn những kẻ trộm cướp. Ngài là vị Phật mẫu siêu phàm nhất, là đồng minh của chúng sinh thiếu vắng bạn bè và sự trợ giúp, và của những ai đang chịu sự áp bức của những kẻ có quyền thế hơn.
Sưu tầm
BÀ MẸ CỦA TẤT THẢY CHÚNG SINH
"Hai mươi mốt hóa thân của Đức Tara, Bà Mẹ của tất thảy chư Phật, luôn nhanh chóng thị hiện để bảo vệ hữu tình chúng sinh khỏi mọi sợ hãi, xoa dịu những điều xấu xa, bệnh tật và bất hạnh, tăng trưởng tuổi thọ, thịnh vượng và công đức, chế ngự nhận thức vô minh, và phá hủy kẻ thù năm độc, những cảm xúc phiền não. Bài tán lễ Hai mươi mốt Đức Tara, kết nối hành giả với hoạt động giác ngộ của Đức Tara, được ghi nhớ và tụng đọc bởi đa số người Tạng, không phân biệt trường phái hay truyền thống."
Khenchen Palden Sherab Rinpoche
======
ĐẤNG GIẢI THOÁT CHÚNG SINH KHỎI MỌI KHỔ ĐAU & SỢ HÃI
Tara thường được biết đến là "Đấng Giải Thoát" đặc biệt trong hình tướng Lục Độ Mẫu, Sengdeng Nagchi Drolma, Bà giải phóng chúng sinh khỏi tám sợ hãi lớn(*). Theo giáo lý Phật Đà, tám sợ hãi lớn này có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau. Ví dụ, một nỗi sợ hãi là sợ voi. Như thế, ở cấp độ bên ngoài, đây là sợ hãi thực sự về việc bị làm hại bởi con voi hoang dã. Ở cấp độ bên trong, voi biểu tượng cho vô minh, bởi vậy, đây là nỗi sợ hãi che chướng về tâm của sự ngu dốt và khổ đau mà chúng ta tạo ra cho bản thân và người khác bởi hành động theo ảnh hưởng của vô minh.
(*) Tám sợ hãi lớn là sợ hãi kẻ thù, sư tử, voi, lửa, rắn độc, kẻ cướp, tù đầy và lũ lụt.
Khenchen Palden Sherab Rinpoche & Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche
https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/
=========
TARA - ĐẤNG BẢO HỘ CỦA MỌI CHÚNG SINH
"Trong vô số kiếp quá khứ, khi thấu suốt căn nguyên của khổ đau luân hồi, với lòng Từ bi vô hạn và Hạnh nguyện Lợi tha, Đức Lục Độ Phật Mẫu Tara đã phát nguyện rằng bất kỳ chúng sinh nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, trì niệm chân ngôn của Ngài thì tất cả những ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng sẽ viên mãn."
-st-
https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/17/op.jpg
( https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/"]https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/[/URL] )
BÀ MẸ CỦA TẤT THẢY CHÚNG SINH
"Hai mươi mốt hóa thân của Đức Tara, Bà Mẹ của tất thảy chư Phật, luôn nhanh chóng thị hiện để bảo vệ hữu tình chúng sinh khỏi mọi sợ hãi, xoa dịu những điều xấu xa, bệnh tật và bất hạnh, tăng trưởng tuổi thọ, thịnh vượng và công đức, chế ngự nhận thức vô minh, và phá hủy kẻ thù năm độc, những cảm xúc phiền não. Bài tán lễ Hai mươi mốt Đức Tara, kết nối hành giả với hoạt động giác ngộ của Đức Tara, được ghi nhớ và tụng đọc bởi đa số người Tạng, không phân biệt trường phái hay truyền thống."
Khenchen Palden Sherab Rinpoche
======
ĐẤNG GIẢI THOÁT CHÚNG SINH KHỎI MỌI KHỔ ĐAU & SỢ HÃI
Tara thường được biết đến là "Đấng Giải Thoát" đặc biệt trong hình tướng Lục Độ Mẫu, Sengdeng Nagchi Drolma, Bà giải phóng chúng sinh khỏi tám sợ hãi lớn(*). Theo giáo lý Phật Đà, tám sợ hãi lớn này có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau. Ví dụ, một nỗi sợ hãi là sợ voi. Như thế, ở cấp độ bên ngoài, đây là sợ hãi thực sự về việc bị làm hại bởi con voi hoang dã. Ở cấp độ bên trong, voi biểu tượng cho vô minh, bởi vậy, đây là nỗi sợ hãi che chướng về tâm của sự ngu dốt và khổ đau mà chúng ta tạo ra cho bản thân và người khác bởi hành động theo ảnh hưởng của vô minh.
(*) Tám sợ hãi lớn là sợ hãi kẻ thù, sư tử, voi, lửa, rắn độc, kẻ cướp, tù đầy và lũ lụt.
Khenchen Palden Sherab Rinpoche & Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche
=========
TARA - ĐẤNG BẢO HỘ CỦA MỌI CHÚNG SINH
"Trong vô số kiếp quá khứ, khi thấu suốt căn nguyên của khổ đau luân hồi, với lòng Từ bi vô hạn và Hạnh nguyện Lợi tha, Đức Lục Độ Phật Mẫu Tara đã phát nguyện rằng bất kỳ chúng sinh nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, trì niệm chân ngôn của Ngài thì tất cả những ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng sẽ viên mãn."
-st-
BÀ MẸ CỦA TẤT THẢY CHÚNG SINH
"Hai mươi mốt hóa thân của Đức Tara, Bà Mẹ của tất thảy chư Phật, luôn nhanh chóng thị hiện để bảo vệ hữu tình chúng sinh khỏi mọi sợ hãi, xoa dịu những điều xấu xa, bệnh tật và bất hạnh, tăng trưởng tuổi thọ, thịnh vượng và công đức, chế ngự nhận thức vô minh, và phá hủy kẻ thù năm độc, những cảm xúc phiền não. Bài tán lễ Hai mươi mốt Đức Tara, kết nối hành giả với hoạt động giác ngộ của Đức Tara, được ghi nhớ và tụng đọc bởi đa số người Tạng, không phân biệt trường phái hay truyền thống."
Khenchen Palden Sherab Rinpoche
======
ĐẤNG GIẢI THOÁT CHÚNG SINH KHỎI MỌI KHỔ ĐAU & SỢ HÃI
Tara thường được biết đến là "Đấng Giải Thoát" đặc biệt trong hình tướng Lục Độ Mẫu, Sengdeng Nagchi Drolma, Bà giải phóng chúng sinh khỏi tám sợ hãi lớn(*). Theo giáo lý Phật Đà, tám sợ hãi lớn này có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau. Ví dụ, một nỗi sợ hãi là sợ voi. Như thế, ở cấp độ bên ngoài, đây là sợ hãi thực sự về việc bị làm hại bởi con voi hoang dã. Ở cấp độ bên trong, voi biểu tượng cho vô minh, bởi vậy, đây là nỗi sợ hãi che chướng về tâm của sự ngu dốt và khổ đau mà chúng ta tạo ra cho bản thân và người khác bởi hành động theo ảnh hưởng của vô minh.
(*) Tám sợ hãi lớn là sợ hãi kẻ thù, sư tử, voi, lửa, rắn độc, kẻ cướp, tù đầy và lũ lụt.
Khenchen Palden Sherab Rinpoche & Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche
=========
TARA - ĐẤNG BẢO HỘ CỦA MỌI CHÚNG SINH
"Trong vô số kiếp quá khứ, khi thấu suốt căn nguyên của khổ đau luân hồi, với lòng Từ bi vô hạn và Hạnh nguyện Lợi tha, Đức Lục Độ Phật Mẫu Tara đã phát nguyện rằng bất kỳ chúng sinh nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, trì niệm chân ngôn của Ngài thì tất cả những ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng sẽ viên mãn."
-st-
https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/17/op.jpg
https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/17/h.jpg
( https://vi-vn.facebook.com/yulokod.vn/ )
BÀ MẸ CỦA TẤT THẢY CHÚNG SINH
"Hai mươi mốt hóa thân của Đức Tara, Bà Mẹ của tất thảy chư Phật, luôn nhanh chóng thị hiện để bảo vệ hữu tình chúng sinh khỏi mọi sợ hãi, xoa dịu những điều xấu xa, bệnh tật và bất hạnh, tăng trưởng tuổi thọ, thịnh vượng và công đức, chế ngự nhận thức vô minh, và phá hủy kẻ thù năm độc, những cảm xúc phiền não. Bài tán lễ Hai mươi mốt Đức Tara, kết nối hành giả với hoạt động giác ngộ của Đức Tara, được ghi nhớ và tụng đọc bởi đa số người Tạng, không phân biệt trường phái hay truyền thống."
Khenchen Palden Sherab Rinpoche
======
ĐẤNG GIẢI THOÁT CHÚNG SINH KHỎI MỌI KHỔ ĐAU & SỢ HÃI
Tara thường được biết đến là "Đấng Giải Thoát" đặc biệt trong hình tướng Lục Độ Mẫu, Sengdeng Nagchi Drolma, Bà giải phóng chúng sinh khỏi tám sợ hãi lớn(*). Theo giáo lý Phật Đà, tám sợ hãi lớn này có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau. Ví dụ, một nỗi sợ hãi là sợ voi. Như thế, ở cấp độ bên ngoài, đây là sợ hãi thực sự về việc bị làm hại bởi con voi hoang dã. Ở cấp độ bên trong, voi biểu tượng cho vô minh, bởi vậy, đây là nỗi sợ hãi che chướng về tâm của sự ngu dốt và khổ đau mà chúng ta tạo ra cho bản thân và người khác bởi hành động theo ảnh hưởng của vô minh.
(*) Tám sợ hãi lớn là sợ hãi kẻ thù, sư tử, voi, lửa, rắn độc, kẻ cướp, tù đầy và lũ lụt.
Khenchen Palden Sherab Rinpoche & Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche
=========
TARA - ĐẤNG BẢO HỘ CỦA MỌI CHÚNG SINH
"Trong vô số kiếp quá khứ, khi thấu suốt căn nguyên của khổ đau luân hồi, với lòng Từ bi vô hạn và Hạnh nguyện Lợi tha, Đức Lục Độ Phật Mẫu Tara đã phát nguyện rằng bất kỳ chúng sinh nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, trì niệm chân ngôn của Ngài thì tất cả những ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng sẽ viên mãn."
-st-
HÀNH TRÌNH TỚI CÁC CÕI
BÊN KIA CÁI CHẾT
DELOG DAWA DROLMA
(Nguyên tác: DELOG: Journey to Realms Beyond Death
Delog Dawa Drolma) – Xuất bản năm 1995
Richard Barron dịch sang Anh ngữ từ tiếng Tây Tạng
dưới sự hướng dẫn của Đức Tôn Quý Chagdud Tulku Rinpoche
Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa
---o0o---
Nguồn
http://thuvienhoasen.org
Chuyển sang ebook 16-8-2009
Người thực hiện : Nam Thiên – namthien@gmail.com
Link Audio Tại Website http://www.phatphaponline.org
Mục Lục
DẪN NHẬP
1-NÚI HUY HOÀNG MÀU ĐỒNG-ĐỎ CÕI THUẦN TỊNH CỦA ĐỨC
PADMASAMBHAVA
2-NHỮNG QUÁN CHIẾU TRONG TẤM GƯƠNG PHA LÊ
3- NÚI POTALA CÕI THUẦN TỊNH CỦA ĐỨC AVALOKITESHVARA
4- YULOKOD CÕI THUẦN TỊNH CỦA ĐỨC TARA
5- CẦU THANG ĐƯA TỚI GIẢI THOÁT
( https://www.niemphat.vn/downloads/thuyet-phap/sanh-tu/hanh-trinh-toi-cac-coi-ben-kia-cai-chet-lien-hoa-dich.pdf"]https://www.niemphat.vn/downloads/th...n-hoa-dich.pdf[/URL] )
4- YULOKOD CÕI THUẦN TỊNH CỦA ĐỨC TARA
Kính lễ Đức Avalokiteshvara
Quỳ lạy dưới chân Đấng
nhìn chúng sinh với đôi mắt bi mẫn,
con sẽ tán thán vị bổn tôn phi thường này
để hoàn thiện hai tích tập218.
Con đảnh lễ Ngài, Đức Tara, bổn tôn trong các bổn tôn,
suối nguồn của mọi thành tựu tâm linh không loại trừ cái nào.
Giống như một viên ngọc quý báu và như ý,
Ngài ban trái quả của mọi điều chúng con ước muốn.
Những chúng sinh thực sự mong ước được thấy trong tâm cõi thuần tịnh của
Đức Tara
sẽ hoan hỉ trong những tia thị kiến dịu mát
trong chốn nương tựa êm ả của đóa sen đức tin nở rộ.
Khi từ núi Potala219 trở về, tôi bay vút lên hướng về bên trái, và nhờ Đức
Tara Trắng dẫn đường, tôi đi tới một nơi mà khắp xứ đều xanh tươi, đẹp đẽ
và trong trẻo tràn đầy sinh khí, một môi trường kỳ diệu với nhiều điều đặc
biệt phi thường. Những sảnh đường ánh sáng cầu vồng năm màu bay lượn
trên không. Nhiều loại hoa sen mọc khắp nơi. Ở đây không có ý niệm về
mùa hạ hay mùa đông. Những cây ban-điều-ước đầy lá, treo những chuông
chùm và chuông nhỏ. Khi bị gió lay động, chúng vang lên những giáo huấn
Phật Pháp bằng tiếng Phạn, như Namo arya tare mam220. Chim chóc là
những hóa thân của Đức Bà Cao Quý – những con chim sẻ, vịt, công, sếu,
vẹt, gà gô trắng, chim cu và thiên nga – nô đùa khắp nơi. Mặt đất ngập đầy
của cải trù phú theo một mức độ không thể nghĩ bàn. Những ngọn núi ẩn
chứa vàng, bạc, lam ngọc và những ngọc báu. Khắp nơi là những ao cam lồ
có tám phẩm tính221 tốt đẹp và những nhà tắm bằng châu báu được trang bị
tao nhã.
Trong cõi này không có các ý niệm sinh, lão, bệnh, tử. Tất cả các cư dân đều
được sinh ra một cách kỳ diệu từ giữa hoa sen. Trong những đời tương lai họ
không phải nghe một âm thanh khó chịu hay chói tai. Những cư dân này là
những Bồ Tát nam và nữ đã đạt tới sự chứng ngộ cao cấp. Nơi chốn này thì
vượt quá sức tưởng tượng; kích thước của nó không thể đo lường. Nó gồm
chứa hàng ngàn lâu đài rộng mênh mông làm bằng năm chất thể222 quý báu.
Trong chốc lát, tôi đi tới cổng cung điện chính – một tòa lâu đài rộng lớn
tuyệt vời có vẻ bề ngoài thật lôi cuốn và kỳ diệu, có năng lực giải thoát
chúng sinh bằng bốn cách223. Ngay lúc tôi đi vào cung điện, tôi thức tỉnh
khỏi giấc ngủ sâu của ý thức thuộc lý trí bình phàm và thoát khỏi những tấm
màn vô minh. Cái thấy nội tại của giác tánh nguyên sơ của tôi trải rộng, và
tôi cảm nghiệm tình thương và lòng bi mẫn dạt dào trong lòng.
Khi đi vào cửa phía tây, tôi gặp Guhyadevi, Thiên nữ của những điều Mật
nhiệm, Ngài có vẻ hết sức vui mừng khi nhìn thấy tôi. Tôi đi tiếp tới một cái
sân ở đó nhiều ngàn thiên nữ, mặc y phục xanh lá cây, hát tụng những lời tán
thán hai mươi mốt thân thướng Tara bằng tiếng Phạn. Thỉnh thoảng họ chơi
những xập xõa nhỏ hình ngón tay, trống tay bằng vàng và trống làm bằng gỗ
đàn hương, gỗ mun, gỗ “tim xoắn”224 và bốn loại lõi cây, cũng như các xập
xõa, cồng chiêng và sáo. Họ thường ngắt quãng bài hát với âm nhạc được
tấu lên bằng đủ loại khí cụ không thể nghĩ bàn này. Khi nghe chúng, tôi thấy
dấy lên một cảm thức sùng mộ không tưởng tượng nổi; tôi cúng dường trong
tâm và trì tụng hết sức nhiệt thành những lời tán thán hai mươi mốt thân
tướng Tara.
Tôi đi vào một căn nhà nhỏ, ở đó tôi thấy một thiên nữ. Bà có vẻ rất già, tóc
trắng xoăn như vỏ ốc xà cừ, nhưng hàm răng còn đầy đủ và nước da bà sáng
đẹp như nước da của một thiếu nữ thanh xuân. Vị thiên nữ cao quý phi
thường này an tọa với đoàn tùy tùng vây quanh. Bà có mật danh là Gauri
Girtima, nhưng được biết nhiều qua danh hiệu thật của Ngài là Ayudevi,
Thiên nữ Trường thọ225. Tôi thực hành những sự lễ lạy, đi nhiễu, cúng
dường mạn đà la, lời cầu nguyện bảy-nhánh và những lời khẩn cầu và ước
nguyện.
Bà nói: “Cái gì đây, con gái ta? Con may mắn biết bao khi tới gặp ta. Kỳ
diệu biết bao! Mối liên hệ nghiệp nào giải thích cho sự xuất hiện của con ở
đây? Ta là một nữ anh hùng mà những phẩm tính được ẩn dấu. Được vị bổn
tôn kỳ diệu – Đức Tara tôn quý – ban phước, ta làm chủ được đời sống kim
cương bất tử”.
Ngài đặt bàn tay lên đầu tôi, tỏ ra hết sức vui mừng vì sự hiện diện của tôi và
tụng:
Xin đảnh lễ Đấng chói sáng như một viên hồng ngọc,
trong sự nở rộ của niềm hỉ lạc tuổi mười sáu226
Chiến thắng trong trận chiến điều phục thế lực đối kháng của các ma vương,
Ngài ban tặng sự thành tựu đời sống bất tử.
Bà nói thêm: “Ngay cả một biểu tượng cho hình ảnh của ta cũng không được
tìm thấy ở Ấn Độ và Tây Tạng. Mặc dù vô số yogi và yogini được ban
phước bởi Đức Tara, thực sự viếng thăm cõi giới này, thăm viếng trong các
thị kiến, hay trong những giấc mơ, nhưng không ai trong số họ được hội
kiến ta”. Tôi sung sướng bởi những lời này.
Tôi tiếp tục tới tòa lâu đài chính rộng mênh mông. Bên trong, tôi thấy năm
lớp tường được làm bằng vỏ ốc xà cừ, vàng, san hô, ngọc lục bảo và ngọc
bích, tất cả có diềm trang trí bằng hồng ngọc. Các trụ cột được làm bằng
ngọc đỏ, các đà mái chính bằng pha lê thạch anh và rui mè làm bằng ngọc
như ý. Những cửa sổ rộng và cửa sổ dưới mái ở khắp nơi để chiếu sáng bên
trong. Trên đỉnh một gờ trang trí bằng vàng là một trán tường bằng san hô,
nâng đỡ một mái vòm bằng lam ngọc pha màu xanh dương nhạt. Ở bốn
hướng là các miệng máng xối với đầu makara; miệng chúng có treo những
sợi dây và móc bằng ngọc trắng, vàng, đỏ và xanh lá cây, với những chuông
chùm bé tí bằng vàng phát ra những âm thanh ngọt ngào. Âm thanh du
dương vang lừng cất đi nỗi khổ của chúng sinh trong các cõi thấp. Mùi khói
hương thơm ngát của những tâm thái vô lượng thoang thoảng khắp nơi227.
Đó là những phô diễn đẹp đẽ của những sự cúng dường tràn đầy từ ái không
tưởng tượng nổi.
Giữa tòa lâu đài, trên một tòa sen ngàn cánh nhiều màu và một đĩa mặt trăng
là Đấng nương tựa duy nhất, hiện thân đích thực của lòng bi mẫn, bà mẹ siêu
phàm của tất cả các Đấng Chiến Thắng trong ba thời, bà chị của chư vị Bồ
Tát, là Đấng mà chúng sinh trong thế giới loài người và trong những cõi trời
bày tỏ lòng sùng kính bằng cách chạm đỉnh đầu họ vào lòng bàn chân Ngài –
chính là Đức Tara tôn quý, vị thiên nữ sinh ra từ những giọt nước mắt của
Đấng Cao Quý228
Thân Ngài màu xanh lá cây nhạt, chói lọi hơn một ngọn núi lam ngọc
Thân Ngài màu xanh lá cây nhạt, chói lọi hơn một ngọn núi lam ngọc được
một ngàn mặt trời chiếu sáng. Vô lượng những tia sáng tỏa ra từ thân Ngài,
nó được tô điểm bởi những tướng hảo chính và phụ. Đó là thân tướng của
một thiếu nữ mười sáu tuổi, mặc y phục làm bằng lụa của những vị trời và
trang điểm bằng những vật trang sức vô cùng quý giá gồm những viên bảo
châu như ý. Tóc Ngài đen như hạt huyền, nửa mái tóc cuốn lại thành búi và
nửa kia chảy xuống phủ trên vai, được bện lại bằng những dải ruy băng lụa
màu xanh dương pha xanh lá cây rung rinh trong gió nhẹ. Bàn tay trái kết ấn
tượng trưng cho Tam bảo229 và cầm một nhánh hoa huệ màu xanh dương,
các cánh hoa nở rộ cạnh tai Ngài. Với bàn tay phải kết ấn ban cho sự nương
tựa230, Ngài che chở chúng sinh thoát khỏi những nỗi sợ hãi vô biên của thế
giới vô minh này trong luân hồi sinh tử. Hai chân Ngài xếp lại trong tư thế
bán già của một nữ Bồ Tát.
Nhiều nữ Bồ Tát cao quý đang đi nhiễu quanh Ngài theo chiều nghịch kim
đồng hồ. Bậc thông tuệ Suryagupta ở bên phải Ngài, Bồ Tát Dawa Gyaltsan
ở phía sau, thi sĩ Chandragomin ở bên trái, và Đức Dipamkara ở phía trước
Ngài231. Nói chung, có nhiều ngàn nhân vật quan trọng với những quyến
thuộc của các Ngài và một tập hội không thể nghĩ bàn gồm hàng trăm hàng
ngàn thân tướng của Đức Tara, gồm cả Tara Tiếng Gầm Sấm Sét của Rồng,
Tara Năng lực Siêu phàm, Tara Thành tựu Tự Nhiên, Tara Vô Úy, Tara Tia
Sáng, Tara Điều Phục Chúng Sinh, Tara ở Zang-yun232, Tara Không Thể
Nghĩ Bàn, Tara Phương Tiện Thiện Xảo, Tara Giác Ngộ, Tara Trung Tâm
Tây Tạng và Tara Trung Quốc. Những vị này hiển hiện rõ ràng trước mắt
tôi, nhưng thân tướng các ngài không phải là tập hợp hiện hữu nội tại của
máu và thịt. Thay vào đó, đó là những thân tướng huyễn hóa của giác tánh
nguyên sơ, một sự phô diễn kỳ diệu hiển lộ trong vô số phương tiện. Tôi
nhìn thấy các Ngài trong toàn bộ sự chói ngời tinh tế của các Ngài, giống
như những vì sao và hành tinh phản chiếu trên đại dương bao la.
Vào lúc này, sự bám chấp của tôi vào thực tại bình phàm tự nhiên ngừng
dứt. Trong một quãng thời gian ngắn, tôi kinh nghiệm một cảm thức không
thể diễn bày, không tưởng tượng nổi về trật tự của vũ trụ vô hạn, một toàn
cảnh rộng lớn và hoàn toàn không bị ngăn che của sự thuần tịnh không có gì
để bám níu như cái gì hoàn toàn có thực. Tôi lễ lạy liên tục trong một tâm
thái tin tưởng và hết sức hoan hỉ. Tiến lại gần vị thiên nữ tôn kính, tôi dâng
cúng mạn đà la vũ trụ và lời cầu nguyện bảy-nhánh. Với sự khát khao mãnh
liệt, tôi cầu nguyện ba bổn tôn trông nom Xứ Tuyết233. Đặt bàn chân Ngài
lên đầu tôi, tôi hát bài ca này bằng những âm thanh ai oán:
Than ôi, than ôi, Bà Mẹ bi mẫn của các Đấng Chiến Thắng!
Đứa con gái yêu quý của Ngài lang thang trong vẻ hoang tàn của vòng luân
hồi sinh tử,
Tạo dựng bởi những tên trộm cướp là tám mươi ngàn kiểu niệm tưởng.
Cô ta đang ở thời điểm mất đi một tài sản tốt đẹp nhất là đức hạnh viên mãn.
Xin tóm lấy cô ta với lòng bi mẫn của Ngài, Đức Bà Tara cao quý.
Giờ đây, như các biểu hiện cho thấy những thời đại suy hoại này nổi cơn
thịnh nộ với chúng ta,
Giáo lý của các Đấng Chiến Thắng là một mặt trời đang tiến về trú xứ của vị
trời nước234.
Tập hội các thiện tri thức nắm giữ Giáo lý đã khởi hành tới một cõi yên bình.
Giáo lý của kinh điển và tantra bị che khuất bởi những đám mây định kiến
bè phái.
Xin tóm lấy chúng con với lòng bi mẫn của Ngài, Đức Bà Tara cao quý.
Nhiều chúng sinh hữu tình không có một chốn nghỉ ngơi.
Đau khổ thường xuyên bởi bệnh tật do nghiệp và những cảm xúc phiền não,
họ chịu đựng hậu quả là nỗi khổ và đau đớn không chịu đựng nổi.
Thời gian sẽ rất dài trước khi họ đi tới xứ sở của toàn trí và giải thoát.
Xin tóm lấy họ với lòng bi mẫn của Ngài, Đức Bà Tara cao quý.
Sắc màu của những tinh linh xấu ác nổi bật trên bầu trời.
Ánh sáng nhạt nhòa từ lá cờ chiến thắng của những hành giả của Pháp.
Giờ đây là lúc thế giới tràn ngập những kẻ bất tài bịp bợm tâm linh,
để chúng sinh không bị lôi kéo vào những con đường lầm lạc,
xin tóm lấy họ với lòng bi mẫn của Ngài, Đức Bà Tara cao quý.
Lũ người man dã và các bộ tộc biên giới kết thúc Giáo lý.
Các cuộc chiến đấu được tiến hành không ngừng nghỉ với năm lực lượng
xấu ác235.
Những đội quân hủy diệt của các ma vương đang ở thời điểm xâm lược.
Nếu Ngài không che chở chúng con thoát khỏi những lực lượng này, thì
Ngài sẽ biểu lộ trí tuệ và năng lực cho ai?
Xin tóm lấy chúng con với lòng bi mẫn của Ngài, Đức Bà Tara cao quý.
Tôi thốt ra nhiều lời cầu nguyện khác, tâm tôi tràn đầy sự khao khát. Thiên
nữ cao quý đặt bàn tay phải, nó được đánh dấu rõ ràng bằng tướng hảo là
một bánh xe như-ý236 lên đầu tôi và trả lời:
Hãy lắng nghe, ôi thiếu nữ đáng yêu, Chandra Tara237.
Trong quá khứ, vào khởi đầu của những kiếp sớm nhất,
khi ta phát khởi Bồ Đề tâm tuyệt hảo,
không ai ước nguyện làm viên mãn Phật Quả trong một thân tướng phụ nữ.
Vì thế ta ấp ủ nguyện ước sau:
“Tôi sẽ xuất hiện trong thân tướng những người nữ.
Tôi sẽ đem đại dương chúng sanh này tới sự giác ngộ siêu việt.
Giây phút họ nhớ tưởng thậm chí danh hiệu của tôi,
Họ được cam đoan là sẽ đứng trước tám loại sợ hãi238
và cái hầm của sự luân hồi sẽ được kéo vét tận đáy.
Cho tới khi tôi đưa họ tới Phật Quả viên mãn,
cầu mong bản thân tôi không bao giờ đạt được Phật Quả”.
Với những ước nguyện này và một trăm ngàn ước nguyện khác,
tôi lập các lời hứa và thệ nguyện.
Và trong cõi giới này, vào thời một vị Phật nguyên thủy,
tuy thế tôi đã biểu thị phương cách để viên mãn Phật Quả.
Lòng bi mẫn của tôi lớn lao đối với tất cả chúng sinh;
Hoạt động của tôi nhanh chóng, đặc biệt là đối với thần dân Tây Tạng.
Vì thế, những người thông tuệ và may mắn,
hãy bảo vệ kỹ lưỡng mệnh lệnh sau đây của vị thiên nữ cao quý:
Vào thời đại của năm sự suy hoại239, khi giáo lý chỉ còn là những dấu vết,
khi chẳng bao lâu những cuộc xâm lăng man rợ sẽ chấm dứt mọi sự,
vật chống đỡ cao quý này240, được phú bẩm tánh lười nhác thực hành, bị đe
dọa bởi tiếng chuông của sự vô thường.
Nếu các bạn lầm lạc nhân và quả, hãy tham khảo Kinh điển và các tantra để
đem lại hạnh phúc và giải trừ khổ đau241.
Tài sản và của cải, bằng hữu và quyến thuộc, cha và mẹ không phải là nơi
nương tựa.
Cái gì cung cấp nơi nương tựa? Đó là Tam Bảo không lầm lạc.
Đặc biệt, ngày và đêm liên tục trong sáu thời, hãy cầu nguyện ba bổn tôn che
chở Xứ Tuyết Tây Tạng.
Đức Phật Amitabha trong cõi Cực Lạc.
Đức Avalokiteshvara cao quý trong cõi Potala,
Đức đạo sự T’hod T’hreng Tzal ở tiểu lục địa Chamara,
Đức Tara cao quý ở cõi Yulokod,
và các đạo sư gốc là tinh túy sự hợp nhất của các vị này –
đồng nhất trong bản tánh cốt tủy, chỉ khác biệt trong sự xuất hiện bên ngoài,
không có sự tách biệt hay phân chia, các Ngài ở trong một trạng thái nguyên
thủy của sự bình đẳng với giác tánh nội tại của riêng các bạn,
vượt lên sự hợp nhất trong ý nghĩa thông thường của sự tụ hội và tan tác.
Hãy luôn luôn chú tâm tới đức hạnh.
Chớ lãng phí đời người này trong sự phóng dật,
hoặc nói Pháp ngoài cửa miệng,
mà hãy chân thành tận đáy lòng các bạn,
hãy nương dựa đức tin, cái thấy thuần tịnh, lòng bi mẫn, Bồ Đề tâm,
sự tinh tấn, trí tuệ, sự chánh niệm, tỉnh gác và tự điều phục.
Nếu ba giai đoạn chuẩn bị, thực hành chính yếu và sự kết thúc đều viên mãn,
trái quả mục đích của các bạn sẽ chín mùi.
Đặc biệt, nếu các thần chú tinh túy của ba bổ tôn của lòng đại bi –
các thần chú mani, siddhi và tare –
hoặc ngay cả một nghi thức chay nyungnay duy nhất do chính các bạn hay
người khác thực hiện
sẽ giải tan hậu quả của những ác hạnh và vi phạm giới nguyên của các bạn
trong bốn mươi ngàn kiếp,
thì cần gì nói tới những lợi ích và thuận lợi của sự thực hành thường xuyên?
Vì thế, hãy hành xử theo đạo đức, không lầm lạc nhân và quả.
Một cách chắc chắn, là những người may mắn, các bạn có thể cầu nguyện
sẽ không nhọc mệt hay khó khăn
để đi tới cõi Yulokod không do dự chần chừ sau khi chết.
Ta thề rằng ta sẽ tới chào đón các bạn.
Các hóa thân của ta, như những thiện tri thức bình thường,
đàn ông và đàn bà, thú vật và chim chóc, và những gì tương tự,
mang bất kỳ hình tướng nào sẽ dẫn dắt và chăm sóc chúng sinh.
Bởi vô số người trong số họ,
có niềm tin và cái thấy thuần tịnh, và khẩn cầu cùng ước nguyện thiết tha.
Những lời dạy của Ngài đã gây một niềm tin và hoan hỉ vô biên trong lòng
tôi, tôi lặp đi lặp lại lời cầu xin được nhận bốn quán đảnh242. Và mặc dù tôi
cảm thấy nỗi khổ khi phải xa cách Đức Tara còn đau đớn hơn nỗi khổ của
các vị trời đang đọa lạc từ hạnh phúc của họ, Đức Tara nói với tôi: “Chớ
buồn phiền trong lòng! Chúng ta không bao giờ ly cách trong bất kỳ cuộc
đời nào. Ta ban cho con Pháp danh Rigdzin Drolma, Tara Đấng Trì giữ Giác
tánh Nội tại. Hơn nữa, một thiên nữ, một hóa thân của năng lực hoạt động
của ta, sẽ ở bên con trong sáu thời ngày và đêm, giống như một người đang
nói chuyện với người kia”.
Tiếp tục đi, tôi tới một phòng nhỏ, ở đó tôi gặp Repa Dampa Gyagar, thân
Ngài lực lưỡng, tóc trắng và hơi gầy, Ngài có bốn con trai và bốn con gái.
Người nhỏ nhất tên là Chhang Trama nói với tôi: “Thật tuyệt vì cô đã tới tìm
tôi” và bắt đầu một điệu vũ và bài ca về Đức Tara. Cô ta tỏ ra rất quý mến
tôi. Cha cô ngồi bên cạnh, cầm một bình trường thọ, cười một mình. Khi tôi
xin Ngài cầu nguyện cho tôi, Ngài lại cười và nhìn chăm chú, tập trung sự
chú tâm trong một lát.
Tôi rời tòa lâu đài bằng cửa phía tây. Tôi tắm trong một cái ao và uống chất
cam lồ bất tử. (Nếu tôi phải tường thuật mọi điều nhìn thấy và tất cả những
người tôi đã gặp ở đó, thì chắc chắn là sẽ đầy nhiều quyển sách, nhưng tôi
không thể viết ra tất cả).
Ở một nơi không xa, tôi bắt gặp một cây karandatava, có gốc bằng vàng,
thân bằng bạc, cành bằng ngọc bích, lá bằng hổ phách, hoa bằng hồng ngọc
và trái bằng kim cương. Đó là một cây ban điều ước muốn và dường như che
phủ mặt đất. Nó có treo những lá cờ bằng lụa nhiều màu, và những sợi dây
và thòng lọng bằng ngọc có gắn những chuông chùm nhỏ bằng vàng kêu
leng keng. Đậu trên ngọn cây là vua loài chim – một con chim masar, dù nó
được gọi bằng một tên khác, karantava. Thân nó được tạo bằng bảy loại châu
báu và trên đỉnh đầu nó là một cái mào làm bằng ngọc sarvaphala. Bộ lông
của nó còn đẹp hơn bộ lông công và tiếng hót thì bằng tiếng Phạn: Sarva
buddhaye eka potala yana duhkhashantim siddhiphala hoh, có thể dịch là:
“Để thành tựu hoàn toàn Phật Quả, là các gì viên mãn trong mọi thế cách,
hãy đi tới cõi Potala. Cầu mong chúng sinh trong sáu cõi luân hồi được giải
thoát khỏi đau khổ và cầu mong những thành tựu tâm linh được ban tặng”.
Ngồi nơi gốc cây là một ông già tóc trắng đang cầm một cái rìu. Ông ta tên
là Arthachandra (Mặt trăng Hoàn thành các Mục đích). Khi tôi nghỉ ngơi ở
đó và ăn trái quả hái từ cây này, người đàn ông nói to: “Đứa con trai do Đức
cao quý Avalokiteshvara gởi tới, có tên là Karmasarvamangala, hiện ra từ
gốc cây karandatava”.
Vào lúc này, đàn chim bắt đầu hót lanh lảnh” “Than ôi!” Chúng vỗ cánh,
trong khi nước mắt tuôn rơi. Vua của chúng kêu than:
Xin đừng hạ cây karandatava!
Chim karantava sẽ rơi xuống đất.
Ôi ông ơi, cầu mong ông trường thọ và thoát khỏi bệnh tật.
Tôi, con chim, sẽ đi tới Potala.
Tôi nhìn thấy những cảnh người đàn ông đốn cây và con chim rơi xuống xen
kẽ nhau. Tôi có nhiều thì kiến bí ẩn như thế. Sau đó một hành giả cư sĩ, được
Đức Avalokiteshvara cao quý ban phước, xuất hiện và nhìn tôi trong khi tôi
tụng những lời tán thán hai mươi mốt thân tướng của Đức Tara. Sau một lát
ông ta nói: “Đây là lợi ích của việc trì tụng như thế”.
Tất cả những ai trì giữ lời cầu nguyện này trong tâm sẽ nhổ sạch mọi lỗi lầm
và thiếu sót không loại trừ điều gì,
hãy phát triển các phẩm tính tốt giống như vầng trăng tròn
và được một ngàn vị Phật ban phước.
Ôi kỳ diệu thay lời tán thán cao nhã nhất này;
Chỉ một lần gợi nó trong tâm
Dứt khoát người ta sẽ được tái sanh
Trong Cõi Cực Lạc linh thánh tuyệt hảo.
Ông ta dùng mô tả những lợi ích thế tục và siêu việt như chúng được giảng
trong nguồn mạch truyền thống.
Sau đó xuất hiện một người mà trong những đời trước đã có một liên hệ
samaya với Đức Vajradhara (Kim Cương Trì) và Guru Padmasambhava, và
là người bảo vệ kho tàng ẩn dấu của Phật Pháp mênh mông và sâu xa. Sau
này bà là phối ngẫu tâm linh của Đức Mila Zhadpa Dorje (vật trang sức duy
nhất của dòng thực hành trong Xứ Tuyết) khi Ngài ở trong vùng núi Everest
và Chhubar, và vì thế đã rút năng lực vi tế và tâm thức của Ngài vào kinh
mạch trung ương243. Cuối cùng, bà là bổn tôn bảo vệ riêng của vị tulku siêu
phàm Jigmed Do-ngag Tandzin (một bậc trì giữ kim cương của giác tánh nội
tại) và Dechhen Dorje244 (một vương miện trong số hàng trăm bậc thông tuệ
tâm linh), tẩy trừ mọi chướng ngại cho sự trường thọ của hai vị thầy này và
hướng dẫn sự phát triển những hoạt động của các ngài để làm lợi ích chúng
sinh một cách vô tư. Được biết nhiều với danh hiệu Tashi Tseringma, nữ
hoàng của các thiên nữ dược sư, từ trung tâm thiền định của vị thầy cao quý
của tôi, bà gọi to ba lần: “Con, con gái – Dawa Drolma! Hãy trở về cõi
người!”.
Khi nghe giọng nói của bà vang lên, tôi bắt đầu nhớ tới người chú tôn quý
của tôi cùng những bằng hữu, thân quyến và cha mẹ tôi đang ở miền
T’hrom. Tâm tôi tràn ngập một sự khao khát là lùng và tôi nghĩ tới việc quay
về. Và vì thế, cùng với Đức Tara Trắng đi kèm, tôi trở về trong chốc lát.
Năm ngày tròn (đó là mười thời kỳ mười hai-tiếng trong ngày hay đêm) đã
trôi qua trong cõi người. Khi tâm thức tôi trở về thân xác, tôi hắt hơi dữ dội.
Trước hết tôi kinh nghiệm một sự hoàn toàn lạc hướng, như thể tôi vừa ngủ
dậy, nhưng chẳng mấy chốc tôi bị tràn ngập bởi niềm tin và sự hỉ lạc trước
những thị kiến về các cõi thuần tịnh và cảnh tượng khủng khiếp trong các thị
kiến thuộc nghiệp của các địa ngục245.
Cậu Trungpa246, đứng trước mặt tôi cầm một mũi tên có trang trí dải ruy
băng trường thọ và nhìn tôi chăm chú bằng đôi mắt đỏ ngầu. Tôi không thể
nói một lời, như thể tôi hơi bẽn lẽn. Tôi được tẩy tịnh theo nghi lễ với nước
mưa được chế thành thuốc của các thấu thị247 và bằng nước được dùng trong
thực hành thiền định của thiên nữ bảo vệ Vijaya.
Mọi người kêu khóc và phấn khích, nói những điều như: “Việc này không
khó khăn sao? Hẳn là con đói lắm! Chắc hẳn con khát lắm!”. Hầu như họ cố
đổ đồ ăn và thức uống lên đầu tôi. Mặc dù tôi phản đối: “Tôi hoàn toàn
không khó chịu bởi đói hay khát” nhưng họ không tin tôi và cố nài: “Ăn đi!
Uống đi”. Mọi người đều cảm thấy vô cùng vui sướng như nỗi vui của một
lạc đà mẹ tìm thấy đứa con bị lạc của nó, và cùng tham dự một bữa tiệc
mừng.
Rôi tôi nghỉ ngơi trong một hoặc hai ngày, sau đó tường thuật của tôi về các
cõi thuần tịnh Potala và Yulokod và các cõi địa ngục được Tulku Gyazur ghi
chép lại mà không bịa đặt hay thêm thắt điều gì.
Thân, ngữ và tâm bí mật của tất cả vô lượng các Đấng Chiến Thắng
Được hợp nhất không hề ly cách trong Đức Tara, bà nẹ của các Đấng Chiến
Thắng.
Ngay khi tia bi mẫn sắc nhọn của Ngài đâm trúng tim con
nó xua tan mọi bóng tối trong con.
Đằng sau các cõi thuần tịnh, bởi những ước nguyện trước đây của con,
đã thực sự xuất hiện rõ ràng trong tấm gương của trái tim con,
tường thuật đúng đắn và chính xác này, thoát khỏi mọi sự cường điệu hay
giản lược
và không bị tổn hại bởi quỷ ma của sự bè phái phân biệt hay ganh ghét đố
kỵ,
xuất hiện chỉ nhờ ân phước của các đạo sư của con.
Vì thế, nếu chúng con nhiệt thành tôn kính các bậc linh thánh đó,
là những thiện tri thức chỉ cho chúng con con đường đúng đắn,
trong mọi cuộc đời của chúng con, cầu mong các ngài ban cho chúng con
những ân phước.
Sarva mangalam – cầu mong mọi sự tốt lành.
May mắn, may mắn, may mắn!
Cầu mong sự tốt lành cháy rực và thế giới được trang hoàng.
Jayantu – cầu mong chiến thắng.
---o0o---
218 . Những sự tích tập công đức trên bình diện thông tục và tích tập giác tánh
nguyên sơ trên bình diện tối hậu.
219 . Một sự ám chỉ chuyến du hành của bà tới cõi thuần tịnh của Đức
Avalokiteshvara.
220 . “Con kính lễ Đức cao quý Tara”.
221 . Tám phẩm tính là tính chất mát, ngọt, thanh, dịu, trong, không có các
chất bất tịnh, dễ tiêu hóa và làm cổ họng êm dịu.
222 . Vàng, bạc, san hô, ngọc trai và lam ngọc hay bích ngọc.
223 . Nhờ sự thấy, nghe, xúc chạm hay tưởng nhớ. 224 . Lõi cây đàn hương.
225 . Mật danh được guru (đạo sư) ban cho một hành giả trong lễ quán đảnh
để đi vào một trong những kỹ thuật thiền định chính thức của Phật Giáo Kim
Cương thừa.
226 . Trong thuật ngữ chuyên môn của Kim Cương thừa, sự phát khởi hỉ lạc
trong thiền định được mô tả là xảy ra trong mười sáu giai đoạn khác nhau.
Hình ảnh một thiếu niên hay thiếu nữ mười sáu tuổi được dùng để cô đọng
tiến trình này.
227 . Những tâm thái vô lượng là từ, bi, hỉ và xả.
228 . Một sự ám chỉ truyền thuyết những thân tướng trắng và xanh lá cây của
Đức Tara xuất hiện từ những giọt nước mắt của Đức Avalokiteshvara, vị Bồ
Tát của lòng bi mẫn, để đáp lại nỗi khổ của chúng sinh.
229 . Đó là, với ngón cái giữ đầu ngón áp út co xuống lòng bàn tay và ngón
trỏ, ngón giữa và ngón út duỗi thẳng.
230 . Đó là, với lòng bàn tay hướng ra ngoài, các ngón chỉ thẳng.
231 . Tất cả những vị này là các đạo sư Phật giáo hiến mình cho các thực hành
thiền định Tara.
232 . Không nhận diện được; có lẽ là một miền nào đó ở châu Á.
233 . Đức Avalokiteshvara, Tara và Padmasambhava.
234 . Đó là sự tiến tới chỗ suy tàn giống như mặt trời chìm xuống đại dương.
235 . Một từ tập hợp chỉ các lực lượng đối kháng với niềm vui và hạnh phúc
của chúng sinh và sự hưng thịnh của Phật Pháp.
236 . Dấu hiệu của bánh xe Pháp (Pháp luân) trên các lòng bàn chân và lòng
bàn tay là một trong ba mươi hai tướng chính của sự toàn thiện vật lý tô
điểm cho thân tướng của một vị Phật.
237 . Tên Dawa Drolma (Tara Mặt Trăng) bằng tiếng Phạn.
238 . Nỗi sợ sư tử, voi hoang, lửa, rắn, sự lụt lội, sự tù đày, kẻ trộm và những
kẻ ăn thịt người.
239 . Sự suy hoại do suy giảm thọ mạng, sự phát triển các cảm xúc phiền
muộn, sự phát triển sự đối kháng các giáo lý tâm linh, sự phát triển tranh
chấp và xung đột và sự bảo thủ những quan điểm tâm linh.
240 . Đó là sự tái sinh trong cõi người được coi như là vật chống đỡ hay nền
tảng lý tưởng để thành tựu sự giải thoát tâm linh.
241 . Giòng này có vẻ sai lạc trong bản thảo và đã được sửa lại theo đề nghị
của Chagdul Rinpoche. Rinpoche cảm thấy rằng một bản dịch có thể chấp
nhận được của bản văn có thể đọc là “Nếu các bạn lầm lạc nhân và quả, các
bạn sẽ phải chịu đau khổ không ngừng dứt”.
242 . Trong Phật Giáo Kim Cương thừa, các nghi lễ phúc tạp hơn cho phép
một hành giả tu tập trong những kỹ thuật thiền định đặc biệt đòi hỏi bốn cấp
độ quán đảnh.
243 . Xem Một Trăm Ngàn Bài Ca của Milarepa, bản dịch của Garma C.C.
Chang (Boulder: Shambhala, 1977), quyển 2, từ trang 357 tới 361,
“Tseringma và sự Thực hành Mudra”, về các chi tiết của cuộc gặp gỡ giữa
Milarepa và thiên nữ Tseingma. Sự nhắc tới kinh mạch trung ương có liên
quan với các thực hành yoga cao cấp trong Phật Giáo Kim Cương thừa.
244 . Đó là chú của Dawa Drolma, ngài Drimed Khakyod Wangpo; xem
Chương I.
245 . Một thị kiến thuộc nghiệp là một trạng thái của tri giác được tác động lên
những chúng sinh bình thường bởi nghiệp của họ.
246 . Cá nhân này cũng được đề cập tới trong Chương 1, trên thực tế là cậu
của Dawa Drolma, không phải là liên hệ huyết thống của bà. Đó là Tromge
Trungpa, vị đã tiên đoán cho Chagdud Rinpoche là thực hành thiền định
chính của ngài Chagdud sẽ là thiền định Tara. Tromge Trungpa mất năm
Chagdud Rinpoche được hai mươi ba tuổi, đó là năm 1953 hay 1954.
https://wisdomofcompassionblog.files...aras_en-vn.pdf
https://www.youtube.com/watch?v=x50m3S4Y6_g
Twenty - One Pralses To Tara _ Cầu Nguyện & Tán Thán 21 Tara
CẦU NGUYỆN và TÁN THÁN 21 ĐỨC LỤC ĐỘ PHẬT MẪU TARA
21 hóa thân Tara tượng trưng cho hai mươi mốt hạnh nguyện, phù hợp với các mong cầu khác nhau của chúng sinh, giúp chúng sinh thành tựu tu tập và bảo hộ họ khỏi tai nạn nguy hiểm. Những ai có thể hành trì ba lần hoặc bảy lần cầu nguyện đến 21 Độ Mẫu mỗi ngày thì mọi mong nguyện rất dễ thành tựu, mọi chướng ngại sẽ dễ vượt qua.
Đức Lục Độ Phật Mẫu được tôn xưng là mẹ của tất cả Chư Phật, mẹ của tất cả vũ trụ và của hết thảy yếu tố đất, nước, gió, lửa. Bởi Ngài nắm giữ toàn bộ sự gia trì nên bất cứ chúng sinh cầu nguyện điều gì với tâm chí thành tha thiết đều sẽ được như nguyện. Vì thế pháp thực hành lễ tán cúng dàng đức Lục Độ Phật Mẫu và việc trì niệm chân ngôn của Ngài là vô cùng quan trọng và thù thắng.
=========
21 lời tán dương Phật Mẩu Tara
DÎch tØ bän ti‰ng Anh Khenpo Migmar Rinpche cho phép.
Suzan Doan ( Kunga Lhamo) dÎch
Hòa ThÜ®ng Thích NhÜ ñi‹n hiËu Çính
Đây là lời tán dương dựa vào âm thần chú. Xin kính dâng cúng dường đến
Phật Mẩu Tara.
Namo Arya Taraye
Om - Thành kính lạy đấng Quan Âm Tara.
1 Kính lạy đức Tara, vị nữ hùng thần tốc
Mắt sáng như ánh chớp.
Sinh từ nụ nhụy sen
Ngài là đấng cứu độ của toàn ba thế giới.
2 Kính lạy đức Tara, với khuôn mặt sáng ngời
tròn như vầng trăng thu
tỏa rạng ngời ánh sáng
hơn ngàn ánh sao trời.
3.Kinh lạy đức Tara, rực ánh sáng hoàng kim
tay ngài cầm sen quý;
hiện thân ngài bao gồm tuyệt đỉnh những hảo tâm, siêng năng, và ẩn dật ,
hòa bình, và kiên nhẫn, cùng với sự tập trung.
4 Kính lạy đức Tara, hiện thân Đức Đạo Sư
ngài chiến thắng tất cả;
hoàn hảo các viên hạnh,
tôn kính bởi tất cả các vị chư Bồ Tát.
5 Kính lạy đức Tara, âm Tuttare Hum
rọi sáng đầy ba cõi, ham muốn, phương hướng và không gian
chinh phục bảy thế giới,
thâu phục khắp chúng sinh.
6 Kính lạy đức Tara , sùng kính bởi các bậc Đế Thích , Tịch Lịch Thiên,
Phạm Thiên, và Phong Lôi, cùng với cả Đế Thiên.
sự hiện diện của ngài, đều đuợc ca ngợi bởi tất cả các quỷ thần,
Khởi Thi (Vetalis) , Hương Thần(Gandharvas), và Dạ Xoa (Yakshas).
7 Kính lạy đức Tara, người tiêu diệt hết mọi
luân xa hắc huyền thuật với âm Trad và Phat;
chân phải ngài xếp lại, chân trái ngài duỗi ra, bàn chân ngài đạp xuống,
ngài là ngọn lửa rực, bốc cháy sáng lan tràn .
8 Kính lạy ĐứcTara, quý Mẫu khi phẩn nộ với âm thần Ture
ngài hủy quân Ma vương;
với dung mạo hoa sen cùng thần lực phẩn nộ
ngài quét sạch kẻ thù mà không có ngoại lệ.
9 Kính lạy Đức Tara, tay nghiêm đặt nơi tim
đại diện cho Tam Bảo;
cầm bánh xe Pháp Luân.
với muôn ngàn ánh sáng soi rọi toàn phương hướng
10 Kính lạy Đức Tara, với hào quang hùng vĩ
tăng ánh sáng niềm vui ;
luôn luôn với nụ cười, ngài chinh phục tất cả
quỷ thần và thế giới với âm thần Tuttārā.
11 Kính lạy Đức Tara, ngài triệu tập toàn bộ
giám hộ của trái đất;
với âm Hum oai nghiêm
giải phóng người nghèo khổ
12 Kính lạy Đức Tara, trang sức với hào quang
rực sáng trăng lưỡi liềm
ánh sáng cường độ tỏa
sáng từ Đức Di Đà trong mái tóc Tara.
13 Kính lạy Đức Tara, ngự giữa vòng lửa rực
sáng như lửa hoại kiếp;
với chân phải mở rộng, chân trái cong, hân hoan
ngài tiêu hủy tất cả các lực lượng đối phương.
14 Kính lạy Đức Tara, ngài giậm chân, đập tay
cả hai trên mặt đất
nghiêm nhìn, ngài phá hủy tất cả bảy địa nguc
bởi âm thần chú Hum
15 Kính lạy Đức Tara, với hỷ, đức, an lạc
hoạt động cho hòa bình, dẹp tan mọi ác quỷ
ban niềm vui niết bàn;
thật sự ngài sở hữu chú svāha và om
16 Kính lạy Đức Tara, phá hủy các kẻ thù,
với pháp luân hoan hỷ;
quanh ánh sáng phát sinh từ Hum vidyamantra
đặt trong mười chú âm.
17 Kính lạy Đức Tara, chân chú tự Ture
Cùng với thần âm Hum,
Rung chuyển núi Meru, Mandara, Kailasa,
và ba tầng thế giới.
18 Kính lạy Đức Tara, ngài giữ ở trong tay
vầng trăng bóng quý nai, như hồ nước cỏi tiên;
niệm hai lần âm Tare cùng với chú tự Phat
tinh lọc sạch tuyệt đối tất cả các chất độc.
19 Kính lạy Đức Tara, các Thiên Vương tôn kính,
thiên và thần kinnaras khuất phục dươí chân ngài;
với hỷ giáp sáng chói , vui tươi ngài tiêu diệt
toàn bộ các xung đột và toàn bộ ác mộng.
20 Kính lạy Đức Tara, với ánh mắt nhật nguyệt
sáng lung linh tỏa ra
loại bỏ bệnh truyền nhiễm
qua hai lần chú Hara và âmTuttārā.
21 Kính lạy Đức Tara, đánh dấu ba thực tế,
với sức mạnh an định ,
ngài chính là tối cao của pháp âm Ture,
phá hủy linh hồn ma, dạ xoa cùng với qủy khởi thi ( zombies).
Đây là lời tán dương dựa vào âm thần chú.
Xin kính dâng cúng dường đến Phật Mẫu Tara.
http://prajnaupadesa.net/PrajnaUpade...20-%20Viet.pdf
========
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...n-%C3%A2m-tara
==========
BÀI NGUYỆN SỰ BAN PHƯỚC THẦN TỐC - LỄ TÁN 21 TARA TÔN QUÝ
BÀI NGUYỆN SỰ BAN PHƯỚC THẦN TỐC - LỄ TÁN 21 TARA TÔN QUÝ
OM
Gyelwa Künkyi Chen Ngar Tukyé Gyelwé Yumkyur Malü Gyelwé Trinlé Kündrup Ma.
Dưới nhận thức của tất cả Đấng Chiến Thắng, Ngài phát Bồ Đề Tâm, Ngài là Mẹ của các Đấng Chiến Thắng, hoàn tất mọi hoạt động của hết thảy họ.
Nyurma Pamo Yangchenma Tang Sönam Chokter Namgyel Rikchéma Tang Jikchéma.
Nữ hùng thần tốc, du dương bậc nhất, kho tàng công đức tối thượng, Tôn Mẫu Chiến Thắng, cội nguồn của sự thông hiểu, Tôn Mẫu đáng kính sợ.
Shenkyi Mitup Shenlé Gyeltang Sengdeng Nakyi Drölma Jikten Sumgyel Norterma.
Tôn Mẫu bất khuất, Nữ Thắng Binh của vũ trụ, Tara đến từ Rừng Tếch, Nữ Chủ của Tam Giới, người ban cho tất cả sự sung túc, giàu có.
Trashi Tönché Drapung Joma Tronyer Chendzé Rapshima Tang Barwé Öchen Ma.
Người mang Kiết Tường, Tôn Mẫu giáng đòn xuống các đội quân hung ác, Tôn Mẫu phẫn nộ - cau mày, Tôn Mẫu hiền hoà tột bực, Tôn Mẫu tươi sáng tuyệt vời.
Pamé Nönma Mapcha Chenmo Mipam Gyelmo Ritröma Tang Öser Chenmar Dü.
Người đánh bại vô lượng kẻ thù, Tôn Mẫu Phượng Hoàng vĩ đại, Nữ Hoàng Bất Bại, Tôn Mẫu ngự đỉnh cao, Tôn Mẫu chiếu sáng rạng ngời, con kính đảnh lễ Ngài!
Drokün Sipé Tsolé Drölchir Changchup Topdö Dakyang Khyéla Ré-o Jétsünma.
Chúng con nguyện cầu đạt đến giác ngộ để độ giải thoát chúng hữu tình khỏi đại dương hiện hữu. Bà Mẹ cao quý nhất, chúng con đặt niềm tin vào Ngài.
OM TARE TUTTARE TURE SOHA.
Seng Gé Langchen Médrül Chomkün Tang.
Sư tử và voi, lửa và rắn, kẻ trộm cướp.
Chakdror Gyamtso Shasé Jikpa Nam.
Xích sắt và biển nước mênh mông, tâm ham thích sát hại, tất cả các nỗi khiếp sợ sẽ tan chảy ra xa.
Shindzé Dawé Ötar Silwé Ku.
Và thưa thớt trong ánh nguyệt quang thanh lương bởi sự hiện diện của Ngài.
Jétsün Drölma Yumla Chantsel Tö.
Đức Tara, Mẹ tôn quý, với sự tán thán con xin đảnh lễ Ngài.
Bài nguyện này được biết đến với tên “Bài Cầu Nguyện Ban Phước Thần Tốc”, đã được sử dụng bởi tất cả những Đại Học Giả người Ấn như là bài Kinh Cầu Nguyện thường nhật đến Đức Tara, Bổn Tôn của họ. Bài nguyện được lấy ra từ Tengyur và bài nguyện đem đến sự ban phước thần tốc. Điều này rất quan trọng, nên trì tụng bài nguyện này nhiều lần: 100, 1.000, 10.000 hoặc 100.000 lần!
OM
Trupar Kyurchik Jétsün Tukjé Chen.
Nguyện cầu thành tựu sẽ đạt được, O Tôn Mẫu từ bi tôn quý!
Pama Khyöla Nyendrup Chöpa Tang.
Bằng thực hành tinh tấn, sự hoàn tất và cúng dường.
Töching Sölwa Tapé Tuchin Kyi.
Bằng mãnh lực tán thán và cầu khẩn đến Ngài, Đấng tôn quý tối thượng.
Teng Né Sungté Changchup Matop Par.
Từ nay cho đến khi đạt thành giác ngộ.
Pama Khyötang Taktu Mindrel Shing.
Nguyện cầu chúng con không bao giờ rời xa Ngài, Mẹ Hiền tôn quý!
Némé Tséwang Longchö Pelwa Tang.
Nguyện chúng con thịnh vượng, sung túc, trường thọ, tránh xa mọi thứ bệnh tật.
Changchup Drupla Parchö Minjung Shing.
Không có chướng ngại trên con đường đạt đến Giác Ngộ.
Satang Lamkyi Yönten Nyurdzok Né.
Đạt được thần tốc tất cả các lãnh địa và con đường.
Dashen Tönyi Lhünkyi Drupa Yi.
Nguyện chúng con sẽ đạt được cõi Phật hoàn hảo, sự Toàn Tri.
Namkhyen Dzokpé Sangyé Topar Sho.
Con và chúng sanh hữu tình, đạt được hai loại thành tựu một cách tự nhiên.
Bài nguyện này được trích từ Bảo Tạng của Đức Ratna Lingpa.
TÂM YẾU CỦA 21 TÁN THÁN ĐẾN ĐỨC TARA
Om Jétsünma Pama Drölma La Chantselo.
Om, Thánh Tara, Tôn Quý Tối Thượng, con xin đảnh lễ Ngài.
Chantsel Drölma Taré Pamo.
Con kính đảnh lễ Ngài O Tara, Đấng cứu độ, Đấng đại dũng.
Tuttarayi Jikün Selma.
Với Tuttara Ngài trục xuất sạch nỗi sợ hãi.
Turé Tönam Tamché Terma.
Với Ture một cách giàu có, ban cho tất cả mọi thứ.
Soha Yiker Chéla Rapdü.
Con cung kính phụng thờ Ngài bằng tiếng khẩn cầu thống thiết Soha !
Một lần nọ, Đấng Tôn Quý Vô Song Atisha lưu lại tại Nyetang, Ngài đổ bệnh. Khi Ngài khẩn cầu đến Đức Tara Tôn Quý, Đức Bà mang đến cho Ngài một chỉ dẫn tiên tri nói rằng Ngài phải trì tụng trong thời khóa 1 ngày duy nhất, bài nguyện Lễ Tán 21 Đức Tara túc số là 10.000 lần. Đấng Tôn Quý Atisha đã trả lời rằng: trong 1 ngày thì Ngài không thể hoàn thành khối công việc to lớn như thế được. Và thế là Ngài đã thỉnh cầu Đức Bà ban cho Ngài một cách thức khác diệu dụng. Để trả lời cho sự cầu thỉnh của Ngài, hình thức tâm yếu của bài nguyện Tán Lễ 21 Đức Tara đã được tuyên thuyết cho Ngài bởi chính Đức Bà Tara, ở chính bản văn này, mang theo rất nhiều năng lực ban phước vĩ đại.
Jétsün Pama Drölma Khyé Khyénno.
Bà Mẹ Tối Thượng, Thánh Mẫu Tara, Ngài là Đấng Toàn Tri!
Jiktang Du Ngel Künlé Kyaptu Söl.
Xin bảo hộ con thoát khỏi tất cả nỗi sợ hãi và khổ đau!
OM TARE TUTTARE TURE SOHA.
(Dịch theo bản văn của Tulku Pema Wangyal Rinpoche phát cho mọi người)
http://hiepquanminhhien.blogspot.com...oc-le-tan.html
==========
21 lời tán dương Phật Mẩu Tara
DÎch tØ bän ti‰ng Anh Khenpo Migmar Rinpche cho phép.
Suzan Doan ( Kunga Lhamo) dÎch
Hòa ThÜ®ng Thích NhÜ ñi‹n hiËu Çính
Đây là lời tán dương dựa vào âm thần chú. Xin kính dâng cúng dường đến
Phật Mẩu Tara.
Namo Arya Taraye
Om - Thành kính lạy đấng Quan Âm Tara.
1 Kính lạy đức Tara, vị nữ hùng thần tốc
Mắt sáng như ánh chớp.
Sinh từ nụ nhụy sen
Ngài là đấng cứu độ của toàn ba thế giới.
2 Kính lạy đức Tara, với khuôn mặt sáng ngời
tròn như vầng trăng thu
tỏa rạng ngời ánh sáng
hơn ngàn ánh sao trời.
3.Kinh lạy đức Tara, rực ánh sáng hoàng kim
tay ngài cầm sen quý;
hiện thân ngài bao gồm tuyệt đỉnh những hảo tâm, siêng năng, và ẩn dật ,
hòa bình, và kiên nhẫn, cùng với sự tập trung.
4 Kính lạy đức Tara, hiện thân Đức Đạo Sư
ngài chiến thắng tất cả;
hoàn hảo các viên hạnh,
tôn kính bởi tất cả các vị chư Bồ Tát.
5 Kính lạy đức Tara, âm Tuttare Hum
rọi sáng đầy ba cõi, ham muốn, phương hướng và không gian
chinh phục bảy thế giới,
thâu phục khắp chúng sinh.
6 Kính lạy đức Tara , sùng kính bởi các bậc Đế Thích , Tịch Lịch Thiên,
Phạm Thiên, và Phong Lôi, cùng với cả Đế Thiên.
sự hiện diện của ngài, đều đuợc ca ngợi bởi tất cả các quỷ thần,
Khởi Thi (Vetalis) , Hương Thần(Gandharvas), và Dạ Xoa (Yakshas).
7 Kính lạy đức Tara, người tiêu diệt hết mọi
luân xa hắc huyền thuật với âm Trad và Phat;
chân phải ngài xếp lại, chân trái ngài duỗi ra, bàn chân ngài đạp xuống,
ngài là ngọn lửa rực, bốc cháy sáng lan tràn .
8 Kính lạy ĐứcTara, quý Mẫu khi phẩn nộ với âm thần Ture
ngài hủy quân Ma vương;
với dung mạo hoa sen cùng thần lực phẩn nộ
ngài quét sạch kẻ thù mà không có ngoại lệ.
9 Kính lạy Đức Tara, tay nghiêm đặt nơi tim
đại diện cho Tam Bảo;
cầm bánh xe Pháp Luân.
với muôn ngàn ánh sáng soi rọi toàn phương hướng
10 Kính lạy Đức Tara, với hào quang hùng vĩ
tăng ánh sáng niềm vui ;
luôn luôn với nụ cười, ngài chinh phục tất cả
quỷ thần và thế giới với âm thần Tuttārā.
11 Kính lạy Đức Tara, ngài triệu tập toàn bộ
giám hộ của trái đất;
với âm Hum oai nghiêm
giải phóng người nghèo khổ
12 Kính lạy Đức Tara, trang sức với hào quang
rực sáng trăng lưỡi liềm
ánh sáng cường độ tỏa
sáng từ Đức Di Đà trong mái tóc Tara.
13 Kính lạy Đức Tara, ngự giữa vòng lửa rực
sáng như lửa hoại kiếp;
với chân phải mở rộng, chân trái cong, hân hoan
ngài tiêu hủy tất cả các lực lượng đối phương.
14 Kính lạy Đức Tara, ngài giậm chân, đập tay
cả hai trên mặt đất
nghiêm nhìn, ngài phá hủy tất cả bảy địa nguc
bởi âm thần chú Hum
15 Kính lạy Đức Tara, với hỷ, đức, an lạc
hoạt động cho hòa bình, dẹp tan mọi ác quỷ
ban niềm vui niết bàn;
thật sự ngài sở hữu chú svāha và om
16 Kính lạy Đức Tara, phá hủy các kẻ thù,
với pháp luân hoan hỷ;
quanh ánh sáng phát sinh từ Hum vidyamantra
đặt trong mười chú âm.
17 Kính lạy Đức Tara, chân chú tự Ture
Cùng với thần âm Hum,
Rung chuyển núi Meru, Mandara, Kailasa,
và ba tầng thế giới.
18 Kính lạy Đức Tara, ngài giữ ở trong tay
vầng trăng bóng quý nai, như hồ nước cỏi tiên;
niệm hai lần âm Tare cùng với chú tự Phat
tinh lọc sạch tuyệt đối tất cả các chất độc.
19 Kính lạy Đức Tara, các Thiên Vương tôn kính,
thiên và thần kinnaras khuất phục dươí chân ngài;
với hỷ giáp sáng chói , vui tươi ngài tiêu diệt
toàn bộ các xung đột và toàn bộ ác mộng.
20 Kính lạy Đức Tara, với ánh mắt nhật nguyệt
sáng lung linh tỏa ra
loại bỏ bệnh truyền nhiễm
qua hai lần chú Hara và âmTuttārā.
21 Kính lạy Đức Tara, đánh dấu ba thực tế,
với sức mạnh an định ,
ngài chính là tối cao của pháp âm Ture,
phá hủy linh hồn ma, dạ xoa cùng với qủy khởi thi ( zombies).
Đây là lời tán dương dựa vào âm thần chú.
Xin kính dâng cúng dường đến Phật Mẫu Tara.
http://prajnaupadesa.net/PrajnaUpade...20-%20Viet.pdf
========
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...n-%C3%A2m-tara
==========
BÀI NGUYỆN SỰ BAN PHƯỚC THẦN TỐC - LỄ TÁN 21 TARA TÔN QUÝ
BÀI NGUYỆN SỰ BAN PHƯỚC THẦN TỐC - LỄ TÁN 21 TARA TÔN QUÝ
OM
Gyelwa Künkyi Chen Ngar Tukyé Gyelwé Yumkyur Malü Gyelwé Trinlé Kündrup Ma.
Dưới nhận thức của tất cả Đấng Chiến Thắng, Ngài phát Bồ Đề Tâm, Ngài là Mẹ của các Đấng Chiến Thắng, hoàn tất mọi hoạt động của hết thảy họ.
Nyurma Pamo Yangchenma Tang Sönam Chokter Namgyel Rikchéma Tang Jikchéma.
Nữ hùng thần tốc, du dương bậc nhất, kho tàng công đức tối thượng, Tôn Mẫu Chiến Thắng, cội nguồn của sự thông hiểu, Tôn Mẫu đáng kính sợ.
Shenkyi Mitup Shenlé Gyeltang Sengdeng Nakyi Drölma Jikten Sumgyel Norterma.
Tôn Mẫu bất khuất, Nữ Thắng Binh của vũ trụ, Tara đến từ Rừng Tếch, Nữ Chủ của Tam Giới, người ban cho tất cả sự sung túc, giàu có.
Trashi Tönché Drapung Joma Tronyer Chendzé Rapshima Tang Barwé Öchen Ma.
Người mang Kiết Tường, Tôn Mẫu giáng đòn xuống các đội quân hung ác, Tôn Mẫu phẫn nộ - cau mày, Tôn Mẫu hiền hoà tột bực, Tôn Mẫu tươi sáng tuyệt vời.
Pamé Nönma Mapcha Chenmo Mipam Gyelmo Ritröma Tang Öser Chenmar Dü.
Người đánh bại vô lượng kẻ thù, Tôn Mẫu Phượng Hoàng vĩ đại, Nữ Hoàng Bất Bại, Tôn Mẫu ngự đỉnh cao, Tôn Mẫu chiếu sáng rạng ngời, con kính đảnh lễ Ngài!
Drokün Sipé Tsolé Drölchir Changchup Topdö Dakyang Khyéla Ré-o Jétsünma.
Chúng con nguyện cầu đạt đến giác ngộ để độ giải thoát chúng hữu tình khỏi đại dương hiện hữu. Bà Mẹ cao quý nhất, chúng con đặt niềm tin vào Ngài.
OM TARE TUTTARE TURE SOHA.
Seng Gé Langchen Médrül Chomkün Tang.
Sư tử và voi, lửa và rắn, kẻ trộm cướp.
Chakdror Gyamtso Shasé Jikpa Nam.
Xích sắt và biển nước mênh mông, tâm ham thích sát hại, tất cả các nỗi khiếp sợ sẽ tan chảy ra xa.
Shindzé Dawé Ötar Silwé Ku.
Và thưa thớt trong ánh nguyệt quang thanh lương bởi sự hiện diện của Ngài.
Jétsün Drölma Yumla Chantsel Tö.
Đức Tara, Mẹ tôn quý, với sự tán thán con xin đảnh lễ Ngài.
Bài nguyện này được biết đến với tên “Bài Cầu Nguyện Ban Phước Thần Tốc”, đã được sử dụng bởi tất cả những Đại Học Giả người Ấn như là bài Kinh Cầu Nguyện thường nhật đến Đức Tara, Bổn Tôn của họ. Bài nguyện được lấy ra từ Tengyur và bài nguyện đem đến sự ban phước thần tốc. Điều này rất quan trọng, nên trì tụng bài nguyện này nhiều lần: 100, 1.000, 10.000 hoặc 100.000 lần!
OM
Trupar Kyurchik Jétsün Tukjé Chen.
Nguyện cầu thành tựu sẽ đạt được, O Tôn Mẫu từ bi tôn quý!
Pama Khyöla Nyendrup Chöpa Tang.
Bằng thực hành tinh tấn, sự hoàn tất và cúng dường.
Töching Sölwa Tapé Tuchin Kyi.
Bằng mãnh lực tán thán và cầu khẩn đến Ngài, Đấng tôn quý tối thượng.
Teng Né Sungté Changchup Matop Par.
Từ nay cho đến khi đạt thành giác ngộ.
Pama Khyötang Taktu Mindrel Shing.
Nguyện cầu chúng con không bao giờ rời xa Ngài, Mẹ Hiền tôn quý!
Némé Tséwang Longchö Pelwa Tang.
Nguyện chúng con thịnh vượng, sung túc, trường thọ, tránh xa mọi thứ bệnh tật.
Changchup Drupla Parchö Minjung Shing.
Không có chướng ngại trên con đường đạt đến Giác Ngộ.
Satang Lamkyi Yönten Nyurdzok Né.
Đạt được thần tốc tất cả các lãnh địa và con đường.
Dashen Tönyi Lhünkyi Drupa Yi.
Nguyện chúng con sẽ đạt được cõi Phật hoàn hảo, sự Toàn Tri.
Namkhyen Dzokpé Sangyé Topar Sho.
Con và chúng sanh hữu tình, đạt được hai loại thành tựu một cách tự nhiên.
Bài nguyện này được trích từ Bảo Tạng của Đức Ratna Lingpa.
TÂM YẾU CỦA 21 TÁN THÁN ĐẾN ĐỨC TARA
Om Jétsünma Pama Drölma La Chantselo.
Om, Thánh Tara, Tôn Quý Tối Thượng, con xin đảnh lễ Ngài.
Chantsel Drölma Taré Pamo.
Con kính đảnh lễ Ngài O Tara, Đấng cứu độ, Đấng đại dũng.
Tuttarayi Jikün Selma.
Với Tuttara Ngài trục xuất sạch nỗi sợ hãi.
Turé Tönam Tamché Terma.
Với Ture một cách giàu có, ban cho tất cả mọi thứ.
Soha Yiker Chéla Rapdü.
Con cung kính phụng thờ Ngài bằng tiếng khẩn cầu thống thiết Soha !
Một lần nọ, Đấng Tôn Quý Vô Song Atisha lưu lại tại Nyetang, Ngài đổ bệnh. Khi Ngài khẩn cầu đến Đức Tara Tôn Quý, Đức Bà mang đến cho Ngài một chỉ dẫn tiên tri nói rằng Ngài phải trì tụng trong thời khóa 1 ngày duy nhất, bài nguyện Lễ Tán 21 Đức Tara túc số là 10.000 lần. Đấng Tôn Quý Atisha đã trả lời rằng: trong 1 ngày thì Ngài không thể hoàn thành khối công việc to lớn như thế được. Và thế là Ngài đã thỉnh cầu Đức Bà ban cho Ngài một cách thức khác diệu dụng. Để trả lời cho sự cầu thỉnh của Ngài, hình thức tâm yếu của bài nguyện Tán Lễ 21 Đức Tara đã được tuyên thuyết cho Ngài bởi chính Đức Bà Tara, ở chính bản văn này, mang theo rất nhiều năng lực ban phước vĩ đại.
Jétsün Pama Drölma Khyé Khyénno.
Bà Mẹ Tối Thượng, Thánh Mẫu Tara, Ngài là Đấng Toàn Tri!
Jiktang Du Ngel Künlé Kyaptu Söl.
Xin bảo hộ con thoát khỏi tất cả nỗi sợ hãi và khổ đau!
OM TARE TUTTARE TURE SOHA.
(Dịch theo bản văn của Tulku Pema Wangyal Rinpoche phát cho mọi người)
http://hiepquanminhhien.blogspot.com...oc-le-tan.html
=========
KINH VỀ THÁNH TARA: NGƯỜI BẢO VỆ KHỎI TÁM NẠN.
KINH VỀ THÁNH TARA:
NGƯỜI BẢO VỆ KHỎI TÁM NẠN
(Àrya – tàrà – asta – ghora – tàrànì – sùtra)
* * *
* * *
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Đấng Tara Tôn quý
Kính lễ Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni
Như vậy tôi nghe, một thời Đức Thế Tôn ngự tại cõi trời trên núi Tu Di. Khi ấy, Thánh mẫu Tara ở trong chúng hội đứng lên nói rằng:
1. Để có được viên ngọc báu giống như Thiên đường
Hãy hiểu rõ mọi hành động và kết quả của nó
Giữ gìn điều lành và lánh xa điều xấu ác
Bất kỳ ai gây ra mọi hành động sai lầm
Sẽ ở trong cuộc sống dẫn đến sự đọa lạc.
2. Những gia súc bị câm và trì độn
Phải leo lên những con đường chán ngắt
Và trèo xuống những vách đá cheo leo
Chợt rơi vào sự sợ hãi kinh hoàng, run rẩy, lo âu
Bằng lời cảnh báo toàn vẹn này
Nếu người nào ăn thịt những con vật ấy
Người đó chẳng thể nào nhận biết được khổ đau của chúng.
3. Những Ngạ quỷ đói khát
Và thân thể chúng sẽ chẳng chịu hoạt động
Cần phải có đồ ăn, đồ uống
Nhưng lại có người khác bảo vệ thức ăn này
Hay nếu như chúng ăn chút ít
Thức ăn sẽ biến thành lửa hay là gươm đao
Sự khổ về đói và khát này
Không thể nào nhận biết được.
4. Những hữu tình sanh nơi Địa ngục
Bị nghiệp ác dẫn dắt, chống lại ý chí mình
Bị thiêu đốt, đun nấu, và bị băm nhỏ
Bởi những vật vô cùng sắc bén
Nỗi khổ của họ, nóng hay lạnh,
Không thể nào chịu đựng được.
5. Như vậy, làm điều sai trong đời này
Nghiệp báo sẽ tỏ rõ cho chính kẻ ấy
Và chồng chất thêm những thống khổ ưu phiền khó chịu
Cho kẻ đó trong nhiều a tăng kỳ kiếp
Mà kẻ đó chẳng lúc nào thoát khỏi
Và chẳng phải tình cờ hứng chịu.
6. Hãy hiểu sự ảnh hưởng của nghiệp bằng sự suy tưởng rõ ràng
Những nỗi khổ không thể chịu đựng và những thống khổ than van
Người đó, lời lẽ thô tục, thân hình hung tợn
Cùng âm giọng làm người ta sợ hãi
Những điều này và những nỗi khổ khác,
Không thể được nhận biết.
7. Người biết rõ những lầm lỗi
Cùng sự phóng túng gây ra ba nỗi khổ đau
Và trong bất kỳ tội ác nặng nề hay gian xảo nào
Không bao giờ thảo luận với Thân Khẩu Ý.
8. Nhưng dù hạnh phúc của chính họ cứu giúp mọi hành giả
Trừ bỏ tham lam, ganh ghét, ảo tưởng
Gieo trồng gốc rễ từ bi
Và giữ gìn Thân Khẩu Ý trong sạch,hành giới
Do vậy, hãy theo đuổi bản thể sâu xa này.
9. Nếu giá rét làm hư quả
Thì dù có cấy trồng, cũng chẳng thể đâm chồi
Vì thế có nhiều người nghi ngờ và dứt bỏ hạnh nguyện
Dù rằng họ thực hành những Thần chú sâu sắc nhất.
10. Nghĩ là hạnh phúc đến, nhưng nó chẳng xảy ra
Những công sức khó nhọc chỉ là sự mệt mỏi vô nghĩa
Những Thần chú giống những bài dân ca chung chung
Và sự tập trung của họ chỉ như những ý tưởng của trẻ con.
11. Nếu có ai thực hành những Thần chú đó mà không lầm lỗi
Thì họ sẽ nhanh chóng đạt được những gì mà mình ao ước
Ví như hạt cây banyan (nyagrodha – cây đa) tuy rất nhỏ
Nhưng nó sẽ mọc tốt khi tưới nước và phân.
12. Nếu ngay cả ngoài tường nó đã mọc như vậy
Thì trong bảy năm nó sẽ mọc tràn một dặm ngang
Sự thực hành tri giác với tri giác ra sao?
Sự trưởng thành của tâm trí trong sáng là vô hạn.
13. Nếu một người tin vào những du khách biết đường
Và rồi ra khơi cùng con thuyền thích hợp
Rồi khi người đó tìm ra châu báu như mong ước
Theo đúng dòng chảy, anh ta tìm đến nhà của chính mình.
14. Với tâm Bồ đề, hãy tin vào Từ, Ái
Niềm vui, sự thanh thản, hành Giới
Và tiến vào chánh đạo hoàn toàn
Ngươi sẽ đạt đến giai đoạn kiến thức nào đó.
15. Nếu mũi tên, được bắn bởi một người, đã rơi xuống
Thật sự là nó đã được bắn ra
Cho dù người đó không nghĩ vậy
Khi một người đã nhận thức mọi nghĩa của Pháp
Thì người đó đã vượt xa
Cho dù anh ta không nghĩ vậy.
16. Phương diện và tính chất của các hành động, cùng những phần đã hoàn thiện
Anh ta sẽ đạt được Phật quả mà chẳng chút nghi ngờ
Nếu như hiểu được rằng Pháp vốn thanh tịnh
Không có bản ngã, không có sự sống
Và cũng không có đoạn lìa sự sống.
17. Không có nghiệp và không có Thục nghiệp
Người đó, từ bỏ những cực đoan và được giải thoát
Nếu muốn nhận biết lợi lạc đó, ngươi hãy lặp lại
Chân thật thành kính bản thể này, ta sẽ thuyết giảng.
18. Tội ác vô số của ba a tăng kỳ kiếp sẽ tan biến
Mọi khổ đau của tam giới về phiền muộn và luân hồi
Sẽ được rửa sạch đi và những nơi tối tăm được soi sáng.
Bản thể lợi ích này như sau:
OM! Bodhisattva-mahàsattvà
Hỡi Nữ thần ! Xin Người hãy che chở cho con.
OMNAMA ÀRYA – AVALOKITE’SVARÀYA Kinh Về Thánh Tara – Người Bảo Vệ Khỏi Tám Nạn.
BODHISATTVÀYA MAHÀSATTVÀYA – MAHÀKÀRUNIKÀYA ! TAD-YATHÀ : OM TÀRE TUTTÀRE TURE SARVA- DUSTÀN PRADUSTÀN MAMA KRTE JAMBHAVA STAMBHAVA MOHAYA BANDHAYA HÙM HÙM HÙM PHAT PHAT PHAT SVÀHÀ !
NAMA ÀRYÂVALOKABHAYÀ NARÀ BODHISATTVÀ MAHÀSATTVÀNI, ADHISTHÀNA ADHISTHITE, MAMA SARVA – KARMA – ÀVARANA – SVABHÀVA – ‘SUDDHE VI’SUDDHE ‘SODHAYA VI’SODHAYA HÙM PHAT SVÀHÀ !
OM: kính lễ Thánh Quán Tự Tại
Bodhisattva-mahàsattvà, bậc Từ bi vô lượng
Như vậy:
OM TÀRE TUTTÀRE TURE, nghiền nát, kiểm soát, làm tiêu tan, cản trở mọi tội ác và những việc ác con đã làm HÙM HÙM HÙM PHAT PHAT PHAT SVÀHÀ !
Xin kính lễ Đức Thánh Quán Tự Tại
Bậc Vô úy, Đại từ Đại bi, đã tạo ra thần thông, đang tạo ra quyền uy, sự tinh khiết, sự tinh khiết hoàn toàn ; tinh lọc, tinh lọc hoàn toàn mọi nghiệp tăm tối của con trước thiên tính HÙM PHAT SVÀHÀ !
19. Vì vậy, trước quyền năng của Đức Thế Tôn
Con xin dâng trọn lời ca tụng đến Thánh mẫu.
20. Với lòng Từ vĩ đại
Ngài tạo hạnh phúc cho chúng hữu tình
Hoàn toàn trong Hình tướng và Biểu tượng
Được điểm tô bằng những trang sức châu báu
Cổ Ngài rất đẹp và gương mặt hoan hỷ đang mỉm cười.
21. Mắt Ngài như hoa sen có gai
Tai Ngài giống như hoa Uk-cho nở rộ
Mũi Ngài như từng mảnh hoa Ưu bát la
Miệng Ngài như cây Thục quỳ đã lớn.
22. Thân của Ngài, một thân hình thiếu nữ duyên dáng, có nhiều hình thể khác nhau
Khẩu ngữ Kalavinka của Ngài tuyên thuyết giáo pháp
Tâm Từ bi của Ngài là người bảo vệ yêu quý của các hữu tình.
23. Bên trái của Ngài, một hoa sen không tỳ vết bởi những lầm lạc của luân hồi
Và bên phải, tạo nơi nương tựa, làm lợi lạc cho chúng hữu tình
Ngài ngồi trên tòa nhật, nguyệt, phương tiện, và trí tuệ
Hỡi Tàrà Tôn quý,con đến trước Ngài để quy y.
24. Xin bảo vệ con khỏi Địa ngục to lớn của luân hồi
Đừng bao giờ để con luân chuyển trong sáu nẻo
Xin giữ chặt con bằng sợi dây Đại từ của Ngài
Đừng để con chạy đến ba nơi Nghiệp Sân.
25. Xin hãy đặt con vào con đường mà con không thể nào lạc lối
Đừng để con sanh ra với những quan điểm sai lầm
Hãy cho con diện kiến Bậc Đạo Sư với tâm Bồ đề
Đừng để con gặp phải những người bạn xấu.
26. Hãy bảo vệ con khỏi tám nạn hiểm nguy
Sư tử, voi, lửa, rắn, nước, kẻ cướp, dịch bệnh và đói khát
Con xin kính lễ Ngài
Trong đời này và trong những đời sau
Xin hãy bảo vệ con khỏi tám nạn này.
27. Cho đến khi con đạt được quả tuyệt luân
Hãy cho con gìn giữ chẳng xa lìa mười Paramità:
Bố thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Thiền, Tuệ, Phương tiện, Nguyện, Lực, và Trí tuệ tối thượng.
Bất kỳ kẻ trai lành, người nữ thiện vào cũng nên viết, đọc, lặp lại, gìn giữ, thực hành đúng theo giáo pháp này và giảng dạy rộng rãi cho những người khác.
Nói như vậy xong, Đức Thế Tôn và toàn thể chúng hội hoan hỷ và tán dương lời của Ngài.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2014.
The Maha-Vairocana-Abhisambodhi Tantra: With Buddhaguhya's Commentary
https://books.google.com.vn/books?isbn=1135796548 - Dịch trang này
Stephen Hodge - 2005 - Philosophy
( 196b) The mantra for the oblations: NSB GAGANA-SAMASAMA SVAHA. These should done both at the beginning and the end. For rituals where you recite the essence mantras, you should recite: OM BHAGAVAN VAIROCANA IDAM GANDHI PR/77 GRHYA IDAM ME KARYA KURU SVAHA, doing likewise for them all ...
The Argha Mantra:- Namaḥ Samantabuddhanam, Gaganasamasama Svaha. (Homage To All Buddhas! O You Who Are Equal To The Sky And Unequaled! Svaha!)
https://vi.scribd.com/document/19624...d-Bodhisattvas
======
- Gagana sama-asama svāhā: Quyết định thành tựu Đẳng Vô Đẳng như hư không)
)namaḤ Samanta-buddhĀnĀṂ_ Gagana Sama Asama SvĀhĀ Dùng 2 Tay Nâng Vật Khí Ngang Trán, Quỳ Gối Tụng Chân Ngôn 3 Lần Dâng Hiến Át Già
You can create new ringtone& immediately assign to contact or set as default ringtone. You need to manually write your ...
[PDF]呉音から西洋古典語へ
https://tsukuba.repo.nii.ac.jp/?action=repository...
Dịch trang này
viết bởi 秋山学
呉音から西洋古典語へ. ― 第 部 印欧語文献としての弘法大師請来密 経典 ―. 24】如来念処. Namaḥ samanta-buddhānāṃ tathāgata-smṛti-sattva-hita-abhyudgata gaga- na-sama-asama svāhā. 普き諸佛に帰命す.如来の念をもっ smṛti 有情の利益 sattva-hita. (<√dhā)を現出する abhi-ud-gata,虚空に gagana 等しく無等比なる.
=========
以二手捧阏伽器,口诵真言。观想献 阏伽水,行者三业得清净。
【秘】东密十八道行法大解密(四) 请本尊
【唐密真言】:
南么(1) 三曼多勃驮喃(2) 伽伽娜三 三摩(3) 莎诃(4)
namah(1) samanta-buddhanam(2) gagana-samasama(3) svaha(4)
二十二、閼伽 閼伽香水である。閼 は無垢と言い、或は円満と言う。印 宝珠の印にして、一滴の閼伽より雲 海の供養を流出する意である。真言 「ががのう.こくうさんば.あさん 」
【东密真言】:Onn . ba-za-ra . da-gya-ta . unn
https://uphinhnhanh.com/images/2017/12/17/K.png
http://blog.sina.com.cn/s/blog_7ed6eace0102v1jy.html
======
Mật Tạng Bộ 2 – No. 949 (Tr.190àTr.193)
KỲ ĐẶC TỐI THẮNG KIM LUÂN PHẬT ĐẢNH
NIỆM TỤNG NGHI QUỸ PHÁP
Hán dịch: Không biết tên người dịch
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ
Phục hồi Phạn Chú : HUYỀN THANH
Chân Ngôn tắm gội:
Úm, tát phạ bà phạ truật độ hám
輆 辱矢向 圩砰曳
OṂ_ SVABHĀVA ŚUDDHA-UHAṂ
Do tụng Minh ba lần nên ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý cho đến khắp cả Pháp Giới…tất cả đều thanh tịnh.
https://quangduc.com/a54577/ky-dac-t...-nghi-quy-phap
_Tiếp kết Phụng Át Già Ấn:
Hai tay ngửa lòng như đồ đựng
Co Tấn Lực (2 ngón trỏ) lại bên Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa)
Thiền Trí (2 ngón cái) hơi cong phụ Tấn Lực (2 ngón trỏ)
Nâng vật ba vòng, ngang trên trán
Tưởng tắm Thánh chúng, sạch như sen.
Chân Ngôn Át Già tắm rửa Thánh là:
Nẵng ma tam mãn đa mẫu đà nẫm, nga nga nẵng tảm ma sa ma, sa-phạ hạ
巧休 屹亙阢 后盍觡袎丫丫傛 屹交屹涗袎送扣
NAMAḤ SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ _ GAGANA SAMA ASAMA _ SVĀHĀ
Do kết Ấn này, tụng Chân Ngôn, dâng hiến Át Già tắm rửa Thánh Chúng nênm biểu thị cho nghiệp dơ bẩn từ vô thủy của người tu hành đều tiêu trừ, được trong sạch như hoa sen màu nhiệm, đời sau đắc được Trí Vô Nhiễm.
============
át già khí
(閼伽器) Vốn chỉ cái đồ đựng át già, sau chuyển sang chỉ chung các đồ dùng cúng Phật. Cũng gọi Át-ca-khí. Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 (Đại 49, 398 trung), nói: A già (át già), đây dịch là khí (đồ dùng); phàm đồ dùng cúng dường đều gọi là a già. Đối với Mật giáo, át già là một trong sáu thứ đồ dùng, tức đồ đựng át già là một trong sáu thứ cúng dường. Đồ cúng dường này do chén át già và đài át già hợp thành. Chén át già giống hình cái bát, còn đài át già là cái đế để đặt chén lên trên. Trong chén chứa đầy át già, hoa tươi và cỏ thơm, khiến cho nước trong chén rất thơm tho tinh khiết. Cứ theo kinh Tô tất địa yết la quyển hạ phẩm Phụng thỉnh chép, đồ át già tùy theo phép tu mà có chất liệu khác nhau: hoặc làm bằng vàng, bạc, đồng, đá, gỗ v.v..hay làm bằng lá sen. Ngày nay, Mật tông phần nhiều dùng đồng hoặc vàng để chế tạo. [X. Kinh Nhuy-hi-da Q.trung phẩm Ma-ha-mạn-đồ-la; Kinh Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ-tát Tâm Mật Ngôn Niệm Tụng Nghi Quĩ; Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ].
http://phatam.org/dictionary/detail/...6/at-gia-khi/9
át già hoa
(閼伽花) Chỉ cho hoa cúng Phật đựng trong át già, thường dùng hoa tươi hoặc lá thơm tùy theo mùa. Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ (Đại 19, 596 thượng), nói: Tại hai bên ở bốn cửa đàn đều đặt hai đồ đựng át già chứa đầy nước thơm, bên trong thả hoa uất kim và các thứ hoa khác nổi lên, rất thơm ngát và tinh khiết.
http://anphat.org/dictionary/detail/...3/at-gia-hoa/9
hiến át già hương thuỷ ấn
(獻閼伽香水印) Ấn khế dâng cúng nước thơm trong Mật giáo. Một trong 18 khế ấn. Khi bưng bình át già lên, hành giả quán tưởng đây là nước rửa chân cho Thánh chúng. Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nam nga nga nẳng sa mãng sa mãng sa phạ ha , nghĩa là: Qui mệnh phổ biến chư Phật hư không đẳng vô đẳng thành tựu . Hành giả nhờ tu pháp mà rửa sạch các phiền não và 3 nghiệp được thanh tịnh. (xt. Thập Bát Khế Ấn).
http://phatam.org/dictionary/detail/...uong-thuy-an/7
================
TOP > やさしい仏教入門 > 閼伽
■価値ある功徳の水。
■霊地の水。清浄な水。お客様に捧 る水。
■修験道においては、閼伽をお釈迦 の心の水として特に重視します。
閼伽器と樒の葉
樒 しきみ
お供え物の代表格
閼伽はサンスクリット語アルギャの 写です。阿伽、遏伽あつかとも書き す。原語の意味は価値ある物を意味 します。最初はお供物を指しました 、後にお供物を盛る容器も閼伽と呼 ようになります。
そして、インドでは仏様や神様にお え物をする時、水は必ず供えられま たので、特にお供え用の水を閼伽ま たは閼伽水と呼ぶようになりました
閼伽を汲む専用の井戸 閼伽井あか
閼伽を入れる桶 閼伽桶あかおけ
閼伽桶を置く棚 閼伽棚あかだな
閼伽を入れる器 閼伽器あかき
閼伽水を桶から器に移す坏 閼伽坏 かづき
閼伽水に浮かべて供える樒しきみ 伽の花あかのはな
といいます。
樒 しきみ
独特の香りを持つ常緑樹です。香の 、香の花、香柴、花柴、花榊はなさ きとも呼ばれます。葉や樹皮からお 香や殺虫剤が作られます。
仏事用の花として知られていますが 御神木になっている場合もあります
六種供養
密教では閼伽は大事な供養品のひと です。六種供養ろくしゅくよう=本 に供養する6種類のお供物のひとつ です。六波羅蜜に対照すると次のよ になります。
六種供養
六波羅蜜
閼伽 あか
塗香 ずこう
華鬘 けまん
焼香 しょうこう
飯食 ぼんじき
灯明 とうみょう 布施 ふせ
持戒 じかい
忍辱 にんにく
精進 しょうじん
禅定 ぜんじょう
智慧 ちえ
閼伽を除いた場合は五種供養といい す。
浄めの水 香水
閼伽水を汲むときは、身と心を清め 平等の智恵を得る、閼伽文という文 読んでから汲みます。また清浄な水 を汲むことで煩悩を洗い落とす意味 あります。
閼伽水は、そのまま潅いだり、洗っ りして浄める他、お香を入れてお加 をし、香水こうずいにして使用しま す。
https://uphinhnhanh.com/images/2017/...itled08045.png
( http://tobifudo.jp/newmon/kigan/aka.html )
CHÚ CỦA NHẬT
( CÁC CHÚ CĂN BẢN CỦA NGHI QUỸ ĐÔNG MẬT )
[PDF]呉音から西洋古典語へ
https://tsukuba.repo.nii.ac.jp/?action=repository...
Dịch trang này
viết bởi 秋山学
呉音から西洋古典語へ. ― 第 部 印欧語文献としての弘法大師請来密 �経典 ―. 24】如来念処. Namaḥ samanta-buddhānāṃ tathāgata-smṛti-sattva-hita-abhyudgata gaga- na-sama-asama svāhā. 普き諸佛に帰命す.如来の念をもっ � smṛti 有情の利益 sattva-hita. (<√dhā)を現出する abhi-ud-gata,虚空に gagana 等しく無等比なる.
Dâng Tịnh Thủy (Nước)
Thủy trong rạng ánh Phật Đài
Nhiệm mầu Cam Lộ bệnh tai tiêu trừ
Cúng dường Các Đấng Chân Như
Sạch tan ba nghiệp An Cư Đạo Tràng
NA MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng Tịnh-Thủy Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM AMRTODBHAVE SVAHA ( 7 lần )
Thủy trong rạng ánh Phật Đài
Nhiệm mầu Cam Lộ bệnh tai tiêu trừ
Cúng dường Các Đấng Chân Như
Sạch tan ba nghiệp An Cư Đạo Tràng
NA MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng Tịnh-Thủy Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM AM-RỜ-TỐT-BA-VÊ SOA-HA ( 7 lần )
Dâng Trà Cúng Chư Phật-Bồ Tát
Vũ lộng khổng tước Triệu Châu Trà
Thanh thủy hương tuyền hổ phách ba
Phân khí ngọc bôi hương phức uất
Cúng dường Phật Thánh hỷ thiện đa
NA MÔ CAM LỒ VƯƠNG BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng-Trả Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM SVABHAVA SPHUTA DAHANA VAJRAYA SVAHA ( 7 lần )
Vũ lộng khổng tước Triệu Châu Trà
Thanh thủy hương tuyền hổ phách ba
Phân khí ngọc bôi hương phức uất
Cúng dường Phật Thánh hỷ thiện đa
NA MÔ CAM LỒ VƯƠNG BỒ TÁT, MA HA TÁT ( 3 lần )
*Dâng-Trả Cúng-Dường Chơn Ngôn:
OM XOA-BA-VA SỜ-PHU-TA ĐA-HA-NA VẮC-RA-GIA SOA-HA ( 7 lần )
------
LỤC VỊ TRÀ
DÂNG CÚNG PHẬT THANG
( 茶湯六味 )
1. TRÀ ( CHÈ XANH THÁI NGUYÊN = CHÈ MẠN )
2. TRẦM ( = TRẦM HƯƠNG )
3. ĐÀN HƯƠNG ( = BẠCH ĐÀN HƯƠNG )
4. QUẾ ( = QUAN QUẾ )
5. CAM THẢO ( = BẮC CAM THẢO )
6. ĐẠI TÁO ( = TÁO ĐỎ )
" Phật trà Đàn, Thảo, Tinh Quan Quế,
Tước, Trầm, Đại Táo tiến lai nghinh. "
*Trích từ Sách " Hành Trì Diễn Giải Toàn Tập " - Nguyên Tác: Tôn Giả HUYỀN QUANG - Việt dịch: Nguyên Phúc:
LỤC VỊ TRÀ DÂNG CÚNG PHẬT THANG - Thang Trà Cúng Phật gồm có 6 Vị: Đàn Hương, Cam Thảo, Quan Quế, Trà Tước Thiệt ( Hiện nay đã " Thất Truyền ", có thể thay bằng TRÀ MẠN ), Trầm Hương, Đại Táo.
*Hình mô tả Lục Vị và Liều Dùng:
1. ĐÀN HƯƠNG ( 檀香 )................................................. . .........1,5 - 3g
2. CAM THẢO - CAM THẢO BẮC - BẮC CAM THẢO - SINH CAM THẢO - QUỐC LÃO ( 甘草 )................................................. ...........4 - 12g, có khi dùng đến 50g, tùy mục đích sử dụng, dùng làm thuốc điều hòa lượng thường dùng ít, dùng để giải độc lượng phải nhiều
3. TINH QUAN QUẾ - QUAN QUẾ - QUẾ QUAN ( 官桂 ): Vỏ Quế cuộn Tròn thành Hình Ống gọi là QUAN QUẾ - Là loại QUẾ NON Vỏ Mỏng lấy từ Thân Cây Quế có độ tuổi 6 - 7 tuổi. Quan Quế có Tính Táo hơn Nhục Quế (do có ít Chất Tinh Dầu hơn) và tính Nhiệt Thấp hơn. Loại Quế này mọc và trồng nhiều tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam Trung Quốc, ta cũng có loại Quế này thuộc loại Quế tốt thứ 2 trên thế giới sau loại Quế Quan của Xirilanca......................................... ........................2 - 6g
4. TRÀ TƯỚC THIỆT ( 雀舌茶 ): “Khi Đọt Trà mới Nhú, đang còn như Lưỡi Chim Sẻ (Tước Thiệt) sẽ được hái thu hoạch rồi Sao mà thành” - Trà “ Mỏ Sẻ ” (Trà Tước Thiệt). Đây là loại Trà Búp, sau chế biến Khô Quăn thanh nhỏ như Lưỡi Chim Sẻ. Tước Thiệt Trà là loại Danh Trà Xưa của Đại Việt rất Thơm Ngon từng được ghi nhận trong Anam Vũ Cống (Dư Địa Chí) của Danh Nhân Văn Hoá Nguyễn Trãi (1380-1442). Ông cho hậu thế biết Chân Sa Bôi nổi tiếng về sản xuất loại Trà “Tước Thiệt” (Tước Thiệt Trà: Cánh Nhỏ mà Cong như Lưỡi Con Chim Sẻ là 1 trong vài loại Trà nổi danh Kim Cổ. Châu Sa Bôi Xưa gồm 6 Động,15 Trang, 68 Sách. Sa Bôi nay là Vùng Cam Lộ, Quảng Trị song dấu tích về Trà Tước Thiệt không còn chút gì vương vấn nơi đây. Dương Văn An (1514 – 1591) lưu lại bóng dáng loại Danh Trà này trong tác phẩm Ô Châu Cận Lục: “Trà ở Huyện Kim Trà nay là Hương Trà Huế tên gọi Lưỡi Sẻ (Tước Thiệt) trồng tại Những Đồi Núi An Cựu, giải thoát, trừ phiến, chữa thuỷ đứng đầu 100 loại thảo dược, tính linh diệu..”....................................... ..............5 - 10 gram Trà Khô
Hiện nay " TRÀ TƯỚC THIỆT - Danh Trà đã Thất Truyền ", Ta có thể thay bằng TRÀ MẠN / CHÈ MẠN ( 漫茶 ) ; hay còn được gọi là TRÀ /TRÀ XANH ( 緑茶 ) được làm từ Lá, Búp Cây Chè được Xử Lý, Ủ, Sấy Khô.v.v.....TRÀ MẠN là Trà Không Ướp Hương....................................10 gram Trà Khô ( 15-20 gram Trà Khô, tương đương 1 Nắm bàn tay ) / Chè mạn là một loại chè nổi tiếng của Thái Nguyên. Chè mạn thái nguyên tức là chè không ướp hương và từ lúc sao chế tới lúc thành phẩm.Sau đó tùy theo sở thích mà người ta lấy chè mạn hay gọi là chè thái nguyên ( Chè Tân Cương Lộc xuân 100gr 30.000 )
5. TRẦM HƯƠNG - TRẦM THỦY - TRẦM THỦY HƯƠNG ( 沈香, 沈水, 沈水香 )................................................. . ..........................2-4g
6. ĐẠI TÁO ( 大枣 ) = HỒNG TÁO - TÁO ĐỎ ( Táo Khô, chưa Chế ) = HẮC TÁO -TÁO ĐEN - TÁO TÀU ĐEN ( Chế ): Là Quả Chín đã chế biến Phơi hay Sấy Khô của Cây Táo (Zizyphus sativa Mill.), họ Táo (Rhamnacaeae). Loại Táo này chưa thấy ở nước ta, vị Thuốc phải nhập từ Trung Quốc............................................ ........3 quả - 12 quả
*LỤC VỊ TRÀ là Trà Thang dâng Cúng Phật gồm 6 Vị, mỗi Vị nửa chỉ ( 2g ). Lấy Nước trên Lá Sen qua Đêm ( Liên Diệp Thủy, Diệp Sương Liên ), Nước Mù Sương ( Giáng Hạ Thủy ), Nước Sương Đêm ( Cam Lồ Thủy ), hoặc Nước Mưa Sạch ( Vô Căn Thủy ) để nấu mà Dâng Cúng Phật. Được Trích trong Sách " Thích Thị Bảo Đỉnh Hành Trì Bí Chỉ Toàn Chương " ( Sách " Bảo Đỉnh " ) do Nhà Sư Huyền Quang soạn.
*Thời gian Dâng Trà cúng Phật: thường là Ngày Mùng 1, và Ngày Rằm 15 Hằng Tháng.
*Thông thường: dâng 3 Cốc Trà trong; Nhưng theo Mật Tông: Nên dâng 1 Chén Trà có Chân Đế và có Nắp Rời, Nước Trà có mầu Vàng; đặt Chén Trà dâng Cúng trên 1 Cái Dĩa. khi dâng Cúng, Nên Dỡ Nắp Chén Trà ra, và gác hờ Nắp Chén Trà trên Dĩa ngay cạnh Chén Trà ở về phía bên TAY PHẢI của tượng Phật. Việc này biểu thị cho Ý Nghĩa, kỉnh mời Chư Phật thọ nhận sự Dâng Cúng Dường 1 cách chân thành và thực tâm nhất của mình đến với Chư Phật; thể nào Chư Như Lai cũng không thể chối từ, mà Các Ngài sẽ thọ nhận sự cúng dường của hành giả một cách nhiệt tâm và hoan hỷ nhất. Chính điều này sẽ làm cho Phước Báu của hành giả ngày một thêm lớn; và đó sẽ là món duyên lành, giúp cho hành giả giải thoát trong Kiếp Vị Lai !
====
KHOÁ THỨ NHẤT:
TRÀ CÚNG PHẬT – THANG CÚNG THÁNH
Nguyên văn
Thánh thang đàn, quế, mật, khương sinh,
Xuyên, hoắc, đinh hương, thanh đậu hinh,
Phật trà đàn, thảo, tinh quan quế,
Tước trầm đại táo tiến lai nghinh
Giải nghĩa:
Thang cúng thánh gồm: Đàn hương, Quan quế, đường mía, gừng tươi, Xuyên khung, Hoắc hương, Đinh hương, Đậu xanh.Gồm 8 vị.
Trà cúng Phật gồm: Đàn hương, Cam thảo, Quan quế, Trà tước thiệt (hiện nay đã thất truyền, có thể thay bằng trà mạn),Trầm hương, Đại táo. Gồm 6 vị.
(trích sách Hành trì diễn giải toàn tập - nguyên tác: tôn giả Huyền Quang - Việt dịch Nguyên Phúc)
http://buangai.vn/vanphapthanthong/a...hp/t-2175.html
-------o0o-------
BẢNG LỤC VỊ TRÀ
[ 六味茶表 ]
( 献茶供佛 )
*Theo, Quang Tịch Pháp Sư = Huyền Trí Pháp Sư, là Pháp Chủ của Linh Quang Bảo Điện - Đồng Nai đã dịch:
BẢNG LỤC VỊ TRÀ là Nói lên Ý Nghĩa và Nguồn Gốc của " Lục Vị Trà "; Ngày Trước đã Dâng, mà nay Ta cất công đun nấu, Dâng lên Cúng Phật.
LỤC VỊ TRÀ BẢNG
Mùi Trà ấy Ngày Xuân sớm hái
Mầm Ngọc kia từng thái Hạt Sương
Tuyết trong đựng mấy âu vàng
Mới tan bóng Ngọ đã tường nấu xôi
Hương Thiên ngoại bay hơi long bội
Trận nhân gian đánh đuổi Ma Vương
Uyển nô nghe cũng xem thường Triệu
Châu đâu tá như dường ở đây
Nền Đạo Tràng ngày nay mới dựng
Hội Thánh Hiền xưa đã dựng xong
Mái chèo duổi sóng bể đông
Mắt đưa cửa đỉnh xem trừng thẳm khơi
Xem chốn ấy tới nơi lồ lộ
Nhường tuyết bay đâu ở lưng trời
Án tiền dâng tiệc thảnh thơi
Gió đưa đôi cánh Dâng mùi Trà Hương
Căn Trần xin giải rõ ràng là vậy.
http://thegioivohinh.com/diendan/sho...1%BB%80N/page9 / http://thegioivohinh.com/diendan/sho...%BB%80N/page83
=============
Triệu Châu Trà
(趙州茶): tách trà của Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗, 778-897). Ông xuất thân môn hạ của Nam Nhạc. Lúc còn nhỏ, ông xuất gia ở Hỗ Thông Viện (扈通院), rồi đến vùng Trì Dương (池陽), tham yết với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), và được khế ngộ. Về sau, ông còn đến tham bái một số danh tăng đương thời như Hoàng Bá (黃檗), Bảo Thọ (寳壽), Diêm Quan (鹽官), Giáp Sơn (夾山), v.v.; và cuối cùng thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng, ông đến trú tại Quan Âm Viện (觀音院), vùng Triệu Châu (趙州, thuộc Tỉnh Hà Bắc). Tại đây ông đã tuyên dương Thiền phong độc đáo trong suốt 40 năm. Thuật ngữ triệu châu trà vốn phát xuất từ câu chuyện “Khiết trà khứ (喫茶去, uống trà đi)” được ký lục lại trong khá nhiều thư tịch Thiền Tông. Tỷ dụ như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20 ghi như sau: “Triệu Châu vấn tân đáo: 'Tằng đáo thử gian ma ?' Đáp: 'Tằng đáo.' Sư viết: 'Khiết trà khứ.' Hựu vấn tăng, tăng viết: 'Bất tằng đáo.' Sư viết: 'Khiết trà khứ.' Hậu Viện Chủ vấn viết: 'Vi thập ma, tằng đáo dã vân khiết trà khứ, bất tằng đáo khiết trà khứ. Sư chiêu Viện Chủ, Chủ ứng nặc, sư viết: 'Khiết trà khứ.' (趙州問新到、曾到此間麼、曰曾到、 曰、喫茶去、又問僧、僧曰、不曾到 、師曰、喫茶去、後院主問曰、爲甚 、曾到也云喫茶去、不曾到也云喫茶 、師召院主、主應喏、師曰、喫茶去 , Triệu Châu hỏi người mới đến rằng: 'Đã từng đến đây chưa ?' Đáp: 'Đã từng đến.' Sư bảo: 'Uống trà đi !' Lại hỏi vị tăng khác, người ấy trả lời: 'Chưa từng đến.' Sư bảo: 'Uống trà đi !' Về sau, thầy Viện Chủ mới hỏi rằng: 'Người đã từng đến ngài cũng bảo là uống trà đi, người chưa từng đến ngài cũng bảo là uống trà đi, vậy là thế nào ?' [Khi ấy] sư gọi thầy Viện Chủ, thầy đáp: 'Dạ.' Sư bảo: 'Uống trà đi !').” “Khiết trà khứ” đã trở thành một công án Thiền đặc sắc, được tìm thấy trong khá nhiều ngữ lục Thiền; cũng như trong điển tịch trên, Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭, 947-1024) có làm bài tụng về công án đó là: “Triệu Châu hữu ngữ khiết trà khứ, thiên hạ nạp tăng tổng đáo lai, bất thị thạch kiều nguyên để hoạt, hoán tha đa thiểu nạp tăng hồi (趙州有語喫茶去、天下衲僧總到來、 是石橋元底滑、喚他多少衲僧回, Triệu Châu có câu uống trà đi, thiên hạ chúng tăng thảy đến đây, chẳng phải cầu đá nguyên bóng mượt, cuối cùng nhiều ít có kẻ về).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 97, phần Ích Châu Tung Sơn Dã Trúc Phước Tuệ Thiền Sư (益州嵩山野竹福慧禪師), có câu: “Trượng thượng vô tiền cô tự tửu, thả khuynh nhất oản Triệu Châu Trà (杖上無錢沽白酒、且傾一碗趙州茶, trên gậy không tiền mua tự uống, còn nốc một chén Triệu Châu Trà).” Cũng trong thư tịch trên, quyển 98 lại có câu: “Khiết tận Triệu Châu Trà, thiêu khước Huệ Lâm Phật (吃盡趙州茶、燒卻慧林佛, uống sạch Triệu Châu Trà, đốt tiêu Huệ Lâm Phật).” Trong nghi Cúng Chung Thất Trai Tuần cho chư vị cao tăng viên tịch, cũng có câu kệ liên quan đến Triệu Châu Trà: “Sơ hiến Triệu Châu Trà, phanh lai thật hinh hoa, tấn hiến giác linh tòa, tảo vãng pháp vương gia (初獻趙州茶、烹來寔馨花、進獻覺靈 、早往法王家, mới cúng Triệu Châu Trà, nấu sôi thật thơm tho, dâng cúng giác linh ngự, sớm lên pháp vương nhà).”
http://phatam.org/dictionary/detail/...eu-chau-tra/12
The Cintamani Chakra Dharani Sutra (如意輪陀羅尼經)
Share
Please consider making little donation to help us expand the encyclopedia Donate Paypal-logo.jpg Enjoy your readings here and have a wonderful day
Kuh0045.JPG
Monks78.jpg
Jslkdfvbx.jpg
Wcz224355.jpg
6-dalai-figuur.jpg
BbvbfJH.jpg
1015hjj.jpg
Kri0013.JPG
Kuh0068.JPG
Ksitigarbha-es45.jpg
9ba95c z.jpg
733xc77 n.jpg
Monacbx225.jpg
Origvgantra3.jpg
20120511-Oovos.jpg
Dharmachakra.jpg
Apan-earthquake.jpg
4Ba1.jpg
Milarepa6.jpg
05ds.jpg
11suiy.jpg
1erG.JPG
415 small.jpg
Boudhanath0123.JPG
Nag1gas2.JPG
Kuh0062.JPG
Kohj4a.jpg
Pt-2-651.jpg
Imryes.jpg
Edu4.jpg
Gshan.jpg
Grenb 05.jpg
0df80xz.jpg
Tilopa21.jpg
BfgrxJKCdf.jpg
Mulian Saves his Mother.jpg
PqJPG.JPG
AtSzA.jpg
Su 06A.jpg
Jokhang09.jpg
60 gapore.jpg
Url733.jpg
Igff202.jpg
Ruwanwelisaya cent. 140 BC.JPG
Maitripa-25ge.jpg
102bnn68 n.jpg
Imag41.jpg
DSC 7581.jpg
Monkey-tribal.jpg
Imag47es.jpg
The Cintamani Chakra Dharani Sutra
(This sutra is originated from Maha-padma-vajra-samaya-adhiṣṭhāna-guhya-na-abavarana-sutra)
如意輪陀羅尼經(此經出大蓮華金剛三 耶加持祕密無障礙經)
唐天竺三藏菩提流志譯
Chapter 1: Prelude
序品第一
As I heard, at one time the Buddha was at Mount Kusinara (雞喇斯山) together with uncountable numbers of bodhisattvas complete.
At that time Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva rose from his seat and tidied his garment and then kneeled for a prolonged time while making the anjali mudra (合掌) and said to the Buddha:
“Blessed One, I have maha-padma-kuta-vajra-guhya-na-abavarana-cintamani-chakra-dharani-samaya (大蓮華峯金剛祕密無障礙如意輪陀羅 明三昧耶) that can satisfy all superb fortunate karma; whatever one wishes shall attain cintamani-siddhi.
May the Buddha allow me to speak with great compassion and I shall uphold the magical power of the Buddha; and for the benefit of all sentient beings that I am willing to speak.
Blessed One, this dharani mantra possesses victorious power as if the wish-fulfilling tree.
It is the great precious rain of magicians; whatever they wish shall be given.
Such is the mani jewel.
It can fulfill all supreme wishes of all sentient beings.
It is my only hope that the Buddha empowers (me) with compassion.”
At that time, the Buddha told Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva and said:
“It is very kind of you because of great compassion, asking on behalf of sentient beings. I have performed the empowerment and listening to you without any obstacles.
So speak and reveal this Cintamani-chakra-dharani-mantra.”
Then the Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva bestowed with the Buddha’s order and retinues, he immediately stood up with anjali mudra and performed prostration respectfully.
After he encircled the Buddha three circles and then returned to his own seat.
With a joyful heart, he looked at the assembled crowed in pleasure and smiling; and he spoken the fundamental dharani as below:
Namo ratnatrayaya
(1). Namo arya (2) avalokitesvaraya (3). Bodhisattvaya (4) mahasattvaya (5) mahakarunikaya (6). Tadyatah (7): om (8) cakra mirati cintamani (9) patumi (10) ruru (11) tista (12) jvala (13) akalisaya (14) hum (15) phat (16) svaha (17)
(Page 1 of 15)
Maha-hrdaya-dharani-mantra (大心陀羅尼明):
Om (1) patuma (2) cintamani (3) maha jvala (4) hum (5)
Hina-hrdaya-dharani-mantra (小心陀羅尼明):
Om (1) jvala patumi (2) hum (3)
At this point, when the Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva said this dharani, the earth, mountains and jungles shook six times.
All devapura (天宮),
naga-bhavana (龍宮),
yaksapura (藥叉宮),
raksapura (羅剎宮),
ghandarvapura (乾闥婆宮),
asarupura (阿素落宮),
kinarapura (緊那羅宮) and
maharagapura (摩呼羅伽宮) all experienced major quakes.
Various evil spirits of great power such as vinayaka, the obstacle creators trembled with great fear.
Palaces of demons all burnt by great fire.
The demonic kings and retinues all give rise to great fear.
All low down
naga-kanya (龍女),
yaksa-kanya (藥叉女),
raksa-kanya,
ghandarva-kanya,
asaru-kanya,
garuda-kanda,
kinara-kanya,
maharaga-kanya all became suffocated and laid lamely on the ground.
All doors of hell opened up automatically.
All sinful sentient beings within were liberated and they all being reborn into heaven and enjoyed supreme pleasure.
Then various devas each holding various wonderful heavenly benzoin, gośīrsa-candana (牛頭栴檀), agarwood (沈水) powder incenses, incense pastes and burning incense;
also unique and wonderful heavenly flowers.
Also various precious necklaces, hairpins, pendants, rings, armlets, precious canopies, precious crowns, deva garment and various decorative items rained down from the sky as offerings to the Buddha and the assembly.
Various colorful clouds filled the sky and heavenly music emitted automatically in the air and unbelievable harmonious and elegant voices as offerings to the Buddha.
Whoever hears these sounds would stay with the force of compassion and endurance (慈忍力).
All such magical manifestations are in fact due to the magical powers of Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva-guhya-cintamani-cakra-dharani-mantra.
At this time, the Buddha emitted wonderful kalavinka (迦陵頻伽) type of wonderful Sanskrit-nadam (梵聲) praising Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva with this profound and wonderful kata (偈):
It is very kind of this virtuous man because you can pity all sentient beings.
You spoke this great beneficial cintamani-dharani to assist sentient beings.
You enable believers purified their sins, delivered them from three realms and hence attain enlightenment.
Anyone who follows the dharma practice, then whatever wishes shall be granted this life and hereafter.
After the Buddha has completed the kata, he further told Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva:
“Virtuous man, you should repeat this magical powerful dharani mantra and the essence of practising the ritual so that these sentient beings shall be benefited greately.”
Chapter 2: Cintamani Cakra Dharani Removing Karmic Obstacles 如意輪陀羅尼經破業障品第二
At this time, Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva again said to the Buddha:
“If there are
bhikshu,
bhikshuni,
upasaka,
upasika,
kumara,
kumara who wishes to beg for great merit this life, he/she should be diligent days and nights according to this Cintamani-cakra-dharani-mantra without having to choose an auspicious date.
It is also needless to fast for one day or two. Also no need to take bath and built an altar.
He/she only needs to wear ordinary clothing and cleanse with mantric water and that he/she can consume vegetarian food as usual and perform the siddhi ritual.
The mantri should sit with lotus asana facing east in a clean room day and night.
He/she should visualize Avalokitesvara in front of him/her with perfect facial features as if of rising sun that emits great light and sitting in a lotus flower.
The sadhaka should perform sadhana one heartedly and burns agarwood incense as offerings. He/she should perform prostrations respectfully according to his/her wish.
Fragrant flower offerings should not cease.
Six times a day and each time he/she should recite mantra for 1,080 times continuously.
The sadhaka should recite a number of 3 lakh times (1 lakh = 100,000).
He/she should stay concentrated in yoga-dharma-nidhyāna (瑜伽觀法 visualization) and recites sadhana.
Then all five serious sins (五無間罪) of past and present and other extremely serious karma obstacles shall automatically be removed.
The person shall experience various very auspicious dreams. One should know this is the sign of sins diminishing. It is the protection of Avalokitesvara and from this kusala-mula (善根) hundreds and thousands of karma (事業) shall all attain siddhi with one hearted mantra recitation.
All magical powers of mantra shall not be able to achieve the magical power of this cintamani-cakra-dharani-mantra.
This is the reason that this dharani if anyone can believe and practise it, then all 4 heavy sins (四重), 5 rebilious sins (五逆) and dasa-kusala (十惡) bad karma; those who bear sins that ought to fall into Avici Hell (阿毘地獄) shall have the sins removed.
If a person suffers from
heat related illnesses,
wind illnesses,
anthracnose ;
anthrax (癀病),
sputum (痰病),
poisons and curses (蠱毒厭禱),
sore (疔瘡),
boils (疥),
scabies (癩),
epilepsy (癲),
wind,
itchy,
head,
nose,
eyes,
ears,
lips,
tongue,
teeth,
throat,
chest,
armpits,
heart,
stomach,
waist,
back,
limbs related illnesses,
various disasters,
spiritual issues for one day, two days, three days, four days until seven days; all shall be cured after performing the sadhana.
All yaksa, raksa, vinayaka and evil spirits shall not be able to harm this person.
In addition, knives, wars, water, fire, strong wind, thunder, hail, the king, robbers and enemies shall not harm him/her.
All ugly appearances and lack of fortune karma, mutation of evil stars (惡星變怪) shall automatically be destroyed.
Poisonous snakes (蚖), snakes, viper (蝮), lizards, spiders, lions, tigers, wolves and all fierce animals shall not be able to harm the said person.
If there are military conflicts and law suits, due to the mantra accomplishments all shall be able to be liberated. If one always recite this dharani between 3am to 5 am (五更) for 1,080 times, all of the matters mentioned above shall be liberated, free and easy.
If one can recites this dharani 6 times a day for 1,080 times each time, then the Avalokitesvara shall appear in his/her dreams. He shall come to the person and say: “Virtuous man/woman, please don’t be afraid. Whatever you wish shall be granted.”
Or the person may see Amitabah or the Sukhavati (極樂世界); stately matters concerning palaces and penthouses.
Or the person may see congregation of bodhisattvas of Sukhavati.
Or it is that buddhas and bodhisattvas of 10 directions that he/she may see. Or it is possible that the person sees Avalokitesvara in the 7 jewel palace at Mount Potalaka (補陀落山).
Or the person may see his/her body being purified inside and out. Or the person may see that the kings and ministers make offerings respectfully to him/her.
Or he/she may see that all of his/her pass sins being removed.
One should know that this person shall not be reborn viviparous (胎生) but he/she shall be born as the transformation of a lotus (蓮花化生/padma-aupapādaka) with pleasant appearances.
He/she shall wear deva garment with ornaments.
He/she shall be bestowed with pūrvanivāsānusmṛtijñāna (宿命智) until he/she attains enlightenment.
This person shall not fall into three evil realms (三惡道) and he/she shall always be accompanied by buddhas and bodhisattvas and he/she shall be born in avaivartika-bhūmi (不退地/non-retractable ground).
Chapter 3: Cintamani Cakra Dharani Sadhana Acara
如意輪陀羅尼經誦念法品第三
Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva again told the Buddha:
“Blessed One, this guhya-cintamani-cakra-dharani contains two dharma purposes: the first is of this world and the second is for the other world.
The so-called (worldly dharma is) siddhi of sadhana for supreme wish fulfillment, taming of sentient beings (攝化有情) and accumulation of fortunes, wealth and also victorious power.
On the other hand, the out-of-this-world dharma means
punya (福德/blessed virtues),
wisdom,
moksa (解/enlightenment),
sambhara (資糧),
alaṃkāraka (莊嚴/adornment),
increase in compassion,
helping the suffering sentient beings,
beloved by public and etc.
The secret of this sutra is that one must practise in secrecy. It should not be revealed to the ignorance.
If one attain siddhi with this guhya-samaya (祕密三昧耶祕密三昧耶) then it is best just to keep it to oneself and not speaking out loud. If one indeed (wish to) accomplish this supreme dharani dharma, he/she should think of Avalokitesvara with perfect features as if morning rising sun shining with bright light one heartedly in whatever places (clean or otherwise) or during eating or otherwise.
Then he/she should recite the dharani without wondering mind. If one performs recitation consistently without making mistakes then Avalokitesvara shall appear his golden body.
(Avalokitesvara) removes defilements and then empowers (the mantri) with magical power so that whatever he/she wished for shall be fulfilled. He/she shall attain various magical powers,
anda-dana (安怛陀那) method,
cintamani method,
ageless medicine method (住年藥法),
precious jewel rain method (雨寶雨法),
discovery of hidden treasure method,
entering asaru cave method,
shape shifting method and
various medicine methods.
Also vajra method (杵法), vase method (瓶法) and all worldly various entertainment methods shall be attained.
If there are kings, queens, concubines, princes, princesses, ministers, brahmana, satria, vaisya (毘舍), sudra (首陀), bhiksu (比丘), men, women, kumara, kumara or follower of external paths (外道); whoever willing to be subdued under this dharma and upholds it must know the number of recitations.
When a king performs sadhana, in 7 days and 6 times a day, he need to recite 1,080 times each time.
If a concubine performs sadhana, then she should recite 900 times for each recitation. A prince should recite 800 times, a princess should recite 700 times, a minister should recite 600 times, a brahmana should recite 500 times, a ksatria should recite 400 times. If the person is a vaisya, then he/should recite 300 times.
A shudra should recite 200 times; a bhiksu should recite 108 times. A common man should recite 106 times and a common woman should recite 103 times. A boy should recite 100 times and a girl should recite 90 times.
The above is known as ‘recitation method’ (課法). All supreme matters shall be accomplished by reciting mantra and calling name: rich, famous, fortune, happiness, properties, money, grains, silk, slaves, maids, elephants, horses.
All matters shall increase according to one’s wish.
The mantri should start from later night (後夜, 2am-6am) until dawn and the recitation should be 1,080 times continuously then unlimited affairs shall be accomplished. Men and women on heaven and earth shall come speedily as wind to seek refuge and praise (the mantri).
If one wishes to see Avalokitesvara materialize and grant wishes, then he/she should bath and clean his/her body and then use perfume powder to rub his/her body. He/she should always change into clean clothing and eat three white foods (三白食).
The mantri should prepare incense, flowers, perfumes, three white drinks and foods, fruits (果蓏) as offerings according to his/her ability. Agarwood, white cendana incenses etc should be mixed with butter and honey.
The mantri should be seated in lotus asana facing east while visualizing Avalokitesvara and recites cintamani-cakra-dharani.
After one recitation, a portion of the mixture is burnt for a total of 100,000 times.
After that Avalokitesvara shall materialize himself and teach the mantri the speech accomplishment mantra (語成就明) to fulfill his/her wishes.
If one wishes to see vajra-grabha-graha-bodhisattva (執金剛藏菩薩) to materialize, then the mantri should use agarwood, benzoin etc and mix with butter and honey then with once mantra recitation and calling vajra-grabha-graha-bodhisattva, a portion of the material is burnt for a total of 100,000 times.
The vajra-grabha-graha-bodhisattva shall appear. He shall view mantri as if his own beloved son and bestow the mantri with all dharani ritual implements.
If one wishes to see various buddhas and bodhisattvas to materialize, then he/she should use agarwood and by once mantra recitation and calls all buddhas and bodhisattvas.
After that a portion of the material is burnt and the ritual is repeated for a total of 100,000 times, various buddhas and bodhisattvas shall materialize and remove obstacles of the mantri and fulfill his/her wishes.
If one wishes to make all great magicians appear, then he/she should use benzoin to mix with butter and for 7 days and nights the mantri should recite mantra once and calling the great magician once;
also burning a portion of the material for 7 days and nights. Then all great magicians shall automatically come to the person each holding mantra rituals teaching the mantri.
They shall empower the mantri with magical powers and follow him/her around and protect him/her.
If one wishes the master of mahāsāhasra-lokadhātu (三千大千世界), Indra, Brahma and various deva to present, then he/she should use benzoin, kunduruka (薰陸香) etc to mix with butter and honey.
With once mantra recitation, calling Indra and Brahma-deva-raja once and burning a portion of material for a total of 7 days and nights.
Then Indra, Brahma-deva-raja and various deva shall show themselves to preach dharma and console the mantri; and also grant him/her wishes while providing protection.
Chapter 4: Cintamani Cakra Dharani Dharma Mudra
如意輪陀羅尼經法印品第四
Then Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva again speaked to the Buddha:
“This guhya-cintamani-dharani-mantra-mudra is used as protection, making offerings, summoning and dispatching all must used according to method of visualizations clearly and no mistakes should be made. Then one shall accomplish this secret samaya.
The maha-padma-samaya-mudra I (大蓮花三昧耶印第一):
First both hands making anjali mudra then using two index fingers, middle fingers and ring fingers erect and opening up but slightly bending.
The index finger tips should be parted half an inch away.
Thumbs and small fingers erect touching but slightly bent.
The mantra of the mudra:
Namo ratnatrayaya (1) namo aryavalokitesvaraya (2) bodhisattvaya (3) mahasattvaya (4) mahakarunikaya (5) om (6) samaekjami (7) santi danti (8) sarva samaya (9) rupra bhisaj (10) nuru runi (11) svaha (12)
When one wishes to construct mandala, he/she should first recite ‘body and mind’ mantra for 1,080 times at the site.
Then he/she should make this mudra and recites this mantra 7 times.
The mantri must use the mudra to seal four corners: east, west, south and west; up and down each three times.
After that he/she should calm his/her mind and visualize the mudra transforms into hundred thousand petals 7-jewel lotus as offering to all buddhas, bodhisattvas, devas, nagas and spirits so that they are happy.
When the mantri wishes to wash and bath, he/she should use the hina-hrdya-mantra with ‘jah’ ([打-丁+(姊-女)]) syllable (to empower) mantra water 7 times and then he/she uses his/her right hand to touch the water.
After that the water can be used to perform ritual bath. Water without being blessed should not be used.
Secondly, the liberation mudra (解脫印):
Small fingers and ring fingers crossing in the palms right holding on the left.
Both middle fingers erect with tips touching each other. Both index fingers each bent as if hooks lying three quarters (三分) on the back of middle fingers. Two thumbs erect and leaning onto each other.
The mantra:
Namo maha sri yeka (
1) om
(2) sthokimayajaomia
(3) siddhi
(4) sattvaya
(5) sivisivi
(6) sipamia apahah
(7) sarva amrita stani
(8) svaha
(9)
A mantri should make this mudra and recites mantra three times. He/she should seal top of his/her head, shoulders, heart and throat.
After the body protection, the mudra is used to encircling clothing thus preventing all vinayaka to create obstacles.
This mudra is also used to seal and protect all offering substances.
Thirdly, mantra for treating soils (治土明):
Om (1) jvala (2) hum (3)
The mantri should collect clean soil and divide it into three piles. Then he/she should use this mantra to empower the soils 7 times: the first pile of soil is used to wash his/her waist and below, the second pile is used to wash both shoulders and the third is used to wash own head and neck.
The fourthly, mudra of body protection by touching (觸護身印):
Two index fingers, ring fingers, small fingers crossing between palms with right on top of left. Two middle finger tips bent and meet on the back of index finger nails. Two thumbs erect and pressing onto the side of middle finger nails.
The mantra:
Om (1) kurudrana (2) hum joh (3)
Next the mantri makes this mudra and recites mantra 3 times for protection and then seals various parts/places and on entering toilet. One should perform as such when entering or exiting as if normal cleansing.
Also he/she should go to a place by holding a pile of soil and then washes his/her hands and also rinse his/her mouth and teeth.
Fifthly, the mudra for rinsing mouth (漱口印):
Right thumb, index finger and middle finger slightly bent; ring finger and small finger bent as if hook.
The mantra:
Om (1) dhudhuri (2) jurujuru (3) svaha (4)
Then one should make this mudra to hold water and empower the water 3 times for washing teeth and rinsing mouth; also to sprinkle the water around for cleansing.
If one wishes to take bath, he/she should first bath the three gems (三寶) and then he/she should bath Arya-Avalokitesvara and finally his/her own body.
Sixthly, the mudra for bathing 3 gems (浴三寶印):
Palms facing upwards with sides touching, both index finger tips bent and pressing onto the sides of thumb finger nails with two middle fingers, ring fingers and small fingers stretching forward.
The mantra:
Om (1) tisaisaibodha (2) svaha (3)
(Page 5 of 15)
Secondly make this mudra to gather water and recites mantra 3 times for bathing Buddha.
Second time bathing then remove the ‘bodha’ and replace it with ‘dharma’ and finally remove the ‘dharma’ word and replace it with ‘sangha’. Each time one should pour 3 scoops of water to bath the 3 gems.
After that, one should bath the satya-devata.
Seventhly, the Arya-avalokitesvara bathing mudra (聖觀自在浴印):
(Also the mantri takes water to pour down from his/her head)
The bathing mudra (洗浴印):
Two palms facing upwards with sides touching side by side. Index fingers, middle fingers, ring fingers and small fingers each erect but bent; thumbs each holding to lower line (下文) of index finger.
The mantra reads:
Namo ratna trayaya (1) namo arya (2) valokitesvaraya (3) bodhisattvaya (4) maha sattvaya (5) maha karunikaya (6) tadyatah (7): dusai maha dusai (8) surapati (9) svaha (10)
Then the mantri should use this mudra to collect 3 scoops of water and empowers the water by chanting mantra 3 times and then bath the Arya-Avalokitesvara and himself/herself.
After that he/she should pour the water onto his/her head and bath his/her body.
Eight, the self-empowerment mudra (自灌頂印):
Two ring fingers to cross between the palms right on top of left.
Two small fingers erect and tips touching each other. Two middle fingers erect but with first section slightly bent and tips touching each other.
Two index fingers each lying at the middle section of middle fingers; two thumbs holding two index finger tips.
The mantra:
Om (1) hakhariri (2) hum jah (3)
After washing, one should make this mudra and recites this mantra 3 times; then collect some water for self-empowerment. This shall remove all obstacle creators.
Nineth, changing clothing mudra (著衣印):
Two thumbs each holding onto finger nails of index, middle, ring and small finger nails.
The mantra:
Om (1) vimamra (2) svaha (3)
Following that, one should this mudra to collect water and recites mantra 3 times and sprinkles it at clothing.
In addition one should use hina-hrdaya-mantra (小心明) to empower clothing 3 times.
After changing, he/she should exit to a clean place and squatting facing east. Additionally, he/she should use ‘bathing peas’ (澡豆) water to wash hands and rinse mouth.
The rinsing of mouth mantra is the same as above.
The tenth: Forbiddance of top mudra (禁頂印):
One’s right middle finger, ring finger and small finger making fist while he thumb holding onto the middle surface line of thumb.
The mantra reads:
Om (1) juru juli (2) svaha (3)
Secondly make this mudra at the top of one’s head and recites mantra 3 times. During bathing ritual and in between, one should not be angry and give rise to asrava-hrdaya (漏心/affliction heart), he/she also should not see various stinking and filthy stuffs and bad companies.
The mantri should think of Arya-Avalokitesvara and enters the bodhi-mandala (道場) to prostrate to the 3-gems and then he/she should prostrate to Arya-Avalokitesvara and uses the hina-hrdaya-mantra to empower water 5 times for sprinkling at various offering substances and medicines and also to sprinkle the bodhi-mandala.
The 11th, body protection mudra (護身印):
Small fingers crossed between palms, ring fingers bent and holding onto crossing point of small fingers.
Middle fingers erect and tips touching. Two index finger tips bent and at a distance of half of an inch (半分) from the upper section of middle fingers. Two thumbs opening up sideways.
The mantra reads:
Om (1) vajra dhini (2) pranipataya (3) svaha (4)
Next the mantri should make this mudra and recites mantra 3 times; then seal the top of his/her head, shoulders, throat and heart. This will form the body protection.
(12th) The major body protection mudra (大護身印):
The mudra is as before but the mantra reads:
Om (1) jvalananya (2) hum jah (3)
Next perform the above body protection mudra and recites mantra 3 times follow by sealing 5 places with mudra and forms the major body protection.
The 13th: Body armour mudra (被甲印):
Both palms opening facing upwards with 10 fingers spreading.
The mantra:
Om (1) tupitupigayatupi (2) prajvalarini (3) svaha (4)
Next the mantri should make this mudra and recites mantra 3 times then touching the mudra from top to bottom until both feet. This forms the body armor.
The 14th: The mantra of 10 boundaries (十方界明):
Om (1) arali (2)
One should use this mantra to empower water and white mustard seeds and spread them towards 8 directions as boundary protection.
Further he/she should use the hina-hrdaya-mantra to empower water and white mustard seeds to spread towards the 8 directions, up and down as boundary protection.
The 15th: [[mudra] for protecting mandala boundaries]] (結壇界印):
Two middle fingers, ring fingers and small fingers crossing and hooking amongst others between palms with right on top of left.
Two index fingers erect but slanting with tips touching.
Two thumbs erect and point towards one’s body. Recites the hina-hrdaya-mantra 7 times and makes the mudra.
The mantri should encircle the mandala 3 times with the mudra to form the mandala boundary protection.
Then he/she can place perfume containers the seats of the saints.
Flowers should be spread in the water as offerings.
The 16th: The mantra for clearing path (治路明):
Om (1) panamini (2) bhagavati (3) muhaya muhaya (4) ranimuhani (5) svaha (6)
This mantra is recited when one wishes to conjure.
He/she should hold the incense burner and recites mantra for 7 times to open a path in the sky and to remove all obstacles.
This shall alert the Arya-Avalokitesvara and saints to come and bestow blessings.
The 17th: The mudra for summoning (請召印):
Two middle fingers, ring fingers and small fingers crossing and hooking at each other while palms facing upwards; right on top of left. Two index fingers erect but slanting with both tips touching.
Two thumbs facing forward. Two middle fingers move to and fro: if the middle fingers move inwards, then it is summoning; if the middle fingers move outward, that is called ‘the method to dispatch the saints’ (送諸聖者法).
The mantra reads:
Om (1) duru duru (2) svaha (3)
Then makes this mudra and recites mantra 7 times to conjure the saints into the bodhi-manda:
The 18th: Welcoming mudra (迎印):
All ten fingers crossing each other between palms thus making fist with right on top of left. Each fingers protruding middle section. Erecting right thumb and moving it to and fro.
The mantra reads:
Namo ratna trayaya (1) namo arya (2) valokitesvaraya (3) bodhisattvaya (4) mahasattvaya (5) mahakarunikaya (6) patuma patuma (7) patuma pani (8) sara sara (9) yiksi yaksi (10) bhagavan (11) nariyavalokitesvaraya (12) anugan pamo pataya (13) arali (14)
Next make this mudra and recites the mantra three times. The mudra must move clockwise while imagining the saints entering the mandala for receiving offerings.
The 19th: perfume mudra (香水印):
All 10 fingers crossing each other right on top of left between palms making a fist with left thumb erecting.
The mantra: Om (1) aruli (2)
Next one should make this mudra and recites mantra 3 times. This mudra is used to seal perfume devices and then the perfume is held at one’s forehead as offering and invitation.
The 20th: padma-asana-mudra (華座印):
Both palms facing upward, two index fingers, middle fingers, ring fingers and small fingers each erect and back to back. Two index fingers each attaches to the back of middle fingers. Tips of both index fingers are at level with middle finger upper lines. Two thumbs lying on the lower line of index fingers.
The mantra reads:
Om (1) patuma mairaya (2) svaha (3)
Next one should make this mudra and recite mantra 3 times as a means of laying flower seats. He/she should speak to the saints: “Do come with kindness and from the power of pūrvapranidhāna (本願/original vow) and without forsaking great compassion.
Ascend to this humble place and please open up your unsurpassed grace so as to bestow adhiṣṭhāna (加持) hence enjoying these offerings. Please fulfill all sentient beings’ wishes hence please be seated.
Then make the ‘invitation to be seated mudra’ (請坐印) and visualize that all saints each sitting at their individual places.
The 21st: The invitation to be seated mudra (請坐印):
Two index fingers, ring fingers, small fingers crossing each other between palms with right on top of left forming fist. Two thumbs bent into palms, two middle fingers erect with tips touching; middle finger tips are moved to and fro.
Next makes this mudra and reciting the hina-hrdaya-mantra 3 times to invite Arya-Avalokitesvara and various bodhisattvas to be seated. Then the mantri one should conjure kuntali vajra (軍茶利金剛) to perform a tight boundary protection.
The 22nd: Obstacle removal mudra (除障印):
Two middle fingers, two ring fingers, two small fingers crossing each other between palms; right on top of left. Two index fingers erect but slanting with tips touching each other.
Two thumbs erect with tips touching.
The mantra reads:
Om (1) alianangkhapalipaya (3) bhinini (4) svaha (5)
Next perform this mudra and recites mantra 3 times to seal all flowers, incenses and offerings etc for obstacle removal.
The 23rd: Offering mudra (供養印):
With hands creating the anjali mudra (合掌) then two thumbs, middle fingers, ring fingers and small fingers cross each other right on left; two index fingers lying onto the back of middle fingers at upper sections.
The mantra reads:
Namo sarva budha (1) budisattvanam (2) sarva yiwayiti (3) sapara imam (4) gagahnagam (5) svaha (6)
Next create this mudra and recites mantra 3 times while visualizing various substances is being offered to the saints.
He/she should also make various verses to praise the three gems and Avalokitesvara and then the mantri should perform dedications (迴向) according to his/her own will and also to repent of sins and generate bodhi heart (發菩提心).
The 24th: The begging of life mudra (求生印):
Two thumbs and small fingers erect but slightly bent; tips touching each other. Two index fingers, middle fingers and ring fingers each erect and spread but slightly bent. Let the distance in between be one inch.
The mudra reads:
Om (1) patu mubahvaya (2) svaha (3)
Next make this mudra and recites mantra 3 times to indicate that all holy ones are all happy and that they shall protect, bless and grant fortune and wish.
The 25th: The fundamental mudra (根本印):
Two hands making anjali mudra but center of palms do not touch each other. Two thumbs erect and leaning side by side. Two index fingers bent and tips touching onto the tips of thumbs. Recite the maha-hrdaya-mantra and hina-hrdaya-mantra onto medicine and protection.
The maha-hrrdaya-mudra (大心印):
As before mudra but left hand moves to level of the heart and palm facing upeards; right hand palm facing outwards. Recite the maha-hrdaya-mantra 3 times and make the mudra. This represents the wish of Avalokitesvara to accomplish all matters.
The 27th: The purification of mani pearl:
Om (1) anmari dahyanmei sriye (2) svaha (4)
Next use this purified pearl to empower prayer beads. One should use lotus seeds or mani pearls and then clean them with ‘5 pure substances of a cow’ and recites the pearl mantra for 7 times.
After tying the beads together, one should further recites mantra for 108 times and then use the prayer beads according to ritual.
The 28th: The counting of mala mudra (數珠印):
One should use his/her right hand to put the mala in the palms. The mala should be held within one’s palms with anjali mudra.
The holding of mala mantra (捧珠明):
Om (1) vasupati (2) sriye (3) patimamangru (4) svaha (5)
One should recite this mantra for 1,080 times as purification practice.
Before holding the mala, the mantri should recite mala mantra 3 times. Both hands hold (the mala) at heart level about 6 inches away.
Or one can also hold the mala in front of one’s nose.
The mantri should use 10 fingers each to hold and turn the mala.
One bead should be held while reciting mantra once before proceeding to the next bead.
One should concentrate one heartedly without wandering on other matters. He/she should think of (Sanskrit) characters of Avalokitesvara Dharani.
His/her body and mind is covered with bright light and care should be taken so as not to make mistake.
The mantri should recite mantra according to his/her ability until ten million times; or until his/her body is extremely tired that he/she can then rest.
At this point, the mantri should open his/her eyes and look at Avalokitesvara.
He/she should make the anjali mudra and prostrate; and also he/she should praise Avalokitesvara with various hymns.
When one wishes to exit the bodhi-manda/mandala, he/she should again present scented water and makes this thought: “What methods should I use so that all sentient beings can be freed from the cycles of life and death and achieve enlightenment?”
If one wishes to attain medicine siddhi (成就藥), he/she should think of Avalokitesvara and one heartedly concentrate on the medicine while reciting mantra earnestly until waning and waxing of moon or sun.
If the medicine becomes hot, emits smoke or light, then the medicine is done.
The 29th: Removal of boundary protection mudra (解界印):
Two ring fingers hooking at each other right on top of left between palms.
Two thumbs holding onto the ring finger nails. Two middle fingers erect with tips touching. Two index fingers resting onto the back of the middle fingers back-to-back and tow small fingers erect touching each other.
The mantra reads:
Om (1) hrih asamang nining (2) hum (3)
Next one should make this mudra and recites mantra 7 times while turning the mudra counter-clockwise 3 times to remove boundary protection. After the boundary is removed, he/she should further present scented water as offerings and then dispatch the saints. One should make the above invitation mudra but dial the finger outwards to send off the saints.
The 30th: The 5 pure mantra (五淨明):
Om (1) yaksudi (2) svaha (3)
If a mantri accidentally touched or consumed dirty food, he/she should recite this 5 pure mantra for 108 times at cow’s 5 pure substances. Then the mantri should use a piece of weed (茅草) to stir the substances until they mixed well and then he/she should consume the mixture.
This shall remove the defilement and restores purity. All medicine, offering utensils, perfume, flowers, incense pastes, incenses, foods and drinks, oil lamps, incense powders, consumable foods, clothing, sprinkling water, bath water and purification; all should use the hina-hrdaya-mantra to empower the substances 5 times to enhance victorious aura and also to remove obstacles. Chapter 5: Cintamani Cakra Dharani Sutra Mandala Upacara 如意輪陀羅尼經壇法品第五
At this time Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva again told the Buddha:
“Blessed One, this secret Cintamani Cakra Dharani is the maha-mandala-mudra-samaya.
It can accomplish 3 types of worldly medicine. It can make people happy to see and listen and beloved. When during solar or lunar eclipses, 2 or 7 days before the time, one should go to a quiet place and measuring a square of 4 elbows’ length or 5 elbows’ length, or 8 elbows’ length according to one’s ability.
After that according to the method, all dirty soil, rubbles, stones, bones and woods should be removed.
Then clean yellow soil is used to fill and flatten the place. First one should use cow dung to fill then the yellow soil. Next fragrant soils should be used as fine touch and decoration.
There should be two courts.
The center of the inner court should be drawn a 32 petals opened lotus flower.
The image of Cintamani Cakra Avalokitesvara Bodhisattva should be drawn in the center of the lotus throne facing west and in lotus asana.
He should have a pleasant expression and his body is golden in color. He is wearing a jewel crown and there is a nirmāna-buddha (化佛) on the top of the crown.
The bodhisattva is holding a budding lotus flower. On the throne should be drawn a cintamani.
His right hand is making a gesture of giving dharma talk.
(He) wears various deva garments, pearls, pendants, rings and armlets as ornaments. His body emits various lights.
On the east should be drawn sarvāśā –paripūri-vidyaraja (圓滿意願明王),
on the left should be drawn the Avadāta-Vasana-Avalokitesvara-Matr-Bodhisattva (白衣觀世音母菩薩),
on the north should be drawn Mahāsthāmaprāpta-Bodhisattva (大勢至菩薩), on the left should be drawn Tara-Bodhisattva (多羅菩薩),
on the west side should be drawn Hayagriva-vidyaraja and on his left should be drawn Ekajatā-raksah (一髻羅剎女),
on the south side should be drawn Catuḥ-pārśva-Avalokitesvara-Bodhisattva and on his left should be Bhrukuti-Bodhisattva (毘俱胝菩薩).
All the bodhisattvas etc wear jewel crowns, pearls, necklaces, ear rings, armlets and various deva garments as ornaments. They sit on lotus flowers with half lotus asana (半加趺).
On the external east side should be drawn Indra-deva (天帝釋) and various devas accompanied both sides. On the south side should be drawn Yama-raja with preti (鬼母/hungry ghosts) accompanied on both sides.
On the west should be drawn varuna-deva-raja (水天王) accompanied by Nanda-nagaraja (難陀龍王) and Upadana-nagaraja (烏波難馱龍王) and various nagarajas.
On the north is the Dhana-da (多聞天王) accompanied by various yaksas.
On the southeast side should be drawn Agni-deva (火天) accompanied by tapas-rsi (苦行仙).
On the southwest side should be drawn raksa-raja accompanied by various raksa. On the northwest side should be drawn vayu-devaraja (風天王) accompanied by vayu-daivata.
On the nortweast side should be drawn Mahesvara-devaraja (大自在天王) accompanied by kumbanda (宮槃茶) ghost.
Also on the east side should be drawn Surya (日天子) accompanied by sapta-rṣi-tārā (七星/ursa major) daivata.
Also on the west should be drawn Candra (月天子) accompanied by sapta-rṣi-tārā (七星/ursa major) daivata.
Also on the west side should be drawn Asaru-raja (阿素落王) surrounded by asaru servants. In addition, on the west door should be drawn Sivapagar-vidyaraja (始縛婆歌明王).
All of the daivata each holding ritual implements and wearing various types of garments adorned accordingly and sitting with half-lotus asana. Jewel staircases should be drawn in internal and external court boundaries.
On the boundaries of internal court should be drawn various colorful cintamani surrounded by flames. On the boundaries of external court should be drawn single-pronged vajra (獨股金剛杵) with tips touching and surrounded by flames.
If anyone who cannot satisfy the power of this secret mandala samaya, he/she can only draw seats and then inscribes names on the seats. After that he/she can perform offerings and he/she too shall attain accomplishment.
Before an artist starts to draw, he/she should bath and then change into new clothing.
The artist should be embraced with aṣṭāṅga-samanvāgatam upavāsam (八戒齋法) and then draw and decorate the drawing accordingly.
Coloring materials and pens should be clean and in good order. After the drawing is done, the mantri should bath and wear new clothing.
He/she should perform protection rituals for him/her and his/her companions.
Then he/she should create boundary protection, invitation and make perfume offerings.
He/she should burn agarwood incense, white sandalwood incense, benzoin, kunduruka (薰陸香) inside the mandala and in front of Arya-Avalokitesvara.
The mantri should put lotus leaf inside the medicine container and then use lotus leaf to cover the container.
After that he/she should use cow’s 5 pure substances to sprinkle onto the medicine.
He/she should make mudras to protect and empower. Each according to individual sequence that offerings of perfume, flowers, fruits, three white foods and drinks and various foods, beverages, butter , oil lamps and flower garlands.
One should present the samaya order so that all shall be illuminated and informed.
The perfume for invitation, perfume for offerings, flowers, incense pastes, incense, fruits, foods, drinks, oil lamps should be empowered with mantra 3 times.
This secret mandala samaya is the materialization and wish of Arya-Avalokitesvara, it is the place where all daivata and rsi respect, praised and protect.
This is where all sentient beings remove all sinful obstacles. This is where one accomplishes worldly and non-worldly medicines; it is the place where sentient beings increase in blessing accumulation and when their lives end, they shall be reborn into the Pure Land.
They shall be lotus-born and wear deva garment and automatically adorned, they shall attain pūrvanivāsānusmṛtijñāna (宿命智) until achieve enlightenment.
And that they shall not fall into evil realms.
Chapter 6: Cintamani Cakra Dharani Sutra Using Medicine 如意輪陀羅尼經佩藥品第六
Next, Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva further said to the Buddha: “Blessed One, this secret cintamani cakra dharani mantra contains 3 types of medicine:
First, mouthpiece (含藥), second is the eye-medicine (眼藥) and third medicine for wearing (佩藥).
The ingredients are:
go-rocana (牛黃),
white chendana (白栴檀香),
tulip (欝金香),
karpura (龍腦香),
kasturi (麝香),
lavaṅga (丁香),
true cardamom (白荳蔻),
stamen of red lotus flowers (紅蓮花鬚),
utpala leaf (青蓮花),
sumaranapotala (the Chinese and
western mandara (coral tree)) leaves, and
phānita (石蜜/stone honey).
The mantri should anoint the mandala and perform boundary protection and empowers medicine for 1,080 times. Then all of the ingredients are mixed, pounded into powder, sieve and made into pills.
When pounding and mixing the medicine, one should rhythmically recite the mantra.
The empowerment of the medicine should not cease and one should not talk to others about mundane issues.
The ritual shall be a success. Then the medicine is put into a medicine container and then it is put in front of the Avalokitesvara in the mandala.
The mantri should recite fundamental Maha-hrdaya mantra and hina-hrdaya-mantra to empower the medicine until a complete cycle of waxing and waning of sun and moon.
The medicine shall become warm, emits smoke or light.
If the medicine becomes warm, the mantri should burn the medicine and fumigate his/her clothing and then wears it; and anoint the medicine on his/her forehead, face, between eye brows.
Then all people shall love, respect and obey his/her religious teachings.
If smoke is present and he/she burns the medicine and fumigate his/her clothing and then wears it; and that he/she anoints the medicine. He/she shall attain antadana-isvarah-siddhi (安怛陀那自在成就).
If the medicine multiplies and the medicine is burnt to fumigate the clothing and also anoint; then the person shall increase in fortune and he/she shall have long life. All spirits shall be afraid and they will not dare to bother the mantri; all illnesses caused by spirits shall be cured.
If the light is present and the medicine is used to fumigate clothing, then whoever wears it and anoint the medicine shall attain magical powers and becomes the position of a magician.
Kings, prince, queen, concubines, maids, ministers, officials, assistants, men, women and children will be happy to see him/her and respectfully serve and make offerings to him/her.
They shall offer various treasures and jewels and willingly praise the mantri.
All disasters, karmic obstacles, 5 types of serious sins (五無間罪), those who ought to be cast into Avici Hell shall be saved.
From the empowered medicine one’s fortune increases, no one will be tired of seeing him/her. He/she shall have his/her major wishes fulfilled as if the sun: where ever it goes, the darkness shall be gone.
All shall love him/her and all matters shall be accomplished. Water disasters, fire disasters, weapons, poisons, evil curses, wild animals, poisonous insects shall not be able to create disaster.
If there is anyone facing punishment or to be killed, then by the power of being fumigated and anointment of this medicine, the knives shall be broken and the person shall be freed.
If there is anyone who being bounded by handcuffs and shackles; and being imprisoned in jail. If he/she uses this medicine to fumigate and wears it, he/she shall be freed.
When this mantri performs ritual, he/she should be one heartedly and faithfully believe the ritual and he/she should not doubt. If one follows the ritual to solve problems then he/she shall not be empty-handed (this medicine is poisonous, please do not consume simply).
Chapter 7: Cintamani Cakra Dharani Sutra Mouthpiece Medicine
如意輪陀羅尼經含藥品第七
At this time, Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva further said to the Buddha:
“Blessed One, this dharani mantra contains mouthpiece medicine beloved and respected by all in this world.
The ingredients of the same portion: kapura, kasturi, tulip and go-rocana should be mixed and pounded into powder and then mixed with rain water.
The ingredients should then be made into pills the size of hemp seeds.
But first one should anoint the mandala and perform boundary protection; and then recites mantra for 1,080 times to empower the medicine.
The medicine pills should be filled into a container and then placed in the mandala in front of Avalokitesvara. The mantri should recite the fundamental dharani, maha-hrdaya-mantra and hina-hrdaya-mantra.
When a mantri wish to perform siddhi ritual, he/she should wait until the moon or sun is full. If the medicine becomes warm, emits smoke and emits light; then the medicine should be dried in a dark place.
If the medicine becomes warm, then it should be held in the mouth and then recites mantra. In this way, all people shall be attracted to him/her and everyone shall rush to pay him/her respect and praise her. All oral illnesses shall be gone and one’s breath shall be fresh and clean.
If the medicine smokes, then the mantri should hold it in his/her mouth and performs mantra recitation.
Then whatever he/she wishes shall automatically be fulfilled satisfactorily. All disasters shall be removed and speech karma shall be purified. Whoever sees him/her shall respect and subdued.
If the medicine increases and it is put in the mouth to perform recitation, then he/she shall have his/her life span prolonged. All spirits shall be afraid to see him/her and they shall disperse.
If the medicine emits light and it is held in the mouth and performed mantra recitation, then he/she shall attain the status of a magician and he/she shall attain pūrvanivāsānusmṛtijñāna (宿命智).
All his/her 5 serious sins shall automatically be eliminated. He/she shall be freed from all worldly difficulties.
The king, prince, queen, concubines, maids, ministers, people, external paths etc shall love to listen to whatever the mantri has to say. They shall all believe in and willing to serve the mantri.
They shall donate various treasures and jewels to the mantri and they shall perform whatever the mantri wishes.
It is as if the Cakravartin-raja Maitreyan (曼馱多) compassionately educates the world. He/she shall be able to sit in a bead with Indra-deva.
When this mantri holds the medicine in his/her mouth, the power enables him/her to remember whatever he/she heard. He/she shall obtain worldly wisdom and he/she shall be victorious in debates. His/her voice shall be pleasant as if kinara and people shall love to hear.
If anyone who holds the medicine and fight in war, then he/she shall be victorious over the enemy. If one always holds the medicine and performs sadhana, Arya-Avalokitesvara shall appear in front of the person and fulfill his/her wishes.
Also, if one constructs a mandala measuring 4 elbows size with base height 1 foot and 2 inches after flatten, filled and wiped. One should use cow dung, yellow soil, and white sandalwood mud to paint.
The image of Arya-Avalokitesvara should be put in the altar facing west. Offerings of incense, flowers, oil lamps should be made 3 times a day except for bitter flowers or stingy flowers.
One should burn agarwood incense and white sandalwood incense as offerings. One should use white sandalwood to make a mani building doorpost (幢棖) at one elbow height.
The head of the post should be decorated with colorful silk and dangling banner ties. A mani pearl should be placed at the head of the post. The pearl should be made of red crystal (紅頗梨) or crystal; all shall be clean and flawless.
The banner should be placed on the mandala and 7 medicine pills should be hung on the banner. The mantri should be sit with lotus asana on the west of the mandala facing east.
He/she should recite the fundamental dharani mantra, the maha-hrdaya-mantra and the hina-hrdaya-mantra to invite
Arya-Avalokitesvara,
Indra-devaraja,
Brahma-devaraja,
Caturmahārājakayikas (四天王天),
magician Sivapagar-vidyaraja,
Ekajata-raksah (一髻羅剎女) and
duti-cetaka (度底使者).
Each time he/she should recite mantra for 1,080 times.
He/she should burn incense and throw flowers couple with hymns and praises in Sanskrit as offerings. After 100 days and nights, the Arya-Avalokitesvara shall grant him/her wishes.
All shall be subdued and willing to stay quietly. The mantri shall be able to be accompanied by magicians and due to his/her karma, he/she shall be respected and protected by rsi.
When the person dies, he/she shall be invited to the cetaka’s place so one should not doubt. This is called the ‘ritual of wishful secret servant’ (如意密使之法).
The quantity of medicine should be in the form of pulverized pills depending on the number of days accordingly. The powder should be mixed with stone honey and then made into pill form. After that they should be stored in a silver container. The mantri should recite maha- and hina-hrdaya-mantra for 1,080 times each. He/she should hold the medicine and recites mantra once; and then touch the medicine onto the bodhisattva’s feet for 108 times. Once done, the medicine is stored in a clean and secret place.
Before one is to put a pill into his/her mouth, he/she should recite mantra for 3~7 times. After that he/she can put a pill into his/her mouth and recite the 3 mantras silently for 108 times. Then those difficult to subdue spirits shall be able to be overcome and they shall be able to be deployed willfully to accomplish all matters.
Whether one holds a pill in his/her mouth or carries it along, where ever he/she goes shall be welcomed and all secretly wonderful matters can be accomplished. If one enters a palace or amongst monks, or he/she enters a village or amongst external paths, and because he/she holds medicine in his/her mouth and silently recites mantra; all shall be kind and listen to his/her teaching. All shall be according to the mantri’s will and happy to be in his/her company. Whatever the mantri wishes shall be given. He/she shall be able to beloved and supported by honorable persons.
Anyone who always perform this ritual, then on daily basis that he/she shall be able to enjoy supremely wonderful offerings. If he/she goes to war, then he/she shall be victorious. This is because Arya-Avalokitesvara protects this person at all times as if his own beloved son hence he/she is in great freedom. One should be one hearted in performing this ritual (to be effective) except otherwise.
Chapter 8: Cintamani Cakra Dharani Sutra Eye Medicine 如意輪陀羅尼經眼藥品第八
Then Avalokitesvara-bodhisattva-mahasattva further said to the Buddha:
“Blessed One, this dharani-mantra eye medicine can make all sentient beings obtain great victory and willful accomplishments. Arya-Avalokitesvara shall grant all requests with perfection.
One should get equal quantity of the below ingredients: manah-sila (雄黃), kakobaniyasan (In Tang Dynasty, it is the leftover of burnt 蒼耳子/xanthium sibiricum), stamen of red lotus flowers (紅蓮花鬚), utpala leaf (青蓮花), go-rocana (牛黃), tulip (欝金香), turmeric ((黃[木*薑]) other translation said dried ginger) small fold (one translation said aloe barbadensis a second one mentioned small cypress), piper longum (蓽茇), pepper and sea water bubbles (海水沫).
He/she should anoint the mandala and performs boundary protection; and recites mantra to empower medicine for 1,080 times. After that the ingredients are grind into fine power. In addition, the person should get some kasturi (麝香), karpura (龍腦香) and authigenic stone honey (自生石蜜) half of the quantity of the above medicine. He/she should mix and grind the ingredients into fine powder and then put them in a copper container; and place the container in the mandala in front of Avalokitesvara.
The mantri should recite the fundamental mantra, the maha- and hina-hrdaya-mantra. He/she should wait until the time when the sun and moon is full and perfect. When the medicine becomes warm, emits smoke or light; these are signs that the medicine is accomplished.
He/she should first use the medicine to anoint the feet of Avalokitesvara and then give rise to great compassion heart towards sentient beings. The mantri should recite the above 3 mantras for 108 times.
After that, if he/she rubs the medicine on the eyes, then all icy cataract (翳障), white halo (白暈), rheum (眵淚), red membrane (赤膜), night blindness (雀目), fetal redness (胎赤), blepharitis (風赤) and eye pterygium (眼中努肉) shall be removed. On the second rub, all of headache, or migraine (頭半痛), various oral illnesses, high fever (壯熱病) for 1 day, two days or 3 days; or those who are frequent sufferers shall be cured.
On the 3rd rub, all illnesses caused by evil spirits and sick spirits, epilepsy, wind diseases until 84,000 types of spirits; various types of illnesses and angers shall be cured.
On the 4th rub, all trouble makers vinayaka and various demonic spirits shall be afraid and stay far away.
On the 5th rub, all enemies, disasters, war and discords shall be won.
On the 6th rub, all serious sins and so-called 5 no-interval karma (五無間業); those ought to be cast in to Avici Hell. And all bad dreams and all disasters and unlucky omens shall not occur.
On the 7th rub, the king, prince, queen, concubines, maids, ministers, officials, assistants and all men and women shall bow to him/her. All will trust, follow and love the mantri and willing to serve and support him/her.
On the 14th rub, the person shall be isvara (大自在/absolute freedom).
On the 21st rub, the person shall have the fortune of the king. All subjects shall bow to him/her and willing to get close to this person and make offerings to him/her.
On the 28th rub, all yaksa and yaksinis and tribe retinues shall be subdued and willing to be his/her servants.
On the 35th rub, all yaksa and yaksinis, asura male and female, all naga and nagakanya (龍女) shall automatically be subdued and willing to serve the mantri.
On the 42nd rub, all maha-bala (大力/Hercules), illusive ones (幻化), flying genie (飛空), raksa (洛剎) and yogini (瑜吉尼) shall appear in various forms and willing to be deployed by the mantri. They shall follow and protect the mantri until he/she attains boddhi.
On the 49th rub, Mahakala (摩訶迦羅), Hariti (鬼子母) and spirits of 8 divisions (八部諸神八部諸神) shall be subdued and protect the mantri.
On the 56th rub, the person can see all invisible rsi (隱形仙).
On the 63th rub, the person can see all hidden treasures underground.
On the 70th rub, the person can see all rsi and asura palaces and all doors shall open for him/her. He/she shall be able to see everything in the palaces and he/she can enter and exit accordingly.
On the 77th rub, the mantri can see all medicine spirits (藥精) materialize in mountains and forests. He/she shall emit victorious light and obtain longevity; and also he/she shall obtain great power and he/she shall obtain whatever he/she wants.
On the 84th rub, the person can open all palace doors of mountain gods. The mountain gods shall come and welcome the mantri. He/she should bring the medicine if he/she wants to enter and all shall be wishful.
On the 91st rub, the mantri can open the doors of naga palaces in the sea. He/she shall be able to see all nagas and they will be happy to see him/her and they will not cause troubles.
On the 98th rub, he/she can see palaces in kamadhatu (欲界/desires realm) and open the doors.
On the 106th rub, he/she can walk and see in the dark as if under daylight.
On the 113th rub, he/she can see the realm of water, vajra, wind-cakra and the sky.
On the 120th rub, he/she shall see the Caturmahārājakāyikās (四天王天). The person can also see those sentient beings suffering in the hell. He/she can liberate those beings in the hell.
On the 127th rub, the person shall possess victorious light that can drive away darkness.
On the 134th rub, the person can see Arya-Vajradhara-Bodhisattva (聖執金剛菩薩). Whatever he/she wishes shall be fulfilled.
On the 141th rub, the mantri can see Arya-Avalokitesvara and whatever he/she wishes shall be granted.
On the 148th rub, he/she shall obtain magical power and this person can see various palaces in the kamadhatu heaven. He/she shall be able to play, enter and exit without problems. And that he/she can see buddha and bodhisattva realms of 10 directions.
If one applied the medicine for 1 year and he/she secretly recites the 3 mantra in secrecy, then he/she shall obtain the ‘pure 5 eyes’ (淨五眼), merits, skandha-punya (福蘊/concealed fortune) and magical powers. In addition, the above shall further increase until at par with all devas.
Before one wishes to anoint the medicine, he/she should use a copper chopstick to stir the medicine and at the same time recite medicine mantra for 3~7 times. After that the medicine is applied in the eyes and mantra is recited accordingly. If all sentient beings follow this practice to request for supreme wishes, they shall have deep faith and they should not doubt. And that they should always give rise to great compassion heart and learn about the wisdom of the Buddha. Then they shall at once obtain accomplishment that has been preached about.
(Page 13 of 15)
All matters shall not be void. If a mantri of this dharma is in doubt and he/she is not diligent in his/her practice; then whatever this person does shall not be successful.”
Chapter 9: Cintamani Cakra Dharani Homa 如意輪陀羅尼經護摩品第九
Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva again said to the Buddha:
“Blessed One, this dharani mantra homa ritual can benefit all sentient beings and accomplishes all supreme dharma.
It can destroy all obstacles and stops all enemies. All vinayaka shall not be able to make trouble. All subjects shall be happy to see (this person).
A mantri should choose a clean and quite place and make a square measuring 3 elbows length on the ground. And then he/she should purify the place and paint the floor. In the center is a circle hole about one elbow deep and half elbow through (一肘深半肘穿). This would be the fire pit. Cow dung and yellow soil should be used to rub and wipe (the floor) according to the prescriptions.
White sandalwood measuring two and a half holds (二把半) in length should be chopped and burn in the furnace. Equal quantity of rice flowers (稻穀花), white mustard seeds and agarwood should be mixed well with butter, honey and cheese.
The homa ritual should begin between 3am~5am and one should make 1,080 times offering. Then all 5-no-interval sins (五無間罪) and all karmic obstacles shall be destroyed at one time.
If one performs the homa ritual for 7 days, then he/she shall have longevity and suffers no mortality. Further his/her various serious sins shall be purified.
If a person performs the homa ritual for 14 days, then his fortune and lifespan shall increase and exceed. The king, prince, prime minister and subjects shall respect and serve him/her after seeing this person as if that of the Agni (火天).
If one performs the homa ritual for 21 days, then the Tra-yastrim-sat-deva (三十三天) and Śakro-devānāmindra (釋提桓因) together with all devas, Suryadeva and Candradeva (日月天子) shall come to support the mantri and grant him/her wishes.
The Caturmaharaja (四天王), magician (持明), rsi (仙眾) together with retinues shall come and support and bestow efficiency (効驗).
The vajradhara-bodhisattva shall come to grant him/her supreme wishes. Avalokitesvara shall materialize himself to grant him/her big wishes so that he/she can be satisfied. All subjects shall respect and subdued.
If there is excessive drought, then a mantri can mix well butter and white mustard seeds and perform homa accordingly for 3 days and 3 nights. Then the long awaited rain shall fall. If the rain falls unceasingly, then one can collect some homa ashes and recites mantra for 108 times facing the sky. After that the ashes are thrown towards the sky and the sky shall be sunny again.
If (a place) is besieged by increasing number of disaster wind, hailstorm, rain mortality, then a mantri can recites mantra for 108 times to homa ash. After that he/she should stare at the direction then the wind and hail shall cease.
If a mantri always perform sadhana accordingly, then he/she shall possess victorious power and fearlessness such as that of the Narayana. When he/she dies, this person shall be born in the supreme joyful world of Sukhavati.
Wherever he/she is born, he/she shall always understand his/her previous lives (宿命) until he/she attains enlightenment; and this person shall not fall into evil paths.
Blessed One, this Cintamani Cakra Dharani Mantra contains immeasurable merit that is very much more than the ocean without edge.
If bhiksu, bhikṣunī, upasaka, upasika, kumara and kumara can follow this dharma without doubt, and those who always write and recites (the sadhana); whatever their hearts’ desires are shall be willful and victorious.
At all times the catuṣ-prakāra (四部/four classes) men and women shall respect and beloved him/her. The king of magicians and various rsi shall protect this person in secrecy. He/she shall receive extra blessings and all matters automatically accomplished.
He/she shall be bestowed with great honorability and being supported with all treasures, pearls, mani, gold, silver, glass, sankha (珂貝/cowrie shell), jade, clothing, musical instruments etc shall all be in abundance.
Since the mantri obtain great fortune and all wishes granted, he/she who is bestowed with these auspicious willfulness shall not reveal these to others simply. Otherwise magical powers bestowed to him/her shall fade forever.
Blessed One, this Cintamani Cakra dharani, mantra and mudra have magical powers and they are extremely rare. Those clean or not clean that can become sentient beings and that they can calm their minds into the ocean of dharma and enter various samaya; all those shall be able to achieve enlightenment with their magical plays. Because of this hetu-pratyaya (因緣/cause), I use great compassion to guide sentient beings to maturity. It is my hope that the Buddha gives adhiṣṭhāna (加持), coverage and protection.”
Chapter 10: The Urge Of Cintamani Cakra Dharani Sutra 如意輪陀羅尼經囑累品第十
At this time, the Buddha praised Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva:
“It is very kind of you the one with great compassion. You can skillfully preach this Cintamani Cakra Dharani Mantra.
This dharma in Jambudvīpa (贍部洲) shall benefit and mature bodhi-kusala-mula (菩提善根) of all sentient beings.
If sentient beings give adhimukticaryābhūmiḥi (發心/decided) to this Cintamani Cakra Dharani Mantra, and that they can recite and uphold it unceasingly; then in this life they shall attain the rūpa-darśana-mauna-siddhah-chaya-ṛddhi-vikrīḍita-prajna-samaya (見色寂圓照神通遊戲智三昧耶).
Not only that they shall obtain great merits this life, they too shall obtain great merits in the next life. Hence all 8 division beings (天龍八部) should all respect, protect and serve (this dharma) as if serving Agni.
I as the holder of this mantra urge you so that you must always be diligent in protecting and reciting this mantra and obtain real results. I am already rejoicing seeing you the believers in person.”
Then Avalokitesvara-bodhisattva-maha-sattva said to the Buddha:
“Since immeasurable number of kalpas, I depended on the power of great compassions embracing the teaching of Buddha to urge sentient beings. I always follow and support; and bestow efficacies. Only the Buddha can prove for the benefits of sentient beings that I speak this Cintamani Cakra Dharani mantra. If a beholder performs the sadhana as his/her practice, it is not difficult that his/her wishes fulfilled.
It is according the power of the Buddha that I have made this effort to save sentient beings from sorrow.
After the Arya-Avalokitesvara-buddhisattva-maha-sattva finished mentioning this sutra, the public were all extremely joyful and they all believed in and upholding this practice.
(Page 14 of 15)
This is the practice of Cintamani Cakra Dharani Sutra.
Source
http://www.chinabuddhismencyclopedia...0%BC%E7%B6%93)